
GS. Chương Thâu-Viện Sử học VN
“Ông Hồ Học Lãm là người yêu nước cùng thời với Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân là những bậc lão thành cách mạng, hết lòng vì nước vì dân. Tuy chưa phải là người cộng sản, nhưng chúng ta cũng coi ông Hồ Học Lãm như một người trong tổ chức chúng ta. Nếu ông còn sống, có thể mời ông tham gia chính phủ, làm chủ tịch nước năm 1945…” – Hồ Chí Minh ([1]).
Hồ Học Lãm, còn có tên là Hồ Xuân Lan, sanh năm 1884, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học. Ông là cháu gọi Án sát Hồ Bá Ôn bằng bác ruột, liệt sĩ chống Pháp giữ thành Nam Định và hy sinh năm 1883, gọi liệt sĩ Hồ Bá Kiện (con của Hồ Bá Ôn) bằng anh, người chiến sĩ cách mạng hy sinh tại nhà tù Lao Bảo năm 1915.
Cha ông là Hồ Bá Trị (em ruột Hồ Bá Ôn), một nghĩa binh tham gia tích cực phong trào Cần Vương ở địa phương và tử nạn trong trận chiến đấu với bọn thực dân xâm lược tại quê nhà ngày 24–12–1885.
Mẹ của Hồ Học Lãm là Trần Thị Trâm, thường gọi là “Bà Lụa”, bởi vì bà thường đóng vai người buôn bán lụa để làm “liên lạc” cho nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau đó lại tích cực tham gia các công tác của Duy Tân hội, vận động thanh niên Đông Du… rồi Việt Nam Quang phục hội và các phong trào yêu nước khác cho đến năm bà già yếu.
Hồ Học Lãm sinh trưởng trong môi trường “gia đình và quê hương cách mạng”, sớm giác ngộ tư tưởng yêu nước, căm thù giặc, nên đến năm 1906, ông đã được chọn là một trong số thanh niên ưu tú của xứ Nghệ, xuất dương du học tại Nhật Bản, do chính Phan Bội Châu, lãnh tụ của Duy Tân hội trực tiếp lãnh đạo.
Bấy giờ, Phan Bội Châu đã đề ra tiêu chuẩn của du học sinh: “Chọn trong đám con em trẻ tuổi, những người thông minh, có chí, lại chịu được lao khổ…” và Hồ Học Lãm đã đạt được những tiêu chuẩn đó. Ông được bố trí vào học tại trường quân sự Chấn Võ học hiệu (Shimbu Gakko-Tokyo) để được đào tạo thành “chiến sĩ của cuộc đấu tranh chống Pháp giành độc lập cho dân tộc”. Ông chọn một cái tên mới: Hồ Hinh Sơn để đăng ký quân tịch. “Hinh Sơn”, chính là tên một ngọn núi ở phía Tây làng Quỳnh, hình như cái bảng, được gọi là “Giáp bảng”, bảng ghi danh những người có công trạng lớn, đỗ đạt cao.
Trường Chấn Võ vốn là một trường Quân sự, được lập ra để thu nạp học sinn người Trung Quốc (theo thỏa thuận giữa hai nước Nhật – Trung), đào tạo sĩ quan cho Trung Quốc. Học viên đều mang “quốc tịch Trung Hoa”. Nhờ sự khéo léo thương thảo của Phan Bội Châu, nên “Chấn Võ học hiệu” có thu nhận một số “Lưu học sinh Việt Nam” (mang quốc tịch Thanh Quốc), trong đó có Hồ Hinh Sơn.
Tại đây, Hồ Hinh Sơn và các đồng học chịu sự huấn luyện đào tạo khá quy củ, được biên chế vào các ban ngành chuyên môn để học tập. Buổi sáng, học văn hóa gồm ngôn ngữ, văn học, toán, lý, hóa, sử, địa… tu thân, luân lý v.v… tất cả đều dạy bẳng tiếng Nhật. Buổi chiều học tập tri thức quân sự, mà chú ý nhất là luyện tập ở thao trường. Việc giảng dạy các khóa trình đều do ngươi Nhật thực hiện.
Cũng tại đây, Phan Bội Châu còn tổ chức ra “Việt Nam Công hiến hội” để quản lý các mặt học tập (tự tu) hoạt động (văn nghệ, chính trị), sinh hoạt khác của gần 200 lưu học sinh trên đất Nhật lúc bấy giờ. Có thể nói, “Công hiến hội” đã đóng vai trò “người tổ chức” hỗ trợ rất đắc lực, rất hữu hiệu đối với mọi hoạt động của phong trào Đông Du. Theo như sau này Phan Bội Châu kể lại trong “tập tự truyện Phan Bội Châu niên biểu”. Hội đã góp phần tích cực đào tạo được một số cán bộ cách mạng mới, có nhiệt tình yêu nước, có phẩm chất cao. Phan Bội Châu đã trân trọng ghi lại nhiều gương mặt sáng giá như: Đặng Tử Mẫu, Hồng Đình Tuân, Lương Lập Nham, Hoàng Trọng Mậu… và cả Hồ Hinh Sơn (tức Hồ Học Lãm) nữa.
Hồ Hinh Sơn chưa kịp mãn khóa tốt nghiệp tại Chấn Võ học hiệu, thì đầu năm 1909 phong trào Đông Du bị chính phủ Nhật (do sự thỏa thuận với thực dân Pháp) giải tán, trục xuất. Ông lại theo Phan Bội Châu về Trung Quốc.
