Nhà Nguyễn: Gia Long [21/1/1814-8/2/1815]

Hồ Bạch Thảo
Tháng giêng năm Giáp Tuất Gia Long thứ 13 [21/1-19/2/1814], thổ phỉ ở Tuyên Quang ngụy xưng niên hiệu Thuận Chính, chiêu tập đồ đảng cướp bóc dân địa phương. Quan trấn phát binh đi bắt được hết đồ đảng. Sự việc tâu lên, Vua cho rằng dân ngoài biên không hiểu biết, bị giặc lừa dụ; hạ lệnh giết kẻ đầu sỏ, còn lại bao nhiêu thì tha hết.
Thanh Hóa giặc nổi lên, cướp bóc các hạt Vĩnh Lộc, Yên Định. Trấn thủ Trần Công Lại đem quân đi bắt. Giặc chạy đến miền thượng đạo, mật sai thống lĩnh Hà Công Thái chặn đánh, bắt được bọn giặc hơn 30 người. Việc tâu lên, Vua khen sai Thiêm sự bộ Hình Nguyễn Hữu Nghi đem vàng lụa thưởng cho.
Thổ phỉ Cao Bằng là Nông Văn Nho họp đảng sang cướp châu Quy Thuận [Jingxi, Quảng Tây] nhà Thanh. Quản châu là Bành Dụng Ký bắt được, gửi thư cho Bắc Thành hẹn đến cửa ải họp để trả. Quan Bắc Thành đem sự việc tâu lên; Vua thấy Hiệp trấn Hải Dương là Nguyễn Văn Lễ trước làm Hiệp trấn Cao Bằng, hiểu rõ tình hình ngoài biên nên sai đi; Nho và đồ đảng đều bị giết.
Quan thành Gia Định tâu nói: “Thuế lông chim ở đạo Kiên Giang trấn Hà Tiên đã bãi bỏ rồi, nay tiểu dân có nhiều người lấy trộm để bán cho thuyền buôn mà kiếm lợi. Vậy xin sai trấn thần ủy dân sở tại giữ lấy, hằng năm phải nộp quạt lông chim đen 50 bộ, quạt lông nhỏ 100 chiếc. Nếu dám mua bán riêng thì có tội”. Vua y cho.
Ngày Ất Mùi mồng ba tháng hai [22/2/1814] Hoàng hậu họ Tống băng, thọ 54 tuổi; đặt quan tài ở điện Khôn Nguyên. Ngày Canh tuất 18 [9/3/1814] lễ thành phục. Vua mặc áo sổ gấu đến lạy hai lạy, sai Hoàng tử dâng cơm tế điện. Trước kia Hoàng tử thứ tư [Minh Mệnh] mới lên 3 tuổi, vua cho Hoàng hậu nuôi làm con mình. Hoàng hậu đòi làm giấy khoán, theo thế tục, phàm nuôi con người làm con mình thì phải có khế khoán. Vua viết giấy sai Lê Văn Duyệt đưa cho; Hậu giao cho cung tỳ Nguyễn Thị Lê cất giữ. Từ đấy Hoàng tử thứ tư thường vào chầu ở đại nội, làm con của Hoàng hậu, gọi là mẹ. Đến khi Hoàng cả là Cảnh, Hoàng hai là Hy, Hoàng ba là Tuấn nối nhau mất, Hoàng tư lấy thứ bậc là lớn nhất, duy đời trước phái trưởng phần nhiều khó nuôi cho nên không muốn gọi là trưởng. Đến nay làm lễ tang Hoàng hậu, bầy tôi có người bàn lấy hoàng tôn Đán [con hoàng tử Cảnh] làm chủ tự. Vua dụ rằng:
“Hoàng tư từng làm con của Hoàng hậu, đã có giấy tờ, nên sai làm chủ tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lễ đích tôn thừa trọng như nhà thường”.
Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó gọi, Vua bảo rằng:
“Con theo mệnh cha tế mẹ là việc danh chính ngôn thuận, có gì mà không nên”.
Bấy giờ việc bàn bạc mới định; Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng.
Đúc tiền đồng 6 phân hiệu “Gia Long thông bảo”; sai cục Bảo tuyền Bắc Thành phỏng theo phép đúc tiền của nhà Thanh mà làm.
Tháng hai nhuần [22/3-19/4/1814], Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn cũng xin chịu tang Hoàng hậu, quan thành Gia Định đem việc tâu lên; Vua bảo để tâm tang 13 ngày thôi; Nặc Chăn bèn sai sứ đến dâng hương.
