
Nguyễn Lực Đức
I . SĂN PHÙ THỦY Ở CHÂU ÂU, ĐỌC LẠI TỪ SÁCH CỦA CÁC SỬ GIA
Nhắc tới săn phù thủy ở châu Âu, phần đông chúng ta nghĩ ngay tới Giáo hội Công giáo, Tòa dị giáo và con số 9 triệu phụ nữ bị thiêu sống, mấy thứ mà phim ảnh với sách báo nhắc đi nhắc lại nhiều năm nay. Mấy hôm nay tôi ngồi research mấy cuốn của các sử gia viết riêng về đề tài này, có cuốn là bách khoa, có cuốn là bộ hồ sơ xét xử được dịch ra tiếng Anh, thấy nhiều chỗ khác với những gì mình vẫn nghe. Riêng con số 9 triệu đã sai, còn nơi thiêu nhiều người nhất lại không phải Tây Ban Nha hay Ý. Tôi ghi lại đây theo từng mục, có dẫn sách và số trang để ai muốn thì tra lại.
Con số 9 triệu, theo William E. Burns trong cuốn bách khoa Witch Hunts in Europe and America (2003, tr. 220), do Matilda Joslyn Gage (1826 tới 1898) đưa ra. Bà là 1 nhà nữ quyền người Mỹ, muốn chứng minh Giáo hội thù ghét phụ nữ. Burns viết thẳng rằng con số ấy không dựa trên nghiên cứu nào. Julian Goodare trong The European Witch-Hunt (2016, tr. 366) kể thêm 1 đường khác: năm 1869 Gustav Roskoff lấy hồ sơ 1 đợt hoảng loạn ở 1 vùng nước Đức, coi như mức ấy kéo dài đều đều suốt mấy thế kỷ rồi nhân lên cho cả châu Âu, ra 9 triệu, sau đó con số này được chép đi chép lại hơn 1 thế kỷ. Con số giới sử học dùng bây giờ là khoảng 50.000 người bị hành quyết, cộng thêm ít nhất chừng ấy người nữa bị tố cáo chính thức mà không bị xử tử, người được tha, người bị trục xuất, người chết trong tù (Goodare, tr. 27). Khoảng 80% số người bị xử tử là phụ nữ, ở Anh, miền bắc Hà Lan và Hungary thì trên 90%, riêng ở Iceland và Normandy đàn ông lại đông hơn (Burns, tr. 108). 50.000 vẫn là 50.000 mạng người, có điều nó kém con số 9 triệu tới 180 lần.
Chuyện thứ 2 là Tòa dị giáo. Goodare viết rằng Tòa dị giáo, cơ quan xét xử tội phù thủy ở Tây Ban Nha và Ý, thường coi đây là tội phải sám hối và rất ít khi xử tử, theo ông tiếng xấu về săn phù thủy mà cơ quan này mang là không xứng (tr. 15). Vụ xứ Basque đầu thế kỷ 17 là 1 ví dụ. Sau đợt thiêu người ở Logroño tháng 11/1610, Hội đồng tối cao Tòa dị giáo ở Madrid cử Alonso de Salazar Frías về các làng vùng Pyrenees. Ông là người trẻ nhất trong 3 quan tòa ở Logroño, Hội đồng cố ý cho ông đi 1 mình, không cho 2 đồng nghiệp đi cùng vì 2 ông kia đang muốn mở rộng cuộc săn. Salazar làm hơn 1.800 cuộc thẩm vấn, hỏi kỹ từng người về chỗ họp, ai có mặt, đi tới bằng cách nào, rồi đem các lời khai so với nhau thì thấy chúng không khớp. Mấy lọ thuốc mỡ được cho là của phù thủy, ông đưa dược sĩ xem rồi cho súc vật ăn thử, con nào cũng bình thường. Lời khai của trẻ con thì ông đặc biệt không tin (Burns, tr. 255, 256).
