Nhà Nguyễn: Gia Long [9/2/1815-28/1/1816]

Hồ Bạch Thảo
Tháng giêng năm Ất Hợi Gia Long thứ 14 [9/2-10/3/1815], thổ phỉ ở Kinh Bắc là Thân Văn Đồng xưng là Thống lãnh thượng đạo, đem đồ đảng hơn 40 người ra thú. Quan Bắc Thành tâu lên; Vua cho rằng Đồng là giặc trốn lâu năm, giết hại nhiều người, nên sai giết đi, còn dư đảng đều tha hết.
Bọn sai dịch tỉnh Phúc Kiến nhà Thanh là Hứa Ninh An và Lý Chấn Thị gặp bão, thuyền dạt vào đậu ở Vũng Lấm [huyện Sông Cầu, Phú Yên]; sai quan trấn cấp cho tiền lụa đưa về nước.
Tháng 2 [11/3-9/4/1815] triệu Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, Đô thống chế Trần Văn Năng, Phó tướng Tô Văn Mạc, Hiệp tổng trấn trấn Bắc Thành Lê Chất, Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Đình Đức, và các quan dinh trấn, mỗi nơi một người về kinh. Rồi có điệp báo ở Gia Định rằng quân Xiêm tiến vào đất Khổ Đạt Mang nói phao rằng đi đánh Lào, nên lại hạ lệnh cho Văn Duyệt và Văn Năng lưu lại thành để phòng bị.
Hạ lệnh cho các phủ huyện trữ tiền ân tuất mỗi nơi 50 quan để cấp cho người đi đường ốm chết. Từ nay quân dân đi đường có người đau ốm thì chủ quản ở làng xóm đều phải tùy tiện bảo dưỡng, không được ruồng đuổi, mỗi ngày nuôi dưỡng bao nhiêu, nhà nước trả tiền, chết thì cấp tiền chôn cất, để cho kẻ còn người mất đều được nhờ ơn, không một ai phải bơ vơ không có nơi nương dựa.
Sai đội Hoàng Sa do Phạm Quang Ảnh làm Cai đội, ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển.
Tháng 3 [10/4-8/5/1815] sai bộ Lễ đem ngày ninh lăng Đại Hành Hoàng hậu bố cáo trong ngoài. Ngày Tân Mão mồng 5 [14/4/1815], dời quan tài Hoàng hậu đến điện Hoàng Nhân. Ngày Canh Tý 14 [23/4/1815], linh cữu bắt đầu phát, Vua thân đi đưa. Ngày Nhâm Dần 16 [25/4/1815] an táng ở phía hữu huyền cung huyệt lăng Thiên Thụ. Ngày Ất Tỵ 19 [28/4/1815] , đặt thần chủ ở điện Hoàng Nhân.
Tháng 4 [9/5-6/5/1815], dân tộc thiểu số ở 7 sách Cam Lộ vào cống, xin đến điện Hoàng Nhân dâng hương lễ Hoàng hậu.
Thổ phỉ ở Thái Nguyên cướp châu Bạch Thông [Bắc Cạn]. Thổ mục là Hoàng Thu Nguyên và Trâu Đường Văn đem dân địa phương đánh, bắt sống và chém tướng và đồ đảng hơn 10 người. Việc tâu lên, cho Thu Nguyên và Đường Văn làm Chánh thuộc hiệu, thưởng 500 quan tiền.
Sửa chùa Thiên Mụ, đúc tượng phật. Vua đến xem, nhân bảo Trịnh Hoài Đức rằng:
“Chùa này đất có linh khí, từ khi hoàng tổ ta là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế, năm thứ 23 Giáp ngọ [14/2-2/3/1714] tu tạo đại quy mô đến nay đã được 101 năm rồi, nay nhân chùa cũ mà sửa lại để truyền thắng tích”.
Bèn thưởng cho binh lính và thợ hơn 1.800 quan tiền.