Ngày Quý Sửu 22 tháng ba [11/5/1814], dựng Thọ lăng ở Thụ Sơn, xã Định Môn [huyện Hương Trà, Thừa Thiên]. Trước đây, Đại hành hoàng hậu băng, vua cùng đại thần bàn muốn phỏng theo lễ hợp lăng (1) Bèn sai làm lăng, mặt trước rộng 150 trượng, 3 mặt tả hữu hậu đều rộng 100 trượng. Bốn mặt thành chính đều dài hơn 10 trượng; chỗ chính huyệt đặt 2 cái quách đá, cửa trước xây bực đá. Mấy tháng làm xong, gọi tên là lăng Thiên Thụ, phong cho núi là núi Thiên Thụ
Giặc trốn ở Bắc Thành là Lê Đoàn họp đảng hai trăm người cướp ở xã Lạt Sơn [huyện Kim Bảng, Hà Nam], đốt phá hơn trăm nhà. Trưởng hiệu đồn Bút Sơn là Nguyễn Đăng Bích đem quân và dân đánh nhau với giặc, bắt được đồ đảng hơn 40 tên. Việc tâu lên, thưởng cho Đăng Bích 100 quan tiền, binh lính 200 quan tiền, dân làng Lạt Sơn 1.000 quan; người chết và người bị thương thì cấp tiền tuất cho gia đình.
Tháng tư [20/5-17/6/1814], vét sông An Cựu đến giáp phá Hà Trung. Vua đến làng Thanh Thủy [huyện Hương Thủy, Thừa Thiên] xem hình thế, vời các phụ lão đến bảo về công việc vét sông; phụ lão thưa rằng:
“Đời xưa có ngòi lạch để phòng nắng lụt, để chứa lại hay tháo đi. Nay khai sông này, thực lợi cho nông dân lắm”.
Bèn sai quan dinh Quảng Đức [Thừa Thiên] đo đường sông mà khai vét. Lại ở xã Thần Phù [huyện Hương Thủy, Thừa Thiên] xây 1 cái cống có cánh cửa để ngăn nước mặn, dùng 1vạn 3 nghìn người làm, chi tiền 130.400 quan, gạo cũng tương đương thế; nhờ đấy nước sông lưu thông, dân đều tiện lợi.
Kén lính ở Gia Định; đây là đất quan trọng ở cõi Nam, quan Tổng trấn tâu xin kén lính, để làm mạnh biên phòng. Vua giao xuống triều đình bàn, chuẩn cho theo sổ tuyển năm Quý Dậu [1813] lấy dân đinh các hạng tráng gồm 49.700 người; chiếu dụ rằng:
“Gia Định là đất trung hưng. Trước kia đất 1 thành, quân 1 lữ mà lấy lại được cơ nghiệp cũ. Sau khi đại định, vui cho dân ta nghỉ vai. Nhưng lại nghĩ nước nhà dẫu yên, không nên quên việc đánh dẹp. Huống chi ở gần biên giới phải biết phòng bị trước mới khỏi lo sau. Nay chuẩn theo đình nghị, kén lấy binh lính, biên thành cơ đội, là vì bọn ngươi sinh trưởng ở đấy, quen thuộc đất nước, khi không việc thì chia phen mà rèn tập, lúc có việc thì ra sức mà chống đánh, dùng binh ở đất ấy để giữ đất ấy, không ví như những binh kén ở nơi khác thường phải gọi đi thú ở xa. Dân chúng các ngươi nên thể lòng trẫm, dân yên làm ăn, binh vui phục dịch, không nên ngờ sợ”.
Tháng năm [18/6-16/7/1814], bọn quan bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy [Thoại] và Trần Công Đàn làm việc phần nhiều chuyên quyền độc đoán, Phiên vương bị chèn ép, lòng người ngờ sợ. Việc đến tai vua, Vua với bầy tôi bàn, Nguyễn Văn Thành tâu rằng:
“Nước Chân Lạp là thuộc quốc của ta, đời đời cống hiến. Nay vì nước ấy suy nhược, triều đình sai quan bảo hộ, thực là việc nghĩa cử. Song đặt chức bảo hộ là cốt giữ cho nước ấy được còn, chứ không phải để giám trị nước ấy. Vậy nên hạ lệnh cho bọn Thụy chớ nên can dự vào chính sự nước ấy, để cho Phiên vương được tự làm việc, thì lòng dân sẽ yên”.
Vua cho là phải, chiếu cho bọn Thụy rằng phàm là việc nước Chân Lạp thì để cho vua quan nước ấy phân xử không được can thiệp.
Hạ lệnh cho Bắc Thành hằng năm cấp tiền gạo cho họ Lê. Trước kia đã ân cấp tự dân hơn 1.000 người, tự điền 1.000 mẫu, khiến tự thu lấy 3.000 quan tiền và 6.000 phương gạo. Đến nay bọn Lê Duy Khải cho rằng thu ở dân không tiện, xin hạ lệnh cho dân y số nộp vào quan, rồi quan cấp cho; Vua y theo lời xin.
Tháng sáu [17/7-14/8/1814], bỏ thuế hoa chi (2) ở Long Xuyên, Kiên Giang và Trà Vinh. Vua cho rằng dân sinh ra trộm cắp đều là do đánh bạc, bèn hạ lệnh bỏ ngạch thuế hoa chi. Ai còn dám mở sòng chứa bạc thì bắt tội.
Xiêm La sai Sá Sâm Phủ Di Lạc đem phẩm vật đến hiến. Thư nói rằng triều đình hậu đãi Chân Lạp, Xiêm vương cũng cám ơn. Nhưng Nặc Chăn vốn là phên giậu của nước Xiêm, nếu Chăn không chầu nước Xiêm, thì nước Xiêm không trả Nặc Nguyên về.
Nguyễn Văn Thành cho rằng ý trong thư bất hòa; gạn hỏi thì sứ giả trả lời lúng túng. Lê Văn Duyệt ở Gia Định cũng lấy việc biên giới làm lo, ý muốn đánh trước, bèn gửi thư kín cho Nguyễn Đức Xuyên, Đức Xuyên đem việc tâu lên.
Vua dụ Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Đức Xuyên rằng:
“Giọng của sứ Xiêm không nên để ý. Ta cùng Phật vương trước kia có tình giao hảo, kết nghĩa với cha mẹ mà đánh con thì các nước láng giềng sẽ bảo ta ra sao? Vả lại việc can qua mới yên, dân đương vui được nghỉ ngơi, trẫm không muốn lại làm mệt tướng sĩ ở dưới giáo mác. Được một nước Chân Lạp mà để lo cho đời sau, thì trẫm không làm. Hãy đem ý trẫm dụ cho Duyệt biết”.
Hơn một tháng sau, hậu đãi sứ giả rồi cho về; tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 100 lạng bạc.
Ngày Mậu Tuất mồng 10 tháng bảy [24/8/1814], dâng sách đặt tên thụy cho Đại Hành Hoàng hậu Tống thị, mẹ Hoàng tử Cảnh, là Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu. Sách văn như sau:
“Việc trong nhờ nội tướng, Kinh Thi chép thiên Chính thủy ở đầu; Đại hành nhận đại danh phép Lễ trọng trang hoàng lúc chót.
Nhớ người đức tốt, nên đặt tên hay. Đại hành Hoàng hậu Tống thị, là con nhà dòng, học đời dạy nghĩa. Duyên trời kết hợp, cùng trẫm tu tề. Trong khi mây sấm tối tăm, gặp gió bụi hết lòng chống đỡ; giữa buổi biển trời khó nhọc, đã vì ta ra sức lo toan. Đất khách lạnh lùng, lòng vui hầu mẹ; ngày đêm không ngại, cố sức giúp ta. Thù miếu xã nặng nề, nghĩ quyết cùng ta báo phục; tình lê dân đau khổ, nghĩ phải cùng ta cưu mang. Nên khi trẫm khôi phục đất đai, quét thanh bờ cõi; hậu hay đem điều hiếu phụng sự tổ tiên. Một vẻ khiêm cung, tiếp đãi người dưới. Đối phi tần giữ niềm nhân hậu, đối con cái đều lòng mến yêu. Ra ơn đến cả võ văn, để ý đến nơi làng xóm. Tang chế Thái hậu, thương xót đến điều. Sau trước một niềm, trong ngoài đều cảm. Tuổi thọ chưa đầy sáu chục; xe tiên phút đã giục đi. Nhớ người giúp việc tốt lành nên tặng di chương rực rỡ. Vậy nay thỉnh mệnh Tôn Miếu, đặc biệt sai quan Khâm sai chưởng Hữu quân kiêm giám Thần sách quân Khiêm quận công Phạm Văn Nhân làm Chánh sứ, Thượng thư Lễ bộ Hưng nhượng hầu Phạm Đăng Hưng làm Phó, dâng sách đặt tên thụy là Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu. Mong cho vui nhận tên hay để thơm muôn thủa. Than ôi! Khen việc làm cốt để nêu công, lễ cần nên thế; sống vẻ vang chết đành thương xót, xin Hậu chứng cho. ”
Dân xã Quy Lai [huyện Phú Vang, Thừa Thiên] dinh Quảng Đức [Thừa Thiên] xin mở đập Mậu Tài [tên tổng] để lấy nước vào ruộng vụ mùa. Quan tại Dinh đem sự việc tâu lên, Vua nói:
“Nước sông tưới ruộng há có phải lợi riêng cho 1 ấp đâu?”.
