Phật Giáo đến Việt Nam

Ảnh: chùa Dâu – Bắc Ninh

Nguyễn Anh Tuấn

I. 𝐓𝐮̛̀ 𝐋𝐮𝐲 𝐋𝐚̂𝐮 đ𝐞̂́𝐧 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐯𝐢̣ 𝐁𝐮̣𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 𝐦𝐚̂𝐲, 𝐦𝐮̛𝐚, 𝐬𝐚̂́𝐦, 𝐜𝐡𝐨̛́𝐩

Khi nói về Phật giáo Việt Nam, chúng ta thường bắt đầu ở một thời điểm khá muộn. Những ngôi chùa, những pho tượng, các vị thiền sư thời Lý – Trần, rồi Trúc Lâm Yên Tử. Từ đó nhìn ngược lại và tưởng rằng Phật giáo đã đi vào Việt Nam theo một con đường khá thẳng từ Trung Quốc xuống phương Nam.

Nhưng lịch sử thường không đi theo những đường thẳng đẹp đẽ như vậy.

Nếu quay trở lại những thế kỷ đầu Công nguyên, vùng đất Bắc Bộ nằm dưới sự cai trị của đế chế Hán, trong khu vực mà về sau được gọi là Giao Châu, ở đó có một đô thị tên là Luy Lâu (ngày nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh).

Ngày ấy, nó là một nơi rất khác, một trung tâm hành chính, một điểm giao thương, một nơi có những con đường nối với vùng phía nam Trung Hoa và các tuyến đường biển đi xuống Đông Nam Á. Và chính tại nơi này, một điều đáng chú ý đã xảy ra – Phật giáo xuất hiện rất sớm.

Luy Lâu được xem là một trong những trung tâm Phật giáo sớm nhất được biết đến ở vùng Bắc Bộ. Nhưng có phải Phật giáo lần đầu tiên đặt chân đến đây từ Luy Lâu hay không thì lịch sử chưa thể khẳng định chắc chắn.

Phật giáo đến vùng đất này bằng con đường nào, từ đâu, và vào thời điểm nào vẫn còn là câu hỏi có nhiều cách giải thích.

Có những giả thuyết cho rằng Phật giáo đã đến vùng Giao Châu từ những thế kỷ trước Công nguyên, theo các tuyến giao thương đường biển từ Ấn Độ và Đông Nam Á. Những giả thuyết khác đặt quá trình truyền bá vào khoảng thế kỷ I–II Công nguyên và nhấn mạnh những mối liên hệ với Trung Hoa.

Điều chắc chắn hơn là đến cuối thế kỷ II, Luy Lâu đã trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng. Các nhà sư từ Ấn Độ và những vùng khác của châu Á có mặt trên các tuyến đường dẫn tới Trung Hoa, và Luy Lâu dường như đã trở thành một điểm dừng quan trọng trên mạng lưới giao lưu ấy.

Điều đó làm thay đổi một hình dung khá quen thuộc – Phật giáo ở Việt Nam không nhất thiết bắt đầu bằng việc một đoàn người từ Trung Quốc mang một tôn giáo hoàn chỉnh xuống phía nam, có thể nó đã đến bằng nhiều con đường cùng một lúc: Người đi biển, thương nhân, các nhà sư lang thang giữa các trung tâm thương mại, và những cộng đồng địa phương tiếp nhận những gì họ mang theo.

Tôn giáo vốn thường đi như thế, nó hiếm khi đi theo hộ chiếu.

𝑳𝒖𝒚 𝑳𝒂̂𝒖 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒏𝒐̛𝒊 𝒕𝒓𝒐̂́𝒏𝒈 𝒓𝒐̂̃𝒏𝒈

Một chuyện chúng ta rất dễ quên khi kể lịch sử truyền bá tôn giáo. Khi một tôn giáo đến một vùng đất mới, nó không bước vào một căn phòng trống. Chỗ nó đến đã có người, có làng xóm, ruộng lúa, có tổ tiên, những vị thần linh, những nỗi sợ, những nghi lễ. Chỗ nó đến có mưa và hạn, có bệnh tật, có sinh nở và cái chết. Và đặc biệt, ở vùng đồng bằng sông Hồng, có một đời sống nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nước và thời tiết.

Một tôn giáo mới muốn sống được ở một nơi như thế không thể chỉ mang theo những khái niệm trừu tượng, nó phải đi vào đời sống.

Và đây chính là nơi câu chuyện Tứ Pháp trở nên đặc biệt thú vị.

Theo truyền thuyết Man Nương, một nhà sư Ấn Độ tên Khâu Đà La đến vùng Luy Lâu và truyền đạo. Man Nương, một người phụ nữ địa phương, gắn với câu chuyện về sự hình thành bốn vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện – những hình tượng liên quan đến mây, mưa, sấm và chớp.

Nếu đọc câu chuyện ấy như một bản biên niên sử, chúng ta sẽ gặp rất nhiều điều khó tin. Nhưng nếu đọc nó như lịch sử của một tôn giáo đang được bản địa hóa, nó trở nên thú vị hơn rất nhiều. Bởi vì ở đây, ta nhìn thấy một điều rất nhân văn: Một tôn giáo mới không chỉ thay thế những gì đã có, nó thường tìm cách nói bằng ngôn ngữ mà người địa phương có thể hiểu.

Và Phật giáo đã đi vào một thế giới của mây, mưa, sấm, chớp. Ở vùng đất trồng lúa ấy, những vị thần của tự nhiên cũng bước vào thế giới Phật giáo. Họ trở thành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Từ đó, một vị có thể vừa là thần Mây, vừa là Phật Pháp Vân; vừa thuộc về tín ngưỡng dân gian, vừa thuộc về một ngôi chùa.

Một truyền thuyết khác cũng kể về sự xuất hiện của Phật giáo theo một con đường rất khác.

Chử Đồng Tử, nhân vật về sau trở thành một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng Việt Nam, được kể là đã theo một thương nhân đi bằng đường biển. Trong chuyến đi ấy, ông gặp một nhà sư tên là Phật Quang và ở lại học đạo.

Câu chuyện này được ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái, nhưng văn bản mà chúng ta còn biết ngày nay được biên soạn và hiệu đính nhiều thế kỷ sau thời đại Hùng Vương mà truyền thuyết đặt Chử Đồng Tử vào.

Vì vậy, chúng ta không thể biết cuộc gặp giữa Chử Đồng Tử và nhà sư Phật Quang có thực sự xảy ra hay không. Và cũng không thể từ câu chuyện này khẳng định Chử Đồng Tử là người Việt đầu tiên theo Phật.

Nhưng truyền thuyết vẫn giữ lại chuỗi hình ảnh rất đáng chú ý: Biển – thương nhân – nhà sư – và một người địa phương gặp một tôn giáo đến từ nơi khác.

Có thể đó không phải là lịch sử theo nghĩa chặt chẽ. Nhưng nó cho chúng ta biết người Việt về sau đã hình dung sự xuất hiện của Phật giáo như thế nào.

𝑩𝒖̣𝒕 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒌𝒉𝒊 𝒄𝒐́ 𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕

Một chi tiết ngôn ngữ rất đẹp trong tiếng Việt là chữ “Bụt”.

Trong những câu chuyện dân gian, Bụt thường xuất hiện khi một người đang gặp khó khăn. Bụt không còn giống hoàn toàn hình ảnh vị Phật trong các bộ kinh. Bụt gần người dân hơn, bước vào những câu chuyện rất đời thường.

Về mặt từ nguyên, “Bụt” có quan hệ với từ Buddha, nhưng con đường mà từ này đi vào tiếng Việt và mối quan hệ chính xác giữa “Bụt” và “Phật” vẫn còn có những cách giải thích khác nhau.

Điều chắc chắn hơn là hai cách gọi ấy đã cùng tồn tại trong tiếng Việt, trong đó “Phật” dần trở thành cách gọi phổ biến trong ngôn ngữ Phật giáo và văn bản Hán – Việt, còn “Bụt” sống rất lâu trong ngôn ngữ dân gian và truyện kể.

Đó là một dấu vết nhỏ của một quá trình lớn hơn: Phật giáo không chỉ được dịch từ một ngôn ngữ sang một ngôn ngữ khác. Nó được dịch từ một thế giới sống sang một thế giới sống khác.

Và hai việc ấy không giống nhau.