Lấy người Minh Hương là Phan Gia Thành làm Cai phố ở Bắc Thành, coi việc thuế nhà của người Thanh, mỗi năm nộp bạc 1.500 lạng.
Lấy thổ tù châu Chiêu Tấn là Đèo Quốc Thể làm Chiêu thảo đồng tri, đóng giữ đồn Ninh Biên [Điện Biên]
Tháng 5 [7/6-6/7/1815], thuyền của sứ thần Xiêm La sang nhà Thanh nộp cống, gặp bão vào đậu ở biển Bình Định, khẩn xin đến kinh đô chầu thăm. Quan trấn thần tâu lên, Vua sai thưởng mỗi người 3 tháng lương, hộ tống đến kinh; lại cấp thêm cho mỗi người 5 tháng lương rồi cho về; rồi Xiêm La sai sứ đến cảm tạ. Khi sứ giả về, tâu xin đi qua Nam Vang để thăm Vua Chân Lạp, rồi theo đường Châu Đốc, Hậu Giang mà trở về nước. Vua cho rằng đi như thế là có ý dòm ngó, nên không cho.
Bấy giờ Chân Lạp sai Sứ sang cống.
Quan Bắc Thành tâu rằng:
“Bảo Bảo Thắng [Lào Cai] ở Hưng Hóa đất gần nước Thanh, rất là quan yếu, xin sai Chiêu thảo sứ là Đinh Công Kiểm đem thổ binh và thủ hạ 100 người đóng giữ, cấp cho lương tháng.”
Vua y lời.
Tháng 6 [7/7-4/8/1815], lấy Cần chánh điện học sĩ Nguyễn Du làm Hữu tham tri bộ Lễ.
Miễn cho ty Giáo phường ở Thanh Nghệ khỏi về kinh. Lệ trước, đến hai tết Nguyên Đán [1/1 Âm lịch] và Đoan Ngọ [5/5 Âm lịch] họ phải về kinh tấu nhạc. Vua thương vì đường xa khó nhọc và phí tổn, nên miễn cho.
Tháng 7 [5/8-2/9/1815], xã Lý Hóa [huyện Bố Trạch] Quảng Bình bị cháy, lửa lan ra cháy mất 500 nhà; cấp cho mỗi nhà 1 quan tiền và 1 phương gạo.
Thổ mục châu Vỵ Xuyên trấn Tuyên Quang [huyện Vị Xuyên, Hà Giang] là Nguyễn Thế Niêm mưu nổi loạn, bị bắt, giết.
Tháng 8 [3/9-2/10/1815], bộ luật làm xong vào tháng 7 năm Gia Long thứ 11 [7/8-5/9/1812], nay ban hành khắp nước, nhà Vua ban chiếu rằng:
“Việc hình là để ngăn cấm giữ dân, có sáng rõ thì kẻ ngu ngoan mới biết đường đi lối tránh. Pháp luật là của chung của thiên hạ, có nhất định thì quan lại mới biết có chỗ nắm theo. Quốc triều ta từ trước xử đoán việc hình đã sẵn phép thường. Từ buổi Tây Sơn nổi loạn, pháp kỷ mất hết, hình phạt không có điều chương, kẻ gian dối ngày càng lắm. Trẫm vâng mệnh trời, vỗ về dân chúng, dạy đức sửa lễ, theo lời thánh nhân, nhưng sau buổi loạn ly, mối tệ chưa trừ được hết. Khí cụ giúp việc trị nước, không giám bỏ lơ. Trong khi xử đoán, mệnh người rất là quan hệ, trẫm rất để ý. Trừ cái xấu, bày cái mới cần phải có pháp nhất định. Vậy nên đặc biệt sai đình thần tham khảo điển cũ của bản triều, luật lệ đời Hồng Đức, điều luật nước Đại Thanh, cùng những điều mới định gần đây, châm chước những điều thích hợp mà biên tập thành sách, trẫm thân hành xét định, phàm 22 quyển. Lại sai các đại thần tổng tài và khảo hiệu để khắc in, ban hành cho thiên hạ để làm lệnh điển đời đời. Từ nay xét xử ngục tụng, hết thảy y theo luật điều mới ban, không được trái