Bèn y cho.
Nước Xiêm La điều 300 binh và 50 thuyền đến đóng ở Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia]. Tổng trấn thành thần Gia Định nghe tin, mật bảo Nguyễn Văn Thụy đem quân và voi đi tuần biên giới để thị uy.
Tháng tám [14/9-12/10/1814], chế đạn cho súng, hạ lệnh cho đội Thạch cơ lấy đá đen ở nguồn Sơn Bồ để làm.
Thổ phỉ ở Thái Nguyên đánh cướp huyện Võ Nhai. Trấn thủ Trần Văn Thìn đem quân đánh bắt, nhân đó dung túng cho bộ hạ cướp bóc tài sản của dân. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên, Văn Thìn bị tội bãi chức bắt về làm dân.
Tháng chín [13/10-11/11/1814], lấy Tuyên úy Thiêm sự Tuyên Quang là Ma Doãn Điền quản hiệu Hùng Nhất, Thổ mục Ma Sĩ Nhuận làm Chánh thủ hiệu quản hiệu Hùng Nhị, cùng lãnh thuế mỏ xưởng đồng Tụ Long và thuế cửa quan .
Tháng mười [12/11-11/12/1814], tướng giặc Bắc Thành là ngụy Tham quân Khuê, Đốc chiến Vượng, Tham binh Hựu, Hậu chi Vưu, 9 người ra thú, quan Bắc Thành cho rằng bọn Khuê ra thú ngoài hạn, phép không thể tha được, xin giết. Vua xuống chiếu trả lời rằng:
“Kẻ tiểu dân lỡ bước trù trờ trông ngóng, tự rước cái vạ là kẻ đi sau, phép tuy khó khoan, tình thì nên thứ. Huống chi bọn giặc trốn ở thành lẩn lút còn nhiều, lên rộng gia ơn để mở con đường đổi mới. Vậy nên tha tội cho bọn Khuê, mà định lại gia hạn thú, từ tháng 10 năm nay đến mồng 1 tháng 3 năm sau [10/4/1815]. Những người tội phạm, không kể người đầu sỏ hay đi theo, biết ăn năn tội lỗi mà ra thú thì đều cho miễn tội”.
Tháng 11 [12/12/1814-9/1/1815] nước Xiêm sai bọn Sá Sĩ Na Phạt Đa đến dâng hương viếng Hoàng hậu họ Tống mất. Ngày tế điện lớn, bộ Lễ dẫn sứ đến cung Khôn Nguyên lạy viếng. Vua dụ các quan rằng:
“Việc tang một năm theo lễ thì không báo tin buồn cho nước ngoài. Nay người Xiêm tự đến, tình lễ nồng nàn, ta nên hậu đãi sứ giả rồi cho về”. Tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc.
Ngày Canh Thìn 24 tháng chạp [2/2/1815] sửa lăng Cơ Thánh (3).
Trưng 9.500 người binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình [Ninh Bình] đưa về Kinh: Thanh Hoa 1.200 người, Nghệ An 2.800 người, Bắc Thành 5.300 người, Thanh Bình 200 người.
Chú thích:
1.Hợp lăng: Táng 2 ông bà vào một lăng, cũng gọi là song táng.
2.Thuế hoa chi: Thuế sòng bạc.
3.Lăng Cơ Thánh: Lăng Hưng tổ Hiếu khang hoàng đế, sinh ra Gia Long tại xã Cư Chính huyện Hương Thủy, Thừa Thiên.