Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 11)

Nhà Nguyễn: Gia Long  [1/2/1813-20/1/1814]

Hồ Bạch Thảo

Tháng giêng năm Gia Long thứ 12 [1/2-2/3/1813], bắt đầu đúc tiền kẽm nặng 7 phân, hiệu “Gia Long thông bảo”; qui định cứ 125 quan tiền kẽm đổi được 100 quan tiền đồng.

Số hộ khẩu ở Gia Định  hằng năm tăng thêm, quan dâng số đinh lên, số mới thêm được 26.500 người; Vua bảo:

“Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước mới yên. Bèn xuống chiếu phàm dân mới biên vào sổ, từ tháng 10 năm Nhâm Thân [4/11-3/12/1812] đến tháng 12 năm nay [23/12/1813-20/1/1814], thuế thân và thuế sản vật đều miễn.”

Hạ lệnh cho các trấn thủ địa phương dọc biển đo cửa biển sở tại, sâu nông rộng hẹp thế nào, hằng năm cứ đến mùa xuân, mùa đông thì dâng bản đồ lên. Bộ Công sẽ đưa bản đồ cho các đội thuyền vận tải thủy quân, để biết rõ đường.

Thổ phỉ trấn Tuyên Quang là Lý Trương Hoàng giả xưng là con cháu nhà Lý, làm tờ hịch giả, chiêu dụ người thiểu số là bọn Hà Mỹ, Hà Cá, mưu đánh úp trấn thành. Bọn Mỹ, Cá mật báo cho chỉ huy đồn Tụ Long (1) là Ma Doãn Điền và đồn Phước Nghi là Ma Doãn Trinh đem quân ập bắt giết đi. Sự việc tâu lên, cho Doãn Điền làm Tuyên úy thiêm sự, Doãn Trinh và Mỹ, Cá làm Chánh phó thuộc hiệu.

Tháng hai [3/3-31/3/1813], dời trấn lỵ Thái Nguyên đến xã Đồng Mỗ [huyện Động Hỷ]. Trấn lỵ trước ở xã Bình Kỳ thuộc huyện Thiên Phước [huyện Sóc Sơn, Hà Nội], địa thế xa cách, bèn sai dời đến Đồng Mỗ để tiện việc cai trị.

Đắp đài Điện Hải và đồn An Hải ở Quảng Nam; đài ở bên tả cửa biển Đà Nẵng, đồn ở bên hữu. Sai Nguyễn Văn Thành trông coi, công việc xong, để lại 500 quân đóng giữ.

Phong Cai bạ Quảng Bình là Nguyễn Du làm Cần chánh điện học sĩ, sung Chánh sứ sang cống nhà Thanh cho hai lễ cống năm Tân Mùi [1811-1812] và Quý Dậu [1813-1814]; Thiêm sự bộ Lại Trần Vân Đại và Nguyễn Văn Phong sung Giáp Ất Phó sứ. Sứ bộ đến Bắc Kinh vào tháng 10, được ban thưởng và dự yến:

”Ngày 4 Ðinh Dậu tháng 10 năm Gia Khánh thứ 18 [27/10/1813]. Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh sai sứ dâng biểu, cống sản vật địa phương. Ban thưởng và yến tiệc theo lệ.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 276, trang 12)

Tháng 3 [1/4-30/4/1813], lấy đỗ Hương cống 21 người tại các trường thi Thanh, Nghệ. Trường Thanh Hoa: Lê Huy Côn, Lâm Văn Bính, Cao Nguyên Luận, Hoàng Đức Nhân, Nguyễn Giáp, Lê Duy Cao, Lê Hữu Đức, Nguyễn Nhân, Võ Đích, gồm 9 người. Trường Nghệ An: Lưu Công Đạo, Võ Khắc Kiêm, Võ Duy Tân, Phạm Đình Trọng, Hồ Phức Tương, Hoàng Văn Vận, Nguyễn Thế Cát, Ngụy Khắc Thận, Lê Nguyên Chung, Bùi Danh Cung, Vũ Huy Quýnh, Nguyễn Duy Phiên, gồm 12 người.

