
Đình Gia Miêu
Nguyễn Phước Khánh An
Ở Huế, hễ người ta nghe thấy ai có họ Nguyễn Phước (Phúc) hoặc “họ” Tôn Thất thì liền biết ngay người đó là dòng hoàng phái, là dân “các mệ”. Tuy nhiên lại không ít người thắc mắc về gốc gác của các “dòng họ” Nguyễn Phước, Tôn Thất, Tôn Nữ, Công Tôn Nữ,… đặt nghi vấn liệu có phải con cháu nhà Nguyễn hay không? Một số bài báo cũng đã viết về chủ đề này nhưng lại vô cùng thiếu sót, không những không giải thích được cặn kẽ mà còn gây thêm nhiều hiểu lầm tai hại, thế nên tôi viết bài này, mong rằng có thể giải đáp những khúc mắc trong lòng mọi người.
- Nguồn gốc họ Nguyễn Phước (Phúc) 阮福
Trước tiên về gốc gác họ Nguyễn Phước, vấn đề này đã vua Minh Mạng ghi rõ trong kim sách đế hệ thi xuất bản năm 1823, tôi xin được phép được dẫn lại như sau: “Ngã quốc gia triệu tự Thanh Hoa xứ, Hà Trung phủ, Tống Sơn huyện, chi Gia Miêu ngoại trang, tánh Nguyễn. Đại cơ thủy tiền đại thời dĩ vi cự tộc, thế đại trâm anh hà chỉ số bách dư niên, tích đức lũy nhân, dĩ hữu kim nhật, chí hóa ư Chu Gia mã vu. Thị hạo thiên xuân mạng đốc sanh ngã Triệu tổ Tĩnh hoàng đế, đế tạo hồng đồ, kế sanh ngã Thái tổ Gia dụ hoàng đế, triệu cơ nam lãng. Nãi dĩ phước tự thừa nguyễn tự, xưng quốc tính vi Nguyễn Phước. Vân liệt thánh tương thừa, dĩ thánh kế thánh, an chí ngã Hoàng Khảo Thế Tổ Cao hoàng đế kham định họa loạn yểm hữu toàn Việt, sắc định ngọc phả. Dĩ Thái Tổ tử tôn chi nhân Nam giả cập liệt thánh chi hệ vi tôn thất Nguyễn Phước tộc, Thái Tổ tử tôn chi tại Bắc thứ tiền chư phái giả vi công tánh Nguyễn Hựu tộc.”
Dịch ra nghĩa là:
“Nước ta họ Nguyễn, khởi tự tại Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa. Buổi đầu đời trước đã là họ lớn, đời đời làm quan đến hơn vài trăm năm, tích luỹ nhân đức, nên có ngày nay, thực có thể sánh với nhà Chu được. Do đó, trời cho mệnh tốt, sinh ra Triệu tổ Tĩnh hoàng đế ta, gây dựng cơ đồ lớn, kế sinh Thái tổ Gia dụ hoàng đế ta, dựng nền ở cõi Nam. Bèn lấy chữ Phước theo sau chữ Nguyễn, xưng quốc tính là Nguyễn Phước. Các thánh nối nhau, thánh này nối thánh khác, rồi đến Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, dẹp yên họa loạn mà có cả nước Việt, sắc định Ngọc phả, lấy con cháu Thái tổ vào Nam và dòng các thánh làm tôn thất họ Nguyễn Phúc, con cháu Thái tổ ở Bắc và các phái trước làm công tánh họ Nguyễn Hựu.”
Như vậy, ta có thể hiểu đại khái rằng dòng họ Nguyễn Phước vốn khởi phát từ họ Nguyễn làng Gia Miêu ngoại trang, Thanh Hóa. Khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp, theo đó mà thành lập rồi truyền qua nhiều đời chúa Nguyễn. Đến đời vua Gia Long, sau khi thống nhất giang sơn, lập ra nhà Nguyễn, vua mới quy định cách viết tộc phả: con cháu chúa Nguyễn Hoàng trong Nam thì chép theo họ tôn thất Nguyễn Phúc, còn Con cháu của chúa Nguyễn Hoàng ở Bắc và các chi trước ở Thanh Hóa thì thuộc về họ Nguyễn Hựu.