Đoàn học sinh “Đông du” bị giải tán, một số lớn về lại nguyên quán Nam Kỳ, số ít hơn “lưu lạc” qua Trung Quốc. Sau một thời gian ngắn, số anh em quê ở Bắc về Trung Kỳ, nhất là quê Nghệ Tĩnh, lại được Phan Bội Châu thu xếp để được vào học tiếp ở các trường Quân sự của Trung Quốc, như Trường Quảng Tây Lục quân cán bộ học trường có: Trần Hữu Lực, Nguyễn Tiếu Đẩu, Nguyễn Thái Bạt; Trường Bắc Kinh quân nhu học hiệu có: Lưu Khải Hồng, Nguyễn Yến Chiêu; Trường Bảo Định sĩ quan học hiệu có Lương Lập Nham, Lâm Quảng Trung, Hồ Hinh Sơn (tức Hồ Học Lãm) v.v… các trường này đều đào tạo sĩ quan cách mạng Trung Quốc cho Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn.
Học tại đây, được vài năm thì cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, cũng vừa lúc Hồ Hinh Sơn (tức Hồ Học Lãm) tốt nghiệp mãn khóa. Ông được biên chế về Bộ Tổng tham mưu quân cách mạng của lãnh tụ Tôn Trung Sơn do Tưởng Giới Thạch làm Ủy viên Tổng tài. Sau này có tên là Tưởng Ủy viên trưởng. Hồ Học Lãm, từ nay đã có một cương vị là sĩ quan, lại là người thân cận của các sĩ quan cấp cao nhất của “Chính phủ Trung Hoa Dân quốc”, ông sẽ có điều kiện phát huy “lợi thế” của mình để tích cực giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam.
Là một sĩ quan quân đội cách mạng, ông từng tham gia nhiều chiến trận trong cuộc cách mạng lần thứ hai của Quốc dân đảng đánh lại các thế lực đối lập thuộc phe cánh Viên Thế Khải và các thế lực “quân phiệt” khác. Đồng thời, lúc này Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu cũng đã được thành lập và hoạt động trên đất Trung Quốc, ông có mối quan hệ mật thiết với các vị lãnh đạo của hội, vẫn là một thành viên cốt cán của Hội. Do đó, năm 1912, khi Việt Nam Quang phục quân Chính phủ ra đời, hoạt động theo một “phương lược của Việt Nam Quang phục quân” khá quy củ nhằm “khu trục Pháp tặc, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hòa dân quốc”. Tôn chỉ của Quang phục hội của các nhà cách mạng Việt Nam, gần như mô phỏng theo tôn chỉ của Trung Quốc Đồng minh hội của Tôn Trung Sơn thời kỳ Cách mạng Tân Hợi. Và “Quang phục quân Phương lược” cũng mô phỏng theo “Phương lược” của quân cách mạng Trung Quốc. Người biên soạn “Phương lược”, theo Phan Bội Châu nói là hai chương đấu để Phan Bội Châu viết, hai chương sau “Kỷ luật của bản quân” và “kế hoạch của bản quân” do Hoàng Trọng Mậu viết. Nội dung của từ chương III trở đi như “25 điều răn quân đội”; “4 điều cần chú ý trong quân thứ”; “45 điều thuộc chương IV” viết vào thời kỳ quân chính, biên chế quân đội (riêng về bộ binh). Tổ chức các Ngũ, Thập, Cai, Đội, Cơ, Vệ, Doanh, Trấn v.v… cho đến các vấn đề quân nhu, quân khí, trang phục, phù hiệu v.v… đều nhất nhất mô phỏng theo quân đội cách mạng Trung Quốc lúc đó
([2]) . Những “quy định cụ thể” của đội quân Quang phục này được soạn thảo thành các điều lệ, điều lệnh như vậy… nên có sự bàn bạc, góp ý, tham khảo tài liệu của “Trung Quốc cách mạng quân chế”, mà lúc đó Hồ Học Lãm là người có điều kiện tham gia với Phan Bội Châu, Hoàng Trọng Mậu… nhiều nhất.