Nước Xiêm La sai bọn Phi Nhã Ma Kha A Mặc dâng phẩm vật địa phương, và xin cùng đưa Vua Chân Lạp, Nặc Chăn, về nước. Vua thấy thư Xiêm gởi đến, lời lẽ thuận tình, bèn cho triệu sứ đến kinh. Xuống chiếu cho quan thành Gia Định chỉnh bị binh thuyền để chờ, đem việc báo trước cho quan dân Chân Lạp biết. Hơn một tháng sứ Xiêm trở về Gia Định, tặng cho rất hậu; riêng tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc.

Đổi cửa Eo làm cửa Thuận An, xây đài Trấn Hải bên cạnh. Xưa gọi là Eo, ý nói cửa nông hẹp khó đi. Ở kinh sư chỉ có cửa này và cửa Tư Dung; từ khi cửa Tư Dung trở nên cạn, thì hải vận đều ra vào cửa này, cửa rất xung yếu, nhưng đường lạch quanh co, bên cạnh có bãi cát ngầm rất trở ngại cho đường biển. Từ khi vâng mệnh đặt Thuận An, thì buồm gió thuận lợi.

Định lại thuế buôn đường bộ ở Bắc Thành. Phàm những lái buôn người Thanh, đi qua đường Lạng Sơn, cùng các thuyền công tư chở hàng buôn; khì đánh thuế hàng hóa, cứ giá hàng 100 quan thì nộp 2 quan 5 tiền thuế.

Tháng 4 [1/5-29/5/1813], Vua ra cửa biển Thuận An xem đài Trấn Hải. Dựng đền thờ thần (2) và đền Thai Dương phu nhân ở cửa biển này.

Ban chiếu sai Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt và Hiệp tổng trấn là Ngô Nhân Tĩnh điều động thủy binh hơn 13.000 người đưa quốc vương Chân Lạp Nặc Chăn về nước. Ngày mồng 3 [3/5/1813], quân ta xuất phát từ Gia Định; sứ Xiêm là bọn Phi Nhã Ma Kha A Mặc đem sứ bộ Xiêm đi theo. Ngày 14 [14/5/1813], quân ta đến Long Úc [Udong, Campuchia] . Tướng Xiêm là bọn Phi Nhã Phì Sai Bô Liên Tra, Phi Nhã Phì Phạt Cô Sĩ đến cửa quân lạy tờ chiếu. Ngày 18 [18/5/1813], Nặc Chăn vào thành La Bích [Longvek, Campuchia], sai bề tôi là Cao La Hâm dùng 500 quân hộ vệ.

 Bọn Văn Duyệt định rõ hiệu lệnh, cấm cướp bóc, tỏ uy tín, thương dân Di, người Xiêm nghe tiếng, rụt rè sợ hãi, dân Chân Lạp nhờ đó được yên. Trước đây Nặc Chăn sang ở nước ta, người Xiêm lấy làm giận, cùng nhau bàn mưu rằng:

 “Nước Xiêm là một nước lớn, đã không sai khiến được người mà lại bị người sai khiến, thì còn ra nước gì nữa”.

Bèn bàn muốn lấy đất Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia] phong cho Nặc Nguyên, nhưng lại sợ triều đình ta hỏi tội, không dám xin. Khi nghe tin Nặc Chăn sắp về nước, cho rằng quân ta chắc không có nhiều, bề ngoài tuy sai sứ đến hội đưa Nặc Chăn về, tỏ ra hòa hảo, mà trong thì sửa soạn đánh nhau, ngầm muốn nhân lúc sơ hở đánh úp để cho hả giận. Đến bấy giờ quân Văn Duyệt kéo đến, thanh thế lừng lẫy, người Xiêm bèn thôi  mưu mô, sai sứ đem sản vật cho Nặc Chăn và ủy lạo tướng sĩ ta. Nhưng quân Xiêm đóng ở Long Úc lâu không rút về, hẹn đưa Nặc Nguyên về nước lại không đưa. Bọn Văn Duyệt đem đủ tình trạng tâu lên, và nói:

“Xiêm La muốn được Chân Lạp thì phải dùng Nặc Nguyên làm món hàng quý, mà ta muốn che chở đất Gia Định tất phải dùng Nặc Chăn làm phiên thần. Ta đưa Nặc Chăn về nước, người Xiêm bất lợi nhiều lắm, chưa chắc họ đã không mưu tính khác, mà phiên vương chưa chắc đã khỏi lo về sau. Nay quân ta đóng lâu thì già quân mà phí của, về hết thì phiên vương đơn nhược mà không có phòng bị. Vả thành La Bích [Longvek, Campuchia],  chật hẹp, không đủ để giữ. Xin đắp thành Nam Vang cho phiên vương ở, đắp thành Lô Yêm để chứa lương thực. Khi thành đắp xong sẽ để một số quân lại bảo hộ nước ấy, còn đại binh thì  rút về Gia Định, chờ xem động tĩnh. Như thế thì lẽ thuận nghịch có khác, tình hình lao dật không giống nhau, muốn đánh thì đánh, muốn hòa thì hòa, phần thắng vẫn thuộc về ta”.

Vua rất lấy làm phải, bèn lệnh cho Lê Văn Duyệt đem thủy quân đóng giữ sông Xà Năng và đem bộ quân đóng đồn các nơi trọng yếu và gấp gửi quốc thư trách nước Xiêm rằng:

“Xiêm vương vốn muốn Chăn và Nguyên giải mối thù oán cho trọn tình nghĩa anh em, nay Chăn đã về nước mà Xiêm chưa giải binh là tại cớ gì? Phàm cứu tai nạn, thương láng giềng, gây đức mà giúp người cùng ý muốn, đó là đạo đời xưa. Nếu làm ở trước mà để oán sau, thì việc cất quân ấy chẳng là trái lắm sao? Huống chi Nặc Nguyên phản anh giữ nước, tội không kể xiết. Bản quốc cùng với Xiêm vương sở dĩ làm ngơ để đó, là nghĩ nó còn trẻ, muốn cho đổi lỗi mà thôi. Nay Nặc Chăn đã biết ơn Xiêm vương khoan tha thì Nặc Nguyên há chẳng nghĩ đến ơn bản quốc dung thứ sao mà còn cứ chấp mê một đường như thế? Thử nghĩ xem, kẻ giặc đã bị thiên hạ đều muốn giết thì còn trốn vào nước nào được?”.

Người Xiêm nhận được thư cả sợ, tức thì sai tướng lui quân đến Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia] , lại sai Nặc Nguyên viết thư kể tình anh em để tạ Nặc Chăn; nhưng cuối cùng Nguyên vẫn chưa chịu về nước.

Vua lại thấy nước Chân Lạp mới yên, kho tàng trống rỗng, cho Nặc Chăn 3.500 lạng bạc, 5.000 quan tiền và 10.000 hộc thóc; Nặc Chăn cùng với người trong nước dâng biểu tạ ơn. Quân ta đắp thành Nam Vang và thành Lô Yêm, xây đài An Biên ở đất Quỷ Chàng Oa, trên đài dựng nhà Nhu Viễn làm nơi cho Vua Chân Lạp bái vọng.

Sửa đền thờ Khai quốc công thần Nguyễn Hữu Kính. Đền ở Nam Vang; trước kia Nguyễn Hữu Kính đi kinh lược Chân Lạp đóng quân ở đấy; sau khi chết, dân Chân Lạp làm đền thờ ngay đấy, gọi là đền Lễ Công.

Tha thuế thân năm nay cho hương binh ở bốn trấn Gia Định theo việc quân ở Chân Lạp.

Chế hai thứ cân là cân Bình Thiên và cân Trung Bình. Phàm hàng hóa hạng đồng thiếc kẽm sắt thì dùng cân Bình Thiên; vàng, bạc thì dùng cân Trung Bình.