Cũng theo sách Nguyễn Phước tộc thế phả xuất bản năm 1995, vào thời gian vua Minh Mạng trị vì, vua đã hệ thống lại dòng tộc bằng cách xếp con cháu của các chúa Nguyễn vào tiền hệ và con cháu của vua Gia Long thuộc vào chánh hệ. Bên trong chánh hệ vua tiếp tục cho phân biệt thành hai hệ là đế hệ (tức dòng dõi của vua) và phiên hệ (tức dòng dõi của các anh và em vua). Sau đó, vua còn định ra thêm những cách đặt tên, cách gọi khác nhau dùng cho mỗi hệ, chính vì điều này mà dẫn đến các hiểu lầm cho rằng nhà Nguyễn có rất nhiều “dòng họ” khác nhau. Nhưng thực chất nhà Nguyễn chỉ có một họ duy nhất chính là họ Nguyễn Phước (Phúc), các chữ còn lại đều là tên lót hoặc danh xưng, tôi sẽ giải thích cặn kẽ ở phần sau.
- Cách đặt tên con cháu chánh hệ
Vào năm 1823 (tức năm Minh Mạng thứ tư), với mong muốn thực hiện được chí khí của tiên hoàng rằng con cháu sẽ được nối nghiệp dài lâu vua Minh Mạng đã tự thân soạn các bài đế hệ thi và phiên hệ thi, mỗi bài đều gồm hai mươi chữ dùng để đặt tên cho người nối dõi về sau. Bài đế hệ thi dùng để đặt tên cho con cháu dòng đế hệ, được vua cho khắc vào bộ sách vàng chế ngự. Còn các bài phiên hệ thi dùng để đặt tên cho con cháu của các anh và em vua, được vua cho khắc in vào bộ sách bạc. Cho đến nay, con cháu chánh hệ vẫn theo những quy tắc ghi trong các sách ấy mà đặt tên và đây chính là bộ sách quan trọng nhất để nhận biết hậu duệ nhà Nguyễn, tôi xin được dẫn lại một đoạn trong bộ sách vàng sách bạc đó để mọi người phần nào có thể hiểu được:
“Huống cận bách niên lai, tôn thất phồn diễn, dĩ trí danh tự toại đa trùng phức, hoàng khảo tại ngự thời ý giục canh định danh tự truyền chư tử tôn dụng thùy vĩnh cửu, tích cơ sự mạt toại dã tứ. Trẫm tư thuật tiền huy dụng thành tiên chí, thân soạn nhật tự bộ nhị thập tự. Dĩ di kế thể chí tự vị thời phương khả dĩ nhất tự vi danh thủ, nhật vi danh quân tượng chi nghĩa, năng dĩ ấu sở tứ danh vi tự cơ. Dư tử tôn cập chư huynh đệ chi tử tôn tắc soạn mỹ tự, phân vi đế hệ cập trẫm huynh Anh Duệ Thái Tử, trẫm đệ, Kiến An, Định Viễn, Diên Khánh, Điện Bàn, Thiệu Hoá, Quảng Uy, Thường Tín, An Khánh, Từ Sơn đẳng chư công chi hệ phàm thập mã. Sơ sanh thời thỉnh danh, hoàng tử danh thượng nhất tự tắc dĩ đế hệ thi, thứ đệ chi mỗ tự hạ nhất tự tắc dĩ đệ cơ thế chi mỗ tự bộ. Công tử danh thượng nhất tự tắc dĩ mỗ công hệ thi thứ đệ chi mỗ tự hạ nhất tự tắc dĩ ngũ hành tương sanh dụng thổ tự bộ vi thủy. Như đế hệ chi Miên Tông, Miên Định, Anh Duệ hệ chi Mỹ Đường, Mỹ Thùy, Kiến An hệ chi Lương Kỳ, Lương Viên, Định Viễn hệ chi Tĩnh Cơ, Tĩnh Cận, Diên Khánh hệ chi Diên Vực, Diên Đề, Điện Bàn hệ chi Tín Kiên, Tín Phác, Thiệu hóa hệ chi Thiện Khuê, Thiện Chỉ, Quảng Uy hệ chi Phượng Tại, Phượng Vu, Thường Tín hệ chi, Thường Nhâm, Thường Dung, An Khánh hệ chi Khâm Thịnh, Khâm Bích, Từ Sơn hệ chi Từ Đàn, Từ Cương. Chi loại như thị tắc thế thứ minh năng bất nại, thân sơ biệt năng khả tường. Đôn luân mục, tộc chi đạo do thị hưng. Ngọc diệp thiên hoàng chi phái do thị hiển. Ngã chi tử tôn đương tuân thủ thiện pháp, tỉ bản văn bách thế truyền ức vạn niên, dụng ngửa đáp thiên tổ chi xuân mạng khả dã thị vi tự.”