vượt. Quan lại trong ngoài đều nên lưu tâm nghiên cứu. Dẫn dụng mà xử đoán, cần phải rõ ràng khiến cho hình được công bằng, không ai bị oan lạm, để báo đáp tấm lòng xử phạt thương xót việc hình của trẫm. Lại thấy điều lệ mới thi hành, nha môn trong ngoài chưa có thể xem kỹ hết mọi điều, chuẩn cho từ năm nay đến cuối tháng 12 năm Đinh Sửu [7/1-4/2/1818], quan xét hình có sơ suất nhầm lẫn thì không phải là có ý khép mở; tội người thì về tội roi và trượng đều miễn nghị, về tội đồ trở lên thì chiếu lệ thất xuất thất nhập (1) giảm thêm một bậc; từ năm Mậu Dần [5/2/1818-22/1/1819] trở đi thì xử trị theo luật”.
Tháng 9 [3/10-31/10/1815], Chưởng Hữu quân kiêm giám quân Thần sách quận công Phạm Văn Nhân từng giữ chức Khâm sai chưởng Hữu quân chết. Vua rất thương tiếc, sai Nguyễn Văn Thành trông coi việc tang.
Tháng 10 [1/11-30/11/1815] Gia Định bắt được đảng cướp có đứa 14 tuổi. Khi án dâng lên vua thương là trẻ con bị ép buộc làm theo, đặc biệt sai đánh 100 roi, rồi tha.
Dân biệt nạp thuế gỗ lim xã Tình Diệm [huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh] đem bạc xin với thuộc lại để cầu tha đòi gỗ. Thuộc lại bắt đem tố cáo, quan trấn tâu xin trị tội. Vua dụ rằng:
“Dân tình bách thiết, động việc là cầu xin, người trông coi chắc là không quấy rối sao?”
Sai đem bạc trả lại dân mà tha tội.
Tháng 11 [1/12-29/12/1815], Vua bảo Tham tri Nguyễn Hữu Thận rằng:
“Xét công các huyện lệnh rất khó. Thuế má để thiếu thì xử tội thế nào?”.
Hữu Thận thưa rằng:
“Ngạch thuế trong hạt xin chia làm 10 thành, thiếu 1 thành trở lên thì y phép luận tội, nếu không đến 1 thành thì miễn tội”.
Vua cho là phải.
Sai lấy đất Tam Độc [Ba Ngòi, Nha Trang] làm nơi đày tù án lưu. Hạ lệnh cho trấn thần chọn nơi thủy thổ hơi lành và có địa lợi có thể nhờ mà làm ăn, thì cho dựng nhà tranh cho ở.
Quảng Nam có người thuộc lại tuổi 70 phạm tội xuy [bị đánh roi]. án dâng lên. Vua bảo bộ Hình rằng:
“Theo luật thì người 70 tuổi thì được nghỉ việc”.
Bèn hạ lệnh bãi dịch và miễn đánh roi.
Vua thấy dân Gia Định nhiều người sang ngụ ở Chân Lạp, sợ làm khổ cho dân nước này, bèn hạ chiếu dụ Vua Chân Lạp, Nặc Chăn, rằng:
“Nước ngươi đời làm phiên thần, triều đình hằng lo vỗ về, vốn muốn cho dân ngươi an cư lạc nghiệp, chung hưởng thái bình. Nay nghe dân Hán [dân Việt] có nhiều người trốn ở nước ngươi. Bọn ấy đều là những người lêu lổng không chăm lo nghề nghiệp, dân nước ngươi ở lẫn cùng họ chắc là khổ lắm. Nên ta lệnh cho các Ốc nha xét trong bọn người Hán người nào không phải là thuộc hai đội Cường bộ, An bộ và là lính bảo hộ thì đuổi về hết. Lại quân và dân đến buôn ở Nam Vang phải có bằng do thành [Gia Định thành] cấp, bảo hộ và quan các trấn không được tự tiện cấp giấy thông hành”.