Ngày 12 tháng 5 [10/6/1813], Vua ngự giá đi tuần Quảng Nam. Sai bọn Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm, Trịnh Hoài Đức ở lại giữ kinh thành; phàm những tấu sớ của các địa phương từ Quảng Trị ra Bắc đều phải chuyển đệ đến hành tại [nơi Vua trú]. Ngày 15 [13/6/1813] đến Đà Nẵng, xem pháo đài Điện Hải. Ngày19 [17/6/1813], sai quan yết lăng Vĩnh Diễn [Hoàng hậu vợ Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] và lăng Vĩnh Diên [Hoàng hậu vợ Chúa Nguyễn Phúc Lan]; ngày 25 [23/6/1813], xa giá trở về kinh.

Khởi phục Nguyễn Văn Như làm Án thủ cửa biển Đà Nẵng, sai đốc các quân đóng 35 chiếc thuyền sam bản; cho quân và thợ 1.900 quan tiền.

Tháng 6 [28/6-26/7/1813], thổ phỉ ở Nghệ An cướp bóc các huyện Quỳnh Lưu, Đông Thành, Nam Đàn, Thanh Chương, La Sơn, Hương Sơn; Quản phủ Đức Quang [Đức Thọ] là Nguyễn Văn Tuấn đánh, bị giết. Trấn thủ Hoàng Viết Toản đem quân đuổi bắt, giặc trốn sang Vạn Tượng. Viết Toản gửi thư sai Vạn Tượng giữ nơi hiểm yếu để ngăn chặn, thế giặc càng nguy; quan quân bắt được và chém chết rất nhiều. Việc tâu lên, Vua xuống chiếu rằng:

“Bọn tiểu dân đói rét, đến nỗi lỡ chân, cũng như chim đến lúc cùng thì mổ, thú đến lúc cùng thì vồ. Nay không nên đuổi đánh tới cùng, chỉ nên phòng bị nghiêm nhặt, đừng để nó lan rộng ra mà làm khổ cho trăm họ thôi”.

 Nhân dụ cho Vạn Tượng bãi binh và hậu thưởng; truy tặng Văn Tuấn làm Cai cơ, lấy Vệ úy Phan Bá Phụng làm Quản phủ Đức Quang.

Người nhà Thanh đưa giải tên giặc trốn ở Tuyên Quang là Hoàng Văn Thái về Bắc Thành; Thái chết dọc đường, đồ đảng đều bị giết. Trước kia Thái họp đảng đánh cướp ở vùng Tụ Long (1) và Thủy Vĩ [Lao Cai]; Bắc Thành đem quân tiễu bắt. Thái cùng đường phải trốn sang Vân Nam. Đồ đảng người Thanh là bọn Trương Thế Nguyên, Trương Lão Mục, Trương Lão Nhị đều bị quan quân bắt được. Vua sai quan Bắc Thành trả bọn giặc bị bắt cho nhà Thanh và đòi bắt tên Thái đưa về trị tội. Đến nay Thái cùng đồ đảng bị quân Thanh bắt hết đưa về ải Nam Quan, giao cho Bắc Thành xét tội rồi giết.

Tháng 7 [27/7-25/8/1813], bắt đầu mở khoa thi Hương từ Quảng Bình trở vào Nam. Sai Tham tri Hình bộ là Phạm Như Đăng sung Đề điệu trường Quảng Đức [Thừa Thiên], Thị trung học sĩ là Võ Trinh sung Giám thí; Tham tri Lễ bộ là Lê Chính Lộ sung Đề điệu trường Gia Định, Cai bạ Bình Hòa là Ngô Lương Uyển sung Giám thí; lấy đỗ hương cống 17 người. Trường thi Quảng Đức: Hoàng Văn Đản, Nguyễn Bá Thịnh, Hoàng Quốc Điều, Nguyễn Lý Hào, Phạm Đình Thuận, Nguyễn Văn Thuyên, Lê Văn Đức, Đặng Văn Hòa, Trần Văn Tú, cộng 9 người. Trường thi Gia Định: Nguyễn Bảo Bang, Nguyễn Chí Thành, Lưu Bảo Tam, Đoàn Trọng Quýnh, Trần Văn Hương, Lê Văn Thịnh, Nguyễn Tiến Bách, Phạm Vĩnh Thế, cộng 8 người.

