Thi cử Việt Nam xưa

Hình : cảnh lều chõng ở trường thi Nam Định, khoa thi Hương năm Canh Tý (1900).

Nguyễn Đức Lực

Ngày xưa cứ 300 ông đi thi mới có 1 ông đỗ cử nhân, vậy họ thi cái gì mà khó đến thế?

Mùa thu năm Đinh Dậu (1897), thành Nam Định đón ngót vạn rưỡi sĩ tử về thi Hương. Trần Thanh Mại tính, mỗi người đem theo ít ra 1 người nhà lo việc cơm nước và 1 người bà con, thế là cả thảy có tới 45.000 người đổ về 1 tỉnh thành, đông đến nỗi có thể “làm một đạo binh mà chẳng ai dám khinh thường”. Ấy vậy mà khoa ấy chỉ lấy đỗ 50 cử nhân [1].

Tức là cứ 300 ông đi thi thì mới có 1 ông đỗ cử nhân, 299 ông kia lại vác lều về! Tỉ lệ chọi còn ác hơn thi vào lớp 10 bây giờ nhiều.

Vậy họ thi cái gì mà khó đến thế? Đỗ rồi thì được những gì mà cả vạn người phải chen nhau như vậy? Ai lo tiền ăn ở cho ngần ấy người, thi ở đâu, bao lâu mới có 1 khoa? Lại nữa, sao toàn làm văn chữ Nho, chẳng thấy thi toán, cũng chẳng thấy bắt ai giải quyết một việc gì cho ra việc?

I. THI CÁI GÌ?

Như ta biết, khoa thi đầu tiên của nước ta mở năm 1075, đời vua Lý Nhân Tông. Toàn thư chép: “xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học” [2]. Minh kinh tức là thông hiểu kinh sách. Thế nên ngay từ khoa thi đầu tiên, thứ đem ra thi đã là sách của nhà Nho rồi.

Sách ấy là Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung), Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Xuân Thu, Dịch), thêm sử Tàu, sử Nam [3]. Còn thi thì toàn là viết. Từ đời Lê, phép thi về đại thể có 4 kỳ: kỳ đầu làm kinh nghĩa, tức giảng nghĩa 1 câu trong kinh truyện; kỳ thứ 2 làm chiếu, chế, biểu, tức thảo giấy tờ vua ban xuống và quan dâng lên; kỳ thứ 3 làm thơ, phú; kỳ cuối làm văn sách, tức bàn 1 việc theo câu hỏi của đề [3]. Sang triều Nguyễn, các kỳ có lúc đảo đi đảo lại, kỳ thêm kỳ bớt mà rốt cuộc vẫn chỉ quanh quẩn mấy lối văn ấy [3].

Nói nôm na, người đi thi phải giảng được sách thánh hiền, thảo được tờ chiếu thay vua, làm được thơ cho đúng luật và viết được 1 bài bàn việc nước. Nói chung toàn là việc của ông quan ngồi bàn giấy.

Thi võ cũng có, đời Nguyễn thì xách tạ, múa côn sắt, bắn súng. Mà lạ, Trần Văn Giáp chép rằng người Hải Dương, Bắc Ninh không được thi võ, “vì dân các tỉnh ấy hay làm giặc sợ cho học võ giỏi lại khỏe làm giặc” [4].

Triều đình lo xa phết! Có điều sách cũ hễ nói đến khoa cử thì gần như chỉ nói thi văn [3].

II BAO LÂU THI MỘT LẦN, THI Ở ĐÂU?

Đời Lý, trong khoảng 150 năm chỉ mở được hơn 10 khoa, lúc có lúc không. Năm 1232 nhà Trần định 7 năm 1 khoa, năm 1434 nhà Lê định 6 năm 1 khoa [3]. Đến năm 1463, vua Lê Thánh Tông mới “bắt đầu định lệ ba năm một lần thi hội” [5]. Từ đấy, cứ các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì thi Hương ở các trấn, sang năm sau là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì những người đỗ kéo nhau về kinh thi Hội [3]. Nhà Nguyễn lúc đầu 6 năm mới thi 1 lần, đến năm 1825 mới định lại 3 năm 1 khoa như lệ nhà Lê [3]. Thế nên học trò phải chờ 3 năm mới có 1 lần thi, trượt thì lại chờ thêm 3 năm nữa.