Dịch ra nghĩa là:
“Trong trăm năm gần đây, tôn thất sinh thêm nhiều, đặt tên phần nhiều trùng điệp, Hoàng khảo ở ngôi, ý muốn đổi lại chữ đặt tên để truyền cho con cháu dùng mãi lâu dài về sau, tiếc rằng việc chưa làm được. Trẫm nghĩ nối theo ý tốt tiền nhân để thành được chí của tiên thế, tự soạn ra hai mươi chữ bộ Nhật, dùng để cho người nối nghiệp về sau đến ngày nối ngôi có thể lấy một chữ làm tên, lấy theo nghĩa nhật là tượng trưng ngôi vua, mà chữ tên đặt khi tuổi nhỏ làm tên tự. Còn những con cháu và con cháu của anh em thì lại soạn những mỹ tự, chia làm dòng đế và các dòng của anh trẫm là Anh Duệ thái tử, cùng em trẫm là Kiến An công, Định Viễn công, Diên Khánh công, Điện Bàn công, Thiệu Hoá công, Quảng Oai công, Thường Tín công, Yên Khánh công, Từ Sơn công, cả thảy 10 hệ. Khi mới sinh xin đặt tên, thì tên hoàng tử chữ trên lần lượt lấy từng chữ ở bài thơ đế hệ, chữ dưới lấy chữ bộ nào về đời thứ mấy. Tên các công tử thì lần lượt lấy các chữ ở bài thơ về công hệ nào chữ dưới thì lấy ngũ hành tương sinh mà dùng bộ Thổ làm đầu. Ví như dòng đế, thì Miên Tông, Miên Định; dòng Anh duệ thì Mỹ Đường, Mỹ Thuỳ; dòng Kiến An thì Lương Kỳ, Lương Viên; dòng Định Viễn thì Tĩnh Cơ, Tĩnh Cận; dòng Diên Khánh thì Diên Vực, Diên Đề; dòng Điện Bàn thì Tín Kiên, Tín Phác; dòng Thiệu Hoá thì Thiện Khuê, Thiện Chỉ; dòng Quảng Oai thì Phượng Tại, Phượng Vu; dòng Thường Tín thì Thường Nhâm, Thường Dung; dòng Yên Khánh thì Khâm Thịnh, Khâm Bích; dòng Từ Sơn thì Từ Đàn, Từ Cương. Như thế thì thế thứ rõ ràng mà không lẫn, thân sơ phân biệt mà có thể biết rõ được. Cái đạo giữ luân lý hòa, họ hàng từ đấy thịnh lên, mà chi phái ngọc diệp thiên hoàng từ đấy rõ rệt. Con cháu ta nên theo giữ phép hay, khiến cho gốc cành trăm đời truyền ức muôn năm, để mong người báo đáp trời và tổ tiên cho mệnh tốt.”