Hai thành Nam Vang và Lô Yêm đắp xong. Chiếu ban cho Lê Văn Duyệt rút quân về, lưu Nguyễn Văn Thụy dùng hơn 1.000 quân đóng giữ thành Nam Vang, bảo hộ nước Chân Lạp. Trước đây quân Xiêm đã rút lui, nhưng sợ ta tiến đánh, vẫn đóng quân lại ở Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia]. Vua muốn giải mối ngờ, bèn sai rút quân ta về; quân Xiêm nghe tin cũng rút.

Triệu Bồn Nha Xa Kê nước Chân Lạp từ Xiêm trốn về, Nguyễn Văn Thụy đem việc tâu lên; Vua nói:

“Xa Kê trước kia theo Nặc Nguyên làm phản, nay hoặc nhớ đất nước mà trốn về, hay vì kẻ khác mà về do thám cũng chưa biết chừng”.

Bèn bảo Vua Chân Lạp khéo léo phủ ủy, rồi viết thư chiêu dụ Nặc Nguyên, sai Xa Kê đem đi, để xem ý tứ y ra sao.

Tháng 8 [26/8/23/9/1813] lấy Lê Đồng Lý và Phan Huy Thực sung Hàn lâm viện, hai người có văn học, do Phạm Đăng Hưng tiến cử.

Nước Chân Lạp dâng 88 thớt voi; Vua cho rằng nước ấy bắt đầu xây dựng lại, kho tàng thiếu hụt, nên sai quan thành Gia Định lấy bạc kho trả đúng giá. Voi cao 6 thước trở lên là hạng nhất, trả 50 lạng bạc, cao 5 thước ba tấc là hạng nhì, trả 40 lạng bạc, cao 4 thước 4 tấc trở lên là hạng ba, trả 30 lạng.

Sai bộ Hộ hội làm sổ tổng kê số tiền bạc ở kho tàng các trấn đạo từ Bình Hòa [Ninh Hòa, Khánh Hòa] đến Bắc Thành; số tiền là 1.203.532 quan, số bạc là 180.222 lạng, số thóc là 6.847.687 phương.

Tháng 9 [24/9-23/10/1813], tha tội chết cho Đặng Thần Thường và Nguyễn Gia Cát. Vua xét thu thẩm (3), nghĩ thương bọn Đặng Trần Thường có công tha cho; nhưng không được làm quan, cho ở Kinh.

Lấy Ký lục quản Nội đồ gia là Trần Công Đàn làm Tả tham tri Binh bộ, hiệp cùng Nguyễn Văn Thụy bảo hộ Chân Lạp. Đàn từ giả bệ rồng, Vua dụ rằng:

“Chân Lạp là nước phên giậu của ta, nay nước ấy mới yên, nhân dân chưa tụ tập, cho nên sai bọn ngươi sang bảo hộ. Bọn ngươi nên thể tất đức ý của triều đình, đừng tham tiền của, đừng dùng kẻ gian, đừng bóc lột dân Man, đừng quấy rối biên cương. Ngươi đi đi, chớ trái mệnh ta”.

Lấy Cựu khâm sai Trưởng cơ Nguyễn Thụy lãnh Trấn thủ Định Tường; Cai cơ Nguyễn Văn Khoa Quản thủ đạo Đông Khẩu [thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp]; Nguyễn Văn Châu Quản thủ đạo Hưng Phước [Bà Rịa]; Phạm Văn Uông Quản thủ đạo Trấn Giang [Cần Thơ]; Trương Phước Quyền Quản thủ ba đạo Tân Châu [An Giang], Chiến Sai [An Giang], Hùng Ngự [Hồng Ngự,  Đồng Tháp].

Quảng Ngãi và Bình Định lụt, lúa mạ ngập; sai quan trấn lấy thóc kho ra phát chẩn, lại cấp cho thóc giống để dân gieo mạ.

