
Ronald H. Spector
Trần Quang Nghĩa dịch
GIỚI THIỆU
Người Mỹ thường có suy nghĩ rằng Thế chiến II đã kết thúc vào ngày 14 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Tính chất dứt khoát của hành động này dường như được tượng trưng một cách thích hợp trong buổi lễ trang trọng trên tàu USS Missouri vào ngày 2 tháng 9, trong đó các đại diện của Nhật Bản đã ký văn kiện đầu hàng dưới sự giám sát của Tướng MacArthur và dưới bóng những khẩu pháo 16 inch của tàu Missouri.
Đối với hầu hết người Mỹ, đó là kết thúc của chiến tranh. Tuy nhiên, trên lục địa châu Á, trong vòng cung rộng lớn các quốc gia và vùng lãnh thổ trải dài từ Mãn Châu đến Miến Điện, hòa bình chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi. Ở một số khu vực châu Á, như Java và miền nam Đông Dương, hòa bình chỉ kéo dài chưa đầy hai tháng. Tại Trung Quốc, một nền hòa bình mong manh và chưa hoàn chỉnh kéo dài chưa đầy một năm. Ở miền bắc Đông Dương, hòa bình kéo dài khoảng mười lăm tháng, và ở Hàn Quốc, khoảng ba năm. Thật vậy, giai đoạn 1945-1946 ở châu Á có vẻ không phải là thời điểm chiến tranh kết thúc đối với nhiều người, mà là thời điểm các bên tham chiến đổi phe.
Tại sao hòa bình ở châu Á lại khó đạt được đến vậy? Những yếu tố nào đã góp phần vào những năm tháng hậu chiến dài đằng đẵng đầy khó khăn, trong đó nhiều người phải chịu đựng nhiều hơn cả trong Thế chiến II? Cuốn sách này cố gắng giải đáp những câu hỏi đó thông qua việc xem xét các sự kiện ở năm quốc gia từng là một phần của Đế quốc Nhật Bản. Ngoại trừ một trường hợp, đó đều là những nơi mà mọi thứ diễn ra tồi tệ và phát sinh ra những vấn đề lâu dài, đôi khi còn tồn tại sau cả Chiến tranh Lạnh. Đây chủ yếu là câu chuyện về các cuộc chiếm đóng quân sự và hậu quả của chúng. Sau kinh nghiệm của Mỹ ở Iraq, không cần phải giải thích thêm rằng các cuộc chiếm đóng quân sự sau khi trật tự cũ của một quốc gia bị phá vỡ hoàn toàn thường là những vấn đề thiếu suy nghĩ, hỗn loạn, rắc rối và có thể dẫn đến những hậu quả khó lường cho cả người bị chiếm đóng và kẻ chiếm đóng. Khi cuộc chiến chống Nhật kết thúc, các nước Đồng minh chiến thắng – Anh, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên Xô – đều đưa quân đến chiếm đóng hoặc giành lại những vùng lãnh thổ rộng lớn ở lục địa châu Á từng là một phần của đế chế Nhật Bản.
Người Anh và người Mỹ coi nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là giải giáp lực lượng quân sự Nhật Bản ở Trung Quốc, Triều Tiên và Đông Nam Á, rồi đưa họ trở về Nhật Bản. Một mối quan tâm cấp bách khác là giải phóng hàng ngàn tù binh của phe Đồng minh, và thường dân bị giam giữ, vốn đã bị bỏ đói, đánh đập và ngược đãi bởi người Nhật trong các trại tù trên khắp châu Á. Mối đe dọa lớn nhất đối với các chính sách này được dự đoán là từ phía Nhật Bản. Hầu hết các lực lượng vũ trang mạnh mẽ của họ ở lục địa châu Á chưa từng chịu bất kỳ thất bại quân sự trực tiếp nào và không thể trông cậy vào việc họ hành xử như một kẻ thù bại trận. Thêm vào đó, những người theo chủ nghĩa Đại Á ngoan cố và các cựu thành viên của cảnh sát mật và các tổ chức tình báo có thể ở lại để gây rối trong dân chúng địa phương.
Trung Quốc và Liên Xô cũng coi các cuộc chiếm đóng là cơ hội để khẳng định những gì họ tin là quyền lực và lợi ích lịch sử của mình ở Đông Á. Đối với người Mỹ và người Anh, đó đơn giản chỉ là vấn đề thiết lập lại sự ổn định và trật tự thông qua việc thực hiện các chính sách mà các nước Đồng minh vừa nhất trí. Ít ai tiên liệu rằng chính lực lượng Nhật Bản lại có thể được sử dụng để giúp khôi phục trật tự thông qua các chính sách đó, hoặc rằng người dân bản địa sẽ phản đối chúng một cách nghiêm trọng.
Tất cả những người lính mang đến các phiên bản giải phóng khác nhau cho các quốc gia thuộc Đại Đông Á đều là thành viên của các đơn vị quân đội nổi tiếng, những cựu chiến binh trong các chiến dịch khó khăn nhất trong Thế chiến II. Họ không được chuẩn bị cho vai trò mới là những người chiếm đóng và chỉ có kiến thức không hoàn hảo về những nơi họ sắp đến. Điều họ mong muốn nhất là được trở về nhà. Chính phủ của họ thường cũng không được chuẩn bị tốt hơn là bao, và những người lính này sẽ sớm làm quen với hậu quả của sự thiếu hiểu biết, thiếu chú ý và thiếu quyết đoán ở London, Moscow và Washington. Chiến trường của họ là các quốc gia thuộc đế chế cũ của Nhật Bản ở Đại Đông Á, được xây dựng trên đống đổ nát của các đế chế thuộc địa châu Âu mà họ đã đánh bại và chiếm đóng vào năm 1942.
Các đế chế thuộc địa Anh, Pháp và Hà Lan, những đế chế đã bị Nhật Bản đánh sập một cách dễ dàng và nhanh chóng đến bất ngờ, bản thân chúng cũng chỉ là những thực thể tương đối mới, bất chấp những tuyên bố về bề dày lịch sử và tính lâu dài của chúng. Các thuộc địa của Nhật Bản ở Triều Tiên và Mãn Châu cũng vậy. Cuộc chinh phục cuối cùng của Pháp ở Đông Dương chỉ kết thúc vào những năm 1880. Hà Lan chỉ sáp nhập được những phần đáng kể của quần đảo Indonesia, bao gồm Kalimantan, Bali và Sumatra, vào Đông Ấn thuộc Hà Lan vào giữa đến cuối thế kỷ XIX và vẫn đang chiến đấu với các lực lượng kháng chiến ngoan cường ở Aceh cho đến đầu thế kỷ XX. Ở Triều Tiên, nhiều người vẫn còn sống vào năm 1945 có thể nhớ về Triều Tiên như một quốc gia độc lập. “Thế giới đang biến động và sắp được tái tạo,” một nhà báo Mỹ nhớ lại. “Một đế chế đã biến mất. Nửa tá kẻ chiến thắng tranh giành chiến lợi phẩm.” Không chỉ nửa tá; bởi vì những mâu thuẫn giai cấp cũ, sự cạnh tranh khu vực, xung đột sắc tộc và tôn giáo vẫn còn tồn tại. Chúng đã tồn tại qua cả chủ nghĩa thực dân châu Âu và dự án đế quốc Nhật Bản, mặc dù đôi khi dưới hình thức mới hoặc đã được sửa đổi. Chiến tranh và cuộc chinh phạt của Nhật Bản đã làm thay đổi các liên minh chính trị và cá nhân, hệ tư tưởng và thể chế ở các quốc gia trở thành một phần của Đại Đông Á, nhưng nền tảng của những mối ngờ vực và tham vọng thời hậu chiến vẫn còn đó.


CHƯƠNG MỘT: “DỐC HẾT SỨC!”
KHÔNG AI NGỜ CHIẾN TRANH KẾT THÚC VÀO THỜI ĐIỂM NÓ ĐÃ KẾT THÚC. Thậm chí sau khi hai quả bom nguyên tử và việc tham chiến của Liên Xô vào ngày 9 tháng 8, người Nhật, dù đã bị định đoạt số phận, vẫn được dự đoán sẽ tiếp tục chiến đấu trong một thời gian khá dài. Bất ngờ thay, vào ngày 10 tháng 8, hãng thông tấn Domei phát đi một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Nhật Bản rằng Nhật Bản sẵn sàng chấp nhận các điều khoản đầu hàng do Đồng minh đưa ra trong cái gọi là Tuyên bố Potsdam ngày 26 tháng 7, “với điều kiện là tuyên bố nói trên không bao gồm bất kỳ yêu cầu nào làm tổn hại đến đặc quyền của Nhật Hoàng với tư cách là Đấng Cai trị Tối cao.” Thông báo này thậm chí còn làm các quan chức cấp cao ở Washington ngạc nhiên. “Khi người Nhật đầu hàng, toàn bộ bộ máy hành chính chết tiệt đã bị bất ngờ,” một đại tá trong bộ chỉ huy cao cấp của quân đội nhớ lại. Vào thời điểm thông báo chính thức được nhận qua các đại sứ quán trung lập, Bộ trưởng Chiến tranh Henry Stimson sắp đi nghỉ mát, và quân đội và hải quân đang mở một vòng tranh cãi khác về việc sắp xếp chỉ huy cho cuộc xâm lược Nhật Bản sắp tới.
