
Ngọc Kinh Lang Hoàn
Sự tích của Chúa Liễu Hạnh chỉ được biết đến sau khi tác phẩ m Vân Cát Thần Nữ truyện xuất hiện trong tập Truyền kỳ tân phả, do nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705–1748) biên soạn. Theo các công trình nghiên cứu về Tứ Bất Tử của Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh mà chúng tôi sử dụng làm tài liệu tham cứu, thì sau Vân Cát Thần Nữ truyện, tuy còn có một loạt các tư liệu khác về Chúa Liễu Hạnh, nhưng tất cả đều chỉ xuất hiện sau tác phẩm này. Cho nên ở đây không cần bàn tới.
I . KHUYNH HƯỚNG ĐẠO ĐỨC TRÊN VĂN ĐÀN GIỮA HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM.
Như chúng ta đã biết, Đoàn Thị Điểm và Hồ Xuân Hương là hai tác gia nữ lớn trên văn đàn Việt Nam. Hai người sống hầu như đồng thời với nhau nhưng lại biểu trưng cho hai khuynh hướng đạo đức đối lập. Trong khi thi ca của Hồ Xuân Hương hàm ý lả lơi với những hình ảnh khiêu gợi dâm tính, thì trái lại, văn phong của Đoàn Thị Điểm lại nghiêm trang, mẫu mực, trịnh trọng.
Nhưng đó chỉ là biểu hiện bên ngoài. Khi viết Vân Cát Thần Nữ, phải chăng con người trang trọng đó đã gửi gắm tâm sự thầm kín của một người phụ nữ bị trói buộc, gò bó bởi những khuôn thước đạo đức hời hợt, giả tạo của Khổng Nho vốn không xem trọng phụ nữ? Bà đã đưa những ẩn ức đó vào trong mãnh lực ảo hóa, hư cấu của văn chương để làm một cuộc cách mạng ngầm. Có lẽ, vì những khuôn khổ sĩ diện của cá nhân và gia đình, bà đã không dám trắng trợn đả phá lễ giáo như Hồ Xuân Hương.
Muốn đả phá mà không dám trực diện, cho nên con người thật của Đoàn Thị Điểm mới phải tạo ra hư ảnh Liễu Hạnh. Đó là một mẫu người lý tưởng “thật là người” – nghĩa là dám sống cuộc sống thật của mình, với đầy đủ thất tình lục dục được bộc lộ một cách vừa bình thường lại vừa thăng hoa giữa bối cảnh huyền ảo nửa người nửa tiên.
- Là tiên: Bà bị đày xuống trần gian.
- Là người: Bà có chồng con. Hết hạn đày được trở về trời, rồi vì nhớ trần gian, bà lại giáng trần lần nữa để sống lại nếp đời làm vợ, làm mẹ với những tình tự dám khẳng khái bộc lộ của một người đàn bà dám sống.
Sự kiên quyết ấy mãnh liệt đến nỗi Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng đành phải nhượng bộ, phải cho bà hạ trần, không phải chỉ một lần mà đến những ba lần. Lý do duy nhất là con người này quá trần tục, quá say đắm trong dục tình, nên bất chấp tất cả những thú vui tiên giới để nhất định phải hạ sinh làm người. Đó là một người đàn bà không thuần thục, không đoan trang theo phong tục ngàn xưa; một người đàn bà thích chọc phá, thích “trên bộc trong dâu”, thích khêu gợi đùa giỡn với bọn đàn ông háo sắc. Một người như thế, đối với luân lý Khổng Nho, không thể nào được chấp nhận là một người đàng hoàng, nói gì đến chuyện được xưng tán; trái lại còn bị phỉ nhổ, bị lên án là đằng khác.
Ấy vậy mà Liễu Hạnh lại được tôn xưng là Chúa, là Mẫu! Bởi lẽ, ở tận cùng đáy vực của những người đàn bà được mệnh danh là đoan trang thuần thục theo tiêu chuẩn Khổng Nho đương thời, luôn tồn tại một ẩn ức muốn nổi loạn, muốn bộc lộ những thèm khát liên hệ đến dục tính vốn là thường tình của con người. Họ thèm khát mà không dám biểu lộ. Chỉ có Đoàn Thị Điểm là dám. Bà đã thành công khi nói lên tiếng nói của những thèm khát đó, không quá lộ liễu hay trực diện như Hồ Xuân Hương, mà hàm tàng ẩn hiện qua thái độ phóng khoáng của huyền thoại nửa người nửa tiên Liễu Hạnh. Vì mang tính huyền ẩn, siêu lịch sử, đánh trúng tâm lý của số đông phụ nữ bị áp bức về mặt tinh thần và lễ giáo đương thời, Đoàn Thị Điểm đã thần tượng hóa thành công một con người lý tưởng cho tất cả những phụ nữ này.
Ta thấy ở đây một sức sống của người phụ nữ kiên quyết vươn lên, và vươn lên được, bất chấp mọi chướng ngại, đến nỗi Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng phải chịu thua. Khát vọng âm thầm của bà Đoàn Thị Điểm quả thật là độc đáo và siêu việt, như ngay chính nhân vật siêu việt Liễu Hạnh do chính bà tạo dựng nên.