Tháng 10 [24/10-22/11/1813], sai Hiệp trấn Thanh Hoa Nguyễn Hoài Quỳnh sung Đề điệu trường thi Thăng Long, Hiệp trấn Lạng Sơn Lê Duy Đản sung Giám thí; Tham tri Hộ bộ Nguyễn Đình Đức sung Đề điệu trường thi Sơn Nam thượng, Thị trung học sĩ Phạm Thích sung Giám thí; lấy đỗ hương cống 44 người. Trường thi Thăng Long: Nguyễn Đình Cấp, Ngô Trọng Tân, Đỗ Tuấn Đại, Nguyễn Siêu, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Mậu Chiêu, Nghiêm Thế Nghĩa, Nguyễn Văn Lệ, Lê Đạo Quảng, Nguyễn Danh Bích, Ngô Hữu Bát, Lê Trần Thanh, Nguyễn Chí, Võ Đình Duệ, Nguyễn Chí Quảng, Lê Quốc Tá, cộng 16 người. Trường thi Sơn Nam thượng: Nguyễn Đình Võ, Nguyễn Đăng Sĩ, Hoàng Khắc Sĩ, Nguyễn Duy, Nguyễn Huy Diễm, Đặng Cử, Đỗ Tuấn Tú, Nguyễn Viết Điều, Phạm Thế Mỹ, Võ Tự, Nguyễn Huy Chuẩn, Trương Cam Triêm, Dương Thế Thịnh, Đoàn Xuân Sảng, Võ Đình Bách, Võ Huy Nhất, Trần Thế Nho, Nguyễn Trân, Nguyễn Quốc Dao, Ngô Hiển Doãn, Lê Vi Quang, Nguyễn Sĩ Bảng, Bùi Tuấn Tuyển, Nguyễn Đình Chu, Nguyễn Võ Ngọc, Nguyễn Trọng Chu, Nguyễn Xuân Tháp, Đặng Dung Bảo, cộng 28 người.

Nước Chân Lạp sai bọn Tham Đích Triệu Bồn Nha và ốc Nha Thu My dâng biểu tạ ơn, nhân xin ban cho triều phục. Vua giao cho triều đình bàn, đều nói triều phục của Phiên vương nên coi như ở trên nhất phẩm; bèn sai Nội đồ gia chế áo mãng bào hồng và mũ đai để cho. Lại cho Phan Hữu Trí làm Cai đội, theo Vua Chân Lạp để phiên dịch.

Hạ lệnh cho Gia Định xem đo đất Chân Lạp, đặt ba đường trạm: một từ sông Cam Bà đến Xỉ Khê [nhánh sông Vàm Cỏ phía tây Tây Ninh] đạo Quang Hóa, hai từ Trang Tân đến Thạch Yển, ba từ thành Lô Yêm [gần Nam Vang] đến Chế Lăng. Lấy dân Chân Lạp sửa đắp, cứ 4.000 trượng đặt 1 nhà trạm, mỗi trạm 50 người phu trạm để thông báo việc ngoài biên.

Hiệp tổng trấn Gia Định là Ngô Nhân Tĩnh chết. Nhân Tĩnh trước sang Chân Lạp, có người nói Tĩnh nhận hối lộ từ nước này, Lê Văn Duyệt đem sự việc tâu lên, Vua nói:

 “Việc không có chứng cớ, hãy để đó”.

Nhân Tĩnh nghĩ không yên lòng, thường tự than rằng:

“Vẽ rắn thêm chân, ai khiến ta mang cái oan không bày tỏ được”.

Đến nay ốm chết, Trịnh Hoài Đức tâu xin truy tặng, Vua không cho.

Người Bình Định bắt được ấn đồng cổ, mặt khắc chữ “Phù Ly huyện ấn” [ấn huyện Phù Ly], lưng khắc chữ “Hồng Đức thập tam niên tạo” [Đúc năm Hồng Đức thứ 13 (19/1/1482-6/2/1483)] . Quan trấn đem dâng, Vua sai cất vào kho.  

Ngày mồng 2 tháng 11 [24/11/1813] Vua thân đến làm lễ tế hết tang Hoàng thái hậu tại cung Trường Thọ; ngày 12 [4/12/1813] rước thần chủ lên phụ vào miếu Vua cha.