Một trong những người được lên kế hoạch cho cuộc đổ bộ đó, trung sĩ Thủy quân lục chiến David F. Earle, một cựu chiến binh của các chiến dịch ở Guam và Okinawa, đã cùng những đồng đội trong lều lắng nghe đài phát thanh. “Đài của chúng ta,” anh viết cho bố mẹ, “phát sóng lúc 22 giờ, đã trở lại với đề xuất hòa bình chưa được xác nhận của Nhật Bản. Điều đó dường như quá tốt để có thể là sự thật, vượt quá mọi sự tưởng tượng… Mọi người bắt tay, ôm nhau và bia được lôi ra. Mỗi lần bình luận viên thông báo cùng một lời bình luận, mặc dù mọi người đã nghe đi nghe lại nhiều lần, vẫn ngồi im lặng lắng nghe, như thể tụi con chưa nghe đủ thường xuyên. Sáng nay, tuyên bố của Nhật đã được xác nhận và giờ chỉ đợi Đồng minh chấp nhận hoặc không. Đối với những kẻ không muốn chấp nhận các điều khoản riêng dành cho Nhật Hoàng – con không có từ ngữ nào trong vốn từ vựng để diễn tả sự khinh miệt và chế giễu của mình đối với thái độ của họ. Con biết rõ rằng nếu họ đã ở đây 28 tháng như tụi con họ sẽ thay đổi suy nghĩ của mình rất nhanh. Dù sao thì, tụi con trong lều đều chấp nhận sự đầu hàng của Nhật và nếu đất nước không chấp nhận thì tụi con đã quyết định sẽ khiếu nại để xin một hiệp ước hòa bình riêng.”
Nhiều người ở Washington chia sẻ quan điểm của Trung sĩ Earle. Vào tháng 7, Stimson và Thứ trưởng Ngoại giao Joseph C. Grew, cựu đại sứ tại Nhật Bản, đã thúc giục Tổng thống Truman đưa vào Tuyên bố Potsdam một lời hứa rõ ràng rằng Nhật Bản có thể duy trì “chế độ quân chủ lập hiến dưới triều đại hiện tại” sau khi đầu hàng. Tuy nhiên, nhiều cố vấn của tổng thống, bao gồm cả Ngoại trưởng James F. Byrnes, đã phản đối mạnh mẽ lời đảm bảo như vậy, vì họ tin rằng điều đó sẽ làm tổn hại đến thỏa thuận lâu dài của phe Đồng minh về “sự đầu hàng vô điều kiện” của các nước phe Trục. “Chẳng khác nào một chính sách nhượng bộ,” cựu Ngoại trưởng Cordell Hull nhận xét. Những người Mỹ khác không thấy lý do gì để duy trì những thể chế phản động lỗi thời đã cổ xúy chủ nghĩa quân phiệt và sự xâm lược của Nhật Bản. Nhật Hoàng đã được truyền thông Mỹ miêu tả như một biểu tượng của chủ nghĩa cuồng tín Nhật Bản, một đối tác của Hitler và Mussolini. Một cuộc thăm dò của Gallup được đăng trên tờ Washington Post vào cuối tháng 6 đã cho thấy 33% người Mỹ muốn xử tử hoàng đế, 17% ủng hộ xét xử, 20% muốn bỏ tù hoặc lưu đày, và chỉ có 7% ủng hộ việc giữ ông ta lại, ngay cả khi chỉ là một nhân vật bù nhìn.
Truman hoàn toàn nhận thức được những tình cảm này khi ông vội vàng triệu tập một cuộc họp tại Nhà Trắng để thảo luận về đề nghị đầu hàng của Nhật Bản. Tham dự cuộc họp có Byrnes, Stimson, các phụ tá quân sự của tổng thống, Bộ trưởng Hải quân James V. Forrestal, John Snyder, một người bạn của Truman ở Missouri, người đang giữ chức vụ đứng đầu Văn phòng Huy động Chiến tranh, và cố vấn quân sự kiêm Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Đô đốc William D. Leahy. Stimson thúc giục chấp nhận điều khoản của Nhật Bản, chỉ ra rằng Nhật Hoàng là “nguồn quyền lực duy nhất ở Nhật Bản”. Ông lập luận rằng “phải sử dụng Hoàng đế theo cách này để cứu chúng ta khỏi hàng loạt trận Iwo Jima và Okinawa đẫm máu trên khắp Trung Quốc và Tân Hà Lan [Indonesia].” Leahy và Snyder đồng ý. Tuy nhiên, Byrnes cảnh báo rằng dư luận và các cường quốc Đồng minh có thể không hiểu hoặc không chấp nhận sự nhượng bộ như vậy. Từ bỏ việc đầu hàng vô điều kiện có thể dẫn đến “việc đóng đinh Tổng thống” dưới tay dư luận. Truman thông báo với cuộc họp rằng kể từ khi có tin về đề xuất của Nhật Bản, Nhà Trắng đã nhận được 170 bức điện tín, tất cả trừ 17 bức đều kêu gọi các điều khoản đầu hàng khắc nghiệt nhất. Mặt khác, hàng triệu người Mỹ khác như Trung sĩ Earle cũng có thể vô cùng phẫn nộ nếu Truman và các cố vấn của ông để vuột mất cơ hội hòa bình này.
Vào thời điểm đó, Forrestal đề xuất một thỏa hiệp: Hoa Kỳ nên gửi một bức thư trả lời tái khẳng định các yêu cầu của Potsdam mà không bác bỏ đề nghị của Nhật Bản cũng như không làm mất đi hy vọng rằng hoàng đế có thể ở lại. Byrnes, với sự trợ giúp của trợ lý đặc biệt Benjamin Cohen, được giao trách nhiệm chính trong việc soạn thảo bức thư trả lời, mặc dù Forrestal, Leahy, Stimson và chính Truman đều góp sức, cũng như Thứ trưởng Grew. Grew không có mặt tại cuộc họp ở Nhà Trắng, nhưng ông là chuyên gia cấp cao nhất của chính phủ về Nhật Bản và luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của Nhật Hoàng trong bất kỳ kế hoạch đầu hàng nào. Giờ đây, “Grew, gạt bỏ lòng tự trọng cá nhân, mở cửa giữa văn phòng của mình và văn phòng của Byrnes và nói, ‘Thưa ngài Bộ trưởng, nếu ngài đang làm việc về bức thư gửi cho Nhật Bản, tôi tin rằng tôi và một số người khác có thể giúp ích.'” Byrnes đồng ý.
Không giống như hầu hết các sản phẩm của một ủy ban, câu trả lời của Byrnes là một kiệt tác. Giải quyết điều khoản quan trọng mà Nhật Bản bảo lưu về hoàng đế, bức thư cố tình mơ hồ, khẳng định: “Kể từ thời điểm đầu hàng, quyền lực của hoàng đế và chính phủ Nhật Bản trong việc cai trị đất nước sẽ phải tuân theo quyền lực của Tổng Tư lệnh các lực lượng Đồng minh, người sẽ thực hiện các bước mà ông ta cho là thích hợp để thực hiện các điều khoản đầu hàng.” Nhưng bức thư cũng hứa hẹn: “Hình thức chính phủ cuối cùng của Nhật Bản, phù hợp với Tuyên bố Potsdam, sẽ được thiết lập theo ý chí được thể hiện tự do của người dân Nhật Bản.” Tại một cuộc họp của toàn thể Nội các, Truman đã phê duyệt bức thư. Người Anh và các nước Đồng minh khác nhanh chóng đồng ý, và sau một chút do dự, Liên Xô cũng vậy.
Một bất đồng quan trọng hơn giữa các nước Đồng minh, mặc dù thoạt nhìn có vẻ nhỏ nhặt, đã nảy sinh trong chốc lát liên quan đến vấn đề lễ đầu hàng. Bản dự thảo công hàm gửi cho các nước Đồng minh đã quy định Nhật Hoàng đích thân
ký vào các văn kiện đầu hàng. Grew đã phản đối điều khoản này nhưng không thành công, nhưng khi người Anh nghi ngờ về tính sáng suốt của nó, Byrnes đã bỏ nó đi. Chính phủ Trung Quốc, vốn đặc biệt nhiệt tình với việc làm nhục mang tính biểu tượng này đối với Nhật Bản, đã không được thông báo về “sự thay đổi nhỏ” cho đến sau khi công văn sửa đổi thực sự đã được gửi đến Nhật Bản. Stalin không phản đối chính thức, nhưng sau đó ông đã cảnh báo Đại sứ Averell Harriman rằng kế hoạch của Mỹ tổ chức lễ đầu hàng tại Vịnh Tokyo tiềm ẩn “những rủi ro đáng kể”. Stalin nhận xét rằng người Nhật “là những kẻ phản trắc”. Ông chắc chắn “vẫn còn một số tên sát nhân điên rồ” và khuyên người Mỹ nên bắt giữ một số con tin để “đề phòng các sự cố”.