𝑴𝒐̣̂𝒕 𝒄𝒂̂𝒖 𝒄𝒉𝒖𝒚𝒆̣̂𝒏 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒏𝒐́𝒊 𝒏𝒉𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒉𝒐̛𝒏 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒏𝒊𝒆̂𝒏 đ𝒂̣𝒊

Chúng ta không nên coi truyền thuyết Man Nương là tài liệu lịch sử trực tiếp chứng minh những gì đã xảy ra ở Luy Lâu vào thế kỷ II.

Những văn bản ghi lại câu chuyện này xuất hiện muộn hơn rất nhiều và bản thân câu chuyện đã trải qua quá trình truyền khẩu, viết lại và biến đổi. Nghiên cứu hiện đại về truyền thuyết này cho thấy những chi tiết về Man Nương và Tứ Pháp đã được hình thành qua nhiều lớp truyền thống khác nhau.

Nhưng điều đó không làm câu chuyện trở nên vô giá trị, ngược lại, nó cho chúng ta một loại thông tin khác, không theo lối “Chuyện này có thật từng chi tiết không?”, thông tin này theo kiểu “Tại sao người ta lại kể câu chuyện này?”

Đây là một câu hỏi rất quan trọng trong lịch sử tôn giáo.

Một cộng đồng kể lại câu chuyện của mình không chỉ để nhớ quá khứ, họ còn kể để nói rằng chúng tôi là ai, chúng tôi tin điều gì, và tôn giáo này đã trở thành của chúng tôi như thế nào.

𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒈𝒊𝒂́𝒐 𝒐̛̉ 𝑳𝒖𝒚 𝑳𝒂̂𝒖 đ𝒂̃ 𝒕𝒓𝒐̛̉ 𝒕𝒉𝒂̀𝒏𝒉 𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒈𝒊𝒂́𝒐 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒏𝒂̀𝒐?

Nó không xảy ra trong một ngày. Không có một buổi sáng nào đó mà người dân Giao Châu thức dậy và quyết định từ hôm nay chúng ta theo Phật giáo. Lịch sử tôn giáo hiếm khi vận hành như vậy.

Một thương nhân mang theo một câu chuyện, một nhà sư dừng lại ở một đô thị, một người dân địa phương nghe, người khác tò mò. Rồi sau đó một ngôi chùa được dựng lên, nghi lễ cũ được giữ lại nhưng có một nghi lễ mới được thêm vào. Rồi vị thần cũ được gọi bằng một cái tên mới, một câu chuyện mới được kể bằng những hình ảnh quen thuộc.

Rồi vài thế hệ trôi qua. Không ai còn nhớ chính xác cái gì đến trước, cái gì đến sau. Đến lúc ấy, người ta không còn hỏi: “Đây là Phật giáo Ấn Độ hay tín ngưỡng bản địa?”, nó đã trở thành đời sống của chính họ.

Đây mới là điều đáng chú ý nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, không phải chuyện một tôn giáo từ đâu đến, mà nó đã biến thành cái gì khi đến đây.

𝑻𝒖̛̀ 𝑳𝒖𝒚 𝑳𝒂̂𝒖, 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒅𝒐̀𝒏𝒈 𝒔𝒐̂𝒏𝒈 𝒃𝒂̆́𝒕 đ𝒂̂̀𝒖 𝒄𝒉𝒂̉𝒚

Đến những thế kỷ sau, Phật giáo Việt Nam tiếp tục nhận thêm nhiều dòng ảnh hưởng từ Trung Hoa và những vùng khác. Các truyền thống thay đổi, các văn bản thay đổi, các ngôi chùa thay đổi. Các vị thiền sư xuất hiện.

Rồi đến thời Lý – Trần, Phật giáo trở thành một phần quan trọng của đời sống văn hóa và chính trị của nhà nước Đại Việt.

Nhưng trước những thiền sư nổi tiếng ấy rất lâu, đã có một vùng đất ở đồng bằng Bắc Bộ với đô thị cổ, với những người đi biển, với những nhà sư đến từ những vùng đất xa xôi. Ở đó đã có những người dân địa phương với những niềm tin có từ trước và những vị Bụt của mây, mưa, sấm, chớp.

Luy Lâu có thể không phải là nơi duy nhất Phật giáo bước vào vùng đất Việt Nam, nhưng nó là một trong những nơi sớm nhất mà chúng ta có thể nhìn thấy một cộng đồng Phật giáo đã phát triển đủ mạnh để trở thành một trung tâm khu vực.

Từ đây chúng ta nên nhìn lại một điều, khi một tôn giáo đi từ nơi này sang nơi khác, người ta thường hỏi: “Nó có còn nguyên bản không?”. Nhưng lịch sử lại đặt một câu hỏi khác: “Nó đã sống như thế nào?”

Bởi một tôn giáo chỉ có thể tồn tại nếu có người sống với nó. Họ sẽ thay đổi nó, họ sẽ hiểu nó theo cách của họ, họ sẽ kể lại nó bằng ngôn ngữ của họ, họ sẽ đặt nó vào những ngôi làng, những gia đình, những mùa vụ, những cuộc hôn nhân, những đám tang và những nỗi sợ của chính mình.

Và đến một lúc nào đó, thứ từng được mang từ một nơi rất xa tới sẽ không còn cảm giác là của người khác nữa, nó đã trở thành của mình.

Đó cũng chính là lúc một tôn giáo thực sự bắt đầu bén rễ.

𝑁𝑔𝑢𝑜̂̀𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑚 𝑘ℎ𝑎̉𝑜

• Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, “Vài nét về trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh)”. (Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia Việt Nam)

• Liam C. Kelley, “What Lies Behind the Earliest Story of Buddhism in Ancient Vietnam?”, The Journal of Asian Studies, Cambridge University Press. (Cambridge)

• Nguyễn Tài Thư (chủ biên), The History of Buddhism in Vietnam, Institute of Philosophy, Vietnam Academy of Social Sciences. (Thư Viện Hoa Sen)

• Encyclopedia of Buddhism, “Buddhism in Vietnam”, phần Early Period. (Encyclopedia of Buddhism)

• Yale University Press, Richard Holloway, A Little History of Religion — tham khảo cách tiếp cận lịch sử tôn giáo: tôn trọng câu chuyện của truyền thống nhưng vẫn giữ khoảng cách lịch sử và sự tò mò. (Yale University Press)

 

II 𝐊𝐡𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐓𝐚̆𝐧𝐠 𝐇𝐨̣̂𝐢

Ảnh: Tượng Phật Pháp Vân — dấu ấn Phật giáo Luy Lâu (Giao Châu) thế kỷ II-III, nơi Khương Tăng Hội xuất gia và tiếp thu những mầm tạng Phật học đầu tiên trước khi ngược dòng lên phương Bắc.

 

𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐢 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐝𝐨̀𝐧𝐠 𝐭𝐮̛̀ 𝐆𝐢𝐚𝐨 𝐂𝐡𝐚̂𝐮 – Phật giáo Việt Nam thời kỳ Luy Lâu

Ở bài trước, tôi viết về Luy Lâu – một đô thị cổ ở Giao Châu, nơi Phật giáo đã xuất hiện rất sớm và trở thành một phần của mạng lưới giao thương nối Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Hoa.

Tôi cũng viết rằng Phật giáo không nhất thiết đi vào vùng đất này theo một đường thẳng từ Trung Hoa xuống, có thể đã đi bằng nhiều con đường. Theo biển, theo những đoàn thương nhân, theo các nhà sư, theo những người đi tìm học.

Và rồi, vài thế hệ sau Luy Lâu, có một người từ Giao Châu đi về phương bắc. Câu chuyện của ông khiến cái bản đồ truyền bá Phật giáo mà chúng ta vẫn quen nhìn bỗng trở nên không còn đơn giản như trước.

Người ấy tên là Khương Tăng Hội – một người từ Giao Châu.

Khương Tăng Hội, tên tiếng Phạn được phiên âm trong các tài liệu Trung Hoa là Kang Senghui, thường được xem là một tăng sĩ sinh trưởng ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ III.

Tiểu sử của ông chủ yếu được biết qua những nguồn như Xuất Tam Tạng Ký Tập hay Cao Tăng Truyện được ghi chép về sau. Vì thế, có những chi tiết chúng ta không thể chắc chắn hoàn toàn.

Người ta kể rằng cha ông là một thương nhân đến từ Khương Cư (Sogdiana, vùng Trung Á ngày nay), di cư sang Giao Châu kinh doanh. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, rồi xuất gia và học Phật ngay tại vùng đất Giao Châu.