Kết luận của Salazar, theo bộ tư liệu do Gustav Henningsen biên dịch (The Salazar Documents, 2004, tr. 93), là ông không tìm được 1 bằng chứng nào, dù nhỏ nhất, cho thấy có 1 hành vi phù thủy nào xảy ra thật, kể cả chuyện bay tới hội quỷ lẫn chuyện gây hại cho người. Ông còn viết rằng ở 1 làng không có phù thủy cũng chẳng có ai bị ếm “cho tới khi người ta bắt đầu nói và viết về chuyện đó” (tr. 88). Salazar vẫn tin có ma quỷ, ông chỉ không tin những lời khai ấy. Ngày 29/8/1614, Hội đồng tối cao ban hành bộ quy định mới cho các vụ án phù thủy gồm 32 điều, trong đó 16 điều lấy từ bản thảo của Salazar (Henningsen, tr. 457). Từ đó Tòa dị giáo Tây Ban Nha thôi thiêu phù thủy, Burns đánh giá Salazar là người có công lớn nhất trong chuyện này (tr. 255).
Ở nhiều nơi khác cũng có cấp trên xem lại hồ sơ. Bên Pháp, Nghị viện Paris đóng vai 1 tòa tối cao, theo Brian Pavlac (Witch Hunts in the Western World, 2009, tr. 83) thì trong các vụ phù thủy đưa lên tới đây chỉ khoảng 1/5 kết thúc bằng án tử. Năm 1615, bà Katharina Kepler, mẹ của nhà thiên văn Johannes Kepler, bị 1 người quen cũ tố là đã đầu độc mình (Burns, tr. 156). Kepler tự tay viết phần lớn bản bào chữa cho mẹ (James Connor, Kepler’s Witch, 2004, tr. 14). Khoa Luật Đại học Tübingen được hỏi ý kiến và phán rằng chứng cứ không đủ để tra tấn mà cũng không đủ để tha, bà chỉ bị dẫn tới trước dụng cụ tra tấn để dọa (Burns, tr. 156). Đao phủ đưa từng món cho bà xem, tả tỉ mỉ món nào sẽ làm gì với thân thể bà, bà vẫn không nhận (Connor, tr. 15). Cuối năm 1621 bà được tha.
Ở Vaduz, từ năm 1648 tới 1680, ông bá tước cai quản vùng này mở các đợt săn làm chết tới 300 người. Khi các đợt săn đụng tới những gia đình quý tộc, họ kiện lên Hội đồng triều đình đế chế, cuộc điều tra xác nhận ông bá tước làm quá tay, ông bị bắt giam. Vùng đất ấy sau đó bị bán cho dòng họ Liechtenstein, là dòng họ vẫn đang trị vì nước Liechtenstein tới bây giờ (Pavlac, tr. 74). Ở Salem năm 1692, 19 người bị treo cổ, ông già Giles Cory thì bị chất đá lên ngực tới chết vì từ chối trả lời trước tòa, không ai bị thiêu cả (Burns, tr. 260). Cũng năm đó mục sư Increase Mather viết bản luận Cases of Conscience, đề nghị quan tòa đòi chứng cứ cho tội phù thủy khắt khe như với mọi tội tử hình khác, trong đó có câu “thà để 10 người bị nghi là phù thủy thoát tội còn hơn kết án 1 người vô tội” (Rapley, Witch Hunts: From Salem to Guantanamo Bay, 2007, chương 6).
Nhiều bài viết cho rằng người ta săn phù thủy để tịch thu tài sản. Goodare không đồng ý, ông cho biết phần lớn người bị xử có rất ít của cải, chi phí xử án thường còn cao hơn số của cải ấy, người đứng ra thúc đẩy vụ án mới là người phải bỏ tiền ra trả. Ở Quiévy, vùng Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, năm 1664 tới 1665 có 8 vụ xử phù thủy tốn hết 1.702 florin, dân làng trả 1 nửa, bằng giá 65 con bò, nửa còn lại chính quyền trung ương trả (tr. 216, 217). Năm 1592 ở giáo phận Basel, bà Marie Joly bị dân làng tố làm hại người và gia súc, bị treo ròng rọc tra tấn mà vẫn không nhận. Khi bà được thả, những người tố cáo bị buộc trả toàn bộ chi phí điều tra (Pavlac, tr. 74).