Năm 1914, Hồ Học Lãm được điều về bộ Tham mưu ở dinh Đô đốc Chiết Giang đóng tại thủ phủ Hàng Châu. Tại đây, quân đội Chính phủ cách mạng cho xuất bản tờ Binh sự tạp chí. Tờ báo này chuyên nghiên cứu về các vấn đề quân sự, phát hành hàng tháng, mỗi số dày 200 trang khổ 22 x 14cm, số 1 ra mắt vào tháng 3 – 1914 vào kéo dài đến 14 năm, số cuối cùng là 160 vào cuối năm 1926. Trụ sở Biên sự tạp chí đặt tại “Hàng Châu cựu Hàng phủ Lục quân Đồng bào xã”, chính là nơi làm việc của Bộ Tham mưu Lục quân Chiết Giang của Hồ Học Lãm. Ban biên tập của Tạp chí goi là “Chiết Giang Quân sự Biên tập xứ”, có một “Ký túc xá” cho các nhân viên tạp chí ăn ở tập thể. Tổng Kinh lý (tức Chủ nhiệm). Binh sự tạp chí là ông Lâm Chí Hà (tức Lâm Lượng Sinh). Ông này người tỉnh Phúc Kiến có cảm tình sâu sắc đối với các nhà cách mạng Việt Nam. Hồ Học Lãm lúc đó cũng ăn ở tại “Đồng bào xã” (tức nhà ở tập thể của Binh sự tạp chí). Các nhà cách mạng Việt Nam lưu vong cũng “tá túc” ở đây. Đặc biệt, từ tháng 3 –1917, cụ Phan Bội Châu sau khi ra tù cũng lên ở tại nhà tập thể này do Hồ Học Lãm bảo lãnh ở dài hạn. Sau đó, được mời làm “biên tập viên” cho tờ Tạp chí này, cũng như Hồ Học Lãm, cụ Phan là một “biên tập viên thường trực” của các chuyên mục như Luận thuyết, Chiến sử, Học thuật, Liệt quốc quân tình, Tạp thơ, Văn thi lục v.v…
Phan Bội Châu và Trần Trọng Khắc dần dần trở thành chân “bỉnh bút” quan trọng, được hưởng lương đều hàng tháng từ 50 – 70 đồng, đủ sống và chu cấp cho các bạn đồng hương ở tại “cơ sở cách mạng Hàng Châu” này. Còn Hồ Học Lãm là quan chức có vị trí đặc biệt, được Bộ Tham mưu Chiết Giang hết sức trọng thị. Ngoài việc quân, ông luôn viết những bài có ý nghĩa “lý luận quân sự” trên các mục Luận thuyết, Học thuật. Trong số 160 số Biên sự tạp chí từ 1914 – 1926 mà chúng tôi có dịp đọc lướt qua, đã có đến trên 40 bài quan trọng của tác giả Hồ Học Lãm hoặc dưới bút danh Hinh Sơn, Hồ Ngọc Lãm, Ngọc Lâm. Những bài có tựa đề như:
“Chiến lược, chiến thuật thượng phán đoán lực chi dưởng thành pháp” (Cách bồi dưỡng năng lực phán đoán về chiến lược và chiến thuật cho cán bộ quân sự)(số 39).
“Pháp Đức Nhật tam quốc chiến thuật tỷ giảo chi nghiên cứu” (Nghiên cứu so sánh chiến thuật của ba nước Đức, Pháp và Nhật) (số 40…).
“Quân nhân chi đạo đức luận” (Bàn về đạo đức người lính) (số 74).
“Ngô ư Âu chiến chi giảng hòa quan”(Cách nhìn của tôi về vấn đề giảng hòa trong chiến tranh châu Âu) (số 47).
“Luận dụng binh quý chủ động” (Tính chủ động trong chiến tranh) (số 50).
“Tùng Âu chiến thực nghiệm sở đắc cơ quan thương chi tân chiến thuật cập tân kỹ thuật” (Chiến thuật mới và kỹ thuật mới từ khi thực nghiệm thành công súng máy trong chiến tranh châu Âu)(số 54 đến106).
“Đối ư quân chế binh ngạch chi ý kiến” (65).
v.v…
Rất nhiều “luận văn” có ý nghĩa tổng kết Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đánh giá quân lực cách mạng Trung Quốc, phép dùng binh của các nước phương Đông… cùng là những vấn đề về binh khí, súng máy, súng trường, đại bác, đạn dược… kể cả các vấn đề quân phòng, quân kỷ, quân chế, lương hướng, phiên hiệu v.v… đều được Hồ Học Lãm khảo sát, đúc rút, nhận xét, kết luận nêu ra nhiều ý kiến xác đáng như một nhà “lý luận quân sự” thông thạo cả về chiến lược, chiến thuật quân sự của thời bấy giờ. Rất tiếc, chúng tôi không có điều kiện đọc kỹ, nghiên cứu sâu vào các vấn đề của lĩnh vực quân sự này để có thể đưa ra một nhận định đánh giá thỏa đáng về nhân vật khả kính này (xem thêm các bài dịch trong Tạp chí lịch sử quân sự VN).
Mặt khác, thông qua một số bài thơ “thuật hoài”, “cảm tác”, “luận về đạo đức của người ái quốc, của quân nhân cách mạng” đăng rải rác trong các chuyên mục “Văn tuyển”, “Biệt lục” của tờ Binh sự tạp chí trong hơn 10 năm, từ 1914 – 1926, cũng thấy được tư tưởng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, tấm lòng “vì dân, vì nước” của Hồ Học Lãm khá là cảm động, tạm dịch là “Nằm gai nếm mật, hùng dũng vượt ra ngoài biên giới nước Việt; Mười năm qua ngày càng thêm nhớ lời giáo huấn; Nêu cao uy danh (Tổ Quốc) hợp với hướng hoạt động hải ngoại; Há chăng có ngày đạp đổ bọn Vua chúa bạo tàn ư !” ([1]). Chẳng hạn trong bài Luận quân nhân chí ái quốc tâm (Bàn về lòng yêu nước của người quân nhân) đăng ở số báo 27, ông viết về người lính quân đội cách mạng Trung Quốc, mà vẫn có những câu nhắc nhở các bạn đồng hương đang phải sống tha hương, rằng: “Việt điểu sào ham chi, Hồ mã tê bắc phong” v.v… Hoặc trong bài Luận quốc gia nội loạn chi nguyên nhân (bàn về nguyên nhân nội loạn của nước nhà), ông viết: “Ta hồ! Âu phong Mỹ vũ tương bức nhi lai. Quốc khốn dân cùng chí thử dĩ cực !”…
Hoặc bài Quân nhân kim nhật chi khả ưu thuyết (Nói về sự đáng buồn của những người lính hôm nay), có câu: “Ta! Ngã đồng bào! Thiên hạ hưng vong, thất thu hữu trách. Ngã đồng bào khởi khả cẩn nhật thâu an tai!”…
Rõ là giọng văn tuyên truyền cổ động lòng yêu nước hệt như thơ văn yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Chẳng trách mà Phan Bội Châu tỏ ra rất yêu quý, kỳ vọng ở người đồng chí trẻ tuổi này. Cho nên, chẳng bao lâu sau, khi từ “cơ sở cách mạng Bạn Thâm, Đông Bắc nước Xiêm”, do Đặng Thúc Hứa giới thiệu người thiếu nữ con gái yêu của nhà cần vương Ngô Quảng là cô Ngô Thị Khôn Duy qua Trung Quốc học tập, đã đến tại “cơ sở Hàng Châu” này, thì cụ Phan Bội Châu lại là người “mai mối” để tác thành cặp uyên ương “Hồ Học Lãm – Ngô Khôn Duy” thành đôi vợ chồng thật xứng hợp. Họ vừa là vợ chồng, vừa là đồng chí thấm thiết bên nhau vì sự nghiệp của dân của nước, của cách mạng Việt Nam cho tận lúc mãn chiều xế bóng và cùng để lại cho đời tấm gương trong mà mọi người Việt Nam yêu nước có thể soi vào.