Những chi tiết ấy có thể đã được thêm thắt qua quá trình truyền tụng, nhưng có một điều quan trọng hơn câu chuyện riêng của ông đó là Giao Châu vào thế kỷ III đã nằm trong một thế giới Phật giáo đủ rộng để một người sinh trưởng ở đó có thể tiếp cận kinh điển, tăng đoàn và những truyền thống Phật giáo đến từ nhiều hướng khác nhau.

Nó không còn là câu chuyện về một tôn giáo vừa mới đặt chân tới một vùng đất xa lạ. Phật giáo đã bắt đầu có đời sống của riêng nó ở đây, và Khương Tăng Hội là một trong những dấu vết sớm nhất mà chúng ta có thể nhìn thấy.

𝑻𝒖̛̀ 𝑮𝒊𝒂𝒐 𝑪𝒉𝒂̂𝒖 đ𝒊 𝒍𝒆̂𝒏 𝑲𝒊𝒆̂́𝒏 𝑵𝒈𝒉𝒊𝒆̣̂𝒑

 

Khoảng giữa thế kỷ III, Khương Tăng Hội đi lên phía bắc.

Đích đến của ông là Kiến Nghiệp, kinh đô của Đông Ngô, vùng nay thuộc Nam Kinh. Đây là một thế giới rất khác với Giao Châu.

Kiến Nghiệp là một trung tâm chính trị lớn của miền nam Trung Hoa. Phật giáo ở đó cũng đang phát triển, nhưng chưa phải thứ tôn giáo đã có vị trí vững chắc như nhiều thế kỷ sau.

Khương Tăng Hội đến đó và theo truyền thống tư liệu Trung Hoa, ông bắt đầu truyền bá Phật giáo, dựng chùa Kiến Sơ – ngôi chùa đầu tiên của vùng Giang Nam – cùng tháp Phật, rồi dịch thuật và chú giải các bộ kinh quan trọng như Lục Độ Tập Kinh hay An Ban Thủ Ý Kinh. Ông trở thành một nhân vật nền tảng trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa.

Điều này đáng chú ý không phải vì chúng ta cần biến ông thành một “người Việt Nam đầu tiên”. Khái niệm ấy thuộc về một thời đại rất khác, mà bởi vì nó cho thấy Giao Châu không chỉ là nơi tiếp nhận Phật giáo từ bên ngoài, ít nhất trong một số trường hợp, những người trưởng thành trong không gian Giao Châu đã trở thành những người tiếp tục đưa Phật giáo đi nơi khác. Dòng chảy không chỉ có một chiều.

𝑪𝒉𝒖𝒏𝒈 𝒒𝒖𝒂𝒏𝒉 𝒐̂𝒏𝒈 𝒍𝒂̀ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒈𝒊𝒐̛́𝒊 đ𝒂𝒏𝒈 𝒅𝒊 𝒄𝒉𝒖𝒚𝒆̂̉𝒏

Khương Tăng Hội sống vào một thời kỳ rất đặc biệt đó là thời Tam Quốc. Ở phía bắc là Ngụy, phía nam là Ngô, phía tây là Thục. Đế chế Hán đã tan rã, nhưng những con đường giao thương và những dòng tư tưởng không vì thế mà dừng lại.

Ở Lạc Dương, Trường An, Kiến Nghiệp, các nhà sư và học giả tiếp tục dịch kinh. Từ Trung Á, từ Ấn Độ, từ những vùng đất phía nam, những bản kinh và những con người tiếp tục đi vào thế giới chữ Hán.

Và ở phía nam của thế giới ấy là Giao Châu, một vùng đất nằm dưới quyền cai trị của các chính quyền Trung Hoa, nhưng lại hướng mặt ra biển.

Nếu nhìn bản đồ ngày nay, chúng ta dễ nghĩ khoảng cách giữa những nơi ấy rất lớn. Nhưng những người sống trong mạng lưới thương mại cổ không nhìn thế giới bằng bản đồ quốc gia, họ nhìn bằng những con đường: Đường biển, đường sông, đường bộ, những bến cảng, những đô thị, những nơi có thể nghỉ lại, những nơi có người biết nói ngôn ngữ của mình. Phật giáo đi theo chính những con đường ấy.

𝑲𝒉𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒏𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝒅𝒊 𝒕𝒖̛̀ 𝑮𝒊𝒂𝒐 𝑪𝒉𝒂̂𝒖

Có một điều tôi thấy thú vị ở Khương Tăng Hội, ông khiến câu hỏi “Phật giáo từ đâu đến Việt Nam?” trở nên hơi thiếu, bởi nếu hỏi mãi về nguồn gốc, chúng ta sẽ luôn muốn tìm một điểm bắt đầu: Ấn Độ, rồi Đông Nam Á, rồi Giao Châu, rồi Trung Hoa. Hoặc Trung Hoa, rồi Giao Châu.

 

Nhưng con người không sống trên một sơ đồ mũi tên. Một người sinh ra ở một nơi học từ nhiều người, đi sang một nơi khác rồi truyền lại thứ mình đã học cho những người khác nữa.

Đến đời sau, chúng ta nhìn lại và muốn chia tất cả thành những quốc gia, những tông phái, những trung tâm, những nguồn gốc, trong khi người đang sống ở thế kỷ III có lẽ chỉ đơn giản biết rằng có một bản kinh, có một vị thầy, có một con đường, và có một nơi khác mà mình muốn đến.

𝑪𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒂 𝒃𝒊𝒆̂́𝒕 𝒈𝒊̀ 𝒗𝒆̂̀ 𝒐̂𝒏𝒈?

Đây là chỗ cần cẩn thận. Khương Tăng Hội là một nhân vật có thật trong truyền thống lịch sử Phật giáo Trung Hoa, nhưng những gì chúng ta biết về ông không phải một hồ sơ tiểu sử hiện đại. Các nguồn được biên soạn về sau chứa cả những yếu tố mang màu sắc hagiography, tức kiểu tiểu sử tôn giáo, trong đó một nhân vật được kể lại như một người đặc biệt, có những dấu hiệu linh thiêng hoặc những câu chuyện kỳ lạ.

Vì vậy, không nên lấy mọi chi tiết trong tiểu sử của ông làm sự kiện lịch sử chắc chắn, nhưng cũng không vì thế mà vứt bỏ toàn bộ câu chuyện, bởi đôi khi điều lịch sử giữ lại không phải là toàn bộ sự thật của một con người, nó chỉ giữ lại dấu chân của người ấy. Và dấu chân vẫn cho ta biết rằng đã từng có một người đi qua.

𝑻𝒖̛̀ 𝑳𝒖𝒚 𝑳𝒂̂𝒖 đ𝒆̂́𝒏 𝑲𝒉𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝑻𝒂̆𝒏𝒈 𝑯𝒐̣̂𝒊

Nếu Luy Lâu cho chúng ta thấy một Phật giáo đang đến thì Khương Tăng Hội cho chúng ta thấy một Phật giáo đã bắt đầu đi tiếp.

Đó là hai hình ảnh rất khác nhau một bên là một vùng đất tiếp nhận, một bên là một con người rời khỏi vùng đất ấy, và giữa hai hình ảnh đó có một khoảng thời gian mà chúng ta không biết hết. Đây là điều làm lịch sử cổ đại trở nên hấp dẫn – chúng ta có những khoảng trống.

Có những thế kỷ mà tư liệu rất thưa, không có đủ tài liệu để kể một câu chuyện liền mạch. Và thay vì lấp những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng, đôi khi tốt hơn là cứ để chúng ở đó. Một khoảng trống cũng là một sự thật.

𝑷/s

Có một thời tôi rất thích những câu chuyện có đường đi rõ ràng. Một thứ xuất hiện ở A, sau đó truyền sang B, đến C, và cuối cùng hình thành D. Nó làm cho lịch sử rất dễ hiểu và cũng rất dễ tin, nhưng càng đọc tôi càng thấy lịch sử của các tôn giáo giống lịch sử của nước hơn. Nước không quan tâm đến biên giới, nó chảy theo địa hình, gặp đá thì vòng qua, gặp đất thấp thì lan ra, gặp một con sông khác thì nhập vào, và đến lúc nào đó, không còn biết giọt nước này ban đầu đến từ đâu nữa.

Phật giáo cũng vậy, một ý tưởng đi từ Ấn Độ, một bản kinh đi qua Trung Á, một nhà sư xuống phương Nam, một thương nhân lên phương Bắc, một người sinh ra ở Giao Châu học được điều gì đó rồi đi đến Kiến Nghiệp.

Sau vài trăm năm, người ta gọi những dòng chảy ấy bằng những cái tên khác nhau: Phật giáo Ấn Độ – Phật giáo Trung Hoa – Phật giáo Việt Nam… rồi Thiền – Tịnh độ – Đại thừa – Tiểu thừa….

Nhưng những con người đã sống trong những dòng chảy ấy có lẽ không nhìn thấy những cái tên rõ ràng như chúng ta, họ chỉ đang sống, đang tin, đang nghi ngờ, đang học, đang truyền lại, đang đi.

Có lẽ Khương Tăng Hội đáng nhớ không phải vì ông giúp chúng ta xác định một cái nhãn cho Phật giáo Việt Nam mà bởi ông nhắc ta rằng trước khi có những đường biên, đã có những con đường.

Và trước khi có những “Phật giáo Việt Nam”, “Phật giáo Trung Hoa”, đã có những người đi từ nơi này sang nơi khác, mang theo một điều họ tin là quan trọng, rồi những người ở nơi mới lại biến đổi nó như tất cả những gì con người chạm vào. Có lẽ đó mới là cách một tôn giáo thực sự tồn tại.

Không phải bằng cách giữ nguyên nó, mà bằng cách để nó tiếp tục sống. Mỗi lần một người mang nó đi xa hơn, nó lại trở thành một thứ hơi khác đi.

Khương Tăng Hội đã đi từ Giao Châu lên phía bắc, còn Phật giáo, từ đó, vẫn tiếp tục đi.

Chúng ta sẽ gặp lại câu chuyện tiếp theo ở Giao Châu vào năm 580, khi một vị tăng từ phía tây đến đây và câu chuyện bắt đầu mang một cái tên mới: Thiền.

 

III. 𝐓ì-𝐧𝐢-đ𝐚-𝐥𝐮̛𝐮-𝐜𝐡i

Ảnh: chùa Dâu – Bắc Ninh

𝐓𝐡𝐢𝐞̂̀𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐆𝐢𝐚𝐨 𝐂𝐡𝐚̂u

Lịch sử Phật giáo Việt Nam

Bài trước đã viết về Khương Tăng Hội – một người sinh trưởng ở Giao Châu rồi đi lên phía bắc, đến Kiến Nghiệp và trở thành một nhân vật trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa.

Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đó. Nếu Khương Tăng Hội cho chúng ta thấy những con người có thể đi qua các trung tâm Phật giáo của châu Á như thế nào thì vài thế kỷ sau một vị tăng khác lại đi theo chiều ngược lại – ông từ phương bắc xuống Giao Châu – đó là Tì-ni-đa-lưu-chi – vào khoảng năm 580.

Và với lịch sử Phật giáo Việt Nam, đây thường được xem là một cột mốc rất quan trọng bởi từ đây, câu chuyện bắt đầu được gọi bằng một cái tên mà về sau trở thành một trong những truyền thống Thiền đầu tiên trên đất Việt: Tì-ni-đa-lưu-chi thiền phái.

Nhưng như mọi câu chuyện lịch sử, cái tên ấy chỉ là phần dễ nhìn thấy nhất. Phần thú vị hơn nằm ở phía sau.

𝑴𝒐̣̂𝒕 𝒗𝒊̣ 𝒕𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒔𝒖̛ 𝒕𝒖̛̀ 𝑨̂́𝒏 Đ𝒐̣̂?

Tì-ni-đa-lưu-chi, tiếng Phạn thường được phục nguyên là Vinītaruci, được các nguồn Phật giáo Việt Nam về sau kể là một vị tăng người Ấn Độ. Ông đi đến Trung Hoa, tại đó ông gặp Tăng Xán, người được truyền thống Thiền Trung Hoa xem là vị Tổ thứ ba.

Sau một thời gian học đạo, Tì-ni-đa-lưu-chi rời Trung Hoa và đi về phương Nam. Và ông đến Giao Châu.

Theo Thiền uyển tập anh, ông đến chùa Pháp Vân vào khoảng năm 580, từ đó hình thành dòng truyền thừa mà sử sách Việt Nam gọi là Tì-ni-đa-lưu-chi.

Một cái tên Ấn Độ, một vị thầy Trung Hoa một vùng đất Giao Châu, chỉ ba yếu tố ấy thôi cũng đủ cho ta thấy thế giới Phật giáo lúc đó không nằm trong những chiếc hộp quốc gia.

Ấn Độ – Trung Hoa – Giao Châu. Ba nơi ấy nằm trên cùng một câu chuyện.

𝑻ì-ni-đ𝒂-𝒍𝒖̛𝒖-𝒄𝒉𝒊 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒖̛̣𝒄 𝒔𝒖̛̣ 𝒈𝒂̣̆𝒑 𝑻𝒂̆𝒏𝒈 𝑿𝒂́𝒏?

Đây là chỗ câu chuyện cần chậm lại, bởi nếu kể theo truyền thống thì mọi thứ rất đẹp: Bồ-đề-đạt-ma truyền pháp cho Huệ Khả, Huệ Khả truyền cho Tăng Xán, Tăng Xán truyền cho Tì-ni-đa-lưu-chi. Tì-ni-đa-lưu-chi mang dòng truyền thừa ấy xuống Giao Châu rồi từ đó Thiền Việt Nam bắt đầu.

Một đường dây hoàn hảo.

Nhưng lịch sử không phải lúc nào cũng hoàn hảo đến vậy. Các tài liệu về những vị tổ Thiền đời đầu được biên soạn khá muộn so với thời kỳ mà họ được cho là đã sống. Và chính việc dựng nên một dòng truyền thừa liên tục từ Bồ-đề-đạt-ma đến các thế hệ sau là một phần của quá trình hình thành truyền thống Thiền.

Vì vậy, ta không nên đọc câu chuyện ấy như đọc một hồ sơ hộ tịch. Không thể nói chắc từng chi tiết đã xảy ra đúng như thế, nhưng cũng không cần vì vậy mà phủ nhận toàn bộ.

Điều đáng chú ý là đến thời điểm ấy, các truyền thống Thiền đã đủ mạnh để những câu chuyện về truyền thừa trở thành một cách quan trọng nhằm xác định mình thuộc về dòng nào, và Giao Châu đã được đặt vào trong câu chuyện ấy.

𝑪𝒖̀𝒏𝒈 𝒍𝒖́𝒄 đ𝒐́ 𝒐̛̉ 𝑻𝒓𝒖𝒏𝒈 𝑯𝒐𝒂

Khoảng thế kỷ VI, Trung Hoa đang ở thời Nam Bắc triều, đây là một thời kỳ chính trị chia cắt nhưng Phật giáo lại phát triển mạnh, nhiều trung tâm Phật giáo xuất hiện. Các bản kinh được dịch, các học giả tranh luận, các phương pháp tu tập khác nhau phát triển. Và trong thế giới ấy, một truyền thống mới đang dần trở nên nổi bật: Thiền.

Nhưng Thiền lúc ấy chưa phải hình ảnh mà chúng ta quen thuộc khi nghe đến “Thiền Trung Hoa” sau này, chưa có những câu chuyện công án nổi tiếng, chưa có hình ảnh các thiền sư hét, đánh, hoặc trả lời những câu hỏi kỳ quặc bằng những câu trả lời còn kỳ quặc hơn. Chưa có Lâm Tế, chưa có Tào Động theo hình thức về sau.

Và trong thế giới ấy, một truyền thống Phật giáo mà người Trung Hoa gọi là 禪 – Chan, người Việt gọi là Thiền – đang dần hình thành.

 

Nhưng những người đang sống trong thời ấy có lẽ chỉ biết mình đang tìm một cách khác để thực hành Phật giáo.

𝑻𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒍𝒂̀ 𝒈𝒊̀?

Đây là câu hỏi tưởng dễ mà không dễ.

“Thiền” là cách đọc Hán-Việt của 禪, bắt nguồn từ dhyāna trong tiếng Sanskrit, thường liên quan đến thiền định, sự tập trung và trạng thái tâm.

Nhưng Thiền mà về sau chúng ta gọi là Chan hay Zen không đơn giản chỉ là “ngồi thiền”.

Nó là cả một truyền thống, một cách đọc kinh, một cách tu tập, một quan niệm về thầy và trò, một cách nhìn về sự giác ngộ. Rồi theo thời gian nó trở thành một nền văn hóa rất lớn.

Nhưng ở Giao Châu thế kỷ VI, chúng ta chưa cần vội gọi nó bằng tất cả những ý nghĩa mà Thiền về sau mang theo, có lẽ chỉ cần nói là một dòng thực hành Phật giáo mới đang tìm được chỗ đứng. Và nó gặp một vùng đất đã có Phật giáo từ nhiều thế kỷ trước.

Tì-ni-đa-lưu-chi không đến một vùng đất chưa biết Phật giáo. Ông đến sau Luy Lâu, sau những câu chuyện về Man Nương, sau Tứ Pháp, sau những thế hệ tăng sĩ đã đi qua Giao Châu, sau Khương Tăng Hội. Điều đó rất quan trọng bởi đôi khi chúng ta kể lịch sử tôn giáo như những lần “du nhập”. Phật giáo du nhập, Thiền du nhập, Tịnh độ du nhập.

Nhưng thực tế thường phức tạp hơn. Một tôn giáo đã có mặt rồi thì những dòng mới đến sẽ không bước vào một khoảng trống, chúng gặp những thứ đã có sẵn và phải tìm một chỗ đứng bên cạnh chúng. Hoặc hòa vào chúng, hoặc thay đổi chúng, hoặc chính mình cũng bị thay đổi.

𝑪𝒉𝒖̀𝒂 𝑷𝒉𝒂́𝒑 𝑽𝒂̂𝒏

Theo truyền thống, Tì-ni-đa-lưu-chi đến chùa Pháp Vân. Chùa Pháp Vân thuộc vùng Luy Lâu cổ, đây không phải một chi tiết ngẫu nhiên.

Nếu câu chuyện truyền thống phản ánh đúng một phần lịch sử, thì nó cho thấy một điều rất đẹp: Dòng Thiền mới không xuất hiện ở một nơi hoàn toàn mới, nó đến đúng vùng đất mà từ nhiều thế kỷ trước đã là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng của Giao Châu, như thể một lớp mới được đặt lên một lớp cũ nơi Phật giáo đã bén rễ, rồi một cách thực hành khác đến, cây bắt đầu mọc thêm một nhánh.

𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒈𝒊𝒂́𝒐 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒕𝒖̛ 𝒕𝒖̛𝒐̛̉𝒏𝒈 đ𝒐́𝒏𝒈

Chúng ta thường nói về “Phật giáo” như thể đó là một vật thể, một thứ có hình dạng cố định được đóng gói ở Ấn Độ, mang sang Trung Hoa rồi đưa xuống Giao Châu.

Nhưng không có thứ gì như vậy.

Có những bản kinh, có những câu chuyện, những vị thầy và những phương pháp tu tập. Có những người tin và cũng có những người không tin. Có những người thực hành rất nghiêm túc và cũng có những người chỉ giữ nghi lễ. Có những người lấy một vị thần cũ đặt vào một ngôi chùa mới. Và có người đọc kinh mà không hiểu hết, rồi có những người hiểu nhưng lại theo cách khác.

Đó mới là đời sống của một tôn giáo.

𝙏𝒖̛̀ 𝙏𝒊̀-𝙣𝙞-đ𝙖-𝙡𝒖̛𝙪-𝙘𝙝𝙞 đ𝒆̂́𝙣 𝙏𝙝𝙞𝒆̂̀𝙣

Sau Tì-ni-đa-lưu-chi, dòng truyền thừa này tiếp tục qua nhiều thế hệ. Các thiền sư xuất hiện, các chùa trở thành nơi truyền dạy. Thiền dần trở thành một phần của lịch sử Phật giáo Việt Nam nhưng phải mất nhiều thế kỷ nữa để Phật giáo Việt Nam đi đến thời kỳ mà chúng ta quen thuộc nhất: thời Lý – Trần – Yên Tử – Trúc Lâm – Trần Nhân Tông.

Đó là lúc Phật giáo không chỉ tồn tại trong các cộng đồng tu hành mà còn trở thành một phần quan trọng của đời sống xã hội và nhà nước Đại Việt.

Nhưng nếu chỉ nhìn từ Lý – Trần, chúng ta sẽ bỏ mất một lịch sử rất dài – lịch sử của những người đã đến trước, những người không có tượng lớn, không có lễ hội, không chuyện kể hàng ngày.

Tì-ni-đa-lưu-chi là một trong những cái tên đứng ở khoảng cách rất xa ấy.

 

𝑷/s

Tôi từng nghĩ Thiền là một thứ rất cao. Nó nằm trên núi, trong chùa, trong những vị tăng bí ẩn, trong những cuốn sách khó đọc, trong những câu nói mà người bình thường nghe xong chẳng hiểu gì.

Sau này đọc lại lịch sử, tôi thấy nó có một khởi đầu khác, đơn giản từ đời sống: Một người rời một nơi, đi qua một nơi khác rồi xuống một vùng đất phía Nam, ở đó đã có người, có chùa và những câu chuyện về Bụt; đã có những vị thần của mưa và cũng có những người đang sống, đang chết như mọi người ở mọi thời. Thiền đến và phải sống trong thế giới ấy.

Đó là điều tôi thích nhất khi nhìn lại lịch sử tôn giáo. Bởi vì nó không phải câu chuyện một giáo lý có đúng hay không, mà nó dõi theo một cách hiểu, một truyền thống khi bước ra khỏi sách vở sẽ làm gì – nó gặp một con người, rồi người khác, một gia đình, ngôi làng, nền văn hóa, gặp nỗi sợ, cái chết, những mùa mưa. Và rồi chính nó cũng bị thay đổi.

Có thể Tì-ni-đa-lưu-chi không mang Thiền nguyên vẹn từ Ấn Độ xuống Giao Châu cũng như Khương Tăng Hội không mang một thứ Phật giáo nguyên bản từ Giao Châu lên Trung Hoa. Không ai mang được một thứ gì nguyên vẹn đi qua lịch sử.

Thứ được truyền đi luôn là thứ đã được một con người tiếp nhận, hiểu theo cách của mình, rồi trao lại cho một con người khác.

Và vì thế, mỗi lần nó được truyền đi, nó vừa còn là nó, vừa không còn hoàn toàn là nó nữa. Đó không phải là sự suy thoái của một truyền thống mà chính là cách một truyền thống sống tiếp.

Từ Luy Lâu đến Khương Tăng Hội, đến Tì-ni-đa-lưu-chi, rồi vài thế kỷ sau nữa, một dòng Thiền khác sẽ từ Trung Hoa xuống Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

– Ngô Đức Thọ (dịch, chú giải), Thiền uyển tập anh, NXB Văn Học.

– Cuong Tu Nguyen, Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thiền Uyển Tập Anh, University of Hawai‘i Press, 1997.

– Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press, 1983.

– Jason Neelis, Early Buddhist Transmission and Trade Networks, Brill, 2010.

– Encyclopedia of Buddhism, các mục “Vinītaruci”, “Chan”, “Buddhism in Vietnam”.

IV. 𝐕𝐨̂ 𝐍𝐠𝐨̂𝐧 𝐓𝐡𝐨̂𝐧𝐠 – 𝒗𝒊̣ 𝒕𝒂̆𝒏𝒈 𝒊́𝒕 𝒏𝒐́𝒊

Ảnh: chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội.

Ở những bài trước, tôi đã đi từ Luy Lâu đến Khương Tăng Hội, rồi từ Khương Tăng Hội đến Tì-ni-đa-lưu-chi. Những cái tên ấy nằm cách nhau vài thế kỷ.Nhưng có một sợi dây nối chúng lại. Phật giáo không đi vào Giao Châu một lần. Nó đến, ở lại, biến đổi, và những dòng mới đến.Đến thế kỷ IX, một vị tăng từ Trung Hoa xuống Giao Châu tên là Vô Ngôn Thông. Tên nghe khá lạ – “Vô Ngôn” – và câu chuyện về ông cũng bắt đầu bằng một điều rất phù hợp với cái tên ấy.

𝑴𝒐̣̂𝒕 𝒗𝒊̣ 𝒕𝒂̆𝒏𝒈 𝒊́𝒕 𝒏𝒐́𝒊

Theo Thiền uyển tập anh, Vô Ngôn Thông là một vị tăng người Trung Hoa tu ở một ngôi chùa tại Quảng Châu. Người ta kể rằng ông rất ít nói, không phải kiểu nhút nhát, ông dường như không thích dùng lời để giải quyết những câu hỏi mà ông cho rằng lời nói không thể giải quyết.

Một ngày ông đến gặp một vị tăng tên là Bách Trượng Hoài Hải – một nhân vật quan trọng trong lịch sử Thiền Trung Hoa, ông hỏi về đạo. Bách Trượng không giải thích dài dòng, chỉ nhìn ông. Theo chuyện được kể lại, Vô Ngôn Thông sau đó im lặng và hiểu.

Câu chuyện ấy mang đầy màu sắc của văn học Thiền. Rất đẹp, nhưng cũng chính vì đẹp nên cần cẩn thận, chúng ta không thể coi từng chi tiết trong những giai thoại ấy là một bản ghi âm của thế kỷ IX.

Nhưng câu chuyện cho chúng ta thấy một điều rằng, đến thời ấy, Thiền đã bắt đầu hình thành một cách kể chuyện rất khác lạ về sự giác ngộ, nó không giống một bài giảng, cũng không thêm khái niệm. Đôi khi chính việc không nói lại trở thành một cách nói.

𝑻𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒍𝒐̛̀𝒊

Nếu nhìn từ bên ngoài, Thiền đôi khi có vẻ rất kỳ quặc. Một người hỏi, một người không trả lời. Một người hỏi lại, một người đánh, một người hét. Một câu hỏi rất nghiêm túc nhận được một câu trả lời chẳng liên quan.

Có lẽ bởi trong truyền thống Thiền, ngày càng xuất hiện một nghi ngờ: liệu lời nói có thực sự truyền đạt được điều mà nó đang cố nói hay không?

Đây là một nghịch lý khá đẹp của Thiền: nó dùng rất nhiều chữ để nói rằng chữ không đủ.

𝑽𝒂̀ 𝒓𝒐̂̀𝒊 𝒐̂𝒏𝒈 đ𝒊 𝒙𝒖𝒐̂́𝒏𝒈 𝑮𝒊𝒂𝒐 𝑪𝒉𝒂̂𝒖

Theo truyền thống Việt Nam, Vô Ngôn Thông rời Trung Hoa và đi về phương Nam đến Giao Châu. Ông dừng tại chùa Kiến Sơ, thuộc vùng Phù Đổng, nay thuộc Hà Nội, ở đó ông gặp một vị tăng tên là Cảm Thành. Đây mới là phần quan trọng. Vô Ngôn Thông không trở thành người sáng lập Phật giáo ở Giao Châu, ông đến một nơi mà Phật giáo đã tồn tại từ rất lâu, đã có Tì-ni-đa-lưu-chi và những dòng truyền thừa khác. Đã có chùa chiền, tăng sĩ, đã có người dân sống với Phật giáo theo cách của họ. Ông chỉ đem đến thêm một dòng, một hướng thực hành, một cách hiểu, cách nhìn, rồi dòng ấy tiếp tục qua những thế hệ sau.

𝑻𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝑽𝒐̂ 𝑵𝒈𝒐̂𝒏 𝑻𝒉𝒐̂𝒏𝒈

Từ Vô Ngôn Thông, truyền thống Việt Nam về sau hình thành cái được gọi là dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Các thiền sư được ghi lại trong Thiền uyển tập anh, những cái tên nối nhau qua các thế hệ. Đến thế kỷ X, XI, dòng Thiền này đã trở thành một phần của đời sống Phật giáo Đại Việt.

Một điểm khác biệt – trong khi lịch sử thường thích những người sáng lập, những vị tổ, những cái tên lớn, thì bản thân Thiền lại có một xu hướng khác, nó liên tục đặt câu hỏi về việc bám vào tên tuổi. Bạn có thể gọi một người là tổ, nhưng người ấy không thể giác ngộ thay bạn, bạn có thể biết hàng trăm câu nói của các thiền sư, nhưng biết câu nói không có nghĩa là thấy được điều người nói muốn chỉ. Ở điểm này, cái tên Vô Ngôn Thông trở nên thú vị – một người mang tên “Không Lời” lại trở thành tổ của một truyền thống được truyền lại bằng rất nhiều lời.

𝑴𝒐̣̂𝒕 𝒏𝒈𝒉𝒊̣𝒄𝒉 𝒍𝒚́

Thiền nói: Đừng bám vào chữ, nhưng sau đó người ta viết sách về Thiền. Đừng bám vào lời và rồi người ta ghi lại lời các thiền sư. Đừng tìm Phật bên ngoài, nhưng rồi người ta xây chùa, tạc tượng, lập tổ đường.

Con người có lẽ không thể sống mà không tạo ra hình thức. Ngay cả một truyền thống muốn vượt khỏi hình thức cuối cùng cũng phải tạo ra một hình thức để truyền lại chính ý tưởng vượt khỏi hình thức ấy.

𝑪𝒖̀𝒏𝒈 𝒍𝒖́𝒄 đ𝒐́

Thế kỷ IX cũng là thời Đường ở Trung Hoa, đây là giai đoạn Thiền phát triển rất mạnh. Những cái tên lớn của Thiền Trung Hoa xuất hiện, các dòng truyền thừa ngày càng rõ. Những câu chuyện về các vị thiền sư được lưu truyền, nhưng đồng thời, nhà Đường cũng đang đi đến những thập niên cuối cùng. Năm 907, nhà Đường sụp đổ. Trung Hoa bước vào thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Ở Giao Châu, những biến động ấy cũng có ý nghĩa bởi đây là lúc vùng đất này dần tiến đến một bước ngoặt lịch sử lớn – thoát khỏi hơn một nghìn năm nằm trong các cấu trúc cai trị từ phương Bắc.

Năm 939, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Giao Châu bước vào một thời kỳ mới và Phật giáo cũng bước vào một thời kỳ mới.

𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒈𝒊𝒂́𝒐 𝒔𝒂𝒖 𝑩𝒂̆́𝒄 𝒕𝒉𝒖𝒐̣̂𝒄

Trong nhiều thế kỷ trước đó, Giao Châu là một phần của các cấu trúc chính trị do Trung Hoa kiểm soát. Phật giáo đi qua vùng đất này trong một không gian văn hóa mà Trung Hoa có ảnh hưởng rất lớn, nhưng khi Đại Việt hình thành một nhà nước độc lập, câu hỏi không còn đơn giản “Phật giáo từ đâu đến?”, người ta sẽ hỏi “Phật giáo sẽ trở thành gì trong một xã hội độc lập?”

Chính từ đây, những vị vua, những thiền sư, những trí thức và những cộng đồng địa phương bắt đầu tham gia mạnh hơn vào việc định hình Phật giáo trên vùng đất này.

𝑷/s

Tôi nghĩ cái tên Vô Ngôn Thông đáng để dừng lại một chút, bởi chính cái tên ấy gợi ra một câu hỏi mà tôi từng gặp rất nhiều lần khi đọc các truyền thống tâm linh: Tại sao chúng ta cứ phải nói?

Con người có một nhu cầu rất mạnh là phải gọi tên mọi thứ: gọi tên trải nghiệm, gọi tên trạng thái, tên người đã giác ngộ, tên phương pháp, tên con đường. Và sau khi gọi tên thì bắt đầu suy nghĩ và tranh luận: Thiền – Tịnh – Mật, Nguyên thủy – Đại thừa, Chính thống – Ngoại đạo, Đúng – Sai, Cao – Thấp.

Thực tại vốn chẳng cần ý niệm hay ngôn ngữ để vận hành. Nước vẫn chảy, mây vẫn trôi, máu vẫn vận hành trong cơ thể.

Mô tả hay đến đâu, vẫn chỉ là mô tả. Hiểu có sâu đến đâu, vẫn là đứng ở bên ngoài.

Bạn có thể mô tả chính xác hết mức cho một người chưa từng ăn chè sen về vị của nó. Người ấy có thể hiểu hết, sâu đến tận cùng lời mô tả của bạn, nhưng với người đó, chè vẫn chỉ là tưởng tượng cho đến khi… tự ăn một thìa.

Có thể vì thế mà tôi thích câu chuyện Vô Ngôn Thông gặp Bách Trượng. Có lẽ cái im lặng của ông chẳng phải là một câu trả lời đặc biệt nào cả, cũng chẳng có gì cao siêu. Có thể lúc ấy ông ấy bất chợt… nếm một thìa chè sen.

Phần còn lại, những gì người đời nói về khoảnh khắc ấy, lại trở thành một câu chuyện cao siêu phủ lên một khoảnh khắc rất bình thường của cuộc sống.

Có lẽ cũng chẳng ai giải quyết được chuyện đó. Bởi ngay cả khi ta quyết định im lặng, sự im lặng ấy cũng rất nhanh chóng trở thành thứ để người khác bàn luận.

Một vị thiền sư im lặng, người đời sau viết sách về sự im lặng của ông; một người không muốn lập tông phái, đời sau lập tông phái mang tên ông; một người không muốn người khác bám vào lời mình, người đời sau lại ghi chép từng lời ông nói.

Đời sống của các tôn giáo có lẽ luôn chứa những nghịch lý như vậy. Con người muốn thoát khỏi hình thức, nhưng rồi lại cần hình thức để truyền lại điều mình vừa tìm thấy.

Có lẽ không cần phải phán xét nghịch lý ấy. Chỉ cần thấy nó.

Và khi thấy nó, tôi bắt đầu hiểu một chút vì sao lịch sử Phật giáo lại nhiều lớp đến vậy. Luy Lâu không phải điểm bắt đầu tuyệt đối, Khương Tăng Hội không phải một “người Việt” theo nghĩa hiện đại, Tì-ni-đa-lưu-chi không đơn giản mang một thứ Thiền nguyên vẹn từ Ấn Độ xuống. Vô Ngôn Thông cũng không bước vào một Giao Châu trống rỗng.

Mỗi người đến sau đều gặp một thứ đã có trước rồi thêm vào đó một chút, lấy đi một chút, biến một chút. Vài trăm năm sau, người đời nhìn lại rồi gọi toàn bộ dòng chảy ấy bằng một cái tên: Phật giáo Việt Nam.

Nhưng trước khi trở thành “Phật giáo Việt Nam”, nó chỉ là những con người đi, ở lại, tin, nghi ngờ, và có người đôi khi chọn không nói gì.

Từ đây trở về sau, câu chuyện sẽ bước sang một thời kỳ rất khác: Đại Việt độc lập, và Phật giáo không còn chỉ là một tôn giáo đi qua vùng đất này nữa, nó bắt đầu bước vào chính cấu trúc của một quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

– Thiền uyển tập anh (禪苑集英), các truyện về Vô Ngôn Thông, Cảm Thành và dòng truyền thừa Vô Ngôn Thông. Đây là nguồn trung tâm cho câu chuyện Vô Ngôn Thông đến Giao Châu, ở chùa Kiến Sơ và truyền pháp cho Cảm Thành.

– Cuong Tu Nguyen, Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thiền Uyển Tập Anh, University of Hawai‘i Press, 1997. Đây là nghiên cứu quan trọng về Thiền uyển tập anh, đồng thời cung cấp bản dịch và phân tích lịch sử các dòng Thiền được ghi trong văn bản.
– Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, NXB Văn Học, Hà Nội, 1979, chương VI: “Thiền phái Vô Ngôn Thông”. Nguồn này trình bày truyền thống về Vô Ngôn Thông, Cảm Thành và sự hình thành dòng Thiền mang tên ông.
– Budden Gyoshi, Buddhism in Vietnam: The Southern Records of the Transmission of the Lamp, luận văn Thạc sĩ, Murdoch University, 1977. Nghiên cứu đối chiếu các dòng truyền thừa được ghi trong Đại Nam Thiền uyển truyền đăng tập lục, trong đó có dòng Vô Ngôn Thông.
– Erik Zürcher, The Buddhist Conquest of China: The Spread and Adaptation of Buddhism in Early Medieval China, Brill, 2007. Dùng để tham khảo bối cảnh Phật giáo và Thiền tại Trung Hoa thời kỳ trước và trong nhà Đường.
– John C. Maraldo / các nghiên cứu về Chan Buddhism thời Đường, dùng để đối chiếu bối cảnh hình thành và phát triển của Thiền Trung Hoa thế kỷ VIII–IX.
– Các tư liệu Hán văn về Bách Trượng Hoài Hải và truyền thừa Thiền đời Đường, đặc biệt Cảnh Đức truyền đăng lục (景德傳燈錄), dùng để đối chiếu truyền thống Trung Hoa về Vô Ngôn Thông và Bách Trượng. Một nghiên cứu gần đây lưu ý rằng tư liệu Trung Hoa có ghi một nhân vật tên Bất Ngữ Thông/Buyutong liên hệ với Bách Trượng, nhưng không ghi việc người này sang Việt Nam.

V 𝐊𝐡𝐮𝐨̂𝐧𝐠 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 – 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐮̛́𝐧𝐠 𝐛𝐞̂𝐧 𝐜𝐚̣𝐧𝐡 𝐧𝐡𝐚̀ 𝐯𝐮𝐚

Ảnh: Cột kinh Phật thời Đinh tại Hoa Lư, những dấu tích vật chất hiếm hoi cho thấy Phật giáo đã hiện diện trong không gian của nhà nước Đại Cồ Việt từ thế kỷ X. Các cột kinh được Đinh Liễn cho dựng trong khoảng 973–979.

Những bài trước đã đi từ Luy Lâu đến Khương Tăng Hội, từ Khương Tăng Hội đến Tì-ni-đa-lưu-chi, rồi đến Vô Ngôn Thông.

Mỗi người xuất hiện trong một thời kỳ khác nhau. Nhưng đến đây, câu chuyện bắt đầu thay đổi. Bởi nếu những người trước chủ yếu cho chúng ta thấy Phật giáo đi qua các vùng đất, các tuyến đường và các dòng truyền thừa thì đến thế kỷ X, chúng ta bắt đầu nhìn thấy một điều khác: Phật giáo đứng bên cạnh một nhà nước đang hình thành.

Và một trong những người đứng ở vị trí ấy là Ngô Chân Lưu, người về sau được vua Đinh Tiên Hoàng ban hiệu Khuông Việt Đại sư.

Ngô Chân Lưu được ghi nhận là người hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc. Theo Thiền uyển tập anh, ông xuất gia, học Phật và nổi tiếng về Thiền học. Đến khi khoảng bốn mươi tuổi, danh tiếng của ông đã vang đến triều đình.

Đây là những thông tin chủ yếu đến từ các nguồn Phật giáo được biên soạn về sau, vì vậy cũng như những nhân vật trước, chúng ta không nên đọc tiểu sử ông như đọc một hồ sơ hiện đại. Nhưng có một mốc mà chúng ta có thể dựa vào chính sử, năm 971, dưới triều Đinh Tiên Hoàng, triều đình định phẩm cấp cho quan văn võ và tăng đạo. Ngô Chân Lưu được phong Tăng thống và ban hiệu Khuông Việt Đại sư.

Một người tu hành, từ lúc này, đã có một vị trí chính thức trong trật tự của nhà nước. Điều đó đáng chú ý hơn cái tên Khuông Việt.

𝑲𝒉𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒔𝒖̛ 𝒕𝒓𝒐̛̉ 𝒕𝒉𝒂̀𝒏𝒉 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒑𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄

Đại Cồ Việt được hình thành sau một thời kỳ dài biến động. Năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn các sứ quân, lên ngôi Hoàng đế và đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Một nhà nước mới cần nhiều thứ: quân đội, luật lệ, cần người biết chữ, cần ngoại giao, cần nghi lễ và cũng cần những người có đủ uy tín để đứng giữa một xã hội đang được tổ chức lại. Các nhà sư lúc ấy có một lợi thế rất đặc biệt: họ có học vấn, họ biết chữ Hán, họ có kiến thức về kinh điển, họ có quan hệ với các trung tâm văn hóa bên ngoài, và quan trọng hơn họ đã tồn tại trong xã hội này từ trước khi nhà nước mới được hình thành.

Phật giáo không phải do triều đình Đinh tạo ra, nhưng triều đình nhà Đinh có thể sử dụng những nguồn lực trí thức và văn hóa mà Phật giáo đã tích lũy từ nhiều thế hệ.

𝑲𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 “𝒒𝒖𝒐̂́𝒄 𝒈𝒊𝒂́𝒐” 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒏𝒈𝒉𝒊̃𝒂 𝒉𝒊𝒆̣̂𝒏 đ𝒂̣𝒊

Có một cách kể rất quen thuộc rằng dưới các triều Đinh, Tiền Lê, Phật giáo đã trở thành “quốc giáo”. Tôi nghĩ nên cẩn thận với cách gọi ấy bởi xã hội Đại Cồ Việt thế kỷ X không phải một xã hội chỉ có một hệ tư tưởng. Tín ngưỡng bản địa vẫn tồn tại: Nho giáo, Đạo giáo, các nghi lễ dân gian, Phật giáo cũng tồn tại. Điều có thể thấy rõ hơn là Phật giáo được triều đình đặc biệt coi trọng, một số tăng sĩ giữ vị trí rất gần với quyền lực và Khuông Việt là một ví dụ rõ ràng.

Nói như vậy có lẽ chính xác hơn là biến cả một xã hội thành một “quốc gia Phật giáo”.

𝑯𝒐𝒂 𝑳𝒖̛ — 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒈𝒊𝒂𝒏 𝒎𝒐̛́𝒊

Kinh đô của nhà Đinh là Hoa Lư. Một vùng núi đá, sông nước bao quanh, vừa là thành lũy vừa là trung tâm chính trị của một nhà nước còn non trẻ. Ở đó, Phật giáo để lại những dấu tích vật chất rất đáng chú ý.

Năm 973, Đinh Liễn cho dựng những cột kinh đá khắc Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni. Những cột đá ấy không phải chỉ là câu chuyện được kể lại trong một cuốn sách, chúng là những vật thể còn lại từ thế kỷ X, chúng cho chúng ta một điều mà tiểu sử các thiền sư không phải lúc nào cũng cho: một dấu vết vật chất.

Đọc những cột kinh ấy, ta nhìn thấy một Phật giáo đã bước ra khỏi câu chuyện của những cá nhân tu hành và hiện diện trong không gian của triều đình, nghi lễ và quyền lực. Phật giáo lúc này không còn chỉ nằm trong chùa, nó đã bắt đầu nằm trong chính cấu trúc biểu tượng của một nhà nước.

𝑲𝒉𝒊 𝒕𝒉𝒊𝒆̂̀𝒏 𝒔𝒖̛ 𝒕𝒉𝒂𝒎 𝒈𝒊𝒂 𝒄𝒉𝒖𝒚𝒆̣̂𝒏 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄

Sau khi nhà Đinh suy yếu, Lê Hoàn lên nắm quyền. Phật giáo không biến mất, Ngô Chân Lưu tiếp tục được trọng dụng và bên cạnh ông còn có những cái tên khác như Pháp Thuận.

Đây là lúc các nhà sư không chỉ giảng pháp, họ tham gia ngoại giao, tham gia tư vấn, tham gia vào những công việc mà ngày nay chúng ta thường nghĩ thuộc về các nhà chính trị hoặc quan lại.

Năm 987, nhà Tống sai Lý Giác sang Đại Cồ Việt. Trong chuyến ngoại giao này, Thiền sư Pháp Thuận giả làm lái đò đối thơ trên sông, còn Khuông Việt Đại sư được giao soạn bài từ tiễn biệt (Vương lang quy). Một vị tăng viết một khúc từ tiễn một sứ thần ngoại quốc, thoạt nhìn chỉ là chuyện văn chương thơ phú, nhưng phía sau bài thơ là bản lĩnh của một quốc gia. Ở đó, Sư không chỉ là người của chùa, ông còn là một trí thức đại diện cho thể diện nước nhà.

𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒈𝒊𝒂́𝒐 𝒗𝒂̀ 𝒒𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 𝒍𝒖̛̣𝒄

Đây là đoạn lịch sử khiến tôi thấy thú vị hơn cả. Bởi từ đây, chúng ta không thể chỉ hỏi “Phật giáo đã phát triển như thế nào? Mà phải hỏi thêm: “Phật giáo đã thay đổi như thế nào khi bước vào gần quyền lực?”

Một vị tăng khi sống trong chùa có một vị trí, nhưng khi được nhà vua triệu vào triều, được phong chức, được hỏi ý kiến, được giao việc ngoại giao, vị trí ấy thay đổi.

Nhà nước sử dụng người có học, người có học bước vào nhà nước. Và khi bước vào nhà nước chính người ấy cũng trở thành một phần của nhà nước.

Đây không nhất thiết là câu chuyện về việc Phật giáo bị thoái hóa, cũng không nhất thiết là câu chuyện về việc Phật giáo phụng sự đất nước. Nó đơn giản hơn và cũng phức tạp hơn, đó là cách một tôn giáo sống trong một xã hội, khi xã hội thay đổi, vai trò của nó cũng thay đổi.

𝑽𝒂̀ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉 𝒕𝒖̛̀ đ𝒂̂𝒚, 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒄𝒂̂𝒖 𝒉𝒐̉𝒊 𝒌𝒉𝒂́𝒄 𝒙𝒖𝒂̂́𝒕 𝒉𝒊𝒆̣̂𝒏

Nếu Luy Lâu đặt câu hỏi: Phật giáo đến từ đâu? Khương Tăng Hội đặt câu hỏi: Phật giáo đi đâu? Tì-ni-đa-lưu-chi đặt câu hỏi: Thiền sẽ biến đổi thế nào khi đến Giao Châu? Vô Ngôn Thông đặt câu hỏi: Một dòng Thiền mới sẽ sống thế nào trên một vùng đất đã có Phật giáo? Thì Khuông Việt đặt ra một câu hỏi khác: Một người tu hành sẽ làm gì khi đứng bên cạnh một nhà vua?

Câu hỏi ấy sẽ còn trở nên quan trọng hơn trong những thế kỷ sau, bởi Đại Việt sẽ ngày càng lớn mạnh, kinh đô sẽ chuyển từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhà Lý sẽ xuất hiện, Phật giáo sẽ bước vào thời kỳ huy hoàng nhất của nó.

Và trong câu chuyện ấy sẽ xuất hiện một nhân vật mà có lẽ chúng ta đã nghe tên rất nhiều: Vạn Hạnh. (bài tiếp của kỳ sau)

𝑷/s

Tôi từng nghĩ tôn giáo và quyền lực là hai thứ đối lập. Một bên là người tìm kiếm đời sống tinh thần, một bên là người điều hành thế giới.

Nhưng lịch sử lại không đơn giản như vậy.

Một nhà vua vẫn cần một người có thể nói với mình về điều đúng sai, một quốc gia mới vẫn cần những người có học, một xã hội vẫn cần nghi lễ, biểu tượng và một câu chuyện để kể về chính mình.

Và một vị tăng dù muốn sống ngoài thế tục đến đâu, vẫn đang sống trong một xã hội cụ thể. Không ai sống bên ngoài lịch sử. Khuông Việt làm tôi nghĩ đến điều đó.

Ông không phải là một người chỉ đứng trong chùa nhìn thế giới đi qua, ông bước vào giữa thế giới, bên cạnh nhà vua, tham gia vào những chuyện của một đất nước vừa mới hình thành. Có thể ai đó gọi là nhập thế, người khác gọi là trí thức, rồi người khác lại nói đó là chính trị.

Nhưng những cái tên ấy đều là cách của người đời sau. Lúc đó có lẽ ông chỉ đang làm điều mà ông nghĩ mình nên làm.

Và rồi lịch sử đặt tên cho ông – Khuông Việt. Người phò trợ và gánh vác nước Việt.

Từ đây, Phật giáo không chỉ đi qua Đại Việt, nó bắt đầu đứng trong Đại Việt.

Và chẳng bao lâu nữa, sẽ có một người khác xuất hiện, một người không chỉ đứng bên cạnh nhà vua, một người sẽ được kể là đã nhìn thấy trước cả một triều đại – Vạn Hạnh.

Tài liệu tham khảo:

– Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển I: các ghi chép về triều Đinh, Ngô Chân Lưu và sự kiện năm 971; sự kiện sứ thần Lý Giác năm 987.

– Thiền uyển tập anh, truyện Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu và các thiền sư thuộc dòng Vô Ngôn Thông.

– Cuong Tu Nguyen, Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thiền Uyển Tập Anh, University of Hawai‘i Press, 1997.

– Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, các chương về Phật giáo thời Đinh – Tiền Lê và dòng Thiền Vô Ngôn Thông.

– Viện Nghiên cứu Hán Nôm, “Cố đô Hoa Lư – Một trung tâm Phật giáo thế kỷ X–XI ở nước ta”, Tạp chí Hán Nôm, số 5 (102), 2010.

– Hà Văn Tấn, các nghiên cứu về những cột kinh Phật Đỉnh Tôn Thắng ở Hoa Lư, đặc biệt bài “Từ một cột kinh Phật năm 973 vừa phát hiện ở Hoa Lư”, Nghiên cứu Lịch sử, số 76, 1965.

– Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, các phần về Phật giáo thế kỷ X và vai trò của các thiền sư trong nhà nước Đại Cồ Việt.

(Bài tiếp: Vạn Hạnh – Vị thiền sư bước vào câu chuyện của một vương triều)

Bình luận về bài viết này