II. TỪ HƯ CẤU VĂN CHƯƠNG, ĐỂ PHẢN KHÁNG LỄ GIÁO KHỔNG NHO, ĐẾN NHẬP THỂ THẦN ĐIỆN.
Thêm một điều nữa, nội dung tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm ghi chép về các nữ nhân xuất sắc ở nước ta như Nguyễn Thị Bích Châu (vợ vua Trần Duệ Tông), Phan Thị (vợ Đinh Nho Hoàn)… điều này cho thấy Đoàn Thị Điểm đã có ý thức đưa vai trò quan trọng của người phụ nữ vào trong bối cảnh Nho giáo bấy giờ đang thịnh hành và đang tàn hủy những giá trị đóng góp của phái nữ trong công cuộc duy trì nền văn hóa Việt Nam. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh những phụ nữ có thật này, Đoàn Thị Điểm lại hư cấu thêm một nhân vật nữ ảo ảo hóa hóa, vừa mang đầy đủ bản tánh của một người trần tục, lại vừa có nhiều quyền phép linh thông để cải biến thực tế hạn cuộc phũ phàng thành những siêu việt mà những ước mơ thầm kín muốn đạt đến.
Vì vậy, Đoàn Thị Điểm đã đập vỡ tan tành những quan niệm trung trinh tiết liệt của người đàn bà Nho giáo qua sự kiện Liễu Hạnh có đến ba đời chồng, mà vẫn giữ thói trêu đùa bỡn cợt với đàn ông, không cần giữ gìn cái gọi là lễ giáo gì cả.
Truyền thuyết cho rằng bà là con gái của Ngọc Hoàng, vì phạm lỗi bị đày xuống trần gian làm con nhà họ Lê. Năm 18 tuổi gả chồng là Đào Lang; ba năm sau hết kỳ hạn bị gọi về Trời. Nhưng nàng nhớ chồng con, Ngọc Hoàng lại phải cho trở xuống hạ giới. Lần này, nàng không chịu an bề gia thất mà chỉ sắp đặt cửa nhà yên ổn xong thì bắt đầu vân du mọi nơi, giở trò trêu ghẹo người (có lẽ cũng phải vài mươi năm), rồi mới ghé vào Nghệ An kết duyên với một thư sinh nguyên là hậu thân của chồng cũ Đào Lang ngày trước. Chồng thi đỗ làm quan, Liễu Hạnh về trời lần nữa. Rồi cũng một lần nữa, bà giáng sinh cùng hai thị nữ (do đó mà có tục thờ Tam tòa Thánh Mẫu) về Phố Cát, Thanh Hóa, tiếp tục trêu ghẹo, quấy phá và trừng phạt những tên nam giới háo sắc.
Có phải chăng Đoàn Thị Điểm cũng muốn vạch mặt, phơi bày cái giả dối của những anh chàng nho sinh ngụy quân tử? Bề ngoài họ ra chiều chính nhân kiểu “Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái ta là phận trai”[3], nhưng rốt lại cũng chỉ là hạng lả lơi ong bướm, sàm sỡ đa tình.
Ta thấy truyện Vân Cát Thần Nữ này nói lên tính chất quá “người”, không phải của Liễu Hạnh, mà chính là của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Té ra Ngài cũng không được công tâm như Bao Thanh Thiên, cho nên cũng thiên vị chở che con gái, cũng xiêu lòng cho đứa con vòi vĩnh xuống hạ giới để tác oai tác quái với người trần tục. Nhưng phép Tiên vẫn phải thua phép Phật. Trong cuộc đấu phép, Liễu Hạnh đã bị Bát Bộ Kim Cương bắt giữ; rồi bà được Phật Tổ hiện đến xin vua không những tha tội cho đứa con gái của Ngọc Hoàng này mà còn phong thánh cho. Trước đó, Bát Bộ Kim Cương đấu phép lần đầu thua bà, phải xin mượn cái đãy của Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà) mới thu phục được Liễu Hạnh.
Trận chiến giữa Chúa Liễu và các vị Kim Cương này, cũng như sự tích trong Thiền Uyển Tập Anh về nhà sư Giác Hải và đạo gia Thông Huyền, phải chăng là một cách thức mô tả những tranh chấp, đụng độ giữa Phật giáo và Đạo giáo của Việt Nam trong thời kỳ đó? Trong khi truyện Giác Hải và Thông Huyền cho thấy cả hai đức tin đều giữ thế quân bình, thì truyện Liễu Hạnh bộc lộ ưu thế của Phật giáo, nhất là khi truyền thuyết còn cho rằng hai đứa con của bà đều gửi nhờ nhà chùa nuôi dưỡng.
Tóm lại một câu, Liễu Hạnh chỉ được biết đến sau khi được Đoàn Thị Điểm sáng tạo. Người đời sau đã dàn dựng thật khéo léo, thật tài tình, đúng thời đúng cách, để đưa bà từ một hư cấu của văn chương trở thành một đối tượng thực tế để tôn thờ. Từ đó kéo theo cả một phong trào tín ngưỡng được mệnh danh là Tiên Thiên Thánh Mẫu giáo thật ồ ạt, với ảnh hưởng sâu sắc khiến bao nhiêu người bị lôi cuốn vào, để rồi họ phải ra công tìm đủ mọi phương pháp luận để lý giải cho sự bị mê hoặc của chính mình.