Theo ước tính của Brian Levack mà Burns dẫn lại (tr. 112), riêng các vùng nói tiếng Đức của Đế quốc La Mã Thần thánh đã có ít nhất 30.000 vụ xử, hơn 1 nửa cả châu Âu. Burns giải thích rằng đế quốc ấy gồm rất nhiều lãnh địa nhỏ, 1 đợt săn ở địa phương có thể cứ thế lan ra vì không có cơ quan trung ương nào giống Nghị viện Paris bên Pháp hay các thẩm phán lưu động bên Anh, còn tòa án đế chế ở Speyer thì gần như không có quyền gì với phần lớn các lãnh địa đó. Friedrich Spee, linh mục Dòng Tên từng nghe xưng tội những người bị giam vì tội phù thủy ở Würzburg và Mainz (Burns, tr. 286), năm 1631 xuất bản ẩn danh cuốn Cautio Criminalis. Trong sách ông kể 1 quan tòa lúc say rượu khoe rằng nếu chính giáo hoàng rơi vào tay ông ta và bị tra tấn thì rồi cũng sẽ nhận mình là phù thủy, Spee viết thêm rằng bản thân ông cũng sẽ nhận, gần như ai cũng thế (bản dịch 2003, tr. 193).
Bamberg là 1 trong những nơi đó. Robert Rapley (2007, chương 2) dẫn hồ sơ thành phố: năm 1626 có 15 người bị tố cáo, năm 1627 có 85, năm 1628 có 137, năm 1629 có 167, năm 1630 còn 54 rồi gần như dừng hẳn. Georg Haan là phó chưởng ấn thành phố, từng tỏ ra nương tay với bị cáo. Năm 1627 vợ và con gái ông bị bắt, cha con ông kháng cáo lên tòa phúc thẩm đế chế ở Speyer và xin được lệnh cấm xử tiếp, về tới Bamberg thì 2 mẹ con đã bị xử và bị thiêu. Hoàng đế ra lệnh thả nhà Haan vì bắt họ là trái luật đế chế, ông hoàng tử giám mục Bamberg làm như không biết. Georg Haan bị tra tấn, khai ra 5 thị trưởng rồi cũng bị thiêu.
1 trong 5 người đó là Johannes Junius, 55 tuổi. Ông bị kẹp ngón tay rồi bị ép khai những ai đã dự hội quỷ cùng mình, ông nói không nhận ra ai, quan tòa bèn bảo ông đi lần lượt từng phố, bắt đầu từ chợ, đi xuống phố này rồi quay về bằng phố kia, riêng 1 con phố ông phải khai ra 8 người. Ngày 24/7/1628, trong ngục, ông viết lén cho con gái Veronica 1 lá thư, 2 tay đã liệt nên viết mấy ngày mới xong. Trong thư có câu “cha vô tội mà vào tù, vô tội mà bị tra tấn, vô tội mà phải chết”, ông giải thích cho con rằng ai đã vào nhà ngục phù thủy thì hoặc phải thành phù thủy hoặc bị tra tấn tới khi tự bịa ra được điều gì đó trong đầu. Ở lề thư ông ghi thêm rằng 6 người đã khai ra ông đều xin ông tha lỗi trước khi bị hành quyết, vì họ cũng bị ép như ông. Rapley ghi lại 1 nghi vấn của giới nghiên cứu: lá thư được lưu chung với hồ sơ vụ án, nên có thể nó chưa bao giờ tới tay Veronica.
P/S: Số trang trong bài là trang in của sách, tôi đã đối chiếu với bản gốc. Ai muốn đọc thêm có thể tìm các cuốn sau.
Burns, William E. Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia. Greenwood, 2003.
Connor, James A. Kepler’s Witch. HarperSanFrancisco, 2004.
Goodare, Julian. The European Witch-Hunt. Routledge, 2016.
Henningsen, Gustav (biên dịch). The Salazar Documents. Brill, 2004.