Thi Hương thì tỉnh lớn có trường riêng, tỉnh nhỏ thì 2, 3 tỉnh thi chung 1 trường. Đời Lê cả nước có 9 trường [7]. Ở Bắc Kỳ thời Nguyễn, trường Hà Nội với trường Nam Định họp làm 1, thi luôn ở Nam Định cho tới khoa cuối, nên dân gian mới gọi là trường Hà Nam, đi thi thì bảo là “đi thi Nam” [7]. Còn thi Hội, thi Đình thì bao giờ cũng ở kinh đô, đời Lê ở Thăng Long, đời Nguyễn ở Huế [7].

Xin thưa, gọi là trường thi nhưng chỗ học trò ngồi làm bài thì chẳng có lấy 1 cái mái. Đời Lê, mỗi khoa người ta dựng nhà tranh, rào nứa, thi xong thì phá đi. Ông Chu Sán, sứ nhà Thanh sang ta hồi ấy, có chép rằng nước Nam “thi cử không có nhà cửa”, học trò “ở trong lều tre, ngồi rạp xuống đất mà viết” [7]. Năm 1843 vua Thiệu Trị cho xây trường thi Huế có nhà ngói, rồi sai các trường Gia Định, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định làm theo mẫu ấy, có điều riêng khoảng đất cho học trò làm bài thì vẫn “không có nhà ngói, nhà lá gì cả” [7].

Thì đấy, 2 chữ lều chõng là vì thế mà có. Mỗi người tự sắm lấy lều, chiếu, chõng, 1 cái tráp đựng bút, giấy, nghiên mực, d.a.o, kéo, cơm nước cho cả ngày, cổ đeo cái ống quyển bằng gỗ, rồi đứng chờ từ đêm ở cửa vi có tên mình. Gọi đến tên thì phải “dạ to mà vào lĩnh quyển”, vào trong tự cắm lều mà ngồi [8].

III THẾ NÀO THÌ LÀ ĐỖ?

Muốn vào trường thi Hương, trước hết phải qua kỳ hạch ở tỉnh. Người xin thi phải nhờ lý trưởng khai họ tên, tuổi, quê quán, cam đoan mình là người lương thiện, chưa can án bao giờ, lại phải khai rõ mình học ai, 3 đời ông cha làm nghề gì, chức gì, còn hay mất [8]. Lưu ý, từ năm 1462 luật nhà Lê đã ghi: “Nhà phường chèo, con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan có tiếng xấu, thì bản thân và con cháu đều không được dự thi”, còn kẻ bất hiếu, bất nghĩa thì “dẫu học giỏi, văn thơ hay, cũng không cho vào thi” [5].

Tức là con nhà hát xướng thì giỏi mấy cũng chả được thi. Mà khai 3 đời ông cha thế kia thì cái lệ lý lịch 3 đời sau này cũng chả phải phát minh gì mới!

Vào trường rồi thì thi lần lượt từng kỳ, đỗ kỳ trước mới được vào kỳ sau. Đỗ 3 kỳ thì được làm tú tài (đời Lê gọi là sinh đồ, nên mới có tiếng ông Đồ). Đỗ đủ các kỳ rồi qua thêm 1 kỳ phúc hạch thì là cử nhân (đời Lê gọi là hương cống, tức ông Cống) [3]. Có cử nhân rồi, tháng giêng năm sau mới vào kinh thi Hội. Thi Hội đủ điểm mới được vào thi Đình, vua thân ra đề, chỉ làm 1 bài đối sách rất dài, nhiều phân thì vào hạng tiến sĩ, ít phân thì vào hạng phó bảng [9]. Trong hàng tiến sĩ, 3 người đứng đầu là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa [3].