III. HUYỀN THOẠI HIỆN THỰC HÓA.
Giả thiết trên còn có thể được cường điệu thêm qua sự tích kể rằng Chúa Liễu Hạnh có gặp Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528–1613) đến những hai lần, ở Lạng Sơn rồi ở Tây Hồ (Hà Nội); và gặp Trạng Quỳnh – một nhân vật giai thoại không có thật mang nhiều dáng dấp của danh sĩ thời Lê Trung Hưng là Nguyễn Quỳnh (1677–1748), người xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, từng đỗ bậc Cống sĩ nên còn được gọi là Cống Quỳnh.
Nhìn qua niên đại lịch sử, ta thấy một sự phi lý rõ rệt:
- Đoàn Thị Điểm (1705–1748) sống đồng thời với Nguyễn (Cống) Quỳnh (1677–1748);
- Nhưng họ lại sống sau Phùng Khắc Khoan (1528–1613) đến gần một thế kỷ.
Sự lắp ghép các nhân vật lịch sử thuộc các thời đại khác nhau vào cùng một chuỗi giai thoại với Chúa Liễu chứng minh rằng: từ một hư cấu của văn chương, nhân vật Liễu Hạnh trong Vân Cát Thần Nữ truyện bỗng được hiện thực hóa, rồi thần thánh hóa trong dân gian. Thế là người đàn bà có 3 đời chồng, lẳng lơ hoa nguyệt kia thoáng chốc được tôn thánh, được thờ làm Chúa, mà dân gian gọi nôm na là Bà Chúa Liễu Hạnh.
- TƯỜNG THÀNH TÂM LINH. TÔN THẦN BÁI THÁNH.
Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam có rất nhiều vị Chúa, như: Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc), Bà Chúa Núi Đen Tây Ninh (gọi là Chúa Bà Đen, tức Linh Sơn Thánh Mẫu), Bà Chúa Thiên Y A Na ở vùng miền Trung… Ngoài ra, dân chúng còn tôn xưng các nhà lãnh đạo trên bình diện chính trị là Chúa, như: Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, Chúa Sãi, Bà Chúa Chè, Bà Chúa Ba… Ngay cả công chúa huyền thoại Ngọc Hoa (Mỵ Nương) mà Sơn Tinh cưới được trong trận giành giật với Thủy Tinh cũng được gọi là “Chúa Gái”.
Cho nên, vị được gọi là “Chúa Trời” của tôn giáo Tây phương Hy-La vừa mới du nhập bằng vũ lực và quân đội của thực dân Pháp, dưới góc nhìn của tâm thức bổn địa, chẳng qua cũng chỉ là một trong hằng hà sa số các vị Chúa trong tín ngưỡng dân gian của người Việt mà thôi. Không có gì khác hơn!
Một điều đáng cho ta chú ý là có một sự trùng hợp lạ kỳ trong thời điểm xưng Chúa của những thế kỷ 16–18 trở về sau. Trước thế kỷ 16, hình như không có tư liệu nào nói đến phong tục tôn Chúa, cả về mặt chính trị lẫn mặt tín ngưỡng của dân tộc ta. Chỉ khi có sự kiện Nam Bắc phân tranh, đồng lúc với thời điểm tôn giáo Tây phương Hy-La xâm nhập Việt Nam, đả kích, bài bác, triệt hạ đức tin đa thần của người dân bởn địa để truyền bá cái gọi là độc thần làm Chúa trên Trời )Thiên Chủ, (天主) của họ, thì tín ngưỡng tôn Chúa trong dân gian mới bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ và lan tràn khắp nơi. Hiện tượng này đặc biệt đậm nét tại miền Bắc – vùng đất nước bốn ngàn năm văn hiến đang bị thực dân Pháp thôn tính lúc bấy giờ.
Tôn giáo Hy-La Tây phương này có một hệ thống tổ chức quy mô với mục đích thực dân, bành trướng, xâm lược và ý đồ tàn diệt các tín ngưỡng bổn địa. Họ có những thừa sai được đào luyện đầy kỷ luật để thống trị bằng mồi nhử, bằng hăm dọa, bằng hứa hẹn. Ấy vậy mà họ vẫn không thể tàn diệt được đức tin bổn địa của người dân Việt Nam như họ đã từng tàn diệt văn minh Nam Mỹ hơn năm trăm năm trước. Trong khi đó, tục lệ tôn Chúa của người Việt Nam vẫn nghiễm nhiên tồn tại trong lòng dân gian, trong đức tin dân tộc, mặc dầu qua thời gian đã bị suy đồi quá đáng. Chính những tục lệ tôn Chúa, tôn Thánh, tôn Thần này đã là chất liệu gắn bó con người với đất đai, dân tộc và quốc gia Việt Nam.