- Cách đặt tên con cháu dòng đế hệ
Đế hệ thi:
綿(宀部)洪(亻部)膺(示部)寶(山部)永(玉部)
保(阜部)貴(亻部)定(言部)隆(才部)長(禾部)
賢(貝部)能(力部)堪(才部)繼(言部)述(心部)
世(玉部)瑞(石部)國(大部)嘉(禾部)昌(小部)
phiên âm:
Miên(miên Bộ) Hồng(nhân bộ) Ưng(thị bộ) Bửu(sơn bộ) Vĩnh(ngọc bộ)
Bảo(phụ bộ) Quý(nhân bộ) Định(ngôn bộ) Long(tài bộ) Trường(hòa bộ)
Hiền(bối bộ) Năng(lực bộ) Kham(tài bộ) Kế(ngôn bộ) Thuật(tâm bộ)
Thế(ngọc bộ) Thụy(thạch bộ) Quốc(đại bộ) Gia(hòa bộ) Xương(tiểu bộ)
Theo như quy tắc trong kim sách đế hệ thi, thì mỗi đời con cháu của vua Minh Mạng sẽ lần lượt lấy các chữ đầu của bài thơ là chữ Miên (綿), rồi đến chữ Hồng (洪), sau đến chữ Ưng (寶) làm tên lót và cứ thế đến chữ cuối của bài thơ là Xương (昌) rồi quay lại chữ Miên (綿).
Ví dụ như:
-Vua Thiệu Trị húy là Nguyễn Phước Miên Tông (綿宗), em trai của vua húy là Nguyễn Phước Miên Định (綿定), Nguyễn Phước Miên Nghi (綿宜).
-Vua Tự Đức húy là Nguyễn Phước Hồng Nhậm (洪任)
-Vua Dục Đức húy là Nguyễn Phước Ưng Chân (膺禛)
Cũng cần nói thêm rằng khi xưa hoàng tộc nhà Nguyễn đều dùng cách này để phân biệt thế thứ trong họ, bởi vậy mà ít ai cần phải xưng đầy đủ họ tên, cứ nói tên là biết người đó thuộc dòng nào, đời thứ mấy, còn họ thì bà con vẫn thầm hiểu là họ Nguyễn Phước. Tuy nhiên, sau khi triều đình Huế không còn, nhiều nhà vẫn tiếp tục theo truyền thống đó dẫn đến việc khi đăng kí tên khai sinh mới có hiện tượng ông họ Bửu, cha họ Vĩnh còn con thì họ Bảo, làm cho người ngoài cuộc hết sức bối rối.
Ngoài ra, vua Minh Mạng cũng định cho mỗi đời một chữ một bộ thủ, để khi đặt tên phải đặt theo đúng tên của bộ thủ ấy. Chẳng hạn, đời có chữ Miên phải đặt tên theo bộ Miên, đời có chữ Hồng phải đặt tên theo bộ nhân.
Ví dụ như:
-Vua Thiệu Trị húy là Nguyễn Phước Miên Tông (綿宗), vốn chữ Tông(宗) là theo bộ Miên.
-Vua Tự Đức húy là Nguyễn Phước Hồng Nhậm (洪任), vốn chữ Nhậm (任) là theo bộ Nhân.
Nhưng đến đời Tự Đức thì vua quy định chỉ có người làm vua mới phải tuân theo quy tắc ấy, còn các con của em vua đều không được đặt tên con theo bộ thủ đã quy định mà phải đặt theo bộ khác.
Ví dụ như: Vua Dục Đức không phải con ruột của vua Tự Đức nên có húy ban đầu là Nguyễn Phước Ưng Ái (膺愛) nhưng vì chữ Ái (愛) không phải bộ thị nên khi ngài lên làm vua phải đổi thành chữ Chân (禛) vốn thuộc bộ Thị. Đối với trường hợp của vua Bảo Đại cũng vậy, vì húy ban đầu của ngài là Nguyễn Phước Vĩnh Bột (永鵓), sau lên làm vua phải đổi thành Vĩnh Thụy (永瑞) vì chữ Thụy (瑞) mới thuộc bộ ngọc.