Người học trò ở Bắc Thành [thiếu họ tên ] dâng thư nói rằng hai xứ Ninh Biên [Điện Biên] và Trấn Ninh [Xiêng Khoáng, Lào] đất đai rất rộng, cùng với Chân Lạp và Xiêm La tiếp giáp, xin sai quan đại thần đóng giữ vỗ yên, dần dần xem tình thế nếu kẻ kia gây hấn thì nên ước cùng Diến Điện giáp đánh, đó là dùng Man Di để đánh Man Di vậy.

Vua dụ rằng:

 “Nước ta với nước Xiêm La có nghĩa láng giềng đã lâu, Chân Lạp là nước phiên thần của ta, chưa làm việc gì thất lễ, há nên gây hấn ngoài biên?. Còn Diến Điện thì tục hung tợn, không thể thông hiếu được. Ngươi là thư sinh có học thuật, nên do đường khoa mục để tiến thân, đừng nói càn vào việc biên giới mà mắc vào tội lệ”.

 Rồi yên ủi cho về.

Cho Khâm sai cai cơ là Tôn Thất Huyên làm Lưu thủ sung chánh sứ, Cai đội Nguyễn Văn Đường và Mạc Công Du sung Giáp ất phó sứ, đem việc hết quốc tang báo cho nước Xiêm. Tặng Phật vương 2 cân quế, 50 tấm lụa vàng, 40 tấm sa, 200 tấm lụa trắng, đường phổi, đường phèn đều 500 cân, 2.000 cân đường cát, 16 tảng đá xanh; cho vua thứ hai 1 cân quế, 25 tấm lụa vàng, 25 tấm sa, 100 tấm lụa trắng, đường phổi, đường phèn đều 300 cân, 1.000 cân đường cát.

Tháng chạp [23/12/1813-20/1/1814], định lệ thuộc binh ở các phủ đệ hoàng tộc. Vua nghe con em nhà giàu ở các dinh trấn có nhiều người xin vào thuộc binh ở phủ để tránh dao dịch, nhân bảo các quan hầu rằng:

“Nhà nước kén binh đã có quy chế nhất định. Nếu để người giầu được miễn, người nghèo chịu riêng, đâu phải là thể thống làm chính trị”.

Bèn sắc định rằng hoàng tử hoàng tôn đã ra ở phủ riêng thì cho thuộc binh 200 người, chưa ra ở phủ riêng thì thuộc binh 150 người, công chúa thì thuộc binh 50 người, số thừa ra bắt trả về làm dân.

Lấy Thượng thư bộ Lễ bộ Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư bộ Lại, Tham tri bộ Lại bộ là Phạm Đăng Hưng làm Thượng thư bộ Lễ, Tham tri bộ Hình Nguyễn Đăng Hựu làm Thượng thư bộ Binh, Tham tri bộ Hình Phạm Như Đăng lại làm Thượng thư bộ Hình, Tham tri bộ Hộ  Nguyễn Đình Đức làm Thượng thư bộ Hộ.

Thổ phỉ trấn Hải Dương 300 người ngầm họp ở xã Bình Dã, huyện Đường An. Phủ lại là Nguyễn Đức Triệu báo quan vây bắt, chém được 20 đầu giặc; cho Đức Triệu làm Cai hợp, thưởng 100 quan tiền.

Thổ phỉ trấn Hưng Hóa ngụy xưng niên hiệu Cần Chánh, nổi lên ở châu Thủy Vĩ [Lao Cai]. Cai châu Chiêu Tấn là Đèo Quốc Kiêm đem dân thiểu số đánh bắt được giết đi; cho Quốc Kiêm làm Chiêu thảo thiêm sự, thưởng 300 quan tiền.

 

Chú thích:

1.Tụ Long: Đất hiện nay giáp với tỉnh Hà Giang, đã cắt cho nhà Thanh, do Hiệp ước Pháp Thanh năm 1887.

2.Đền thờ thần tại cửa biển Thuận An vào năm Minh Mệnh thứ 3 [1822-1813] đổi làm miếu Nam Hải Long Vương.

3.Thu thẩm: hàng năm xét những trọng án vào mùa thu. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này