Tại Tokyo, việc nhận được công hàm Byrnes đã gây ra một cuộc khủng hoảng trong giới lãnh đạo cao nhất của chính phủ. Các lãnh đạo quân đội Nhật Bản lập luận rằng những yêu cầu trong công hàm là không thể chấp nhận được và Nhật Bản phải tiếp tục chiến đấu, trong khi hầu hết các bộ trưởng dân sự đều kêu gọi chấp nhận các điều khoản của Đồng minh. Trong tình trạng chính phủ bế tắc và máy bay B-29 của Mỹ rải truyền đơn xuống các thành phố của Nhật Bản, trên đó có bản sao công hàm của Nhật Bản ngày 10 tháng 8 kèm theo thư trả lời của Byrnes, Nhật Hoàng đã gặp Nội các và các cố vấn quân sự và chính trị cấp cao khác để tuyên bố rằng ngài mong muốn Nhật Bản “chấp nhận thư trả lời của Đồng minh như hiện trạng”.
Vào cuối buổi chiều ngày 14 tháng 8, một người đưa tin của RCA (Tổ hợp Phát thanh Hoa Kỳ) mang theo bức điện tín đến phái đoàn Thụy Sĩ tại Washington đã bị cảnh sát chặn lại vì quay đầu xe trái phép trên Đại lộ Connecticut. Sau mười phút, anh ta được phép tiếp tục đi. Người đưa tin đang mang theo văn bản chấp nhận các điều khoản đầu hàng của Tokyo. Vào lúc 7 giờ tối, Truman thông báo với các phóng viên đang chen chúc tại văn phòng tổng thống rằng ông đã nhận được từ chính phủ Nhật Bản “sự chấp nhận hoàn toàn Tuyên bố Potsdam, trong đó quy định sự đầu hàng vô điều kiện của Nhật Bản.”
Ngay cả trước khi Tổng thống Truman tuyên bố Nhật Bản đầu hàng hoàn toàn, suy nghĩ của nhiều người Mỹ đã hướng về 22.000 người Mỹ và 110.000 tù binh chiến tranh Đồng minh khác đang nằm trong tay quân Nhật. Không rõ bao nhiêu người trong số họ vẫn còn sống. Nhiều người được biết là đang phải chịu đựng những căn bệnh hiểm nghèo, suy dinh dưỡng và điều kiện khắc nghiệt ngay cả khi họ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, và các hình thức lạm dụng khác của người Nhật. Câu chuyện về cuộc Hành quân Tử thần Bataan kinh hoàng, trong đó 600 người Mỹ và 5 đến 10 ngàn người Philippines đầu hàng ở Philippines đã thiệt mạng trong cuộc lội bộ cưỡng bức tàn nhẫn dài 65 dặm đến các trại tù của họ, đã được biết đến rộng rãi ở Hoa Kỳ vào đầu năm 1944. Người Mỹ tin tưởng, với lý do chính đáng, rằng với nỗi nhục đầu hàng sắp xảy ra, người Nhật có thể quyết định tàn sát tất cả các tù nhân còn sống sót, nhiều người trong số họ vào thời điểm này đã được chuyển đến miền bắc Trung Quốc, Mãn Châu và Nhật Bản. Tình báo Hoa Kỳ ước tính rằng có khoảng 9.000 tù binh Đồng minh ở Trung Quốc và Mãn Châu, 5.500 người khác ở Đông Dương và 1.000 người ở Hàn Quốc.
Vào tháng Tư, Bộ Chiến tranh đã ra lệnh cho Trung tướng Albert C. Wedemeyer, chỉ huy cao cấp nhất của quân đội Mỹ tại Trung Quốc, chuẩn bị sẵn sàng để tìm kiếm, hỗ trợ và hồi hương các tù binh chiến tranh Đồng minh ở Trung Quốc và Mãn Châu càng nhanh càng tốt. Đây là một nhiệm vụ tương đối đơn giản ở Mặt trận châu Âu, nơi hầu hết lãnh thổ của phe Trục đã thất thủ và lực lượng Đồng minh đã tiếp cận hầu hết các trại giam trong vòng vài ngày. Tình hình hoàn toàn khác biệt ở Mặt trận Trung Quốc của Tướng Wedemeyer, một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm Trung Quốc, Mãn Châu, Triều Tiên và ít nhất một nửa Đông Dương. Phần lớn khu vực này vẫn nằm trong tay quân Nhật, lực lượng này mới đây vào mùa thu năm trước đã tiến hành một loạt các cuộc tấn công tàn khốc vào miền trung Trung Quốc, giúp họ kiểm soát thêm hàng nghìn dặm vuông lãnh thổ.
Trong các khu vực do Nhật Bản chiếm đóng, có những vùng đất lớn nhỏ do lực lượng Cộng sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông hoặc chịu ảnh hưởng của Mao kiểm soát. Mao tiến hành chiến tranh du kích, tuyên truyền và lật đổ chống lại quân Nhật. Về danh nghĩa là đồng minh với Tưởng Giới Thạch, nhà lãnh đạo “Trung Hoa Dân Quốc Tự do” được Mỹ hậu thuẫn, nhưng trên thực tế, phe Cộng sản vẫn là đối thủ không đội trời chung của Tưởng trong cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát Trung Quốc, cuộc đấu tranh chỉ tạm thời bị gián đoạn bởi quân Nhật xâm lược. Cuối cùng là Liên Xô, lực lượng đã tham chiến chống Nhật Bản vào ngày 9 tháng 8. Dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh giàu kinh nghiệm, đã giúp tiêu diệt quân Đức Quốc xã vài tháng trước đó, quân đội Liên Xô đã quét sạch quân Nhật thiếu chuẩn bị ở Mãn Châu và nhanh chóng tiến về các thành phố lớn và tuyến đường sắt.
Các nhà hoạch định kế hoạch của Mỹ ước tính rằng có thể mất một tháng hoặc hơn để lực lượng cứu trợ di chuyển bằng đường bộ đến được một số trại tù lớn nhất, nằm cách các căn cứ gần nhất của Mỹ ở Trung Quốc hàng trăm dặm. Tuy nhiên, sự chậm trễ như vậy là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Các nhân viên của Wedemeyer nhắc nhở ông rằng Hoa Kỳ “luôn khẳng định rằng Chiến trường Trung Quốc là trách nhiệm [đặc biệt] của họ và trong nhiều trường hợp, chúng ta đã chỉ rõ điều này với các quốc gia Đồng minh khác. Việc không thực hiện các khía cạnh nhân đạo của trách nhiệm này không bao giờ có thể được dung thứ.”
Ở châu Âu, người Anh và người Mỹ đã cử các đội đặc nhiệm ngay sau khi quân Đức đầu hàng để xác định vị trí các trại tù binh, liên lạc với những người bị giam giữ, báo cáo về tình hình và cung cấp hỗ trợ khẩn cấp. Khái niệm đó dường như cũng là giải pháp cho vấn đề cứu trợ tù binh ở châu Á. Tuy nhiên, ở châu Á, các đội như vậy sẽ phải di chuyển những quãng đường rất xa vào vùng lãnh thổ tương đối xa lạ và đối mặt với các đội quân mà thái độ và ý định của họ có thể gây ra nhiều vấn đề. Chỉ có một tổ chức của Mỹ ở Đông Á vừa được chuẩn bị vừa được trang bị để thực hiện các nhiệm vụ như vậy: Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS).