Chấm bài thì kỹ lắm. Quyển thi nộp xong, quan đề tuyển rọc phách, tức là cắt rời phần ghi họ tên đem cất kín, chỉ đưa bài văn cho quan chấm. 1 quyển phải qua mấy lượt: sơ khảo chấm son ta, phúc khảo chấm mực xanh, giám khảo chấm hồng đơn, sau cùng quan chánh, phó chủ khảo chấm son tàu để định đỗ hay hỏng [8]. Học trò nào mang sách vở hay văn cũ vào thì bị đuổi ra ngay, “cả đời không được đi thi nữa, lại đem giả hiệu ba ngày” (giả hiệu là đeo gông bêu ra cho người ta xem) [8].

Còn số người đỗ thì ít lắm. Năm 1463, thi Hội có 4.400 người, lấy đỗ 44 người [5], tức là đúng 1%. Năm 1502 có 5.000 người, lấy đỗ 61 [10]. Thi Hương cũng thế. 1 bài phú nôm về ân khoa năm Tự Đức thứ nhất (1848) ở trường Nghệ An chép rằng “Sách ứng thí ngoài ba nghìn bảy” mà “lệ cử nhân lấy hai mươi hai” [11]. Hơn 3.700 người mà chỉ có 22 ông cử, đúng là đãi cát tìm vàng!

IV ĐỖ RỒI THÌ ĐƯỢC GÌ?

Đỗ cử nhân thì được xướng danh, vua ban mũ áo, cho ăn yến [8]. Đỗ tiến sĩ thì sang hơn nhiều: vua ban áo mũ, ban yến, ban cho mỗi người 1 cành kim trâm, cho cưỡi ngựa che lọng vào vườn Ngự uyển xem hoa rồi đi dạo các phố [9]. Từ năm 1484, tên các tiến sĩ còn được khắc vào bia đá dựng ở nhà Thái học, văn bia nói rõ là để “tưởng lệ kẻ sĩ” [12].

Về làng thì làng phải đi rước. Phan Kế Bính kể, đỗ tú tài thì 1 làng đi rước, đỗ cử nhân thì 1 tổng, đỗ đại khoa thì cả huyện phải đi rước. Ông tiến sĩ mặc áo thụng lam, cưỡi ngựa che đôi lọng, theo sau là cha mẹ, vợ và ông thầy dạy học, “mỗi người ngồi cái võng trần, che một lọng rước vinh qui về làng” [13]. Bảo sao ai cũng muốn đỗ!

Mà cái lợi nhất là được làm quan. Lê Quý Đôn kể rằng từ thời Lê trung hưng, đỗ tiến sĩ thì được “vào làm quan ở Hàn-lâm-viện ngay”, dân làng lại phải làm sẵn nhà cho ở. Trần Văn Giáp đoán, tiếng “ông Nghè” có lẽ từ đấy mà ra [3].

Phải thấy rằng, trong bộ máy nhà nước, người đi lên từ thi cử mới là “chính đồ”, còn người được làm quan nhờ cha làm quan, nhờ võ, hay đi lên từ chân thư lại thì chỉ là “tạp lưu”. Phan Kế Bính viết, người không có khoa mục thì “dầu làm to thế nào mặc lòng, thiên hạ vẫn không tôn quí gì lắm” [14]. Ở làng lại có nơi ông Thượng thư, ông Tổng đốc về đến văn chỉ mà “có khi phải ở dưới hàng Tiến sĩ, Cử nhân” [15]. Ô! Làm quan đến Thượng thư mà về làng vẫn phải ngồi dưới ông cử!

Hỏng thì sao? Phan Kế Bính viết: may ra vớ được bia đá bảng vàng thì “vinh thân phì gia”, chẳng may mà “lao đao tràng ốc cả đời, thì đến ngồi xó nhà quê, gõ đầu dăm ba đứa trẻ kiếm ăn” [15]. Học mười mấy năm chỉ để đi thi, hỏng rồi thì chẳng biết làm nghề gì khác ngoài dạy chữ cho trẻ con.

