
Tác giả: Ngọc Kinh Lang Hoàn &
Thích Quán Thông cộng viết
Theo các nguồn sử liệu đáng tin cậy,[1] đạo Phật truyền vào Việt Nam vào khoảng đầu kỷ nguyên dương lịch, cho đến Khương Tăng Hội (sanh khoảng năm 190 – mất năm 280 sau dương lịch) là vị tăng sĩ có sử tích đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung hoa-Việt nam và có để lại nhiều tài liệu viết dịch; từ ấy đến nay đã gần hai ngàn năm. Nhưng dân tộc Việt nam lại thường tự hào là có một truyền thống hơn bốn ngàn năm văn hiến, kể từ đời Hồng Bàng với Lạc Long Quân và Âu Cơ là tổ tiên chung dựng nên nước Văn Lang tối sơ. Vậy thử hỏi, hai ngàn năm trước khi đạo Phật du nhập Việt nam, dân tộc chúng ta có hay theo đức tin tôn giáo nào?
Ở đây, chúng tôi không lạm bàn về dân tộc- , chủng tộc- , văn minh- , sử địa- , hay tôn giáo- học, vì đã có rất nhiều học giả, nhất là các học giả Việt nam thuộc Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20, đã luận thảo rất nghiêm túc và chi tiết về nhiều phương diện khác nhau rồi. Chúng tôi chỉ muốn ghi lại nơi đây một vấn đề mà gần hai ba mươi năm nay vẫn thường thắc mắc: chắc chắn phải có một đức tin tôn giáo hay một tín ngưỡng sơ khai nhưng mãnh liệt và thực tiển nào đó làm thành tố giúp cho dân tộc Việt nam mãi mãi tự hào với truyền thống anh dũng và oai hùng để giữ vững đất nước và bản tánh đặc thù của dân tộc cho đến ngày nay. Đi tìm thành tố đó, có nghĩa là chúng ta phải tìm trở về nguồn với những thần thoại và truyền thuyết dân gian của thời tiền sử, thời kỳ đồ đá và đồng thau, vốn là những chất liệu căn bản tạo thành tôn giáo địa phương hay bổn địa (indigenous religion) của mỗi một dân tộc.
Dựa vào những biên khảo của các học giả đi trước, tất cả đều đồng ý rằng, đứng đầu các truyện thần thoại và truyền thuyết của dân Việt là:
- Truyện Họ Hồng Bàng với Lạc Long Quân và Âu Cơ sanh ra một bọc nở trăm trứng, nói lên nguồn gốc nòi giống con Rồng cháu Tiên cùng ý nghĩa “đồng bào” của dân tộc ta;
- Truyện Thần Tản Viên, hay Sơn Tinh, đào sông lấp núi trị thủy, nói lên công trình xây dựng đất nước, kình chống với những đe dọa lủ lụt tai họa thiên nhiên;
- Truyện Thánh Gióng, hay Phù Đổng Thiên Vương, nói lên tinh thần giữ gìn bờ cõi đất nước chống cự ngoại xâm bất kỳ từ phương nào tới;
Cả ba nhân vật thần thoại này được kể lại như là những thánh tích truyền kỳ, những người khổng lồ biểu trưng cho sự vĩ đại của lịch sử mở nước, dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt nam. Căn cứ vào đó, ta nhận ra rằng truyền thuyết và thần thoại của người dân Việt mang đầy đủ tánh chất hào hùng và kỳ vỹ trong quá trình hình thành và phát triển đất nước; từ đó cho đến khi bước vào thời kỳ chánh sử và đến ngày nay, tánh chất hào hùng và kỳ vỹ đó đã tạo thành một truyền thống đặc thù là: lý tưởng hóa các anh hùng dân tộc qua những chiến công hiển hách của họ bằng cách tôn xưng họ thành thần, những linh khí oai đức có quyền năng bảo vệ hạnh phúc cho con người và thanh bình cho đất nước.
Ngoài bộ ba huyền sử khổng lồ này, ta lại còn có:
- Truyện Chử Đồng Tử nhường khố cho cha, nói lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ ông bà ngay khi còn sốn tại thế, một đạo lý căn bản của nòi giống Việt.
Truyền thuyết và thần thoại của ta do vậy “quan hệ đến cương thường phong hóa của dân tộc”[2] và mang theo vào bản thân của những truyền kỳ đó một ý niệm đạo đức và tôn giáo, tạo thành một đặc thái của tôn giáo bổn địa của người dân Việt.
Qua truyện đứng đầu về Họ Hồng Bàng, ta còn khám phá được rằng tổ tiên chúng ta chỉ để tâm đến việc xác định nguồn gốc của dân tộc và đất nước, chứ không đặt nặng vấn đề giải thích căn nguyên của vũ trụ và loài người. Chính vì không cần thiết tìm hiểu căn nguyên vũ trụ như thế cho nên mặc dầu dân ta thờ Trời như là một hạo khí linh thiêng, nhưng mà ý niệm về Trời của dân tộc ta cũng rất là độc đáo, khác ngược hẳn với khái niệm về một đấng thần linh sáng tạo vũ trụ của các tôn giáo lớn Tây phương và Trung Đông đầy hận thù và tàn bạo.[3] Dân tộc Việt không cần thiết một thần linh đáng ghê tởm như thế, chỉ một cơn nổi giận lại có thể dâng nước trong trận Đại hồng thủy hủy diệt hết nhân loại và sự sống toàn thế giới!
Ngoài những chuyện xem Trời là đấng thần linh gần gủi và đầy bản tánh con người như “con cóc là cậu ông Trời”, dân ta lại còn có lúc “bắt thang lên hỏi ông Trời”… khi có việc bất bình phải đi hỏi cho ra lẽ, thì quả thật chưa có một dân tộc nào có được một đầu óc cách mạng và ngang cuồng đến thế. Vì vậy mà đôi khi ta “ngắn cổ kêu không thấu Trời” – kêu cứu mà vẫn không cầu khẩn hay quỳ lụy –, nhưng ta chỉ tuân phục Ngài khi Ngài tốt, mang lại mưa thuận gió hoà cho đất nước; ngược lại, nếu Ngài gây tai họa thì dân ta vẫn có thể “bẻ nạng chống Trời” lắm!
Cùng với thái độ thờ Trời độc đáo đó, dân tộc ta lại tỏ lòng tôn kính các bậc anh hùng dân tộc – thuộc truyền thuyết huyền thoại cũng như lịch sử – bằng cách bái thờ họ và tôn xưng làm thần. Các vị thần đó, đối với đức tin thuần chắc của dân tộc ta, khi sống thì bảo vệ đất nước, thác rồi linh khí lại trở về phò hộ dân gian, cho nên rất xứng đáng được hưởng sự sùng bái của họ. Các vị anh hùng có công nghiệp lớn thì làm thượng đẳng thần như Trưng Nữ Vương, Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Vương), v.v., các vị làm hiển danh làng xả của mình thì làm thành hoàng, thổ địa, v.v. Đây cũng là một đặc thái đạo đức của dân tộc ta, biểu dương và ghi nhớ công đức dựng nước và giữ nước của các anh hùng dân tộc qua đức tin: “sống làm tiết nghĩa, chết nên phúc thần”; dụ như thần Tản Viên, đệ nhất phúc thần, linh khí của núi non hùng vĩ. Cũng như Trời là linh khí hạo nhiên, các vị thần này là những sức sống thiêng liêng, chở che và bảo dưỡng vạn vật theo luật tuần hoàn sanh-trưởng-hoại-tàn của vũ trụ.
Cho nên các thần thánh nguồn gốc Việt Nam được dân gian kính ngưỡng tôn thờ, mà không khiếp sợ rung rẫy như đứng trước thần linh của tôn giáo Hi-La Tây phương; nếu đã là tối cao sao lại còn có những cơn thịnh nộ bạo tàn và nguyền rủa tiêu diệt tất cả những gì có sự sống trên mặt đất này – trong đó có loài người – do chính vị thần đó tạo dựng nên, thì quả thật không khác mà còn đáng khủng khiếp gấp vạn triệu lần bạo chúa Tần Thủy Hoàng nữa.
Các vị thần của dân tộc ta gần gủi để chở che ban phước cho con người cho nên con người sống gần gủi với núi sông thì thờ thần sông, thần núi; ở đồng bằng thì thờ thần đất thần nông; ở phố thị thì thờ thành hoàng, thổ địa, ông táo, v.v. Mà đã có thờ cúng, nhất là trên bình diện quốc gia, như giổ tổ Hùng Vương, Trưng Nữ vương, đức Thánh Trần, v.v., thì đó là tôn giáo, tôn giáo bổn địa của toàn dân tộc Việt. Một điều đáng chú ý là tuy Việt nam bị ảnh hưởng văn minh và tôn giáo của Trung hoa rất lâu dài mà dân tộc ta không hề tôn thờ trên bình diện quốc gia một vị thần nào gốc tích là người Trung hoa cả. Thí dụ điển hình là Quan Thánh Đế Quân, hay Quan Công, Quan Vân Trường, được người dân miền biển tôn xưng là Tổ của ngành đánh cá và hàng hải; hàng năm những vùng Phan Thiết, Khánh Hòa, Vũng Tàu, v.v. tổ chức lễ hội cúng tế Ngài linh đình kéo dài 3, 4 ngày trời, nhưng cũng chỉ thuộc cục bộ địa phương chứ chưa bao giờ được tất cả người Việt thờ kính như Phạm Ngũ Lão, Hoàng Hoa Thám, Lê Lai v.v. Hoa Đà là Tổ ngành thuốc của Trung hoa, thì Việt nam ta cũng có Tổ Tuệ Tạng, Hải Thượng Lãn Ông, v.v….Đặc thái của đức tin tôn giáo của dân tộc Việt chính là đây.
Qua thời huyền thoại, khi đất nước ta bước vào kỷ nguyên sử kỳ với những sử tích đứng đầu kiêu dũng chống xâm lăng của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Mai Thúc Loan, v.v., thì cũng là lúc đạo Phật du nhập Việt nam từ ngã Ấn Độ, với tăng sĩ Khương Tăng Hội là nhân vật lịch sử có thật được biết đến trước tiên trong lịch sử khởi nguyên Phật giáo Việt nam.[4] Đạo Phật mang đến dân tộc ta một nền tảng đạo đức cho bản thân con người trong tương quan với xã hội qua năm giới luật căn bản để mang lại hạnh phúc an lạc cho cá nhân và trật tự hoà bình cho xã hội. Từ nguyên thủy, đạo Phật cũng không đặt nguồn gốc vũ trụ thành vấn đề, cho nên không mâu thuẩn mà trái lại hài hòa với quan niệm về Trời của dân bổn địa. Đạo Phật cũng quan niệm có thần thánh, là một (Thiên đạo) trong lục đạo của vòng luân hồi, cho nên chấp nhận và khuyến khích thái độ tôn thần của dân gian, không ngăn trở và nhất là không dùng bạo lực triệt hạ tín ngưỡng địa phương như các tôn giáo Tây phương từng làm.
Người Phật tử Việt nam TRƯỚC TIÊN LÀ NGƯỜI DÂN VIỆT NAM, cho nên ngoài việc thờ Phật là Đấng Giác Ngộ để tu tập cho bản thân, họ còn thờ Trời, tế lễ Hùng Vương, Đức Thánh Trần, cúng bái Bà Chúa Liễu, bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc, van vái ông Địa, ông Táo, v.v. Qua hai ngàn năm lịch sử, đạo Phật và tín ngưỡng dân tộc Việt đã hiện hữu song song nhau để trở thành là một. Không có vấn đề người Phật tử là người có thâm tâm nào khác ngoài là người dân Việt. Qua bao lớp sóng hưng phế tang thương của lịch sử, người Phật tử – tăng đoàn cũng như tín đồ – đều đặt quốc gia lên trên, đất nước trước hết.
Cuộc sống của dân tộc, đứng trước đe dọa xâm lăng từ phương Bắc mấy ngàn năm qua và thực tế thuộc địa Tây phương vài trăm năm trở lại đây và còn có thể dài dẵng hàng ngàn năm sau, – chỉ vì địa thế đặc biệt của đất nước trong tương quan Đông Nam Á và toàn cầu –, đã không cho con người Việt nam nhiều thì giờ để thắc mắc về vũ trụ luận hay nguyên nhân luận. Ước mơ nhỏ bé của người dân Việt, gồm có người Kinh và các sắc tộc thiểu số, là chỉ cầu mong được có một cuộc sống an lành, đầy đủ và hạnh phúc dưới sự che chở của thần linh gần gủi. Khi những ước mơ nhỏ bé đó bị hăm dọa bởi những mưu đồ ngoại lai, người dân nhỏ bé của giống nòi Lạc Việt không ngần ngại đứng lên tranh đấu để bảo vệ những vị thần linh đó và đối lại, tin tưởng những thần linh này phù trợ cho họ trong những cuộc đấu tranh ấy. Con người, đức tin – của tôn giáo bổn địa và Phật giáo – , đất đai, quê hương, tổ quốc, do đó chỉ là Một.
Con người Việt Nam hy sinh liều chết để giữ gìn đất nước cho quê hương và đức tin thuần thành về Phật Trời bằng một thái độ phóng khoáng, tự do, quân bằng, chứ không mê muội theo lập luận phản quốc ngoại lai là ‘thà mất nước chứ không chịu để mất vị thần dã man tàn bạo’[5] của họ, đã từng vì một cơn thịnh nộ mà làm lụt hồng thủy để tiêu diệt hết thế gian! Đây cũng là một nguyên nhân sâu sắc giải thích sự oai hùng của dân tộc Việt: ngay cả đến một nền văn minh lớn như Trung hoa, một bạo lực súng đạn nguyên tử như Pháp Mỹ, cũng không thể đồng hoá hay nuốt trửng bản đồ và dân tộc Việt.
Một khi Phật giáo hòa nhập với dân tộc tức là hòa nhập với tôn giáo bổn địa, với truyền thống dân gian, biến thái những truyện Phật phổ biến trong dân gian và thâu nhập truyện dân gian vào hình thức tín ngưỡng trong đạo Phật, để rồi không còn biết rõ rằng truyện Phật là gốc hay truyện dân gian là gốc, thì khi đó không còn phân biệt gì nữa giữa đạo Phật và tín ngưỡng dân tộc. Nhưng đây không thể kể là bước thoái hóa hay cuộc đảo lộn giá trị giữa căn bản triết lý của đạo Phật với những sáng tạo địa phương; mà lại được xem như là một tương nhập hài hòa giữa tôn giáo bổn địa và hình thức tôn giáo của đạo Phật mà thôi.[6] Và từ đó, ta đi đến hệ luận rằng, Phật giáo Việt nam không phải là Phật giáo Ấn độ, hay Phật giáo Miến điện, Tích lan, hoặc Phật giáo Tây tạng, v.v., lại càng không phải là Phật giáo Trung hoa.
Tuy về mặt hình thức nghi lễ tế tụng, chùa chiền Việt nam phần lớn mang sắc thái sanh hoạt của chùa chiền Trung hoa, nhất là ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề kể từ thời Vân Thê Châu Hoằng[7] đến nay, nhưng nếu điểm qua những cuộc lễ tế thần linh đình tại các đình chùa đền miếu như tại Chùa Keo chẳng hạn, có lễ Phật lại có rước kiệu, cung phụng Thánh Tổ, hội Gióng, v.v., hoặc những sắp đặt nơi đất Phật như là Chùa Hương hai hiện tượng âm dương đối nghịch như núi Cô núi Cậu, động Ông hang Bà, lên Tròi xuống Âm, v.v., thì chúng ta thấy ngay một phối hợp hài hòa tương nhập tương kính giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian, của riêng dân tộc Việt nam.
Bốn ngôi chùa mang tên Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện – được thành lập vào khoảng thế kỷ II lúc Phật giáo tiên khởi tại Việt nam – là một điển hình cụ thể nhất : Phật giáo vừa du nhập là hòa hài ngay với nếp sống nông nghiệp và tín ngưỡng thờ các thần che mưa đở nắng cho mùa màng được nẩy lúa đơm bông. Một thí dụ nữa là trong đời Lý, tuy đạo Phật cực thịnh hầu như là quốc giáo mà Lý Thánh Tông cũng sắc chỉ rước Hậu Thổ phu nhân “tinh hoa đất nước Nam” ở cửa Hoàn về lập miếu thờ tại An Lãng; hoặc dựng đàn Phong Vân (đời Nguyễn là đàn Nam Giao), tế sơn hà xã tắc; mỗi Rằm tháng Giêng lập hội Thề ở miếu Đông Cô, các quan đọc lời thề kính cáo Trời Đất, thần núi lớn (Sơn Tinh), sông to (Thủy Tinh), lập nguyện “vi thần tận trung, vi quan thanh bạch”; cho thấy ngay thời đạo Phật thịnh hành nhất, những yếu tố Lão và Khổng cùng tín ngưỡng dân gian cũng đã hòa điệu với nhau rồi.
Qua dòng lịch sử sơ lược kể trên, ta đã ý niệm được một đạo lý sinh động đang thấm nhuần khắp tổ quốc giang sơn: tôn giáo nào đến với dân tộc mà hòa nhập và tôn trọng tín ngưỡng địa phương thì đều được hoan nghênh và phổ biến trở thành làm một với đức tin dân gian; tôn giáo nào dùng bạo lực để tàn diệt tín ngưỡng địa phương để độc bá và thống trị qua danh nghĩa tôn giáo độc thần, thì chỉ như là một cưỡng chiếm nhất thời của kẻ có nhiều vũ khí quyền lực hơn mà thôi. Đạo lý sinh động đó chính là động lực kết hợp và thúc đẩy con người Việt nam trở thành một dân tộc hào hùng với bao chiến công hiển hách, với bao thành tích giữ nước và dựng nước huy hoàng.
Đạo lý đó là VIỆT ĐẠO, – Đạo lý uyên nguyên của dân tộc Việt –, không phải là Lão giáo của Trung hoa, vì từ thái độ thờ Trời cho đến tôn xưng các thần huyền thoại hay thần lịch sử, tất cả đều là nhân vật Việt nam. Ngay cả Đức Quán Âm Tự Tại Bồ tát (Avalokitesvara Bodhisattva) được sùng bái khắp từ Tây tạng qua đến Nhật bản, từ Trung hoa xuống đến Nam dương, khi đến Việt nam cũng trở thành là Quán Âm Thị Kính với cuộc sống bình thường tiêu biểu của một người dân dã, của một người đàn bà chịu nhiều bất công trong xã hội, chứ không còn phải là Quán Âm Diệu Thiện công chúa cao sang xa cách theo truyền thuyết Trung hoa. Căn bản Việt Đạo phải nói chính là ở nơi phổ biến và bình dân như thế.
Rất tiếc là về sau này, từ khi tín ngưỡng về bà chúa Liễu Hạnh thịnh hành đến nay, đạo lý đó bị pha trộn với màu sắc suy hoại của tôn giáo, của Lão giáo vốn đã là một hình thức phóng khí của Đạo gia bên Trung hoa, chuyên chú đến buà phép chú thuật để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của cá nhân, khiến sanh ra những tệ đoan như đồng bóng, lên cốt, bà nhập, v.v. Đến nổi khi Tây phương xâm chiếm nước ta, họ viết nhiều tài liệu về tín ngưỡng Việt nam, nhất là về Phật giáo, theo lập trường tôn giáo thống trị của họ, nên cố ý dụng tâm miệt thị và xuyên tạc những hình thức phóng khí này, cho đó là tà giáo (paganism). Điều đáng buồn là về phía Việt Nam, nhất là Phật giáo Việt nam, cũng lại không có một phản ứng hay đối kháng nào trước các sách vở xuyên tạc này, trong đó có cả những quyển do các linh mục người Việt nam viết.[8] Có lẽ vì thực tế quả đúng như vậy.
Kể từ đời Trần, chúng ta biết đã có những dâm từ [9] rãi rác đó đây trong dân gian và bị Điều Ngự Giác Hoàng phế bỏ khi ngài vân du truyền bá đạo Phật. Nhưng mãi đến cuối triều Lê, hình thức phóng khí của Việt Đạo mới thịnh hành dưới dạng thờ bà Chúa Liễu Hạnh làm Tam Tòa Thánh Mẫu, và sự thành lập nào Tam Phủ nào Tứ Phủ công đồng, để rồi phái Tiên ThiênThánh mẫu giáo hay phái Nội Đạo dựng đứng những nghi thức tế lễ dựa trên mê tín dị đoan của đồng cốt quàng xiêng, và vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm cho đến ngày nay, không chỉ tại quốc nội mà ngay cả ở hải ngoại nữa. Ảnh hưởng đến nổi ngay cả đến những sách nghiên cứu về văn học và tín ngưỡng dân gian của UBKHXH hiện tại cũng không dám phê phán, hay cải cách; mà chỉ đại khái ghi rằng: “Cần nên trả lại Đạo Thánh ý nghĩa đẹp đẻ của dân gian, của tâm thức dân tộc, khắc phục và bài trừ những trò mê tín dị đoan làm ô danh các Thánh”.[10] Điểm lạ lùng khó hiểu là sau khi lên tiếng kêu gọi như thế, những bậc thức giả này cũng không tiến hành công cuộc đi tìm lý giải hay phương pháp nào để bài trừ những trò mê tín dị đoan đó, cho nên mãi đến nay các bậc Thánh linh hiển của đức tin bổn địa của dân tộc Việt nam cũng vẫn còn bị lợi dụng, còn bị ô danh dài dài.
Có lẽ chỉ vì tác giả cũng giống như các vị khác đã phạm phải một lỗi lầm căn bản là cứ liệt kê Tứ Bất Tử là gồm có Thần Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đạo Tổ và ‘thánh mẫu Liễu Hạnh, thì quả thật là không hợp đạo lý chút nào, dựa theo đạo lý uyên nguyên đã ghi ở trước. Bởi vì, địa vị của Lạc Long Quân (hay Họ Hồng Bàng) là Quốc Tổ Hùng Vương sẽ không còn ý nghĩa trong Việt Đạo, nếu cứ theo liệt kê Tứ Bất Tử này. Và có lẽ cũng chính vì thế mà chúng ta vẫn cứ lẫn quẫn mãi trong vòng phóng khí của tín ngưỡng dân gian, không có được một căn bản vững chắc để đối kháng với những miệt thị xuyên tạc của những người cố tình triệt hạ Đạo lý uyên nguyên ngàn đời của dân tộc Việt.
Không hợp lý bởi vì thánh mẫu Liễu Hạnh cũng chỉ mới xuất hiện gần bốn trăm năm trở lại đây mà thôi, và chỉ được một phần người dân miền Bắc tôn thờ, tương đương với bà chúa Xứ núi Sam ở miền Nam hay Thiên Ý A Na miền Trung, cho nên không đủ thời gian tính, dân tộc tính và địa phương tính để có thể được liệt kê ngang hàng với ba vị Thần Tản Viên, Thánh Gióng và Chử Đồng Tử được. Tuy Bà đã được chểm chệ ngồi trong Tam Tòa[11] (không phải Tam Phủ, hay Tứ Phủ), nhưng không vì thế mà Bà có thể tự tiện được đưa vào làm một trong Tứ Bất Tử của toàn thể dân tộc Việt nam được. Vấn đề cốt lõi có lẽ là sự lầm lẫn giữa hai ý thức về Tứ Bất Tử và Tứ Phủ, hay đúng hơn, về chữ ‘Tứ’ trong hai ý thức này.
Do vậy mà trong cố gắng “ trả lại cho Đạo lý uyên nguyên của Việt giáo ý nghĩa đẹp đẻ của dân gian, của tâm thức dân tộc ”, chúng ta cần phải biết phân biệt rõ ràng giữa Tứ Bất Tử và Tứ Phủ như sau:
- Tứ Bất Tử gồm có :
- Quốc Tổ Hùng Vương, hoặc Lạc Long Quân hay Họ Hồng Bàng, là nguồn gốc tổ tiên của dân tộc Việt; Ngài lại còn dạy dân trồng lúa, là mạng mạch của kinh tế quốc gia ;
- Thần Tản Viên, tức Đức Thánh Tản hay Sơn Tinh, biểu trưng tinh thần dựng nước, dùng ý chí con người mở mang đất nước, chinh phục những sức mạnh tàn phá của thiên nhiên (như lũ lụt, tượng trưng bằng sự thất bại của Thủy Tinh). Đức Thánh Tản còn là Thánh Sư hay Bách Nghệ Tổ Sư, đã dạy dân làm ra lửa, khai phá đất đai để cày thành vườn ruộng, trồng lúa hoa màu, săn bắn, bắt cá, dệt vải, v.v. . Đứng trong hàng ngũ của Thần Tản Viên, ta có Nguyễn Công Trứ, Thoại Ngọc Hầu, v.v. ;
- Phù Đổng Thiên Vương, hay Đức Thánh Gióng, biểu trưng tinh thần giữ nước, dùng sức mạnh đoàn kết chống ngoại xâm bảo vệ lãnh thổ, giữ vững quyền làm chủ bất khả xâm phạm của dân tộc con Rồng cháu Tiên. Những anh hùng đứng trong hàng ngũ của Thánh Gióng kể không làm sao hết, từ vinh danh như Trưng Nữ Vương, Hưng Đạo Vương, Trương Công Định, Cô Giang, v.v…., cho đến vạn triệu người dân quê mùa vô danh tiểu tốt đã đứng lên với dáo mác gậy gộc đương đầu cùng súng đạn nguyên tử của quân xâm lược ;
- Chữ Đồng Tử hay Chữ Đạo Tổ, biểu trưng cho Đạo Hiếu đặc biệt tích cực của dân tộc Việt và cho sự phát triển đất nước để xây dựng một xã hội ổn định, biết cách đối nhân, xử thế, thờ cúng tổ tiên ông bà, cứu độ chúng sanh, phát triển thương nghiệp.[12]
- Tứ Phủ:
Trong khi đó, ngược lại, Tứ Phủ khác với Tứ Bất Tử nhiều điểm. Tứ Phủ là vũ trụ quan của Việt Đạo, gồm có bốn phủ, gọi là Thiên phủ, Nhạc phủ, Thủy phủ và Địa phủ,[13] tức bốn lãnh vực của thế giới: bầu Trời trên không (Thiên), Núi rừng (Nhạc), Sông biển (Thủy hay Thoải) và Đất đai (Địa). Bốn phủ này là hạo khí linh thiêng vận chuyển xoay vần theo luật tuần hoàn sanh hóa của vũ trụ, mà kinh Dịch và Đạo Đức kinh đã bàn đến, làm căn bản triết thuyết cho Lão giáo của Trung hoa nói riêng, cho định lý vô thủy vô chung của vũ trụ nói chung. Định lý này không có hình bóng con người chen vào.
Từ là vũ trụ quan của Việt Đạo, thuộc phần triết lý, Tứ Phủ bị nhân cách hóa theo tín ngưỡng Nội Đạo, trở thành là Tứ Phủ công đồng của riêng đất nước Việt nam, mỗi phủ do một Vương Mẫu hay Thánh Mẫu gọi tắt là Mẫu, trông coi. Theo tục truyền, Mẫu Thượng Ngàn hay Thánh Mẫu Nhạc Phủ là con gái thần Tản Viên, thống lãnh chư thánh tại trần gian, cai quản 81 cửa rừng cõi Nam Giao, đã từng hiển linh giúp quân nhà Lý đánh quân nhà Tống, giúp quân nhà Trần phá quân Nguyên, và từng phóng ra ánh sáng dẫn đường cho Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi thoát vòng vây quân Minh. Còn Mẫu Thoải hay Thánh Mẫu Thủy Phủ, là Tam Giang Công Chúa, con gái thứ ba của vua Lạc Long quân. Mẫu Thoải coi sóc các cửa biển, sông hồ, chủ yếu làm mưa thuận gió hòa, tưới nhuần cây cối; Mẫu thường dùng thuyền lan chèo quế tiêu dao khắp 36 động tiên. Tục rước nước tại nhiều nơi là để nhớ ơn Thánh Mẫu Thủy Phủ này. Không thấy nhắc tới Mẫu Thiên hay Thánh Mẫu Thiên Phủ, mà nếu cần thiết, ta có thể đưa Mẹ Âu Cơ vào đây. Cả ba, Mẹ Âu Cơ, con gái thần Tản Viên, và Tam Giang Công Chúa, đều thuộc vào thời huyền thoại siêu việt thời-không để đủ quyền năng trở thành là Vương Mẫu của Tam Phủ công đồng trong tâm thức sùng tín của dân tộc Việt nam.
Như thế ta có thể tóm lược như sau:
- Tứ Bất Tử của Việt Đạo gồm có: i. Lạc Long Quân (hay họ Hồng Bàng, Hùng Vương, là nguồn gốc của dân tộc Việt); ii. Thánh Tản (Viên, mở mang bờ cõi); iii. Thánh Gióng (Phù Đổng thiên vương, giữ gìn đất nước chống ngoại xâm); iv. và Chử Đồng Tử (đạo Hiếu tích cực của dân tộc Việt);
- Quảng diễn từ Tam Phủ, gồm có Thiên phủ, Nhạc phủ, Thuỷ (Thoải) phủ, Tứ Phủ thêm vào Địa phủ để lập thành vũ trụ quan của Việt Đạo. Các phủ này là hạo khí uyên nguyên của vũ trụ, không có con người nào có thể đảm nhiệm;
- Tứ Bất Tử, Tứ Phủ và Tam Phủ đều thuộc trong truyền thống thần điện của Việt Đạo. Tứ Bất Tử là căn bản đạo lý khơi nguồn, dựng nước, giữ nước và tinh thần hiếu đạo của dân tộc Viêt Nam. Tứ Phủ là vũ trụ quan của Việt Đạo, trong khi Tứ Phủ công đồng là nhân sinh quan và là hình thức phóng khí của Việt Đạo;
- Liễu Hạnh cùng với hai vị thị nữ chỉ nên được sùng bái là Tam tòa Thánh mẫu của Tiên Thiên thánh mẫu giáo, không phải là một trong Tứ Bất Tử; Bà cũng không là một Mẫu trong Tam Phủ hay trong Tứ Phủ.
Chỉ có một hệ thống đàng hoàng và hợp lý như trên, ta mới có thể trả lại cho Việt Đạo căn bản triết lý uyên nguyên hào hùng của dân tộc Việt, đồng thời dang tay tiếp nhận hình thức phóng khí, tín ngưỡng bình dân của những người tin thần, tôn thánh, lễ bái các “bậc khuất mặt khuất mày” như Chúa Liễu Hạnh, Chúa Xứ Núi Sam, Chúa Bà Đen, Thiên Ý A-Na, Thiên Hậu nương nương, Hậu Thổ phu nhơn, v.v. Hình thức phóng khí này, tôn giáo lớn nào cũng có; như đạo Phật, ngoài pháp học uyên thâm của các triết thuyết căn bản như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Tướng, v.v. , hay tư tưởng Bát Nhã, Trung Quán, Duy Thức mà ngay cả Tây phương vẫn còn phải tham cứu, và pháp hành thiền Chỉ Quán thâm mật, và ngoài những vị thánh tăng đạo cao đức trọng trong Tăng đoàn, ta vẫn thấy có hiện tượng cúng kiến bùa phép của một số thầy tu chỉ chuyên luyện giọng hay để tụng kinh cầu siêu cầu đám, dùng nghề thầy cúng Ban Kinh Sư làm mục đích trong đời tu, v.v.; thì không thể trách Việt Đạo cũng đượm nhiều hình thái phóng khí qua sự hiện diện của những ông đồng bà cốt, làm hủy hoại đi những tinh hoa yếu nghĩa của Việt Đạo.
Cho nên đây là thời điểm phải gạn lọc lại, phải xây dựng lại những tinh yếu đã bị chôn vùi hay hiểu lầm đó, để trả lại cho Việt Đạo những gì mà lâu nay chúng ta đang cố gắng kêu gọi: “hãy trả lại cho Việt Đạo ý nghĩa đẹp đẻ của tâm thức dân tộc”, trả lại một cách dứt điểm, đường hoàng.
***
Làm công trình đi tìm lại nguồn gốc uyên nguyên về đức tin của dân tộc Việt này, chúng tôi chỉ mang một ước mơ nhỏ bé là khơi sáng lại nền Đạo Việt là tôn giáo bổn địa của dân tộc Việt Nam từ hơn bốn ngàn năm qua để hài hoà thể nhập cùng Đạo Phật là tôn giáo phổ cập thế giới siêu việt thời không, vì cả hai cùng một cơ bản nhân sinh quan. Từ đó minh chứng điều mà lịch sử hai ngàn năm qua đã quyết xác: đạo Phật và Việt Đạo là một; dân tộc với Việt Đạo không hai thì đạo Phật và dân tộc chẳng khác. Đạo Phật đã sống trong lòng đân tộc vì đã tiếp nhận và chuyển hóa Việt Đạo thành một đức tin mang đặc thái của Đạo Phật Việt Nam, không bí ẩn khắc khổ như Đạo Phật Ấn Độ cũng không triết lý xa vời như Đạo Phật Trung Hoa. Việt Đạo cũng phải nương theo các triết lý căn bản về nhân sinh quan của Phật Đạo để vươn lên thành một đức tin đời đời kiếp kiếp của dân tộc Việt: “Trong ý nghĩ dân gian, còn tổ tiên là còn đất nước, mà đất nước chúng ta thì không bao giờ có thể tiêu diệt cho nên Việt Đạo vẫn còn sống mãi trong lòng dân gian”.
Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng:
Yếu tố tạo nên sức mạnh dân tộc là niềm tự hào về quá khứ oai dũng, về lịch sử vẽ vang của tổ tiên, đức tin vào vận mệnh của non sông đất nước. Hướng đi của dân tộc là thế: “Không có một bạo lực nào, dù là chánh trị hay tôn giáo ngoại lai phản dân tộc, có thể áp ức người dân Việt nam bỏ đi truyền thống bảo vệ đất nước, thờ cúng ông bà tổ tiên và tôn làm phúc thần các anh hùng huyền thoại hay lịch sử của dân tộc ta”. Căn bản Việt Đạo là đây, căn bản Phật Đạo Việt nam cũng là đây.
NGỌC KINH LANG HOÀN & THÍCH QUÁN THÔNG
cẩn viết, 15/05/1990.
Bổ duyệt: 15/05/2016.
Sách đọc:
Bình Nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai Á của dân tộc Việt. Saigon, Khai Trí, 1969.
Đinh Gia Khánh & Chu Xuân Diên. Văn học dân gian Việt Nam. NXB Đại học, 1972.
Eliade, Mircea. Aspect du Mythe. Paris, 1963.
Lê Qúi Đôn. Kiến văn tiểu lục. Sàigòn, 1963.
Lý Tế Xuyên. Việt điện U linh tập. Sàigòn, 1961.
Maspéro, Henri. Le Taoisme. Paris, 1967.
Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng cổ tích Việt nam. UBKHXH, 1967.
Tạ Chí Đại Trường. Thần, Người và Đất Việt. Los Angeles, CA., Nxb Văn Nghệ tái bản, 1989.
Toan Ánh. Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam. Sàigòn, Nam Chi tùng thư, 1967. 2 q.
Trần Thế Pháp. Lĩnh Nam trích quái. Sàigòn, 1960.
Viện Văn Hoá Dân Gian. Lễ Hội Cổ Truyền; chủ biên: Lê Trung Vũ. Hà Nội, Nxb Khoa học Xã hội, 1992.
Vũ Ngọc Khánh & Ngô Đức Thịnh. Tứ Bất Tử. NXB Văn Hóa Dân Tộc, 1990.
Cùng các sách ngoại ngữ Anh, Pháp khác viết về tôn giáo đại cương, cũng như tôn giáo Việt Nam. Đặc biệt là bộ 3 tập của:
Campbell, Joseph. The Mask of God: 1. Primitive Mythology; 2. Oriental Mythology; 3. Occidental Mythology.
***
Những tác phẩm xuyên tạc tôn giáo (religion) đạo Phật là một tín ngưỡng tà đạo (paganism, cults) tiêu biểu gồm có:
Cadière, Léopold. Croyances et Pratiques des Vietnamiens. Paris, Imp. Nov. d’E-O, 1955-1958. 3 vols.
Coulet, Georges. Cultes et Religions de l’Indochine Annamite. Saigon, Imp. Com. Ardin, 1929.
Dumoutier, G. Les cultes annamites. Hanoi, 1907.
Escalère, Lucien. Le Bouddhisme et Cultes d’Annam. Shanghai, Imp. T’ou-se-we, 1937.
Giran, Paul. Magie et Religion Annamite. Paris, Challamel, 1912.
Louvet, L. E. La Cochinchine Religieuse. Paris, 1885. 2 vols.
[1] Thích Nhất Hạnh, Thiền sư Khương Tăng Hội. Paris, Lá Bối, 1990; Budden Gyoshi, Buddhism in Vietnam, 2nd-6th century A.D. Ph.D. dissertation, Columbia Pacific University, 1989; Tuệ Hạnh, Khương Tăng Hội, Sáng Tổ Phật giáo Việt nam. Tiểu luận, tập san Nguồn Sống, San Jose, Calif., 1986.
[2] theo Vũ Quỳnh, trong Lĩnh Nam Trích Quái
[3] a vengeful, wrathful god.
[4] xem bài: “Khương Tăng Hội, Sáng Tổ Phật Giáo Việt Nam” của Tuệ Hạnh. Nguyệt san Giác Ngộ,
[5] câu tuyên bố của một linh mục nổi tiếng: “thà mất nước chứ không mất Chúa”!
[6] Hình thức tôn giáo, vì ngoài đó, đạo Phật còn có một nền triết lý uyên thâm thuộc pháp học bao quát và siêu việt mọi vấn đề triết học khi tỷ giảo với của Tây phương, cũng như là còn có thêm một công phu thiền định tu tập thuộc pháp hành mà không có tôn giáo lớn hay triết học Tây phương nào sánh bằng được.
[7] Hai thời công phu sớm chiều (nhị thời khóa tụng) trong các chùa tại Việt nam là do Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615), một trong bốn cao tăng đời nhà Minh, biên tập.
[8] xem Thư tịch cuối bài.
[9] Dâm từ, theo định nghĩa của các sách nghiên cứu về Lão giáo, là những miếu thờ dùng trâu bò gà vịt để cúng tế thần địa phương.
[10] Vũ Ngọc Khánh & Ngô Đức Thịnh. Tứ Bất Tử. NXB Văn Hóa Dân Tộc, 1990.
- 25
[11] Tam Tòa Thánh Mẫu, gồm chúa Liễu Hạnh (đôi khi gọi là Vân Nương hay Vân Hương) và 2 thị nữ Quỳnh Hoa (hay Thụy Hoa) và Quế Hoa.
[12] Cần ghi thêm ở đây là “ba vị Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng và Chử Đạo Tổ luôn luôn cố định và nhất quán trong các tài liệu, các thời đại”; xem bài: Những phát hiện mới nhất về Tứ Bất Tử Việt Nam, bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Diện trên vietsciences ngày 19.04.08. Thế là chỉ riêng có bà chúa Liễu Hạnh là có vấn đề.
[13] gồm tất cả những gì sanh sôi nẩy nở trên mặt đất, không phải là Âm phủ mà thường cũng gọi là địa phủ hay địa ngục, là nơi tù đày các vong hồn người chết khi sống làm ác trên thế gian