Người Thanh đưa cai đội Nguyễn Văn Mân và những binh lính bị bão 50 người trở về. Bọn Văn Mân đi chở gỗ ở Gia Định, gặp bão trôi dạt đậu vào Nhai Châu [Hải Nam]. Tổng đốc Lưỡng Quảng sai Thông ngôn là Lưu Gia Khu đưa về. Khi tới kinh, vua triệu đến hỏi thăm, cho Gia Khu 20 lạng bạc và bảo về.
Lại bàn đến đạo Thiên chúa của Tây Dương, Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] tâu rằng:
“Thiên chúa ra đời tới nay đã 1815 năm”.
Vua sai Nguyễn Hữu Thận tính thử, thì nhằm năm Nguyên Thủy thứ 1 đời Hán Bình đế là năm Tân dậu [11/2/1-31/1/2]; điều này chứng tỏ Nguyễn Hữu Thận tính đúng.
Tháng chạp [30/12/1815-28/1/1816 ], sửa cống nước huyện Nam Xang [huyện Lý Nhân, Hà Nam]. Huyện Nam Xang có bảy tổng bốn mặt giáp sông, trong có sông nhỏ thông với sông cái, trước có đê, đê hỏng bèn xây cống ở giữa xã Mạnh Khê và xã Cao Đà [huyện Lý Nhân, Hà Nam]. Đến nay cống ấy cũng hỏng, quan Bắc Thành tâu rằng ruộng bảy tổng ấy nửa chiêm nửa mùa, đê chắn nước ngoài thì tiện cho vụ chiêm mà không tiện cho vụ mùa, có cống thì tùy tiện chứa nước tháo nước, chiêm mùa đều lợi cả hai, xin theo ý nguyện của dân mà sửa cống; bèn chi tiền kho hơn 6.000 quan.
Vua tuổi đã cao mà chưa định người nối ngôi. Hoàng tử thứ tư hiền và lớn hơn cả, vua đã để ý; bầy tôi đều có lòng theo. Riêng một mình Nguyễn Văn Thành là người ngạo mạn kiêu căng, muốn được vua nhỏ tuổi, không thích vua lớn tuổi. Một hôm mời các quan trong triều uống rượu ở nhà, nói lên rằng:
“Hoàng tôn Đán nối ngôi, tôi sắp tâu xin lập đấy”.
Cử tọa không ai dám nói gì; riêng Trịnh Hoài Đức sợ vạ lây mình, bèn nói rằng:
“Việc lớn của nhà nước, quyết định do ở lòng vua, nếu người bầy tôi định kế riêng, tham lấy công to thì tội lại lớn”.
Văn Thành bèn thôi, sau có người nói đến tai vua. Vua giận nói rằng:
“Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng vỗ lưng chăng. Ta há tối tăm nhầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng, vội nghe lời hắn mà không vì xã tắc chọn người sao!”.
Từ đó hễ cứ Văn Thành vào yết kiến là chỉ xin dựng Thái tử, Vua nín lặng. Văn Thành tự biết không được thỏa ý, càng thêm ngờ sợ. Con là Văn Thuyên nhòm biết ý cha, thầm mang lòng phản trắc, bèn giao thiệp khách khứa, kết riêng bè đảng; Văn Thành cũng không ngăn cấm. Khi ấy có người Thanh Hoa là Nguyễn Trương Hiệu tự đến xin làm môn khách của Văn Thuyên. Không bao lâu, Văn Thuyên sai về Thanh. Trương Hiệu nói với người cùng quê là Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi rằng Văn Thuyên ngầm muốn nổi loạn, dùng thơ sai Trương Hiệu gọi bọn người trong quận là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời rất bội nghịch; thơ như sau:
Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt,
Hư hoài trắc tịch dục cầu ti.
Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác ;
Thiện tướng phương tri Ký Bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn ;
Cao cương minh phượng cửu cao tri.
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể,
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.
Dịch nghĩa:
Nghe nói ái Châu nhiều tuấn kiệt
Dành để chiếu bên ta muốn chờ.
Vô tâm ôm mãi ngọc Kinh Sơn
Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc.
Thơm nghìn dặm lan trong hang tối ;
Vang chín chằm phượng hót gò cao.
Phen này nếu gặp tể [tướng] trong núi,
Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ.
Dịch thơ:
Ái châu nghe nói lắm người hay,
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phác Kinh Sơn (2) tài sẵn đó,
Ngựa Kỳ Ký bắc (3) biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tể phen này dù gặp gỡ,
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.
Nghi sai Trương Hiệu đem thơ ấy cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt với Văn Thành vốn không ưa nhau, bèn đem thơ phản nghịch của Văn Thuyên dâng lên; Vua cho rằng sự trạng chưa được rõ rệt, hãy để đấy.
Trương Hiệu nhân thế giữ bài thơ làm bằng cớ, thường đến Văn Thuyên đòi hối lộ; Văn Thuyên cho mãi không vừa. Hiệu bèn lẻn đợi Văn Thành lui chầu, đứng ở bên đường nắm lấy vạt áo mà hỏi mãi. Văn Thành bất đắc dĩ, bắt Trương Hiệu và Văn Thuyên đưa cho dinh Quảng Đức [Thừa Thiên] tra hỏi, rồi tự rảo vào chầu, đem việc tâu lên. Vua sai đình thần xét án, Trương Hiệu nói đủ về tình trạng mưu phản của Văn Thuyên và đem môn khách của Văn Thuyên là Đỗ Văn Chương làm chứng. Hỏi thì Văn Chương đã về Gia Định; Vua bèn tha Văn Thuyên ra khỏi ngục ra và hạ lệnh bắt Văn Chương về kinh để đối chất.
Tướng nước Xiêm đóng đồn ở Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia]. Tham Đích Tây nước Chân Lạp cho quân đi qua đất ấy, tướng Xiêm đem quân đánh đuổi đến Phủ Lật, giết và bị thương rất nhiều. Tham Đích Tây kháng cự, quân Xiêm bèn lui. Việc đến tai vua; bèn sai Nguyễn Văn Thụy đóng quân ở Nam Vang và sai quan thành Gia Định cho người hỏi rõ tình trạng. Sau biết Tham Đích Tây là người gây hấn, bèn bảo vua Chân Lạp trị tội.
Sai Tham tri Lễ bộ là Bùi Mân, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Kim Truy đem việc hết quốc tang báo với nước Xiêm. Tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, 5 cân quế, đường phổi đường phèn đều 500 cân, 2.000 cân đường cát, 55 phiến đá Thanh Hoa; cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc, 3 cân quế, đường phổi đường phèn đều 300 cân, 1.000 cân đường cát.
Chú thích:
1.Thất xuất thất nhập: Ý chỉ nương tay xử nhẹ tội, hay nặng tay xử tội nặng cho người.
2.Kinh Sơn: Núi Kinh Sơn tại tỉnh Hồ Bắc, nơi Biện Hòa tìm được ngọc quí.
3.Ký: Một trong 9 châu thời xưa tại Trung Quốc, vị trí nay thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây. Sách Nam Tề Thư chép “Tần tây Ký bắc có nhiều ngựa quí”, cho đất này là nơi sinh sản ngựa tốt, và cũng chỉ nơi phát xuất nhân tài.