([1]) Hoàng Thanh Đạm sưu tầm và dịch
Hồ Học Lãm tuy là “sĩ quan” của quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, nhưng ông và gia đình ông ở Hàng Châu là một “cơ sở cách mạng” rất quan trọng của các nhà chí sĩ Việt Nam lưu vong mà đứng đầu là Phan Bội Châu. Chính từ “cơ sở” này mà Phan Bội Châu đã cùng với Hồ Học Lãm vực dậy phong trào cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Những người Việt Nam yêu nước đã hội tụ về Hàng Châu. Lớp lớp thanh niên Việt Nam, sau chiến tranh 1914 – 1918 xuất dương sang Trung Quốc tìm đường cứu nước cũng đã dừng chân tại địa điểm, tại một cơ sở an toàn như “có bảo hiểm” này của Hồ Học Lãm. Vì Hồ Học Lãm có uy tín với cách mạng Trung Quốc, với các tướng lĩnh Trung Quốc… họ có thể che chở cho Việt Nam.
Đáng chú ý là từ những năm 1919, 1920 có mấy chục thanh niên Việt Nam, lần lượt đến Hàng Châu với Phan Bội Châu. Trong đó có Hồ Bá Cự tức Hồ Tùng Mậu sau này là người cháu gọi Hồ Học Lãm bằng chú, đã đến đây rồi được gia đình ông nuôi dưỡng, chu cấp, tạo điều kiện cho học tập tại các trường văn hóa và ngoại ngữ đến “thành tài”, đặc biệt Hồ Tùng Mậu đã được các chí sĩ lớp trước nhất là Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm… góp phần tác thành cho cả về nhân cách, về tư tưởng, về đường lối cứu nước. Đến mùa hè 1923, Hồ Tùng Mậu đã cùng với 6 bạn thanh niên khác cùng chí hướng (vốn sinh sống học tập tại Hàng Châu) là Lê Văn Phan (tức Lê Hồng Sơn), Nguyễn Giảng Thanh, Đặng Xung Hồng (tức Đặng Hữu Bằng hoặc Đặng Đoàn Bằng), Trương Quốc Uy, Lê Cầu (tức Tống Giáo Cầu) và Nguyễn Công Viễn (tức Lâm Đức Thụ) cùng nhau “sáng lập” ra Tâm Tâm Xã (cũng có tên là Tân Việt thanh niên đoàn).
Hồ Tùng Mậu đã đi bước đi đầu tiên trong thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa từ vòng tay của các chí sĩ tiền bối, sau đó được sự dìu dắt, cộng tác và lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và trưởng thành nên một trong số các vị lãnh đạo của Đảng ta. Sự nghiệp của người chiến sĩ cách mạng của người cộng sản kiên cường, bất khuất là Hồ Tùng Mậu… rõ ràng là được thụ hưởng rất nhiều ở truyền thống quê hương, dòng tộc, của các bậc cha chú gần gũi, mà trong đó có vai trò của Hồ Học Lãm, từ những ngày Hồ Tùng Mậu mới đến Trung Quốc, năm 1920, 1923, 1924 v.v…
Cùng với Hồ Tùng Mậu và các thanh niên Việt Nam yêu nước khác bấy giờ cũng được Hồ Học Lãm tận tình giúp đỡ như vậy. Về sau, từ những năm 1925 trở đi, khi Trường “Quân quan học hiệu” tức Trường Quân sự Hoàng Phổ mở tại Quảng Châu, có nhiều thanh niên Việt Nam được chọn vào học như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Lê Quảng Đạt… và các thanh niên lớp sau nữa đều nhiều ít có sự giới thiệu giúp đỡ hoặc trực tiếp can thiệp của Hồ Học Lãm. Vì ở đấy từ các vị Giám học, Hiệu trưởng, Giáo sư như Tưởng Trung Chánh (TGT), Lý Tế Thâm, .v.v… đều có quan hệ tốt với Hồ Học Lãm từ nhiều năm trước.
Từ cuối năm 1920, Hồ Học Lãm thuyên chuyển công tác đến Nam Kinh và tiếp tục hoạt động trong quân ngũ Quốc dân đảng Trung Quốc đến tận 1937. Ở đây, với tư cách là một sĩ quan cao cấp, hơn thế nữa vẫn là “một nhà yêu nước nhiệt thành”, tính tình trầm mặc, tác phong cẩn trọng… ông và gia đình ông vẫn là “một cơ sở cách mạng” rất tin cậy của các nhà yêu nước, của các chiến sĩ cộng sản Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc. Gia đình ông, như nhiều người đã viết và như nhiều tài liệu đã ghi nhận:
“Có thể nói trong nhiều năm, ngôi nhà của ông Hồ Học Lãm ở Nam Kinh”, theo cách nói của anh em ta lúc bấy giờ “ hệt như một trạm đón tiếp nồng hậu, một trạm xá tận tình chữa bệnh, an dưỡng cho cán bộ (cách mạnh) lúc ốm đau, bệnh tật. Lúc ít cũng hai, ba đồng chí; lúc đông tới mươi, mười lần người. Có đồng chí dừng chân vài ba ngày. Nhưng cũng có đồng chí, một hai ba tháng. Ngoài ăn uống, thuốc men, đồng chí nào sức yếu, mùa đông lạnh còn có cả áo “ba đờ xuy” bằng len dạ. Ông bà coi như một nghĩa vụ của mình đối với cách mạng” ([3]).
Dựa vào uy tín của mình và mối quan hệ tốt với Tưởng Giới Thạch, Hồ Học Lãm đã nhiều lần che giấu, cứu mạng… thậm chí “dám lấy đầu mình để cứu những người cách mạng Việt Nam”. Năm 1928, qua tin tức của kiều bào, bác Hồ đã cử Lê Thiết Hùng đến Nam Kinh gặp Hồ Học Lãm, nhờ ông bố trí cho Lê Thiết Hùng vào công tác ở ngay trong quân đội Quốc dân đảng và giữ mối liên lạc giữa Bác Hồ với Hồ Học Lãm và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ năm 1930 đến năm 1933, tuy gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm đến tính mạng, Hồ Học Lãm vẫn thu thập được nhiều tư liệu về năm lần quân Quốc dân đảng tấn công vào khu vực Xô−Viết, thông qua Lê Thiết Hùng, báo cáo Đảng Cộng sản Trung Quốc biết để phá các cuộc vây quét của đối phương, góp phần vào thắng lợi của Hồng quân công nông Trung Hoa. Có lần, Hồ Học Lãm từ Nam Kinh đến Thượng Hải gặp Nguyễn Lương Bằng đưa nhau vào hiệu ăn cơm và ngỏ ý: “Nếu Đảng cần, cho tôi về nước cầm quân đánh Pháp” ([4]).
Khoảng cuối năm 1935, cùng với một số người yêu nước chân chính, Hồ Học Lãm lập ra “Việt Nam độc lập vận động đồng minh hội” gọi tắt là “Việt Minh” ([5]). Tháng 1 – 1936, Hội nghị đã bầu Hồ Học Lãm làm Chủ tich và đã được chính quyền Tưởng Giới Thạch công nhận, cấp giấy phép hoạt động. Hội này còn được phép xuất bản tờ báo lấy tên là Việt Thanh để làm cơ quan ngôn luận. Tờ báo ra hàng tháng, số đầu ra vào tháng 3 – 1936 và chỉ phát hành được 6 số thì phải tự đình bản vì không có kinh phí…
Các văn kiện kịch sử về Hội “VIỆT NAM ĐỘC LẬP VẬN ĐỘNG ĐỒNG MINH HỘI” (viết tắt là: VNĐLĐMH) như sau:
- TUYÊN NGÔN THÀNH LẬP
“VIỆT NAM ĐỘC LẬP VẬN ĐỘNG ĐÒNG MINH HỘI”- “VIỆT MINH”
Hỡi các toàn thể đồng bào Việt Nam,
Hỡi các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới
Nước Việt Nam từ ngày bị đế quốc Pháp xâm lược đến nay đã trải qua 80 năm. Trong 80 năm đó, chúng dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt và cây độc tàn hại sinh mệnh dân tộc ta. Từ kinh tế, văn hóa đến lập Hội kết đoàn đều không được tự do, ra nước ngoài thông thương, du học, chúng đều cấm ngặt. Thậm chí đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện, buộc đồng bào ta phải tiêu thụ hết cho chúng.
Âm mưu của chúng không gì khác hơn là bắt 25 triệu đồng bào ta phải cúi đầu bịt tai, phải chịu chết dưới gót sắt của chúng, thì chúng mới hả dạ.
Tuy nhiên lực áp bức càng lớn, sức phản kháng càng cao. Đồng bào ta đã bao phen liều chết vùng lên phong trào chống Pháp ở các nơi trong nước như ám sát bọn quan Tây và tay sai bán nước, sôi nổi chống thuế ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, đầu độc lính Pháp…
Cách đây không lâu, năm 1924 ở Sa Điện – Quảng Châu nổ tạc đạn mưu giết tên đầu sỏ thực dân Pháp. Năm 1930, cuộc khởi nghĩa của cách mạng quân Yên Bái vang động khắp nơi, tuy bị thất bại, nhưng dòng máu các chiến sĩ cách mạng đã tô thắm trang sử vẻ vang của dân tộc ta.
Đồng bào ta trong 80 năm qua đã qua vì công cuộc giành độc lập mà hy sinh phấn đấu không sao kể xiết, nhưng đến nay vẫn chưa đánh đổ được quân thù, dân tộc Việt Nam vẫn còn chìm trong nước sôi lửa bỏng.