Phải chăng tín ngưỡng tôn Chúa này chính là một thái độ chống đối, phản kháng, bất phục, của người dân nhược tiểu – những người không có các vũ khí tân tiến để bảo vệ đất nước quê hương trong cơn quốc biến? Qua thời gian và lịch sử, một hệ thống tôn xưng Chúa tràn lan như thế đã tạo nên một bức tường thành, tuy yếu ớt lỏng lẻo về mặt tổ chức nhưng cũng đủ sức chặn đứng một phần nào thế lực cường địch (vừa quân sự vừa tôn giáo) đang ồ ạt xâm lăng nước ta. Nó khiến cho thế lực đó không thể nào biến nước Việt Nam hoàn toàn thành một nước theo đức tin Chúa trên Trời độc tôn của họ. Bức tường thành đó đã đưa huyền thoại Liễu Hạnh lên hàng tiên phong,– đúng hơn là chức vị nguyên soái –, vượt trên tất cả những ông chúa bà chúa khác. Từ một người đàn bà trần tục bình thường, có chồng con, lẳng lơ hoa nguyệt, Liễu Hạnh đã nghiễm nhiên bước lên thần điện Việt Đạo để làm Chúa. Bức tường thành đó, do thành công phần lớn trong đám đông quần chúng qua hiện tượng Bà Chúa Liễu Hạnh, đã lập nên được một phong trào gọi là Tiên Thiên Thánh Mẫu giáo – một hiện tượng phóng khí của Đạo giáo Việt Nam và vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
IV . KHÁI NIỆM “TỨ PHỦ” ĐỐI DẦU VỚI TRUYỀN THỐNG “TỨ BẤT TỰ”
Cũng chính phong trào Tiên Thiên Thánh Mẫu giáo này đã dang tay tiếp nhận, hay đúng hơn là tạo dựng để từ là một vị Chúa, Liễu Hạnh lại bước lên một nấc cao hơn: được sùng bái là Mẫu – cụ thể là Mẫu Địa phủ. Điều này cũng không có gì quá đáng, vì đã là tín ngưỡng dân gian thì cá nhân hay đoàn thể ai cũng có thể tạo dựng và sùng bái thần tượng của mình, không ai có quyền cấm cản.
Có lẽ vì nghĩ thế mà họ không dừng lại ở đó. Họ xông xáo lên nữa, đặt Chúa Liễu Hạnh vào thần điện của Việt Đạo trong khái niệm Tứ Phủ của họ.
- Khái niệm Tứ Phủ: Được phát triển dựa trên Tam Phủ (gồm Thiên phủ, Thủy/Thoải phủ và Nhạc phủ/Phủ Thượng Ngàn) để tạo thêm Địa phủ (đất đai). Mỗi phủ đứng đầu là một vị Mẫu.
- Theo hệ thống này, Cửu Thiên Huyền Nữ là Mẫu của Thiên phủ (Mẫu Cửu Trùng / Mẫu Thượng Thiên), đứng đầu các Mẫu khác. Mẫu Nhạc và Mẫu Thoải chưa có nhiều huyền thoại. Thế là Chúa Liễu Hạnh, một lần nữa, được thượng lên làm Mẫu Địa, có lẽ vì bà có nhiều liên hệ trực tiếp đến đời sống con người trần thế.
Theo công trình Tứ Bất Tử của Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh, chính Thanh Hòa tử – người chủ biên cuốn Hội Chân biên (xuất bản vào năm thứ 7 thời Thiệu Trị, tức năm 1847) – đã liệt Thánh Mẫu Liễu Hạnh ngang hàng với Đức Thánh Tản, Chử Đạo Tổ và Đức Thánh Gióng. Thế nhưng, Thanh Hòa tử đã quên rằng, ngoài vị Chúa này, trong dân gian còn có nhiều vị khác như Chúa Bà Đen ở Tây Ninh, Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc… Như thế, Liễu Hạnh ban đầu chỉ là một bà chúa trong nhiều chúa thuộc quyền Mẫu Địa (một Mẫu của Tứ Phủ), vai vế ngang hàng với các vị kia và còn dưới Mẫu Địa một cấp. Thế thì, làm sao mà Bà Chúa này lại được xem là một trong Tứ Bất Tử của cả dân tộc?
Vấn đề rất đơn giản: đó là do từ một chữ “Tứ” mà ra.
Sự nhầm lẫn tai hại, hay cố ý đánh tráo, giữa Tứ Bất Tử và Tứ Phủ chắc chắn bắt nguồn từ nơi Thanh Hòa tử trong tác phẩm Hội Chân biên (1847). Đáng tiếc chúng tôi không có bản sao của tác phẩm này, cũng không có được bản dịch ra Pháp văn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên để tìm hiểu trực tiếp nội dung gốc. Tuy nhiên, dựa theo tên hiệu, Thanh Hòa tử là một người tu theo đạo tiên (Đạo giáo Việt Nam), và có thể là một người đàn bà, một đạo cô. Người này đã nương theo đà phát triển của phong trào tôn chúa xưng mẫu – một phong trào tuy rầm rộ nhưng cũng chỉ quanh quẩn ở những vùng Hà Nam Ninh, Thanh Hóa, Hà Nội… bấy giờ – để đưa Liễu Hạnh vào địa vị bất tử của hệ thống Tứ Bất Tử một cách vô trách nhiệm.