Pavlac, Brian A. Witch Hunts in the Western World. Greenwood, 2009.
Rapley, Robert. Witch Hunts: From Salem to Guantanamo Bay. McGill-Queen’s, 2007.
Spee, Friedrich. Cautio Criminalis (1631), bản dịch của Marcus Hellyer, University of Virginia Press, 2003.Tư liệu gốc được dẫn lại gồm thư của Johannes Junius gửi con gái (Bamberg, 24/7/1628) qua Rapley, các báo cáo của Salazar (1612) và quy định của Hội đồng tối cao Tòa dị giáo (Madrid, 29/8/1614) qua Henningsen, luận văn Cases of Conscience của Increase Mather (1692) qua Rapley.
II.TÒA ÁN DỊ GIÁO : NƠI TỐ CÁO GIẤU MẶT
Cuối thế kỷ 16, ở Mexico City, Luis de Carvajal bị đưa lên dây. Siết tới vòng thứ 2, anh khai ra cô em gái 17 tuổi. Tới vòng thứ 4, anh khai ra mẹ. Qua vòng thứ 6, anh kể 1 mạch 113 người, cả họ hàng lẫn bạn bè. Sử gia Ron Hassner, người nghiên cứu lịch sử tra tấn, cho biết 10 người sau đó bị siết cổ rồi thiêu đều có tên trong lời khai của anh. Người thứ 11 bị thiêu sống là chính Carvajal (1).
Mỗi tòa án chỉ có mấy ông thầy tu với vài người giúp việc, tự họ thì bắt sao nổi 113 người ấy. Sử gia người Anh Henry Kamen, tác giả cuốn The Spanish Inquisition, viết rằng nói cho cùng thì chính người thường mới làm cho Tòa án Dị giáo hoạt động được, ở nơi dân không hợp tác thì tòa cũng bó tay (2).
Theo tôi, cái tòa ấy sống được hơn 600 năm là vì nó cho người đi tố được giấu mặt, còn người bị tố thì phải tự chứng minh mình vô tội, mà gần như chẳng ai chứng minh nổi. Ai sợ thì tố trước cho yên thân, ai ghét ai thì cũng có chỗ mà tố.
Trước năm 1200, ở châu Âu, ai tố người khác thì phải đứng ra làm nguyên cáo, tố sai thì lãnh đúng cái tội mình định vu cho người ta. Sử gia người Mỹ Jennifer Kolpacoff Deane, tác giả cuốn A History of Medieval Heresy and Inquisition, nhận xét rằng thiếu chứng cứ thì chẳng ai dại gì đi tố ai (3). Ông bà mình nói vu oan giá họa, thời ấy vu oan thì cái họa quay về đầu mình.
Năm 1215, giáo hoàng Innocent III cho lối điều tra, tiếng Latin là inquisitio, thay dần lối cũ. Từ đây người tố không còn phải trả giá nếu tố sai. Cũng năm ấy, mọi con chiên phải đi xưng tội mỗi năm ít nhất 1 lần (4). Năm 1231, giáo hoàng Gregory IX giao việc truy dị giáo cho các thầy dòng Đa Minh (5).
Ai là người nghĩ ra thì có sự khác biệt giữa các nguồn. Sử gia người Anh Arthur Stanley Turberville cho rằng có thể coi Gregory IX là người sáng lập (6). Sử gia người Mỹ Henry Charles Lea, tác giả bộ sử 3 tập về Tòa án Dị giáo thời Trung Cổ, thì bảo nó được nặn dần từng bước, chẳng ai lập ra cả (7). Tôi thấy Lea có lý hơn, vì đọc lại thì mỗi đời giáo hoàng chỉ thêm 1 sắc lệnh, sắc lệnh nào lúc ban ra cũng có lý do của nó.