Giống như nhiều hoạt động khác ở Mặt trận Trung Quốc, các hoạt động tình báo ở đó được đặc trưng bởi sự tranh chấp, tổ chức hỗn loạn và những mâu thuẫn cá nhân và chính trị phức tạp. Đến năm 1945, không dưới 14 cơ quan khác nhau đã đóng góp thông tin tình báo cho bộ chỉ huy chiến trường. Cho đến vài tháng trước khi đầu hàng, Văn phòng OSS, hầu như không tồn tại như một đối thủ chính trong cuộc cạnh tranh quan liêu không ngừng diễn ra ở kinh đô thời chiến của Trung Quốc, Trùng Khánh. Là ý tưởng của Đại tá William J. Donovan, một luật sư phố Wall, nhà hoạt động chính trị của đảng Cộng hòa và anh hùng của Thế chiến I, OSS được hình thành như một cơ quan duy nhất sẽ điều phối việc thu thập và phân tích tình báo nước ngoài và tiến hành các hoạt động đặc biệt như các cuộc đột kích của biệt kích và các chiến dịch tung tin giả, đồng thời làm việc với các nhóm du kích và quân du kích phía sau chiến tuyến địch. Các tổ chức lâu đời hơn như Văn phòng Tình báo Hải quân, FBI và Cục Tình báo Quân đội đã nhìn tổ chức của Donovan, gồm các cựu giáo sư đại học, gangster, luật sư doanh nghiệp và người nhập cư châu Âu, với sự nghi ngờ. Hai tư lệnh Thái Bình Dương, Tướng Douglas MacArthur và Đô đốc Chester Nimitz, đã cấm tổ chức của Donovan hoạt động trong khu vực của họ. Tuy nhiên, OSS đã chứng minh giá trị của mình trong chiến dịch Bắc Phi, và vào tháng 11 năm 1942, Donovan đã nhận được một điều lệ rộng rãi từ Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân để hoạt động như là đặc vụ của họ trong các hoạt động gián điệp, phá hoại, chiến tranh tâm lý và chiến tranh du kích.
Tại Trung Quốc, OSS cũng khởi đầu khá khó khăn. (Người đứng đầu tình báo đầu tiên của cơ quan này được cho là đã đi khắp Trùng Khánh phát danh thiếp có in dòng chữ “Văn phòng Tình báo Hoa Kỳ” dưới tên mình.) Vào mùa hè năm 1944, khi Patrick J. Hurley, một đảng viên Cộng hòa nổi tiếng và cựu Bộ trưởng Chiến tranh, đến nhậm chức Đại sứ Hoa Kỳ tại Trùng Khánh, triển vọng của Donovan đã được cải thiện. Hurley và Donovan từng phục vụ cùng nhau trong chính quyền Hoover. Wedemeyer, người nắm quyền chỉ huy Chiến trường Trung Quốc vào tháng 10 năm đó, là một sĩ quan tham mưu và nhà hoạch định xuất sắc, người coi trọng sự tập trung hóa và tổ chức có trật tự. Ông dễ dàng chấp nhận lập luận của Donovan về giá trị của một cơ quan tình báo Hoa Kỳ duy nhất dưới sự kiểm soát trực tiếp của tư lệnh chiến trường. Với sự hỗ trợ của Hurley và Wedemeyer, OSS đã phát triển từ một tổ chức nhỏ với khoảng một trăm người vào tháng 10 năm 1944 lên khoảng 1.900 người vào tháng 7 năm 1945. Quan trọng hơn, vào thời điểm Nhật Bản đầu hàng, OSS đã chuẩn bị tiến hành một loạt các hoạt động bí mật để thâm nhập vào cái mà các lãnh đạo của họ gọi là “vùng nội địa của Nhật Bản”. Từ căn cứ tiền phương tại Tây An, tỉnh Sơn Tây, miền trung tây Trung Quốc, OSS đang hoàn tất việc chuẩn bị để cử các đội hoạt động ở những vùng xa xôi nhất của Trung Quốc do Nhật Bản chiếm đóng cũng như Mãn Châu và Triều Tiên. Họ đã có các nhóm nhỏ điệp viên hoạt động ở Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Bắc và Bắc Bình.
Ngày 14 tháng 8, người đứng đầu Cục Tình báo Chiến lược tại Mặt trận Trung Quốc đề xuất với tham mưu trưởng của Tướng Wedemeyer rằng các đội liên lạc của OSS nên được thả dù xuống các điểm xa xôi được cho là có trại tù binh chiến tranh, chẳng hạn như Bắc Bình và Vi Thiên (Duy Phường) ở miền bắc Trung Quốc, Thẩm Dương ở Mãn Châu, Hà Nội ở miền bắc Việt Nam và Vientiane ở Lào. Các chỉ huy OSS ở Tây An và Côn Minh đã chuẩn bị cho các nhiệm vụ như vậy. Lực lượng Hỗ trợ Trên không và Mặt đất (Air Ground Aid Service) thuộc Không quân Lục quân Hoa Kỳ, Mặt trận Trung Quốc, là tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ tù binh, người trốn thoát và vượt ngục của Mỹ phía sau chiến tuyến của địch. Nhưng Lực lượng Hỗ trợ Trên không và Mặt đất không có nhân viên đủ điều kiện nhảy dù và thiếu kinh nghiệm thực tế của OSS ở các khu vực phía bắc.
Wedemeyer nhanh chóng đồng ý với đề xuất và chỉ đạo các chỉ huy của mình ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ đổ bộ các đội quân đến các trại.
Trên khắp chiến trường, mục tiêu của họ là Bắc Bình, Vi Thiên và Thượng Hải ở Trung Quốc, Thẩm Dương và Cáp Nhĩ Tân ở Mãn Châu, Vientiane ở Lào và đảo Hải Nam ở Vịnh Bắc Bộ. Nhiệm vụ của các đội là cung cấp viện trợ và hỗ trợ y tế ngay lập tức cho tù binh chiến tranh và các nhân viên bị giam giữ khác, lập danh sách chính xác những người bị giam giữ, phối hợp phân phối hàng tiếp tế và cung cấp thông tin cho sở chỉ huy chiến trường về quy mô, vị trí, kích thước và điều kiện của từng trại. Các đội cũng được giao nhiệm vụ tình báo và phải báo cáo về tình hình chính trị và quân sự trong khu vực của họ; tuy nhiên, họ bị cấm thảo luận về các điều khoản đầu hàng hoặc thỏa thuận với phía Nhật Bản. OSS chịu trách nhiệm độc quyền đối với các trại ở phía bắc sông Hoàng Hà và sẽ hoạt động cùng với Lực lượng Hỗ trợ Trên không và Mặt đất ở các khu vực khác.
Ngay sau bình minh ngày 15 tháng 8, các máy điện báo ở Tây An và Côn Minh bắt đầu phát ra một thông điệp ngắn từ Trùng Khánh: “Tổng tư lệnh, Trung Quốc, Chiến khu, chỉ thị thực hiện các điều khoản, việc liên lạc lại với các trại tù binh phải được thực hiện. Dốc hết sức! Thực hiện hết mức! Chúc may mắn!” Bốn nhiệm vụ được coi là quan trọng nhất: Đội Chào mào đến các trại xung quanh Thẩm Dương ở Mãn Châu; Đội Vịt đến các trại tù binh gần thành phố Vi Hạ Thiên trên bán đảo Sơn Đông; Đội Chích chòe đến các trại gần kinh đô cũ Bắc Bình; và Đội Đại Bàng đến Keijo (Seoul) ở Hàn Quốc. Tất cả những nơi này đều nằm sâu trong lãnh thổ Nhật Bản, có hàng ngàn binh lính Nhật Bản đồn trú, nhiều người trong số họ chưa từng bị đánh bại trong trận chiến.
Sáng sớm ngày 16 tháng 8, một máy bay ném bom B-24 rời Tây An chở theo đội Chào mào: Thiếu tá James T. Hennessy, trưởng nhóm; Thiếu tá Robert F. Lamar, sĩ quan y tế; Hạ sĩ Edward A. Starz, người vận hành vô tuyến; Hạ sĩ Fomio Kido, thông dịch viên người Mỹ gốc Nhật; Hạ sĩ Harold B. Leith, chuyên gia ngôn ngữ Nga và Trung Quốc; và Chong Shih-wu, sĩ quan quân đội Trung Quốc kiêm thông dịch viên. Điểm đến của Chào mào là Hoten, gần Thẩm Dương, cách Tây An gần 900 dặm. Họ được Đội Vịt và Chích chòe tiếp nối vào ngày 17 và Đại Bàng vào ngày 18.
Có tin đồn rằng trại Hoten giam giữ một số lượng lớn tù binh Mỹ, trong đó có Trung tướng Jonathan Wainwright, vị chỉ huy cuối cùng của Mỹ tại Philippines, người đã đầu hàng Corregidor cho quân Nhật năm 1942. Cũng có những sĩ quan cấp cao người Anh và Hà Lan bị bắt giữ trong cuộc chinh phạt Đông Nam Á của Nhật Bản. Tại khu vực Hoten có ít nhất 30 nghìn quân thuộc Quân đoàn Quan Đông (Kwantung) của Nhật Bản. Quân Nga vẫn còn cách đó vài trăm dặm nhưng đang tiến đến rất nhanh. Đó là minh chứng cho sự tự tin và quyết tâm tột độ, và có lẽ cả sự thiếu hiểu biết tột độ, của người Mỹ vào mùa hè năm 1945 khi không ai ngần ngại cử một đội sáu người trang bị súng lục, chỉ có một người nói được tiếng Nhật, tiến vào giữa một đạo quân Nhật vẫn đang trong tình trạng chiến tranh và ở trên con đường tiến công của cỗ máy chiến tranh khổng lồ của Liên Xô.