VI THẦN TÍNH NỮ.
Có thể là vì quan niệm cần có một thần tính nữ (female divine) để thăng bằng với các nam thần (male divine) như Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Thánh Tản và Chử Đồng Tử – bốn vị Tứ Bất Tử thật sự của toàn thể dân tộc Việt Nam mà Việt Đạo tôn thờ, cho nên Tiên Thiên Thánh Mẫu giáo mới thiết lập hệ thống Tứ Phủ (một sự triển khai từ Tam Phủ của Nội Đạo giáo), để rồi từ đó, người ta – hay cụ thể chính là Thanh Hòa tử – đã đẩy Bà lên thần điện ngồi ngang hàng với bốn vị Tứ Bất Tử một cách ngáo ộp và phi lý. Mặc dẫu ngay trong thời đại ngày nay, vẫn còn có nhiều cố gắng gượng ép để lý giải biện chứng cho sự đặt Bà vào nơi không phải chỗ đó (tuy rằng nội dung của các sự lý giải ấy cố làm cho có vẻ thích đáng).
Bởi vì, nếu cần phải tạo dựng một thần tính nữ xứng đáng để ngồi ngang hàng với bốn vị Tứ Bất Tử kia, chắc chắn không ai có thể vượt qua được công đức của Quốc Mẫu Âu Cơ, hoặc của Man Nương[4] (hiện vẫn còn được thờ tại Chùa Dâu), và nhất là của Hai Bà Trưng – hai người đàn bà đầu tiên trong thời kỳ mẫu hệ đã làm cho quân Hán bay hồn bạt vía, chiếm lĩnh lại 65 thành trì để giành lại đất đai đã mất cho Việt Nam theo đúng truyền thống của Thánh Tản và Thánh Gióng.
Riêng Hai Bà Trưng lại còn có đầy đủ thời gian tính – tính đến nay đã gần hai ngàn năm lịch sử – để có thể đường hoàng bước vào thần điện Việt Đạo một cách quang minh rạng rỡ. Có thể nói, toàn thể dân tộc Việt Nam không ai là không tôn xưng Hai Bà, nếu còn là người Việt Nam biết tự hào với truyền thống bất khuất của dân tộc. Đến ngày kỵ giỗ Hai Bà, các vị lãnh đạo đất nước – bất kỳ theo đức tin nào – cũng đến tế lễ cách tôn nghiêm cấp quốc gia. Ấy thế mà Hai Bà cũng vẫn chỉ được xếp là những vị Thượng đẳng thần, giống như Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) mà thôi.
Cho nên, nếu cần thiết phải có một thần tính nữ trên bàn Thần điện để thăng bằng với các thần tính nam kia, thì ngoài Quốc Mẫu Âu Cơ, không còn ai có thể xứng đáng hơn Hai Bà Trưng cả. Còn Chúa Liễu Hạnh có những công lao gì với đất nước và dân tộc để có thể vượt mặt Hai Bà?
Có lẽ cũng chính vì phải gượng ép trong việc đi tìm đủ mọi lý do để chứng minh Chúa Liễu là một trong Tứ Bất Tử, cho nên Đạo giáo Việt Nam – đáng lẽ phải là một tín lý uyên thâm – thì lại bị lẩn quẩn trong vòng ảnh hưởng của hiện tượng những ông đồng bà cốt quàng xiên, mượn danh Chúa Liễu để mị dân và che mắt thánh. Hiện tượng này xuất hiện từ sau thời kỳ của phong trào tôn Chúa, mà ngay chính những người kêu gào phải “trả lại cho Đạo giáo những tinh hoa của nó” cũng không thể nào giải quyết nổi. Bởi vì chính họ cũng đã bị sa lầy trong sự nhầm lẫn tai hại giữa khái niệm Tứ Bất Tử và Chúa Liễu Hạnh của Tứ Phủ.
Tóm lại, chẳng qua chỉ vì một lầm lẫn tai hại – hay cố tình đánh tráo – giữa hai chữ “Tứ” (Tứ Bất Tử và Tứ Phủ) mà đã khiến bao nhiêu người phải cố công nhào nặn những lý lẽ phi lý để biện minh cho một hiện tượng cũng thật phi lý vô cùng. Sự phi lý này lại tăng thêm cấp độ tai hại lần nữa do vì không những chỉ có sự lầm lẫn giữa hệ Tứ Bất Tử và hệ Tứ Phủ, mà lại còn có cả một sự điên đảo giữa Tứ Phủ và Tam Phủ nữa.
Quan niệm hiện thời thì cho rằng Chúa Liễu Hạnh là Mẫu của Địa phủ. Xin lập lại lần nữa rằng: “Địa” ở đây là đất đai, là những gì sinh sôi nảy nở trên mặt đất này; Địa phủ hoàn toàn không phải là âm phủ (cũng gọi là địa phủ, hoặc địa ngục, nơi giam giữ và trừng phạt linh hồn những kẻ gian ác trên trần thế).
