
Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh
Tiến Sĩ Khoa Học Giáo DụcViện Đại Học Paris Sorbonne
Tôi đến thăm Arménie, một đất nước vùng Caucase, giữa hai miền Âu Á, một vùng thảo nguyên đồi núi đồng cỏ Mông Cổ nối tiếp vùng Địa Trung Hải Âu Châu. Một dân tộc chịu đựng nhiều gian nan, bị diệt chủng bởi Đế Quốc Ottoman và Thổ Nhỉ Kỳ hai triệu rưỡi người bị tàn sát đầu thế kỷ XX, trải qua sự chia cắt lãnh thổ thời Staline, dân cư bị lưu đày phân tán khắp Liên Xô, lãnh thổ chỉ còn một phần mười ngày xưa, và sau khi độc lập, một cuộc chiến tranh 35 năm với Azerbaïdjan mất lãnh thổ vùng Haut-Karabakh. Dân Arménie trong nước chỉ có gần 3 triệu người nhưng phần lớn sống lưu vong khắp thế giới khoảng 10 đến 12 triệu người: tại Liên Xô: 2 triệu: 400 ngàn người, tại Pháp 600 000 người, Ukraine: 400 000 người, Géorgie: 248 000 người, tại Đức: 110 000 người… cộng đồng đầy những người tài ba, ngày nay đang góp phần vào việc xây dựng lại quê hương. Tiêu biểu cho những anh hùng ngày nay của Arménie, được đặt tên và dựng tượng một quảng trường to lớn trên đường phố chính là Charles Aznavour, người ca sĩ nổi danh tại Pháp và thế giới, đã giúp đỡ khôi phục Arménie sau trận động đất, sau khi dành độc lập thoát khỏi Liên Xô, đem hết tài sản cống hiến đất nước, toàn bộ sưu tầm tranh, tượng, tác phẩm mỹ thuật sưu tập một đời thành một bảo tàng viện huy hoàng giữa thủ đô Everan.
Arménie là vương quốc Thiên Chúa Giáo đầu tiên trên thế giới từ năm 301, trước cả Ý, Éthopie và các nước Âu Châu. Huyền thoại Arménie, gắn liền với Thánh kinh Thiên Chúa Giáo, cho rằng dân tộc Arménie là khởi đầu nhân loại sau trận Đại Hồng Thủy, chiếc thuyền, chứa con cháu Noé và tất cả các giống súc vật nằm trên đỉnh núi Ararat, sau khi nước lụt rút đi họ định cư chung quanh. Theo các chuyên gia địa chất Hoa Kỳ, khoảng năm 5600 năm trước công nguyên, có một trận lụt lớn gấp 200 lần thác Niagara đổ xuống vùng này do sự sụp đổ băng hà, tạo nên một trận lụt lớn chôn vùi các nền văn minh cổ đại sáng chói trong vùng biển Hắc Hải, trận lụt này có nói đến trong sách Gilgamesh thời Babylone, trong huyền thoại Hy Lạp và dĩ nhiên trong Thánh Kinh Do Thái.
Vùng Arménie có hơn bốn ngàn nguồn sông suối, là nơi phát sinh ra hai con sông Tigre và Euphrate (Tiểu Á) nơi Tây phương cho là vùng Eden, Địa Đàng, Champs Élysée, nơi có đời sống dịu êm, ngọt ngào. Các nhà khảo cổ do ảnh hưởng tôn giáo cũng không ngừng tìm kiếm, chứng minh bằng các di vật khảo cổ: họ cố tìm kiếm mảnh ván con thuyền Noé, nhưng chỉ tìm ra những đôi giầy cổ nhất nhân loại từ sáu ngàn năm, hầm rượu vang cổ nhất.. Arménie là vùng đất bảo vệ bởi những dãy núi cao nguyên Tiểu Á, Caucase, Trung Đông, biên giới co giản qua ba ngàn năm lịch sử.
Huyền thoại lập nước Arménie khởi đầu với anh hùng Haïastan (hay Hayastan). Sử gia thời Trung Cổ, Moïse de Khorène chép lại hành động tổ tiên lập quốc, người cao lớn mắt xanh, từ chối khuất phục Bel, vua Babylonne độc ác dẫn con trai Aménak và ba trăm con cháu, đến dưới đồng bằng chân núi Ararat lập quốc, tên Armen hay Arménie được tìm thấy khắc trên đá ở Behistoun tại Perse, và được nhắc đến bởi các sử gia Hy Lạp: Hérodote, Strabon, Xénophon hay Tacite về sau.
Sự tồn tại của Arménie, được xem là kỳ diệu, trong khi các dân tộc cùng thời được nhắc đến như Assyriens, Scythes, Hittites, Mèdes biến mất. Lịch sử nguồn gốc các dân tộc trong vùng được tranh cải tùy theo quan điểm các dân tộc, các sử gia Thổ Nhĩ Kỳ về sau đưa ra các giả thuyết Turcs có chung nguồn gốc với Hittites ở Sumériens, để chứng minh rằng Thổ Nhĩ Kỳ có quyền làm chủ vùng Tiểu Á, trong khi mọi người đều biết Turcs có nguồn gốc từ Trung Á. Các dân tộc khác Hy Lạp, Arméniens hay Kurdes cho rằng tổ tiên gốc từ Mèdes.
Arménie có nguồn gốc trực tiếp từ Ourartou (870-590 trước JC), một vương quốc thành lập khoảng năm 1000 trước công nguyên, lãnh thổ lừ hồ Van, biển Hắc Hải và biển Caspienne, huyền thoại cho rằng dân Arménie xuất phát từ Japhet, một trong ba người con Noé, trong khi hậu duệ của Sem và Cham định cư tại Trung Đông (dân tộc và ngôn ngữ Sémitiques) và Phi Châu (dân tộc và ngôn ngữ chamito-sémitiques). Vương quốc Ourartou không chống cự lại nổi các cuộc xâm lăng liên tục các dân tộc Ấn-Âu (Indo-Européens): Scythes và Cimmériens đánh Assyrie.
Lịch sử Arménie có thể tóm tắt qua những niên đại như sau:
Năm 859-844 trước JC, vua Salmanassar III của Assyrie đánh chiếm Ourartou.
Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ IV, đế quốc Perses cai trị Arménie.
Cuối thế kỷ thứ VI triều đại Ervantite thành lập tại Arménie.
Năm 330 Alexandre le Grande Hy Lạp chinh phục vùng Cận Đông,
Năm 250 trước JC triều đại Arsacide tại Perse.
Năm 190 trước JC triều đại Artaxiade thành lập tại Arménie trong lúc Đế Quốc La Mã đang tiến về phương đông.
Năm 94-54 trước JC vua Tigrane II cai trị.
Năm 60 triều đại Arsacide tại Arménie.
Năm 224 trước JC triều đại Arsacide sụp đổ tại Perse, triều đại Sassanides lên ngôi.
Arménie Thiên Chúa Giáo, được công nhận là tôn giáo chính thức Arménie dưới triều vua Drtat III. Cuối thế kỷ thứ IV, Đế Quốc La Mã chính thức theo Thiên Chúa Giáo, phần phía đông Tiểu Á nói tiếng Hy Lạp trở thành Đế Quốc Byzantin, phần phía Tây Arménie cũng bị cai trị bởi Byzance.
Thế kỷ thứ V, năm 406 nhà tu Mesrop Machtots sáng tạo ra chữ viết abc arménien để dịch Thánh Kinh. Thế kỷ thứ V là thời đại hoàng kim của chữ viết Arménie dùng trong tôn giáo và trong hành chánh. Sự xác định bản chất dân tộc Arménie là trận chiến Avaraïre lãnh đạo bởi anh hùng Vartan Mamikonian chống lại Đế Quốc Perses, cuộc khởi nghĩa thất bại, vị anh hùng tử trận, Perses áp đặt tôn giáo Mazdéen. Avaraïre trở thành anh hùng và thánh tử đạo được phong thánh đầu tiên trong lịch sử Arménie. Thất bại trên trận địa, dân Arménie nuôi dưỡng niềm tin nơi tôn giáo hoàn toàn tách xa khỏi ảnh hưởng Byzance và thần học Chalcédoine. Năm 552 hội nghị tôn giáo Dvin kết luận bản chất con người và bản chất thần thánh nơi Jésus Christ kết tụ huyền nhiệm không phân biệt được, điều này được phát xét bởi Toà Thánh Roma là dị giáo sai lầm. Dân Arménie chống lại thần học Chalcédoine xác định tính chất đặt biệt trong thế giới Thiên Chúa Giáo.
Trong hai thế kỷ rưỡi đô hộ, Everan 14 lần thay đổi chủ Toàn quyền Ba Tư cai trị và lãnh chúa Turc áp đặt luật lệ, người dân Everan Arménie đã trả giá đắt các cuộc nổi dậy, Năm 1554 người Turc đã tàn sát toàn bộ dân cư. Năm 1604, đội quân Ba Tư của Abbas đệ nhất cũng không kém phần tàn bạo, đánh bại bởi quân Turc trong lúc rút lui đã đốt cả thành phố Everan và lưu đày toàn dân cư. Phải đợi đến hoà ước Thổ – Ba Tư năm 1639 Erevan mới tương đối tạm yên, phía đông dưới sự đô hộ của Ba Tư và phía Tây dưới sự đô hộ Đế Quốc Ottoman, dưới chế độ nào người dân Arménie cũng chịu sưu cao thuế nặng tàn bạo. Những thời kỳ tương đối yên ổn, hàng hóa dân Arménie xuất cảng đến tận vùng Trung Á,
Trong thời đô hộ bởi Ba Tư và Ottoman, Giáo Hội Arménie vẫn giữ được độc lập nhờ tổ chức chung quanh nhà thờ Etchmiadzine, nơi cư ngụ của Đấng Thượng Phụ đời đời kế tục lưu truyền từ thánh Grégoire dù với bất cứ giá nào, Thiên Chúa Giáo Arménie không được sự hổ trợ nào với Chính Thống Giáo Byzance và Chính Thống Giáo Hy Lạp dưới ách đô hộ Perses madéens và Á Rập Hồi Giáo nối tiếp. Giấc mơ Tigrane một nước Arménie to lớn nhường chổ cho cuộc sống thanh bình để giữ được bản chất và niềm tin, sự căng thẳng các triều đại Arménie kéo theo sự loại trừ, phải bỏ nước lưu vong hay là chất keo để gắn bó trong truyền thống Arménie phong kiến.
Sự xuất hiện của Đế quốc Nga Hoàng tại Caucase đã củng cố sự tồn tại của Arménie, sau hai năm chiến tranh Ba Tư đã ký kết năm 1828 hiệp ước Turkmanchaï nhượng bộ tỉnh Everan cho Nga. Nga được dân Arménie đón nhận như kẻ giải phóng khỏi sự tàn bạo của Ba Tư và Turc, nhưng chỉ có 140 000 người Arménie đương thời sống dưới chế độ Nga Hoàng. Phần lớn lãnh thổ Arménie trở thành Turquie, khi người Nga vào Everan thành phố chỉ có 1730 nóc nhà, bảy nhà thờ, tám nhà thờ Hồi giáo, bảy nhà xe lưu động, 850 tiệm thương mại và 11463 dân. Theo James Bryce một du khách trong hồi ký đương thời đã mô tả Everan chỉ là một thành phố dơ bẩn lầy lội đường xá chật hẹp, các tiệm tạp hóa trao đổi những sản phẩm nội địa. Người Nga đã xây dựng một thành phố như các công trình trong đế quốc Nga đương thời. Tư bản đã xuất hiện phôi thai từ năm 1902 với việc xây dựng đường xe lửa từ Everen đến Tiflis. Đệ Nhất Thế Chiến với Cách mạng tháng 10, Người Nga trở về nước, bỏ mặc dân Arménie bị tàn sát bởi đế quốc Ottoman trên một vùng rộng lớn.
Sau Đệ nhất Thế chiến (1918-1920) Cộng Hoà Arménie trong Liên Bang Sô Viết ra đời, hàng loạt người Arménie di tản sang Âu Châu, sau khi làm chủ Arménie, Bolchéviks giao cho Kiến trúc sư Alexandre Tamanian xây dựng thủ đô mới, những kiến trúc còn lại cho đến ngày nay, những đường phố mang phong cách Nikolaïski từ thế kỷ XIX, và còn chút ít ảnh hưởng Ba Tư, thêm vào đó các trang trí ảnh hưởng Arménie thời trung cổ.
Từ năm 1991 sau khi tượng Lénin không còn ngự trị trên quảng trường lớn được đổi tên thành quảng trường Cộng Hoà, chính phủ Arménie độc lập không có nhiều phương tiện tài chánh, cùng với sự khủng hoảng kinh tế đã không thay đổi nhiều kiến trúc cũ trung tâm thành phố, nhiều cần trục rỉ sét, bỏ dang dỡ, chứng tỏ sự chấm dứt bất ngờ công việc.
Từ năm 2001 các công trình lớn được xây dựng bởi người Arménie trên thế giới trở về, đang biến đổi nhanh chóng Arménie, công trình các Đại lộ phía Bắc nối liền Công trường Cộng Hoà và Nhà hát Opéra đã thay đổi diện mạo trung tâm Everan. Khu phố Thác Nước được trợ cấp bởi một tỷ phú người Arménie tại Hoa Kỳ, từ trên núi cao qua công viên Hakhtanak đến Opéra trở thành trung tâm giải trí và các viện bảo tàng.
Từ nghèo đói, đồng lương ít ỏi thời Liên Xô cũ Arménie đang vươn mình theo tiến triển cuả các nước Châu Âu.
Ta có thể tóm lược Arménie qua những điều chính:
Tên chính thức : Cộng Hoà Arménie (Hayastani Hanrabédoutioun)
Thủ đô: Everan (1 300 000 dân)
Diện tích lãnh thổ : 29 800 km2
Ngôn ngữ chính thức: Arménien
Dân số 2 992 000 dân (98% gốc Arméniens)
Mật độ: 99,8/km²
Lương trung bình: 308 USD
Tỷ lệ nghèo đói : 54% dân
Dân thành thị: 62,8%
Dân thôn quê: 37,2%
Tôn giáo: 95% thuộc Giáo Hội Arménie Tông đồ, chỉ công nhận Giáo Tông Karékine II, Toà Thánh tại Etchmadzine.
Tỷ lệ biết đọc biết viết: 99,65%
Tỷ lệ thất nghiệp: 18,9% dân cư hoạt động
PNB/ hab: 800 dollars
PNB: 2, 6 milliards dollard
Tỷ lệ tăng trưởng 3.7 %(12.9 % năm 2007)
Nợ Quốc gia 4,6 milliards dollars vay BM, 54,3 %PIB
Xuất khẩu: 1,78 milliards dollars: đồng. vàng, kim cương mài, thuốc lá, rượu và sản phẩm nông nghiệp.
Nhập khẩu: 3,3 millards dollars: gaz, xăng dầu, kim cương thô, thuốc men.
Từ năm 1985 cuộc cải cách của Gorbatchev đã thổi qua sức sống động trong toàn cõi Arménie, năm 1991 Arménie đã trở thành một quốc gia độc lập, các cộng đồng Arménie trên thế giới đã nối lại với miền đất tổ tiên, nhiều người đã trở về kinh doanh, định cư, xây dựng tạo nên một thủ đô Everen trù phú khác với thời Liên Xô nghèo đói. Một phần ba dân cư sống tại thủ đô, đường phố tràn ngập những dòng xe đời mới đủ các hiệu xe từ Tây phương đổ về, khác với vùng quê những chiếc xe Liên Xô thô lệch cũ kỹ, nhà cửa chấp vá gạch, tôn nghèo nàn.
Đi trong thủ đô Everan văn minh và hiện đại, đường phố sạch sẽ, không thấy bóng dáng một người ăn xin, vô gia cư trên vĩa hè, không có người nhập cư không giấy tờ từ các nước Phi Châu, Á Rập, không có một dấu vết nghuệch ngoặc vẽ bậy trên tường, vất rác trên đường, không có người nghiện xì ke ma túy lang thang vất vưỡng, không có người dắt chó tiêu bậy trên đường. Khác với Irlande treo những tấm bảng phạt đến 1900 Euro những người làm bậy, tại Arménie không cần cấm đoán người dân vẫn sống trong kỷ luật.
Thành phố có nhiều nơi vui chơi giải trí cho dân chúng, khách du lịch ban đêm đèn chiếu sáng, thác nước phun đủ màu sắc với âm nhạc hòa điệu. Từ đỉnh núi cao với bảo tàng viện xuống năm tầng kiến trúc tượng đài, bên cạnh có thang cuốn, hai bên chưng bày các báu vật bộ sưu tập của Charles Aznavour, các quảng trường lớn mỗi đêm đều có buổi hòa nhạc từ cổ điển đến hiên đại cho giới trẻ.
Tại Arménie du khách được đối xử như là “khách mời”, được tiếp đón nồng hậu theo phong tục, gia tài văn hóa được người dân Arménie gìn giữ qua các đời là những ngôi nhà thờ cổ, họ còn lại hơn 5000 ngôi nhà thờ, xây dựng chắc chắn hoàn toàn bằng đá với tường dày một mét. Qua cả những thời kỳ Liên Xô tàn phá các di tích tôn giáo, người dân Arménie đã tranh đấu cho sự tồn tại các thánh đường. Người Arménie làm đám cưới, đám tang, lễ rửa tội tại nhà thờ và họ sùng đạo trang nghiêm kính cẩn, trước khi đi làm họ đến nhà thờ hôn tranh Icôn hình Chúa, Đức Mẹ, và sau khi đi làm về họ cũng đến nhà thờ vài phút để hôn Icôn. Tôn giáo hòa quyện vào đời sống hằng ngày, không có gì có thể tách biệt họ ra khỏi tôn giáo.
Đến thăm Arménie, một đất nước từng bị diệt chủng bởi Hồi Giáo, nhưng họ vẫn không khuất phục trước ngọn dao bạo hành, trước các cuộc lưu đày sang vùng Sibérie giá lạnh thiếu ăn, họ vẫn vươn lên trong đức tin và lòng bác ái. Ngày nay được độc lập các nhà lãnh đạo kêu gọi người Arménie trên khắp thế giới trở về xây dựng lại quê hương và họ thực hiện, đang biến một quê hương nghèo đói trở lại thành vùng địa đàng trù phú.
Paris 13-10-2026