Xét đến cùng là do các đồng chí cách mạng của chúng ta trước đây ý kiến phân kỳ, mỗi người dựng một ngọn cờ riêng, khiến cho lực lượng cách mạng bị dàn mỏng.
Vì vậy ngày nay cần rút bài học thất bại trước kia mà tỉnh ngộ, đoàn kết lại thành một khối.
Hiện tại, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc. Các nước đế quốc muốn tránh nguy cơ khủng hoảng trầm trọng thêm, đều đang hướng về con đường chiến tranh, hòng chia lại thị trường. Hãy nhìn xem chiến tranh Ý−Á, tranh chấp Trung−Nhật tuy đều chỉ là việc quan hệ giữa hai nước, nhưng thực ra đều là ngòi nổ cho cuộc chiến tranh ác nghiệt đang sấn sổ nhảy tới, gõ cửa nhà chúng ta rồi. Thái Bình Dương sẽ không còn là thái bình nữa. Tàu ngầm và khu trục hạm sắp khiến cho sóng dữ Thái Bình Dương cuộn nổi trước mắt chúng ta. Pháo đạn của bọn đế quốc sắp lấy máu tươi của các dân tộc nhược tiểu để nhuộm Thái Bình Dương.
Việt Nam ta đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú, dân số cả nước có 25 triệu. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, về kinh tế cũng như về quân lực, đều đã từng một phen bị lừa gạt, dụ dỗ và cưỡng bức tuôn ra chiến trường. Kết quả là gì ? Chỉ là bị chôn vùi nơi chiến tranh mà thôi.
Tuy nhiên, xe trước đổ có thể làm gương cho xe sau, lẽ nào trong cuộc chiến tranh sắp tới, lại còn đi theo vết xe đổ ? Không ! Chẳng những không theo vết xe đổ, chúng ta sẽ còn nhận rõ kẻ thù của mình là ai để chung lòng, góp sức, tiến lên một bước, gạt chúng ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, cứu đồng bào ra khỏi con nước lửa. Các nhân sĩ cách mạng Việt Nam hải ngoại hãy nghĩ tới đồng bào trong nước trước, nghĩ tới mình sau.
Vì những điều nói trên mà Việt Nam Độc lập vận động Đồng minh Hội của chúng ta thành lập để nhận lấy sứ mệnh lớn lao của mình. Sứ mệnh của Đồng minh hội là:
- Liên kết tất cả đồng bào ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và cả Cao Miên, Ai Lao, không phân biệt đảng phái, cùng đứng trên một chiến tuyến để thống nhất chỉ huy.
- Tiêu diệt thế lực xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp, thực hiện quyền độc lập, tự quyết của dân tộc ta.
- Xóa bỏ chế độ phong kiến và tất cả mọi trở lực phản cách mạng, thành lập một nước cộng hòa dân chủ chân chính.
Chúng tôi tin rằng một khi biết tin Việt Nam Độc lập vận động Đồng minh Hội thành lập, thì đế quốc Pháp chắc chắn sẽ dùng trăm phương nghìn kế để ngăn cản, phá hoại, khiến chúng ta không thể hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhưng đồng bào ta trong trường hơp đó dưới ngọn cờ Việt Nam Độc lập vận động Đồng minh Hội sẽ xông lên phía trước, phấn đấu đến cùng, hoàn thánh sự nghiệp đấu tranh của mình. Bởi lẽ xông lên đấu tranh là lối thoát duy nhất của chúng ta.
Chúng ta thà cam chịu làm trâu ngựa mãi mãi cho đế quốc Pháp ư ? Há chịu ngồi đợi tử thần đến cướp đoạt sinh mạng của ta ư ?
Chúng tôi dám tin rằng đồng bào ta ai cũng muốn được tiếp tục tồn tại trên thế giới, ai cũng mong cùng sánh vai các dân tộc mà tiến lên, ai ai cũng đều khao khát độc lập, tự do, bình đẳng.
Lãnh thổ Việt Nam phải là của người Việt Nam. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta phải là chủ nhân của lãnh thổ Việt Nam. Cho nên quyền sở hữu lãnh thổ, quyền tự do sống còn của nhân loại quyết không để cho đế quốc Pháp tước đoạt, chà đạp, xâm chiếm. Càng bị xâm lấn, ta càng đấu tranh!
Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội là cơ quan cách mạng để gánh vác sứ mệnh nói trên, hơn nữa là cơ quan chỉ huy duy nhất liên hiệp tất cả các đồng chí cách mạng vào một trận tuyến, là cơ quan hoạch định đường lối để mưu hạnh phúc cho 25 triệu đồng bào.
Vì thế, đồng bào ta chẳng những sôi nổi hưởng ứng gia nhập Hội mà còn một lòng một dạ đấu tranh dưới ngọn cờ của Hội, dốc lòng trung thành với Hội.
Mong rằng nhân sĩ các nước trên thế giới hãy đồng tình ủng hộ chúng tôi, giúp đỡ chúng tôi một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Được như vậy, thì đế quốc Pháp nhất định sẽ thất bại, sự nghiệp giành độc lập của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thành công.
Chúng ta hãy cùng nhau hô to:
− Thống nhất mặt trận đấu tranh của cách mạng Việt Nam!
− Hoàn thành tự do, độc lập của Việt Nam!
− Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội muôn năm!
− Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm! ([6]).
- LỜI RA MẮT BÁO VIỆT THANH
Trong hoàn cảnh cần thiết hiện nay, báo của chúng tôi ra đời. Sứ mệnh của tờ Việt Thanh là:
- Vạch trần âm mưu của chủ nghĩa đế quốc Pháp.
- Cổ súy cuộc vận động độc lập của Việt Nam.
- Phát dương tinh thần chính trị lâu chủ Việt Nam.
Mang sứ mệnh nặng nề như trên, Việt Thanh là cơ quan tuyên truyền của Việt Nam Độc lập vận động Đồng minh Hội. Phàm việc gì liên quan đến công tác cách mạng, Việt Thanh hết sức phát huy. Chính sách ngoại giao nên thế nào cho có kết quả, vấn đề tài chính nên bắt đầu từ đâu, phương pháp tổ chức làm sao cho được nghiêm mật, công tác huấn luyện làm sao đạt hiệu quả, cho đến mọi vấn đề trọng yếu khác của cách mạng, chúng tôi đều cố dự kiến sớm từ khi mới có triệu chứng nhỏ, lớn tiếng kêu gào, để việc tuyên truyền thu được kết quả.
Buổi đầu Việt Thanh ra mắt, vì nếu độc lập của Việt Nam mà lên tiếng trước tiên, xin các vị độc giả với tấm lòng chí công vô tư mà giúp đỡ chỉ đạo. Đặc biệt trong các vị nhân sĩ trên thế giới biểu thị sự đồng tình, hết lòng nâng đỡ chỉ giáo. Chúng tôi vô cùng mong đợi ([7]).
Năm 1937, Hồ Học Lãm theo Bộ Tổng Tham mưu về Trùng Khánh, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Bác Hồ đã bí mật đến gặp Hồ Học Lãm, yêu cầu cho Lê Thiết Hùng giải ngũ về nước. Ít lâu sau, Hồ Học Lãm lâm bệnh nặng phải đi điều trị ở Bệnh Viện Quý Dương, do xơ cứng động mạch tim, viêm gan cổ trướng, hen suyễn…
Năm 1940, Hồ Học Lãm đã báo cho Đảng ta và Bác Hồ biết Nhật Bản lẫn Tưởng Giới Thạch đang có âm mưu mới đối với Việt Nam. Ông căn dặn người con rể là Lê Thiết Hùng cùng Phùng Chí Kiên, Cao Hồng Lĩnh hãy hết sức cảnh giác đối phó với kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng Giới Thạch.
Đầu năm 1941, vì ốm nặng, Hồ Học Lãm không thể tới dự Hội nghị của “Việt Nam Dân tộc giải phóng Đồng minh Hội” khai mạc tại Tĩnh Tây, ông đã viết một bức thư đầy nhiệt huyết gửi Đại hội. Nguyên văn như sau:
“Các đồng chí,
“Tôi có lời chúc mừng Đại hội, chúc mừng các đồng chí, vì dân tộc, vì quốc gia, vì cách mệnh mà trèo non vượt suối, cùng nhau đến tham gia Đại hội ngày nay. Tôi không thể thân hành đến chúc mừng các đồng chí và giúp việc với các đồng chí, đó là một điều tôi tiếc vô cùng, nhưng vì thân thể không kiện khang, đường sá xa xôi, tôi buộc lòng phải nằm đây, và chỉ có mấy ý kiến sau này đề ra trước Đại hội:
- Các đồng chí phần đông ở trong nước, từ khắp mọi nơi đến dự Đại hội. Các đồng chí thấy rõ phong trào cách mệnh của dân ta ngày nay bồng bột như thế nào, đoàn thể cách mạng đoàn kết với nhau chặt chẽ và tranh đấu anh dũng như thế nào. Thường thường tôi được tin tức, vui mừng về việc vận động của chúng ta, và tôi chắc rằng các đông chí lúc này hơn lúc nào hết, nỗ lực lãnh đạo dân chúng đánh đuổi cho sạch bọn đế quốc Pháp và Nhật, giành lại giang sơn, dựng nên một quốc gia phú cường.
“Luôn đạt được mục đích ấy, công việc trọng yếu là tuyên truyền tổ chức, vũ trang dân chúng, chuẩn bị khởi nghĩa, từ khởi nghĩa từng địa phương đến khởi nghĩa toàn quốc.
“Cuộc cách mệnh không phải một vật ở ngoài đem vào được. Chúng ta phải căn cứ vào sức lực của dân chúng. Cách mệnh là ở đó, sự thắng lợi là ở đó.
“2. Như thế không phải qua vấn đề ngoại viện, nhất là sự ngoại viện của Trung Quốc. Nhưng các đồng chí chắc biết rằng, sự ngoại viện có thể giúp cho chúng ta chiến thắng kẻ thù mau hơn va dễ hơn, chứ không bao giờ thay thế cho sức lực của toàn dân chúng ta được. Chúng ta đã có sức thì ngoại viện mới có tác dụng. Hơn nữa, chúng ta có sức thì mới có ngoại viện. Tôi biết rõ Trung Quốc. Tôi chắc thế nào Trung Quốc cũng hết sức cho vấn đề cách mệnh Việt Nam, nhưng dầu Trung Quốc sẵn lòng với chúng ta cho đến mấy, nếu chúng ta không có thực lực thì Trung Quốc cũng khó lòng mà giúp đỡ. Vậy chúng ta phải chú trọng trước nhất là thực lực của chúng ta, và không bao giờ quên câu: “Tự lực cánh sinh”.