Những người lính của Thiếu tá Hennessy đã hạ cánh an toàn cách Hoten chưa đầy hai dặm và đã thu hồi thành công cả 17 chiếc dù chở hàng mang theo thuốc men cấp cứu và các vật tư khác. “Vì trời nhiều mây nên chúng tôi không thể nhìn thấy máy bay,” Binh nhì Robert Brown, một phi công người Mỹ bị giam giữ tại Hoten, nhớ lại. “Tuy nhiên, chúng tôi đã nghe thấy tiếng động, và đó không phải là máy bay Nhật Bản. Bốn động cơ vẫn là bốn động cơ và động cơ Mỹ vẫn là động cơ Mỹ. Ở phía xa, chúng tôi thấy khoảng 12 chiếc dù…. Ôi trời, tin đồn bắt đầu lan truyền. Trong trại tù, bạn sống bằng tin đồn. Chúng bắt đầu ở Bataan và không bao giờ kết thúc.”
Bọn lính canh Nhật ở Hoten tỏ ra khó chịu và sỉ nhục. Lamar, Starz và Chong bị bắt giữ gần địa điểm thả dù và bị ra lệnh cởi quần áo. Lamar bị “buộc đứng dựa vào tường, và một số tên lính Nhật giả vờ tấn công anh bằng lưỡi lê.” Những người còn lại trong nhóm bị bịt mắt và bị thúc lên xe tải, một lính Nhật đấm túi bụi vào vai Hennessy. Tuy nhiên, một thời gian ngắn sau đó, bọn Nhật ở Hoten nhận được lệnh đầu hàng, và thái độ của họ đột ngột thay đổi.
Lúc này, các cảnh sát quân sự Nhật Bản bắt đầu tươi cười và lịch sự cho phép nhóm đến thăm nhà tù, nhưng chỉ huy trại giam từ chối cung cấp bất kỳ thông tin nào cho Hennessy hoặc cho phép ông nói chuyện với các tù nhân. Sau một buổi chiều tranh luận vô ích, chỉ huy trại giam đồng ý gửi một thông điệp đến bộ chỉ huy Quân đoàn Quan Đông chuyển tiếp yêu cầu của Hennessy về việc chuyển giao quyền giam giữ tù nhân và quyền chỉ huy trại giam cho người Mỹ. Được một đội cảnh sát quân sự hộ tống, nhóm sau đó được đưa đến Thẩm Dương, nơi họ được bố trí ở lại khách sạn Yamato qua đêm.
Khi trở lại trại vào sáng hôm sau, Hennessy phát hiện ra rằng thái độ của chỉ huy trại Nhật Bản “đã thay đổi hoàn toàn và đã cung cấp cho chúng tôi tất cả thông tin mà chúng tôi mong muốn.” Báo cáo cho biết có 1.673 tù binh tại Hoten, trong đó khoảng 1.300 người Mỹ, 240 người Anh và số còn lại đến từ nhiều quốc gia Đồng minh khác. Ngoài ra còn có 45 người dân thường bị giam giữ, chủ yếu là người Bỉ Một số ít tù binh Đồng minh cấp cao, bao gồm Tướng Wainwright và cựu thống đốc của Khu định cư Straits, Ngài Shenton Thomas, đang bị giam giữ tại một trại vệ tinh ở Tây An, cách Thẩm Dương 160 dặm về phía tây bắc.
Đội Chào mào đã đi thị sát trại giam và gặp Thiếu tướng George M. Parker, sĩ quan cấp cao nhất của Mỹ. Starz thiết lập thiết bị vô tuyến của mình trong khu trại giam và Lamar nhanh chóng đánh giá tình trạng của các bệnh nhân trong bệnh viện trại giam. Hennessy nhận thấy “đa số tù nhân đều thiếu cân và suy dinh dưỡng… tất cả ‘giường’ (gồm những tấm chiếu trải trên sàn gỗ của các buồng giam) đều đầy bọ chét. Các cửa sổ đã bị che kín cho đến khi chúng tôi đến, lúc đó giấy che mới được gỡ bỏ để ánh sáng và không khí lưu thông.” Tuy nhiên, các tù nhân vẫn tuyên bố “đây là trại giam tốt nhất mà họ từng ở.” Hennessy báo cáo rằng ông “đã ăn một bữa với các tù binh mà họ cho là thức ăn tuyệt vời nhưng lại gần như khiến tôi buồn nôn. Bữa ăn gồm bánh mì ngô khô, món hầm loãng và cơm. Trước đó, họ chỉ được phục vụ một chiếc bánh mì mỗi ngày với ba bữa ăn chủ yếu gồm súp loãng và cơm trắng.” Tướng Parker, cựu chỉ huy Quân đoàn II tại Bataan, đã triệu tập một cuộc họp tất cả các sĩ quan cấp cao, tại đó Hennessy xác nhận với các tù binh đang hân hoan rằng chiến tranh đã kết thúc và họ sẽ sớm được về nhà. Thiếu tá Lamar và Hạ sĩ Leith khởi hành sáng hôm sau đến Tây An để liên lạc với Wainwright, và Starz, người đang gặp khó khăn với chiếc máy phát sóng công suất tương đối thấp của mình, cuối cùng đã liên lạc được với Tây An vào sáng ngày 18 tháng 8 với một bản kê khai tù nhân và danh sách các nhu yếu phẩm được yêu cầu.
Ngày 20 tháng 8, một chiếc B-24 hạ cánh xuống sân bay Thẩm Dương mang theo hàng tiếp tế và ba người nữa cho đội Chào mào: Thiếu tá Robert B. Helm, một chuyên gia thông tin liên lạc, và hai nhân viên y tế, Dược sĩ hạng 2 Ray Sutton và Thượng sĩ Philip J. Malmstedt. Ngày hôm đó cũng chứng kiến sự xuất hiện của quân Nga. Máy bay chiến đấu Liên Xô càn quét khu vực khi một toán tiên phong gồm khoảng một trăm lính dù đổ bộ từ máy bay C-47 vào chiều hôm đó và chiếm quyền kiểm soát sân bay. Quân Nhật nhanh chóng đầu hàng Liên Xô. Tại Hoten, quân Nga “ra lệnh lực lượng Nhật giao nộp tất cả vũ khí và đạn dược của họ,” Robert Brown nhớ lại. “Rồi họ nói với các sĩ quan Mỹ rằng họ sẽ bắn chết lính canh. Tất nhiên, Tướng Parker đã thuyết phục họ từ bỏ ý định đó.”
Khi các đơn vị bổ sung của Tập đoàn Xe tăng Cận vệ số 6 Liên Xô dưới quyền Trung tướng Toomanyan đến, quân Nga nhanh chóng trưng dụng tất cả các phương tiện có sẵn, khiến Thiếu tá Hennessy lạc lõng tại khách sạn Yamato. Quân Nga mời người Mỹ tham gia một bữa tiệc ăn mừng chiến thắng tự phát tại khách sạn tối hôm đó, và sáng hôm sau, chỉ huy Liên Xô cấp cho đội Chào mào giấy thông hành cho phép họ di chuyển tự do trong khu vực Thẩm Dương nhưng từ chối cho họ sử dụng bất kỳ phương tiện nào. May mắn thay, Thiếu tá Lamar lúc này đã trở về từ chuyến đi đến Tây An với một chiếc xe Nhật Bản mà ông được cung cấp trên đường đi, và đội Chào mào lái xe trở lại Hoten. Khi đến nơi, Hennessy phát hiện ra rằng quân Nga đã tước vũ khí và giam giữ người Nhật và để người Mỹ phụ trách trại. Chiếm giữ ba chiếc xe của trại, đội bắt đầu chuẩn bị sơ tán những tù nhân bệnh nặng nhất.
Mối quan tâm chính của Hennessy lúc này là các tù nhân VIP vẫn còn ở Tây An, đặc biệt là Tướng Wainwright, vì ông và Trung tướng A. E. Percival, cựu chỉ huy quân Anh tại Singapore, dự kiến sẽ có mặt cùng Tướng MacArthur tại lễ đầu hàng chính thức vào tháng Chín. Lamar và Hạ sĩ Leith đã tìm thấy các tù nhân ở Tây An vào ngày 19. Ngoài Wainwright và Percival, họ còn gặp Thiếu tướng E. P. King, Thiếu tướng G. E. Moore; hai tướng Anh khác; ba tướng Hà Lan, trong đó có Trung tướng H. ten Poorten, cựu tổng tư lệnh tại Đông Ấn Hà Lan; cựu Toàn quyền Tsarda Van Starkenborg, hai cựu thống đốc thuộc địa Anh, trong đó có Ngài Shenton Thomas; và các quan chức cấp cao khác. Các nhân viên OSS nhận thấy Wainwright tuy yếu ớt và mệt mỏi nhưng vẫn tỉnh táo và háo hức muốn biết tin tức. Thiếu tá Lamar cố gắng liên lạc với Hennessy bằng máy phát nhưng không thành công. Lamar cho rằng việc cố gắng chuyển các tù nhân đến Thẩm Dương sẽ quá mạo hiểm. Quân đội Liên Xô đang tiến sát Tây An, và thái độ của Quân đoàn Nhật Bản đang tan rã nhanh chóng cùng các đơn vị Cộng sản Trung Quốc gần đó vẫn chưa rõ ràng.
