Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 14)

Nhà Nguyễn: Gia Long  [29/1/1816-15/2/1817]

Hồ Bạch Thảo

Tháng giêng năm Bính Tý Gia Long thứ 15 [29/1-27/2/1816], lấy Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn Gia Định.

Thuyền trưởng người Phúc Kiến là Tăng Sĩ Lương sang buôn ở Gia Định, giấu 6 hòm trân châu lớn để trốn thuế; bộ Hình tâu rằng theo phép bắt phải sung công. Vua cho rằng người buôn ở xa nhầm mà phạm lỗi, phạt trượng rồi tha cho và trả cả ngọc.

Hơn mười người biền binh chở gỗ ván Gia Định, bị bão dạt vào hải đảo. Thuyền đánh cá người đảo Hải Nam [Trung Quốc] là Hoàng Hưng Bảo đưa về Bình Hòa [Ninh Hòa, Khánh Hòa]. Quan trấn đem sự việc tâu lên; sai thưởng cho Hưng Bảo 100 quan tiền, 50 phương gạo; lính bị nạn thì cấp áo cơm khiến trở về nhà.

Triệu Thượng thư bộ Hộ lãnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Đình Đức về kinh. Lấy Tả tham tri bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận thay lãnh Hộ tào. Trước đó Vua thấy Bắc Thành nhiều việc, muốn triệu Đình Đức mà khó có người thay, bèn bảo Hữu Thận rằng:

“Ta đã lựa chọn, không có khanh thì không được, nên có mệnh ấy”.

Ốc nha nước Chân Lạp là Siêu khéo bắt voi. Vua nghe chuyện, sai gọi về Kinh, đặc biệt trao cho chức Cai đội, thưởng tiền bạc quần áo rồi cho về, khiến mỗi năm bắt 30 thớt voi để dâng.

Xây đắp đồn Châu Đốc [An Giang]. Trước đây vua thấy đạo Châu Đốc là nơi quan trọng ở biên thùy, muốn đặt đồn hiểm để giữ. Sai giám thành sứ là Nguyễn Đức Sĩ đến xem đo hình thế, vẽ bản đồ dâng lên; nay lấy lính thú ở Gia Định và lính cơ ở bốn trấn 3.000 người, cấp tiền gạo cho ứng dịch. Sai Phó tướng tả quân là Nguyễn Văn Xuân, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường cùng Đức Sĩ trông coi công việc. Lại gọi 2.000 quân dân Chân Lạp đến hội, Vua dụ Vua Chân Lạp Nặc Chăn rằng:

“Nước ngươi đời đời giữ bờ cõi ngoài phiên, một lòng kính thuận. Triều đình hằng nghĩ vỗ về để giữ yên cho. Việc đắp bảo này không phải là muốn phiền dân, mà cốt là bảo vệ Hà Tiên để sách ứng cho Nam Vang. Vương nên chọn ủy quan viên người nào lanh lợi siêng năng cho đem quân dân đến làm, khiến mọi người đều vui lòng như con đến làm cho cha vậy”.

 Rồi thấy binh dân nhiều người ốm và trốn, lại lấy thêm dân bốn trấn và lính đồn Uy viễn mỗi bên 1.000 người để sung vào. Sai  quan thành Gia Định cho người ghi rõ phần vụ công việc, cứ mười ngày thì tâu một lần; dụ rằng:

“Công việc thổ mộc, là việc bất đắc dĩ. Một phen đã làm, việc động binh dân thì nên hết lòng kinh lý, đừng để sai hẹn mà động đến việc nông”.

Tháng 2 [28/2-28/3/1816], Cai châu Thủy Vĩ  trấn Hưng Hóa là Hoàng Kim Châu cùng Phó châu là Lý Văn Chính có hiềm khích, bèn mưu với Tấn thủ Hà Khẩu [Vân Nam] là Triệu Bỉnh Trung. Bỉnh Trung nhận hối lộ, họp quân đến giết Văn Chính mà cướp lấy của. Sự việc phát giác, quan trấn gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng xin bắt Bỉnh Trung. Nhưng Bỉnh Trung là người của Tổng đốc, nên che giấu không bắt giao, chỉ đưa thư giục ủy người sang nhận tang vật. Quan Bắc Thành đem sự việc tâu lên, Vua bảo bầy tôi rằng:

“Nếu cứ giằng co thì sinh hiềm khích ở biên cương, không bằng sai quan trấn  bảo họ xử tội Bỉnh Trung, rồi sau hãy nhận tang, như thế thì dứt được hiềm nghi”.