Robert Grosseteste, giám mục Lincoln bên Anh thế kỷ 13, định nghĩa dị giáo là 1 ý kiến trái với giáo huấn của Giáo hội, nói ra công khai và giữ 1 cách ngoan cố. Deane giải thích rằng cái bị đem ra xử là sự cứng đầu của 1 con chiên dám cãi (. Nói nôm na là ai cãi thì bị xử. Rồi người ta đặt thêm 1 tội mới, tội bị nghi là dị giáo. Lea viết rằng với kiểu xử như thế, người Công giáo sùng đạo nhất cũng không lúc nào thấy yên (9).
Tới Tây Ban Nha thì còn quá nữa. Năm 1530, bà Aldonça de Vargas bị tố vì mỉm cười khi nghe nhắc tới Đức Mẹ. Năm 1635, ông Pedro Ginesta, ngoài 80 tuổi, bị đưa ra tòa vì ăn thịt muối với hành vào ngày kiêng, tòa còn phỏng đoán ông đã nhiều lần ăn thịt theo lối của giáo phái Luther (10). Đúng là muốn đánh chó thì lo gì không có gậy.
Tòa về tới đâu thì ra 1 hạn ân xá, ai tự đến thú tội thì được nhẹ tay. Có điều nhà xã hội học người Mỹ Patrick Bergemann, tác giả cuốn Judge Thy Neighbor, cho biết lời thú tội nào không khai ra người khác thì bị coi là chưa đủ. Ở tòa Valencia, 88% những người tự đến về sau vẫn bị truy tố, chính lời thú tội của họ thành chứng cứ chống lại họ (11).
Còn ông thợ may Juan de Chinchilla ở Ciudad Real thì năm 1483 đến xin thú tội thì được báo ông thẩm tra đã về nghỉ. Hết hạn, ông bị bắt rồi bị kết án thiêu (12). Thú tội cũng phải đúng giờ hành chính.
Người bị bắt không được biết ai tố mình. Lea viết rằng việc giấu tên nhân chứng là nỗi ô nhục lớn nhất của Tòa án Dị giáo (13). Kiểu ném đá giấu tay ấy ở đây được luật cho phép hẳn hoi.
Với các thẩm tra viên, tha bổng là mất mặt. Từ năm 1484 tới 1530, tòa Valencia chỉ tha 12 trong số 1.862 người (14). Năm 1568, bà Elvira del Campo bị tra tấn vì không ăn thịt heo và hay thay đồ vải sạch vào thứ Bảy. Bị siết dây, bà kêu: “Thả tôi ra, thưa các ngài, hãy bảo tôi phải nói gì.” 4 ngày sau, bà nhận hết và khai ra cả mẹ mình (15). Bà không biết mình tội gì, đành xin chính người tra tấn mình bảo cho mà khai.
Người ta tham gia, trước hết là vì sợ. Lea viết rằng trong hạn ân xá, không ai biết thiên hạ đang đồn gì về mình. Rồi lòng tin giữa người với người sẽ biến mất, ông viết (16).
Ở Bồ Đào Nha, sử gia António José Saraiva dựa vào ghi chép của bác sĩ António Ribeiro Sanches để dựng lại suy nghĩ của 1 người tù: tôi không biết ai đã tố tôi, vậy tôi khai hết mọi người tôi từng thấy mặt hay nghe tên, khai hết thì thế nào cũng trúng kẻ đã khai tôi, tôi muốn ra khỏi cái chuồng này mà còn sống (17). Cứ thế, mỗi người tù lại đẻ ra 1 xấp tên mới.
Về sau người ta không chỉ tố vì sợ nữa. Bergemann nghiên cứu 554 đơn tố giác ở vùng Soria từ năm 1486 tới 1502, thấy người ta chuyển dần từ tố để tự vệ sang tố để hại hàng xóm (18).
Kamen viết rằng Tòa án Dị giáo thành công cụ hoàn hảo để thanh toán nhau, từ chuyện cãi nhau trong nhà tới chuyện say rượu, chồng vũ phu, thù riêng, hồ sơ lên tới hàng chục nghìn vụ. Theo ông, người bị tố sợ hàng xóm hơn sợ tòa (19). Ông bà mình dạy bán anh em xa mua láng giềng gần. Ở Tây Ban Nha thời ấy thì người đưa mình ra tòa lại hay là láng giềng gần.
Thời Trung Cổ, cái tòa này chưa bao giờ to hơn vua. Năm 1296, vua Philippe IV của Pháp ra mấy quy định trói tay nó. Lea viết rằng nó gần như bất lực vì không có bộ máy riêng, đến nhà tù cũng là của vua (20). Có điều Philippe IV không dẹp nó. Năm 1307, ông dùng chính nó để đánh dòng Hiệp sĩ Đền Thánh (21).
Ở Tây Ban Nha, năm 1482, giáo hoàng Sixtus IV ra sắc chỉ phản đối rằng tòa án ở Aragon chạy theo lòng tham của cải, kết án người ngay chỉ dựa vào lời khai của kẻ thù và đối thủ. Vua Ferdinand nổi giận. Tháng 10 năm ấy, giáo hoàng đình chỉ sắc chỉ của chính mình (22). Về sau tòa bắt cả tổng giám mục Toledo, Bartolomé Carranza, giam tới 16 năm. Năm 1565, 1 sứ thần của giáo hoàng viết rằng những người bênh vực công lý hăng hái nhất ở Tây Ban Nha cho rằng thà để 1 người vô tội bị kết án còn hơn để Tòa án Dị giáo mất mặt (23). Bergemann cho rằng vua Tây Ban Nha đã giành được tòa án này từ tay giáo hoàng, còn Kamen cho rằng nhiều lúc nó đứng hẳn về phía chống lại quyền vua, nên có sự khác biệt giữa các nguồn (24).
Nó không bị dẹp vì ai cũng có phần. Lea viết rằng rốt cuộc thì việc đàn áp sống được là nhờ tiền tịch thu tài sản. Đợt 1322 tới 1323 ở Carcassonne, trừ hết chi phí, nhà vua còn lãi khoảng 1.050 livre (25). Riêng với Tây Ban Nha, Kamen cho rằng nhà vua không làm việc này để kiếm lời, nên có sự khác biệt giữa các nguồn (26). Còn người thường thì có phần của mình, là 1 cách hại kẻ mình ghét mà không phải lộ mặt.
6.
Năm 1234, ở Toulouse, đúng hôm mừng thánh Đa Minh được phong thánh, giám mục Raymond nghe tin 1 người đàn bà hấp hối ở gần đó theo phái dị giáo. Ông chạy sang. Bà tưởng giám mục của phái mình tới thăm nên nói hết đức tin. Ông bảo bà bỏ đạo, bà không nghe, ông cho khiêng bà đi thiêu cả giường. Lea viết rằng sau đó giám mục và các thầy dòng quay về bữa ăn bị bỏ dở, tạ ơn Chúa và thánh Đa Minh (27).
Năm 1323, sổ chi của Carcassonne ghi rành mạch tiền thiêu 4 người: củi, cành nho, rơm, 4 cây cọc, dây trói, tiền đao phủ, tổng cộng 8 livre 14 sol 7 denier, mỗi người hơn 2 livre 1 chút (28). Người chết rồi cũng bị đào lên đốt, để tòa đòi lại tài sản đã lọt vào tay con cháu (29). Người sống thì bị treo áo tội trong nhà thờ nơi mình ở, áo rách thì may áo mới ghi đúng tên cũ, để giữ mãi sự ô nhục của kẻ dị giáo và con cháu họ (30).
Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha chết mấy lần mới chết hẳn. Nó bị xóa năm 1808, năm 1813, được vua Ferdinand VII lập lại năm 1814, bị xóa tiếp năm 1820, tới năm 1834 mới xóa hẳn (31). Bồ Đào Nha xóa tòa năm 1821. Trước đó, đạo luật năm 1773 bỏ sự phân biệt với người Kitô hữu gốc Do Thái. Từ đấy không ai ở Bồ Đào Nha còn bị xử vì tội theo đạo Do Thái nữa, Saraiva viết rằng cái dị giáo ấy tan như tuyết dưới nắng (32).
Ở Roma, Bộ Thánh vụ do giáo hoàng Paul III lập năm 1542 tới năm 1965 thì đổi tên thành Bộ Giáo lý Đức tin (33). Lea còn chỉ ra rằng cho tới cuối thế kỷ 18, ở phần lớn châu Âu, lối xử án sinh ra để diệt dị giáo đã thành lối xử thông thường với mọi bị cáo. Người bị buộc tội bị coi là có tội từ trước, lời khai được moi ra bằng mẹo hoặc bằng vũ lực (34).
Kamen có viết, nơi dân không hợp tác thì tòa cũng bó tay. Ở miền nam nước Pháp năm 1245, 12 người làng Saint-Félix từng cùng thề với nhau sẽ không nói gì về dị giáo trước tòa (35). Còn Luis de Carvajal thì khai ra em gái mình ở vòng dây thứ 2.
TB: câu vua Philip II nói sẽ tự vác củi thiêu con mình nếu nó dị giáo được trích rất nhiều, Kamen bảo là chuyện bịa. Lời gần y hệt thì lại do 1 vị giáo hoàng nói với đại sứ Venezia trước đó 1 năm (36). Kể cũng lạ, câu nói có thật, chỉ bị khai nhầm người.
Nguồn:
(1) – Anatomy of Torture – Ron E. Hassner, chương 5 Exploratory Torture: Mexico City (1589-1591), tr. 82 tới 83.
(2) – The Spanish Inquisition: A Historical Revision, bản 4 (2014) – Henry Kamen, tr. 262.
(3) – A History of Medieval Heresy and Inquisition – Jennifer Kolpacoff Deane, tr. 99.
(4) – A History of Medieval Heresy and Inquisition, tr. 91, 100 và 109.
(5) – A History of Medieval Heresy and Inquisition, tr. 100.
(6) – Mediaeval Heresy and the Inquisition – Arthur Stanley Turberville, tr. 145 tới 146.
(7) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1 – Henry Charles Lea, tr. 328.
( 8- A History of Medieval Heresy and Inquisition, tr. 95.
(9) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 433.
(10) – The Spanish Inquisition, tr. 229 tới 230.
(11) – Judge Thy Neighbor: Denunciations in the Spanish Inquisition, Romanov Russia, and Nazi Germany – Patrick Bergemann, chương 2, tr. 42 tới 43.
(12) – Judge Thy Neighbor, chương 2, tr. 50.
(13) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 434 tới 437.
(14) – Judge Thy Neighbor, chương 2, tr. 58.
(15) – Anatomy of Torture, tr. 29 tới 31.
(16) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 372.
(17) – The Marrano Factory: The Portuguese Inquisition and Its New Christians 1536-1765 – António José Saraiva, chương 8 The Marrano Factory, tr. 126 tới 127.
(18) – Judge Thy Neighbor, chương 2, tr. 54.
(19) – The Spanish Inquisition, tr. 228.
(20) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 2, tr. 65 tới 66.
(21) – The Trial of the Templars – Malcolm Barber, tr. 73.
(22) – The Spanish Inquisition, tr. 58.
(23) – The Spanish Inquisition, tr. 209 tới 210.
(24) – Judge Thy Neighbor, chương 2, tr. 39; The Spanish Inquisition, tr. 215.
(25) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 529.
(26) – The Spanish Inquisition, tr. 199.
(27) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 2, tr. 11.
(28) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 553.
(29) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 230 và 553.
(30) – The Spanish Inquisition, tr. 316.
(31) – The Spanish Inquisition, tr. 372.
(32) – The Marrano Factory, chương How and Why the New Christians Petered Out, tr. 232.
(33) – On Trial for Reason: Science, Religion, and Culture in the Galileo Affair – Maurice A. Finocchiaro, tr. 21.
(34) – A History of the Inquisition of the Middle Ages, tập 1, tr. 559 tới 560.
(35) – The Corruption of Angels: The Great Inquisition of 1245-1246 – Mark Gregory Pegg, chương Lies, tr. 65.
(36) – The Spanish Inquisition, tr. 105.