Để lại Leith, một nhà ngôn ngữ học tiếng Nga, ở Tây An để phiên dịch cho các tù nhân, Lamar lên đường đến Thẩm Dương để tổ chức một cuộc sơ tán an toàn hơn. Sự trở lại của ông ấy đã chứng minh sự thận trọng của ông là hoàn toàn chính đáng. Khởi hành đến Thẩm Dương bằng đường sắt, Lamar thấy tàu của mình bị chặn lại ở chiến tuyến của Nga. Sau khi kiếm được một toa xe, Lamar và người phiên dịch tiếng Nhật của ông liên tục bị chặn lại tại các trạm kiểm soát của Nhật Bản và Trung Quốc Cộng sản và thỉnh thoảng bị bắn khi họ đi qua giữa các chiến tuyến.
Phải mất hai ngày sau khi Lamar trở lại Thẩm Dương mới thuyết phục được Liên Xô cung cấp một chuyến tàu đặc biệt để đưa các tù nhân từ Tây An đến Thẩm Dương. Chuyến tàu chở Lamar cùng một toán lính canh Nga đến nơi thì phát hiện ra rằng các tù nhân đã rời đi bằng một đoàn xe tải của Nga chỉ vài giờ trước đó. Wainwright và các tù nhân khác đã trải qua một chuyến đi ba ngày đầy ác mộng đến Hoten bằng đường bộ và đường sắt, khiến những chuyến đi trước đó của Lamar dường như dễ thở hơn nhiều. Cuối cùng, vào nửa đêm ngày 26, Hạ sĩ Leith, mệt mỏi nhưng hân hoan, bước vào phòng khách sạn của Hennessy để thông báo rằng các tù nhân cuối cùng đã đến Thẩm Dương.
Sáng hôm sau, Wainwright đứng chụp ảnh tại sân bay và gửi thư cảm ơn cá nhân tới Donovan trước khi lên máy bay đến Tây An, chặng đầu tiên trong hành trình đến dự lễ đầu hàng tại Vịnh Tokyo. Tuy nhiên, đối với hàng trăm tù binh Đồng minh mới được giải phóng khác, không có máy bay đặc biệt hay cuộc sơ tán nhanh chóng nào. “Tù binh của chúng ta đang rất kích động và trở nên cực kỳ khó kiểm soát,” Thiếu tá Helm báo cáo. “Họ đã nhảy qua hàng rào, mặc dù được canh gác bởi chính người của mình và lang thang vô định trong thành phố. Sau ba năm rưỡi ở một chỗ, họ muốn đi bộ và quan sát.” Chuẩn tướng William E. Brougher, một người sống sót sau trận Bataan, đã ghi lại trong nhật ký của mình rằng những người trở về từ thị trấn với “những xe tải chở đầy bia… ăn mừng náo nhiệt.” Việc các cựu tù binh tìm thấy không chỉ có bia ở Thẩm Dương được phản ánh trong thông điệp của Thiếu tá Hennessy gửi tới Tây An, khẩn cấp yêu cầu gửi “bộ dụng cụ phòng ngừa bệnh hoa liễu cho 1500 người trong 21 ngày.”
Cuối tháng 8, một đội xử lý tù binh lớn hơn nhiều đã thay thế Chào mào trong phần lớn công việc, nhưng các thành viên trong nhóm vẫn tiếp tục thu thập thông tin tình báo dưới con mắt ngày càng nghi ngờ của quân Nga. Ngoại trừ một vài trường hợp khẩn cấp được sơ tán bằng đường hàng không, hầu hết 1400 tù binh tại Hoten đã được chuyển bằng đường sắt vào đầu tháng 9 đến cảng Dairen (Đại Liên), từ đó tàu bệnh viện Saint Olaf của Hải quân Hoa Kỳ và ba tàu khu trục đã đưa họ đến Okinawa. Vào thời điểm đó, trại tù Hoten đã tiếp nhận thêm số tù binh mới gồm
5.000 binh sĩ Nhật Bản đã rơi vào tay Liên Xô.
Một ngày sau khi đội Chào mào đổ bộ xuống Mãn Châu, các máy bay B-24 đã đưa các đội OSS khác đến miền bắc Trung Quốc. Đội Chích chòe, do Thiếu tá Ray Nichols chỉ huy, được giao nhiệm vụ giải phóng các tù binh và người bị giam giữ tại nhà tù Fengtai gần trung tâm Bắc Kinh, khi đó gọi là Bắc Bình. Người ta tin rằng Fengtai giam giữ hơn 300 tù binh, bao gồm cả những người sống sót sau cuộc đột kích nổi tiếng của Tướng James H. Doolittle vào Tokyo hồi tháng 4 năm 1942. [Ông cầm đầu cuộc tấn công tối mật gồm 16 oanh tạc cơ B-25 từ tàu sân bay USS Hornet, nhắm các mục tiêu ở Tokyo, Kobe, Yokohama, Osaka và Nagoya.] Ba trong số những phi công rơi vào tay quân Nhật đã bị hành quyết và một người khác bị bỏ đói đến chết, nhưng bốn người khác đã sống sót và đang ở Fengtai, cũng như Tư lệnh Scott W. Cunningham, người đã chỉ huy cuộc phòng thủ ngoan cường đảo Wake của Thủy quân lục chiến vào tháng 12 năm 1941. Cả đảo Wake và cuộc đột kích Doolittle đều mang ý nghĩa biểu tượng và tình cảm to lớn đối với người Mỹ năm 1945, và cả hai đều đã được tưởng niệm trong các bộ phim nổi tiếng.
Đội của Nichols đã thực hiện một cuộc đổ bộ “xuất sắc” gần Fengtai vào chiều muộn ngày 17 tháng 8. Quân Mỹ nhanh chóng bị quân Nhật bao vây nhưng may mắn không bị đánh đập như lính của Hennessy. Tư lệnh khu vực Bắc Bình, Trung tướng Takahashi, lập luận rằng vì chiến tranh “chưa chính thức kết thúc” nên ông cần sự cho phép của cấp trên để cho phép đội đến thăm tù binh, nhưng ông đồng ý cho phép Nichols cung cấp cho tù binh thuốc lá, thức ăn và vật tư y tế. Ông cũng đồng ý cho phép đội gửi tin nhắn vô tuyến rõ ràng và bố trí chỗ ở cho họ tại một khách sạn hạng nhất ở trung tâm thành phố Bắc Bình. Ngày hôm sau, Nichols báo cáo rằng Tư lệnh Cunningham và khoảng một chục tù binh Mỹ khác đã được tìm thấy và sẽ được chuyển đến các khách sạn ở Bắc Bình vào sáng hôm sau. 317 tù binh Đồng minh ở Bắc Bình cũng được thả. Bốn phi công Doolittle, những người bị giam giữ trong điều kiện đặc biệt khắc nghiệt, đã được thả vào tối ngày 20 và đưa đến Grand Hôtel des Wagons-Lits. Phi công ném bom Jacob DeShazer thuộc Lực lượng Không quân Lục quân đã ăn một bữa tối thịnh soạn, sau đó theo bản năng giấu thêm một vài lon khẩu phần C vào quần áo của mình.
Thông tin về vị trí của nhóm cựu binh Doolittle đã được truyền đi nhanh chóng đến
Tướng Wedemeyer và sau đó đến Washington. Ngày 23 tháng 8, ba phi công đủ điều kiện di chuyển đã bay đến Trùng Khánh, nơi họ được chào đón như những người anh hùng. Vào thời điểm đó, mối quan tâm của Thiếu tá Nichols đã chuyển từ quân Nhật sang việc bảo vệ những người bị giam giữ khỏi các phe phái đối địch của Trung Quốc. Sự đầu hàng của Nhật Bản là tín hiệu cho quân đội Trung Cộng tiến hành giành quyền kiểm soát miền Bắc trước khi quân đội của Tưởng Giới Thạch có thể đến với lực lượng hùng hậu. Cả hai bên đều tranh giành sự hỗ trợ của cái gọi là quân đội bù nhìn, lực lượng quân sự Trung Quốc đã chiến đấu dưới sự kiểm soát của chính phủ bù nhìn Uông Tinh Vệ do Nhật Bản tài trợ. Vào ngày 23, Nichols khuyên nên nhanh chóng sơ tán tất cả những người bị giam giữ còn lại của phe Đồng minh “xét đến tình hình quân sự” và những tin đồn rằng quân đội Trung Cộng đang xâm nhập thành phố. Một tuần sau, ông báo cáo rằng người Nhật Bản bối rối không biết “ai trong khu vực này mới là đại diện thực sự của chính phủ Trung Quốc. Tôi cũng muốn biết ai mới là người chỉ huy thực sự của Trung Quốc. Nhiều người tự nhận mình là như vậy.” Các nhiệm vụ của Nichols không thực sự gặp nguy hiểm, và quân Cộng sản đã thất bại trong việc chiếm Bắc Bình, nhưng câu hỏi về ai mới thực sự là người nắm quyền ở Trung Quốc là một vấn đề mất nhiều thời gian và xương máu sẽ được quyết định trong bốn năm tiếp theo.