“3. Trong Đại hội, có đại biểu các đoàn thể cách mệnh và cá nhân. Tôi có lời khuyên các đồng chí tinh thiết đoàn kết và mỗi ngày một đoàn kết thêm lâu. Có đoàn kết mới có lực lượng. Cơ hội này rất tốt cho chúng ta. Chúng ta phải cùng nhau bước lên con đường tranh đấu.
Chào các đồng chí
Hồ Học Lãm
Quế Lâm, ngày 20 – 3 – 1941”.
Khi được tin Hồ Chí Minh bị bắt, Hồ Học Lãm dặn vợ và hai người con (Diệc Lan, Mộ La) đi tìm tung tích và bằng mọi cách giúp đỡ để Người thoát hiểm.
Bước sang đầu năm 1943, bệnh tình ngày càng trầm trọng và ông đã qua đời vào ngày 12 – 4 – 1943 tại Quế Lâm. Thi hài ông được chôn cất ở Nghĩa trang phía Nam Quế Lâm, trên một sườn đồi, đầu mộ hướng về Tổ quốc và có trồng một khóm trúc ([8]).
Hồ Học Lãm là một chí sĩ yêu nước chân thành, một người đã cống hiến trọn đời mình cho công cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc suốt gần nửa đầu thế kỷ XX. Liên tục từ Phong trào Duy Tân – Đông Du cùng Phan Bội Châu (1906 – 1924) đến Phong trào cách mạng do Hồ Chủ tịch và Đảng ta lãnh đạo (1908 – 1943). Suốt 36 năm ròng, 17 năm dưới thời cụ Phan Bội Châu và 18 năm dưới thời Bác Hồ.
Hồ Học Lãm rất đáng được Tổ quốc ghi công và được toàn thể nhân dân Việt Nam tôn vinh. Ông đã góp phần xứng đáng công sức, trí tuệ, tâm huyết cho non sông, đất nước ta; cũng góp phần quan trọng cho “sổ vàng truyền thống yêu nước” của dòng tộc họ Hồ ở Quỳnh Đôi, của xứ Nghệ kiên cường bất khuất.
Nhân dịp này, chúng tôi trân trọng kiến nghị với các cấp Đảng và Nhà nước:
- Tổ chức một lễ dựng bia mộ tượng trưng (một hình thức “hư táng” Hồ Học Lãm tại Nghĩa trang quê nhà hoặc nếu xét cho công bằng hơn: lập một bia kỷ niệm Hồ Học Lãm tại Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội có sự chứng kiến của các bạn đồng chí của Hồ Học Lãm, của Đại biểu Quốc hội, chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội khoa học lịch sử, Hội Hữu nghị Việt−Trung; Bộ Quốc phòng; Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội.
- Cấp bằng “Gia đình có công với Nước” cho con gái Hồ Học Lãm là Hồ Mộ La, kèm theo các chính sách khen thưởng, ưu đãi ([9]).
- Chọn một đường phố tại Hà Nội và các thành phố khác đặt tên Hồ Học Lãm.
- Giao Bộ Quốc Phòng, Viện nghiên cứu Lịch sử quân sự… cử đoàn cán bộ sang Trung Quốc tìm kiếm lại những bài báo, nghiên cứu, trước tác … và di vật lịch sử của Hồ Học Lãm.
- Vào tháng 4 – 2024, kỷ niệm 140 năm ngày sinh của Hồ Học Lãm, giao Hội Khoa học Lịch sử, Viện Lịch sử Quân sự… tiến hành một lễ Tưởng niệm nhà yêu nước – nhà lý luận quân sự Hồ Học Lãm và xuất bản một công trình nghiên cứu khoa học về nhân vật lịch sử sáng giá này.
Hà Nội, Ngày 19 tháng 3 năm 2019
([1]) Lời Bác Hồ nói với Thiếu tướng Lê Thiết Hùng. Dẫn theo nguyên văn trong Bản dự thảo Tờ trình Ban Bí Thư của Viện Hồ Chí Minh thuộc Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày 13 – 3 – 1996.
([2]) Xem Phan Bội Châu. Toàn tập. T.3. NXB Thuận Hóa, Huế, 1996. Trg 132 – 150.
([3]) Theo Siêu Hải: Người mang biệt danh cây gỗ mun. Nxb Hải Phòng, 1993, trg 153.
([4]) Theo Hồi ký của Nguyễn Lương Bằng in trong Nhân dân ta rất anh hùng. Nxb Văn học, Hà Nội, 1960, trg 128.
([5]) VNĐLĐMH gọi tắt là “Việt Minh”, nhưng không phải là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) được thành lập năm 1941 sau Hội nghị Trung ương 8 như báo Đại Đoàn Kết số 29 (1995) đã nhầm.
([6]) Hoàng Thanh Đạm sưu tầm và dịch
([7]) Hoàng Thanh Đạm sưu tầm và dịch.
([8]) Do Nhật chiếm đóng Quế Lâm, qua chiến tranh… ngôi mộ của ông hiện nay không còn nữa. Trên nền đất ấy, bây giờ là phố xá, nhà cửa mọc lên san sát!
([9]) Chúng tôi được biết ngày 2 – 3 – 1987 Hồ Mộ La đã có làm tờ “báo công” có các chữ ký xác nhận của nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Vũ Kỳ-Thư ký Bác Hồ, Lê Thị Thanh (VP-Ban TCTW… gửi lên các cấp có Thẩm quyền nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết gì!