Vậy, nếu Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng, đọa xuống trần gian làm người tai phàm mắt thịt, thì về bản chất bà chính là một nhân thần. Bà là con người giáng sinh để làm gạch nối tâm linh giữa Trời và Đất, theo quan niệm Tam Tài (Thiên – Địa – Nhân). Cho nên, bà phải là Mẫu của Nhân phủ, chứ không phải của Địa phủ.
Nhân thần thì có thể là Mẫu của Nhân phủ, chứ làm thế nào để có thể “đồng nhất với Mẫu Địa”? Trên mặt đất này còn có vạn triệu sinh vật khác, con người chưa hẳn là độc tôn.
Trong cuộc sống tại trần gian với những quyền phép của một tiên nữ trên Trời, Liễu Hạnh không làm gì ích lợi cho đất đai cả – không phải như Mẹ Âu Cơ gắn liền với đất đai dân tộc bằng cách hiện thân trong tinh linh của lúa, rồi dạy con người làm nương, trồng lúa, trồng dâu… Liễu Hạnh chỉ nổi loạn cho con người, cho người phụ nữ có một chỗ đứng trong xã hội và từ đó được đi vào thần điện Việt giáo mà thôi.
Chỗ đứng đó được biểu trưng qua hiện tượng bà là Mẫu của Nhân phủ – một trong Tam Phủ (Thiên phủ, Địa phủ và Nhân phủ) theo triết lý Tam Tài và nhân sinh quan của Việt Đạo. Trong khi đó, Tứ Phủ theo vũ trụ quan thì gồm có hạo khí linh thiêng của Trời (Thiên), Đất (Địa), Sông Biển (Thủy hay Thoải), và Núi (Nhạc) mà thôi, hoàn toàn không có con người.
VII. GIẢI QUYẾT NHẦM LẪN GIỮA HAI CHỮ “TỨ”
Thế nhưng, vấn đề ở đây là giải quyết sự nhầm lẫn giữa hai chữ “Tứ”. Cho nên, ta tạm chấp nhận Liễu Hạnh là một Mẫu của Tứ Phủ để xác định lý do tại sao Bà không thể và không bao giờ có thể là một trong Tứ Bất Tử.
“Tứ Bất Tử tiêu biểu cho những tấm gương điển hình nhất, sáng chói nhất của một dân tộc khẳng định sự tồn tại của mình”. Theo định nghĩa ấy, Liễu Hạnh không thể nào đủ tiêu chuẩn được. Bởi vì bà không thể tiêu biểu hoàn toàn cho những đức tính cao quý nhất của người phụ nữ Việt Nam, đừng nói chi là của toàn thể dân tộc Việt Nam. Chẳng lẽ toàn thể phụ nữ Việt Nam đều có đến 3, 4 đời chồng mà lại vẫn còn lả lơi, đều chỉ biết trêu chọc đàn ông – tuy là bọn đàn ông háo sắc đáng ghét – cả ư?
Bao nhiêu mẩu chuyện thủy chung của người đàn bà Việt Nam, nhất là trong thời kỳ chiến tranh cận đại: đợi chờ người đi không trở lại, chờ đợi cho đến bạc đầu, trong văn chương cũng như trên thực tế, thật không bút mực nào tả xiết. Tổng hợp những tấm gương ấy có thể vĩ đại hơn trăm vạn lần những tư liệu về Liễu Hạnh. Như thế, nếu tôn vinh Liễu Hạnh làm biểu tượng bất tử thì những giá trị thủy chung kia sẽ được giải quyết như thế nào?
Bốn vị Tứ Bất Tử này được toàn thể dân tộc – cả nam giới lẫn nữ giới, già trẻ bé lớn, mọi đức tin – đều kính thờ. Trong khi đó, Chúa Liễu Hạnh chỉ có thể gây ảnh hưởng với một nhóm phụ nữ (không phải toàn thể phụ nữ) – một nhóm nào đó cùng đồng tình và đồng tâm trạng với bà Chúa này, và phạm vi rất hạn chế trong một vài vùng như Hà Nam Ninh, Thanh Hóa, Hà Nội… mà thôi.
Những điều gượng ép khác cho rằng Liễu Hạnh là hóa thân của những hào khí xuất hiện từ thời khai thiên lập địa để đưa Bà vào điện thần Tứ Bất Tử cũng không đứng vững. Bởi lẽ trước khi có hiện tượng Liễu Hạnh, trong truyền thuyết dân gian không hề ghi lại những thần nữ nào có những tính nết ngang cuồng như Liễu Hạnh cả. Trong khi đó, bốn vị Tứ Bất Tử kia đều có những linh hiển xuyên suốt thời gian. Thí dụ như Thánh Tản ứng hiện giúp Triệu Quang Phục tại đầm Dạ Trạch, và sau này dẫn đường cho Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn tìm ra minh chúa Lê Lợi; hoặc Ngài đã nhổ bọt miến vào cổ Cao Biền, khiến tên quan lại phong kiến phương Bắc này phải khiếp sợ mà thôi không dùng phép thuật để trấn yểm long mạch dân ta.