Bán đảo Sơn Đông, nơi Đội Vịt đổ bộ vào sáng sớm ngày 17 tháng 8, là một khu vực khác mà cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát Trung Quốc đang diễn ra ác liệt. Đội, do Thiếu tá Stanley A. Staiger chỉ huy, đổ bộ gần một trại tù binh cách Weihsien khoảng hai dặm, một thị trấn không xa Thanh Đảo, nơi một trạm truyền giáo cũ của Giáo hội Trưởng lão được bao quanh bởi hàng rào dây thép gai giam giữ khoảng 1500 tù nhân, chủ yếu là thường dân. Trái ngược với Hoten và Fengtai, người Nhật tại trại Weihsien, mặc dù “u ám”, đã sẵn sàng giao trại cho đội. Một “đám đông tù nhân ùa về” bao vây người của Thiếu tá Staiger, “vặn tay, ôm họ, đấm vai họ, hôn họ.” Staiger mô tả chỉ huy trại là “ngu ngốc và sợ chết khiếp,” và tất cả công việc liên lạc thực sự cho đội đều do ông Koga, phó lãnh sự Nhật Bản tại Thanh Đảo (Qingdao), đảm nhiệm. Ông Koga nói tiếng Anh rất giỏi nhưng có vẻ “xảo quyệt” và “rất bài ngoại.”
Lính của Staiger tìm thấy khoảng 200 người Mỹ trong trại cùng với người Anh, Canada, Bỉ, Cuba, Hà Lan, Philippines và chín quốc tịch khác, độ tuổi từ 90 đến 5 ngày tuổi. Các gia đình bốn người, đôi khi có cả trẻ nhỏ, sống chung trong một căn phòng duy nhất.
Một hội đồng gồm chín người quản lý công việc của trại, và các tù nhân có một bệnh viện hiệu quả với thuốc men được cung cấp thông qua Hội Chữ thập đỏ và các lãnh sự quán Thụy Sĩ và Thụy Điển. Tinh thần trong trại được mô tả là tốt. Những người bị giam giữ có thể đến nhà thờ và tổ chức các buổi khiêu vũ. Chỉ có khoảng hai chục tù nhân bị ốm đến mức cần nhập viện, nhưng tất cả đều thiếu lương thực. Staiger yêu cầu tất cả các máy bay chở hàng tiếp tế “bay lượn quanh trại khi đến nơi”, vì “việc nhìn thấy một chiếc máy bay Mỹ có tác dụng kỳ diệu đối với họ.”
Cũng như ở Fengtai, lực lượng đối địch Trung Quốc dường như gây ra mối nguy hiểm trực tiếp hơn so với quân Nhật. Đại tá Jimbo Noruhiko, chỉ huy lực lượng quân đội Nhật Bản trong khu vực, cảnh báo người Mỹ rằng lực lượng tiến công nhanh chóng của Bát Lộ Quân Cộng sản Trung Quốc có thể sớm chiếm giữ hầu hết các con đường trên bán đảo Sơn Đông. Staiger báo cáo rằng bản thân trại giam không gặp nguy hiểm trực tiếp: “Lực lượng Trung Quốc đang canh gác khu vực bên ngoài trại, lực lượng Nhật Bản đang canh gác bức tường bao quanh và những người bị giam giữ đang canh gác bên trong trại.” Tuy nhiên, cách xa khu vực trực tiếp, tình hình trở nên phức tạp hơn do sự hiện diện của các nhóm “binh lính Nhật Bản chán nản và lo lắng” và thông tin về sự xuất hiện của các đơn vị Bát Lộ Quân chỉ cách đó 5 đến 7 dặm. Tuy nhiên, đến ngày 29 tháng 8, đội Vịt báo cáo rằng lực lượng Cộng sản dường như đang rút lui vào tỉnh Hà Bắc. Ngày hôm sau, việc xử lý tù binh và những người bị giam giữ để sơ tán qua Thanh Đảo bắt đầu.
Giống như tổ chức kế nhiệm của nó, Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), nơi một số người của OSS sau này phục vụ, OSS là một tổ chức bí mật dường như không thể cưỡng lại được sức hút được công chúng biết đến. Các đội cứu trợ tù binh chiến tranh được coi là một dự án tuyệt mật. Nhiều thành viên trong nhóm có nhiệm vụ phụ là báo cáo tình báo về tình hình chính trị, các nhân vật và liên minh trong khu vực của họ. Tuy nhiên, các nhiệm vụ đến Mãn Châu và miền bắc Trung Quốc dường như quá thành công và kịch tính để có thể giữ bí mật. Quan sát sự xuất hiện của Tướng Wainwright và các nhà lãnh đạo cấp cao khác của Đồng minh tại Tây An, vừa được Chào mào giải cứu, một sĩ quan OSS hân hoan nói: “Đó hoàn toàn là một màn trình diễn của OSS…. Tất cả những người này đều vô cùng biết ơn những gì chúng tôi đã làm được cho họ…. Cho dù được vinh danh hay chiêu đãi thế nào từ giờ cho đến khi về nhà, họ vẫn sẽ nhớ Tây An và các sĩ quan OSS ở đó như là điểm sáng nổi bật….” Chỉ huy căn cứ Tây An, Thiếu tá Gustave Krause, đảm bảo với Đại tá Richard P. Heppner, người đứng đầu OSS Trung Quốc, rằng ông “đảm bảo công lao OSS sẽ được ghi nhận nhiều như có thể…. Có đầy đủ hình ảnh về toàn bộ chuyến đi của Wainwright. Các bức ảnh đều có nhân viên OSS trong đó.”
Tất cả hiện trạng của những bức ảnh và bản ghi âm kèm theo này nhanh chóng trở nên “khó giải quyết” vì chúng đã được “thực hiện trái quy định” trong các nhiệm vụ “bí mật”. Không hề nản lòng, Donovan đề xuất công bố chúng cho giới truyền thông. Tuy nhiên, nhiệm vụ công khai những thành tựu của OSS tỏ ra phức tạp. Heppner bực bội phát hiện ra rằng các bài đăng của Luce kể về câu chuyện giải cứu Wainwright “mà không hề đề cập đến vai trò hàng đầu của OSS”. Ông đề xuất rằng Washington nên tiết lộ câu chuyện chính xác trong một bài đăng cạnh tranh khác. Tương tự, một bản tin của Văn phòng Thông tin Chiến tranh (OWI) về việc giải phóng trại giam Weihsien bởi Đội Vịt của Staiger cũng không đề cập đến tên của OSS.
Những khó khăn trong việc đảm bảo hình ảnh phù hợp cho OSS nhanh chóng trở nên nhỏ bé so với vấn đề lớn hơn nhiều là những thông tin không mong muốn liên quan đến các hoạt động của OSS tại Hàn Quốc. Trung tá Willis H. Bird, phó giám đốc OSS, được giao nhiệm vụ khó khăn là chỉ huy các hoạt động giải cứu tù binh chiến tranh tại Triều Tiên. Đội Đại Bàng của Bird, gồm 22 người, quá đông để có thể chứa trên một máy bay B-24, nhưng một phi hành đoàn C-47 đã tình nguyện thực hiện nhiệm vụ này mặc dù máy bay chỉ có thể mang đủ nhiên liệu cho chuyến đi một chiều và sẽ phải hạ cánh xuống Triều Tiên để tiếp nhiên liệu.
Đội của Bird khởi hành đến Keijo, thủ đô của Triều Tiên, vào rạng sáng ngày 16 tháng 8 năm 1945, cùng với phóng viên Henry R. Lieberman của Văn phòng Thông tin Chiến tranh. Người ta tin rằng có tới bảy trại tù binh chiến tranh ở Triều Tiên, và Keijo dường như là điểm khởi đầu hợp lý đối với Bird để thu thập thông tin về vị trí và tình trạng của các cơ sở này. Khoảng giữa đường đến Keijo, máy bay bắt được các bản tin phát sóng cho biết các máy bay Nhật Bản vẫn đang tấn công các tàu Mỹ, và giao tranh vẫn đang tiếp diễn ở những nơi khác. Điều đó đủ để Bird ra lệnh quay trở lại Tây An.
Sau khi theo dõi sát sao các bản tin phát sóng trong hai ngày tiếp theo, Bird quyết định rằng nhiệm vụ có thể tiếp tục. Ông lại rời Tây An cùng nhóm của mình và phóng viên Henry Lieberman của OWI vào sáng ngày 18. Không một người Mỹ nào đặt chân đến Triều Tiên kể từ năm 1941. Quân đội Nhật Bản ở đó vẫn chưa bị đổ máu trong chiến tranh. Khi máy bay của họ tiếp cận sân bay Keijo, nhóm “có thể nhìn thấy những ống khói nhà máy và các tòa nhà còn nguyên vẹn, không bị bom đạn tàn phá như các cơ sở công nghiệp ở nội địa Nhật Bản…. Có khoảng 50 máy bay, bao gồm khoảng 20 chiếc Zero, đậu trên sân bay với các đội tuần tra cất cánh và hạ cánh thường xuyên.
Phía Nhật Bản cho phép chiếc C-47 của đội Đại Bàng hạ cánh xuống một sân bay bên ngoài Keijo, nơi họ được đón tiếp bởi một phái đoàn lớn do một trung tướng dẫn đầu. Khi phát hiện ra rằng Bird không có thẩm quyền đàm phán các điều khoản đầu hàng, phía Nhật Bản trở nên cứng đầu và không hợp tác. Phía Mỹ được đối xử lịch sự nhưng vẫn bị canh gác tại sân bay. Vị tướng thẳng thừng từ chối cung cấp bất kỳ thông tin nào về tù binh chiến tranh Đồng minh, ngoại trừ việc khẳng định rằng họ sẽ được an toàn và được đối xử đúng mực. Còn về người của Bird, họ phải rời đi ngay lập tức. Vị tướng khăng khăng rằng mặc dù ông biết về lệnh ngừng bắn, nhưng ông không có thẩm quyền từ Tokyo để đàm phán với Bird. Khi phía Mỹ đề nghị cho nhóm họ bị giam giữ để họ có thể thực hiện các hoạt động cứu trợ, vị tướng Nhật Bản đã từ chối, nhận xét rằng việc họ ở lại “không an toàn”. Phóng viên Lieberman nhận thấy “chỉ cần liếc nhìn quanh sân bay” là đủ để khẳng định luận điểm của vị tướng… Trên sân bay, các trung đội và đại đội hành quân qua lại trong khi các trung sĩ Nhật Bản quát tháo ra lệnh… Các binh lính Nhật trong và xung quanh các nhà chứa máy bay nhìn chằm chằm vào người Mỹ với vẻ mặt lạnh lùng. Trước một doanh trại, một sĩ quan mặc áo sơ mi trắng đang luyện tập các động tác chém đầu bằng thanh kiếm samurai dài sọc của mình.
Bird sau đó giải thích rằng nếu người Mỹ phải rời đi, họ sẽ cần xăng cho chiếc C-47 của mình. Vì loại xăng cần thiết phải được lấy từ một trạm khác, Bird và người của ông đã bị giữ lại qua đêm tại sân bay. Viên đại tá Nhật Bản được giao phụ trách người Mỹ, người mà Lieberman nhớ tên là Shibuda, hóa ra là một chủ nhà tuyệt vời. Sau bữa tối mà những binh lính vô cùng lịch sự phục vụ người Mỹ với nhiều chai rượu sake và bia Kirin, một sĩ quan Nhật Bản, một người tốt nghiệp học viện quân sự, đã yêu cầu người Mỹ hát “bài ca không quân Mỹ”. Người của Bird đáp lại yêu cầu bằng một pha trình diễn hào hứng bài “Wild Blue Yonder” trong tiếng gõ nhịp lên bàn của người Nhật. Sau đó họ đáp lại bằng một màn hợp xướng vang dội một bài hát của không quân Nhật Bản.
Bất chấp không khí vui vẻ của bữa tối, Bird nhận thấy người Nhật vẫn không chịu nhượng bộ vào sáng hôm sau. Khi chiếc C-47 đang được tiếp nhiên liệu, người Nhật đã đưa tới hai xe tăng cùng với súng cối và bố trí chúng xung quanh máy bay. Trong sự thất vọng, Bird rời Keijo vào chiều muộn ngày 19 tháng 8.
Gần như ngay lập tức, Bird nhận được lệnh mới từ OSS yêu cầu ông ta quay trở lại Triều Tiên cùng đội của mình, cho dù họ có nguy cơ bị giam giữ. Vào thời điểm này, Bird, sau khi chứng kiến thái độ của người Nhật tại Keijo và những khẩu súng chĩa vào đội của mình, đã tin chắc rằng việc quay trở lại Triều Tiên sẽ đồng nghĩa với việc gần như chắc chắn người của ông sẽ bị tiêu diệt, nên đã bay đến Trùng Khánh để thảo luận trực tiếp tình hình với Tướng Wedemeyer. Vào ngày 22 tháng 8, Bird gặp Wedemeyer, nhưng trong khi Mặt trận Trung Quốc khiến tương lai hoạt động Đại Bàng vẫn còn bấp bênh, bài báo của Lieberman đã xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Nghe đài vào sáng hôm sau, Wedemeyer đã kinh ngạc khi nghe “câu chuyện người Nhật chiêu đãi người của chúng ta bằng bia và rượu sake và mỗi bên đều hát bài hát truyền thống của riêng họ.” Wedemeyer, người thậm chí còn cảm thấy không thoải mái khi binh lính Mỹ giao du với binh lính Pháp và Anh, đã vô cùng tức giận trước bằng chứng về việc giao lưu công khai với người Nhật. “Đại tá Byrd [sic] khá ngu ngốc,” Wedemeyer sau đó nhớ lại. “Ông ta là một sĩ quan tạm thời, chỉ muốn giải quyết vấn đề theo cách riêng của mình.”
Donovan chỉ thị Heppner “phải đảm bảo thực hiện [hành động kỷ luật] đối với Bird.” Trong khi OSS và nhân viên của Wedemeyer cân nhắc các cách để giải quyết thảm họa quan hệ công chúng, các nhiệm vụ tiếp theo đến Triều Tiên đã bị hoãn lại. Dù sao thì toàn bộ một quân đoàn Mỹ cũng dự kiến sẽ đổ bộ vào nước này trong vài tuần nữa. Giám đốc OSS Heppner vội vàng bổ nhiệm một sĩ quan quan hệ công chúng mới và chỉ thị cho nhân viên OSS không được thảo luận về các hoạt động của họ với giới truyền thông.
Đến cuối tháng 9, hầu hết các tù binh cũ của Nhật Bản được OSS giải phóng đã bắt đầu hành trình trở về nhà. Bất chấp thất bại của chiến dịch Đại Bàng, nhìn chung các đội OSS đã đạt được những thành công đáng kể. Một nhóm nhỏ những người Mỹ trẻ tuổi đầy quyết tâm, được đưa vào vùng đất rộng lớn của châu Á, đã thực hiện những kỳ tích đáng chú ý về lòng dũng cảm và khả năng ứng biến, những phẩm chất sẽ được những người được cứu sống hoặc thoát cảnh tù đày nhớ đến lâu dài với hình ảnh xuất hiện của một chiếc máy bay ném bom B-24 đơn độc và một vài chiếc dù rơi xuống. Tuy nhiên, các nhiệm vụ của OSS ở miền bắc Trung Quốc vẫn là nhỏ nhoi, những sự kiện thoáng qua so với bi kịch trọng đại sắp sửa diễn ra ở Đông Á và Đông Nam Á.
Người Nhật đã “thua”; người Anh, Trung Quốc, Pháp, Hà Lan và Mỹ đã “thắng”. Tuy nhiên, vẫn còn bốn triệu người Nhật, nhiều người trong số họ trang bị vũ khí, trên lục địa châu Á, và người châu Âu vẫn bị cô lập khỏi hầu hết các thuộc địa cũ của họ trong thời điểm hiện tại. Dọc theo vòng cung rộng lớn các quốc gia trải dài từ Mãn Châu đến Miến Điện, tạo nên tàn tích của Đế chế Nhật Bản, những ý tưởng và tham vọng mới đang trỗi dậy, trong khi những mối thù cũ được khơi lại với sức mạnh to lớn hơn. “Tôi coi châu Á như một cái nồi lẩu khổng lồ, đang sôi sùng sục”, Tướng Wedemeyer viết vào ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng. Trong vở kịch lớn đang bắt đầu này, người Mỹ không chỉ đơn thuần là những diễn viên phụ. Họ giống như những nhà sản xuất giàu có hoặc những nhà phê bình kịch nổi tiếng, thường có ảnh hưởng nhưng lại ít thể hiện được vai trò đạo diễn của mình.

Tướng Wedemeyer với các tướng Quốc dân Trung Quốc

Trại giam tù binh ở Hoten vào năm 2005. Các tù binh cao cấp của phe Đồng minh, trong đó có Tướng Wainwright, bị giam giữ tại đây, Nhà giam được chính quyền Trung Quốc phục hồi để làm bảo tàng.

Bệnh viện tù binh trước đây ở Hoten