Người đỗ được làng rước về đến nhà thì phải mổ trâu mổ bò, làm cỗ đãi làng, hát xướng ăn mừng 5, 7 ngày. Nhà nghèo thì đi vay, có người hoãn vài tháng chưa dám để làng ra rước, có người trốn biệt đi chỗ khác, có điều trốn thì về làng chưa được dự ngôi thứ gì. Phan Kế Bính còn viết: “nhiều người vì đỗ mà phải vay công lĩnh nợ, sĩ diện vẻ vang được một lúc, mà ôm xác lo trả nợ nửa đời người” [13]. Đỗ mà lại thành ra mắc nợ!

V AI TRẢ TIỀN?

Nhà nào có con đi học thì nhà ấy tự lo. Nhà nước chả mở trường cho trẻ con. Trường học là trường tư, của ông đồ, ông khóa, ông tú, ông cử ngồi nhà mở ra dạy, làng nào không có người chữ thì nhà giàu mời thầy ở xa về dạy con mình [16]. Học trò mới vào học phải có buồng cau lạy thầy, Tết nhất thì “hoặc cặp gà thúng gạo, hoặc đương mứt bánh trái, hoặc dăm ba quan tiền” đem đến lễ thầy [17]. Trần Văn Giáp nhận xét, vì thế mà người học được phần nhiều là con cháu nhà có người biết chữ, có người đỗ đạt, mới sinh ra mấy câu như “nhà có đất học, làm quan có giống” [18].

Đến mùa thi lại tốn khoản khác. Bài phú “Hỏng thi” không rõ tác giả mà Trần Văn Giáp chép lại có câu “Vợ con đành dạ bán thóc, bán bông; thầy tớ theo chân vác lều, vác chõng”, ăn cơm hàng thì “mười bát hai quan”. Bài phú “Lạc đệ” thì than: “Nghĩ đến một tháng tròn phí tổn; đã làm h.ạ.i cho con mễ, con kim” [11]. Ngô Tất Tố trong Lều chõng để cô Ngọc lo cho chồng vào Huế thi Hội, tính suốt tiền ăn đường, ở trọ, “mỗi người hà tiện cũng phải hết gần trăm quan”, cô đổi cho mỗi người 6 nén bạc gói vào 2 cái mo cau mang theo [19]. Lều chõng là tiểu thuyết, có điều Ngô Tất Tố viết nó năm 1939, lúc khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ (1915) mới qua hơn 20 năm [3].

Mà phần nhiều là vợ trả. Tú Xương đi thi 8 khoa thì bà Tú ở nhà “Quanh năm buôn bán ở mom sông / Nuôi đủ năm con với một chồng” [20]. Tức là ông đi thi, bà nuôi. Trần Thanh Mại viết, hồi ấy việc người đàn bà nuôi chồng, nuôi con “đã thuộc về phong-tục” [21]. Trần Văn Giáp còn kể có bà vì tức khí với chị em, chỉ vì tiếng ông Nghè ông Cống mà “bán cả trâu cả ruộng, bắt chồng đi học” [6].

Nhà nước cũng có đỡ chút ít. Học trò đỗ kỳ khảo khóa ở tỉnh thì được miễn sưu thuế, phu dịch, lính tráng trong 1 năm [18]. Sinh viên Quốc tử giám thì được cấp tiền kho, năm 1484 thượng xá mỗi người 1 quan, trung xá 9 tiền, hạ xá 8 tiền [12]. Có điều phải giỏi rồi mới vào được tới đấy.

VI ÔN LUYỆN THẾ NÀO?

Lên 6, 7 tuổi thì vỡ lòng, học Tam tự kinh, câu ngắn có vần cho dễ thuộc, “còn sự hiểu để cho tự-nhiên”. Tập viết thì viết lên ván gỗ, tập làm văn thì bắt đầu bằng câu đối 2 chữ, 3 chữ [18]. Chừng 10 tuổi thì học Tứ thư, Ngũ kinh và sử [18]. Học 5, 6 năm, đứa nào sáng dạ mới được cho tập làm thơ, phú, kinh nghĩa, văn sách, còn kinh truyện thì vẫn phải “ôn đi ôn lại hai ba lần cho thuộc”. Lên đến trường đại tập thì “phần giảng sách thì ít, mà phần tập làm văn chương thì nhiều” [16].

Mỗi tháng học trò làm 4 bài đem về nhà, hạn 5, 6 hôm thì nộp, gọi là văn thường kỳ, lại thêm 2 kỳ họp nhau làm xong trong 1 ngày, gọi là văn nhật khắc. Mồng 1 và ngày rằm thì bình văn, bài nào hay thầy cho đọc to lên “để cho ai nấy đều nghe mà bắt chước” [16]. Năm nào có khoa thi thì học trò trong làng rủ nhau làm văn hội, quyển văn cũng đóng đủ các dấu y như quyển thi thật, có treo giải thưởng hẳn hoi [16]. Tức là thi thử. Hóa ra học trò bây giờ thi thử liên miên cũng chả phải chuyện gì mới. Có làng còn cho tuần phu đi đêm, nhà nào có con đi học mà không nghe tiếng học đêm thì làng bắt phạt [16].

Học 10, 20 năm như thế, người ta thuộc rất nhiều, viết đúng niêm luật rất giỏi. Lại còn phải nhớ cả tên húy nhà vua, vì “học trò thi cử làm văn… phạm đến tên húy phải tội” [22]. Tú Xương hỏng 8 khoa, có câu tự than “Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui” [20].

VII SAO KHÔNG THI TOÁN, KHÔNG THI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ?

Thực ra toán cũng có thi đấy. Phan Kế Bính chép đời Lý Nhân Tông đã mở khoa lại điển, “thi hành luật thư toán, ai đỗ thì bổ làm ty thuộc” [9]. Toàn thư chép năm 1261 đời Trần: “Thi lại viên bằng viết chữ và làm tính. Người đỗ sung làm duyên lại nội lệnh sử” [23]. Ty thuộc, duyên lại là những chân thư lại, tức người ghi chép, tính sổ sách giúp việc cho quan. Đi lên từ con đường ấy thì chỉ là “tạp lưu” như đã nói ở trên [14]. Nói nôm na, người biết tính thì nhà nước có cần, có điều chỉ cần để làm người giúp việc, kiểu kế toán bây giờ.

Vì sao vậy? Theo tôi, kỳ thi đặt ra là để tìm người cai trị dân, mà nhà Nho tin rằng trị dân là trị bằng lễ, bằng đức, theo đúng lời thánh hiền. Muốn biết ai trị được dân thì xem người ấy thuộc sách thánh hiền đến đâu, giảng ra được đến đâu. Văn bia tiến sĩ năm 1484 viết: “trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc… thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi” [12]. Mà nhân tài trong con mắt triều đình là người thông kinh sách. Phan Kế Bính tóm lại cách dạy của nhà nước: “ngoài khoa văn chương, khoa luân lý không còn có khoa học nào nữa” [14].

Còn giải quyết vấn đề thì có, chính là bài văn sách. Năm 1396, triều Trần định kỳ thứ 4 thi văn sách, “ra đề thì theo kinh, sử hay thời sự, mỗi bài phải 1000 chữ trở lên” [24]. Thi Đình thì vua tự ra đề, Toàn thư chép những đề hỏi về “đạo trị nước” (1469), về “lý số” (1481), về “nhân tài và vương chính” (1499) [25]. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong còn mở riêng khoa Thám phóng, thi trong 1 ngày, “chuyên hỏi về tình-trạng quốc-dân cùng việc vua Lê chúa Trịnh” [3].

Có điều đề hỏi việc nước mà câu trả lời lại phải rút từ sách thánh hiền, nào đời Nghiêu Thuấn làm thế nào, nào nhà Hán nhà Đường làm thế nào. Lâu dần học trò khỏi phải nghĩ, chỉ việc thuộc văn mẫu. Trần Văn Giáp thuật lại tờ tâu năm 1731 của Bùi Sĩ Tiêm, than rằng sĩ tử đương thời “chỉ biên chép những văn cũ mà học, chắp chảnh dăm ba câu văn sáo, gọi là cụ-thể, cốt để đỗ được là thôi”, đến nỗi sao nhãng cả kinh truyện [6]. Ngô Thì Sĩ thì nhận rằng ai bảo khoa cử có h.ạ.i cho việc kén nhân tài, “tưởng cũng không phải không đúng” [6]. Nguyễn Công Hãng đi sứ Tàu về, mấy lần xin sửa phép thi và lối văn thi mà không được [6].

Mãi đến khoa thi Hương năm Mậu Ngọ (1918) ở Trung Kỳ, khoa cuối cùng của cả nước, kỳ thứ 2 mới có “hai bài tính-đố”, kỳ thứ 3 thì dịch 1 bài quốc văn ra chữ Pháp [3]. Từ khoa năm 1075 đến khoa ấy là 843 năm.
Mấy năm trước khi in sách, Trần Văn Giáp có về thăm chỗ trường thi Nam Định cũ, lúc ấy chỉ còn trơ cái nhà Thập đạo. Người bạn đi cùng đọc mấy vần thơ, ông chép lại, khổ cuối có 2 câu: “Khen ai khéo đổi tên khoa-cử, / Mà óc thanh-niên vẫn óc Tàu!” [6]…


Nguồn:

[1] – Trông giòng sông Vị, văn chương và thân thế Trần Tế Xương – Trần Thanh Mại, chương I Khoa thi Đinh Dậu và chú thích của chương.
[2] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý, năm Thái Ninh thứ 4 (1075).
[3] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam, từ khởi thủy đến khoa Mậu Ngọ 1918 – Trần Văn Giáp, mục I Lịch sử khoa cử và mục II Phép thi văn.
[4] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam – Trần Văn Giáp, mục III Phép thi võ.
[5] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 3 (1462) và thứ 4 (1463).
[6] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam – Trần Văn Giáp, mục IX Quan niệm về khoa cử và đoạn bàn ở cuối mục X.
[7] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam – Trần Văn Giáp, mục V Các nơi trường thi và mục VI Cách xếp đặt trong trường thi.
[8] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam – Trần Văn Giáp, mục VII Các quan trường và thí sinh.
[9] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ ba, chương XIV Khoa cử.
[10] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Hiến Tông, năm Cảnh Thống thứ 5 (1502).
[11] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam – Trần Văn Giáp, mục X Mấy bài văn cổ nói về khoa cử, các bài Lạc đệ tự trào phú, Hỏng thi và Nhị liệt phú (Nguyễn Khương).
[12] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 15 (1484), việc định lương sinh viên 3 xá và bài văn bia tiến sĩ của Đỗ Nhuận.
[13] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ hai, chương XVI Đăng khoa.
[14] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ ba, chương XII Chính trị.
[15] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ hai, chương VII Văn từ văn chỉ.
[16] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ hai, chương XXII Hương học.
[17] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ ba, chương II Thầy trò.
[18] – Lược khảo về khoa cử Việt Nam – Trần Văn Giáp, mục VIII Cách rèn tập lấy học trò đi thi.
[19] – Lều chõng – Ngô Tất Tố, chương 20.
[20] – Thơ Tú Xương – Trần Tế Xương, bài Thương vợ và lời giới thiệu.
[21] – Trông giòng sông Vị – Trần Thanh Mại, chương VI Bà Tú Xương.
[22] – Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính, thiên thứ ba, chương I Vua tôi.
[23] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Thiệu Long thứ 4 (1261).
[24] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Quang Thái thứ 9 (1396).
[25] – Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) và năm Hồng Đức thứ 12 (1481); kỷ Lê Hiến Tông, năm Cảnh Thống thứ 2 (1499).

 

Trả lời