Có cố gắng tìm hiểu xã hội Việt Nam thế mấy đi nữa, chúng ta cũng không được quên một sự thật rất giản dị: Liễu Hạnh và tục thờ Mẫu chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ thứ XVIII (theo tác phẩm của Đoàn Thị Điểm), hoặc cũng có thể là sau năm 1847 nhờ vào công trình của Thanh Hòa tử; trong khi Việt Nam đã có đến trên bốn ngàn năm văn hiến; ngay cả thần tính nam Chử Đạo Tổ xuất hiện khoảng thế kỷ thứ II–III trước dương lịch, tuy muộn hơn ba vị Bất Tử kia rất lâu, thì tính đến nay cũng đã được hơn hai ngàn năm rồi.
VIII. HIỆN TƯỢNG PHÓNG KHÍ
Một thực tế cho thấy rằng, hiện tại nơi hải ngoại, tục thờ Bà Chúa Liễu vẫn không phổ biến bằng tục thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc. Lý do thật giản dị là vì người dân miền Nam di tản ra nước ngoài nhiều hơn người miền Bắc. Hàng năm, cộng đồng người Việt hải ngoại khắp nơi đều cùng chung tay làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng và Đức Thánh Trần thật rầm rộ, quang minh và tự hào. Trong khi đó, đối với Chúa Liễu, chỉ có một số ông đồng bà cốt quy tụ năm bảy mươi người nhẹ dạ dễ tin về đền miếu của họ (như tại Houston, Texas) để thừa dịp diễn trò nhập xác lên đồng nhân danh Bà Chúa Liễu. Sự quy tụ mang tính cục bộ, không dám phô trương này thì có gì xứng đáng để hãnh diện mà đưa Bà Chúa Liễu vào hàng Tứ Bất Tử của toàn thể dân tộc Việt Nam?
Nhân đây chúng tôi cũng cần nhắc lại: Trong khi phủ bác việc Tứ Phủ dính dáng đến Tứ Bất Tử trên bình diện nội dung, chúng tôi cũng ghi nhận rằng, tuy không thuộc cùng một cấp độ, nhưng cả hai hệ thống này đều nằm chung trong chỉnh thể Việt Đạo.
- Tứ Bất Tử: Giữ ngôi vị cao hơn hết, xuyên suốt thời gian và không gian ngay từ khi lập quốc cho đến vô tận vô cùng của ngàn năm sau.
- Tứ Phủ: Là hệ thống tư tưởng thuộc về Vũ trụ quan của Đạo giáo Việt Nam.
- Tam Phủ (với hệ thống Thiên – Địa – Nhân): Trong đó Bà Chúa Liễu Hạnh là Mẫu của Nhân phủ (hoặc liên hệ mật thiết đến con người), thực chất là một Nhân sinh quan đưa đến phong trào tín ngưỡng địa phương. Phong trào này hoàn toàn tương đồng với những tín ngưỡng khác như Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc), Chúa Bà Đen (Tây Ninh – tức Linh Sơn Thánh Mẫu), Thiên Y A Na (miền Trung), hay Thiên Hậu Nương Nương, Hậu Thổ Phu Nhân… Tất cả các phong trào đó, cùng với Chúa Liễu, đều là những hình thức phóng khí của Việt Đạo.
Tóm lại, đứng về phương diện thời gian tính, quốc gia tính, dân tộc tính, địa phương tính, nhân sinh quan và vũ trụ quan, Bà Chúa Liễu Hạnh chỉ có thể được xếp ngồi ở hàng Tam tòa Thánh Mẫu, và hàng Mẫu Nhân phủ trong hệ Tam Phủ mà thôi. Ngày nay, chúng ta không thể tiếp tục bước theo vết chân dẫm bùn của kẻ đi trước – những người thật ra cũng chỉ đi trước chúng ta không đến hai trăm năm nay – để mà cứ nhắm mắt tin tưởng mù quáng rằng Liễu Hạnh là một trong bốn vị được tôn xưng là Tứ Bất Tử của nước Việt Nam với gần năm ngàn năm văn hiến.
Do vậy, một lối thoát cho bế tắc giữa sự nhầm lẫn Chúa Liễu là một trong Tứ Bất Tử là rất quan trọng và cần thiết, để đi đến một kết luận dứt điểm rằng: Chúa Liễu là một trong Tam Phủ, chứ không thể nào và không bao giờ có thể là một trong Tứ Bất Tử, lại cũng chẳng phải là một trong Tứ Phủ. Chỉ một sự dứt điểm như thế mới có thể trả lại cho Việt Đạo cái tinh hoa của dân tộc Việt hào hùng, mà trên Thần điện, sự hiện diện của Tứ Bất Tử gồm Lạc Long Quân, Thánh Tản, Thánh Gióng và Chử Đạo Tổ chính là biểu tượng tối cao.