Chưa dừng lại ở đó, vua Minh Mạng còn định ra hai mươi chữ bộ nhật để cho con cháu đến ngày làm vua có thể dùng làm tên húy, còn tên đặt lúc nhỏ dùng làm tên tự. Hai mươi chữ đó là:
Tuyền Thì Thăng Hạo Minh
Biện Chiêu Hoảng Tuấn Thiển
Trí Huyên Giản Huyên Lịch
Chất Tích Yến Hy Duyên
Ví dụ như:
-Vua Tự Đức lúc nhỏ húy là Nguyễn Phước Hồng Nhậm, sau khi vua lên ngôi thì đổi húy thành Nguyễn Phước Thì.
-Hầu hết các đời vua triều Nguyễn đều tuân theo quy tắc ấy: vua Hiệp Hòa khi lên ngôi lấy húy là Nguyễn Phước Thăng, vua Kiến Phúc lên ngôi lấy húy là Nguyễn Phước Hạo cho đến vua Bảo Đại là kết thúc. Duy chỉ có vua Dục Đức là không theo quy tắc vì vua chỉ lên ngôi ba ngày nên chưa kịp cải tên húy.
- Cách đặt tên con cháu dòng phiên hệ
Theo như ngân sách phiên hệ thi, thì mỗi đời con cháu của các anh và em vua Minh Mạng sẽ lấy một chữ trong bài phiên hệ thi thuộc về dòng của chính mình làm tên lót. Chẳng hạn dòng Anh Duệ chữ đầu là Mỹ (美) thì có Mỹ Đường (美堂), Mỹ Thùy (美垂).
Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng khi đặt tên cần phải đặt đúng với bộ thủ ứng với ngũ hành tương sinh mà bộ thổ là bộ đứng đầu, rồi tới bộ kim, thủy, mộc hỏa. Ví dụ đời đầu của dòng Anh Duệ là chữ bộ thổ nên tên của con cháu chỉ được dùng bộ này như Mỹ Đường (美堂) với chữ Đường(堂) theo bộ thổ, đời kế đến là bộ kim thì có Lệ Chung (麗鐘) với chữ Chung (鐘) thuộc bộ Kim.
Phiên hệ thi
Anh Duệ hệ
Mỹ Lệ Tăng Cường Tráng 美 麗 增 彊 壯
Liên Huy Phát Bội Hương 聯 輝 發 佩 香
Linh Nghi Sùng Tốn Thuận 令 儀 咸 巽 順
Vĩ Vọng Biểu Khiêm Quang 偉 望 表 坤 光
Kiến An hệ
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật 良建寧和術
Du Hành Suất Nghĩa Phương 攸行率義方
Dung Di Tương Thức Hảo 融怡相式好
Cao Túc Thái Vi Chương 高宿彩為章
Định Viễn hệ
Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái 靖懷瞻遠愛
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha 景仰茂聲珂
Nghiễm Cách Do Trung Đạt 儼恪由衷達
Liên Trung Tập Cát Đa 連忠集吉多
Diên Khánh hệ
Diên Hội Phong Hanh Hợp 延會豐亨合
Trọng Phùng Tuấn Lãng Nghi 重逢儁朗宜
Hậu Lưu Thành Tú Diệu 厚留成秀妙
Diễn Khánh Thích Phương Huy 衍慶適芳徽
Điện Bàn hệ
Tín Điện Tư Duy Chính 信奠思維正
Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh 誠存利妥貞
Túc Cung Thừa Hữu Nghị 肅恭承友議
Vinh Hiển Tập Khanh Danh 榮顯襲卿名
Thiệu Hóa hệ
Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lý 善紹期循理
Văn Tri Tại Mẫn Du 聞知在敏猷
Ngưng Lân Tài Chí Lạc 凝麟才至樂
Địch Đạo Doãn Phu Hưu 迪道允孚休
Quảng Uy hệ
Phượng Phù Trưng Khải Quảng 鳳符徵啟廣
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ 金玉卓標奇
Điển Học Kỳ Gia Chí 典學期加志
Giáo Di Khắc Tự Trì 教彝克自持
Thường Tín hệ
Thường Hựu Tuân Gia Huấn 常佑遵家訓
Lâm Trang Túy Thạnh Cung 臨莊粹盛恭
Thận Tu Di Tiến Đức 慎修彌進德
Thụ Ích Mậu Tân Công 受益懋新功
An Khánh hệ
Khâm Tòng Xưng Ý Phạm 欽從稱懿範
Nhã Thịnh Thủy Hoằng Quy 雅正始弘規
Khải Đễ Đằng Cần Dự 愷悌滕勤譽
Quyến Ninh Cộng Tập Hi 眷寧共緝熙
Từ Sơn hệ
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm 慈采揚瓊錦
Phu Văn Ái Diệu Dương 敷文藹耀陽
Bách Chi Quân Phụ Dực 百支勻輔翼
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương 萬葉効匡襄
III. Về các danh xưng trong triều đình nhà Nguyễn
a. Về danh xưng Tôn Thất 尊室
Các chữ Tôn Thất (尊室) vốn là Tông Thất (宗室) nhưng vì kiêng húy vua Thiệu Trị là Nguyễn Phước Miên Tông (綿宗) nên phải đổi thành Tôn (尊). Tôn Thất vốn là từ dùng để chỉ người thuộc dòng họ nhà vua, thế nên có cả Tôn Thất nhà Lý, Tôn Thất nhà Trần, Tôn Thất nhà Lê, chứ Tôn Thất không phải họ riêng của nhà Nguyễn. Theo sách Nguyễn Phước tộc thế phả, năm 1829 (tức năm Minh Mạng thứ 10), vua xuống chiếu quy định từ nay con cháu dòng phiên hệ và tiền hệ không được xưng quốc tính là Nguyễn Phước nữa mà phải gọi chung là Tôn Thất. Vì lẽ đó mà trong hoàng tộc mới có việc phân ra Tôn Thất viễn chi tức chỉ tiền hệ và Tôn Thất cận chi tức chỉ dòng phiên hệ để tránh nhầm lẫn.
Ví dụ: Phụ chánh Đại thần Tôn Thất Thuyết, bản thân ông là hậu duệ của chúa Nguyễn Phước Tần, có húy là Nguyễn Phước Thuyết nhưng do quy định trên mà trong người ta vẫn luôn gọi là Tôn Thất thay vì họ của ông.
Như vậy, ta hiểu rằng Tôn Thất vốn không phải là một họ, mà chỉ là một danh xưng dành cho con cháu của dòng phiên hệ và tiền hệ. Ngày xưa khi giáo dục Nho học vẫn còn phổ biến, hễ nghe ai có họ Tôn Thất thì người ta biết ngay người đó là thuộc dòng họ nhà vua tức họ Nguyễn Phước. Nhưng ngày nay, do giữ cách gọi này quá lâu khiến cho nhiều người nhầm tưởng rằng Tôn Thất là một họ, ngay cả bản thân con cháu các dòng tiền hệ và phiên hệ cũng không biết mà đến nay vẫn dùng Tôn Thất như họ của gia đình.
Chẳng hạn như con trai của giáo sư Tôn Thất Bách lại được đặt là Tôn Hiến Anh vốn chẳng liên quan gì đến họ Nguyễn Phước. Hay như Kỷ ngoại hầu Tôn Thất Cường Để, bản thân ông thuộc dòng Anh Duệ, nhưng để tránh sự chú ý ông vẫn luôn dùng tên thật của mình là Nguyễn Phước Cường Để khi tham gia các phong trào kháng Pháp.
b. Về danh xưng Tôn Nữ 尊女
Các chữ Tôn Nữ (尊女) vốn là Tông Nữ (宗女) nhưng vì kiêng húy vua Thiệu Trị là Nguyễn Phước Miên Tông (綿宗) nên phải đổi thành Tôn (尊). Tôn Nữ vốn là từ dùng để chỉ những người con gái mang họ vua. Vì vậy, giống với Tôn Thất, Tôn Nữ là một đã có từ các thời Lý, Trần, Lê chứ không riêng gì thời Nguyễn. Cũng trong năm 1829, vua Minh Mạng đã quy định rằng con gái các dòng phiên hệ và tiền hệ từ nay đều dùng Tôn Nữ để gọi chữ không dùng quốc tính nữa. Từ đó ta có Tôn Nữ là một danh xưng dành cho những người phụ nữ thuộc dòng phiên hệ và tiền hệ.
c. Về danh xưng Tôn Nữ 孫女
Khác với chữ Tôn Nữ nhắc đến ở trên Tôn Nữ (孫女) ở đây là một từ dùng để chỉ cháu gái hoặc chắt gái của vua. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, năm 1829 vua Minh Mạng xuống chiếu dụ rằng: “con hoàng tử gọi là công tử, thực chưa hợp lý, vậy từ nay về sau phàm con các hoàng tử đều gọi là hoàng tôn, những cháu của hoàng tử đều gọi là hoàng tằng tôn; các chắt hoàng tử đều gọi là hoàng huyền tôn, về gái cũng theo lệ ấy, không được gọi bừa, nếu ai phạm vào điều đó thì lấy luật trị tội để cho có sự phân biệt”. Đúng theo nguyên tắc vua đặt ra, ta có Công Tôn Nữ (公孫女) để gọi cháu gái (bên nội) của vua, có Công Tằng Tôn Nữ (公曾孫女) để gọi chắt gái vua (bên nội) và có Công Huyền Tôn Nữ (公玄孫女) để gọi chít gái (bên nội) của vua. Như vậy cũng giống như Tôn Thất và Tôn Nữ (尊女) nói đến ở phần trên, đây cũng chỉ là một danh xưng dành cháu gái, chắt gái và chít gái của vua, chứ không phải họ riêng của nhà Nguyễn.
IV. Về chuyện đặt tên dòng tiền hệ sau năm 1945
Ngoài quy định về việc dùng Tôn Thất để gọi ra, có thể thấy rằng dòng tiền hệ không có bất kỳ quy tắc nào để đặt tên, vì vậy trước năm 1945, bà con dòng này đều chỉ lấy tên một chữ, như vậy vừa hay phân biệt được với dòng phiên hệ mà cũng cho thế thứ được rõ ràng.
Nhưng kể từ sau năm 1945, khi mà ngày càng có nhiều người thôi không dùng các danh xưng ở trên nữa mà bắt đầu dùng lại họ Nguyễn Phước, từ đó nhu cầu đặt tên lót cho con em mình cũng xuất hiện. Ví dụ như bà con của tôi là hậu duệ Chúa Võ nhưng vẫn lấy tên hai chữ là Minh Khôi thay vì một chữ như trước. Khi tôi hỏi sự tình thì hiểu rằng bà con thêm chữ lót nhưng đều là các chữ không có trong đế hệ thi và phiên hệ thi để đặt tên, tôi nghĩ đây cũng nên xem là một “luật bất thành văn” trong phương pháp đặt tên của họ Nguyễn Phước trong thời đại ngày nay.
V. Kết Luận
Nói tóm lại, nhà Nguyễn chỉ có một họ duy nhất là họ Nguyễn Phước (Phúc). Các chữ Tôn Thất, Tôn Nữ, Công Tôn Nữ,… Hết thảy đều là danh xưng và các chữ đứng trước các danh xưng này đều là tên lót được quy định chứ hoàn toàn không phải một họ nào hết. Tôi xin trân trọng cảm ơn người nào đã cố gắng đọc đến những dòng này, tôi mong rằng bài viết của tôi có thể làm sáng tỏ dù chỉ chút ít khúc mắc trong lòng của mọi người, chúc mọi người một ngày tốt lành.
bài viết hay!
ThíchThích