Rồi sai chém tên Châu ở chợ.

Dân Gia Định đi buôn ở các sách Man Cổ Khăng, Bồ Lô thuộc Chân Lạp, nhiều đến hơn 500 người, họ cầm binh khí để tự vệ, người Xiêm lấy làm ngờ, nghiêm ngặt phòng giữ. Vua nghe tin, ban sắc cho quan thành Gia Định rằng từ nay giấy thông hành của dân buôn chỉ cho 10 người làm hạn, không được quá nhiều, khiến nước láng giềng phải sợ.

Bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy được người Chân Lạp tin phục, gửi thư thăm hỏi; Thụy sợ bị hiềm nghi nên tâu lên. Vua ra lệnh từ nay hễ có thư của người Chân Lạp, việc thường thì tự viết thư trả lời, việc quan trọng thì mới chuyển đạt qua thành Gia Định.

Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa vào chầu, dâng sớ hạch tội   rằng:

“Con Văn Thành là Văn Thuyên âm mưu làm phản, sự cơ tiết lộ, Thành không biết đến cửa khuyết chịu tội mà còn mặc áo triều , mũ triều nghênh ngang đứng ở trên các đình thần, như thế thì còn thể thống triều đình chi nữa. Vả triều đình là triều đình của liệt thánh, Hoàng thượng ta vâng trời chịu mệnh, giữ đất lên ngôi, chính triều đình để chính bách quan, chính muôn dân để chính bốn phương, khiến thần dân trong nước xem làm khuôn mẫu. Nay Văn Thuyên đã hạ đình nghị mà lại yên ổn ở nhà, pháp luật không được thi hành thì lấy gì mà tỏ bảo cho thiên hạ? Huống chi Văn Thành soạn điều luật, tự tiện bỏ mất điều kết giao cận thị (1), cử Trần Hựu là người bậy mà giấu tội cưỡng dâm với vợ người, âm kết bè đảng, dối người trên làm việc riêng, xây dựng mồ mả cho mẹ thì vượt phép phạm phận, xét đạo của người bầy tôi, tội rất lớn vậy. Nay bệ hạ nếu thương là người có công, cũng nên giao cho công luận, lấy phép mà trị, rồi sau lấy ơn mà chu toàn cho, thế thì phép nước được tỏ bày mà kẻ gian thì biết sợ hãi”.

 Sớ giao xuống đình nghị. Nguyễn Văn Thành chỉ nhận một việc cử nhầm Trần Hựu, dâng sớ chịu tội, còn các khoản khác đều cãi cả. Vua nhân nói đến bài thơ nghịch của Văn Thuyên và dụ bầy tôi rằng:

 “Ý thơ của văn Thuyên sao mà tiếm bội thế! Phàm có Lương Vũ đế làm vua rồi sau mới có tể tướng trong núi chứ. Văn Thuyên là người thế nào mà muốn được tể tướng trong núi?”.

Tham tri Hình bộ là Võ Trinh cho rằng bài thơ lời quê không hợp lẽ tuy nhiên câu thứ 5 của bài thơ “U cốc hữu hương thiên lý viễn” cho rằng chữ “hương 香” nguyên là chữ “lan 蘭”vì kiêng tên húy [Nguyễn Phúc Lan] nên tránh; vậy y còn biết kỵ húy, thì chưa phải là bội nghịch; lời giải thích này, Vua không bằng lòng. Tuy nhiên nếu xét hai câu luận trong bài thơ này:

 U cốc hữu hương thiên lý viễn

Cao cương minh phượng cửu cao tri.

Chữ “phượng 鳳”  là danh từ cụ thể, không thể đối với chữ “hương 香” thuộc trừu tượng, vậy thì chữ “lan 蘭” là hợp cách và hợp nghĩa; dịch nghĩa như sau “Lan trong hang tối thơm nghìn dặm”

Ngày Ất Sửu 15[13/3/1816], tế Trời Đất ở đàn Nam giao, trước đó bộ Lễ tâu rằng:

“Tế Nam giao là đại lễ, Nguyễn Văn Thành là người có tội không nên dự”.

 Vua nói:

 “Văn Thành là người trọng thần của nước, con là Văn Thuyên dù có càn bậy, nhưng việc còn mờ tối, há nên nghe thuyết một bên mà vội xa bề tôi huân cựu sao?”.

 Bèn sai Văn Thành vẫn dự lễ phân hiến. Sau vài ngày vua đương coi chầu, Văn Thành từ cửa Tả túc vào, lên thẳng điện lớn tiếng kêu gào, người tả hữu cản lui xuống. Từ đấy mới cấm không được vào chầu nữa.

Bắt trói Tham tri Hình bộ Võ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn hạ ngục. Đình thần đương họp tra Văn Thuyên cùng Nguyễn Trương Hiệu, thanh biện chưa xong. Có viên xá sai hình ty là Trần Ngọc Ngữ làm ngục lại nói với Võ Trinh rằng:

 “Trương Hiệu trước làm tịch sĩ cho Nguyễn Hựu Nghi, nay nhận là môn khách của Văn Thuyên là không đúng”.

Trinh đem lời đó nói với Tống Phước Ngoạn, Ngoạn lòng muốn biện cho Văn Thuyên bị vu, bèn ngầm giục Ngữ đem việc phát giác. Vua sai đình thần nghiêm tra. Ngữ không trả lời được, đổ cho Trinh và Ngoạn mớm lời; hai bên đều bị tội.

Dân đói, triều đình chỉ cho người có ruộng vay, để có thể đòi lại được. Quan thuộc dinh Quảng Trị tâu rằng:

“Triều đình thương dân đói mà cứu sống là điều rất may. Nhưng cho vay mà căn cứ vào ruộng làm hạn thì kẻ không có ruộng không được nhờ ơn“.

Vua nói:

 “Dân không đều nhau đã lâu rồi, sao có thể nhất nhất đều nhau được! Duy cho vay nhiều thì gạo rẻ, kẻ không có ruộng nhờ đó mà cũng được nhờ ơn”.

Ngày Canh Dần mồng 10 tháng 3 [7/4/1816], đặt triều nghi ở điện Cần Chánh, triệu bầy tôi đến, dụ rằng:

“Trẫm nay làm việc đã mỏi, rất lo đến kế lớn của Xã Tắc. Thái tử là ngôi trừ nhị (2) của nước, cần phải sách lập để trọng chính thống mà giữ bền gốc nước”.

Bèn triệu Thượng thư bộ Lại bộ Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự, sai viết

“Lập hoàng tử Hiệu [Minh Mệnh] làm Hoàng thái tử”

Rồi đưa cho bầy tôi xem, Vua nói:

 “Ai đồng ý thì ký tên vào”.

 Quần thần đều nói:

“Ý thánh định trước, thực là phước không cùng của xã tắc, bọn thần xin noi theo mệnh lệnh”.

Vua thung dung dụ rằng:

“Cha con truyền ngôi cho nhau là đạo thường xưa nay. Từ đời Hán đời Đường trở xuống, ít người không theo. Hoặc có kẻ nói “đích tôn thừa trọng” [Cháu đích tôn nhận trọng trách], ta thực không hiểu thuyết ấy. Duy có vua Thái tổ nhà Minh mê hoặc theo lời nói của Lưu Tam Ngô mà bỏ con là Yên Vương [Minh Thành Tổ] để lập đích tôn là Doãn Văn, rốt cùng sinh tai vạ. Phàm biết con không ai bằng cha. Nếu vua Thái tổ nhà Minh cho Yên Vương là hiền mà bấy giờ họp ngay đình thần, nói rõ là lập làm thái tử, thì một lời nói ra, ai dám không theo! Như thế thì làm sao sinh loạn được”.

Quần thần đều vui phục.

Ngày Đinh Dậu 17 [14/4/1816], đúc ấn vàng sách vàng cho Hoàng thái tử.

Sai Đô thống chế Trần Văn Năng, Thượng thư Trịnh Hoài Đức, Tham tri Hoàng Văn Diễn và Nguyễn Khoa Minh coi việc làm sách ấn. Ngày Nhâm dần 22 [19/4/1816], dựng cung điện Hoàng thái tử ở phía đông hoàng thành gọi tên là điện Thanh Hòa; trước điện dựng nhà Đoan bản và cửa Chấn hanh. Sai Đô thống chế Nguyễn Văn Soạn và Tham tri Đoàn Viết Nguyên trông coi công việc.

Người xã Phạn Khỏa trấn Nam Định, đón xa giá dâng sớ tâu nói rằng : trước đây bị người vu cáo, ruộng đất bị tịch thu, sau án xét ra được vô tội, xin trả lại ruộng đất, nhưng quan sở tại cho rằng trót đã thu rồi không cho.

Vua xem lời tâu, sắc cho quan Bắc Thành thần xét rõ các án, phàm có người bị ruộng đất tịch thu mà xét ra không có tội trạng thì trả lại hết.

Khai mỏ đồng Trình Lạn tại châu Thủy Vĩ [Lao Cai]. Trình Lạn có mỏ đồng đỏ, người Thanh xin khai mỏ để nộp thuế; quan Bắc Thành  tâu lên, Vua y cho.

Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy.

Bọn Bùi Đức Mân và Nguyễn Kim Truy từ nước Xiêm về. Trước đây người Xiêm lấy việc đánh nhau ở Phủ Lật mà oán Nặc Chăn, vua thứ hai nước Xiêm mưu với Phật vương rằng:

“Nặc Chăn dám khinh rẻ ta vì cậy có Nam triều che chở. Nay ta đánh Chăn, Nam triều tất phải cứu, nhân đó ta đánh luôn để cởi hai mối giận”.

 Phật vương không nghe, nói:

“Gây ra mối hấn không phải là phước. Nếu quyết thực hành mưu ấy, thì xin nhường nước cho”.

Việc bèn thôi, sau vài tháng, người Xiêm phao tin là quân ta sắp đến. Phật vương cả sợ, bèn tạo thuyền chiến, sửa đồn binh, làm kế tự thủ. Phàm dân đến buôn đất ấy, đều ngờ là do thám, bắt bỏ tù cả. Đến khi bọn Đức Mân đến, Phật vương hỏi rằng:

“Việc đánh nhau ở Phủ Lật Nguyễn Văn Thụy có được biết không?”

 Đức Mân nói:

 “Không”.

Phật vương im lặng. Lại hỏi:

“Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt ở đâu?”.

Thành, Duyệt đều là tay tướng cũ; Duyệt lại trấn Gia Định, có tiếng, người Xiêm sợ, mỗi khi sứ giả ta đến họ vẫn hỏi thăm. Đức Mân đem tình trạng bảo cho họ biết. Phật vương hậu đãi mà tha những dân ta bị tù. Đến nay bọn Đức Mân về nước, đem việc tâu lên. Vua không muốn gây hấn khích ngoài biên, bèn hạ chiếu cho Nặc Chăn thông sứ với nước Xiêm, Dụ rằng:

 “Nước ngươi đối với Xiêm, lấy nước nhỏ thờ nước lớn đã lâu năm rồi. Nay vương tuy không thân hành sang thăm, cũng nên sai sứ đi như xưa, không nên trước hậu mà sau bạc”.

 Do đó nước Chân Lạp lại cùng nước Xiêm giao hảo.

Tháng 4 [27/4-26/5/1816] , thu ấn Chưởng Trung quân của Nguyễn Văn Thành và giam Văn Thuyên vào ngục. Trước là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo Văn Thuyên mưu phản, Văn Thuyên cho rằng thơ ấy không phải tự tay viết, cố cãi là vu. Kịp Đỗ Văn Chương làm chứng cho lời nói của Hiệu là đúng; Phạm Đăng Hưng tâu lên. Vua nói:

 “Văn Thuyên đã phục chưa?”

Trả lời rằng chưa. Vua nói:

“Nó có lòng làm phản, sao được già miệng thế?”

Đăng Hưng tâu rằng:

“Văn Thuyên tự cho mình là con công thần, bệ hạ không nỡ giết và bọn thần ngửa theo lòng thánh, không dám hết phép tra trị, nên mới già miệng là do cậy mình vậy”.

Vua nín thinh, sáng hôm sau bèn sai Lê Văn Duyệt tra hỏi. Văn Thuyên quả phục, do đó Văn Thành sợ hãi xin chịu tội. Vua bèn đưa tờ biểu ra cho bầy tôi xem. Đăng Hưng tâu nói:

“Văn Thành dâng biểu này, lời nói úp mở, muốn lấy khôn vặt đánh lừa triều đình, việc xin chịu tội là không phải thực lòng vậy”.

Vua nói:

“Lấy tình thực mà nói, Văn Thành không phải là người phản bạn, chỉ có lỗi là không biết con mình là ác, mà lại che lỗi cho, ấy là muốn khêu lòng giận cho mọi người, cũng ngu lắm vậy có gì là khôn đâu?”.

Bầy tôi xin hạ ngục Văn Thành,Vua nói:

“Văn Thành vốn là kẻ có tội ; nhưng thể thống đối với đại thần, cũng nên có cách xử trí”.

 Bèn sai thu ấn và khiến về ở nhà riêng.Văn Thành mất chức; Vua bảo bầy tôi rằng:

“Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách, là hiếu danh ư ? Hay ý muốn làm gì ? Có người tôi như thế xử trí thực khó. Nếu không bảo toàn được công thần thì cũng không phải là việc hay của trẫm, thế mới khó chứ!”.

Đắp đê giữ ruộng ở huyện Tống Sơn, Thanh Hoa. Năm ngoái Vệ úy Tôn Thất Huy tâu xin lưu vệ binh ở trấn để cùng với dân huyện đắp đê để bảo vệ nghề nông, Vua y lời xin. Đến nay khởi công đắp đê, sai phát tiền 1.000 quan, 5.000 phương gạo cấp cho.

Tướng giặc ở châu Bố Chính ngoại dinh Quảng Bình tên là Điện ngụy xưng niên hiệu Càn Thái, họp đảng ở xã Thanh Bào mưu nỗi dậy. Lưu thủ là Phan Văn Thúy đem quân vây bắt. Điện trốn sang Nghệ An, quan quân bắt giết.

Tháng 5 [27/5-24/6/1816] đúc ấn bạc Hoàng thái tử, trên khắc chữ triện “Đông triều thị tín”(3).

Ngày Ất Mão mồng 7 tháng 6 [1/7/1816], điện Thanh Hòa làm xong; ngày Bính Thìn mồng 8 [2/7/1816], Hoàng tử thứ tư [Minh Mệnh] lên ở điện Thanh Hòa.

Người thiểu số Thạch Bích [Đá Vách] ở Quảng Ngãi lại quấy rối ngoài biên; Trấn thủ Phan Tiến Hoàng đánh không lợi. Vua nghe tin, chiếu sai Lê Văn Duyệt đem quân tiến tiễu, dùng Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí, Vệ úy Phan Đăng Tuyên và Nguyễn Văn Trượng phụ tá. Lại sai Quảng Nam, Bình Định lượng phát  biền binh theo Duyệt điều khiển. Duyệt đến nơi, người thiểu số đều trốn nấp cả; bèn lưu bọn Trí ,Trượng cầm quân rồi triệu Duyệt về.

Trói Phan Tiến Hoàng giải về Kinh, giao bộ Hình bàn xét; Hiệp trấn Nguyễn Hoài Quỳnh tâu:

“Tiến Hoàng thân làm tướng ngoài biên, trị dân chống giặc không đúng phép đến nỗi quân ác man gây việc, đến khi đem quân đánh dẹp, lại sai quân cơ, xin xử theo tội trảm giam hậu”.

Vua theo lời.

Nguyễn Văn Trí sai Nguyễn Văn Trượng đánh úp người thiểu số Thạch Bích, phá tan. Trước là viên Đội trưởng ở Quảng Ngãi là Nguyễn Đặc bị Quản suất lăng nhục, trốn theo dân thiểu số Thạch Bích, hằng dẫn quân thiểu số đi cướp bóc. Kịp khi đại quân tiến đến, Đặc tự thú xin lập công chuộc tội, Lê Văn Duyệt cho. Đến nay, Đặc dụ quân thiểu số đến; Trí ngầm sai Trượng nấp quân đánh úp, chém hơn trăm thủ cấp, bắt được khí giới rất nhiều. Tin thắng trận báo lên; thưởng cho Trượng mũ áo và 1.500 quan tiền, cho các biền binh 6.000 quan tiền, mà tha tội cho Đặc.

Tháng 6 nhuần [25/7-22/8/1816], sai đình thần bàn lại án phản nghịch của Nguyễn Văn Thuyên. Trước vua từng sai bộ Hình lấy những lời ở trong án trích tâu, đọc đến việc Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Trương Hiệu Phước xem mả mẹ, vua nói :

 “Văn Thành cầu lấy đất tốt sợ giàu sang không được thêm nữa à ?

Đến nay án dâng lên, đình thần đều nói :

“Văn Thuyên mưu làm phản, tội trạng rõ ràng ; Văn Thành thì dám che giấu cho con, lấy yêu ngôn tâu bậy, sửa mộ quá phép, tiến cử người xằng, nhiều điều bất pháp như thế, xin xử tội chết”.

Chỉ một mình Tham tri bộ Lại Trần Văn Tuân cho rằng :

“Văn Thành không dạy được con thì tội nhẹ ; Nguyễn Duy Hòa tham hặc đại thần thì tội nặng.”

 Vua giận nói :

“Vậy là muốn khóa miệng người ta à? Há không có bè đảng sao?”.

Bèn hạ lệnh bàn lại.

Tháng 7 [23/8-20/9/1816], triệu Chưởng cơ lãnh Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường về Kinh ; lấy Trấn thủ Hà Tiên là Nguyễn Văn Triêm làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Phó vệ úy vệ Hùng cự nhị là Trần Văn Trinh làm Trấn thủ Hà Tiên. Trinh ra đi, Vua dụ rằng: “Việc binh dân kiện tụng triều đình đã có phép sẵn ngươi nên cẩn thận giữ phép vỗ nuôi dân chúng ngoài biên, đừng nên tham cao chuộng lạ”.

Ban mũ áo thường triều cho các quan nước Chân Lạp. Trước đây, Vua Nặc Chăn đã nhận mũ áo, quan Chân Lạp trông thấy khen ngợi đều xin đổi theo phục sắc của nước ta; quan thành Gia Định tâu xin cho. Từ đấy y phục đồ dùng của người Chân Lạp phần nhiều mộ theo phong cách người Việt, tục cũ dần dần đổi bỏ.

Hoàng tử thứ 6 là Bính dung túng cho bọn thuộc hạ ở phủ đi dỗ con nhà người ta làm nghề con hát. Việc đến tai vua; Vua giận sai đánh rất đau. Hoàng thái tử khóc xin cho. Vua không cho; bảo bọn Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên rằng:

“Từ nay hoàng tử hoàng tôn có làm gì trái phép, bọn ngươi phải báo cáo trẫm biết”.

Tham tri bộ Hộ là Lê Viết Nghĩa đi thanh tra các trấn Gia Định, sai riêng lính coi kho thiện tiện mua lương của nhà nước, bị trấn Vĩnh Thanh tố phát, Vua sai giết.

Phạm Đăng Hưng xin đặt kho ở xã [xã thương] để phòng chẩn cấp năm mất mùa. Vua nói:

“Trẫm trù tính đã kỹ rồi, phương pháp đặt xã thương làm được thực khó, kẻ giữ kho không được người tốt thì sẽ hại cho dân. Không bằng cẩn thận  rộng chứa thuế chính cung, gặp khi đói kém thì phát chẩn và cho vay, đó cũng là chước hay vậy”.

Lại từng bảo Đăng Hưng rằng:

“Đời xưa chia ruộng và định sản nghiệp, việc ấy xem ra như hay. Nhưng nghĩ bọn du thủ du thực, dẫu trao ruộng đất cho ắt cũng không chịu siêng năng làm việc, rồi cũng chuyển bán cho người khác. Nay muốn ngăn cấm việc kiêm tính ấy ra để chia đều, chỉ thêm nhiễu dân mà thôi. Trẫm nghĩ kỹ rốt cuộc cũng không làm được”.

Tháng 8 [21/9-20/10/1816] Xiêm La sai bọn Sá Thông Sự đến hiến phương vật và hỏi việc năm ngoái Tham Đích Tây đánh quân Xiêm. Vua cho vào yết kiến ở điện Cần Chánh và dụ rằng:

 “Tội của Tham Đích Tây đã sai vua Phiên [Chân Lạp] trị rồi. Nhưng đầu mối gây ra việc đánh nhau là ở tướng Xiêm, về cáo cho vua ngươi biết nhé”.

Tháng 9 [21/10-18/11/1816], nước Chân Lạp sai sứ sang mừng lễ lớn sách lập Hoàng thái tử. Vua thấy nước ấy mới yên, sai thu phẩm vật một vài thứ, còn dư cho trả lại rồi hậu đãi cho về.

Cấm thuyền buôn chở riêng thóc gạo hóa vật thông thương với nước ngoài. Kẻ nào phạm thì lấy luật giao thiệp riêng ngoài cõi và luật phạm cấm ra biển để xử, thuyền và hàng hóa sung công.

Bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy ốm xin giải chức; sai Chưởng cơ Lưu Phước Tường thay.

Vua cho rằng bảo hộ là chức vụ quan trọng ở ngoài biên, cho Phước Tường làm Thống chế, cho trật ngang Thống chế Thủy dinh, cấp cho ấn đồng bảo hộ cho trọng thêm quyền. Phước Tường từ giả, Vua cho lên điện và dụ rằng :

“Gia Định giáp giới Chân Lạp, đường giao thông bốn bề năm ngả, ngươi nên bày tỏ với thành thần sửa sang đường sá, cho mạnh sự phòng thủ ngoài biên”.

Cho 50 quan tiền, lại cho mộ lập một đội thuộc sai để đi theo.

Ban tiền “Gia Long thông bảo” mới đúc. Hạ lệnh cho các dinh trấn từ Quảng Bình vào Nam, phàm lương bổng và chi tiêu đều dùng tiền cả; duy dân gian nộp thuế vẫn phải dùng nửa tiền nửa bạc.

Hủy tiền ngụy hiệu của Tây Sơn, chiếu rằng : “Quy chế đúc tiền, từ xưa ghi niên hiệu cốt để phân biệt. Từ thuở Tây Sơn lấn cướp, đúc ra các thứ tiền Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Bảo Hưng, dân gian nối nhau thông dụng, lẫn lộn rất nhiều. Nhưng noi theo đã lâu, chợt nghiêm cấm thì người tích trữ phải đọng lại mà không thông, người dùng quen thì ngại tiền mới, thực ra không tiện cho dân. Vậy chuẩn định những tiền ngụy cho thông dụng thêm từ năm Đinh Sửu [16/2/1817-4/2/1818] đến năm Tân Tỵ [3/2/1821-22/1/1822] là năm năm, từ năm Nhâm Ngọ [23/1/1822-10/1/1823] về sau thì đều cấm. Ở trong hạn ấy thì kho tàng trưng thu và nhân dân mua bán không được kén loại, làm trái thì có tội”.

Tháng 10 [19/11-18/12/1816], Chân Lạp dâng biểu xin hằng năm sai sứ sang chầu một lần. Vua chấp nhận cho sứ giả hàng năm đi cùng thuyền chở của Gia Định; phẩm vật tiến cống gồm : sừng tê 2 tòa, ngà voi một cặp, sơn đen 10 ghè; đậu khấu, sa nhân, sáp ong, cánh kiến, trần hoàng đều 50 cân.

Vua nghe tin quân và dân ở Gia Định nhiều người chiếm ruộng đất của người Chân Lạp, các nha môn cũng có người Chân Lạp đến phục dịch; nên ban chiếu cho quan Gia Định rằng:

 “Chân Lạp đời đời làm phiên phụ của ta, một tấc đất, một người dân, đều nhờ ơn triều đình nuôi giữ. Phàm ruộng đất có bị người Việt lấn chiếm, dân có bị các nha dung chứa thì đều trả lại cả”.

Có tên Hữu lấy trộm ấn Tả quân, Lê Văn Duyệt bắt được tâu lên. Vua sai đình thần tra hỏi. Hữu thú là do Nguyễn Văn Thành sai, hẹn thưởng 30 lạng bạc; lại nói Văn Thành sai làm môn hạ Văn Duyệt để bỏ ngầm thuốc độc, mưu không thành bèn tự lấy trộm ấn bỏ đi. Vua cho Hữu nói trước sau bất nhất, không có căn cứ; nên không xét, sợ liên lụy cho người, bèn sai giết Hữu và bỏ việc ấy đi.

Đặng Trần Thường có tội bị  giết. Đặng Trần Thường đã được tha, lưu lại kinh; nhân vì trước ở Bắc Thành, ẩn lậu thuế đầm ao đinh điền, Lê Chất phát giác ra lại bị hạ ngục. Trần Thường uống rượu nói xằng, phần nhiều oán trách. Đình thần thẩm án đều cho rằng nên giết; bèn xử giảo [thắt cổ] và tịch thu gia sản.

Tháng 11 [19/12/1816-16/1/1817] Diễn tự công Lê Duy Hoán mưu phản. Việc phát giác, bắt hạ ngục. Trước Duy Hoán ở Thanh Hoa, có người Khoái Châu [Hưng Yên] tên Đỗ Danh Hoành đến làm môn khách môn, xui  làm phản. Duy Hoán mới nghe thì sợ. Hoành lại nói có câu sấm “Phá điền thiên tử xuất”. Phá điền tức là chữ thân (4); Duy Hoán do đó mà mê hoặc. Hoành bèn giới thiệu người trong đảng là Đặng Đình Thạch làm mưu chủ, suy tôn Duy Hoán làm Trinh nguyên hội chủ, xưng là vua Lê, uống máu ăn thề. Duy Hoán sai Thạch về Bắc Thành, chiêu tập những bọn giặc cướp , tụ đảng ở Kinh Bắc. Đội trưởng Nguyễn Đức và Hà Viên tố cáo với Bắc Thành. Quan Bắc Thành đem quân vây bắt, rõ được sự trạng, mật báo cho Thanh Hoa, xét chỗ ở Duy Hoán, bắt hết cả văn thư đồ đảng và ấn tín tâu lên. Vua bảo bầy tôi rằng:

“Trẫm đãi họ Lê không bạc, Duy Hoán vì sao mà làm phản?”.

Tức sai Hiệp trấn Thanh Hoa là Võ Văn Doãn hội đồng với ba tào Bắc Thành mà xét án ấy. Án xong, đóng gông Duy Hoán giải về Kinh. Họ Lê sợ hãi, đều xin đến cửa khuyết chờ tội.

Vua xuống chiếu dụ rằng:

 “Duy Hoán tự làm việc trái phép, chẳng những phải tội với triều đình mà cũng hổ thẹn với họ Lê nhiều vậy. Phép nước không thể tha được. Tội ở Duy Hoán, trẫm lấy lòng chí công, không lỡ lấy việc ấy mà bắt tội họ Lê, đừng sợ”

Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Huỳnh Đức dâng biểu nói:

“Nay Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu và Tham tri Lê Bá Phẩm đều đã về Kinh, thần là kẻ thường tài, ở một mình ở nơi xung yếu, bận rộn, nhiều việc chồng chứa, xin chọn người làm phó”.

 Dâng biểu tâu. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân rằng :

“Gia Định là thành lớn ở phương Nam, lại có việc ngoại giao quan trọng, không có được người giỏi thì không xong”.

Bèn lấy Thượng thư Lại bộ là Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn Gia Định. Sai Bảo hộ Chân Lạp là Trần Công Đàn lãnh Binh tào và kiêm lý Hộ tào. Vua nhân hỏi Trịnh Hoài Đức rằng:

“Công Đàn đã về Gia Định thì trách nhiệm từ chương ở Nam Vang ai có thể sai được?”.

Hoài Đức thưa có Tri bạ Lê Đăng Doanh. Bèn sai Đăng Doanh đi thành Nam Vang, theo Bảo hộ Lưu Phước Tường chuyên làm việc từ chương.

Sai Phạm Đăng Hưng kiêm lãnh Lại bộ, quản lý công việc Khâm thiên giám.

Tháng chạp [17/1-15/2/1817], định phép luyện thuốc súng. Diêm tiêu 11 cân 4 lạng, lưu hoàng 1 cân 8 lạng, than 2 cân 4 lạng, thành thuốc súng 13 cân 7 đồng 9 phân 4 ly.

Vua xem bản đồ Châu Đốc, bảo các thị thần rằng :

“Đất này nay mở đường sông để đi thẳng tới Hà Tiên (5), làm ruộng đi buôn đều được lợi cả. Sau này dân ở đông đúc, đất mở rộng rãi, có thể thành một trấn to lớn”.


 

Chú thích:

1.Kết giao cận thi : Nội dung cấm các quan không được chơi với kẻ hầu gần Vua.

2.Trừ nhị : Dự bị lên nối ngôi, coi như vị vua thứ hai. 

3.Đông triều thị tín : Đông triều tức  Đông cung, là Hoàng thái tử.

4.Lợi dụng câu sấm “Phá điền thiên tử xuất”, giải thích như sau: Chữ điền [田] cắt bởi nhát dọc, thành chữ thân [ 申]; ý chỉ năm Thân [Giáp Thân 1824] Vua Lê tái xuất hiện.

5.Tức sông Vĩnh Tế tại biên giới Hà Tiên, An Giang; đào sau này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời