Lý thuyết, cảm thức và chủ nghĩa trong các hệ hình Văn Hóa

Thy Sinh

Khi tiếp cận khái niệm hậu hiện đại của các học giả phương Tây, chúng tôi nhận ra sự phân mảnh ngay trên bình diện lý thuyết. Mỗi học giả đóng góp một số quan điểm mà họ phát hiện ra, nhưng không được tổng hợp thành hệ thống học thuyết bởi họ né tránh lập thuyết, vì như thế vô tình kiến tạo đại tự sự mới. Điều này gây khó cho người tiếp cận, vì không có một nền tảng lý thuyết làm xương sống.

Chúng tôi cũng không có tham vọng hệ thống hóa lại toàn bộ tư tưởng này, bởi đó là công việc quá sức và dễ mắc sai lầm. Chúng tôi chỉ đưa ra góc nhìn về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, thông qua ba tầng bậc: lý thuyết, cảm thức và chủ nghĩa, nhằm giúp độc giả hình dung rõ hơn về các hệ hình văn hóa trong ba bối cảnh hiện đại, hậu hiện đại và siêu hiện đại. Do lý thuyết hậu hiện đại phản ánh rõ nét nhất góc nhìn về chính nó và về các hệ hình khác, nên chúng tôi chọn phân tích các khái niệm cốt lõi của hậu hiện đại làm cơ sở để soi chiếu sang các hệ hình văn hóa hiện đại và siêu hiện đại.

 

Lý thuyết hậu hiện đại (postmodern theory)

Thành công lớn nhất của lý thuyết hậu hiện đại, theo chúng tôi, đó là nhìn ra chủ nghĩa hiện đại. Lyotard thấy được đại tự sự của hiện đại. Đây là phát hiện rất lớn về mặt học thuật, nó giải thích được rất nhiều vấn đề xã hội mà chưa phải ai cũng đào sâu. Chỉ khi lý thuyết hậu hiện đại ra đời thì chủ nghĩa hiện đại mới được hiểu đầy đủ. Hay nói cách khác, các học giả vì cần định vị lý thuyết hậu hiện đại, họ buộc phải xác lập thời kỳ trước đó là chủ nghĩa hiện đại với các thuộc tính của nó.

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một bản đồ tri thức rất rộng, trải từ triết học, văn học, kiến trúc, kinh tế chính trị đến xã hội học. Nếu chia theo các mốc tạo ra khái niệm thì có những tên tuổi nền tảng sau:

Những người đặt tên và định nghĩa: Jean-François Lyotard (1924-1998) với La Condition postmoderne (1979) – hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các đại tự sự; Ihab Hassan (1925-2015) – người hệ thống hóa các đặc điểm như bất định, phân mảnh, tự phản tỉnh; Fredric Jameson (1934) – hậu hiện đại như logic văn hóa của chủ nghĩa tư bản muộn, sự lên ngôi của pastiche.

Bộ ba giải cấu trúc – hậu cấu trúc, là kho vũ khí lý thuyết: Jacques Derrida – giải cấu trúc, chữ trượt; Michel Foucault – quyền lực/tri thức, diễn ngôn; Jean Baudrillard – siêu thực, mô phỏng.

Về văn học và phê bình: Roland Barthes, Umberto Eco, Linda Hutcheon cùng các nhà văn thực hành như John Barth, Thomas Pynchon, Italo Calvino.

Về kiến trúc – nơi từ hậu hiện đại ra đời đầu tiên: Charles Jencks, người tuyên bố kiến trúc hiện đại chết vào năm 1972.

Lý thuyết có thể đúng, có thể sai, có thể đến sớm, đến muộn. Nó là bản đồ được các học giả vẽ ra, định hình cho bước tiến tiếp theo nhưng trong đời sống lại là chuyện khác.

 

Cảm thức hậu hiện đại (postmodern sensibility)

Cảm thức không nằm trong sách vở hay lý thuyết, mà nằm ở một con người cụ thể đang sống, đang cảm và đang suy nghĩ về những vấn đề cụ thể của chính mình. Chúng ta có thể nhận diện cảm thức rõ hơn trong văn chương, bởi tác giả đã viết bài thơ ấy, kể câu chuyện ấy dựa trên cảm thức nào.

Cảm thức mới chỉ là cái nền để bài thơ được sinh ra. Còn bài thơ hay hay dở, có trở thành kiệt tác hay không lại là chuyện khác. Như chúng tôi từng phân tích bài Bóng chữ của Lê Đạt, ông đã viết bằng cảm thức siêu hiện đại từ năm 1994, vào thời điểm mà lý thuyết về siêu hiện đại còn chưa hình thành. Trường hợp này minh chứng rằng lý thuyết đi sau cảm thức, chứ không sản sinh ra cảm thức.

Vì cảm thức thuộc về cá nhân, nên ngay trong một tập thơ xuất bản vào năm nay (2026) cũng có thể đan xen nhiều cảm thức khác nhau: một số bài được viết bằng cảm thức hiện đại, một số bằng cảm thức hậu hiện đại, và một số khác bằng cảm thức siêu hiện đại. Việc cho rằng tác giả phải nhất quán một cảm thức trong một tập thơ là hết sức ấu trĩ.

Chúng tôi lấy một ví dụ giả định ở tương lai: một người sinh năm 2060 ở Mỹ, sống toàn bộ thời gian ở Mỹ đến năm 30 tuổi, tức năm 2090, xuất bản tập thơ đầu tiên cũng tại Mỹ. Không thể mặc nhiên cho rằng thơ của anh ta được viết bằng cảm thức siêu hiện đại, bởi rất có thể anh ta vẫn viết bằng cảm thức hiện đại hay hậu hiện đại.

Bản thân các học giả khai sinh ra khái niệm hậu hiện đại cũng chỉ coi nó là một tình trạng hay một hoàn cảnh hậu hiện đại, vì họ tránh việc lập thuyết. Tuy nhiên, lý thuyết của họ đã được các trường đại học, nhà xuất bản, bảo tàng, giải thưởng ở Mỹ và châu Âu in ấn, giảng dạy và vinh danh. Khi số đông cùng cảm như vậy và có cả một bộ máy chính danh của vốn biểu tượng ủng hộ trong một thời gian dài, thì nó sẽ tự động trở thành chủ nghĩa, dù các vị tổ phụ có muốn hay không.

 

Chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism)

Cảm thức là một trạng thái tinh thần mang tính cá nhân. Nhưng khi trạng thái tinh thần ấy được biểu hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành xu hướng chủ đạo, có khả năng chi phối và tác động ngược trở lại cá nhân, thì nó sẽ chuyển hóa thành chủ nghĩa.

Một cá nhân viết với thủ pháp “chữ trượt nghĩa”, đó là biểu hiện cảm thức hậu hiện đại của riêng anh ta. Nhưng khi mười người, trăm người cùng viết như vậy, các nhà xuất bản cùng in như vậy, trường học cùng dạy như vậy, độc giả cùng mua và tiếp nhận như vậy, thì đã hình thành nên tâm thế hậu hiện đại. Tâm thế xuất hiện khi số đông cùng cảm, cùng nghĩ, cùng hành xử và được chính danh hóa, trở thành vốn biểu tượng được hợp thức hóa để cấu thành chủ nghĩa.

Khi một kiểu cảm thức không còn là hiện tượng đơn lẻ của một vài cá nhân mà trở thành tâm thế của số đông, với chung cách nghĩ, cách cảm và cách sống tương đồng ở quy mô quốc gia hoặc liên quốc gia, gắn với những điều kiện chung về kinh tế, công nghệ, đô thị và tiêu dùng, với số lượng đủ lớn, thì lúc đó nó mới trở thành chủ nghĩa.

Chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ thực sự hình thành khi tâm thế hậu hiện đại hiện diện ở khắp mọi nơi, từ văn hóa đến xã hội, đến cách hành xử của các chủ thể nắm giữ vốn tinh hoa như nhà xuất bản, trường học, giải thưởng, phê bình chính thống. Khi đó, nó cần đến hệ số chính danh của vốn biểu tượng để phát huy sức mạnh, rồi quay ngược lại tác động, thậm chí bắt buộc cá nhân hay tổ chức trong không gian đó phải vận hành theo logic hậu hiện đại.

Một chủ nghĩa có thể bao trùm ở nhiều quốc gia nhưng chưa chắc đã bao phủ toàn thế giới. Chẳng hạn, chủ nghĩa hậu hiện đại đã hình thành ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc do các nguyên tắc vận hành của vốn tinh hoa quyết định, trong khi nhiều quốc gia khác vẫn đang ở trong logic của chủ nghĩa hiện đại.

 

Kết luận

Sự phân mảnh trong lý thuyết của các học giả phương Tây đã khiến việc diễn giải khái niệm hậu hiện đại trở nên khó khăn, gây bối rối cho người đọc. Khi thì khái niệm này được diễn giải ở tầng lý thuyết, khi thì lại né tránh việc đề cập ở tầng chủ nghĩa mà chỉ coi là cảm thức. Chính sự không nhất quán này khiến độc giả dù tiếp cận theo hướng nào cũng dễ bị “bước hụt”.

Chúng tôi cho rằng, hậu hiện đại ở Mỹ và châu Âu đã hình thành với tư cách là một chủ nghĩa. Nó đã trải qua một quá trình vận động từ lý thuyết qua cảm thức của các cá nhân, để rồi kết tinh thành chủ nghĩa, chứ không còn dừng lại đơn thuần ở mức độ cảm thức hay lý thuyết.

Lý thuyết mới chỉ là sự đề xuất của học giả, còn cảm thức là trạng thái tinh thần của cá nhân. Khi tinh thần ấy được nhân lên đủ lớn, chiếm số đông và đủ sức chi phối các loại vốn như chúng tôi đã phân tích trong bài viết Vốn tinh hoa và các hệ hình văn hóa, thì nó sẽ chuyển hóa thành chủ nghĩa. Ngược lại, một khi đã hình thành với tư cách là chủ nghĩa, nó sẽ quy ngược trở lại, chi phối cảm thức của cá nhân và buộc lý thuyết phải tự hoàn thiện để lý giải nó.

Như vậy, trong các hệ hình văn hóa đã được ghi nhận, bao gồm hiện đại, hậu hiện đại hay siêu hiện đại, luôn tồn tại ba tầng bậc của khái niệm: lý thuyết, cảm thức và chủ nghĩa. Do đó, khi tiếp cận, độc giả cần phân biệt rõ khái niệm đang được bàn đến ở tầng nào: ở tầng lý thuyết của các học giả, ở tầng cảm thức của những cá nhân đơn lẻ, hay ở tầng chủ nghĩa mang tính bao quát xã hội.

 

Trường hợp Việt Nam

Lý thuyết chúng ta có thể vay mượn, cảm thức là của cá nhân, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại, nguyên nhân chính là do sự vận hành của vốn tinh hoa mà chúng tôi đã phân tích trong bài viết trước.

Một vài tác giả đã sáng tác trên tinh thần của cảm thức hậu hiện đại, nhưng do không nhận được sự hậu thuẫn từ tâm thế của độc giả cũng như từ các hình thái của vốn tinh hoa, nên không thể chuyển hóa thành chủ nghĩa.

Một số nhà phê bình văn học tuy không nói thẳng, nhưng trong cách diễn đạt của họ hàm ý rằng văn chương hậu hiện đại mới là hợp thời, sang trọng và trí tuệ hơn văn chương hiện đại. Chúng tôi phải nói ngay, đây là một quan điểm sai lầm. Bởi lẽ, cảm thức chỉ cho biết tác giả viết dựa trên tinh thần nào mà thôi, chứ không cho biết tác phẩm ấy hay hay dở. Giá trị của một tác phẩm văn học xuất sắc phụ thuộc rất lớn vào tài năng của tác giả, chứ không phụ thuộc vào việc tác giả ấy viết trên nền tảng cảm thức nào.

Vì vậy, ở Việt Nam, chúng ta đã có cảm thức hậu hiện đại, thậm chí có cảm thức siêu hiện đại từ rất sớm ở những cá nhân như Lê Đạt, nhưng vẫn chưa hình thành nên chủ nghĩa hậu hiện đại hay chủ nghĩa siêu hiện đại, vì chưa hội đủ số đông và chưa có được một tâm thế tiếp nhận tương ứng.

 

 

TP.HCM, tháng 9 năm 2026

Thy Sinh

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lyotard, J.-F. (1979). La Condition postmoderne. Paris: Minuit.
  2. Hassan, I. (1971). The Dismemberment of Orpheus. Oxford University Press.
  3. Jameson, F. (1991). Postmodernism, or, The Cultural Logic of Late Capitalism. Duke University Press.
  4. Derrida, J. (1967). De la grammatologie. Minuit.
  5. Foucault, M. (1969). L’Archéologie du savoir. Gallimard.
  6. Baudrillard, J. (1981). Simulacres et Simulation. Galilée.
  7. Barthes, R. (1968). La mort de l’auteur.
  8. Hutcheon, L. (1988). A Poetics of Postmodernism. Routledge.
  9. Jencks, C. (1977). The Language of Post-Modern Architecture. Academy Editions.
  10. Bourdieu, P. (1979). La Distinction. Minuit.
  11. Williams, R. (1977). Marxism and Literature. Oxford University Press.
  12. Thy Sinh – Vốn tinh hoa và các hệ hình văn hóa (2026)
  13. Thy Sinh – Lê Đạt bắt chữ mang thân phận người (2026)

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này