KẾT LUẬN
- Tứ Bất Tử của Việt Đạo gồm có: Lạc Long Quân (boặc họ Hồng Bàng, Hùng Vương, biểu trưng cho nguồn gốc dân tậc Việt), Thánh Tản (Tản Viên Sơn Thánh, dựng nườc), Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương, giữ nườc) và Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ, đạo Hiếu);
- Liễu Hạnh không phải là một trong Tứ Bất Tử; đồng thời cũng không phải là một vị Mẫu nguyên bản trong hệ thống Tứ Phủ tự nhiên;
- Tứ Phủ nguyên bản gồm có: Thiên phủ, Địa phủ, Nhạc phủ, Thủy (Thoải) phủ. Các phủ này là tiêu biểu cho hào khí uyên nguyên của vũ trụ, không có một con người trần thế nào có thể đảm nhiệm vị trí Thần chủ tối cao của các thế lực tự nhiên này;
- Liễu Hạnh chỉ giữ ngôi vị Mẫu của Nhân phủ thuộc hệ Tam Phủ. Hệ Tam Phủ này cấu thành từ Thiên phủ, Địa phủ và Nhân phủ theo triết lý Tam Tài (Thiên – Địa – Nhân) của tĐông phương.
- Tứ Bất Tử, Tam Phủ và Tứ Phủ đều thuộc trong truyền thống thần điện của Việt Đạo. Trong đó, Tứ Bất Tử là căn bản đạo lý khơi nguồn dựng nước, giữ nước và tinh thần hiếu đạo của dân tộc Việt Nam. Tứ Phủ là Vũ trụ quan của Việt Đạo, còn Tam Phủ là Nhân sinh quan và là hình thức phóng khí của Việt Đạo.
Hình thức phóng khí này tôn giáo lớn nào cũng có. Như đạo Phật, ngoài pháp học uyên thâm của các triết thuyết căn bản như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Tánh… hay tư tưởng Bát Nhã, Trung Quán, Duy Thức, Hoa Nghiêm… mà ngay cả Tây phương vẫn còn phải tham cứu; ngoài pháp hành niệm Phật nhất tâm bất loạn hay thiền quán thâm mật; và ngoài những vị thánh tăng đạo cao đức trọng trong Tăng đoàn, ta vẫn thấy tồn tại hiện tượng cúng kiến bùa phép của một số thầy tu chỉ chuyên luyện giọng hay để tụng kinh cầu siêu cầu đám, lấy nghề thầy cúng làm mục đích vụ lợi trong đời tu… Vì vậy, ta không thể trách Việt Đạo cũng đượm nhiều hình thái phóng khí qua sự hiện diện của những ông đồng bà cốt làm hủy hoại đi những tinh hoa yếu nghĩa của Việt Đạo.
Chỉ có một hệ thống đàng hoàng và hợp lý như trên, ta mới có thể trả lại cho Việt Đạo căn bản triết lý uyên nguyên hào hùng của dân tộc Việt. Đồng thời, chúng ta cũng rộng mở dang tay tiếp nhận các hình thức phóng khí, tín ngưỡng bình dân của những người tin thần, tôn thánh, lễ bái các “bậc khuất mặt khuất mày” như Chúa Liễu Hạnh, Chúa Xứ Núi Sam, Chúa Bà Đen, Thiên Y A Na, Thiên Hậu Nương Nương, Hậu Thổ Phu Nhân…
Cho nên, đây chính là thời điểm phải gạn lọc lại, phải xây dựng lại những tinh yếu đã bị chôn vùi hay hiểu lầm bấy lâu nay, để trả lại cho Việt Đạo những gì mà chúng ta đang cố gắng kêu gọi: “Hãy trả lại cho Việt Đạo ý nghĩa đẹp đẽ của tâm thức dân tộc”.
Trả lại một cách dứt điểm và đường hoàng!
Ngọc Kinh Lang Hoàn cẩn viết
Việt Lịch, kỷ nguyên 4881
Phật Lịch 2546
Ngày 19 tháng 2, năm Nhâm Ngọ (2002)
[1] Tất cả chi tiết về bà chúa Liễu Hạnh và các trích dẫn liên hệ, đều dùng quyển Tứ Bất Tử của Vũ Ngọc Khánh và Ngô Ðức Thịnh, các trang 101-129, làm dữ kiện.
[2] Ngọc Kinh Lang Hoàn & Thích Quán Thông. Việt Đạo: Đạo lý uyên nguyên của tộc Việt, đăng tải trên Nguyệt san Giác Ngộ, quên tháng, năm 1996.
[3] Hai câu trong bản văn Lục Vân Tiên của thi hào Nguyễn Ðình Chiểu, tả lúc Kiều Nguyệt Nga muốn ra khỏi kiệu để cảm tạ Lục Vân Tiên cứu nạn. Nêu thí dụ này chúng tôi không có ý đả kích Nguyễn Ðình Chiểu, mà chỉ muốn mượn một mẩu chuyện và các câu thơ phổ biến thật rộng rãi trong dân gian để nêu lên một khía cạnh nhỏ của vấn đề quân tử và tiểu nhân mà thôi.
[4] Theo truyền thuyết Phật giáo Việt nam, là người phụ nữ đầu tiên tồn tại khoảng đầu kỷ nguyên dương lịch với hiện tượng bốn ngôi chùa đầu tiên là Pháp Vân (chùa Dâu), Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện.