Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn: Tóm Tắt Lịch Sử Trung Địa Và Các Giống Loài

biên dịch :  gdqt– forum.gamevn.com

Lord-of-the-Rings-Movie

Bài viết này để tóm tắt lại các giống loài cũng như lịch sử hình thành của Arda trong đó Middle-Earth (Trung Địa) là một phần lãnh thổ của nó. Tất cả những sự kiện được diễn tả qua tác phẩm The Silmarillion của J. R. R. Tolkien. The Silmarillion được ví như một quyển kinh thánh của Trung Địa. Truyện khá dài, ngôn ngữ khá phức tạp, lại có đến hàng trăm nhân vật cho nên việc dịch nó sang tiếng Việt là một điều rất khó. Bài viết chỉ tóm tắt nội dung để các bạn đọc có thêm hiểu biết về thế giới nhiệm mầu của tác giả đã tạo ra.

The Silmarillion bao gồm năm phần, phần thứ nhất là Ainulindalë, nói về sự hình thành của Eä hay được biết đến là thế giới, vũ trụ. Valaquenta, phần thứ hai miêu tả về Valar và Maiar, những vị thần với sức mạnh siêu nhiên của Eä. phần tiếp theo là Quenta Silmarillion, cũng là phần chính của truyện, là thiên niên sử về những sự kiện xảy ra trong suốt Kỷ Thứ Nhất, bao gồm cuộc chiến tranh tranh dành những viên ngọc Silmarils. Phần thứ tư Akallabêth nói về sự sụp đổ của vương quốc Númenor vốn diễn ra trong Kỷ Thứ Hai. Phần cuối cùng là Chiếc Nhẫn Quyền Lực và Kỷ Thứ Ba, tóm tắt những sự kiện dẫn đến bộ tiểu thuyết Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn.

Phần 1: Ainulindalë

Eru ( còn được gọi là Ilúvatar) đấng tối cao, qua ý nghĩ ngài đã tạo ra Ainur, những tâm linh thần thánh, dưới sự dẫn dắt của Ilúvatar họ đã hoàn thành bài hùng ca vĩ đại. Trong khi họ vui vẽ ca hát trong vinh quang, Melkor kẻ mạnh mẽ nhất trong Ainur, bắt đầu có những ý nghĩ xấu xa của riêng hắn, điều đó dẫn đến sự bất hoà hợp trong điệu nhạc thần thánh. Hắn thường một mình đi đến những nơi trống vắng của Vũ Trụ và tìm kiếm nơi ấy ngọn lửa bất diệt. Tuy không tìm được những gì hắn mong muốn, nhưng hắn đã có những ý nghĩ riêng, và ý nghĩ xấu xa đó đã len lõi vào điệu nhạc thần thánh với những âm thanh gay gắt làm tan đi những giai điệu yên bình, thanh tao lúc đầu. Và cũng kể rằng có rất nhiều Ainur không còn hát những bài hát của riêng họ mà đi theo tiếng gọi xấu xa và hoà nhịp cùng Melkor.

Ilúvatar đã thay đổi điệu nhạc, nhưng Melkor vẫn cố đưa vào điệu nhạc những âm thanh chua chát. Đã ba lần Ilúvatar thay đổi điệu nhạc để chống lại sư xấu xa đó, và cuối cùng ngài đã mang đến điệu nhạc của họ một tia sáng. Trong ý nghĩ đó, Arda hay còn gọi là thế giới đã được hình thành. Các Ainur đã đoán trước sự kiện về sự xuất hiện của những đứa con của Ilúvatar trong cõi Arda, những đứa con của ngài bao gồm Elf và loài Người. Với niềm phấn khởi illuvartar đã cho phép một vài Ainur đi vào cõi Arda với điều kiện là họ mãi mãi sống quanh ranh giới của Arda và trong số đó Manwë là kiên cường nhất. Ainur có quyền năng nhất còn được gọi là Valar, họ là những vị thần góp phần xây dựng cấu trúc cho Arda. Bên cạnh các vị thần Valar, Melkor cũng bí mật đi vào Arda, với lòng thù hận đối với Ilúvatar và Valar, hắn kiên quyết tiêu diệt những gì tốt đẹp mà Valar đã gầy công xây dựng .

Phần 2: Valaquenta

Câu truyện xây quanh 7 vị thần Valar và 7 vị nữ thần Valier, họ là những linh hồn tâm linh Ainur đã đi vào cõi Arda và chính họ đã định hình nên Arda và miệt mài xây dựng cấu trúc của nó từ thuở ban sơ.

Manwë và Melkor là hai anh em được tạo ra trong cùng ý nghĩ của Illuvatar, trong khi Melkor là kẻ có quyền năng cao hơn nhưng Manwë lại được Illuvatar thương yêu hơn và được chọn là vua của tất cả vì vua trong cõi Arda. Manwë là vị thần gió với thần thông hô phong hoán vũ, vợ của ngài là nữ thần Varda, vị thần mà người Elf còn gọi là Elbereth, nữ hoàng của những vì Tinh Tú. Cùng nhau họ sống trên đỉnh Taniquetil, ngọn núi cao nhất của Arda. Trong khi Manwë có cặp mắt tinh thông có thể nhìn thấy những gì diễn ra ở tận chốn xa xăm thì nữ thần Vardar lại có đôi tai có thể nghe thấy những tiếng than khóc, khổ đau ở tận nơi đen tối của tận cùng Trái Đất. Cùng nhau họ có thể biết được những gì đang xãy ra trong cõi Arda

Ulmo là vị thần nước, ngài là người bạn thân của vị thần gió Manwë. Ngài vẫn mãi cô đơn vì thích cuộc sống rài đây mai đó không bị ràng buộc, ngài không sống một chổ cố định và hiển hiện trong tất cả các làn nước trên cõi Arda. Ngài có một kiến thức uyên thâm hơn cả Manwë đặc biệt là những gì diễn ra với Elf và Con Người vì trái tim của ngài đã dành trọn cho những đứa con của đấng Illuvatar.

Aulë là vị thần vật chất, ngài đã tạo ra đất, kim loại, vật chất trong cõi Arda. Ngài rất giống Melkor cả trong suy nghĩ lẫn quyền lực nhưng họ lại là hai kẻ thù truyền kiếp vì không giống như Melkor ngài một mực trung thành với đấng Illuvatar. Vợ của ngài là Yavanna một nữ thần Hoa Quả, bà trông nôm cho tất cả loài cây và muôn thú trên Trái Đất.

Mandos và Lórien cũng là hai anh em được tạo ra trong cùng ý nghĩ của Illuvatar, cùng nhau họ trông giữ những linh hồn. Mandos được biết đến nhiều hơn với căn nhà của ngài, nơi những linh hồn Elf sau khi chết sẽ đến đó yên nghĩ và chờ đến lượt phục sinh. Ngài được ban cho món quà là có thể thấy trước những gì xãy ra trong tương lai duy chỉ những việc mà đấng Illuvatar chưa tiết lộ. Vợ của ngài là nữ thần Vairë một vị thần Thêu Dệt.

Trong khi đó Lórien và vợ của ngài là nữ thần Estë thì trông nôm những linh hồn của vạn vật đang sinh tồn, khu vườn của họ là nơi những linh hồn đến và yên nghĩ

Nienna là em gái của Mandos và Lórien, bà là nữ thần sầu muộn, xoa dịu đi những nỗi đau thống khổ trên cuộc đời.

Tulkas là vị thần đến Arda sau cùng, nhưng ngài có sức mạnh phi phường và đã giúp Valar trong nhiều trận chiến chống lại Melkor. Vợ của ngài là nữ thần Nessa vốn là chị gái của vị thần rừng Oromë, bà rất thích nhãy múa và ca hát.

Vị thần Oromë rất oai hùng trong trận chiến, nhưng ngài rất yêu thích những khu rừng nơi chốn Trung Địa và ít khi xa rời nó. Vợ của ngài là nữ thần Vána, muôn hoa đua nỡ, muôn chim hót vang những nơi bà đặt chân đến.

Melkor không được liệt vào nhóm Valar mặc dù hắn là kẻ được Ilúvatar trao quyền năng nhiều nhất. Nhưng hắn sử dụng quyền năng đó vào những việc xấu xa, tàn ác. Hắn ham muốn thống trị Arda và những sinh linh cư ngụ nơi đó.

Maiar là những linh hồn tâm linh cũng được Ilúvatar tạo ra nhằm mục đích trợ giúp cho Valar, quyền năng của họ so với Valar thì thấp hơn một bậc. Tuy Nhiên họ góp phần rất quan trọng trong lịch sử của Trung Địa, những Maiar nỗi tiếng có thể kể: Sauron thuộc về nhà Aulë, Phù Thuỷ Trắng Saruman cũng thuộc về nhà Aulë, Phù Thuỷ Nâu Radagast thuộc về nhà Yavanna, và Phù Thuỷ Xám Gandalf thuộc về nhà Manwë và Varda

Vào những buổi ban sơ, Melkor đã dẫn dụ rất nhiều Maiar phục vụ cho hắn, nỗi tiếng nhất trong số đó là Sauron và hắn được xem là thuộc hạ thân tính nhất của Melkor. Hắn còn được biết đến với biệt danh Gorthaur Kẻ Tàn Ác

Melkor cũng đã dẫn dụ những Maiar khác hiển hiện từ những linh hồn rực lửa, những con quái vật với thân xác bừng trong lửa đỏ với chiếc roi và thanh kiếm lửa, chúng được gọi là Balrog, những tên thuộc hạ khó tiêu diệt nhất của Melkor.

Phần 3: Quenta Silmarillion

a_map_of_middle-earth

Những Ngày Ban Sơ

Trước khi Arda đã được định hình hoàn toàn, trận chiến thứ nhất giữa các Valar và Melkor đã bắt đầu. Các dòng sông Valar đào xới, Melkor vun tay vùi lấp, ngọn núi Valar bồi đấp, Melkor làm sụp đổ. Cho đến khi vị thần Tulkas một Valar cam đảm nhất đặt chân vào chốn Arda, Melkor đã bỏ chạy từ tiếng thét và cơn thịnh nộ của ngài, từ đó thế giới được yên bình.

Giờ đây thế giới vẫn còn chìm trong bóng tối, cho nên dưới sự thỉnh cầu của nữ thần Yavanna, vị thần Aulë đã làm nên Hai Ngọn Đèn vĩ đại có tên gọi Illuin và Ormal. Chúng được đặt nơi Cực Bắc và Cực Nam của Trái Đất, và từ đó thế giới tràn đầy ánh sáng. Muôn cây, muôn thú bắt đầu sinh sôi nảy nở.

Valar ngụ trên một hòn đảo có tên gọi là Almaren, hòn đảo đó là nơi duy nhất trên Trung Địa mà ánh sáng từ Hai Ngọn Đèn giao thoa, nơi ấy tràn ngập ánh sáng và mùa xuân luôn thức giấc.

Trong khi Valar yên nghĩ sau hàng ngàn năm lao động cực lực, thì Melkor vẫn không ngủ yên, hắn đến Arda một lần nữa và xây dựng căn cứ địa ở phía bắc với tên gọi Utumno. Hắn tập trung tất cả bọn thuộc hạ đưa quân đi tiêu diệt Hai Ngọn Đèn, tiêu diệt các lãnh địa, hải đảo, làm thế giới chao đão trong biển lửa. Vì cố gắng khôi phục lại những gì đã bị Melkor tàn phá nên Valar không tấn công hắn vào thời điểm đó.

Sự huỷ diệt của Hai Ngọn Đèn dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của Almaren. Valar đến sống một nơi khác tận phía cực Tây của thế giới, nó có tên gọi Aman. Họ cho nâng những ngọn núi Pelóri, làm thành hào phòng vệ từ sự tấn công bên ngoài. Họ cũng xây một thành phố chính nơi họ cư ngụ, thành phố ấy được bảo vệ nghiêm ngặt và nó có tên gọi Valinor.

Aman_Valinor

Vào lúc đó, nữ thần Hoa Quả Yavanna dốc hết quyền năng của mình và hát vang bài hát về Hai Cây của Valinor, làm nên kỷ nguyên Hai Cây. Cây thứ nhất đâm trồi có tên gọi Telperion, nó phát ra nguồn ánh sáng bạc mát lạnh. Và cây thứ Hai nảy nở có tên gọi Laurelin, nó phát ra nguồn ánh sáng Vàng ấm áp. Hai Cây thay nhau phát sáng, và vào một giờ trong ngày, Hai Cây cùng nhau phát ra nguồn ánh sáng dịu nhẹ và hoà hợp nhau.

Trước niềm phấn khởi về tin những đứa con trưởng của Illuvatar sẽ thức giấc, vị thần Aulë quyết tạo ra những đứa con riêng của mình, đó là loài Dwarves (Người Lùn Râu Dài). Ngài một mực muốn truyền thụ lại cho họ kiến thức sâu thẫm và nhất là kỷ năng luyện kim của ngài.

Nhận biết được các Valar khác sẽ không ưng thuận với hành động trên, nên Aulë đã bí mật tạo ra bảy người cha tổ tiên của người Lùn trong hang động dưới ngọn núi nơi Trung Địa, nhưng sau khi ông hoàn thành thì Ilúvatar đã biết và khiển trách “Ngươi tự ý tạo ra con cháu riêng mà không cho ai hay biết, có phải ngươi muốn chúng tôn thờ ngươi, nhất nhất nghe mệnh lệnh của ngươi. Chỉ được đi, được nghĩ khi ngươi cho phép”. Biêt được lỗi lầm của mình, Aulë định vun búa phá vỡ bảy vị tổ tiên của người lùn, nhưng không ngờ rằng giờ đây họ đã định hình, biết đau đớn, biết than khóc. Họ giơ tay van xin lòng nhân từ, chứng kiến cảnh trên Ilúvatar đã ngăn chặn Aulë và tha mạng cho họ, tuy nhiên với một điều kiện là họ phải đưa vào giấc ngủ sâu và chỉ được đánh thức sau khi những đứa con của Illuvatar là Elf thức giấc dưới vòm trời đầy sao.

Từ sự kiện trên cho thấy Elf không phải là giống loài được tạo ra đầu tiên mà người lùn râu dài mới thật sự được tạo ra trước. điều đó cũng thể hiện qua sự mạnh mẽ, kiên cường của họ và tính tình cởi mở rất dể kết bạn. Và từ đó chúng ta cũng hiểu được tại sao người lùn râu dài lại rất thích vàng bạc, châu báu và họ là những thiên tài về luyện kim cũng như xây dựng hầm mỏ vì vị thần đã tạo ra họ không ai khác hơn là vị thần vật chất Aulë.

Sự Xuất Hiện Của Elf, Và Thâu Phục Melkor

trước khi nói về lịch sử giống Elves, xin xem qua bản đồ sơ lược sự phân chia của họ

Sundering_of_the_Elves

Trong khi nơi chốn Aman tràn ngập trong ánh sáng, thì Trung Địa vẫn còn chìm trong bóng tối và chịu sự cai trị của Melkor. Melkor lại cho xây thêm một căn cứ vững chắc thứ hai nằm ở phía bắc vùng Beleriand, nó có tên gọi Angband, và Sauron là thủ lĩnh căn cứ ấy.

Bằng vào thần thông của mình, Mandos biết trước người Elf sẽ thức giấc dưới vòm trời đầy sao, vì thế Varda đã dốc hết quyền năng của mình để làm nên những vì sao đầu tiên trên bầu trời, những vì sao này phát ra những ánh sáng chiếu khắp Trung Địa.

Người Elves được đánh thức bên bờ hồ Cuviénen trên lãnh thổ Trung Địa. Cảm nhận đầu tiên của họ là ánh sáng của những vì tinh tú trên bầu trời, kể từ đó họ tồn thờ Varda nữ thần của những vì Sao hơn tất cả. Vị thần Oromë một lần du hành đến miền Đông Trung Địa, nơi ấy ngài vô tình nghe được những tiếng hát, những âm thanh huyền diệu của họ. Nhưng khi ngài đến gần, nhiều người trong số họ đã bỏ chạy, số còn lại lấy can đảm để có thể nhìn vào gương mặt ngài vì gương mặt ấy phát ra ánh sáng từ chốn Aman.

Chuyện kể rằng Melkor lúc nào cũng cảnh giác, và hắn là Ainur đầu tiên phát hiện được sự xuất hiện của Elf. Hắn đã bắt được rất nhiều Elf, giam giữ, tra tấn họ hàng nghìn năm và cuối cùng tạo nên một giống loài lai căn ác tính mất đi bản tính thần thánh khi xưa, đó là loài Orc. Hắn cũng lan truyền những lời đồn đại xấu xa về Oromë, bảo với người Elf rằng họ nên sợ hãi và tránh xa Oromë, với lý do đó nhiều người trong số họ đã bỏ chạy khi Oromë xuất hiện.

Khi Oromë mang những tin tức của Elf đến với Valar, họ vô cùng mừng rỡ nhưng đồng thời e ngại vì mối đe doạ từ Melkor. Cuối cùng họ quyết định làm cuộc chiến tranh chống lại Melkor, nhiều mãnh đất bị phá huỷ, trái đất rung chuyển và cực bắc chìm trong biển lửa. Cuối cùng Melkor cũng bị hạ bởi Tulkas, hắn bị xiềng xích và giãi đến Valinor để xét xử, hắn bị nhốt trong ngôi nhà của Mandos nơi mà không một linh hồn nào của Elf hay Ainur có thể trốn thoát. 

Tuy nhiên Valar vẫn không phát hiện ra những ngục tối sâu thẵm của hai căn cứ Angband và Utumno, và những nơi sâu trong lồng đất bọn thuộc hạ của Melkor vẫn còn đấy, và kẻ tàn ác Sauron đã trốn thoát trong đợt truy kích của Valar.

Valar mở một cuộc hội nghị để quyết định về số phận của Elf. Rất nhiêù trong số họ đồng ý nên đưa người Elf đến sống Aman nơi mà tràn ngập ánh sang từ Hai Cây.

Từ những lời đồn của Melkor, người Elf vẫn còn sợ hãi, họ đã đề cử ra ra 3 thủ lĩnh đi đến Aman, 3 người Elves đó là Ingwë, Finwë và Elwë. Tuy nhiên khi họ trở về chỉ một phần nhỏ Elves (hay còn gọi là Quendi) sẵn lòng theo họ đến chốn Aman. Những người Elves đó còn được gọi là Eldar. Dòng người đi theo Ingwë đã đặt chân đến Aman trước nhất và họ được xem là giống loài Elves cao quí nhất, họ được gọi là Vanyar và Ingwë cũng được tôn làm vua. Noldor là những người Elves theo Finwë và đến Aman thứ hai. Nhóm cuối cùng cũng là nhóm đông nhất the Teleri (Nhóm Elves thích ca hát), dưới sự dẫn dắt của Elwë Singollo và em trai của ông là Olwë.

Cuộc hành trình đến Valinor dài đăng đẵng và đầy nỗi gian nan, khi họ đến gần ngọn núi sương mù nơi mà Melkor đã nâng chúng lên cao chót vót, khu rừng nơi ấy vô cùng âm u, người Elf đã sợ hãi và rất nhiều trong số họ không dám vượt qua, cũng nơi ấy nhóm Teleri đã thất lạc đoàn người Vanyar và Noldor. Nhưng cuối cùng Elwë dẫn dắt đoàn người Teleri vượt qua ngọn núi sương mù và tiến vào phía bắc của Beleriand.

Elwë thường đi vào rừng truy tìm tung tích của Noldor, nhất là Finwe vốn là một người bạn thân thiết. Nhưng một hôm ông lạc lối khi nghe được tiếng hát của Melian. Melian vốn là một Maia nỗi tiếng với tiếng hát thanh tao nơi chốn Valior, nàng thường đến Trung Địa để xoa dịu sự tĩnh mịch nơi ấy, nàng cất cao tiếng hát, những bài hát của loài chim sơn ca. Như tiếng sét ái tình, Elwë chạy theo tiếng gọi con tim mà quên đi mục đích chính của mình, họ nắm tay nhau và như trúng phải bùa mê, họ đứng đấy từ năm này qua tháng nọ.

Những người còn lại không tài nào tìm gặp Elwë, nên cuối cùng đã tôn người em của Elwë là Olwë lên làm thủ lĩnh và lên đường đến Aman, tuy nhiên nhiều người trong số họ không muốn bỏ rơi Elwë nên quyết ở lại tìm ông. Elwë không bao giờ đặt chân đến Valinor một lần, ông ở lại Trung Địa kết hôn Melian, và cùng những người Elf còn lại lập nên vương quốc Doriath trên lãnh địa Beriland. Nhiều năm sau họ còn được gọi là Sindar, và vị vua Elwë còn biết đến nhiều hơn với biệt danh Thingol, ông đã thừa hưởng rất nhiều quyền năng từ vợ.

Cuối cùng Noldor và Vanyar cũng đã đến bờ biển Trung Địa, nơi ấy họ lần đầu gặp vị thần nước Ulmo. Ngài đã dùng quyền năng để bứng gốc hòn đảo và dùng nó đưa đoàn người Eldar đến Aman. Nhưng thật đáng tiếc cho Teleri vì họ ở lại Miền Đông Beleriand quá lâu để tìm kiếm tung tích của Elwë nên không thể đến Aman cùng lúc với Noldor và Vanyar. Chứng kiến sự u sầu của Teleri, vị thần nước Ulmo đã quay trở lại và đưa họ đến Aman cũng trên một hòn đảo, tuy nhiên một số ít Teleri lại muốn ở lại Trung Địa, trong số họ có Círdan và sau này là chủ nhân của vùng Grey Heaven. Khi hòn đảo duy chuyển gần đến Aman, đoàn người Teleri vì quyến luyến Trung Địa, nên đã van xin Ulmo cho phép họ ở lại một nơi gần bờ biển. Ulmo đã chấp thuận và cấm neo hòn đảo gần bờ Valinor, hòn đảo đó sau này còn biết đến với tên gọi Tol Eressëa, Hòn Đảo Cô Đơn, và cũng nơi ấy Teleri xây dựng thành phố cảng sầm uất của mình, với những chiếc thuyền Thiên Nga huyền thoại.

Valar đã chuẩn bị những vùng đất cho Noldor và Vanyar, họ đã khoét những lổ trống trên dãy núi Pelóri để ánh sáng từ Hai Cây có thể đến được bờ biển Aman và vùng biển tây Tol Eressëa. Họ cho nâng những ngọn đồi xanh được gọi là Túna và cũng nơi ấy thành phố Tirion được xây dựng. Thành phố ấy là chốn cư ngụ của Noldor và Vanyar.

Vanyar rất được Manwë và Varda thương yêu, nhưng vị thần vật chất Aulë lại dành trọn tình thương cho Noldor, Ngài đã chỉ dạy cho họ kiến thức uyên thâm và nhất là kỹ năng luyện kim của ngài.

Giờ đây ba giống loài Elf đã sống tại Aman, họ không ngừng phát triển và tài năng họ đạt đến đỉnh cao. Một trong những thành tựu quan trọng có thể kể là việc phát minh ra chử viết bởi Rúmil, thuộc dòng dõi Noldor. Cũng trong thời gian đó, đứa con trai trưởng của đức vua Finwë là Feanor chào đời. Vợ của Finwë là Miriel trong khi mang thai Feanor, bà đã dồn hết quyền năng cho con, thân thể hao mòn cho nên sau khi hạ sinh Feanor hơi thở bà gần như cạn kiệt. Bà được đưa đến yên nghĩ nơi khu vườn của vị thần Lórien, Finwë thường một mình đi đến khu vườn ấy tìm kiếm hình bóng vợ hiền, nhưng định mệnh đã an bài linh hồn bà đã rời thể xác để vào Ngôi Nhà của Mandos. Finwë đợi chờ trong tuyệt vọng năm này qua tháng nọ và sau cùng không còn đến khu vườn ấy nữa, ông dành trọn hết tình thương cho đứa con trai Fëanor.

Fëanor khi trưởng thành càng chứng tỏ là một người tài năng lỗi lạc, nhất là kỷ năng luyện kim, nhưng ông ta lại là một người háo thắng và tính tình nóng như lửa đỏ. Feanor kết hôn cùng Nerdanel con gái của Mahtan, Feanor đã họ được rất nhiều điều nhất là việc làm các báu vật từ đá và kim loại từ Mahtan. Họ có với nhau bảy người con trai, mà sau này được gọi chung là những đứa con của Feanor.

Cũng vào thời gian đó, đức vua Finwë quyết định kết hôn cùng một người vợ khác, ông lấy Indis làm vợ và có với nhau hai người con trai đặt tên là Fingolfin và Finarfin. Tuy nhiên Feanor không hài lòng về cuộc hôn nhân của cha và không có một chút tình thương nào dành cho hai người em cùng cha khác mẹ, ông thường sống xa rời họ và dồn hết tâm sức vào việc chế tạo báu vật.

Melkor cuối cùng đã được phóng thích, hắn được đưa đến diện kiến Valar và thề sẽ trung thành, quyết lòng hàn gắn mọi vết thương mà hắn đã tạo ra trước kia. Manwë chấp thuận lời sám hối của hắn và cho phép hắn tự do đi lại nơi Aman, tuy nhiên không ít Valar không đồng ý. Thấy được sự cường thịnh của Aman, Melkor càng thêm căm thù, nhìn vào người Elf hắn càng ghét họ hơn, hắn tính toán âm mưu nhầm chia rẽ Elf và Valar. Biết được Vanyar một lòng trung thành với Valar nên khó lòng dụ dỗ, trong khi Teleri thì quá yếu kém không đem lại lợi ích gì cho hắn, cho nên đối tượng hắn lợi dụng không ai khác hơn là Noldor. Hắn tận tình dạy cho họ kỷ năng mới, những kỷ năng mà Noldor chưa hề biết đến. Tuy nhiên Feanor luôn căm ghét và không tin tưởng Melkor, và sau này Melkor đã khẳng định những thành tựu tuyệt đỉnh mà Feanor đạt được là do sự trợ giúp của hắn, tuy nhiên đó chỉ là lời dối trá.

Silmarils Và Bóng Tối Bao Trùm Valinor

Khi Feanor đã có đầy đủ quyền năng, ông đã làm nên một kiệt tác mà sau này khó có ai làm được, ông đã tạo ra ba viên ngọc Silmarils, Ba viên ngọc này hấp thụ tinh hoa từ ánh sáng của Hai Cây. Nữ thần Varda đã làm phép và không cho bất cứ bàn tay dơ bẫn của kẻ phàm trần hay ma quỷ nào chạm đến, nó sẽ đốt cháy bàn tay kẻ nào một khi chạm đến chúng.

Người nơi chốn Aman say đấm dưới ánh hào quang của Silmarils, và Feanor thường đem chúng đến chưng bày vào những dịp lễ hội, tuy nhiên ông không cho phép ai chạm đến.

Khi Melkor nhìn thấy Silmarils, hắn càng căm phẫn và thèm thuồng có được chúng. Và thời cơ đã đến, hắn bắt đầu âm mưu đen tối, hắn lan truyền những lời đồn đại dối trá xấu xa, từng bước từng bước làm chấn động Noldor. Hắn đồn rằng Valar mang Elf đến Aman vì họ ganh tị tài năng của Elf, và một khi người Elf ở lại Trung Địa, Valar không còn cách nào có thể điều khiển họ.

Vào thời điểm đó Valar chưa tiết lộ bí mật cho Elf là sau này sẽ có sự xuất hiện của Con Người nơi chốn Trung Địa, Melkor lấy cớ đó để đồn rằng sỡ dĩ Elf được đưa đến Aman vì Trung Địa đã dành riêng cho Loài Người, một giống loài yếu kiếm và dễ dàng bị Valar sai khiến.

Thấy được mâu thuẫn giữa Feanor và hai người em cùng cha khác mẹ, Melkor lại đồn rằng Fingolfin đang tìm cách chiếm lấy địa vị hoàng tử trưởng vốn thuộc về Feanor. Những lời đồn của Melkor cuối cùng cũng đến tai Feanor, ông vốn nóng tính nên đã chuẩn bị vũ khí làm phản. Fingolfin tìm đến cha và bài tỏ lo ngại về việc Fëanor cùng thần dân Noldor đang tìm cách chống lại Valar, đức vua Finwë vô cùng lo lắng nhưng vào lúc đó Feanor đã nghe được những lời trên, ông rút gươm định tử chiến cùng người em của mình. Hành động trên của Feanor đã khiến Valar nỗi giận lôi đình, họ trục xuất ông ra khỏi Tirion. Nhưng rồi cuối cùng Valar cũng biêt những xáo trộn trên là do một tay Melkor gầy dựng, nên đã truy tìm hắn, tuy nhiên hắn đã trốn thoát.

Fëanor bị lưu đày đến chốn Formenos, đi cùng với ông còn có bảy người con trai và đức vua Finwë. Kể từ đó Fingolfin thống trị thần dân Noldor.

Vào một hôm, Melkor đến Formenos và đề nghị giúp sức cho Feanor, hắn lại bảo rằng Silmarils sẽ không an toàn nơi đây vì mối nguy hại từ Valar. Tuy nhiên Feanor không những không nghe những lời dụ dỗ ấy mà còn quát “ngươi là một tên vô lại” đồng thời đóng sầm cánh cửa trước mặt hắn. Chưa có kẻ nào lại dám vô lễ với chúa tể hắc ám như thế, hắn ôm mối hận trong lòng và quyết rửa nhục. Đức vua Finwë thấy được hành động thô lỗ của con trai nên vô cung lo sợ, ông liền cho người mang tin đến Valar về hành tung của Melkor.

Nghe được tin về sự xuất hiện của Melkor, hai vị thần Oromë và Tulkas cùng nhau truy bắt hắn, tuy nhiên Melkor xảo trá đã lẫn trốn vào miền nam của Aman, trên vùng đất Avathar nơi mà Valar ít khi đặt chân đến. Ở trên mãnh đất đó là nơi sinh sống của con nhện khổng lồ Ungoliant, mụ lúc nào cũng đói khát, thèm thuồng ánh sáng. Mụ giăng tơ đen dầy đặc giửa những ngọn núi. Melkor đã thuyết phục mụ giúp sức và hứa sau khi thành công sẽ ban cho mụ báu vật bằng cả hai tay. Tuy sợ hãi Valar, nhưng dưới lời dụ ngọt của Melkor mụ đã siêu lòng

Khoác trên người bóng tối, cả hai xâm nhập vào lãnh địa Valinor. Vào lúc ấy, Valinor đang tổ chức đại lễ nhầm hàn gắn tổn thương giữa các hoàng tử Noldor. Feanor được lệnh phải đến, trong khi vua Finwë cùng những người con của Feanor ở lại trông giữ Silmarils. Trước ngai vàng của Manwë, Feanor đã gặp Fingolfin, và cuối cùng họ đã giãi hoà

Vào giờ đó là thời điểm ánh sáng Hai Cây dịu lại và hoà nhau, Ungoliant và Melkor đã đến Ezellohar nơi Hai Cây đang đứng sừng sững. Melkor tổn thương Hai Cây bằng thanh kiếm, nhựa của chúng đổ ra một màu như máu. Mụ quái vật Ungoliant uống cạn chúng cho đến khi Hai Cây khô cằn và chết. Cơ thể mụ ngày một to hơn và bóng tối bao trùm mụ khiến cho Melkor phải khiếp vía.

Hai Cây đã bị diệt, bóng tối bao trùm chốn Aman. Manwë biết được một lần nữa đó là hành động của Melkor và ra lệnh cho Oromë và Tulkas cùng nhau truy bắt hắn, nhưng họ lại lạc lối trong tăm tối, bối rối vì bóng tối Ungoliant đã tạo ra.

Sự Nổi Loạn Của Noldor

Sau khi Hai Cây bị diệt, Valar ngồi suy nghĩ rất lâu để tìm cách cứu sống Hai Cây, và giải pháp là Silmarils. Silmarils sau hàng trăm năm đã hấp thụ ánh sáng tinh hoa từ Hai Cây, giờ đây sau khi Hai Cây bị diệt chúng là vật báu duy nhất có thể cứu sống Hai Cây. Valar đã thĩnh cầu Fëanor trao cho họ Silmarils, tuy nhiên ông lại nhớ đến những lời dối trá của Melkor và lại tin rằng một khi ánh sáng từ Silmarils dập tắt cũng là lúc ông tàn hơi thở, do đó đã từ chối lời thĩnh cầu trên.

Nhưng ngay lúc ấy, ông lại nhận được một tin như sét đánh rằng cha ông, đức vua Finwë đã bị Melkor hạ sát và ba viên Silmarils đã bị đánh cấp. Trong cơn căm phẩn cùng cực, ông nguyền rủa Melkor và gọi hắn với cái tên Morgoth, và cái tên ấy sau này theo hắn suốt đời.

Vào lúc ấy, Melkor cùng Ungoliant vượt qua cực bắc của Aman, băng qua cánh đồng băng giá Helcaraxë và tiến vào Trung Địa. Lo sợ trước hình hài khổng lồ của Ungoliant, Melkor đã tìm cách thoát thân, nhưng Ungoliant cảm nhận được hành động của hắn và buột hắn ở bên cạnh.

Melkor sợ hãi và ban cho mụ từng báu vật mà hắn lấy được ở Formenos, ngoại trừ Silmarils, nhưng mụ không sao thoã mãn cơn đói khác. Do bỡi phù phép của Varda, Silmarils bắt đầu đốt cháy bàn tay ma quỷ của Melkor, hắn đau đớn tột cùng nhưng nhất quyết không trao chúng cho Ungoliant. Giận dữ mụ tấn công và trói chặt Melkor bằng những tơ nhện đen khổng lồ, Melkor đau đớn hét lên tiếng thét vang trời, vùng đất ấy có tên gọi Lammoth và sau này tiếng thét ấy vẫn mãi nghe thấy. Tiếng thét kinh hoàng của Melkor làm chấn động bọn thuộc hạ Balrogs đang ẩn thân nơi chốn thâm sâu Angband, với roi lửa chúng phá tan lưới nhện và giải thoát Melkor. Chúng tấn công Ungoliant và khiến mụ kinh hoàng bỏ chạy về Nan Dungortheb, thung lũng chết.

Melkor đã làm một vương miện sắt và mặc dù đôi tay hắn bị đốt cháy trong đau đớn, hắn đã đính ba viên Silmarils trên vương miện sắt và trẫm trệ trên ngôi cao đen tối, sai khiến bọn lâu la. Hắn cho xây ba ngọn tháp Thangorodrim, hắn nuôi dưỡng, tạo ra nhiều giống loài ma quái phục vụ cho hắn.

Noldor trở lại Tirion, và Fëanor tập hợp họ lại và xưng vua, ông khuyến khích mọi người rời khỏi Aman tìm đến vùng đất tự do nơi Trung Địa. Ông cùng bảy người con đưa ra lời thề độc, một lời thề mà hậu quả của nó thật khó lường. Họ thề rằng sẽ săn đuổi, giết chết bất cứ kẻ nào đang chiếm giữ Silmarils.

Gia đình Finwë bắt đầu phân chia bè phái, một số đồng tình với hành động của Feanor, một số chống lại, trong số đó là hai vị hoàng tử Fingolfin và Finarfin. Tuy nhiên số đông Noldor lại rất muốn rời khỏi Aman đến sống nơi Trung Địa, không còn lựa chọn Fingolfin và Finarfin đành phải theo đoàn người lên đường đến Trung Địa và sống cuộc sống lưu vong.

Manwë cuối cùng gởi sứ giã đến và khuyên họ nên ở lại, cảnh báo họ con đường họ đang đi chỉ đem đến sự diệt vong. Tuy nhiên Fëanor lại phản kháng và thốt lên rằng” Hãy hỏi Valar, tìm đâu nữa thú vui nơi chốn Aman này, giờ đây nó chìm trong bóng tối, ở đây chỉ có đau buồn và thù hận, và nếu ta không tiêu diệt được Melkor, thì ta chỉ có thể ngồi đây ôm đắng nuốt cay”. Lời lẽ của Fëanor đã khiến vị sứ giã phải khuất phục và quỳ trước chân ngài.

Feanor dẫn dắt đoàn người Noldor rời khỏi Aman trong cuộc hành trình đầy gian nan. khi họ đến thành phố Aqualondë nơi mà giống Elf Teleri đang cư ngụ. Teleri sau khi cư ngụ bên bờ biển, dưới sự trợ giúp của Ulmo, một Valar thần nước, họ giờ đã thành thạo và rất có năng khiếu về xây dựng tàu, thuyền. Dù sao cũng cùng giống loài nên Feanor đã có nhã ý mượn thuyền của Teleri để vượt đại dương. Vì tôn thờ và một lòng trung thành với Valar, nên Teleri đáp rằng :” Feanor, nếu ngài xem những viên Silmarils quí giá như mạng sống của ngài thì đối với chúng tôi những chiếc thuyền xinh đẹp kia là một công trình không phải một ngày một buổi, chúng tôi cũng quí chúng như mạng sống chúng tôi”.

Không còn lựa chọn, bằng vủ lực Feanor cùng những người con chiếm đoạt những chiếc thuyền, và thế là cuộc chiến giửa Noldor và Teleri đã diễn ra và đó cũng là cuộc chiến đầu tiên giữa Elves và Elves. cuộc chiến này còn có tên gọi là Kinslaying of the Eldar.

The_Teleri_Depart_The_Lonely_Isle

Khi đoàn Noldor tiến về vùng biển Bắc, sóng biển nỗi lên cuồn cuộn, một vài người bị đánh chìm, đa phần còn lại sống sót và đến vùng đất hoang Araman ở phía bắc Aman. Ở nơi đó vị thần Mandos xuất hiện, ngài đã đưa ra lời tiên tri cho Noldor về sự suy tàn của họ một khi dấn thân vào Trung Địa. Nhưng Fëanor kiêu ngạo và xem thường những lời cảnh báo trên.

Vì không đủ thuyền, Feanor cùng những người con trai và những người trung thành nhất đã dùng thuyền chiếm được tiến đến Trung Địa bỏ lại sau lưng môt số lượng lớn Noldor dưới sự dẫn dắt của Fingolfin một người em cùng cha khác mẹ với Feanor, từ đó dấy lên lòng hận thù của Fingolfin với Feanor và ông kiên quyết giáp mặt với Feanor để làm rỏ sự việc.

Dù sau đi nữa Noldor cũng thuộc Eldar, những đứa con trưởng con Iluvatar, với nghị lực phi thường và ý chí thép, Fingolfin đã dẫn đoàn người vượt qua cánh đồng băng giá kinh hoàng Helcaraxë mà cái giá phải trả là vô vàn sinh mạng của Noldor. Finfarin, cũng là một người em cùng cha khác mẹ với Feanor dẫn số người còn lại trở lại Aman trong sự xấu hổ và hối tiếc.

Helcaraxe
Fingolfin đã dẫn đoàn người vượt qua cánh đồng băng giá kinh hoàng Helcaraxë

Sindar

 Như đã kể trong các phần trước, trong cuộc hành trình đến Aman, Elwë đã thất lạc vào Miền Tây Trung Địa, nơi ấy ông đã gặp và kết hôn nàng Melian. Những người Elves trong nhóm Eldar còn lại vốn dĩ không dám vượt qua đại dương để đến Aman đã tôn Elwë lên làm vua, và Beleriand là lãnh thổ chính của họ. Những người Elves này còn được gọi là Sindar, trong ngôn ngữ của họ Elwë còn có tên khác là Elu Thingo. Dưới sự trợ giúp của Melian, Sindar giờ đây trở thành giống loài Elves cường thịnh và có nhiều kỷ năng nhất trong Trung Địa.

Khi Melkor vẫn còn bị xiềng xích nơi Valinor, thì nơi chốn Beleriand nàng công chúa Lúthien đứa con của Thingol and Melian đã ra đời, họ quí nàng hơn mọi thử trên đời bởi trong tất cả những đứa con của Illuvatar thì nàng xinh đẹp và hoàn hảo nhất.

Lại nói đến người Dwarves (người lùn râu dài) đã thức giấc sau khi những người Elves đầu tiên chào đời. Dwarves cũng đến sống trong vùng Beleriand trên dãy núi Blue Montains, họ xây dựng nên hai thành phố chính là Nogrod và Belegost. Khi những người Sindar lần đầu gặp người lùn họ đã vô cùng ngạc nhiên vì họ lại không ngờ lại có giống loài khác có thể nói chuyện và lại lao động chân tay. Người lùn đã giúp họ xây dựng con đường liên thông Beleriand và họ đã trở thành những người bạn với nhau.

Cũng trong thời gian đó, Melian đoán trước được sự yên bình của Beleriand không còn tồn tại bao lâu nữa, nàng đã bàn cùng chồng và dưới sự giúp đỡ của Dwarves họ đã xây dựng thành phố ngầm vững chắc trong những hang động, một kỳ quan của trung điạ, thành phố mang tên Menegroth. Menegroth có thể so sánh ngang tầm với thành phố Valinor của Valar

Sự Xuất Hiện Của Mặt Trời Và Mặt Trăng Cùng Với Sự Biến Mất Của Thành Phố Valinor

Sau khi Melkor và Ungolian giết chết Hai Cây cùng với sự ngan tàn của Feanor khi ông dẫn đoàn người Noldor trở lại Trung Địa trong cơn thịnh nộ để báo thù cho cha ông là Finwë. Lúc này các Valar ngồi lại rất lâu, họ là những linh hồn thần thánh, họ không thảo luận qua lời nói mà qua ý nghĩ. Valar đã đi đến quyết định che giấu vùng lãnh thổ Aman mãi mãi. một hòn đảo lớn được tạo ra chắn trước của biển đi vào Aman, mặc dù thế vẩn còn một lối đi bí mật để đến Aman. Những ngọn núi phía đông Aman được nâng cao hơn để không một ai có thể vượt qua.

Yavanna và Nienna đã cố gắng cứu sống Hai Cây, Yavanna đã vô cùng đau buồn, bà than khóc trước những gì còn xót lại của Hai Cây. Có lẽ ánh sáng sẽ không mãi mãi rời xa Ea, trước khi chết cây Telperion đã cho ra đời một bông hoa khổng lồ duy nhất, một bông hoa bạc. còn cây Telperion cho ra đời một quả vàng duy nhất, Và chúng được Valar dùng làm mặt trời và mặt trăng. Varda đã cho chúng nguồn năng lượng để có thể duy chuyển trên bầu trời, và đấy là món quà quí báu nhất mà Valar dành tặng cho những đứa con nối tiếp của đấng Illuvatar, Con Người.

Arien được chọn trong nhóm Maiar để chăm sóc và canh giử mặt trời, bởi bà rất quan tâm và không sợ sức nóng mãnh liệt của nó, bà có linh hồn từ lửa người mà Melkor không tài nào có thể làm xao động lòng. Tilion cũng được chọn trong nhóm Maiar để canh giử cho mặt trăng. ông là một thợ săn của thần rừng Oromë và ông yêu ánh bạc hơn cả, ông van xin được chăm sóc cho quả cuối cùng của Telperion. Arien rất mạnh mẽ, bà bừng cháy như những ngọn lửa, không một ai trong giống Elves có thể nhìn trực tiếp vào mắt bà.

Bình Minh Của Nhân Loại

Trong những năm đầu tiên khi mặt trời bắt đầu chiếu sáng, Valar đến Trung Địa để khống chế Morgoth (Morgoth là tên gọi khác của Melkor, Feanor gọi hắn với tên này sau khi hắn đã giết chết cha ông.). giờ đây họ đã an toàn nơi Valinor, ngoại trừ Ulmo vị thần nước, luôn luôn ngóng tin về những đứa con tiếp theo của Illuvarta, lấy tin tức từ những đợt sóng biển.

Cuộc sống giờ đã đơm hoa kết trái chốn Trung Địa, trong ngày bình minh đầu tiên, con người đã thức giấc trong vùng Hildórien. vì họ thức giấc trong tia nắng đầu tiên của mặt trời, con người đã lạc lối theo nó, tôn thờ nó. không giống như Elves giống loài được đánh thức dưới vòm trời đầy sao, Valar đã không đến hướng dẫn cho loài người. Mặc khác con người lại rất sợ Valar và gọi họ là thần, không hiểu mục đích của họ là gì. Ulmo không nỡ bỏ rơi những đứa con còn trẻ dại của Illuvatar nơi chốn Trung Địa đầy nguy hiểm, ông đã cố gắng dẫn dắt họ qua điệu nhạc bằng từng đợt sóng biển, tuy nhiên không giống như Elves con người sinh ra là một giống loài không có quyền năng, họ không hiểu được ý nghĩa xâu xa trong từng điệu nhạc của từng đợt sóng biển mà Ulmo một lòng dẵn dắt họ.

Thay vào đó con người lại học rất nhiều từ giống Elves Đen, loài Elves đã không có quyết định di dân đến Aman từ những giai đoạn đầu tiên. từ khi ánh sáng trở lại khắp bề mặc Trung Địa, Morgoth vô cùng kinh hoàng, hắn rút toàn bộ lực lượng vào nơi đen tối và không đủ sức mạnh vướt xa ranh giới, đó là thời hòa bình ngắn cho con người vì họ không biết được rằng Morgoth không bao giờ bỏ qua ý định tàn ác và cuộc chiến tranh trên Trung Địa đang tiến gần kề

Không giống như Elves, con người không trường sinh, họ dễ dàng ngã bệnh hay tổn thương, số mệnh của họ sau khi chết không một ai biết, vì Iluvatar đã ban cho họ món quà, món quà có thể kiểm xoát số mệnh của mình sau khi chết mà không bị ràng buột. Rất là đáng ngạc nhiên khi số phận của Elves sau khi chết lại được định đoạt bởi Valar, họ không có quyền kiểm xoát số phận của họ sau khi chết, những linh hồn của họ sau khi chết sẽ phải về cư ngụ nơi Ngôi Nhà Chết của vị thần Mandos.

Trong những năm đầu tiên của loài người, con người và Elves đã sát cánh bên nhau trong nhiều trận chiến và rất nhiều vị anh hùng từ hai giống loài đã được sinh ra.

Sự Trở Lại Của Noldor

Lại nói tiếp câu chuyện Feanor cùng đoàn người cuối cùng đã đặt chân đến Trung Địa, tại vùng Lammoth, với tính ít kỷ Feanor đã ra lệnh đốt hết những chiếc thuyền mà họ đoạt được từ Teliri để đoàn người theo Fingolfin không thể vượt qua đại dương. Nhưng ông không ngờ ngọn lửa bốc cao kia làm kinh động đến bọn Orcs thuộc hạ của Melkor, và tại nơi Aman Fingolfin nhìn thấy ngọn lửa kia qua hành động vô lương tâm của Feanor, từ đó họ không còn một tình thương nào dành cho gia đình Feanor.

Sau khi đoàn người theo Feanor dừng chân tại Mithrim, họ bị tấn công đột ngột bởi đội quân của Morgoth trong trận chiến dưới những vì sao (Battle-under-Stars). tuy họ bị tấn công bất ngờ, nhưng bằng vào nghị lực phi thường và quyền năng cao cả đoàn quân Feanor đã chiến thắng.

Với lòng hiếu thắng cùng với ngọn lửa căm thù bốc cháy, Feanor không thể chờ đợi lâu hơn để đối diện với kẻ thù để trả thù cho cha, ông cùng đoàn quân tiếp tục truy kích đội quân Orcs mà không hay mình đã lạc vào lãnh địa Angband. tại đó ông đã có cuộc chiến sinh tử với Balrogs một quái vật từ thuở hồng hoang theo chân Melkor từ những linh hồn rực lửa. Feanor bị trọng thương trầm trọng nhưng ông đã chiến đấu rất dũng mãnh, những đứa con Feanor đến giải vây cho cha nhưng đã quá muốn. Trước khi chết Feanor yêu cầu những đứa con nhắc lại lời thề khi xưa và căn dặn họ phải trả thù cho ông. nỗi uất ức không trả thù được, ngọn lửa hận bùng bùng bốc cháy, trước khi chết ông nguyền rủa cái tên Morgoth 3 lần, ngọn lửa câm thù từ linh hồn đã đốt cháy thể xác ông thành tro bụi.

Ghi chú: Nếu các bạn xem phần 1 trong phim Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn chắc hẳn không quên con quái vật Balrogs, đó là con quái vật đã chiến đấu cùng Gandaft và cả 2 đã rơi vào vực sâu.

Trước tin cái chết của Feanor, Morgoth gởi sứ giả đến và Maedhros một trong những người con trai của Feanor đã đồng ý gặp Morgoth để bàn luận. Đó là bài học muôn thuở cho Noldor đừng bao giờ tin vào những lời mật ngọt của Melkor, Melkor đã dàn sẳn cạm bẫy và đã bắt sống Morgoth và giử chàng làm con tin. Hắn hứa sẽ thả Maedhros nếu đoàn quân Noldor rút khỏi Trung Địa và không tham gia vào trận chiến. Bị ràng buột bởi lời thề khi xưa, những người Noldor tiếp tục mong ước của Feanor, thề tiêu diệt Morgoth.

Morgoth đã treo Maedhros trên đỉnh núi cao chót vót Thangorodrim trong lãnh địa Angband. cánh tay phải của chàng bị xiếc chặt bằng xiềng sắt, cơ thể chịu mọi cực hình thật sống không bằng chết.

Trong khi đó, Fingolfin cùng đoàn người cuối cùng đã đến Trung Địa vào lúc những tia nắng đầu tiên của mặt trời bắt đầu lóa dạng. Những tên thuộc hạ của Morgoth bỏ chạy trong nỗi kinh hoàng. Fingolfin cùng đoàn người phá vỡ cồng thành Angband những căn cứ địa nới đó giờ đã hoang tàn, họ đã đóng quân tại Mithrim. Suy ngẫm về quá khứ, những người theo Fingolfin càng hận gia đình Feanor nhiều hơn, nhất là họ phải hứng chịu nhiều khổ nhọc khi phải vượt qua cánh đồng băng giá.

Sau khi Feanor chết, những người theo ông ta lại muốn tìm kiếm sự giúp đỡ từ đồng loài, nhưng họ lại không dám đối diện với đoàn người Fingolfin vì nỗi xấu hổ khi xưa đã bỏ rơi họ và đốt cháy hết thuyền. Nhưng Fingon, con trai trưởng của Fingolfin gạt bỏ hận thù một lòng nối lại tinh thần đoàn kết trong chủng tộc và chàng cùng với người anh họ Maedhros vốn là những người bạn thân từ thuở nhỏ. Khi hay tin Maedhros bị bắt, một mình chàng không cho ai hay biết quyết định vượt qua mọi nguy hiểm lên đường giải cứu Maedhros. Fingon tiến vào lãnh địa Thangorodrim nơi không một tia sáng nào chạm đến, tràn ngập không khí ma quái. chàng mãi tìm kiếm nhưng vẫn không tài nào tìm gặp Maedhros. Trong nỗi tuyệt vọng chàng đã cất lên bài ca chốn thiên đường Valinor, từ trong đêm tối, Maedhros nghe được bài hát và hát trả lại, và thế là chàng đã tìm gặp Maedhros nhưng không tài nào giải cứu được vì thân thể Maedhros đang bị treo trên ngọn núi cao chót vót không một ai có thể đến được. Trong nỗi đau đớn cùng cực, Maedhros van xin Fingon hãy giương cung giết chàng, và trong khi Fingon chuẩn bị đáp lại lời thỉnh cầu thì Thorondor chúa tể của Đại Bàng, sống cạnh Manwë, nhận được mệnh lệnh từ ngài đã đến và mang Fingon lên đỉnh núi cao. Tuy nhiên khi đến nơi, cánh tay Maedhros bị Melkor trói chặt bởi tà thuật mà Fingon không có khả năng phá được. Không còn lựa chọn chàng đành chặt đứt cánh tay phải của Maedhros và giải cứu chàng.

Vết thương của Maedhros được chửa lành theo năm tháng, và danh tiếng của Fingon vang dội khắp nơi. Maedhros cầu xin lời tha thứ từ gia đình Fingolfin và nguyện trao ngai vàng lại cho họ. tuy nhiên không ít số người con khác của Feanor đồng thuận với hành động trên tuy họ không nói ra lời nào.

Sự đoàn kết của giống loài Noldor tạo nên một sức mạnh phi thường, họ khám phá các vùng đất của Trung Địa từ nam chí bắc, từ đông sang tây và cuối cùng dã khám phá ra vùng đất cường thịnh nhất Trung Địa, Beleriand nơi cư trú của Sindar

Truyện bắt đầu trở nên phức tạp với hàng tá nhân vật mà tên của họ thì na ná nhau, rất nhiều địa danh và căn cứ địa, để tiện theo dõi các bạn hãy xem qua sơ đồ phã hệ về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Finwe đức vua của Noldon vì rất nhiều sự kiện chính liên quan đến họ

 tree-finwe

 Galadriel 

Galadriel là con gái của Finarfin một người em cùng cha khác mẹ với Feanor. Galadriel mang trong mình cả hai dòng máu vương tộc của hai chủng loài Elf Noldor và Teleri, bà là cháu nội của vua Finwe dòng dõi Noldor đồng thời là chúa ngoại của Olwë dòng dõi Teleri. Ngoài ra bà còn mối quan hệ khắn khít với vua Ingwë thuộc dòng Elf tối cao Vanyar qua dòng máu bên ngoại. Bà là một trong những thành viên tham gia vào cuộc nỗi dậy đến sống nơi Trung Địa dưới lời kêu gọi của Feanor. khi Feanor cùng các thành viên khác cùng lập lời thề về Silmarils thì bà lại chọn im lặng.

Về sau bà kết hôn cùng lãnh chúa Celeborn và sống lại nơi Trung Địa và cai trị vùng lãnh thổ Lothlórien. bà biết đến với nhiều biệt danh công nương Galadhrim, Nữ thần của ánh sáng, công nương khu Rừng Vàng. Con gái của bà là Celebrían kết hôn cùng Elrond chủ nhân của Rivendell, và con gái của họ là Arwen. Như vậy Arwen sẽ gọi Galadriel là ngoại.
còn về nhân vật Elrond sẽ được diễn tả chi tiết qua các phần sau.

Đức vua Thingol không thích cái ý tưởng bổng dưng xuất hiện vô số hoàng tử Noldor đến từ phương Tây. dựa vào sự khôn ngoan của Melian, Thingol chỉ cho phép con cháu của Finarfin được cư ngụ trong vùng lãnh thổ của ngài. Vì vợ của Finarfin là Eärwen vốn là con gái của Olwë, em trai của Thingol.

Ảngod là người đầu tiên viếng thăm Doriath nơi cư ngụ của vua Thingol thuộc vùng lảnh thổ Beleriand, chàng đã kể Thingol nghe những gì đã xãy ra với Noldor, nhưng lại che dấu những lời thề khi xưa và trận chiến kinslaying. cảm động trước những gì nghe được, Thingol cho phép Noldor cư ngụ phía bắc và phía đông quanh vương quốc của ngài nhưng không phép bất kỳ một Noldor nào sinh sống trong vùng Doriath hoặc thống trị thần dân sống trong lãnh thổ Beleriand và không cho phép một ai tự xưng là vua.

Angrol chuyển lời nhắn của đức vua đến Noldor, những lời nói trên làm những đứa con của Feanor vô cùng giận dữ. Noldor sau tiến hành di dân đến các vùng căn cứ. Maedhros chọn miền đất cực bắc. trên đường di tản Caranthir gặp gỡ những người lùn râu dài lần đầu, mặc dù họ không ưa thích gì nhưng họ liên kết thành một lực lượng đồng minh vì cả hai đều có chung kẻ thù là Melkor.

Hai mươi năm sau, Fingolfin tổ chức lể hội mời tất cả các Elves từ Beleriand đến dự, và họ vui vẽ ca hát cho hòa bình và cho thế lực của Morgoth đang suy yếu trước ánh bình minh.
Ba mươi năm sau, Finrod một trong những người con của Finarfin và là anh trai của Galadriel phiêu lưu bên dòng sông Sirion, và trong giấc chiêm bao chàng đã nghe lời thần nước Ulmo đến mách bảo. Bảo chàng hãy tìm lấy cho mình một căn cứ bí mật vững bền. Khâm phục về những hang động kỳ bí trong kỳ quan Menegroth, Finrod tìm đến Thingol nhờ ngài dạy bảo. Thingol bảo với chàng rằng vẫn còn vô số hang động dọc theo con sông Narog. và tại nơi đó Finrod đã xây căn cứ ngầm vững chắc dưới sự trợ giúp của người lùn râu dài của vùng Blue Mountains.

Khi Finrod di tản dân chúng đến sinh sống nơi lãnh địa của mình thì Galadriel đã không theo anh trai mà đi theo tiếng gọi của tình yêu bởi nàng đã yêu say đắm Celeborn, một Elves thuộc dòng tộc của đức vua Thingol. Nàng ở lại Doriath và học rất nhiều điều từ nữ hoàng Melian

Morgoth trong khi đó đã củng cố lực lượng và muốn đem ra thử nghiệm, hắn tấn công cả hai vùng lãnh thổ của Fingolfin và Maedhros nhưng nhanh chóng bị đánh bại bởi đội quân tinh nhuệ của Noldor trong chận triến Dagor Aglareb. Người Noldor mở rộng lãnh thổ đến tận Angband và duy trì lực lượng nơi ấy đến 400 năm. Hàng trăm năm ấy cũng là thời gian hàn gắn mọi vết thương, giờ đây cả hai chủng tộc Elves Noldor và Sindar đoàn kết nhau như người chung một nhà. Mặc dù Noldor mạnh mẽ và đầy quyền năng hơn, nhưng Sindar là những người yêu chuộng thiên nhiên và là những bật thiên tài về âm nhạc

Beleriand Và Các Vùng Lãnh Thổ

Trong phần này mình sẽ giới thiệu qua các khu căn cứ chính xung quanh Beleriand những nơi trọng tâm của cuộc chiến

Nằm ở phía xa cực bắc Beleriand, Melkor cho nâng cao những ngọn núi sắt để bảo vệ hai khu cắn cứ chính của hắn là Utumno và Angband. Ở nơi đó Ba Ngọn Tháp Thangorodrim được xây dựng, Angband rất sâu thẩm với vô số ngục tối và chính bản thân các vị thần Valar cũng không hiểu rỏ về nó.

Nằm về phía Tây Angband là Hithlum, một vùng đất lạnh lẽo nhưng rất màu mỡ. Người Elf Noldor đã nuôi những con chiến mã trên ngọn đồi Ard-Galen. Fingolfin và những người con của Fingon cư ngụ nơi này. Tiến về phía tây Hithlum là vùng đất Nevrast nơi thừa hưởng những cơn gió ấm áp từ đại dương, đây là nơi cư ngụ của Turgon một người con thứ hai của Fingolfin trước khi ông xây dựng vương quốc thần bí Gondolin.

Phía đông của Hithlum là vùng cao nguyên hùng vĩ Dorthonion, hướng về vùng đất màu mỡ Ard-Galen. vùng đất này được cai trị bởi Angrod và Aegnor những người em của Finrod.

Như đã nói ở trên qua lời mách bảo của Ulmo, Finrod chọn lãnh địa của mình dọc theo con sông Sirion. Trên hải đảo Tol Sirion, ông cho xây dựng một tháp canh khổng lồ Minas Tirith.
Dòng sông Sirion chia đôi vùng lãnh thổ Beleriand. Phía tây là vùng đất Nargothrond chạy dài đến biển, nơi đây được chắn giử bởi lãnh chúa Círdan, một người bạn thân của Finrod.

Phía Đông Beleriand kéo dài đến bên kia con sông Sirion là vùng đất hoang rộng nhất Beleriand, nơi đó là Nan Dungortheb một nơi vô cùng rùng rợn. Ở nơi đó là lãnh địa của con quái vật Ungoliant, kẻ đã cùng Melkor tiêu diệt Hai Cây dưới hình thể một con nhện khổng lồ. Con cháu nó sinh sôi giăng tơ khắp lối. Nguồn nước chảy từ nơi ấy là nguồn nước độc, một khi uống phải sẽ trở nên điên loạn và trái tim trở nên xấu xa. 

Phía Nam của Nan Dungortheb là thủ phủ Doriath nơi được bởi vệ bởi thần thông nhiệm màu của Melian, Melian đã dùng phép thuật của mình làm một vòng tròn chắn phép để bảo vệ thủ phủ Doriath, không một ai có thể đi vào nơi ấy nếu không có sự ưng thuận của Thingol.

Phía đông Beleriand là Ossiriand vùng đất của 7 con sông, phía đông giáp ranh với Blue Moutains. loài Elves xanh (Green Elves) là chủ nhân nơi đây

Khu vực phía đông Dorthonion có lẽ là nơi phòng thủ yếu nhất bởi lẽ nó rất dàng bị tấn công. ở nơi đó những người con của Feanor cư ngụ. Maedhros cai quản phần đất cực bắc có tên March of Maedhros.

Người Noldor trên lãnh địa Beleriand

Giống như Finrod, Turgon một trong những người con của Fingonfin đã được Ulmo mách bảo trong giấc mơ để tìm đến một thung lũng bí mật. chàng đã chọn ra những người mạnh mẽ và tài năng nhất để cùng mình đi tìm miền đất hứa. Sau hơn 250 năm miệt mài xây dưng, một vương quốc thần bí đã được xây dựng, thành phố này theo ngôn ngư Sindarin có tên gọi là Gondolin. Nằm gần dòng sông Sirion, Vị thần nước Ulmo đã dùng quyền năng để bảo vệ nó, nó được che dấu và không một kẻ lạ nào có thể phát hiện ra được nó.

Gondolin trở nên thịnh vượng, tuy nhiên lại cô lập bởi những ngọn núi bao quanh. và giờ đây nó có thể ngang tầm vơi Tirion trên chốn Valior. Xinh đẹp nhất vương quốc là Idril, nàng là con gái cưng của vua Turgon, nàng đẹp tuyệt trần với máy tóc vàng lóng lánh.

Cũng trong thời gian đó, Galadriel cư ngụ nơi Doriath và nàng thường xuyên tâm sự với Melian, học hỏi rất nhiều điều từ bà. Nàng đã kể về những gì đã diễn ra sau khi Hai Cây bị diệt và giai đoạn Aman chìm trong bóng tối. Nàng kể về những viên ngọc Silmarils và về cái chết của Finwë nhưng không hề hé lộ một lời nào về lời thề của Feanor cũng như cuộc chiến trong chủng tộc Kinslaying hay sự kiện Feanor đốt cháy những con thuyền tại Losgar.

Melian đem mọi chuyện thuật lại cho Thingol, điều ấy làm cho ông càng vững tâm và tin rằng Noldor sẽ không bao giờ liên minh với Morgoth vì mục đích của họ đến Trung Địa là để giết hắn trả thù cho Finwë. tuy nhiên Melian cảnh báo ông về những đứa con của Feanor, vì trong thâm tâm họ bà đã nhìn thấy nhiều tà tâm mặc dù họ có biểu hiện là những chiến binh dũng mãnh, là nguồn trợ lực quan trọng để chống đối thế lực của Morgoth

Có những bí mật không bao giờ bị chôn vùi, không lâu sau đó Morgoth đã tung ra những tin đồn về những gì xãy ra với Noldor, về trận chiến Kinslaying và về lời thề của Feanor. Những người Sindar vốn rất tin vào những điều mà họ nghe, Những lời đồn trên cuối cùng cũng đến tai Thingol và ông vô cùng giận dữ.

Trong một lần những người con của Finarfin đến thăm em gái họ là Galadriel, Thingol trong cơn nóng giận tiến lại gần Finrod và chất vấn” Bàn tay ngươi đã dính đầy máu những người anh em ngươi, ngươi còn mặt mũi nào đến gặp ta”. Finrod không chối từ những sự kiện trên nhưng không biện minh cho mình vì chàng không muốn nói xấu những vị hoàng tử Noldor khác, những người con của Feanor. Nhưng trong tình thế đó, Angrod vốn có thâm thù với Caranthir một trong những người con của Feanor nên Angrod đã kể toàn bộ sự thật rằng gia đình Finarfin vô tội, trái lại họ là nạn nhân trong cuộc chiến và bị phản bội bởi gia đình Feanor khi phải ngậm đắng nuốt cay vượt qua cánh đồng băng giá.

Trong cơn giận dữ Thingol đã xua đuổi những đứa con của Finarfin, tuy nhiên ông đồng ý không đóng sập cánh cửa chống đối họ hay Fingolfin. Ông đã nghiêm cấm mọi người nói tiếng Quenya (ngôn ngử của Noldor), từ đó Quenya chỉ được sử dụng bởi các hoàng tử Noldor.

Maeglin

Nàng Aredhel, con gái của Fingolfin sống cùng anh trai Turgon trong vương quốc thần bí Gondolin, không lâu sau nàng trở nên nhàm chán với cuộc sống thiếu tự do nơi ấy. Nàng này nĩ anh trai để được phép ra ngoài đến viếng thăm các người anh khác. Không mấy an tâm, nhưng dưới lời nài nĩ tha thiết của Aredhel, Turgon đã cho phép nàng đi viếng thăm anh trai của họ là Fingon. Tuy nhiên Aredhel lại có một kế hoạch khác trong đầu. nàng hướng đoàn tùy tùng đến thăm những đứa con của Feanor, những người bạn thời thơ ấu của nàng nơi chốn Aman. Trong chuyến du hành đến biên giới Doriath, trong đếm tối nàng đã thất lạc. đoàn tùy tùng chia nhau tìm kiếm nhưng vẫn không thấy bóng dáng nàng, cuối cùng họ cho rằng nàng có thể đã bị bắt hay thậm trí đã chết, trong nỗi tuyệt vọng họ mang tin xấu về đến Gondolin cho vua Turgon.

Aredhel mặc dù bị thất lạc nhưng nàng lại vô cùng hoang hỉ, phóng ngựa một mình cho đến khi nàng đến vùng Himlad, vùng đất cai trị bởi Celegorm và Curufin (xem sơ đồ trên để biết họ là ai). Hai người vắng mặt, nhưng thần dân Celegorm đón tiếp nàng rất nồng hậu. Nàng ở lại, tự do đi lại, nàng đi lang thang khắp nơi vì vẽ đẹp nơi ấy, và không khí tự do bấy lâu nàng mong ước, nhưng không ngờ lại lạc vào khu rừng Nan Elmoth nơi đã được bảo vệ bởi những câu thần chú của Melian. Khu rừng đó rậm rạp với những đám cây rất cao chót vót và đám lá xanh dày đặc, ánh sáng mặt trời không xuyên qua nỗi. Ở nơi đó cư ngụ Eöl một loài Elf đen, loài Elf yêu thích hoàng hôn và những tia sáng trong đêm tối.

Khi Eöl nhìn thấy Aredhel lang thang trong rừng, hắn đã dùng thần chú đánh lạc hướng nàng đến nhà… Và từ đó họ sống bên nhau. Họ có với nhau một người con trai đặt tên là Maeglin. Maeglin có vẽ bề ngoài như Noldor nhưng tính tình thì rất giống cha. Chàng rất ít nói nhưng một khi đã làm thì phải là những việc trọng đại. Chàng cùng với cha tìm đến người lùn râu dài và học hỏi rất nhiều từ họ, nhất là nghệ luyện kim.

Maeglin rất yêu thương mẹ và dòng họ bên ngoại, chàng thích nghe những câu chuyện về họ, đặc biệt là về Turgon vị vua không con nối dõi của vương quốc thần bí Gondolin và mong ước một lần đến chốn ây. Maeglin rất mong muốn tìm gặp những người Noldor khác nhưng lại bị cha nghiêm cấm, thế là mối quan hệ của họ dần dần rạn nứt. Khi Eöl đi dự buổi tiệc Trung Hạ của những người lùn, Maeglin đã thuyết phục mẹ trở về Gondolin. Họ nói dối với những người hầu của Eöl là họ đi thăm những người con của Feanor. Khi trở về Eöl cứ ngỡ vợ và con bị người của Curufin bắt nên đã tìm đến Curufin chất vấn, Curufin đẫ vô cùng giận dữ và mắng rằng “vợ và con ngươi không còn thương yêu ngươi nữa.”

Eöl trong cơn cuồng nộ khi biết vợ con trở lại Gondolin. Ông truy tìm họ và cuối cùng tìm ra dấu họ trước khi họ bước qua cánh cổng bí mật để vào vương quốc Gondolin.

Aredhel và Maeglin vô cùng sung sướng khi trở lại Gondolin, Turgon mừng gỡ khi gặp Maeglin và ngài đã trao cho Maeglin một chức vụ tối cao trong vương quốc. Maeglin rất ngưỡng mộ sự giàu có của Gondolin nhưng trên tất cả là nàng công chúa Idril kiều diễm vốn là em họ của hắn.

Trong khi đó Eöl đã vượt qua cánh cổng bí mật để vào Gondolin, tuy nhiên ông bị bắt sống bởi những tên lính canh. Họ vô cùng ngạc nhiên khi ông xưng tên và bảo là chồng của Aredhel, sau đó Aredhel đã nhận ra chồng. Từ cái nhìn đầu tiên với thành phố xa hoa Gondolin, về sự tuyệt mỹ, cường thịnh của nó, Eöl càng ganh ghét Noldor hơn bao giờ hết. Mặc dù Turgon đối xử với ông ta như người trong hoàng tộc và đưa ra lời đề nghị ông nên ở lại Gondolin.

Giờ đây Eöl đã phát hiện ra lối vào bí mật của Gondolin, nhưng ông không biết được luật lệ của Turgon rằng không một ai được phép rời khỏi Gondolin nhầm bảo vệ bí mật và an toàn cho vương quốc. Trong khi đó Eöl cố này nĩ Maeglin hãy quay về với ông ta, tuy nhiên với cuộc sống giàu sang Maeglin không một chút động lòng, hắn kiên quyết ở lại và không nói một lời.

Một lần nữa Turgon đưa ra cơ hội cho Eöl một là ở lại Gondolin… hoặc là phải chọn cái chết. Biết rằng không thể thoát khỏi Gondolin, Eöl che giấu phi tiêu trong áo choàng, ông phóng phi tiêu nhầm hạ sát Maeglin trước khi thốt lên ” ta đã chọn con đường thứ hai và con trai ta cũng thế”. Nhưng ngay lúc ấy Aradhel nhãy ra đón nhận chiếc phi tiêu để hy sinh cho con trai mình. Chiếc phi tiêu cắm xâu vào vai bà. Turgon ra lệnh trói Eöl và sẽ đem ra xét xử vào ngày hôm sau, Aredhel và Idril cầu xin lòng nhân từ của Turgon và xin ngài tha mạng cho Eöl. Nhưng trong đêm đó, Aredhed đã qua đời bởi chiếc phi tiêu kia có tẩm thuốc độc, Turgon không còn tha thứ cho Eöl được nữa và đã ra lệnh ném ông ta qua bức tường thành của Gondolin. Trong tình thế đó Maeglin vẫn đứng đó và giử im lặng. Eöl vô cùng oán hận trước sự phản bội của chính con trai mình trước khi chết.

Idril vô cùng kinh hoàng về những gì đã xãy ra, những gì mà dân tộc mình đã làm và nàng sẽ không còn tin vào một ai trong số họ. Trong khi đó Maeglin càng chiếm được lòng tin của Turgon. Maeglin ngỏ lời yêu với Idril nhưng nàng không đáp lại vì trong tim nàng không bao giờ có hình bóng của Maeglin, hơn nữa Eldar không kết hôn gần vì vốn dĩ họ là anh em họ với nhau. Trước tình yêu không được đáp trả, Maeglin trở nên xảo nguyệt và thâm độc, hắn tìm mọi thủ đoạn để có thể chiếm được nàng Idril.

Cuộc Du Hành Của Loài Người Vào Phương Tây

Finrod Felagund là Elf đầu tiên phát hiện ra loài người, trong khu rừng Ossiriand ông bị thu hút bởi những ánh sáng phát ra từ ngọn lửa của họ, lắng nghe họ ca hát, ông lặng lẽ quan sát họ rất lâu – đó là nhóm người thuộc chủng tộc Bëor (thủ lĩnh của họ là Bëor) , một trong 3 chủng tộc mà sau này sát cánh bên Elf trong nhiều trận chiến. Elf gọi họ là Edain, 3 chủng tộc đó bao gồm: chủng tộc Bëor, chủng tộc Haladin hay còn có tên khác là Haleth, và chủng tộc Marach sau này còn biết đến nhiều hơn với tên gọi Hador

Khi họ ngủ, ông tiến lại gần và nhặt lấy chiếc đàn của Bëor và dạo lên những điệp khúc thần tiên, điệu nhạc làm mọi người thức giấc, họ như đang chìm vào một giấc mơ thần thánh bởi trong điệu nhạc kia Finrod đã phát họa lên hình ảnh thần tiên nơi chốn Aman, những vị Valar thần thánh, những điều mà con người chưa từng biết đến.

Và rồi họ xem Finrod như là vị chúa tể của họ, và mãi mãi về sau trung thành với gia đình Finarfin. Bëor biết rất ít về nguồn gốc của Noldor, vì sao họ đến Trung Địa hay tại sao họ lại không muốn quay lại chốn thiên đường kia.

Trong quá khứ, ở phần lãnh thổ đen tối bên kia Blue Mountains nơi ánh sáng không chạm đến, những ngày ban sơ Morgoth đã có ý định hủy diệt những gì tốt đẹp, những gì mà Illuvatar và Valar dàn công gầy dựng. Hắn dụ dỗ con người theo hắn và chống đối lại Eldar, nhưng vào lại lúc đó thế lực của Elf phương bắc lại trở nên cực thịnh, và Morgoth phải bỏ chạy khi hế hoạch của hắn chưa được hoàn thành.

Từ Bëor, Finrod biết được loài người có số lượng rất đông, họ đang vượt hay đang chờ đợi để vượt qua ngọn núi Blue Mountains. Vùng đất nơi con người cư ngụ trở nên xáo trộn bởi họ đốn cây, giết dã thú, do đó Những người Elves Xanh rất mừng khi Felagund giúp đỡ loài người vượt núi đến sống nơi vùng khác. Thế là họ đến các vùng đất của Amrod and Amras, một vùng đất sau này còn được biết đến với tên gọi Estolad.

Bëor thỉnh cầu Finrod để được theo ông đến sống tại Nargothrond như chư hầu. ông sống suốt cuộc đời còn lại tại nơi ấy và không bao giờ trở lại Estolad.

Không ít lâu sau, những người còn lại cũng vượt núi: người Haladin cư ngụ tại Thargelion và người Marach thì sống gần những người Bëor, họ trở nên rất thân thiết. Người Elf rất tò mò về những người con nối tiếp của Illuvatar, họ đến chiêm ngưỡng và thường gọi họ là Edain. Họ được đức vua Fingolfin hoan nghênh và cho phép sinh sống trên các vùng lãnh thổ của Noldor. Từ đó rất nhiều người phục vụ cho Elf và di cư vào mãnh đất của họ.

Vào lúc ấy, đức vua Thingol của Doriath lại có một giấc chiêm bao kỳ lạ, ông mơ về sự du hành của loài người, và tin rằng đó là điềm dữ, báo trước rằng con người sẽ là giống loài gây nên tai họa và nguy cơ cho Doriath. Ông ra lệnh không cho phép người phàm trần nào được đặt chân đến Doriath, kể cả gia đình Bëor. Thêm vào đó ông còn khuyên những vị hoàng tử Noldor nên tập trung hoàn thành nhiệm vụ của mình hơn là lo những chuyện bao đồng. Nhưng Melian đã từng báo trước với Galadriel rằng sẽ có một người phàm trần trong gia đình Bëor đến Doriath, và sau này sẽ có một bài hùng ca về nó, mọi người sẽ nhắc về nó vì sự kiện đó đã làm thay đổi toàn bộ lịch sử Trung Địa.

Rất nhiều vị anh hùng từ loài người đã chiến đấu dũng mãnh, họ đồng mình cùng Eldar trong nhiều trận chiến chống lại Morgoth, có thể kể là Bereg thuộc gia đình Bëor và Amlach thuộc gia đình Marach. Nhưng không ít trong số họ lại chạy theo danh vọng, ham mê ánh sáng của vàng bạc, ham muốn những gì vượt xa tầm tay mà dẫn đến những điều xấu xa. Bereg khởi động chiến tranh mà hậu quả là vô số sinh mạng Elves. Amlach được cho là người đã phát ra lời nói xấu xa rằng” Elves có tội với con người bởi con người đã bị lường gạt qua những câu chuyện về những vị thần, về chúa tể hắc ám. Mục đích của họ là khống chế loài người. Những câu chuyện về Valar, về chốn thiên đường Valinor, và cuộc chiến ở phương bắc chỉ là do Elves thêu dệt ra.” Rất nhiều người đã tin vào lời nói trên và đã lánh xa Eldar.

Nhưng sau này Amlach khẳng định ông không bao giờ đưa ra những lời xấu xa trên, và cho rằng đó là do chúa tể hắc ám Morgoth ám hại, kẻ mà sau này ông gọi là” bật thầy về nói láo”. Ông du hành vào phía bắc và đầu quân cho Maedhros.

Trong suốt thời gian này, người Haladin vẫn ở lại Thargelion. Morgoth thấy trước mắt không tài nào chia rẽ được sự liên minh giữa Người và Elves nên hắn đã cho Orc tấn công vào Haladin. Dũng cảm nhất trong số người Haladin là Haldad, ông đã chiến đấu oanh liệt, xây dựng nhiều chiến hào quanh sông để bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Nhưng cuối cùng ông cũng hy sinh cùng với những đứa con bên cạnh. Ngay lúc bọn Orc tấn công vào thành, những người Elf Caranthir đến giải cứu kịp thời. Caranthir thấy được sự can đãm của con người nên đã trao cho nữ thủ lĩnh Haleth vùng đất của mình để họ tự vệ. Nhưng Haleth rất kiêu ngạo và không muốn người của mình bị ràng buột mất tự do nên đã từ chối lời đề nghị trên. Họ rời khỏi Estolad vượt qua trăm ngàn hiểm nguy và phải trả cái giá thật đắc để đến được Dorath, vào sống trong khu rừng Brethil.

Khu rừng Brethil thuộc về sự cai trị của đức vua Thingol, Finrod cố gắng thuyết phục Thingol và kể cho ông nghe về hành trình đầy gian khổ và sự mất mát mà người của Haleth phải hứng chịu để đến được nơi này. Ông khuyên đức vua cho phép họ ở lại để canh giử giao lộ Teiglin và ông đã đồng ý.

Những vị chúa tể Eldar biết được con người không thích bị giống loài khác cai quản nên đã tặng cho họ nhiều mãnh đất để họ xưng vương. Nỗi tiếng nhất trong số người đó là Hador, người được Fingolfin cho phép cai quản Dor-lómin, và Boromir thuộc gia đình Bëor cai quản Dorthonion.

Từ đó mối quan hệ giữa Người và Elves càng trở nên khắn khích, Morgoth không còn trở nên manh động. Con người không còn sợ hãi để đến vùng cực bắc lạnh lẽo và canh giử nơi ấy.

Những người có công trong trận chiến chống lại Morgoth có cuộc sống dài lâu và thông thái hơn khi họ đến sống ở Beleriand. Người Elves vô cùng kinh ngạc khi biết được con người phải chết, và họ cũng không có đủ khả năng để biết được sau khi chết loài người sẽ về đâu.

Sự suy sụp của lãnh địa Beleriand và cái chết của Fingolfin

Fingolfin, đức vua của Noldor muốn thử sức mạnh quân sự vì ngài cảm nhận được hoà bình không còn tồn tại được lâu, trong khi những người con của Feanor là Arngod và Aegnor nhiệt tình ủng hộ, nhưng còn nhiều người không đồng tình với ý định trên bỡi họ vẫn còn yêu cuộc sống yên bình.

Một cách bí mật, trong bóng tối Morgoth đang cũng cố lực lượng, sau nhiều thế kỷ hoà bình, khói lửa bắt đầu lan tràn, nhiều người Noldor bị bắt và thêu chết.

Vùng đất Ard galen trù phú ngày nào nay trở nên cằn cỗi, những đỉnh đồi Dorthonion và Ered Uwethrin phải đối mặt với Angband đang bừng bừng trong lửa đỏ, những đám khói đen dầy đặc lan tỏa khắp không trung.

Trận chiến thứ tư, trận chiến Sudden Flame (Dagor Bragollach) phá huỷ nhiều hải lý quanh Angband, và rất nhiều Nodor, Sindar và người bị giết. Số còn lại phải trốn đến phía nam Beleriand, Doriatg và Nargothrond. Angrod và Aegnor đã hy sinh trong trận chiến, ngay cả Finrod cũng gần như mất mạng, nhưng may mắn ông được cứu sống bởi Barahir của nhà Bëor’. Từ đó Finrod thề kết nối thâm tình với Barahir và sẵn sàng giúp đỡ khi họ cần đến, ông trao chiếc nhẫn cho Barahir để chứng minh cho những gì mình hứa. Hy sinh trong trận chiến còn có Hador, chúa tể vùng Dor-lómin và con trai ông ta.

Trong các người con của Feanor mặc dù không ai chết nhưng chỉ Maedhos là còn giử được lãnh thổ. Himlad cũng tan nát và Celegorm và Curufin bỏ chạy đến Nargothron để nhờ sự che trở của Finrod Felagund.

Khi nhận được tin thất thủ của những đứa con Feanor và về cái chết của Angrod và Aegnor, Fingolfin tin rằng Noldor đã thua cuộc, một mình ngài đi đến trước cửa thành Angband và thách đấu Morgoth trong cuộc so tài một mất một còn(đánh solo ). Đây cũng là lần cuối cùng Morgoth bước chân qua khỏi cánh cổng ấy. Một mình hắn không sợ bất kỳ Valar nào huống chi một Fingolfin, nhưng bị Fingolfin sĩ nhục, gọi hắn là tên vô lại và bật thầy của dối trá, hắn đã chấp nhận lời thách đấu.

Hắn cố đè nát đức vua Noldor với vũ khí Grond, một chiếc búa khổng lồ của thế giới ma quái, nhưng Fingolfin luôn né tránh được, đồng thời còn làm trọng thương Morgoth đến 7 lần. 7 lần trọng thương là 7 lần hắn kêu la thãm thiết làm chấn động bọn lâu la Angband. Nhưng cuối cùng Fingolfin kiệt sức và chao đão bởi những lỗ thũng mà Grond đã tạo ra. Morgorth dùng chân đạp vào cổ họng Fingolfin, nhưng với sức lực cuối cùng Fingolfin đã chặt đứt bàn chân của hắn. Sau khi Fingolfin chết, Morgoth ra lệnh ném xác ông cho bầy sói đói, nhưng Thorondor chúa tể Đại Bàng đến đúng lúc và mổ vào mặt Morgoth, và tha xác Fingolfin qua muôn trùng ngọn núi để đến thành trì Gondolindin. nơi đó Turgon đã lập mộ bia cho cha. Vết thương của Morgoth không bao giờ lành, từ đó hắn đi khạp khiễng một chân và mang theo vết thẹo trên khuôn mặt suốt đời.

Barahir cố thủ Dorthonion nhưng cả 12 tráng sĩ theo ông điều bị hạ. Những người còn sống sót bao gồm Beren con trai ông, 2 người cháu và 9 người hầu. Họ bị săn lùng như dã thú. Phụ nữ và trẻ em thì theo Elmeldir vợ Barahir đến Brethil.

Hai năm sau cuộc chiến Sudden Flame, Sauron thủ lĩnh tay phải của Morgoth lật đổ Orodeth và phá hủy ngọn tháp canh Minas Tirith và quần đảo quanh nó, sau này chốn ấy gọi là đảo Chó Sói (Tol-in-Gaurhoth) bởi nơi ấy Sauron đã lập nên một tinh binh chó sói hùng mạnh. Oroderth chốn thoát về Narothrond.

Thuộc hạ của Morgoth tự do đi lại trên lãnh thổ Berlerriand, và chúng bắt rất nhiều Elves hoặc lan truyền những lời dối trá mật ngọt để dụ dỗ con người, mặc dù thế rất ít người nghe theo lời hắn.

Haladin trong khi đó canh giử khu rừng Brethil với sự giúp sức của Beleg Strongbow và Sindar. Sống cùng với Haladin có hai nhân tài là Húrin và Huor, với niềm nhiệt huyết và sức mạnh trai trẻ họ tham gia vào trận chiến và chiến đấu dủng mãnh. Trong một lần tham chiến, dưới làn sương mù mịt họ đi lạc vào Crissaegrim. Thorondor chúa tể Đại Bàng đã đến và mang họ đến vương quốc thần bí Gondolin. Tại nơi ấy Turgon đón tiếp họ nồng hậu và họ đã học hỏi rất nhiều điều từ Elf. Turgon một lòng muốn giử họ lại một phần là do luật lệ, nhưng hơn tất cả là do ông rất yêu mến họ. Tuy nhiên Húrin và Huor mong muốn quay về để được chiến đấu bên cạnh mọi người. Bởi họ không biết lối vào Gondolin vì khi được Thorondor mang đến họ đã bị bịt mắt nên không biết chính xác vị trí của Gondolin, cho nên cuối cùng Turgon cũng cho phép họ ra đi trong nỗi buồn vời vợi. Cả hai thề sẽ giử kín bí mật và không tiết lộ cho một ai về sự hiện hửu của Gondolin. Tuy nhiên sự mất tích của hai người rất được mọi người quan tâm và bàn tán, và tin tức ấy rồi cũng đến tai Morgoth.

Từ tin tức của hai người, Turgon biết được sự tấn công của Angband, nhưng ông không thể đem quân yểm trợ vì biết rằng Gondolin mặc dù cường thịnh nhưng vẫn chưa phải là thời cơ, và hiện tại không phải là đối thủ của Angband. Ông đã bí mật gởi thuộc hạ dùng thuyền đến phương Tây, tìm kiếm sự trợ giúp của Valar, nhưng giờ đây lối về Aman đã bị chắn, không ai trong số họ tìm ra lối vào. Morgoth biết được những tin trên và rất e ngại khi biết Finrod và Turgon còn sống, tuy nhiên hắn không biết họ đang ở đâu và thế lực họ như thế nào.

Cuối cùng dưới sự trợ giúp của loài Người thế lực của Noldor dần dần hồi phục, họ chiếm lại những vùng đất bị mất. 7 năm sau trận chiến thứ tư, Orcs tiếp tục tấn công Hithlum và giết chết Galdor chủ nhân vùng Dor-lómin, và rất có thể chúng sẽ tiêu diệt luôn đội quân của Fingon nếu họ không có sự trợ giúp từ những thủy binh từ chiến thuyền của lãnh chúa Círdan. Hurin sau đó trở thành chủ nhân mới của Dor-lómin và là người dẫn đầu gia đình Hador. Chàng kết hôn cùng Morwen. Các bạn sẽ gặp lại anh hùng Hurin trong phần “Những đứa con của Hurin”, cái này Toikien viết luôn nguyên quyển “The Children of Húrin.”

Chuyện Tình Beren Và Luthien 

Đã có nhiều câu chuyện chia ly, buồn đau xãy đến với chúng ta trong thời kỳ đen tối này, nhưng trong tâm tối vẫn còn mầm móng của tia hy vọng, sự ngọt ngào của tình yêu. Một trong những câu chuyện được nhớ đến nhiều nhất có lẽ là chuyện tình của Beren và Luthien, câu chuyện về cuộc đời họ đã đươc ca ngợi qua bài trường ca Lay of Lethian. Đó là một bài ca lâu đời nhất còn tồn tại trên thế giới này, ở đây câu chuyện sẽ được nói với vài từ và không có bài hát.

Chuyện kể rằng Barahir không muốn từ bỏ Dorthonion, vì thế Morgoth săn lùng ông cho đến chết, và đến khi cuối cùng chỉ còn mỗi ông cùng mười hai người đồng hành sống sót. Giờ đây khu rừng Dorthonion kéo dài đến hướng nam, len lỗi vào tận ngõ ngách của các khe núi. Ở phía đông vùng cao nguyên này có một cái hồ tên gọi Tarn Aeluin, nơi ấy hoang sơ, vô chủ và không có lối mòn, và kể cả vào thời kỳ hoà bình lâu dài vẫn không một ai đến đó sinh sống. Nhưng dòng nước ở Tarn Aeluin trong xanh dưới ánh nắng mặt trời và nó như một tấm gương phản chiếu những vì tinh tú khi đêm đến, nó được cho rằng đã được Melian phù phép vào những ngày xa xưa. Vì thế Barahir lấy nó làm căn cứ, và Morgoth vẫn không tài nào tìm ra hành tung của họ. Nhưng những lời đồn đại về băng nhóm Barahir cuối cùng cũng đến tai Morgoth và điều đó đã làm hắn bận tâm. Hắn ra lệnh cho Sauron phải tìm mọi cách truy tìm tung tích và tiêu diệt họ.

Giờ đây trong đoàn đồng hành Barahir có một người tên Gorlim con trai Angrim. Vợ của ông là Eilinel, tình yêu của họ rất mãnh liệt và không điều xấu xa nào có thể chia cách họ. Lúc trước khi Gorlin trở về từ trận chiến, khi về lại căn nhà xưa thì vợ ông ta đã ra đi, có thể bị giết hoặc dĩ đã bị bắt đi. Ở nơi ẩn thân của Barahir, ông vẫn không an vì vẫn tin rằng vợ mình còn sống. Ông quyết định bí mật một mình quay trở lại căn nhà xưa một lần nữa, giờ đây nó hoang tàn và bao quanh là những cánh đồng và rừng, nhưng động tĩnh của ông đã bị Sauron phát hiện vì hắn đã cho thuộc hạ giám sát nơi ấy từ lâu.

Đó là vào một ngày mùa thu, khi mặt trời dần khuất bóng, khi ông đến gần nhà thì phát hiện có ánh sáng chiếu qua khung cửa, đoạn ông đến gần và nhìn vào. Ông đã thấy vợ ông Eilnel, khuôn mặt bà trông đau khổ và đói khát, nhưng khi ông rào thét tên bà thì một cơn gió lạnh bổng nỗi lên làm tắt ngọn nến, tiếng sói tru vang vội, và có một bàn tay kẻ nào tóm lấy vai ông bất ngờ, bàn tay ma quỷ của kẻ săn mòi Sauron. Và thế là Gorlin bị bắt, chúng giải ông đến căn cứ, tra tấn ông bằng mọi cách để ông khai nơi ẩn trốn của Barahir, chịu nhiều cực hình nhưng ông vẫn không khai một lời. Cuối cùng chúng hứa với ông rằng ông sẽ được thả ra và hai vợ chồng sẽ được đoàn tựu nếu ông chịu nói ra sự thật. Có lẽ sự mong mõi tìm lại vợ hiền đã làm lung lai ý chý, ông chấp nhận lời đề nghị. Chúng giải ông đến Sauron, hắn nói: “Ta giờ đã nghe ngươi đồng ý hợp tác, vậy ngươi muốn ta trọng thưởng như thế nào?”

Gorlin đáp rằng ông chỉ cần tìm gặp Eilinel và hãy thả nàng ra bởi ông nghĩ rằng Eilinel cũng đang bị giam cầm.

Sauron cười xảo trá và nói” một món quà bé nhỏ như thế thôi sao, thôi được ngươi hãy nói đi!”

Gorlin trở nên do dự, nhưng khi ông nhìn vào cặp mắt của Sauron, như bị bỏ bùa ông mù quáng theo đôi mắt ấy, ông kể cho hắn nghe tất cả những gì mà mình biết. Sauron cười ác độc và mĩa mai Gorlin khi cho ông biết sự thật rằng vợ ông Eilintel đã chết từ lâu.
“Tuy nhiên ta sẽ đáp ứng lời hứa, ta sẽ cho hai vợ chồng ngươi đoàn tựu” Sauron nói. “và ngươi sẽ đến với Eilinel, bọn ngươi sẽ được tự do”. Gorlim chết một cách thãm thiết.

Và như thế chổ ẩn thân của Barahir đã bị bại lộ và Sauron giăng lưới chờ bắt con mồi, bọn Orcs đến trước khi bình minh chúng tấn công đột ngột và giết chết bọn họ không chừa một ai. Tuy nhiên Beren con trai Barahir đã thoát chết vì chàng được cha giao nhiệm vụ dò thám tin tức kẻ thù và hiện còn ở xa khi những điều kinh hoàng kia xãy đến.

Đêm đó khi chàng ngủ trong khu rừng, chàng mơ thấy một giấc mơ lạ, chàng thấy vô số lủ quạ đậu dưới đất dày đặc như những chiếc lá rụng quanh thân cây, những chiếc mỏ của chúng đang rò rỉ những giọt máu, và trong giấc mơ ấy Beren nhìn thấy một hồn ma vượt qua sông đến bên chàng, đó không ai khác hơn là Gorlin. Gorlin bảo chàng hãy nhanh chóng cảnh báo cho cha vì hành tung của họ đã bại lộ.

Khi Beren thức giấc, chàng vội vả trở về căn cứ của cha. khi chàng đến gần, dưới đất một lủ quạ bất ngờ bay lên và đậu trên cành cây, chúng kêu lên những tiếng kêu ma quái, nguyền rủa.

Beren chôn những mãnh xương còn lại của cha và thề sẽ trả thù. Chàng truy đuổi bọn Orc và cuối cùng đã tìm ra doanh trại bọn chúng hiện ở trong vùng đẫm lầy Serech. Vì tài nghệ và chàng vốn sống trong rừng nên khi chàng đến gần chúng vẫn không hay biết. Trong bóng tối chàng trông thấy tên thủ lĩnh bọn Orc đang cầm cánh tay cha chàng như một món quà chiến thắng, ngón tay Barahir vẫn còn đeo chiếc nhẫn mà đức vua Finrod Felagund khi xưa đã ban tặng. Beren hành động bất ngờ, chàng giết chết tên thủ lình và chiếm lại cánh tay cùng chiếc nhẫn và kịp thời chốn thoát, có lẽ do số phận những mũi tên bọn Orcs bắn ra đều lạc lối và không hạ được chàng.

Bốn năm trôi qua, Beren lang thang trong lãnh địa Dorthonion. Chàng trở thành bạn của các loài chim, của muôn thú và chúng giúp đở chàng, chỉ lối chàng, và không phản bội chàng bởi chàng không ăn bất cứ vật thể sống nào vốn không là tay sai của Morgoth. Morgoth đã treo giá cao cho kẻ nào lấy được thủ cấp của chàng hơn cả cái đầu của đức vua Fingon, nhưng bọn Orcs bỏ chạy khi chúng nghe được tâm hơi chàng, vì thế một đội quân được cử đi với nhiệm vụ truy tìm và giết chàng dưới sự chỉ đạo của Sauron. Sauron cũng mang theo Werewolves (sói), những con dã thú có linh hồn đen tối giam giử trong thể xác tà ma.

Tất cả vùng đất giờ đây đầy rãy ma quỷ, mọi điều tốt lành đã rời xa. Beren bị săn lùng và không còn đường thoát, cuối cùng chàng phải rời bỏ Dorthonion. Đó là vào mùa đông và tuyết bắt đầu rơi, chàng đến bên mộ cha để nói lời giả từ.

Chàng trèo lên những ngọn núi cao Gorgoroth, ngọn núi Kinh Hoàng (Mountains of Terror) và tiến vào lảnh địa của vương quốc Doriath. Chàng quyết tâm đến vương quốc thần bí nơi chưa có kẻ phàm trần nào đặt chân đến.

Cuộc hành trình về phương nam của chàng rất kinh hoàng, qua dốc đá Ered Gorgoroth, và dưới chân nó là bóng tối bao vây, bóng tối trước khi có sự xuất hiện của mặt trăng. Nằm phía xa kia là vùng đất hoang dại Dungortheb, nơi mà ma thuật của Sauron và thần thông của Melian va chạm, nó kinh hoàng và điên dại, ở đó là những con nhện khổng lồ đang sinh sống, chúng là con cháu của con nhện Ungoliant, chúng giăng những đám tơ vô hình để làm cạm bẩy vây bắt kẻ nào dại dột đặt chân đến; và còn nhiều quái vật được sinh ra nơi ấy vào thời kỳ đen tối xa xưa trước khi có sự xuất hiện của mặt trời. Không thức ăn cho người hay Elf, và ở đó chỉ có sự chết chốc. Chuyến đi đó là một trong những chuyến đi nguy hiểm nhất đời chàng, nhưng chàng không kể lại cho bất kỳ một ai. Và không một ai biết vì sao chàng có thể tìm ra lối đi, vượt qua được vùng đất mà không một Elf hay người nào dám đặt chân đến trước khi vượt vào biên giới Doriath. Và chàng đã vượt qua mê cung do Melian cài đặt nhầm bảo vệ vương quốc của đức vua Thingol.

Beren sau nhiều năm phiêu bạc cuối cùng chàng đã đến được Doriath. Vào một ngày mùa hè chàng lang thang trong khu rừng Neldoreth và vô tình bắt gặp hình bóng nàng Lúthien, con gái của đức vua Thingol và hoàng hậu Melian. Đó là khi đêm xuống, dưới ánh sáng lấp lánh của mặt trăng Lúthien nhảy múa trên đám cỏ xanh Esgalduin. Tất cả những ký ức khổ đau dường như đã rời xa tâm trí Beren, chàng như rơi vào giấc mơ, bởi Lúthien là đứa con xinh đẹp nhất trong tất cả những đứa con của Illuvatar. Nàng mặc trong người bộ áo màu xanh, một màu xanh của bầu trời không rợn chút mây, mắt nàng trong sáng như ánh sáng của những vì sao, tóc nàng đen như những chiếc bóng hoàng hôn. Như ánh sáng phản chiếu lên những chiếc lá, như những tiếng nước trong veo, những ngôi sao sáng xuyên qua đám sương mù của thế giới, và khuôn mặt nàng phát ra những tia sáng lung linh.

Nhưng nàng chợt biến mất khỏi tầm mắt Beren, chàng bổng trở trở nên điên dại như một kẻ trúng phải bùa mê, chàng lạc lẽo trong khu rừng, mệt mỏi như dã thú tìm kiếm tung tích nàng. Và trong tim chàng chợt bật lên cái tên Tinúviel, có nghĩa là chim sơn ca, hay con gái của Hoàng Hôn theo ngôn ngử Elf-Xám. Bởi chàng không biết tên gọi nào khác của nàng, trông thấy nàng từ xa như những chiếc lá trong cơn gió của mùa thu, như những ngôi sao tận trên đỉnh đồi khi đông đến, và dường như có xiềng xích nào đó đang trói buột chân chàng.

Vào thời gian khi hoàng hôn đến, Beren đến gần bờ suối và Lúthien đang nhảy múa trên ngọn đồi xanh, và bất ngờ nàng cất cao giọng hát. Bài hát nàng xuyên thấu trái tim Beren, một bài hát phá tan những cánh cổng của màn đêm và mang đến giọng nói cho những vì sao buồn bả, như thấy được mặt trời từ phía sau bức tường chắn của thế giới. Bài hát của nàng đã cắt đứt sự lạnh lẽo của mùa đông, dòng nước băng giá giờ cất cao tiếng hát, những bông hoa từ lồng đất lạnh nở rộ theo bước chân nàng.

Như chợt tỉnh cơn mê chàng gọi tên nàng, réo gọi cái tên Tinúviel vang dội cả khu rừng. Lúthien chợt dừng bước trong tò mò, nàng không còn chạy nữa và Beren đến bên nàng. Nhưng khi nàng nhìn vào đôi mắt Beren, nàng chỉ thấy được trong đó là sự chết chóc và khổ đau, nàng vuột khỏi tầm tay và biến khỏi mắt chàng.

Beren nằm bơ vơ dưới đất trong nỗi sầu khổ, như một kẻ đã bị giết một lần bởi cả hạnh phúc và khổ đau, chàng rơi vào giấc ngủ như rơi vào khoảng không của chiếc bóng, chàng thức giấc trong lạnh lẽo như hòn đá cô đơn và trái tim chàng như tan nát khi không tìm thấy hình bóng Lúthien.

Lang thang trong tâm trí như một kẻ mù loà, tìm kiếm trong tuyệt vòng một bàn tay âu yếm, một bàn tay nâng đỡ chàng, giữ lấy những tia sáng đang dần mất. Chàng bắt đầu ngẫm nghĩ về số phận đắng cay của mình, và trong số phận đó có hình dáng Lúthien.

Trong cơn tuyệt vọng, Lúthien đã trở lại nơi chàng đang ngồi trong bóng tối, và dường như rất lâu trong vương quốc thần bí nàng đã nắm lấy tay chàng. Và kể từ đó nàng đến bên chàng và họ đi với nhau trong bí mật, cùng nhau qua những khu rừng từ xuân sang hạ. Và dường như không một đứa con nào khác của Illuvatar hạnh phúc như họ, tình yêu mãnh liệt như họ dù cho thời gian họ bên nhau thật ngắn ngủi.

Nhưng Daeron một nhạc công cũng đem lòng yêu Lúthien, hắn đã theo dõi và biết được cuộc gặp gỡ của nàng cùng Beren và thuật lại mọi chuyện cho đức vua Thingol. Đức vua vô cùng tức giận bởi ông yêu quý Lúthien hơn mọi thứ trên đời, ông xem trọng nàng hơn tất cả các vị hoàng tử Noldor. Giờ đây một kẻ phàm tục vốn không được mạn phép đặt chân đến nơi này lại chiếm được trái tim con gái ông.

Thingol nói với Lúthien trong buồn bả, nhưng Lúthien không tiếc lộ điều gì cho đến khi ông hứa với nàng rằng ông sẽ không giết hay bắt giam Beren. Nhưng ông đã bí mật sai người tìm cách bắt Beren và giải chàng đến như một kẻ tử tù, tuy nhiên Lúthien đã đi trước một bước đưa chàng đến diện kiến đức vua như một vị khách quý.

Thingol nhìn Beren giận dữ, nhưng Melian lặng yên không nói. “ngươi là ai” đức vua hỏi, “ngươi đến đây như một tên trộm, dám trái lệnh của ta mà đặt bước đến nơi này.”
Beren sợ hãi vì trước mắt chàng là sự lộng lẫy của Menegroth cùng với sự oai nghi của đức vua Thingol, chàng không dám nói một lời. Vì thế Lúthien lên tiếng “chàng là Beren con trai Barahir, chúa tể của loài người, kẻ thù của Morgoth, những câu chuyện về họ đã được ca ngợi nhiều trong dân gian”.

“Hãy để hắn nói!” Thingol lên tiếng. “vì sao ngươi đến đây, một kẻ phàm tục bất hạnh, điều gì đã khiến người rời bỏ quê hương mà dấn thân vào chốn này, nơi đây ta đã ra lệnh cấm không cho phép bất kỳ con người nào đặt chân đến. Ngươi có thể cho ta biết vì sao bằng vào sức mạnh của ta lại không thể trừng phạt ngươi thích đáng?”

Beren nhìn vào đôi mắt Lúthien, chàng lại nhìn sang khuôn mặt của hoàng hậu Melian, dường như những từ ngữ từ đâu bổng thốt ra từ cửa miệng chàng. Chàng không còn sợ hãi, sự kiêu hãnh của một vị hoàng tử của loài người trở lại với chàng, chàng nói “định mệnh của tôi thưa đức vua, tôi đã vượt qua bao sóng gió, hiểm nguy để đến được nơi này, và tôi tin chắc rằng không được mấy người có đủ can đảm để vượt qua thử thách đó. Dù ở đây tôi vẫn chưa tìm được những gì mình mong muốn, nhưng lại thấy nơi đây một báu vật mà tôi có thể sở hửu suốt đời. Bởi báu vật đó hơn cả vàng, hơn cả bạc, hơn cả tất cả châu báu trên trần gian. Không phải đá, không phải thép, không phải những ngọn lửa của Morgoth, cũng không phải tất cả quyền lực của các vương quốc Elf. Tôi có thể giữ lấy báu vật mà tôi mong muốn, bởi Lúthien con gái của ngài quý giá hơn mọi thứ trên cõi đời này.”

Cung điện bổng trở nên yên lặng đến rợn người, những người nơi ấy vô cùng sững sốt và kinh ngạc, họ e rằng Beren đã chọc giận đức vua Thingol và chàng khó giữ được mạng sống. Nhưng đức vua nói chầm chậm rằng: “Những lời người nói ra cũng đủ cho ta giết ngươi; và cái chết sẽ đến với ngươi bất ngờ bởi ta đã không chỉ đưa ra một lời thề xuông. Những kẻ phàm tục, đê hèn như ngươi đến đây làm gián diệp để dò thám tin tức nơi này đều đáng tội chết.”

Nhưng Beren trả lời: “Cái chết ngài có thể ban cho tôi đáng hay không đáng, nhưng dưới tên của tất cả mọi người, tôi không phải là kẻ đê hèn, gián điệp, hay là một tên nô lệ. Bằng vào chiếc nhẫn của đức vua Felagund, ngài đã tặng nó cho cha tôi là Barahir một lần trong trận chiến phương bắc. Gia đình tôi sao lại không lấy được tôn uy từ dòng dõi Elf hay sao, thưa đức vua?”

Những lời chàng nói oai nghiêm và rất tự hào, tất cả cập mắt đều hướng về chiếc nhẫn. Ánh sáng từ viên ngọc xanh phát sáng lấp lánh, báu vật của Noldor từ Valinor. Chiếc nhẫn khắc hai con rắn song sinh, mắt chúng bằng ngọc lục, và những chiếc đầu chạm nhau ngay bên dưới vương miện của những bông hoa vàng, bông hoa tượng trưng cho dòng dõi nhà Finarfin.

Đoạn Melian tiến lại gần đức vua và thì thầm những lời khuyên nhầm xua đi cơn tức giận của ngài. “đó không phải do ngài có thể quyết định hắn sống hay chết, xin ngài hãy lưu tâm!”

Nhưng Thingol lặng lẽ nhìn Lúthien và thầm nghĩ trong lòng: “Người đàn ông bất hanh, những đứa con của những vị vua nhỏ bé với cuộc đời ngắn ngũi. Ta đã thấy chiếc nhẫn con trai của Barahir, và ta cũng thừa biết ngươi rất can đảm để có thể vượt qua mọi hiểm nguy đến được chốn này, nhưng không vì thế mà ngươi có thể chiếm được con gái ta. Ta muốn có được một báu vật khi xưa đã từng bị từ chối hiến dâng, ta muốn có được nó để chống lại tất cả thế lực của các vương quốc Elf khác. Ta đã nghe ngươi nói những khó khăn, hiểm nguy không làm chùn bước chân ngươi. Hãy nghe này! Ngươi hãy đi đi và mang về cho ta một viên ngọc Silmaril từ trên vương miện sắt của Morgoth, chỉ có thế ngươi mới được phép chạm đến con gái ta. Ngươi phải có được viên ngọc ấy bởi định mệnh của Arda nằm trong tay nó.”

Những người nơi ấy đều thừa biết rằng những lời Thingol vừa nói ra chẳng khác nào đưa Beren vào con đường chết vì không một sức mạnh nào của Noldor có thể chiếm lại những viên ngọc Silmarils bởi chúng đang được đặt ngai trên vương miện sắt của Morgoth, báu vật quý báu nhất của Angband. Balrogs bả vệ chúng, vô số gươm đao, những rào chắn khó bề vượt qua, những bức tường thành khó lòng xâm nhập cùng với tà phép kinh hồn của Morgoth.

Nhưng Beren cười và bảo rằng “có phải đức vua Elf muốn bán con gái mình để đổi lấy một viên ngọc, những thứ do bàn tay tạo ra. Nhưng nếu ngài mong muốn tôi sẽ mang nó về cho ngài. Và khi chúng ta gặp lại, trên tay tôi sẽ nắm giữ một viên Silmaril từ trên vương miện sắt, ngài sẽ không còn xem thường Beren con trai cua Barahir.”

Chuyện kể rằng Beren rời khỏi Doriath và chàng đến vùng đầm lầy Sirion, trèo lên những ngọn đồi, băng qua con thác Sirion cuồn cuộn sóng trào. Chàng nhìn về hướng tây qua đám sương mù dầy đặc là vùng đất Tslath Dirnen, vùng đất nằm giữa Sirion và Narog. Phía xa kia là cao nguyên Taur-en-Farroth, ngự trị trên đó là đức vua Finrod Felagund của vương quốc Nargothrond.

Vào thời điểm đó Nargothrond được canh phòng cẩn mật, mỗi ngọn đồi đều được phòng thủ với vô số cung thủ, họ vươn cung và sẵn sàng xạ tiển giết chết kẻ lạ dám đột nhập lảnh địa, và mũi tên họ vô cùng chuẩn xác. Khi Beren đến từ phía xa, chàng cảm nhận được có mối nguy hiểm đang chờ phía trước, cầm chiếc nhẫn Felagund trong tay, chàng hô to “Ta là Beren con trai Barahir bạn của đức vua Falagund, hãy mang ta đến gặp ngài.”

Các cung thủ nghe thấy đã không xạ tiển, tuy nhiên họ chặn lối chàng và ra lệnh cho chàng chờ đợi, nhưng khi thấy được chiếc nhẫn họ quỳ trước chân chàng. Dưới ánh trăng mờ nhạt, họ đưa chàng băng qua các khu rừng, vượt qua các cỗng đen và tiến vào vương quốc Nargothrond.

Beren đến diện kiến đức vua Finrod Felagund, ngài không cần nhìn đến chiếc nhẫn cũng biết được chàng thanh niên trước mặt mình là hậu duệ của Barahir. Beren kể cho ông nghe về cái chết của Barahir và định mệnh gì đã khiến xui chàng đến Doriath và nhiệm vụ chàng đang mang trong mình. Felegund nghe câu chuyện và trong lòng cảm thấy bất an, ông biết rằng lời mình hứa khi xưa giờ đã đến lúc thực hiên.

Trong lòng nặng trĩu, ngài bảo với Beren rằng “Rất rỏ là Thingol muốn ngươi chết, nhưng có lẽ những gì diễn ra sẽ ngoài mong muốn của ông ta, lời thề Feanor năm xưa giờ đây một lần nữa sẽ dậy sóng, Silmarils đã bị nguyền rủa bời những lời thề độc, những đứa con của Feanor bằng mọi gía dù có làm suy sụp toàn bộ các vương quốc Elf họ cũng phải chiếm lại bằng được Silmarils. Giờ đây Celegorn và Curufin con trai Feanor đang ở nơi đây, tuy ta là con trai Finarfin đồng thời là vua cai trị vương quốc này nhưng quyền lực của họ cũng không kém ta bởi họ có được rất nhiều người hậu thuẩn. Họ tỏ ra tôn kính và sẳn sàng giúp đỡ khi ta cần đến, nhưng đối với ngươi ta chỉ e rằng họ sẽ không có một chút lòng thương mà thay vào đó là sự câm thù một khi ngươi chiếm được Silmarils.

Felagund trước mặt thần dân kể cho họ nghe lời ông hứa khi xưa khi Barahir đã cứu mạng ông trong trận chiến khi xưa và bằng mọi cách ông phải giúp đỡ Beren hoàn thành sứ mệnh. Ngài tìm kiếm trong đám đông sự giúp đỡ của các vị tướng lĩnh. Nhưng Celegorn tiến đến, hắn rút gươm và hét “hắn là bạn hay thù, là những con quái vật của Morgoth, là Elf hay người, hay bất kỳ sinh linh nào ở Arda, bất cần luật lệ, bất cần tình thương, dù cho là địa ngục hay sức mạnh của Valar vẩn không thể giúp hắn chống lại sự săn đuổi của những đứa con Feanor một khi hắn chiếm lấy và giữ Silmarils, chỉ có bọn ta những đứa con Feanor mới có quyền giữ chúng.”

Sau đó Curufin cũng lên tiếng nhưng giọng điệu nhẹ nhàng hơn, hắn nhắc nhỡ mọi người về mối nguy hại và sụp đổ của Nargothrond, và trận chiến Kingslayer sẽ diễn ra một lần nữa ngay trên mãnh đất này.

Họ bàn tán với nhau rằng con trai Finarfin không phải là Valar để có thể ra lệnh cho họ, những đứa con Feanor nhớ lại lời thề khi xưa và trái tim họ trở nên đen tối, họ nghĩ rằng hành động của Felagund chỉ có con đường diệt vong và đang toan tính âm mưu chiếm đoạt ngai vàng Nargorond.

Lời kêu gọi của mình không ai đáp ứng, Felagund cảm thấy thất vọng và như đang bị bỏ rơi. Ngài tức giận ném vương miện xuống đất và thốt lên rằng “những lời các ngươi hứa rằng sẽ trung thành với ta các ngươi có thể quên, nhưng với ta những gì ta hứa ta nhất định phải làm dù cho ta phải chết”. Vào lúc ấy có mười người đã đứng ra và quyết theo ông lên đương, đứng đầu trong số họ là một người tên Edrahill. Edrahill nhặt vương miện lên và bảo rằng nên trao nó lại cho một vị nhiếp chính để cai quản vương quốc khi đức vua đi xa. Felagund trao vương miện lại cho em trail à Orodreth, trong khi Celegorn và Curufin không nói lời nào tuy nhiên họ mừng thầm trong bụng.

Một buổi tối mùa thu, Felagund cùng Beren và đoàn đồng hành rời khỏi Nargothrond, họ tiến đến Nargod, vượt qua con thác Ivrin. Bên dưới chân núi trong bóng tối họ trông thấy liều trại của một tóm binh Orc. Trong bóng tối họ tấn công bất ngờ và giết chết bọn chúng, chiếm lấy trang phục và vũ khí. Bằng vào tài phép của mình Felagund đã biến đổi hình dạng mọi người với hình hài như bọn Orc, theo con đường họ tiến về phương bắc. Vượt qua giao lộ nằm giữa Ered Wethrin và vùng cao nguyên Taur-nu-fui. Vào lúc ấy Sauron trên toà tháp thấy có những biểu hiện bất thường khi hắn trông thấy nhóm Orcs vượt qua lãnh địa của hắn nhưng lại không dừng chân trình báo nên đã đưa binh chặn đường và thế là diễn ra trận chiến nổi tiếng giữa Sauron và Felagund. Felagund tấn công Sauron với bài hát đầy quyền năng, nhưng Sauron vốn là bật thầy về tà thuật, trận chiến của họ được diễn tả qua sử thi Lay of Lethian như sau:

Sauron hát lên một bài ca ma quỷ
Xuyên thấu, mở tung, dối trá
Bại lộ, không hồi phục và phản bội.
Nhưng bất ngờ Felagund chống trả
Hát vang một bài hát kiên định
Đề kháng, mạnh mẽ trên chiến trường
Giữ lấy bí mật, sức mạnh như toà tháp,
Niềm tin, tự do, và tẩu thoát.
Thay đổi và dịch chuyển hình dạng,
Vượt khỏi tù đày, phá tan rào chắn
Mở toan cửa tù, chặt đắt xiềng xích.
Tấn công, phòng thủ, một tiến, một lùi
Liên tục và ngày càng quyết liệt

Thần thông Sauron càng mạnh mẽ, Felangund càng phản kháng
Tận dụng tất cả phép thuật
Và thanh kiếm của Elven
Trong tâm tối họ nghe tiếng chim hót êm ái
Tiếng hót xa xa từ vương quốc Nargothrond
Cảnh vật từ xa bên kia bờ biển
Theo hướng tây, vượt xa thế giới
Những hòn ngọc trên bãi cát Elvenland
Lạnh lẽo bao vây, bóng tối bao trùm
Trên Valinor, dòng máu đỏ đã chảy
Trên bờ biển, nơi Noldor đã chết
Tiếng sói tru, tiếng quạ réo
Băng đá phủ đầy cửa biển
Nỗi u sầu khi bị giam cầm nơi Angband
Sấm chớp liên hồi, lửa đỏ bốc cháy
Và Finrod Felangund thất thủ trước ngai vàng.

Đoạn Sauron tước bỏ bùa phép của họ, họ hiện nguyên hình trước mặt hắn trần trụi và sợ hãi. Nhưng sauron vẫn không biết được họ là ai, đến đây với mục đích gì.

Hắn đẩy họ vào hố sâu đen tối lạnh lẽo. Từ giây phút ấy luôn luôn có hai con mắt đỏ như lửa luôn theo dõi họ, một người trong số họ bị bị con sói dử ăn thịt nhưng không ai phản bội đức vua.

Khi Beren bị giam trong hang tối, Lúthien cảm thấy bất an, trong lòng nặng trĩu nàng tìm đến Melian để xin dạy bảo. Từ Melian nàng biết được Beren hiện bị giam trong ngục tối Tol-in-Gaurhoth và không còn cơ hội nào để giải thoát. Lúthien biết rằng không còn ai trên đời này có thể đến để giải cứu chàng nên đã quyết định lên đường. Nàng tìm đến Daeron để xin hắn giúp đỡ, nhưng một lần nữa hắn đem mọi chuyện thuật lại cho đức vua Thingol. Sau khi nghe những lời của Daeron, Thingol lo lắng không yên nên đã ra lệnh cho xây một căn nhà gỗ giam giữ Lúthien.

Không xa từ cổng chính Menegorth, một cây sồi khổng lồ đứng sừng sững, nó là cây to nhất, có tuổi thọ lâu đời nhất trong khu rừng Neldoreth. Cây sồi khổng lồ này có tên gọi Hírilorn, nó có ba thân cây, tất cả đều cứng cáp, trơn trượt và cao chót vót. Phía trên những thân cây, một căn nhà gỗ được xây và đó là nơi giam giữ Lúthien. Thang đã bị lính canh tháo xuống và họ chỉ sử dụng nó khi mang những vật cần thiết cho nàng.

Chuyện kể rằng Lúthien đã dùng phép thuật biến tóc mình dài ra, nàng dùng nó đan thành một chiếc khoác đen tàn hình, một chiếc áo che dấu vẽ đẹp của nàng như một chiếc bóng, nó đồng thời cũng chứa đựng câu thần chú gây mê. Những mãnh tóc còn lại nàng đan thành một sợi dây đôi, dùng nó cùng với chiếc áo nàng chốn thoát khỏi Doriath.

Vào lúc đó Celegorn và Curufin đi săn, họ đi săn vì Sauron lúc nào cũng cảnh giác và hắn cho nhiều sói đến dọ thám khu đất của người Elf. Vì thế họ cũng mang theo những con chó săn. Thủ lĩnh của bầy chó săn theo Celegorn có tên gọi Huan. Nó không sinh ra ở Trung Địa mà đến từ cõi thiên đường Aman. Vị thần Orome đã ban tặng nó cho Celegorn từ thời xa xưa trước khi ma quái đến tàn phá Valinor. Huan đã theo chủ nhân tha hương đến Trung Địa và nó một lòng trung thành với Celegorm. Vì thế nó cùng chung số phận với Noldor và chịu lời nguyền của vị thần Mandos. “Cái chết sẽ đến với nó nhưng phải đến khi trên thế giới xuất hiện loài sói hùng mạnh nhất.”

Chính Huan đã phát hiện ra Lúthien, nàng mặc trong người chiếc áo khoác, bay lững lờ như một chiếc bóng dưới đám cây khi Celegorn và Curufin đang nghĩ chân gần biên giới phía tây Doriath. Không vật gì có thể thoát khỏi ánh mắt cũng như khướu giác của Huan, không một phép thuật nào có thể qua mặc được nó vì nó không bao giờ ngủ dù ngày hay đêm. Nó mang nàng đến cho Celegorm, và Lúthien biết được người đối diện mình là hoàng tử của Noldor, kẻ thù của Morgoth nên trong lòng mừng thầm. Nàng xưng danh tánh và cỡi bỏ áo khoác. Vẽ đẹp của nàng biểu lộ dưới ánh nắng mặt trời làm cho Celegorm trở nên ngớ ngẫn. Hắn dùng lời lẽ mật ngọt để nói chuyện cùng nàng, hứa sẽ giúp nàng bằng mọi cách nếu như nàng đồng ý theo hắn về đến Nargothrond. Hắn không biểu lộ chút gì hay biết về cuộc hành trình của Beren và tỏ ra ngạc nhiên khi nghe nàng kể về câu chuyện của Beren.

Họ ngừng săn bắn và trở về Nargothrond, và cũng nơi ấy Lúthien cũng biết rằng mình bị lừa gạt. Họ chiếm lấy áo khoác của nàng, và không cho phép nàng vượt khỏi những cánh cổng nếu không có sự đồng ý của Celegorm và Curufin. Giờ đây tin rằng Beren và Felagund đã trở thành tù nhân và khó lòng tẩu thoát, chúng âm mưu xưng vương bằng cách chiếm đoạt Lúthien và buột đức vua Thingol phải gã nàng cho Celegorm. Điều đó đồng thời làm tăng sức mạnh cho họ và họ sẽ trở thành những vị hoàng tử hùng mạnh nhất của Noldor. Họ không muốn lấy lại Silamrils bằng vũ lực hay chiến tranh nếu chưa thâu tóm tất cả các vương quốc Elf. Orodreth không có đủ sức mạnh để chống đối họ vì họ đã âm thầm đầu độc trái tim mọi người nơi ấy.

Nhưng Huan con chó săn lại có một trái tim nhân hậu, nó thương mến Lúthien ngai từ lần đầu gặp gỡ và u buồn vì nàng bị giam cầm. Nó thường đến thăm nàng và thường nằm trước cửa, nó cảm nhận được tà ma đang đến gần Nargothrond. Lúthien thường nói chuyện với nó trong lúc cô đơn, kể cho nó nghe về Beren vị hoàng tử của loài người, làm bạn cùng muôn thú và các loài chim; và Huan hiểu hết những gì nàng nói bởi nó có khả năng hiểu tất cả các ngôn ngữ của muôn loài. Tuy nhiên nó chỉ được phép nói chuyện đúng ba lần trước khi chết.

Giờ đây nó lên một kế hoạch nhầm giải cứu Lúthien, khi đêm đến nó trộm lấy chiếc áo khoác và mang đến cho nàng. Lần đầu tiên nó nói chuyện, đưa ra lời chỉ dẫn để nàng tẩu thoát. Cùng nhau trong bí mật nó đưa nàng thoát qua con đường bí mật, họ chạy cùng nhau tiến về hướng bắc. Bỏ qua sự kiêu hảnh, nó cho phép Lúthien cỡi trên người. Do đó họ đi với tốc độ kinh hoàng bởi Huan nhanh nhẹn và không biết mệt mõi.

Trong hang tối Beren và Felagund nằm đấy, tất cả mọi người trong đoàn đồng hành giờ đã chết, nhưng Sauron muốn giữ lại Felagund vì hắn thấy được ông có khí phách phi phàm. Nhưng khi con sói tấn công Beren, còn sức lực còn lại Felagund làm đứt dây trói và chiến đấu cùng nó. Ngài giết nó bằng tay không nhưng bản thân mình cũng bị thương trầm trọng. Ngài nói với Beren lời sau cùng: “Giờ ta sẽ đi và yên nghĩ rất lâu ở phía xa bờ biển Aman. Và không biết bao giờ ta mới có thể trở lại trong hình hài Noldor, và cũng có nghĩa là cho đến sau này dù sống hay chết chúng ta sẽ không còn gặp nhau bởi định mệnh người và Elf rất khác biệt. Xin tạm biệt! Ngài chết trong bóng tối, trong toà tháp Tol-in-Gaurhoth, toà tháp vĩ đại mà khi xưa chính bản thân ngài đã xây. Thế là đức vua Finrod Felegund, vị vua yêu quý của của dòng dõi Finwe đã ra đi, nhưng ngài đã hoàn thành tâm nguyện, giử trọn lời thề. Beren ngồi bên xác chết ngài trong đau khổ.

Vào lúc ây Lúthien đã đến, đứng trước chiếc cầu dẫn vào hòn đảo của Sauron, nàng hát vang bài hát, một bài hát mà không có bức tường đá nào có thể ngăn chặn. Beren nghe thấy, cư ngỡ mình trong mơ, những vì sao chiếu sáng trên đỉnh đầu chàng, và trên cành cây chim sơn ca đang hót líu lo. Chàng hát trả lời bằng một bài hát thử thách, chàng cầu nguyện cho Bảy Vì Sao trên bầu trời, bảy vì sao hình trăng khuyết của Valar đang treo lơ lững ở phương bắc như một dấu hiệu cho sự sụp đổ của Morgoth. Tất cả sức lực rời bỏ chàng, chàng rơi vào bóng tối.

Nhưng Lúthien nghe thấy, nàng hát vang một bài hát khác mạnh mẽ hơn. Tiếng sói tru, hòn đảo rung chuyển. Sauron đứng trên toà tháp, đầu ốc hắn suy tính trong đen tối và hắn mĩm cười độc ác khi nghe được tiếng hát của nàng vì hắn biết được nàng chính là con gái của Melian. Huyền thoại về sắc đẹp và giọng hát của nàng đã vượt xa biên giới Doriath, và hắn nghĩ rằng sẽ bắt sống nàng và dâng hiến cho chúa tể hắc ám Morgoth.

Hắn sai một con sói vượt qua cầu tìm bắt nàng, nhưng Huan đã âm thầm giết nó. Và lần lượt Sauron gởi những con sói khác, chúng đều bị Huan giết sạch. Cho đến khi Sauron ra lệnh cho Draugluin, một con dã thú hung tàn, già nua và tàn ác, chúa tể các loài sói của Angband. Và thế là diễn ra trận đấu kịch liệt, tàn khóc giữa Huan và Draugluin, trận đấu diễn ra rất lâu nhưng cuối cùng Draugluin chạy thoát trở về toà tháp và chết dưới chân chủ nhân nó. Trước khi chết nó nói; “Huan đang ở đây!”. Giờ Sauron đã biết rất rỏ những gì đã xãy ra, về sự xuất hiện của chó săn chốn Valinor, và hắn nghĩ rằng sẽ đích thân hắn ra đối phó.

Hắn biến hình thành một con sói khổng lồ, một con sói hùng mạnh nhất đã từng bước đi trên trái đất. Hắn tấn công như vũ bảo, như một bóng ma. Nỗi kinh hoàng chợt đến với Huan và nó nhảy sang một bên. Sauron nhảy đến tấn công Lúthien và nàng bất tỉnh khi nhìn vào đôi mắt như lửa đỏ của hắn. Nhưng trước khi ngả xuống nàng quăng chiếc áo trước mắt hắn làm cho hắn choáng váng, một cơn mê thoáng qua trong đầu ốc hắn. Đoạn Huan phóng đến, và đó là trận đấu giữa Huan và con sói Sauron, tiếng sói tru vang dội cả các ngọn đồi, vượt qua các bức tường thành Ered Wethrin đến các thung lũng ở phía xa.

Nhưng không ma thuật, không thần chú, cũng không nanh vuốt, nộc độc, hay sức mạnh của dã thú nào có thể khuất phục được Huan chó săn từ Valinor. Nó cắn kẻ địch ngay cuống họng và giử không cho hắn trốn thoát. Sauron chuyển đổi hình dạng từ sói sang rắn hổ mang, từ quái vật sang hình dáng ban đầu nhưng tuyệt nhiên không thoát khỏi nanh vuốt của Huan trừ khi hắn rời khỏi thể xác. Và không lâu nữa linh hồn hắn sẽ rời khỏi thể xác đen tối, nhưng Lúthien đến và bảo với hằn rằng “ngươi sẽ bị lột trần từ thể xác bằng xương thịt này, linh hồn sẽ run rẫy trở về bên Morgoth, và nơi đó linh hồn trần trụi sẽ bị tra tấn bởi sự khinh miệt và cơn thịnh nộ của Morgoth, sẽ bị đốt cháy bởi đôi mắt của hắn trừ khi ngươi trao lại cho ta quyền năng thống trị hòn đảo này.”

Sauron cuối cùng đã chịu khuất phục, và Lúthien lấy quyền năng thống trị hòn đảo và tất cả sinh linh nơi ấy, Huan đã thả Sauron ra. Ngay lập tức hắn biến thành hình dạng ma cà rồng, như một đám mây đen lướt dưới ánh trăng, khi hắn bỏ chạy những giọt máu đen chảy từ cổ họng nhỏ từng giọt trên đám cây, hắn trốn và ẩn thân nơi Taur-nu-Fuin trong nỗi kinh hoàng.

Đoạn Lúthien đứng trước cầu, nàng đọc thần chú làm lung lay những bức tường đá, cánh cổng mở tung. Tất cả tù nhân trong hang tối được giải thoát, mắt họ nhoè nhạt dưới ánh sáng của mặt trăng bởi họ bị nhốt trong hang tối từ rất lâu. Nhưng nàng vẫn không tìm thấy Beren, nàng cùng Huan tìm chàng khắp hòn đảo và cuối cùng thấy chàng bên xác chết của Felagund. Nỗi khổ đau vẫn còn đấy, và chàng không nghe thấy tiếng bước chân của Lúthien. Nghĩ rằng chàng đã chết, nàng chạy đến ôm lấy chàng và rơi vào bóng tối của lãng quên, nhưng Beren đã trở lại với thực tại, họ nhìn nhau đấm đuối và ánh sáng mặt trời cũng bắt đầu ló dạng.

Họ chôn xác đức vua Felagund trên ngọn đồi cao ngay trên hòn đảo của ngài khi xưa, Ngôi mộ xanh của đức vua Finrod con trai Finrarfin, thánh thiện nhất trong tất cả các vị hoàng tử Elf. Cho đến khi mãnh đất được làm lại, đại dương bị phá huỷ, nhưng Finrod cùng với cha là Finarfin sẽ một lần nữa bước đi dưới những đám cây trên vùng đất Eldarmar.

Beren và Lúthien được tự do một lần nữa, họ đi cùng nhau dưới những đám cây, hạnh phúc bên nhau và dù mùa đông đang đến nhưng vẫn không làm họ buốt giá, những bông hoa nở rộ dưới bước chân Lúthien, bầy chim đang hót líu lo dưới ngọn đồi tuyết. Nhưng Huan vẫn trung thành với chủ nhân và quay về bên Celegorm, tuy nhiên tình cảm giữa họ không còn được như xưa.

Có nhiều thay đổi lớn đang diễn ra ở vương quốc Nargothrond. Rất nhiều tù nhân Elf được giải cứu từ hòn đảo của Sauron. Họ than khóc cho cái chết của đức vua Felagund và bảo rằng một người con gái dám làm những chuyện mà những người con của Feanor không dám nghĩ đến. Nhiều người đã đổi thay ý nghĩ, họ câm phẫn anh em nhà Feanor hơn là sợ hãi họ, trái tim họ dần hướng về dòng dõi gia đình Finarfin và tuân theo mệnh lệnh đức vua Orodreth. Nhưng Orodreth không muốn thấy thêm máu đổ, không muốn chứng kiến dòng tộc chém giết lẫn nhau nên đã tha mạng cho Celegorm và Curufin nhưng lại đuổi họ khỏi vương quốc. Ông thề rằng sẽ không còn chút tình thương nào nữa giữa Nargothrond và những đứa con Feanor từ đây và mãi mãi về sau.

“Thì cứ như thế đi!” Celegorm nói, một sự hờn căm trong đôi mắt hắn nhưng Curufin chỉ mĩm cười. Họ lấy ngựa và bỏ đi như một ngọn cơn bảo. Nhưng không ai muốn đi cùng họ, kể cả những người thuộc dòng dõi Feanor. Vào lúc đó con trai Curufin là Celebrimbor cảm thấy xấu hổ trước hành động của cha nên quyết ở lại Nargothrond, nhưng Huan lại trung thành đi theo chủ nhân của nó. Họ cưỡi ngựa theo hướng bắc và dự định nghĩ chân khi đến gần Dimbar, dọc theo biên giới phía bắc Dorath tìm đường đến Himring nơi Maedhros anh trai họ đang sống. Giờ đây Beren và Lúthien đang lang thang trong rừng Brethil và họ đang đến gần biên giới Doriath. Nhưng Beren chợt nhớ đến lời mình đã hứa, Lúthien giờ đã an toàn cũng là lúc họ chia tay. Lúthien không muốn phải xa Beren thêm một lần nào nữa và bảo rằng: “chàng phải chon giữa hai con đường Beren ạ: từ bỏ lời hứa và cùng nhau chúng ta sống cuộc đời phiêu bạc khắp nơi trên trái đất này; hoặc chàng giữ trọn lời hứa và thử thách cùng số phận, chống đối lại thế lực hắc ám dưới ngai vàng đen tối của hắn. Nhưng dù chàng chọn con đường nào, em vẫn theo chàng và chúng ta sẽ sống chết có nhau”.

Vào lúc đó, Celegorm và Curufin đã đến gần, từ xa họ đã trông thấy Beren và Lúthien. Celegorm giục ngựa tiến về hướng Beren với mục đích đẩy chàng xuống ngựa. Nhưng Curufin thúc ngựa theo hướng khác và đoạt lấy Lúthien lên yên của hắn. Trước tình hình trên Beren nhanh chóng đuổi theo Curufin và lôi hắn ngược lại từ phía sau khiến cho cả hai lăn lộn dưới đất. Con ngựa té nhàu và Lúthien bị văng sang một bên và nằm lăn lốc trên bải cỏ.

Beren đã khống chế Curufin nhưng cái chết đang đến gần chàng bởi Celegorm đang phóng ngựa đến với ngọn giáo trong tay. Vào giờ khắc đó Huan từ bỏ phục vụ cho Celegorrm và nó nhảy đến tấn công khiến cho ngựa kinh hoàng bỏ chạy. Celegorm nguyền rủa cả ngựa và con chó săn, nhưng Huan vẫn đứng yên bất động. Cái chết đã gần kề Curufin nhưng Lúthien đã ngăn lại bởi nàng biết được hậu quả thật khó lường một khi Curufin bị giết. Beren chiếm đoạt vũ khí của Curufin, trong đó có con dao Angrist một con dao được làm bởi Telchar vùng Nogrod chém sắt như chém gỗ. Chàng lại nói “Con ngựa của ngươi, ta sẽ giữ nó để phục vụ cho Lúthien, và ta tin rằng nó sẽ vô cùng vui mừng khi không còn phục vụ một tên chủ nhân đê hèn như ngươi.”

Curufin nguyền rủa Beren dưới mây và bầu trời. “Ngươi đi đi, và tìm cho ngươi một cái chết đầy đắng cay.”. Celegorm mang em trai bỏ đi trên cùng một con ngựa, nhưng khi họ phóng đi Curufin cảm thấy nhục nhã và câm phẫn, lấy cung tên của Celegorm hắn giương cung bắn lại họ với mục đích giết chết Lúthien. Huan nhảy đến đợp lấy một mũi tên trong miệng, nhưng Curufin bắn thêm một lẫn nữa và Beren hứng trọn mũi tên thay cho Lúthien.

Và chuyển kể rằng Huan đuổi giết anh em nhà Feanor, họ bỏ chạy trong kinh hoàng. Khi nó trở về mang theo một lá thảo dược mà nó tìm thấy trong rừng cho Lúthien. Với lá cây cùng và tài phép của mình Lúthien đã chửa lành vết thương cho Beren và cùng nhau họ quay về Doriath. Nhưng khi đến đó, một lần nữa Beren bị chi phối bởi lời thề và tình yêu, biết được rằng Lúthien giờ đã an toàn dưới sự chăm sóc của Huan nên ngày hôm sau trước khi mặt trời mộc chàng đã lẻn ra đi khi Lúthien còn say ngủ trên bãi cỏ.

Chàng chạy về hướng bắc với tất cả sức lực, đến ngọn đèo Sirion, biên giới Taur-un-Fuin và nhìn sang vùng đất hoang Anfauglith và thấy phía xa kia là đỉnh đồi Thangorodrim. Chàng giờ đơn độc và biết rằng thời khắc của số phận đã đến, chàng hát vang một bài hát trong giờ phút biệt ly, cầu nguyện cho Lúthien và ánh sáng của thiên đường, chàng tin rằng đã là lúc chàng xa rời cả tình yêu và ánh sáng. Đây là một phần trong lời bài hát:

“Tạm biệt trái đất ngọt ngào và bầu trời phương bắc
và nơi đây mãi mãi yên lành
và nơi đây với vòng tay âu yếm
dưới mặt trăng, dưới mặt trời,
Lúthien Tinúviel
Xinh đẹp hơn những gì người đời có thể diễn tả
Dù thế giới có bị tàn phá
Tất cả chôn vùi vào chốn hư không
Trở về cát bụi, bình minh, trái đất, đại dương
Nhưng tình yêu ta dành cho Lúthien là vĩnh cửu.”

Chàng hát thật to, không màn đến ai nghe nhưng Lúthien đã nghe bài hát của chàng và hát lại trả lời. Nàng vượt qua khu rừng tìm kiếm trong tuyệt vọng. Huan một lần nữa cho nàng cưỡi trên người và họ lần theo dấu vết của Beren. Huan biến đổi hình dạng thành con sói Draugluin, và Lúthien biến thành con dơi Thuringwethil kẻ đưa tin của Sauron, cùng nhau họ tiến về hướng bắc. Những móng vuốt sắt kinh dị của họ, họ chạy đi trong hình hài ma quái vượt qua Taur-nu-Fuin và vạn vật kinh hải bỏ chạy trước mặt họ.

Beren trông thấy họ từ xa và chàng tự hỏi bởi chàng đã nghe được giọng hát của Tinúviel, nhưng Lúthien và Huan đã hiện lại nguyên hình và Lúthien chạy đến bên Beren. Thế là Beren và Lúthien lại gặp nhau lần nữa tại nơi hoang dã của khu rừng. Rất lâu chàng lặng thinh không nói, vừa mừng vừa lo lắng không yên, chàng khuyên Lúthien nên quay trở về.

“Ta phải giữ lời thề với cha nàng” Beren nói “và ta thà bị xử tử nơi Menegroth còn hơn là đưa nàng đến nơi đen tối của Morgoth.”

Và đấy là lần thứ hai Huan lên tiếng, nó đưa ra lời khuyên cho Beren rằng “Ngươi có thể thay đổi số phận, sống cuộc sống lưu vong và tìm kiếm yên bình trong chuổi ngày còn lại cùng Lúthien. Nhưng nếu ngươi không từ bỏ cái chết, thì Lúthien cũng thế, hơn là chết một mình nàng sẽ cùng ngươi đối đầu với thử thách trong tuyệt vọng, nhưng không gì là chắc chắn.”

Ta không thể đưa thêm lời khuyên nào nữa cũng như không thể theo ngươi con đường phía trước. Vì trái tim ta đã cảnh báo ta biết những gì đang ngụ nơi cánh cổng phía trước vô cùng u ám đối với ta. Có lẽ sau này trên đường về Doriath chúng ta sẽ gặp nhau thêm lần nữa. Beren biết được chàng không thể chia cách Lúthien dù con đường phía trước có ra sao, chàng không còn khuyên nàng từ bỏ những gì nàng mong muốn. Bởi lời khuyên của Huan cùng phép thuật của Lúthien, chàng biến thành con sói Draugluin và nàng vươn dài đôi cánh của con dơi Thuringwethil. Mọi thứ trong Beren biến chuyển trong hình hài sói duy chỉ có cặp mắt của chàng, cặp mắt vẫn còn trong sáng. Chàng kinh hoàng khi trông thấy một con dơi khổng lồ đang tung đôi cánh với những móng vuốt sắt. Với tiếng hú dưới ánh trăng, chàng vượt xuống đồi và con dơi bay theo bên trên.

Họ vượt qua mọi nguy hiểm với cát bụi của đường dài trong cơn mệt mõi và cuối cùng đã đến gần cánh cổng Angband. Màu đen tối phủ trùm con đường phí trước, con đường quanh co như rắn, cả hai bên vực với những bức tường kỳ vĩ và nghe văng vãng đâu đấy tiếng kêu thãm thiết của nhiều con thú sắp chết. Trước mặt họ là cánh cổng Angband, cánh cổng bất khả xâm phạm bởi nó được canh giữ bởi một tên thuộc hạ kinh tởm của Morogoth, nó luôn cảnh giác trước bất kỳ động tĩnh nào dù nhỏ nhất. Có lời đồn rằng nó không giống như những loài vật đã từng sống ở Angband, vào ngày xưa những tin tức về các vị hoàng từ Elf đến Trung Địa mang theo một con chó săn từ cõi Valinor, một vũ khí oai lực của Valar. Morgoth nhớ lại con chó săn tử thần Huan, và hắn đã tìm cách đối phó. Hắn tìm ra một con chó hùng mạnh nhất trong giống loài sói Draugluin, và nuôi nó bởi chính bàn tay của hắn từ thịt tươi sống của những tù nhân Elf và người, hắn đặt một phần sức mạnh của hắn vào con dã thú. Ngay lập tức nó lớn nhanh như thổi cho đến khi nó nằm trong trong hình hài khổng lồ và đói khát dưới chân Morgoth. Ở nơi đó, ngọn lửa và sự đau đớn của địa ngục xâm nhập cơ thể nó, linh hồn nó đốt cháy như lửa thêu, kinh hoàng, khủng khiếp và mạnh mẽ. Carcharoth hay Red Maw là tên của nó và Morgoth ra lệnh cho nó thức trước cỗng canh chừng và chờ đợi Huan đến.

Giờ đây Carcharoth đã thấy Beren và Lúthien từ xa, nó cảm thấy ngờ vực bởi tin tức đến Angband rằng Draugluin đã chết. Do đó khi họ đến gần nó không cho họ tiến vào, nó tiến lại gần và ngữi thấy mùi gì lạ trong không khí. Nhưng bất ngờ với quyền năng, Lúthien biến lại nguyên hình đứng nhỏ bé trước con vật khổng lồ kinh dị Carcharoth. Nàng nâng cánh tay và đọc thần chú ra lệnh cho nó đi vào giấc ngủ: “Hỡi linh hồn đã bị lãng quên, giờ hãy rơi vào giấc ngủ, quên đi hiện tại của thể xác tà ma”. Và Carchroth đã ngã xuống như bị đánh trúng bởi một tia sét.

Beren và Lúthien vượt qua cánh cổng, tiến vào những bật thang mê cung và cùng nhau đối phó lại kẻ thù mạnh mẽ nhất của loài người và Elf. Họ tiến đến ngai vàng của Morgoth, mọi thứ xung quanh rùng rợn và kinh hãi, những ngọn đèn lấp loé, vũ khí chết chóc và tra tấn khắp nơi. Beren nằm dưới ngai vàng trong hình hài của một con sói, nhưng Lúthien đã hiện nguyên hình bởi tà phép của Morgoth, hắn nhìn nàng chăm chú. Nàng không loạn trí bởi đôi mắt ấy và vẫn biết nàng là ai, nàng tự xưng tên và đưa ra lời thỉnh cầu phục vụ cho hắn một bài hát. Morgoth nhìn theo vẽ đẹp kiều diễm của nàng, trong tim hắn bổng nỗi lên ý nghĩ đen tối hơn bao giờ hết từ khi đặt chân đến Trung Địa. Hắn cảm thấy xốn xang với sự thèm khát dục vọng. Hắn trông theo nàng, để nàng được tự do một lúc, và trong bí mật tâm trí hắn cảm thấy thoả mãn. Bất ngờ nàng biến khỏi tầm mắt của hắn, và bắt đầu hát một bài hát vô cùng ngọt ngào, một bài hát đầy quyền năng. Hắn chăm chú lắng nghe và trở nên mù quáng trong tăm tối, hắn dõi mắt rong ruổi tìm kiếm hình bóng nàng.

Tất cả thuộc hạ của hắn đã bị bài hát quyền năng của Lúthien đưa vào giấc ngủ, tất cả ánh đèn đang nhoè nhoẹt, nhưng Silmarils trên vương miện sắt của Morgoth phát ra ánh sáng trắng xoá mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lúthien bất ngờ xuống giọng như cơn mưa lớn đổ vào biển sâu. Nàng quăng chiếc áo thần trước mắt Morgoth, đưa hắn vào giấc mơ đen tối, đến một nơi ngoài khoảng không của vũ trụ, lạnh lẽo và cô độc nơi hắn đã từng bước đến.

Bất ngờ Morgoth ngã xuống, như ngọn đồi trước trận bảo tuyết, té nhào như một cơn sấm sét, nằm xỏng xoài trên mặt đất và mọi thứ dường như đứng yên.

Beren nằm mê như dã thú, nhưng Lúthien đã lay tĩnh chàng lại và chàng trở lại nguyên hình. Chàng lấy ra con dao Angrist và cắt những viên ngọc Silmarils từ trên vương miện sắt của Morgoth.

Khi chàng giữ viên ngọc trong tay, ánh sáng phát ra khắp cơ thể chàng, chàng như trở thành một ngọn đèn sáng chói, nhưng viên ngọc không làm tổn hại thân thể khi chàng chạm đến nó. Trong tấm trí chàng muốn lấy hết ba viên ngọc của Feanor, nhưng con dao Angrist vô cùng sắt bén và những mãnh vỡ của vương miện đã cắt vào mặt Morgoth làm hắn rên rĩ và giậc mình thức giấc, tất cả thuộc hạ Angband cũng chợt tĩnh từ cơn mê.

Nỗi kinh hoàng chợt đến với Beren và Lúthien, họ bỏ chạy với mong muốn nhìn ánh sáng thêm một lần nữa trước khi chết. Nhưng khi họ tiến đến cánh cỗng thì bị chặn lối bởi Carcharoth bởi nó đã lay tỉnh lại từ cơn mê, nó đã nhìn thấy họ và tiến lại tấn công.

Lúthien đã không còn đủ quyền năng để chống đối lại con sói, nhưng Beren đã che chở cho nàng. Cánh tay phải chàng giữ viên ngọc Silmaril vẫn đang phát sáng. Carchargoth trở nên do dự và sợ hãi bởi vật báu kia. “hãy cút đi, chạy đi” Beren rào thét .” bởi đây là ngọn lửa thần linh, nó sẽ đốt cháy người và tất cả tà ma”. Và chàng tấn công con quái thú với viên ngọc Silmaril trong tay.

Nhưng Carcharoth nhìn đến viên ngọc thần thánh và nó không còn sợ hãi nữa, linh hồn tà mà của nó nỗi lên ngọn lửa gian ác. Bất ngờ nó cắn đứt cánh tay Beren và nuốt chửng cánh tay và viên ngọc Silmarils vào bụng. Ngọn lửa thần thánh của Silmaril đốt cháy cơ thể nó, dày xéo da thịt nó. Nó bỏ chạy trong tiếng hú thê thãm, cả thung lũng vang vộ tiếng kêu kinh dị đầy thãm thiết bởi cơn đơn đớn cùng cực của nó. Nó trở nên điên dại, chạy khắp nơi không định hướng và giết chết tất cả kẻ nào cản lối nó cho dù kẻ đó là ai. Nỗi kinh hoàng đã đến khắp nơi trong chốn Beleriand bởi sự hiện diện của con quái thú Carcharoth với viên ngọc Silmarils đang bừng bừng đốt cháy trong bụng.

Giờ Beren nằm đấy đau đớn trong mối nguy hiểm vây quanh, cái chết đang đến gần chàng bởi nộc độc của con sói đang ăn sâu vào cơ thể. Lúthien dùng miệng hút lấy chất độc, nàng dùng chút quyền năng còn lại làm dịu đi nỗi đau đớn của vết thương. Nhưng ở phía sau, sâu trong Angband, bọn lâu la đã tĩnh lại trong cơn thịnh nộ.

Và như thế là nhiệm vụ của Beren và Lúthien xem như không những đã thất bại mà còn rơi vào tình cảnh nguy nan khó lường. Vào thời khắc đó, phía xa kia trên thung lũng, ba con chim khổng lồi đang xuất hiện. Chúng bay đến phương bắc với những đôi cánh oai hùng vượt qua những cơn bão táp. Ở trên cao lãnh địa của Morgoth, chúa tể đại bàng Thorondor đã thấy được những động tĩnh bên dưới, thu hút bởi cơn điên loạn của con sói trước khi Beren ngã xuống.

Ba vị đại bàng đã mang Lúthien và Beren bay qua những đám mây. Bên dưới họ nổi lên những cơn sấm chớp, ánh sáng chói loà, ngọn núi dường như sụp đổ. Lửa và khói độc từ Thangorodrim bốc cháy và bay xa đến tận các vùng khác, người Noldor ở tận Hithlum run rẫy trong sợ hãi. Nhưng Thorondor chúa tể đại bàng đã giải cứu họ và bay đi xa, tìm kiếm những lối đi của thiên đường nơi ánh mặt trời còn đang chiếu sáng và mặt trăng vẫn còn du hành qua những đám mây của những vì tinh tú.

Họ bay đến Dor-nu-Fauglith, vượt qua Taur-nu-Fuin và vùng thung lũng kỳ bí Tumladen. Không một đám mây hay sương mù nào che mờ chốn ấy, và nhìn xuống bên dưới Lúthien đã thấy từ phía xa nguồn ánh sáng trắng phát ra từ những viên ngọc xanh, ánh sáng phát ra từ vương quốc Gondolin nơi đức vua Turgon đang cư ngụ. Nhưng trong lòng Lúthien giờ rối như tơ vò bởi Beren gần như sắp chết, chàng không nói lời nào cũng như không hề mở mắt, chàng không còn hay biết chuyện gì. Cuối cùng đại bàng cũng mang họ đến gần biên giới vương quốc Doriath. Ở nơi đó đại bàng để Lúthien bên cạnh Beren và Huan cũng đến bên nàng và cùng nhau họ chăm sóc vết thương cho Beren.

Nhưng vết thương lần này của chàng không đơn giản như Curufin đã từng gây ra bởi nó đầy nộc độc từ loài ác thú của Morgoth. Rất lâu Beren nằm đấy và linh hồn chàng rời khỏi thể xác lang thanh nơi biến giới của cõi chết, và biết được rằng sự thống khổ đang đeo đuổi chàng đến tận giấc chiêm bao. Rồi bất ngờ chàng tĩnh lại một lần nữa, thấy những chiếc lá đang che chở bầu trời, chàng lại nghe thấy một giọng hát ngọt ngào âu yếm, và ngồi bên cạnh chàng là Lúthien Tinúviel, và thế là mùa xuân lại đến.

Kể từ đó Beren còn có biệt danh Erchamion, vị anh hùng một tay. Cuối cùng chàng đã sống lại bởi tình yêu của Lúthien, cùng nhau họ đi dưới những bóng cây trong khu rừng và không muốn rời xa chốn ấy bởi họ tìm thấy nơi đó niềm hạnh phúc vô biên. Lúthien mong muốn rời khỏi thế sự của cuộc đời, cùng Beren ra đi và sẽ không bao giờ quay lại, quên đi phiền tối, quên đi danh lợi. Nhưng Beren cảm thấy bối rối trong lòng, chàng vẫn không quên lời mình đã hứa và muốn quay về Menegorth, bởi chàng không muốn làm tổn hại đến danh dự của cha chàng, và hơn nữa chàng không muốn nhìn thấy cảnh nàng công chúa Lúthien phải sống chuổi ngày còn lại trong chốn rừng sâu và chịu mọi đắng cay của loài người, nên đã quyết định cùng nàng trở lại Doriath.

Doriath bấy giờ vắng lặng và buồn tẻ bởi nàng công chúa Lúthien đã mất tích, rất lâu họ tìm kiếm nàng trong tuyệt vọng. Và chuyện cũng kể rằng Daeron người nhạc công tài ba đã rời khỏi mãnh đất ấy và không ai còn nhìn thấy hắn nữa. Hắn đã dốc hết cuộc đời để làm nên những điệu nhạc ngọt ngào dành riêng cho những điệu múa cho công chúa Lúthien. Tình yêu đơn phương của hắn dành cho Lúthien quá tha thiết, hắn tìm kiếm tung tích nàng trong tuyệt vọng, lang thang khắp miền đất lạ, qua những ngọn đồi cao đến tận vùng đất phía đông của Trung Địa. Nơi ấy rất nhiều năm hắn than khóc trong khổ đau bên dòng nước đen cho Lúthien con gái vua Thingol, nàng công chúa xinh đẹp và thần thánh nhất trong tất cả những đứa con của Ílluvatar.

Vào thời điểm đó đức vua Thingol đã biết được rằng Lúthien đã phiêu bạc rất xa vương quốc Doraith, những tin tức bí mật từ Celegorm đến với ngài rằng Felagund và Beren đều đã chết, nhưng Lúthien thì vẫn còn đang ở tại Nargothrond, và Celegorm muốn kết hôn cùng nàng. Thingol vô cùng nóng giận với những tin tức trên, gởi người dọ thám nguồn cơ và ông muốn gây chiến với Nargothrond, nhưng lại nhận được tin rằng Lúthien đã trốn thoát và giờ đây Celegorm và Curufin đã bị trục xuất ra khỏi vương quốc Nargothrond. Ông do dự bởi không có đủ sức mạnh chống lại cả bảy người con của Feanor.

Nhưng những người ông đưa đi khi đến gần biên giới phía bắc đều gặp phải mối nguy hiểm mà họ không ngờ đến, họ bị hạ sát bởi con sói hung tàn và điên loạn Carcharoth. Trong cơn điên loạn, nó chạy khắp nơi trong cơn đói khát, vượt qua Taur-nu-Fuin đến tận bên kia phía đông. Không gì có thể cản trở nó, và kể cả sức mạnh từ thần thông của Melain vẫn không làm nó chùn bước, định mệnh đã đưa đẩy nó bởi sức mạnh của viên ngọc Silmaril vẫn bừng bừng đốt cháy và dày xéo cơ thể nó. Cuối cùng nó đến khu rừng Doriath, vạn vật phải bỏ chạy trong cơn kinh hoàng. Tất cả người đức vua Thingol phái đi đều bị nó giết sạch duy chỉ có Mablung, vị cận thần của đức vua là trốn thoát và ông mang tin xấu về cho đức vua Thingol.

Trong giờ khắc đen tối đó, Beren và Lúthien đã trở về, tin tức về sự trở về của họ đã mang đến những điệu nhạc hân hoan trong lòng mọi người. Họ cuối cùng đã đến cổng Menegroth và rất nhiều người theo sau họ. Beren đưa Lúthien đến trước ngai vàng đức vua Thingol, ông nhìn Beren đầy vẽ ngạc nhiên, kẻ mà ông cứ ngỡ đã chết, nhưng ông vẫn không dành một chút tình thương nào cho chàng bởi sự tan tác và điêu tàn mà chàng đã mang đến cho Doriath. Nhưng Beren quỳ trước mặt đức vua và nói “tôi đã quay về và đã giữ vững lời hứa, và đến đây đế lấy những gì thuộc về mình.”

Thingol trả lời “Nhiệm vụ của ngươi là gì? Và đã hứa những gì?”

Beren đáp: “Tôi đã hoàn thành sứ mệnh, và một viên ngọc Silamril đã ở trong tay tôi.”
Thingol đáp; “Hãy đưa nó cho ta!”

Beren đưa tay trái ra, chàng từ từ mở từng ngón tay nhưng bên trong không có vật gì. Đoạn chàng nâng cánh tay phải; và từ giờ khắc đó chàng tự xưng là Camlost, kẻ trắng tay.
Nhưng Thingol cảm thấy xúc động trong lòng, và Beren ngồi bên trái cùng Lúthien ngồi bên phải ngai vàng, họ kể lại toàn bộ những gì xãy ra trong cuộc hành trình đầy gian nan. Tất cả mọi người cùng nhau lặng yên lắng nghe câu chuyện của họ đầy kinh ngạc.

Vua Thingol lặng lẽ nhìn Beren và cảm thấy người đàn ông này không giống như những kẻ phàm tục tầm thường, và với tình yêu của Lúthien ông thấy nó vô cùng mới lạ, mầu nhiệm và mạnh mẽ, không một sức mạnh nào giờ đây có thể chia cách con gái ông với Beren. Cuối cùng ông cũng chấp nhận lời thỉnh cầu của Beren, Beren nắm lấy tay Lúthien trước ngai vàng của cha nàng.

Nhưng niềm vui không được lâu vì bóng tối đang đến gần Doriath bởi sự xuất hiện của con quái thú Carcharoth, mọi người trở nên sợ hãi, sự hiểm nguy mà nó tạo ra gây nên nỗi kinh hoàng khắp chốn. Beren nghe thấy câu chuyện về con sói và hiểu được rằng nhiệm vụ của mình vẫn chưa hoàn thành.

Ngày Carchargoth càng tiến gần Menegroth, họ chuẩn bị cuộc hành trình săn lùng để tiêu diệt nó. Những người ra đi bao gồm: Huan chó săn từ Valinor, Mablung cánh tay oai lực, Beleg cung thủ tài ba, Beren Erchamion và đức vua Thingol của Doriath. Họ khởi hành vào buổi sáng vượt qua con sông Eschamion. Nhưng Lúthien ở lại phía sau cánh cổng Menegroth, bóng tối bao vây nàng và cảm thấy có điều gì kinh hoàng đang chờ đợi nàng.

Đoàn người đã chuyển từ hướng đông sang bắc, theo con sông cuối cùng họ cũng đến gần con sói Carcharoth trong thung lũng đen, bên dưới là con thác Esgalduin đang ầm ầm sóng dỗ. Ở chân ngọn thác, Carcharoth đang uống nước để dịu đi cơn khát, nó tru lên những tiếng hú kinh dị, và từ tiếng kêu đó họ đã phát hiện hành tung của nó. Nhưng nó đã để ý sự xuất hiện của họ từ lâu, chờ đợi mà không cần tấn công họ bất ngờ. Có lẽ là trái tim gian xảo của loài sói đã thức tỉnh, và vào thời điểm nỗi đau của nó đã vơi đi phần nào bởi dòng nước ngọt ngào của Esgalduin, và khi họ tiến đến tấn công nó đã nhanh nhẩu trốn thoát và ẩn mình chờ đợi. Họ canh phòng khắp nơi, bóng tối bao phủ cả khu rừng.

Beren đứng kề bên Thingol và bất ngờ họ phát giác Huan đã rời khỏi họ từ lúc nào. Bởi Huan không còn kiên nhẫn đợi chờ và nó một mình ra đi tìm kiếm và tiêu diệt con sói gian xảo kia. Nhưng Carcharoth đã tìm cách trốn tránh Huan. Nó bất ngờ tấn công đức vua Thingol, Beren ngay lập tức phóng ngọn giáo để giết nó, nhưng nó đã nhanh chóng tránh kịp và nhảy đến cắn lấy chàng. Vào lúc đó Huan đã quay trở lại và đó là trận chiến thảm khốc giữa Huan chó săn từ thiên đường Valinor và Carcharoth quái thú của Morgoth, kẻ được tạo ra nhầm mục đích tiêu diệt Huan. Không một trận chiến nào giữa sói và chó săn xãy ra như thế, phía xa bờ biển Huan nghe văng vẵng tiếng còi của vị thần Orome và những linh hồn của Valar, nhưng tiếng tru của Carcharoth là sự căm hờn của Morgoth, tàn bạo hơn những chiếc nanh thép, những tản đá nứt vỡ và rơi rớt từ trên cao vào tận đáy sâu của con thác Esgalduin. Nơi đó chúng chiến đấu nhau cho đến chết, nhưng Thingol không để ý để cục diện của trận đấu bởi ngài đang ngồi bên Beren, chàng đang bị thương trầm trọng và khó bề cứu chữa.

Trong giờ khắc ấy, Huan đã giết được Carcharoth, nhưng cũng nơi đó trong khu rừng Doriath số phận và nhiệm vụ của nó trên cõi đời đã hoàn thành. Huan đang bị thương rất nặng, những nộc độc của Morgoth đang ăn sâu vào cơ thể. Nó đến bên Beren và lên tiếng nói chuyện lần thứ ba, nó nói lời tạm biệt cùng Beren trước khi rời khỏi cuộc đời. Beren không nói được lời nào, chàng đặt tay vuốt ve Huan, và thế là họ từ biệt nhau mãi mãi. 

Mablung và Beleg nhanh chóng đến viện trợ đức vua, nhưng khi đến nơi nhìn vào những gì đã xãy ra họ quăng vũ khí sang một bên. Đoạn Mablung lấy một con dao và mổ bụng con sói, bên trong da thịt nó bị đốt cháy bởi ngọn lửa của viên ngọc thần thánh, ánh sáng Silmaril bắt đầu phát sáng khắp khu rừng. Trong sợ hãi Mablung chạm đến Silmaril và đặt nó vào tay của Beren. Beren nắm chặt nó trong tay và trao lại cho đức vua Thingol. “Giờ đây nhiệm vụ tôi đã hoàn thành.” Chàng nói, “và số phận tôi đã đến hồi kết thúc” Chàng không còn nói thêm lời nào.

Họ mang Beren con trai Barahir quay về cùng với xác chết của Huan bên cạnh, bóng tối phủ đầy khi họ trở về Menegroth. Tại gốc cây Hirilorn, cây sồi vĩ đại nơi Lúthien đã trông thấy họ chầm chậm bước về. Nàng chạy đến ôm lấy Beren, xin chàng hãy chờ đợi ở phía xa kia bờ biển tây. Beren nhìn vào đôi mắt nàng và linh hồn chàng cũng rời khỏi thể xác, anh sáng những vì sao cũng nhoè nhạt, bóng tối bao trùm Lúthien. Thế là Beren đã hoàn thành xong nhiệm vụ chiếm lấy viên ngọc Silmaril, nhưng câu chuyện trong thiên niên sử Lay of Leithian vẫn chưa đến hồi kết thúc.

Linh hồn của Beren nén lại trong căn nhà của vị thần Mandos, không muốn rời khỏi thế giới cho đến khi Lúthien đến và nói lời tạm biệt cùng chàng trước bờ biển Outer Sea, nơi ấy linh hồn con người sau khi chết sẽ đến và sẽ không bao giờ quay trở lại với cõi đời. Lúthien đã rơi vào bóng tối, và cuối cùng linh hồn nàng rời khỏi thể xác, cơ thể nàng nằm đấy như một bông hoa lìa cành, nằm bơ vơ trên bờ cỏ.

Và mùa đông đang đến, một màu xám xịt len lõi trong lòng đức vua Thingol. Nhưng Lúthien đã đến ngôi nhà Mandos, nơi dừng chân của Eldar ở phía xa bờ biển tây của thế giới. Sắc đẹp của nàng lộng lẫy hơn tất cả những gì đẹp nhất trên đời, và nỗi khổ đau của nàng hơn cả nỗi khổ đau của Valar. Nàng quỳ trước chân Mandos và hát cho ngài nghe một bài ca về mối tình ngang trái.

Bài hát nàng ca là một bài ca đẹp nhất mà ngôn ngữ có thể diễn tả, một bài hát khổ đau nhất mà thế giới đã từng nghe. Không thay đổi, bất diệt và nó vẫn còn được hát trên cõi Valinor vượt xa thính giác của thế giới. Valar lắng nghe trong buồn bả bởi Lúthien đã xướng lên hai làn điệu, nỗi khổ đau của Eldar và sự buồn đau của loài người, những đứa con của Illuvatar được ngài cho trú ngụ trên cõi Arda, vương quốc trái đất với vô vàn tinh tú. Lúthien quỳ trước mặt Mandos, nước mắt tuôn trào như những cơn mưa đổ trên những viên đá. Mandos cảm thấy xót xa cho số phận của họ, ngài cảm động như chưa có chuyện gì có làm thể cảm động đến thế.

Ngài kêu gọi linh hồn Beren, và thế là Lúthien và Beren lại gặp nhau một lần nữa với linh hồn sau khi chết ở phía xa bờ biển tây. Nhưng vị thần Mandos không có quyền lực cai trị linh hồn của loài người, hoặc ông có thể thay đổi định mệnh của những đứa con của Illuvatar. Ngài đến tìm gặp Manwë, chúa tể của Valar người cai trị thế giới thay cho đấng Illuvatar, và Manwë tìm đến lời dạy bảo của Illuvatar trong tấm trí của ngài.

Và đây là những lựa chọn dành cho Lúthien. Bởi những công sức và khổ đau của nàng, nàng sẽ được giải thoát từ Mandos và đi đến Valimar, nơi ấy nàng sống cho đến ngày tàn của thế giới, quên đi những buồn đau mà nàng từng nếm lấy. Tuy nhiên Beren sẽ không đến cùng nàng bởi Valar không được phép giữ linh hồn chàng lại bởi đó là món quà mà Illuvatar ban tặng cho loài người. Nhưng có thêm một lựa chọn khác đó là nàng sẽ quay về lại Trung Địa, và đi cùng với nàng là Beren, ở đó họ sẽ sống vơi nhau một lần nữa, nhưng sẽ không chắc chắn là hạnh phúc vĩnh cửu. Lúthien sẽ trở thành kẻ phàm tục, và sẽ chịu đựng cái chết lần thứ hai, số phận của nàng sẽ như loài người sau khi chết sẽ rời khỏi thế giới mãi mãi và sắc đẹp của nàng chỉ còn là những gì trong trí nhớ của người đời.

Với số phận đó nàng đã chọn, rời khỏi vùng đất thần linh và chờ đợi dù những gì diễn ra phía trước cùng với Beren. Sự lựa chọn của nàng đã đem hai giống loài Elf và Người đến gần bên nhau và là một quyết định quan trọng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ lịch sử của Trung Địa.

Trận chiến thứ 5: Nirnaeth Arnoediad

Chuyện kể rằng sau khi Beren và Lúthien trở về vùng đất phương bắc trong thể xác kẻ phàm trần, họ sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi. Lúthien trở lại Menegorth để xóa tan mùa đông lạnh lẽo trong lòng cha, đức vua Thingol. Nhưng Mẹ nàng nhìn vào mắt nàng với nỗi u buồn vì bà thấy đựợc trong đôi mắt ấy số phận mà con gái mình đã chọn, không có nỗi buồn nào hơn nỗi buồn chia cách, và trái tim của một Maiar nặng trĩu trong giờ phút biệt ly.

Beren và Lúthien ra đi tìm vùng đất cho riêng mình, họ vượt muôn ngàn hiểm nguy, không sợ đói khát, vượt qua con sông Gelion đi vào lãnh địa Ossiriand và cư ngụ trên Tol Galen vùng thảo nguyên xanh. Eldar sau đó gọi vùng đất ấy là Dor Firn-i-Guina có nghĩa là vùng đất Người Chết Trở Về. ở nơi ấy đứa con tình yêu của họ chào đời, họ đặt tên cho nó là Dior Aranel, người thừa kế của Thingol. Không người phàm trần nào còn cơ hội nói chuyện với Beren hay không một ai biết họ rời khỏi trần gian như thế nào.

Trong những ngày này, Maedhos, con trai trưởng của Feanor ưu tư nặng trĩu vì ông không có cách nào tấn công Morgoth. Tuy nhiên câu chuyện về Beren và Lúthien đã lan rộng khắp Beleriand, và ông cho rằng Morgoth không ghê gớm như ông hằng tưởng. Hắn sẽ tiêu diệt họ từng người từng người một nếu họ không đoàn kết. Maedhos bắt đầu cuộc hội nghị, cuộc hội nghị với mục đích tăng cường thế lực cho Eldar, và thế là liên minh các giống loài được thành lập, lấy tên là Union of Maedhros.

Tuy nhiên bởi lời thề Feanor năm xưa, cùng với những việc làm xấu xa đã ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch của Maedhros. Kết quả là lực lượng liên minh yếu hơn là ông thầm ước. Orodreth thề sẽ không bao giờ hành quân cùng bất cứ đứa con nào của Feanor bởi những việc làm xấu xa của Celegorm và Curufin. Tuy nhiên Gwindor con của Gulin đi lại mong muốn của Orodreth, chàng tham gia vào cuộc chiến với mong ước trả thù cho anh chàng. Chàng mang huy hiệu nhà Fingolfin, và đi dưới ngọn cờ Fingon.

Từ Doriatrh rất ít người đến giúp, một lần nữa cũng bởi lời thề Feanor, anh em nhà Maedhros đã gởi thông điệp đến đức vua Thingol và nhắc nhỡ ông về lời thề của họ, họ đã từng thề sẽ giết chết bất cứ kẻ nào chiếm đoạt Silmarils dù kẻ đó lài ai. Họ cho ông hai lựa chọn, một là trao trả viên Silmaril hoặc là trở thành kẻ thù của họ. Melian khuyên chồng nên trao trả SIlmaril cho họ, nhưng dưới những lời nói hỗn xược và đe dọa của họ, Thingol vô cùng giận dữ, ông lại nghĩ đến con gái mình và Beren họ phải trả bằng máu và nước mắt để có được Silmaril. Ông lại căm thù hơn khi nghĩ đến những việc làm hèn hạ của Celegorm và Curufin. Mỗi ngày ông say đắm nhìn Silmaril, ông càng mong ước có nó lâu hơn vì trong nó chứa một ma lực mà ông không hề hay biết. Ông đáp lại họ với những lời khinh miệt, Maedhros không nói lời nào nhưng Celegorm và Curufin thì thề sẽ giết Thingol và tiêu diệt người của ông một khi họ thắng trận. Từ đó Thingol củng cố lực lượng, tuy nhiên ông không tham chiến,và cũng không cho ai tham chiến duy chỉ có Mablung and Beleg. Với họ Thongol cho phép ra đi nhưng với một điều kiện là không được phục vụ cho anh em nhà Feanor, vì thế họ ra đi dưới ngọn cờ nhà Fingolfin.

Maedhros được sự trợ giúp của Naugrim (Người Lùn Râu Dài) từ quân lực cho đến vủ khí. Ông tập hợp tất cả anh em, giống loài, người nhà Bóre, nhà Ulfang. Ông đồng thời cũng đón nhận sự giúp đở của người từ phương Đông. Fingon đã từng cứu sống Maedhros, và họ là bạn thân nhau từ thuở nhỏ, họ cùng nhau bàn bạc kế hoạch tấn công Morgoth tại Hirming.

Trong khu rừng Brethil, nhà Haleth đã trang bị vũ khí sẵn sàng lên đường chiến đấu, Haldir con trai của Halmir giờ đây trở thành thủ lĩnh sau khi ông qua đời. Tin tức về trận chiến sắp nổ ra cuối cùng cũng đến vương quốc thần bí Gondolin, nơi đức vua Turgon đang ẩn thân.

Đội quân liên minh đã đánh bọn Orcs tơi bời và khiến chúng bỏ chạy ra khỏi tất cả các địa phận phía bắc của Beleriand, kể cả Dorthonion giờ đây cũng được tự do. Morgoth thấy được tai họa trước mắt về sự trỗi dậy của Eldar cùng thế lực đồng minh. Hắn bàn bạc cùng thuộc hạ để tìm cách đối phó. Hắn đã gởi đi rất nhiều gián điệp để trà trộn vào kẻ thù.

Maedhros giờ đây đã tập hợp đủ thế lực của Elf, Người, và Người Lùn. Họ tấn công Angband từ đông sang tây. Kế hoạch của họ là với một đội quân tiên chiến tấn công đến Anfauglith, hy vọng lúc ấy đội quân của Morgoth sẽ ra nghênh chiến, vào thời điểm đó đội quân của Fingon từ những lối đi tắt của Hithlum sẽ đánh úp phía sau. Với kế hoạch đó họ hy vọng sẽ đè bẹp lực lượng của Morgoth. Tín hiệu họ dùng là lửa từ những hỏa đài ở Dorthonion.

Một ngày Trung Hạ, kèn trống của đội quân Eldar chào đón bình minh, phía đông là hùng binh của Feanor, phía tây thì có hùng binh của Fingon đức vua Noldor. Đoàn quân Fingon tiến vào thung lũng, khu rừng Ered Wethrin, họ cải trang cẩn thận để che mắt kẻ thù. Fingon rất tự tin chiến thắng vì đi chung với ông còn có sự đồng hành của Gwindor đến từ Nargothrond , Húrin và Huor những anh hùng của Dor-lómin, và Haldir của vùng Brethil. Fingon nhìn về Thangorodrim ở nơi ấy mây đen dày đặc, khói đen ngun ngút, ông biết rằng Morgoth đang vô cùng phẩn nộ. Trái tim ông nặng trĩu khi nhìn về phương đông, tìm kiếm trong vô vọng những dấy hiệu từ đoàn quân của Maedhros. Ông không biết rằng Maedhros giờ đây đang bị cản trở bởi âm mưu của Uldor ( con út của Ulfang). Hắn tạo ra những tín hiệu giả về cuộc tấn công từ Angband.

Trong giây phút ấy, những tiếng la hét từ đâu vọng lại, vượt qua những ngọn gió Nam, từ thung lũng lan qua thung lũng, và Người và Elves bổng trở nên hoan hỉ. Bởi những âm thanh kia là do hùng binh của Turgon từ kinh thành bí mật Godonlin với hơn 10 nghìn hùng binh đang ầm âm tiến tới, và đến với họ là cả một rừng gươm, giáo. Khi Fingon nghe được tiếng trống từ hùng binh Turgon, em trai ông, trái tim ông trở nên vui sướng, nỗi vui sướng vì gặp lại em trai trong giờ khắc sinh tử. Họ thốt lên “Utúlie’n aurë! Aiya Eldalië ar Atanatári, utúlie’n aurë!”, bình minh đã đến!. Hãy nhìn nào, các anh em Eldar cùng những người cha của loài Người vì Bình Minh đã đến! và những người nghe thấy họ đáp lại “Auta i lómë!”, bóng tối đã qua! bóng tối đã qua!

Giờ đây Morgoth đã biết rất nhiều về những gì họ làm, nắm rõ trong tay kế hoạch của họ. trong giờ phút này hắn tin tưởng vào bọn thuôc hạ có thể giử chân Maedhros và cản trở sự tập hợp của kẻ thù, hắn đã đưa ra một đôi quân dường như hùng mạnh (thật ra chỉ một phần trong thế lực của hắn) đến Hithlum. Và chúng mặc quần áo trong màu nâu tối, che ánh sáng từ vũ khí. Do đó chúng đã đi khá xa vượt qua bãi cát Anfauglith trước khi chúng bị phát hiện

Trái tim của người Noldor như đang bị thêu đốt vì căm thù, họ muốn tấn công kẻ thù ngay trên vùng đất trống, nhưng Húrin đã ngăn cản và nhắc họ hãy cánh giác sự xảo trá của Morthoth, kẻ mà thế lực lúc nào cũng lớn mạnh hơn họ tưởng, và âm mưu của hắn không một ai lường trước.

Măc dù chưa có động tĩnh nào của kẻ thù, nhưng họ không còn kiên nhẫn để đợi chờ, Húrin một lần nữa khuyên họ không nên bồng bột mà hãy đợi thời cơ, hãy để bọn Orcs tấn công trước từ phía trên đỉnh đồi. Nhưng vào lúc ấy tên thủ lĩnh của đội quân Morthothh được lệnh phải rút quân bằng mọi cách có thể.

Từ tiền đồn, đội quân Fingon có thể nhìn thấy những cặp mắt của kẻ thù nhưng lại không thấy động tĩnh nào của bọn chúng. Tên thủ lĩnh của đội quân Morgoth đã cử bọn sứ giả đến, bọn chúng mang theo một món quà để thương lượng. Và món quà đó là Gelmir con trai của Giilin người từng là chủ nhân của Nargothron. Chúng bịt mắt ông lại, chúng cười nhạo “bọn ta còn nhiều tù binh như thế, nhưng muốn cứu chúng các ngươi phải nhanh lên ” sau đó chúng chặt tay, chặt chân, cuối đầu là thủ cấp của Gelmir. Hoàn cảnh trớ trêu vô tình Gwindor em trai của Gelmir đã chứng kiến cảnh trên, lửa thù bừng cháy không còn bình tỉnh ông nhảy lên lưng ngựa cùng với nhiều kỵ sĩ đuổi theo truy sát bọn sứ giả. Dưới tình hình đó tất cả quân Nodlor đốt lửa, và Fingon và hùng binh tiến lên ngọn đồi tấn công kẻ thù như bảo táp. Những tia sáng phát ra từ những thanh gươm như những ngọn lửa trên cánh đồng lau sậy. Sự tấn công dồn đạp của họ dường như phá vỡ kế hoạch của Morgoth. Đội quân Fingon tiến đến Anfauglith và phá tan cửa thành Angband. Đội quân tiền phong gồm Gwindor và Elves vượt qua cổng thành tiến tên những bậc thang, nhưng không ngờ họ lại sụp bẩy và kẹt lại nơi ấy, tất cả đều bị giết duy chỉ Gwindor chúng bắt sống. Fingol không thể đến giúp kịp thời vì Morgoth xảo nguyệt đã che giấu nhiều đội quân hùng hậu phía sau những cánh cửa bí mật và chờ đợi âm thầm. Giờ đây thời cơ đã đến bọn chúng tấn công như vũ bảo.

Ở khu đất trống của Anfauglith, vào ngày thứ tư của trận chiến, đó là ngày bắt đầu của Nirnaeth Arnoediad, hay còn gọi là Ngày Vô Vàn Nước Mắt, bởi không một bài hát, hay câu chuyện nào có thể diễn tả thảm cảnh hôm ấy.

Fingon rút quân về phía bãi cát, Haldir thủ lĩnh người Haladin đã hy sinh, cùng với ông là vô số sinh mạng của những người đến từ Brethil, và họ sẽ không bao giờ có cơ hội trở về khu rừng khi xưa.

Ngày thứ năm, họ vẩn còn khá xa Ered Wethrinm, bọn Orcs bao vây Hithum, bình minh ló dạng niềm hy vọng đã đến khi tiếng còi của Turgon một lần nữa vang lên. Đội quân Turgon đóng quân ở hướng nam để chắn giử Giao Lộ Sirion. Turgon đã ra lệnh không được tấn công vội, và giờ đây thời cơ đả đến, ông nhanh chóng đến trợ giúp anh trai. Họ tấn công bọn Orcs và hai anh em nhà Fingoflin đã sát cánh bên nhau, Turgon cũng gặp lại Húrin đang chiến đấu cùng Fingon. Trong khắc thứ ba của bình minh, những tiếng khèn của Maedhros vang dội và họ tấn công từ hướng đông, và dường như liên quân sắp thắng trận bởi tất cả mọi người một dạ trung hành trong khi bọn Orcs thì đang yếu thế, nhiều tên trong bọn chúng đã bỏ chạy tán loạn. Dù liên quân chỉ đưa ra tiền quân, Morgoth đã đưa ra đội quân cuối cùng của hắn từ Angband. Một đội quân quyết định thắng thua của cuộc chiến. Đội quân đó gồm chó Sói, Wolfriders, Balrogs và Rồng. Glaurung chúa tể loài rồng đã làm khiếp vía quân Eves và Người. Nhưng không phải chó sói, hay Balrog, hy rồng làm cho Morgoth chiến thắng mà chính là con người yếu ớt đã làm thay đổi cục diện trận chiến, bởi trong giờ phút ấy âm mưu của Ulfang bắt đầu phơi bài. Rất ngiều người phưong Đông đã bỏ chạy bởi họ đã lớn lên trong những lời dối trá và dụ dỗ của Morgoth, Nhà Ulfang không bỏ chạy mặc khác chúng liên minh với quân Morgoth và đánh lén đội quân liên minh. Đoàn quân Maedhos giờ bị tấn công cả 3 hướng và bị đánh tan tành. Vâng như định mệnh, mặc dù họ bị thương nhưng không có người con nào của Feanor bị chết. những người còn lại của Noldor và Naugrom (người lùn) cùng nhau tìm lối thoát chạy xa về Mount Dolmed ở phía đông.

Lực lượng oai hùng chịu đựng đến giây phút cuối cùng là đội quân của người lùn râu dài Belegost. Người Lùn có sức chịu đựng hơn cả loài Elves hay con Người, và họ có thói quen là đeo những mặc nạ ghê tởm khi chiến đấu. Họ đã chiến đấu chống lại loài rồng, tên chúa tể rồng Glaurung làm rung sợ cả người và Elves nhưng với người lùn thì nó lại đang bị bao vây. Chiếc áo giáp của nó cũng không đủ sức chịu đừng những đòn tấn công dủng mãnh từ những chiếc búa của người lùn. Trong cơn thịnh nộ, Glaurung quay sang tấn công Azahael, vị vua của người lùn. Khi nó trườn đến, với sực lực còn lại Azahael đưa ra một đoàn chí mạng vào Glaurung, ông đã đâm một nhác vào bụng nó, làm nó bị thương trầm trọng và phải bỏ chạy, những tên thuộc hạ của Morgorth cũng kinh hồn phách bỏ chạy theo nó. Những người lùn mang xác vua Azahael ra đi trong những bước chân nặng nền và ca lên bài ca bi hùng.

Trong trận chiến phía tây, Fingon và Turgon bị kẻ thù tấn công hàng hàng, lớp lớp. kẻ thù mạnh hơn nhiều so với những gì họ còn sót lại. Gothmog, chúa tể của loài Balrogs, tướng sói của Angbang đã đến, hắn bao vậy Fingon, và dồn Turgon và Húrin về phía vùng đầm lầy Serech. Fingon giờ còn lại một mình vì mọi người bên cạnh ông đều đã chết. Ông chiến đấu oanh liệt với Gothmog cho đến khi một tên Balrogs khác tấn công từ sau, hắn dùng cây roi lửa tấn công Fingon dồn dập. Gothmog chém Fingol với chiếc búa đen và đó là cái chết của đức vua Noldor.

Trận chiến đã bại, nhưng Hurin và những người còn sót lại của nhà Haldor vẩn một lòng chiến đấu cùng với Turgon của Gondolin, và đội quân của Morgoth vẫn không thể thắng tại Giao Lộ Sirion. Húrin nói với Turgon rằng “xin ngày hãy đi đi, ngày còn sống là còn hy vọng cho Eldar, ngày nào còn vương quốc Gondolin là trái tim Morgoth hãy còn sợ hãi”, nhưng Turgon trả lời “bí mật của Gondolin không còn che dấu được lâu, môt khi bị phát hiện thì đó sẽ là họa diệt vong”. Húrin đáp ” vâng, nhưng nếu nó có thể trụ vửng thêm một thời gian, từ gia đình ngài sẽ có tia hy vọng mới cho loài Người và Elves. Đây là những lời tôi phải nói với ngài trước khi chết, dù chúng ta chia tay nhau ở đây mãi mãi, và tôi không còn cở hội nhìn ngấm những dãy tuờng trắng hùng vĩ nơi chốn kinh thành Gondolin, nhưng cho ngài và cho tôi, một ngôi sao mới sẽ bắt đầu chiếu sáng, Xin tạm biêt! Và Maeglin, cháu trai của Turgon đã nghe được những lời trên, và hắn không bao giờ quên được những lời nói đó.

Turgon thảo luận cùng những người còn lại của Gondolin và Fingon để rút quân, Hai vị tướng Ecthelion và Glorfindel chặn hai bên hông trái và phải để không một kẻ thù nào có thể vượt qua. Những người theo Húrin and Huor tình nguyện làm hậu quân vì trong tim họ không bao giờ muốn rời xa mãnh đất Northland, họ thà chết chứ không rời bỏ nó.

Sự phản bội của Uldor bị người đời nguyền rủa. những vị anh hùng cùng với những câu chuyện của họ sẽ lưu danh sử sách và sẽ mãi mãi được ca tụng cho đến ngàn sau.

Và thế là đoàn quân Turgon đã thoát về phía nam với sự giúp đỡ của Húrin và Huor, ông vượt xuống Sirion và tẩu thoát. Họ biến mất vào những dãy núi và trốn tránh cặp mắt của Morgoth. Những người còn lại của nhà Hador sát cánh bên nhau chiến đấu sinh tử cho đến khi họ đến gần vùng đầm lầy Serech, và con suối Rivil trước mặt họ, đội quân Angband dồn dập tấn cộng, chém giết. Con suối dường như có thêm chiếc cầu làm bằng xác chết của nhà Hador.

Vào ngày thứ sáu của trận chiến, những chiếc bóng tại Ed Wethrin càng đen tối, Huor bị tên bắn thủng vào mắt, xác những người Hador bị giết chết trên cồn cát. bọn Orc bêu thủ cấp họ và đóng cọc như những ụ vàng trong hoàng hôn.

Tất cả bị hạ, nhưng Hurin vẫn một mình vẫn chiến đấu dủng mãnh. Hai tay chàng nắm chặt hai chiếc rùi và chém kẻ thù liên tục, chiếc rìu nhuộm đầy máu đen của kẻ thù, một lần chàng chém là một lần chàng thốt lên ‘Aurë entuluva!, bình minh sẽ đến! Nhưng cuối cùng cũng bị bắt sống, và đem đến Angband dưới mệnh lệnh của Morgoth. Và thế là kết thúc trận chiến Nirnaeth Arnoediad.

Morgoth đã đại thắng, và kế hoạch của hắn cũng đã đạt được, và những kẻ đã giết đồng loại của mình, phản bội Eldar làm cho mối quan hệ giửa Người và Elf trở nên xấu hơn, duy chỉ có 3 gia đình Edain là ngoại lệ. Lãnh địa của Fingon không còn nữa, những người con của Feanor thì trôi dạt như những chiếc lá dưới cơn gió lớn, tay họ đã rả rời, chân họ đã run, họ sống trong khu rừng hoang dã dưới chân núi Ered Lindon, sống cùng loài Elves xanh của Osriand. Họ đã mất đi uy quyền của những ngày huy hoàng.

Trong khu rừng Brethil, một vài người vẩn còn sống nơi đó trong sự bảo vệ của rừng, và Hardor con trai của Haldir trở thành thủ lĩnh củah họ

Còn với những kẻ phản bội đồng loại, Nhà Ulfang, Morgoth đã không ban cho họ vùng đất giàu có của Bereliand như họ mong muốn, hắn đã ép họ sống lại ở Hithunm và cắm họ rời khỏi chốn đó, và đó là món quà mà hắn tặng cho những kẻ đã phản bộ đồng loại.
Những người còn lại của Eldar ở vùng Hithlum bị đưa vào những hầm mỏ, và phục dịch nới ấy, một vài người đã tìm cách trốn thoát vào rừng xâu.

Bọn Orcs và Sói đi lại tự do trên tất cả lãnh phần phía bắc, và tiến xâu vào hướng nam của Bereliand, vượt xa đến tận Natarthen và biên giới Osirian. Không nơi đâu là an toàn, trên cánh đồng hay tận chốn rừng xâu.

Thủ phủ Dorithan của Thingol tuy nhiên vẫn bình yên, Morgoth không chú ý đến nó một phần là hắn không biết về sự tồn tại của nó nó, hay hắn chưa đến thời điểm cực độ của sự tàn độc.

Giờ Morgoth hướng suy nghĩ về nơi Turgon cư ngụ, vì Turgon đã tẩu thoát, trong tất cả kẻ thù thì người mà hắn muốn tiêu diệt hơn bao giờ hết là Turgon. Turgon của nhà Fingolfin giờ đây là người duy nhất có đủ uy quyền để kế thừa ngai vàng của Noldor. Morgoth lo sợ và căm thù gia đình Fingolfin, bởi vì họ có mối thâm tình với vị thân nước Ulmo kẻ thù không đội trời chung với Morgoth, và cũng bởi vì vết thương mà Fingolfin đã ban cho hắn. Hơn tất cả, Morgoth e dè Turgon vì trong đôi mắt Turgon hắn nhìn thấy ánh sáng của Valar. 

Nói về chuyện Hurin bị bắt sống, chàng bị giải đến trước mặt Morgoth vì hắn biết rằng chàng có mối thâm tình với Turgon và lối vào bí mật vương quốc Gindolin, nhưng Hurin đã không những không khai một lời mà còn chế giễu hắn. Vô cùng căm tức, Morgoth trói chặt hai tay Hurin trên một chiếc ghế đá và đặt nó trên một đỉnh núi cao Thangooim. Bằng ma lực hắn đưa ra lời nguyền ác độc, hắn nguyền rủa chàng, gia đình, con cháu chàng đời đời sống trong đau khổ. Hắn thốt lên những lời lẽ ác đôc “ngươi hãy ngồi đây mà nhìn về những vùng đất đen tối nơi những kẻ mà ngươi yêu thương, những kẻ dám chống đối lại ta, chọc giận và xem thường sức mạnh của ta, bỡi ta chúa tể hắc ám nắm giử trong tay vận mệnh của Arda. Ta sẽ cho chúng sống vĩnh viễn trong sự đau khổ”. Và chuyên kể rằng Hurin không một lời van xin tha mạng cho chàng hay cho gia đình chàng.

Nhận mệnh lệnh của Morgoth, bọn Orcs và thuộc hạ đã gom xác những người chết trong trận chiến, chúng chất xác họ giửa khu đất trống Arnaugoth, xác chết chất cao như núi, từ xa có thể nhìn. Haudh-en-Ndengin người Elves đặt tên ngọn đồi đó, ngọn đồi Chết, hay Haudh-en-Nirnaeth, ngọn đồi Nước Mắt.

 

Những Đứa Con Của Húrin

Phần tiếp theo là câu chuyện về Túrin con trai của Húrin người đã bị Morgoth dùng tà thuật trói chặt hai tay trên một chiếc ghế đặt trên đỉnh núi. Hắn nguyền rủa ông, con cháu ông đời đời sống trong đau khổ.

Morwen con gái của Baragund vốn là vợ của Húrin chủ nhân vùng Dor-lómin. Con trai của họ là Túrin. Túrin sinh ra đúng vào năm Beren lần đầu gặp Lúthien trong khu rừng Neldoreth. Giờ đây sau trận chiến Nirnaeth Arnoe-diad, Morwen vẩn sinh sống tại Dor-lómin, lúc ấy Túrin được tám tuổi, và bà đang mang thai thêm một đứa con trước khi Húrin ra chiến trận. Những ngày này là những ngày đau khổ bởi tội ác lan tràn khắp nơi, những kẻ phương Đông đến Hithlum, bọn chúng khinh thường những người Hador, chiếm đoạt nhà cửa, tài sản của họ, bắt con họ làm nô lệ. Nhưng với vẽ đẹp lộng lẫy cùng uy quyền của nữ chủ nhân vùng Dor-lómin, chúng không dám động đến bà hay gia đình bà. Chúng truyền miệng với nhau rằng bà là người đàn bà nguy hiểm, kẻ đã học được nhiều phép tuật từ người Elf.

Giờ đây bà rất nghèo đói, không ai dám trợ giúp, nhưng có một người phụ nữ tốt bụng tên gọi Aerin đã âm thầm bí mật giúp đỡ, chồng của Aerin là một người phương Đông. Morwen lo sợ một ngày nào đó con trai bà sẽ bị bắt đi làm nô lệ, nên quyết định đưa Túrin đến một nơi an toàn, bà đã van xin đức vua Thingol giúp đỡ con bà bởi chồng bà vốn là bạn thân với Beren. Vào mùa thu năm ấy Morwen đưa Túrin vượt qua những ngọn đồi cùng với hai người nô bộc già nua, trao tính mạng con trai bà cho họ nhờ họ tìm đường đến vương quốc Doriath, và tìm gặp đức vua Thingol.

Cũng trong năm ấy Morwen hạ sinh một người con gái đặt tên là Nieor. Túrin cùng hai người đồng hành vượt qua mọi hiểm nguy và cuối cùng đến được biên giới Doriath. ở đó họ đựợc cung thủ Beleg tìm gặp và mang đến diện kiến đức vua Thingol. Thingol chào đón Túrin và nhận chàng làm con nuôi để tưởng nhớ đến Hurin người mà ông vô cùng quý mến. Ông đã cử nhiều người đến Dor-lómin để tìm gặp Morwen và khuyên hai mẹ con bà đến sống tại Doriath, nhưng bà cương quyết không muốn rời khỏi căn nhà nơi mà bà và chồng sống hạnh phúc bên nhau, và trong thâm tâm bà vẩn tin chồng bà còn sống và một ngày nào đó sẽ trở lại. Trước khi họ ra đi, bà có gởi cho con trai bà một gia bảo của gia đình Hador, báu vật Dragon-helm (chiếc mũ rồng).

Chín năm Túrin sống trong cung điện của Thingol, nỗi buồn dường như vơi đi phần nào. Những năm sau đó Thingol có cử nhiều người đến thăm dò tin tức của hai mẹ con Morwen nhưng những người ra đi không một ai quay về, điều đó làm Túrin lo lắng không yên, chàng lo sợ tai họa đã ập đến gia đình chàng.

Chàng tìm đến gặp đức vua và xin ngài ban cho trường kiếm, đầu đội Dragon-helm tiến quân ra phương bắc, và từ đó chàng trở thành người bạn đồng hành thân thiết với cung thủ Beleg Cúthalion.

3 năm trôi qua, Túrin trở về Menegroth từ trận chiến, nhưng chàng trở về trong hình hài hoang dại vì trận chiến. Ở Doriath có một người tên Searos, hắn rất ganh ghét Túrin vì chàng được đức vua nhận làm con nuôi và hết mực thương yêu. Ngồi đối diện với chàng hắn thốt lên những lời lẽ xúc phạm ”nếu đàn ông của Hithlum hoang dại đến thế, không biết phụ nữ chốn ấy như thế phải, họ có mình trần như nhộng chạy lang thang như bầy nai vàng” Túrin nỗi giận, chàng liền lấy bình rượu mém vào người Saeros làm cho hắn bị thương nặng.

Vào ngày hôm sau, Saeros chặn lối Túrin khi chàng chuẩn bị lên đường, nhưng Túrin đã tóm lấy hắn và buột hắn không một mãnh vãi che thân, bị chàng săn giết như dã thú. Saeror chạy thoát thân nhưng hắn lại té xuống vực chết. Những người còn lại chứng kiến cảnh trên và Mablung là một trong số đó, ông khuyên Túrin trở về xin vua Thingol tha tội, nhưng Túrin giờ đã trở thành tội phạm và chàng rất sợ bị giam cầm nên từ chối lời yêu cầu trên và chốn đi. 

Chàng trốn vào khu rừng hoang dã ở phía tây Sirion. ở đó chàng gia nhâp vào một băng đãng, băng đãng của những kẻ không nhà, những tên liều lĩnh, và đó là sự bắt đầu của một băng cướp lừng danh. Họ chặn lối chấn lột tất cả những người đi đường bất kể kẻ đó là ai; Người, Elves hay là bọn Orcs!

Những chuyện trên cuối cùng cũng đến tai vua Thingol, ông đã chấp nhận tha thứ cho Túrin và tự trách mình đã không chăm sóc chàng chu đáo. Vào lúc ấy, Beleg đã trở về từ trận chiến, chàng vội vã tìm kiếm Túrin, đức vua Thingol bảo với Beleg rằng” Ta vô cùng đau buồn, Beleg ạ. Bởi ta đã nhận Túrin làm con nuôi, và nơi đây là nhà của nó trừ khi Hurin bên kia thế giới đòi lại con trai hắn. Ta không muốn thấy cảnh Túrin phải sống cuộc đời hoang dại, không chốn nương thân, ta sẽ vô cùng vui mừng nếu ngươi có thể mang nó về đây bởi vì ta rất thương yêu nó”.

Beleg trảl lời” thần sẽ tìm Túrin cho đến khi nào tìm gặp hắn, thần sẽ mang hắn về lại

Menegorth bằng hết khả năng của thần, bởi thần cũng vô cùng quý mến Túrin”.

Thế là Beleg lên đường tìm kiếm tung tích của Túrin. Giờ đây Túrin trở thành thủ lĩnh trong băng cuớp và lấy biệt danh là Neithan. Một năm trôi qua sau khi Túrin rời bỏ Doriath, cuối cùng vào một buổi tối Beleg lạc vào lãnh địa của họ. thuộc hạ của Túrin đã bắt sống chàng, chúng đối xử với chàng rất tàn bạo, bởi họ cho rằng chàng là gián điệp do vua Thingol sai đến dọ thám. Nhưng Túrin đã về kịp lúc và cởi trói cho Beleg. Họ hàn uyên tâm sự về tình bạn khi xưa, về những cuộc chiến mà họ cùng nhau chiến đấu chống lại Angband. Beleg khuyên Túrin quay về và bảo rằng đức vua Thingol đã tha tội và rất mong nhớ chàng, nhưng Túrin cương quyết không quay về. Trước khi Beleg quay về, Túrin bảo rằng “Beleg, sau này nếu ngươi muốn tìm ta hãy đến đỉnh Amon Rûdh kia! Còn giờ đây xin tạm biệt”.

Beleg trở về vương quốc Nghìn Hang Động, diện kiến đức vua Thingol và Melian và kể cho họ nghe mọi chuyện. Thingol thở dài và bảo” Túrin hắn muốn ta phải làm gì nữa đây”

“Xin ngày cho phép hạ thần ra đi thêm một lần nữa” Beleg tâu, hạ thần sẽ bảo vệ cho Túrin, thần không muốn nhìn thấy một nhân tài phải vùi lấp đời mình trong chốn rừng sâu.

Thingol chấp thuận lời thỉnh cầu của Beleg vào bảo” “Beleg Cúthalion! Ta không biết phải đền ơn ngươi bằng cách nào cho những việc ngươi đã làm. Ngươi có thỉnh cầu gì cứ việc nói ta sẽ ban cho”.Beleg đáp,”thần chỉ xin một thanh kiếm quý. Bọn Orcs giờ đang trở nên hùng mạnh, với cung tên này thần không phải là đối thủ của bọn chúng”.

Beleg được ban tặng thanh kiếm Anglachel, một thanh kiếm rất quý, nó có tên đó bởi nó được làm từ một thanh sắt từ thiên đường rơi xuống. Thanh kiếm này chém sắt như chém bùn. Nó được rèn bởi Eöl, một Elf Đen kẻ đã lấy Aredhel làm vợ (trong phần Maeglin)
Nhưng Melian nhìn vào thanh kiếm và bà lo sợ, vì bà nhìn được trong nó vẩn còn tà khí từ trái tim đen tối của kẻ đã làm ra nó. Nó sẽ phản bội bất cứ kẻ nào sử dụng nó.

“Thần sẽ thận trọng để nó trong vỏ khi không sử dụng”, Beleg đáp.

“một món qùa khác ta tặng cho ngươi Cúthalion, Melian nói. “Nó sẽ giúp ngươi đến được nơi hoang dã mà không lo sợ đói, khát, ta ban tặng cho ngươi Lembas, bánh mì của Elves được gói trong những chiếc lá bạc do chính tay ta làm”.

Ở thung lũng Doriath, Túrin cùng bọn lâu la truy sát 3 người Dwarves, một người bị bỏ lại phía sau và bị bắt, 2 người còn lại bị họ bắn 2 mủi tên khi tìm đường tẩu thoát. Người mà họ bắt có tên là Mîm một người lùn râu dài. Hắn van họ tha cho mạng sống, đổi lại hắn sẽ dẩn họ đến một căn động bí mật mà không một ai tìm được nếu không được hắn dẩn lối.
Túrin đã tha mạng và bảo “hang động đó nơi đâu?”.

Mîm đáp “trên một ngọn đồi, Amon Ruth là tên ngọn đồi đó.” Túrin đáp “ngươi dẫn bọn ta đến đó.”

Họ theo chân Mîm đến Amon Ruth, và khi đến gần cửa hang Mîm bảo “xin mời vào Bar-en-Danwedh, và đây là nhà của tôi”.

Vào lúc ấy có một người khác mang theo ngọn đèn tiến lại gần Mîm, họ thì thầm với nhau và đi vào chổ tối trong hang động, nhưng Túrin nhanh chân theo sau họ, khi tiến đến gần chàng thấy Mîm đang quỳ bên một tảng đá và than khóc, chàng hỏi “Mîm có điều gì xảy ra, có cần ta trợ giúp”. Mîm nhìn vào mặt chàng, hắn đáp “Ngươi không cần phải giúp, vì đấy là Khîm, con trai ta đã bị bọn ngươi dùng tên bắn chết, Ibun con trai ta đã bảo thế’.

Túrin cảm thấy hối hận, chàng bảo “Alas! ta không mong cớ sự lại xảy ra như thế này, nếu sau này có bao giờ ta trở nên giàu có, ta sẽ tặng vàng cho cha con ngươi, để có thể vơi đi nỗi buồn đau. vì ta vô cùng ân hận”

Mîm đứng lên, nhìn Túrin rất lâu và bảo “ta đã nghe ngươi,” “ngươi nói chuyện như một vị vua của những ngày xa xưa, với đó ta vô cùng quý mến. trái tim ta giờ đã giá lạnh, và căn nhà này bọn ngươi có thể ở lại, đó là món quà mà bọn ngươi đã tha mạng cho ta.”

Kể từ đó băng cướp Túrin sống trong căn nhà của Mîm, Túrin ngồi bên lắng nghe Mîm kể về câu chuyện của đời mình. Mîm thuộc một nhóm người lùn bị lưu đày trong những thời xa xưa trước khi có sự hiện diện của chúa tể hắc ám Morgoth trên chốn Trung Địa. Họ không có năng khiếu về điêu khắc củng như luyện kim, họ sống cuộc đời hoang dã và bị người Elves săn lung, thãm sát. Họ còn gọi là Noegyth hay Petty-Dwarves theo ngôn ngử của Sindarin. Họ không thương yêu một ai trừ bản thân họ, họ sợ hãi và căm thù bọn Orcs, và họ cũng căm thù Elf không kém bởi họ cho rằng Elf đã chiếm đoạt vùng đất mà họ đang sinh sống. Giờ đây giống loài của họ chết dần chết mòn, chỉ còn sót lại Mîm và hai người con trai của hắn.

Năm ấy vào giữa Đông, tuyết rơi dày đặc, Amon Rûdh mọi mặt bị tuyết che phủ, mùa đông trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết. Nhiều người ngã bệnh trong cơn đói rét. Vào một ngày chạng vạng mùa đông bổng xuất hiện một người đàn ông, toàn thân phũ đầy tuyết trắng, có lẽ hắn vừa trãi qua một cơn bão tuyết. Hắn tiến đến bên đống lửa và không nói một lời, mọi người bổng trở nên sợi hãi, người đàn ông ấy bổng phát cười, cởi bỏ mủ choàng và bên dưới tấm áo khoác là một gói hành lý. Và dưới ánh sáng lập loè của ánh lửa, Túrin một lần nữa được nhìn vào khuôn mặt của Beleg Cúthalion. Họ vô cùng mừng gỡ khi gặp lại nhau. Beleg mang đến cho Túrin bánh mì lembas và chiếc mũ Dragon-helm, nghĩ rằng với báu vật gia truyền có thể thay đổi cách suy nghĩ của Túrin. Nhưng Túrin vẩn không muốn trở về Doriath. Những người ngã bệnh được Beleg chữa lành, những kẻ đói khát được chàng ban cho lembas, từ đó chàng được mọi người quý mến. Nhưng dưới sự hiện diện của một tên Elf trong chính ngôi nhà của mình, Mîm vô cùng câm phẩn, hắn thì thầm to nhỏ cùng với con trai trong bóng tối.

Giờ đây Angband một lần nữa đưa binh đi chinh phạt, chúng tấn công vào Beleriand. Qua đèo Anach, chiếm lấy Dimbar. Túrin một lần nữa đội mũ rồng, và chuyện kể rằng Mũ Rồng và Cung Tên đã chiếm lại Dimbar, làm khơi lại niềm hy vọng. Những người không ai lãnh đạo giờ được quy thuận dưới trướng của hai vị thủ lĩnh trong vùng đất Dor-Cúarthol, vùng đất của Mũ Rồng và Cung Tên, và tên tuổi của họ từ đó lừng danh thiên hạ.

Túrin lấy tên mới là Gorthol. ở tận Menegroth, ẩn sâu trong những hang động củaNargothrond, hay trong chốn vương quốc thần bí Gondolin, cái tên và những việc làm của Hai Vị Thủ Lỉnh đều được biết đến, và nơi chốn Angbad, Morgoth đang để ý đến họ. 

Morgorth bổng cười một cách ác độc, vì giờ đây kẻ đang đội Mũ Rồng kia không ai khác hơn là con trai của Hurin kẻ mà hắn đang giam giử, và đã từ lâu nơi chốn Amon Rûdh hắn đã cho thuộc hạ dọ thám từ lâu.

Trong năm ấy Mîm và con trai hắn Ibun đi đốn củi để dự trử cho mùa đông, không mai họ bị Orcs bắt, và lần thứ hai để đổi lấy mạng sống của mình hắn đã bán đứng Túrin và bí mật dẫn bọn Orcs đến Amon Rûdh. Bọn Orcs tấn công đột ngột vào đêm tối, nhiều ngươì đã bị giết khi họ còn say ngủ, số còn lại chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, nhưng Túrin đã bị bắt sống và mang về Angband.

Sau khi mọi chuyện kết thúc, Mîm rón rén bước ra từ trong bóng tối, và mặt trời đã chiếu rọi qua những đám sương mù trên Sirion nơi hắn đứng cạnh những xác chết ngỗn ngang trên đỉnh đồi. Nhưng hắn biết được một người còn sống, hắn nhìn thẳng vào đôi mắt của Beleg. Cơn căm thù chất chứa bấy lâu nay, hắn dùng thanh kiếm Anglachel đâm chàng, nhưng Beleg đã nhanh tay đoạt thanh kiếm và tấn công lại, trong nỗi kinh hoàng Mîm đã tẩu thoát. Beleg quát “mối thù này, người nhà Hador sẽ tìm đến ngươi thanh toán!”

Beleg vẫn không tìm được xác của Túrin, từ đó chàng biết con trai của Húrin còn sống và bị giải đến Angband. Còn chút hy vọng, Beleg theo dấu chân của bọn Orcs, chàng vượt qua Brithiach, tiến vào Dimbar và đến đèo Anach. Và giờ đây chàng không còn cách xa bọn chúng bởi chàng ngày đêm đi không ngừng nghĩ

Nhưng khi chàng vượt qua đêm tối đến gần vùng đất ma quỷ, chàng phát hiện một người đàn ông đang ngủ dưới một gốc cây, Beleg đến gần và phát hiện đó là một người Elf. Chàng nói chuyện với ông ta, cho ông ta lembas, hỏi định mệnh gì đã khiến ông đặt chân đến vùng đất ma quỷ này. Ông tự xưng là Gwindor, con trai Guilin.

Buồn bả Beleg nhìn vào người đàn ông kia vốn một thời oai hung giờ đây trong hình dáng sợ sệt. khi trong trận chiến Nirnaeth Arnoediad, Gwindor chúa tể vùng Nargothron với can đãm phi thường cùng đội tiền quân tiến vào cổng thành Angband, ở nơi đó ông bị bắt sống. Gwindor không bị giết mà bị bắt làm nô lệ trong hầm mỏ phương bắc, sau nhiều năm Gwindor may mắn trốn thoát. Gwindor kể có thấy một đám Orcs vượt về hướng bắc, đi với chúng còn có lủ sói. Chúng giải theo một người đàn ông, tay bị trói chặt. “một người đàn ông rất cao” Gwindor nói “cao gần như những người sống trên đỉnh đồi sương mù của Hithlum.’ Và beleg kể cho ông nghe về việc gì mà chàng phải vấn thân vào Taur-nu-Fuin, Gwindor Khuyên Beleg nên từ bỏ ý định điên rồ trên nếu không muốn cùng chung số phận với Túrin. Nhưng Beleg không muốn rời bỏ Túrin và cương quyết giải cứu chàng. Dường như bị thuyết phục bởi hành động dủng cảm của Beleg, Gwindor quyết định lên đường cùng chàng giải cứu Túrin. Họ theo dấu chân bọn Orcs cho đến khi tìm gặp chúng trong khu rừng phía trên ngọn đồi. Một cơn bảo lớn từ hướng tây thổi đến, sấm sét đùng đùng trên những đỉnh núi phía xa, Beleg và Gwindor âm thầm đến gần chúng.

Trong bóng đêm khi chúng đang ngủ say, Beleg dùng cung tên hạ từng tên từng tên một, họ tiến vào và thấy Túrin đang bị trói chặt dưới gốc cây. Túrin đã quá mệt mõi và ngủ mê man không còn biết chuyện gì đang xảy ra. Beleg và Gwindor cắt dây trói và mang chàng ra khỏi thung lũng, họ dừng chân để chàng xuống bên đám cây. Vào lúc ấy cơn bảo ập đến, Beleg dùng thanh kiếm Anglachel chặt đứt còng cho Túrin, nhưng có lẽ định mệnh đã an bài, thanh kiếm đã vượt khỏi tay chàng và cũng vào lúc ấy Túrin đã tĩnh giấc. Thấy có kẻ đang chườm bên chàng cùng với thanh kiếm, nên trong bóng tối chàng đã dùng thanh kiếm Anglachel giết chết Beleg vì cứ ngỡ đó là kẻ thù. Khi chàng đứng lên, phát hiện mình đã được tự do, một tia sét lớn nỗi lên, và một lần nữa Túrin nhìn vào khuôn mặt lạnh buốt của Beleg. Túrin đứng đó như kẻ mất hồn, nhìn vào xác chết của Beleg và tự biết được những việc mình đã làm, nỗi kinh hoàng lộ rõ trên khuôn mặt.

Gwindor cùng Túrin an táng thi hài Beleg, họ đặt chiếc cung Belthronding kề bên mộ chàng. Đó là kết thúc cuộc đời của Beleg một cung thủ lừng danh, một người bạn chân thành, và nỗi buồn không bao giờ vơi đi trên khuôn mặt Túrin. Trên đoạn đường dài thăm thẵm, Túrin không hề thốt lên một lời bởi sự đau khổ còn chất chứa trong lòng. Gwindor bảo “hãy thức dậy! trong dòng thác Ivrin này đầy ấp những tiếng cười, nó được bảo vệ bởi vị thần Ulmo, ngài đã mang lại nơi này những vẻ đẹp từ những ngày xa xưa.”Túrin quỳ xuống uống một ngụm nước từ con suối, nước mắt chàng bấy lâu cố nén giờ bắt đầu tuôn trào, chàng hát bài hát cho Beleg, và gọi nó là là Cú Beleg. Gwindor trao thanh kiếm Anglachel cho chàng và bảo “đây là một thanh kiếm lạ, không giống như những gì ta đã nhìn thấy trên Trung Địa. Nó đã than khóc cho Beleg như ngươi từng than khóc, ta sẽ trở về Nargothrond vương quốc của Finarfin, và ngươi có đi cùng ta?”

Ngươi là ai? Túrin hỏi

“một tên Elf lang thang, một tù nhân của Angband, ta là Gwindor con trai Guilin”

“vậy ngươi có từng gặp Húrin con trai của Galdor, một chiến binh vùng Dor-lómin?’ Túrin hỏi.

‘Ta không gặp ông ấy’ Gwindor trả lời,” nhưng có nhiều lời đồn rằng ông ta đã bị Morgoth bắt sống, và hắn đã nguyền rủa con cháu ông ấy đời đời đau khổ.”

“với chuyên ấy thì ta tin.” Túrin đáp

Cuối cùng Túrin đã đến Nargothrond, những người nơi ấy không còn nhận ra Gwindor nữa, khi ra đi ông vẫn còn trẻ và yêu đời, giờ đây ông trở về trong hình hài già nua vì những cực hình ông phải gánh chịu nơi chốn Angband. Nhưng Finduilas, con gái vua Orodreth thì không bao giờ quên được ông vì họ đã từng yêu nhau tha thiết.
Túrin được đón tiếp nồng hậu, khi Gwindor đang đinh nói rõ lai lịch thì Turin ngăn lại và bảo ‘tôi là Agarwaen con trai Úmarth, một thợ săn trong rừng” từ đó người Elves vùng Nargothrond không hỏi chàng thêm nữa.

Thời gian trôi qua, Túrin rất được đức vua Orodreth quý mến. Thanh kiếm Anglahel được hàn lại, và màu đen của nó bắt đầu phát sáng, chàng đặt tên cho nó là Gurthang, một thanh sắt tử thần. Chàng vận y phục đen, đeo mặt nạ của người lùn, từ đó chàng nỗi tiếng với danh hiệu Mormegil, Kiếm sĩ Đen.

Trái tim Finduilas rúng động trước vị anh hùng trẻ tuổi, tuy nhiên Túrin không đáp lại tình yêu ấy, Finduilas trở nên u sầu và ít nói. Gwindor nói với Finduilas rằng ‘Hỡi con gái của nhà Finarfin, đừng để buồn đau chia cách đôi ta, mặc dù Morgorth đã phá hoại đời ta, nhưng ta vẫn yêu nàng. Nếu nàng đi theo tiếng gọi con tim, hãy thận trọng! bởi kẻ nàng yêu là Túrin, con trai của Húrin, kẻ mà Morgoth đã nguyền rủa. Nàng không thể không tin vào sức mạnh ghê gớm của Morgoth, chúa tể hắc ám!’

Finduilas lên tiếng’ Túrin con trai Húrin đã không yêu ta, từ đây mãi mãi về sau cũng thế.”

Cuối cùng đức vua Orodeth cũng biết được Mormegil thật sự là con trai của Húrin Thalion, ông càng quý mến chàng hơn. Sở trường của Túrin là những trận chiến đối kháng, chàng đưa kế sách cho đức vua rằng nên xây một chiếc cầu lớn bắt qua con sông Narog từ cửa khẩu Felagund để mở đầu cho cuộc chiến tranh mở rộng. Kể từ đó thuộc hạ của Angband bị đánh bại ra khỏi tất cả vùng đất giữa Narog đến phía đông Sirion và tây Nenning. Và mặc dù Gwindor lên tiếng chống đối lại ý tưởng của Túrin, nhưng giờ vị trí của Túrin trong lòng đức vua rất cao.

Cũng vào thời điểm ấy, phía tây Sirion càng ngày bị ảnh hưởng bởi thế lực Morgorth, nên Morwen cùng với con gái là Nienor rời Dor-lómin trong cuộc hành trình đến cung điện đức vua Thingol. Khi đến nơi bà nhận được tin con trai đã bỏ ra đi, Morwen đã ở lại Doriath cùng với Nienor, họ được tiếp đãi ân cần như những vị khách quý của đức vua và hoàng hậu.

Vào mùa thu năm ấy, Morgoth đã tấn công Narog với lực lượng hắn chuẩn bị từ lâu, Glaurung chúa tể loài Rồng đã vượt qua Anfauglith, bay đến miền bắc thung lũng Sirion và nơi đó nó đã gây ra biết bao điều tàn ác. Những chiến binh Nargothrond một lòng chống địch, nhưng lực lượng của Morgoth vượt xa thế lực của họ, không ai ngoại trừ Kiếm Sĩ Đen có thể chống chọi lại Glaurung, người Elves bị đánh và dồn về một gốc trên cánh đồng Tumhalad, nơi ấy họ bị bao vây, và đức vua Orodreth đã tử trận, Gwindor thì bị thương nặng sắp chêt, nhưng Túrin đến cứu và mang ông ra ngoài bải cỏ.

Gwindor nói với Túrin những lời hấp hối:’Hãy để kẻ mang ơn đền đáp kẻ có ơn! Nhưng số phận ta không mai, hơi thở ta đã tàn, thân thể này không còn chửa lành được nữa, ta phải rời khỏi Trung Địa dù vẫn còn quyến luyến nó. ta vô cùng quý ngươi Túrin con trai Hurin. Vì dựa vào tài năng của ngươi ta vẩn còn một tình yêu và một cuộc đời. Nếu ngươi thương ta, hãy đi đi! Nhanh chân đến Nargothrond bảo vệ mạng sống cho nàng Finduilad. Và đây là lời cuối cùng ta nói với ngươi, nàng đơn độc cần được ngươi bảo vệ, nếu ngươi không cứu được nàng thì ta sẽ trách ngươi mãi mãi! Tạm Biêt!”

Túrin phi ngựa vội về Nargothrond, nhưng bọn Orcs và Glaurung đã đến trước chàng một bước, chúng đến bất ngờ dù người nơi ấy đã đề phòng cũng không chống lại thế lực bọn chúng. Ngày hôm ấy chiếc cầu định mệnh bắt qua Narog đã chứng tỏ sự tàn ác của nó, bởi nó rất vững chắc và khó có thể phá sập nên kẻ thù dễ dàng vượt qua sông tiến vào thành luỹ. Chúng bắt phụ nữ và người hầu đem về Angband làm nô lệ cho Morgoth.

Vào thời đó Túrin đã đến, không có một kẻ nào có thể cản lối chàng, hay một kẻ thù nào có thể chịu được nhát kiếm của chàng Kiếm Sĩ Đen, con rồng Glaurung ẩn thân sau khe cửa, nó bất thình lình lên tiếng “chào Túrin, con trai của Húrin. Thật là đúng lúc!”

Túrin tấn công nó, lưỡi gươm Gurthang phát sáng dưới ánh lửa, nhưng Glaurung né được đòn tấn công của chàng, Nó mở cặp mắt như rắn độc nhìn vào Túrin. Không chút sợ hãi chàng nhìn vào chúng nhưng ngay lập tức đã trúng tà thuật của nó. Rất lâu chàng đứng đó như một tảng đá, dường như nơi ấy chỉ có hai người họ. Glaurung lên tiếng một lần nữa, nó nói “tàn ác thế nào con người của ngươi, con trai của Húrin. Một đứa con nuôi vong ơn, kẻ tội phạm giết người, giết bạn thân, kẻ trộm tình yêu, kẻ làm sụp đổ Nargothrond, thủ lĩnh của những trò lừa bịp. Trong khi mẹ và em gái ngươi sống ở Doro-lómin với cuộc đời khổ cực, ngươi ở đây hưởng thụ như một vị hoàng tử, ngươi thật là một kẻ vô lương tâm”

Túrin bỗng cảm thấy động tâm, chàng nhìn bản thân mình như một hình ảnh trong tấm gương méo mó bởi tà tâm, nghĩ về những điều ghê tởm mà chàng đã làm.

Đầu ốc chàng mê man không thể chống cự lại, khi ấy bọn Orcs giải tù binh đi ngang qua trước mặt chàng. Trong số họ là Finduilas, nàng than khóc van xin Túrin cứu mạng, nhưng tà thuật của Galurung đã làm đầu ốc chàng không còn suy nghĩ gì nữa, tai chàng không còn nghe những lời réo gọi thãm thương của Finduilas mà sau này ám ảnh chàng suốt cả cuộc đời.

Bất thình lình Glaurung thu hồi ma thuật, và chờ đợi. Nhưng Turin rút gươm lại đâm vào đôi mắt của con rồng, và Glaurung cuộn tròn người lại một cách nhanh chóng để vượt lên trên chàng.” và nói” Này, ngươi thật dủng cảm, vượt xa đối thủ mà ta từng gặp, bọn họ nói dối rằng ta không tôn trọng kẻ thù. Đi đi, ta tha mạng cho ngươi. Đi tìm mẹ và em gái ngươi đi.”
Túrin hoài nghi vì kẻ thù lại tỏ ra lòng thương hại đối với chàng, Túrin vội đi tìm Finduilas, nhưng Glaurung nói . “dừng lại nào con trai của Húrin, hãy đến Dor- lómin! Nếu ngươi cương quyết đi tìm Finduilas, ngươi sẽ không bao giờ gặp lại mẹ và em gái ngươi, họ sẽ hờn trách ngươi mãi mãi”.

Túrin cuối cùng quyết định vượt về hướng bắc, tìm đến mẹ và em gái, Glaurung bổng cười một cách ác độc. vì nó đã hoàn thành sứ mệnh mà chủ nhân đã giao. Nó rất hài lòng với bản thân và bắt đầu phun lửa thiêu sạch mọi thứ xung quanh.

Cuối cùng Túrin về lại Dor-lómin, ngôi nhà vẫn còn đó nhưng không thấy bóng dáng mẹ và em gái. Túrin tìm đến người phụ nữ tốt bụng Aerin và được bà cho biết Morwen đã ra đi từ lâu, đến Doriath tìm kiếm con trai. Như người tỉnh cơn mê, Túrin biết được đã bị Glaurung lừa gạt, trái tim chàng đau nhói khi nghĩ đến Finduilas. Chàng thầm nghĩ “Dù ta có đến Doriath sớm hơn vào lúc này cũng không giúp ích gì cho mẹ và em gái. Nếu vòng phép thuật của Melian bị phá vỡ thì hy vọng cũng tan biến, đó là kết thúc không tốt đẹp. Ta là kẻ bị nguyền rủa, ta mang điều bất hạnh đến những người yêu thương ta. Ta hãy để họ được yên bình.”

Túrin tìm kiếm trong tuyệt vọng hình bóng Finduilas, nhưng những dấu chân bọn Orcs đã bị xoá sạch bởi mùa đông lạnh lẽo. Khi tiến về Teiglin, Túrin gặp một nhóm người Brethil đang bị tấn công bởi Orcs, chàng giải cứu họ, và tự xưng là Wildman (kẻ hoang dại). Chàng nói rỏi mục đích của mình là tìm kiếm Finduilas, con gái của vua Orodreth vùng Nargothrond. Dorlas, thủ lĩnh đoàn người nói trong đau buồn về cái chết của Finduilas. Khi họ tìm đường vượt qua Teiglin, họ đã thấy Orcs dẫn theo một nhóm tù binh, họ tấn công chúng để giải cứu, nhưng Orcs đã tàn nhẫn giết sạch hết tù binh, và Finduilas bị đâm bằng một thanh giáo dính chặt trên thân cây. Trong hơi thở cuối cùng nàng đã bảo “Hãy nói với Mormegil rằng Finduilas đã ở đây!”. Họ đã chốn xác nàng nơi ấy và đặt tên ngôi mộ là Haudh-en-Elleth. Nghe tin trên, Túrin vô cùng đau khổ, Dorlas đã nhận ra thanh kiếm đen chàng mang theo, nhận ra ngay người đàn ông hoang dại này không ai khác hơn mà chính là Mormegil của Nargothrond, và cũng là con trai của Húrin. Chàng theo họ về lãnh địa.

Bandir con trai của Handir là chủ nhân mới của người Haleth. Hắn là một kẻ nhác gan, nên sau khi nghe Dorlas kể về chuyện đã xãy ra, hắn nhìn vào khuôn mặt sầu thãm của Túrin với nỗi lo lắng trong lòng. Mùa xuân năm ấy, Túrin ẩn thân trong khu rừng Brethil, quên đi dĩ vãng và lấy một cái tên mới là Turambar. Chàng không muốn mang theo cái tên xưa kia để bọn Orcs tìm đến và tấn công Brethil.

Tin tức giờ cũng đến Doriath, Morwen nghe được tin trên, bà vô cùng lo sợ, từ chối lời khuyên của Melian, một mình lên đường tìm kiếm con trai. Thingol cử Mablung cùng đám thuộc hạ theo sau để bảo vệ, Nienor quyết định theo họ với hy vọng khi Morwen nhìn thấy nàng bà sẽ thay đổi ý định.

Họ tìm gặp Morwen gần bờ sông Sirion, dù có sự xuất hiện của Nienor nhưng Morwen vẫn không đổi ý đình, trái lại bà còn buột Nienor cùng bà lên đường tìm anh trai. Không còn lựa chọn, đoàn người Mablung theo để bảo vệ họ. Sau 3 ngày, họ đến ngọn đồi Amon Ethir, Glaurung biết được sự có mặt của họ, nó dùng lửa làm nước con sông bốc hơi tạo thành một làn khói mù mịt. Thấy được hình dáng rồng trên đỉnh AMon Ethir, họ dẩn Morwen và Nieor tẩu thoát, phi ngựa nhanh về hướng đông, nhưng sức nóng cùng hơi thở tanh hôi của con ác thú làm cho những con ngựa hoảng hốt, chúng chạy tán loạn, một vài va vào thân cây và chết. Trong lúc loạn lạc ấy, Morwen đã mất tích.

Dưới ánh nắng mặt trời, Nienor nhìn vào cặp mắt ma quái của Glaurung. Đã biết nàng là ai, nó dùng thần chú khiến nàng quên đi tất cả, quên đi nàng là ai, hay mọi thứ trên đời, nàng không còn thấy, không còn nghe.

Khi mặt trời lặn sau núi, Mablung leo lên đỉnh đồi và tìm thấy Nienor, nàng đứng đó một mình dưới những ánh sao như một tảng đá vô tri. Mablung dẫn nàng chốn thoát, họ tìm gặp nhóm người đồng hành còn lại. Sức khoẻ Nieor dần hồi phục nhưng nàng không thể nói cũng không nghe thấy, như một người mù không định hướng. Mọi người đã vô cùng mệt mỏi và ngủ thiếp đi, nhưng lại lúc đó bọn Orcs tấn công bất ngờ. Nienor kinh hoàng bỏ chạy, nàng vụt chạy như kẻ mất hồn, trong điên loạn cho đến khi áo quần rách nát, không một mãnh vãi che thân!

Nienor chạy vào rừng sâu cho đến khi nàng tàn hơi kiệt sức, nàng ngủ thiếp đi và tỉnh dậy trong tia nắng đầu tiên của buổi sáng tinh mai. Nàng mừng rỡ ngắm nhìn những tia nắng như đấy là lần đầu tiên nàng thấy nó, mọi thứ đều mới mẽ trong mắt nàng, nàng không biết chúng tên gì. Bóng đêm lại đến, sợ hãi nàng lang thang như một thú hoang, không thức ăn, và cũng không biết sinh tồn bằng cách nào, cuối cùng vượt qua giao lộ Teiglin nàng trú thân dưới một cây to trong khu rừng Brethil. Một cơn bảo ập đến, sấm sét liên hồi, nàng kinh hoàng bỏ chạy và vấp ngã vào ngôi mội Haudh-en-Elleth (ngôi ội của Funduilas). Vào lúc ấy, Turambar đang truy lùn bọn Orcs và trong ánh sáng mập mờ chàng trông thấy một cô gái không một mảnh vải che thân đang nằm trên mộ của Funduilas, chàng vô cùng kinh hoàng vì cứ ngỡ đó là hồn ma Funduilas quay lại tìm chàng. Nhưng khi lại gần mới thấy đó là một cô gái đáng thương, chàng choàng áo cho nàng, cho nàng thức ăn, sưởi ấm cơ thể nàng. Khi Nienor tỉnh lại, nàng trông thấy Turambar, nàng cảm thấy vô cùng ấm áp, như đã gặp lại người bấy lâu nàng tìm kiếm!

Turambar hỏi nàng tên gì, nàng bổng trở nên ấp úng như một đứa trẻ không biết trả lời câu hỏi. “Không sao ta cho nàng một cái tên, ta sẽ gọi nàng là Níniel”,Turambar nói.

Nienor trở về cùng Turambar và sống lại ở Amon Obel. Thời gian trôi qua, Brandir đem lòng yêu nàng, nhưng trái tim nàng đã trao cho Turambar, và Turambar đã hỏi nàng lời cầu hôn. Brandir muốn nàng thuộc về hắn nên đã tiết lộ thân phận của Turambar, bảo với nàng rằng Turambar chính là con trai của Húrin kẻ đã bị Morgorth nguyền rủa. Nhưng cái tên đối với nàng vô cùng xa lạ bởi bóng tối đã che phủ tâm trí nàng!

Ba năm trôi sau, Galurung cùng Orcs tấn công vào Brethil, những người Brethel không tài nào chống đối lại chúng, Dorlas tìm đến Turambar để xin trợ giúp, một lần nữa chàng mang thanh kiếm đen cùng với nhóm người Brethil tiêu diệt bọn Orces. Khi Galurung nghe đến tên Kiếm Sĩ Đen vùng Brethil, nó cười nham hiểm vì nó đã có một kế hoạch hoàn hảo.

Mùa xuân năm ấy Níniel mang thai, cũng lúc ấy con rồng Glaurung đã đến Brethil, nó nằm dài trên bờ biển phía đông Teiglin, mọi ngươi vô cùng lo sợ. Họ tìm sự giúp đỡ của Turambar, chàng khuyên họ chuẩn bị hết lực lượng để tiêu diệt Glaurung. Chàng tình nguyện lên đường tiêu diệt ác ma rồng, chàng xin vài người đi cùng trong nhiệm vụ nguy hiểm này, không ai ngoại trừ Dorlas tình nguyện theo Turambar. Dorlas đã trước mặt mọi người nói ra những lời lẽ khinh miệt với Brandir, rằng hắn là chủ nhân khu rừng Brethil nhưng lại là một kẻ nhút nhác. Brandir xấu hổ trước mặt mọi người, hắn ghi mối thù này vào tận đáy tim. Vào lúc ấy, Hunthor đã tình nguyện thay thế Brandir để lên đường cùng Turambar.

Turambar nói lời tạm biệt cùng Níniel, họ chia tay trong nỗi đau buồn, thế là Turambar ra đi cùng hai người đồng hành tiến về Nen Girith.

Níniel không thể ngồi yên, nàng quyết lên đường tìm chồng, và rất nhiều người đã cùng nàng lên đường. Brandir muốn lấy lại danh dự cũng như tình yêu của Níniel, hắn lấy can đảm hắn theo chân họ, tuy nhiên lại đi sau họ khá xa.

Turambar đến Nen Girith lúc mặt trời lặn, ở đó chàng biết được Glaurung đang nằm dài trên bờ biển Teiglin, và nó thường bay đi nơi khác tìm chổ ẩn thân khi đêm đến. Chàng biết được đêm đó nó đang trú thân trên Cabed-en-Aras, nơi dòng sông chảy vào một con vực hẹp và sâu. Turambar bí mật lội qua con suối, leo lên đỉnh đồi, và tiến gần con dã thú. Nhưng vào lúc đó, Dorlas sợ hãi, hắn không dám vượt qua những hiểm nguy nên đã bỏ chốn vào rừng. Tuy nhiên Turambar và Hunthor vẩn không lùi bước, tiếng thác đổ lấn áp âm thanh khác, và Glaurung đang say ngủ. Turambar và Hunthor vượt lên ngọn đồi, nhưng khi ấy Hunthor bị một tảng đá to rớt vào đầu và chết. Turambar dùng thanh kiếm Gurthang đâm vào bụng con ác thú, Glaurrung rào thét trong đau đớn, trong cơn đau đớn nó phun lửa đốt trụi tất cả mọi thứ xung quanh cho đến khi lửa trong người nó không còn nữa, nó nằm im bất động!

Turambar muốn lấy lại thanh kiếm đang cấm sâu trong bụng con ác thú, chàng giử chặt cán kiếm, dùng chân đạp vào bụng nó, và hét vào mặt nó với những lời lẽ khinh miệt “Này tên sâu bọ của Morgoth, chúng ta lại gặp nhau! Chết đi vì tội lổi ngươi đã làm! Và đây là Túrin con trai của Húrin, ta đến đây để báo hận! Chàng rút thanh kiếm ra, nhưng máu độc đã đốt cháy bàn tay chàng. Glaurung mở to đôi mắt nhìn vào Turambar một cách ác độc. Còn sức lực sau cùng, nó tấn công chàng một đòn chí mạng làm chàng bất tỉnh, nằm đấy như một xác chết với thanh kiếm kề bên.

Tiếng thét của Glaurung làm chấn động cả núi rừng, những người còn lại trông thấy mọi thứ bị ngọn lửa của con ác ma đốt sạch và cứ ngỡ Turambar đã chết. Brandir nghe đồn rằng con rồng đã giết chết Turambar, và nó đang vượt qua sông. Hắn gặp Níniel, và nói “nhanh nào, đã đến lúc, nếu nàng sẵn lòng ta sẽ dẫn nàng đi. Níniel lặng lẽ theo hắn, trong đêm tối không ai thấy họ đã đi đâu.’

Khi họ đến giao lộ, Níniel hỏi ‘Ta có đi đúng đường không?” Brandir đáp, “Ta hãy cùng nhau rời khỏi đây, đi vào chốn rừng sâu.”

Nhưng Níniel trả lời ‘Kiếm Sĩ Đen là người chồng yêu quý của ta. Ta phải đi tìm chàng. Ngươi đang nghĩ gì?’ Nàng chạy vụt qua giao lộ Teiglin, đến gần bờ vực Cabed-en-Aras, trông thấy con rồng nằm đấy, nhưng không màng đến nó vì nằm ở xa kia là Turmabar, nàng gọi tên chàng trong nữc nỡ.

Vào lúc ấy, Glaurung nói ra những lời ác độc sau cùng trước khi chết “Hây! Nienor con gái của Húrin chúng ta lại gặp nhau, ta đã cho ngươi niềm vui khi tìm gặp lại anh trai ngươi. Giờ đây ngươi nên biết hắn là ai, một kẻ giết bạn trong bóng tối, một đứa con nuôi vong ơn, hắn là Túrin con trai của Húrin! Nhưng tội lỗi hơn cả là những gì hắn đã làm trên cơ thể ngươi! Và kẻ đang nằm kia, kẻ mà ngươi gọi là chồng chính là anh trai ngươi, Túrin Turambar!’

Glaurung đã chết nhưng những lời nói ác độc của nó làm Nienor kinh hoàng vì nàng đã nhớ lại những chuyện trước kia. Nhìn vào mặt Túrin, nức nỡ “tạm biệt, O Túrin kính yêu! Túrin Turambar turun ambartanen! Hãy yên lòng nhắm mắt!”

Brandir đã nghe được mọi chuyện, hắn đứng đấy như kẻ mất hồn rồi tiến lại bên nàng, nhưng Nienor vụt chạy, nàng đến bên bờ vực Cabed-en-Aras và lao thân vào đáy vựt sâu, thân thể trôi dạt theo dòng nước lạnh lẽo. Chuyện kể rằng từ đó không một ai dám nhìn vào bờ vực Cabed-en-Aras, không một mãnh thú hay loài chim nào có thể đến đó, không một loại cây nào mộc quanh nơi ấy, và nó có tên là Cabed Naeramarth, nơi kết liểu đời mình của một người con gái đau khổ.

Brandir đã tìm đường về lại Nen Giriith, hắn gặp Dorlas trong rừng và giết chết ông ta. Hắn về đến Nen Giriith, mọi người hỏi “ngài có gặp Níniel không? vì nàng đã mất tích”.
Hắn đáp “nàng đã ra đi mãi mãi. Con rồng đã bị giết, và Turambar cũng chết, và đó là tin tốt lành!” mọi người cho rằng hắn đã điên, nhưng Brandir lại nói “hãy nghe ta lần cuối! Níniel kính yêu đã chết, nàng lao mình xuống đáy vực sâu của Teilglin, nàng không còn muốn sống bởi nàng sự thật chính nàng là con gái của Húrin vùng Dor-lómin, nàng không tha thứ được bản thân mình bởi Turambar chính là anh trai của nàng, tên thật của hắn là Túrin”

Khi con rồng chết, Túrin đã tỉnh lại sau cuộc chiến mệt mõi. những cơn gió lạnh xé buốt da làm chàng tỉnh giấc, chàng quay về tìm kiếm mọi người, họ vô cùng sợ hãi vì cứ ngỡ đó hồn ma của chàng đã quay trở lại.

Túrin nói “Này, hãy vui mừng vì tên ác thú đã bị ta giết chết. Níniel nàng đâu? Vì ta muốn gặp nàng?”

Brandir kể lại cho chàng nghe mọi chuyện rằng Níniel đã chết, nhưng vợ của Dorlas than khóc ‘Ôi! chủ nhân, ngài đã điên loạn rồi, ngài đã bảo Turambar đã chết, và nói đó là tin tốt lành. Nhưng Turambar vẩn còn sống đây.”

Turambar giận dữ, tin rằng Brandir đã nói và làm những điều tàn ác cho chàng và Nieniel để chia cách tình yêu của họ, chàng nói những lời lẽ khinh miệt đến Brandir, Nhưng Brandir kể lại những gì hắn nghe, và bảo Níniel là con gái của Hurin, và bảo với chàng rằng đó là những lời cuối cùng của Glaurung. Turambar tức giận, chàng đổ tội cho Brandir đã khiến vợ chàng chết, và lại dám nói lên những lời dối trá. Chàng nguyền rủa Brandir và ra tay giết hắn.

Chàng vụt chạy vào rừng, khi cơn điên loạn đã qua, chàng đến bên bờ vực Haudh-en-Elleth và ngồi đấy suy nghĩ về những việc mình đã làm. Vào lúc ấy Mablung cùng nhóm người Elves đến, Mablung nhận biết Túrin và vô cùng mừng gỡ khi biết chàng vẩn còn sống.
Túrin bảo “ông đến quá muộn, con rồng đã bị ta giết chết”. Họ tán thưởng về sự can đảm của chàng, Nhưng chàng không quan tâm đến những gì họ đã nói, chàng lại hỏi “ta muốn hỏi về gia đình ta, họ đã rời khỏi Dor-lómin và đến Doriath.”

Mablung chần chừ hồi lâu rồi cuối cùng cũng kể cho Túrin nghe về sự mất tích của Morwen, và Nienor trúng phải thần chú của Galurung và quên hết mọi chuyện. Cuối cùng Túrin cũng biết được sự thật, đau khổ khi biết người vợ than yêu lại chính là em ruột của mình, tội lỗi vì đã giết Brandir oan ức. Chàng cười trong đau khổ “thật là cay đắng làm sao!’. Chàng bổng vụt chạy như kẻ mất hồn, mọi người tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với chàng.

Họ chạy theo chàng, nhưng Túrin đã chạy khá xa, chàng đến bên bờ vực Cabed-en-Aras, nghe tiếng rên của dòng nước, thấy những chiếc lá rời khỏi thân cây, và mùa đông lại đến. Chàng rút thanh kiếm ra và nói với nó “Hây Girthang, Ngươi không trung thành với bất kỳ ai, ngươi là kẻ khát máu, thế ngươi có sẳn sàng kết liểu cuộc đời của Túrin Turambar, ngươi có giết ta một cách nhanh chóng?”

Từ thanh gươm, rung lên một giọng nói lanh lãnh, nó đáp “vâng, ta rất muốn uống máu của ngươi, vì ta không quên những giọt máu của Beleg chủ nhân ta, và Brandir kẻ mà ngươi giết oan ức. Ta sẽ cho ngươi tội nguyện, giết ngươi một cách nhanh chóng.”

Túrin cấm cán kiếm xuống đất, lao mình vào nó, bảo kiếm Gurthanh đã kết thúc cuộc đời chàng. Khi Mablung và mọi người đến nơi và nhìn vào thanh gươm, vào xác chết của Túrin, họ vô cùng đau lòng, những người vùng Brethil cũng đến và cuối cùng họ cũng đã biết mọi chuyện.

Xác chàng nằm đấy nhưng thanh kiếm Gurthnah đã gãy đôi, Eves và Người cùng nhau lấy củi, họ đốt xác con rồng thành tro bụi. Túrin được chôn nơi chàng ngã xuống, và Gurthang được đặt kề bên mộ chàng. Khi mọi chuyện đã xong, Elves cất ca bài hát, bài hát về những nỗi khổ đau, xót xa về những đứa con của Húrin. Một bia đá xám được dựng lên trên mộ, trên đó họ khắc.

TÚRIN TURAMBAR DAGNIR GLAURUNGA

Và phía dưới họ lại ghi:

NIENNOR NÍNIEL

nhưng nàng không ở đấy, không ai biết dòng nước lạnh Teiglin đã mang nàng đi đâu.

Sự Sụp Đổ Của Doriath

Một lão già râu tóc bạc phơ, khuôn mặt đầy những nét nhăn như cuộc đời lão đã trãi qua nhiều nổi khổ đau, nhưng lưng lão không còng, lão bước đi những bước đi ngay thẳng giống như chính con người lão. Lão chống một chiếc gậy to và luôn mang bên mình một thanh kiếm. Đi cùng với lão là thủ lĩnh cùng bọn thuộc hạ Angband, Họ tiến vào Hithlum và sự có mặt của họ làm chấn động bọn người nơi ấy. Họ bàn tán với nhau rằng lão giử chức vụ tối cao và rất được chúa tể hắc ám Morgoth kính nễ. Họ không dám động đến lão và để lão đi lại tự do trên lãnh địa của họ.

Đã đúng một năm kể từ ngày đứa con trai duy nhất của lão là Túrin qua đời, và cũng đúng 28 năm lão bị giam cầm chốn Angband, giờ đây lão trông gầy guột và hận đời. Morgoth đã nguyền rủa lão, con cháu lão đời đời đau khổ và hắn đã đạt được mục đích, nhưng hắn không muốn dừng lại đó vì món nợ của gia đình lão hắn vẫn chưa thanh toán xong. Tội ác hắn làm cho gia đình lão vẫn chưa làm cho hắn thoã mãn thú tính, mặc dù lão đã bị hắn giam cầm, và Morwen vợ lão thì lưu lạc trong chốn rừng sâu, những đứa con của lão phải chịu cuộc đời đau khổ và chết thãm thương. Những nỗi khổ đau mà gia đình lão phải hứng lấy lão đều hay đều biết, nhưng sự thật và giã dối đan xen nhau qua những lời dối trá của Morgoth.

Bằng mọi cách Morgoth muốn phá huỷ những gì tốt đẹp mà Thingol và Melian gầy công xây dựng. Hắn căm thù họ, đồng thời cũng e dè họ. khi hắn quyết định thời cơ đã đến, hắn thả Húrin ra, cắt bỏ xiềng xích, cho phép lão được tự do. Hắn bảo với lão rằng vì hắn cảm thấy xót xa và cảm thông cho kẻ thù đã bị bại một cách cay đắng. Nhưng hắn nói dối, vì hắn đang có một âm mưu đen tối và Húrin là con bài chủ chốt hắn sử dụng nhầm dấy lên mối căm thù giữa Elf và Người.

Không nghĩ ngợi nhiều, Hurin tin vào những lời của Morgoth dẫu biết chắc rằng hắn là một kẻ máu lạnh không dễ gì xót xa trước nỗi đau của kẻ thù. Morgorth sai thuộc hạ theo hộ tống lão khỏi vùng Hithlum giờ đây đang chịu sự cai trị của người phương Đông. Cuối cùng lão cũng được tự do, nhưng trái tim lão càng trở nên cay đắng, lão vượt qua vùng Hithlum trèo lên những đỉnh núi cao, đến tận nơi mà những đám mây đang hội tụ, lão chợt nhớ đến Turgon, và mong muốn thêm một lần trở về Vương Quốc thần bí Gondolin. Lão theo lối xuống Ered Wethrin, nhưng vẫn không hay biết trong bóng tối tên ác ma Morgoth từng bước từng bước theo dõi dấu chân lão. Vượt qua Brithiach, lão đến lãnh địa Dimbar, đến chân núi đen Echoriath. Tất cả vùng đất nơi đây lạnh lẽo và cô lập, lão nhìn quanh với chút hy vọng, đứng dưới chân những tảng đá khổng lồ, đấy là những gì lão còn nhớ được từ những ngày xa xưa khi chiến đấu và lạc lối đến Gondolin. Dòng Sông Khô khi xưa giờ đã bị chặn lối, và những cửa hình vòm cũng bị vùi chôn. Húrin nhìn lên bầu trời xám và nghĩ rằng nếu mai mắn lão có thể một lần nữa được các vị đại bàng của vị thần gió Manwe đến giúp, chuyện đó từng xãy ra với lão từ rất lâu khi lão vẫn còn trẻ và trong tim vẫn tràn đầy nhựa sống. Nhưng giờ đây lão chỉ trông thấy những chiếc bóng chập chờn ở hướng đông, những đám mây lượn quanh những ngọn núi cao chót vót, lão chỉ nghe những tiếng gió hú lan ra từ khe đá.

Nhưng những vị đại bàng canh giử chốn ấy trên cao đã nhìn thấy Húrin và đích thân chúa tể đại bàng Thorondor mang tin tức đến vua Turgon, nhưng Turgon nói “Morgoth có đang ngủ không? Thorondor, ngài có nhìn lầm không?”

Ta không làm, Thorondor đáp. ‘Nếu đại bàng của Manwë cặp mắt không tinh thông mà nhìn lầm, thì vương quốc bí mật này đã sớm bị phát hiện từ lâu’

Thế thì những lời của ngài làm ta vô cùng lo lắng, Turgon đáp. Chỉ có một lý do để giải thích là kể cả người kiên cường nhất như Húrin Thalion cũng phải đầu hàng trước sức mạnh của Morgoth. Thorondor ơi! Trái tim ta giờ đây đã khép kín!

Nhưng khi Thorondor bay đi, Turgon ngồi rất lâu và suy nghĩ, nhớ về trận chiến khi xưa lúc ông gặp nạn và được Hurin cứu, nhớ đến những việc làm anh hùng của Húrin vùng Dor-lómin, và trái tim ông đã mở lại, ông nhờ đại bàng đi tìm Húrin và mang lão đến Gondolin nếu có thể. Nhưng đã quá muộn, họ sẽ không bao giờ thấy được lão nữa kể cả dưới ánh nắng mặt trời hay trong đêm tối.

Húrin đứng thất vọng trên vực đá Echoriath, và mặt trời ở đằng tây xuyên những tia nắng qua những đám mây, nhuộm lên râu tóc lão một màu đỏ như máu. Lão đứng đó cô độc, lão khóc rống thật to, không quan tâm đến ai nghe thấy, lão nguyền rủa mãnh đất không có tình người này. Lão đứng trên tảng đá cao hướng mắt về Gondolin và hét ‘Turgon, Turgon, có nhớ đến vùng đầm lầy Serech! Ôi Turgon, trong chốn cung điện nguy nga, ngươi có nghe ta gọi? Nhưng không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng gió lùa qua từng đám cỏ khô. Mặt trời lặn mình sau dãy núi, bóng tối bao trùm lấy lão, cơn gió bổng ngừng thổi, mọi thứ bổng trở nên im lặng đến rợn người.

Vâng lời lão than khóc đã có kẻ nghe thấy, chúng mang tin tức về đến chốn phương bắc. Morgoth mĩm cười độc ác, vì hắn đã biết rỏ vị trí vương quốc Turgon ngụ đang ở chốn nào, đây là thành quả đầu tiên hắn đạt được bằng cái giá tự do của Húrin.

Bóng tối bao trùm Húrin, lão mệt mõi và đi vào giấc ngủ, trong giấc mơ lão nghe thấy giọng nói của Morwen đang than khóc, kêu tên lão mãi không thôi. Và dường như giọng nói đó đến từ khu rừng Brethil. Lão tĩnh giấc trong bàng hoàng, và lên đường đến Brithiach, dọc theo vách đá Brethil lão đến giao lộ Teiglin vào đúng đêm khuya.

Những tên lính gác thấy lão, chúng vô cùng sợ hãi vì nghĩ đã nhìn thấy một bóng ma từ một ngôi mộ cổ của trận chiến khi xưa, bóng tối bao quanh lão. Lão cuối cùng đã đến nơi xác Glaurrung bị thiêu, lão thấy một bia đá cao nằm gần bờ vực Cabed Naeramarth. Húrin không nhìn vào tảng đá vì lão đã biết rất rõ trên đó viết gì. Lão chợt nhận ra rằng lão không đứng đó một mình, ngồi trong bóng tối là một bà lão, bà đang quỳ bên nấm mộ. Húrin đứng đó lặng im, rồi bà lão gỡ mũ che đầu xuống và ngước mặt lên nhìn lão. Một bà lão già nua với những nét nhăn hằn trên gương mặt khắc khổ, những nét nhăn của cuộc đời đầy sương gió và gánh chịu mọi khổ đau. Thình lình Húrin nhìn vào mắt bà, lão biết đôi mắt này, đôi mắt hoang dại và đầy nỗi sợ hãi. Nhưng khi nhìn vào tia sáng trong đôi mắt ấy làm lão nghĩ đến tên một người, một cái tên lão luôn mang bên mình, Morwen một phụ nữ tôn quý và xinh đẹp nhất trong thế giới loài người của những ngày xa xưa.

“Cuối cùng ông cũng đến” bà lão nói. “tôi đã đợi lâu lắm rồi”.

“đó là một con đường dài tăm tối, ta đến ngay khi có thể” lão trả lời.

“ông đến quá muộn” Morwen đáp. “chúng chết cả rồi”.

“ta biết” lão trả lời. “nhưng ông không”, Morwen lên tiếng

”Tôi đã kiệt sức, tôi sẽ về bên mặt trời, còn chút thời gian còn lại hãy nói cho tôi biết! Làm sao chúng lại đến với nhau?”. Nhưng Húrin không trả lời, họ ngồi đó rất lâu bên tảng đá, không nói thêm lời nào. Khi mặt trời lặn, Morwen bổng thở dài và chấp hai tay lại, nhưng rồi bà không còn cử động, và Húrin biết rằng vợ mình đã chết. ông nhìn vào gương mặt bà trong ánh nắng hoàng hôn, và dường như những vết nhăn, những nỗi thống khổ trên khuôn mặt bà giờ đây đã tan biến. “nàng đã không bị khuất phục” lão tự nhũ. Lão vuốt mắt bà, ngồi bất động bên thi hài vợ cho đến khi mọi thứ xung quanh phủ một màu đen tang tóc.

Dòng nước Cabed Naeramarth thét rào từng đợt, nhưng lão không nghe thấy âm thanh nào, không thấy vật gì, không cảm giác được điều gì. Trái tim lão đã hoá đá. Nhưng có một cơn gió lạnh mang những cơn mưa rét buốt tạc vào mặt lão. Lão như bị kích động, căm thù nỗi lên như một làn gió, lão bổng muốn trả thù! lão muốn giết chết những kẻ làm cho gia đình lão phải hứng chịu những nỗi khổ đau nhất trên cuộc đời. Lão đứng lên làm mộ bia cho vợ, bên vờ vực Cabed Naeramarth ở phía tây bia đá. Trên đó lão khắc dòng chử: và nơi đây cũng là nơi yên nghĩ của Morwen Eledhwen.

Húrin vượt qua Teiglin, về hướng nam đến Nargothrond. Nhìn thấy xa xa là ngọn núi Amon Rûdh và lão biết rất rõ kẻ nào đang sống chốn ấy. Lão đến gần con sông Narog, đứng trước những cánh cỗng đổ nát của cung điện Felagund. Phải kể thêm rằng sau khi Glaurung rời khỏi cung điện Falegund, cuối cùng Mîm một Petty-Dwarf đã tìm ra lối đến Nargothrond, hắn lục lội trong đống đổ nát, chiếm đoạt cả kho báu, đang hưởng thụ khoái lạc mân mê những viên ngọc quý trên tay và không nghĩ rằng sẽ có kẻ nào trong đêm khuya đến quấy rầy hắn, nhưng hắn đã lầm. Có một người đã đến, một lão già với khuôn mặt dữ tợn đang đứng đó nhìn hắn với cặp mắt đầy vẽ căm thù. Mîm tiến đến, và hỏi ‘lão già kia đến đây làm gì?’ Nhưng Húrin đáp ‘ngươi là ai, vì cớ gì cản lối ta vào cung điện của Finrod Felagund?’

Tên người lùn trả lời: ‘ta là Mîm, một Người Lùn Râu Dài ngụ trong những hang động Nulukkizdîn, ta trở lại chốn này để lấy lại những gì thuộc về ta, vì chính ta là người cuối cùng trong chủng tộc.’

‘Vậy thì ngươi không còn thừa hưởng kho báu này lâu nữa’ Húrin đáp, ‘ Vì ta là Húrin con trai Galdor, trở về từ Angband, con trai ta là Túrin Turambar kẻ mà ngươi chắc hẳn chưa quên, nó đã giết chết con rồng Glaurung kẻ đã tàn phá cung điện này nơi ngươi đang ngồi. Và không ai khác ngoài ta biết được chính ngươi là kẻ phản bội con trai ta Dragon-helm của Dor-lómin’

Mîm sợ hãi và van xin Húrin lấy những gì ông muốn chỉ cần tha cho hắn mạng sống. Nhưng lão không hề lưu ý đến vời van xin thãm thiết của hắn, lão giết hắn trước khi hắn tìm đường tẩu thoát qua cánh cửa Nargothrond. Đoạn ông đi vào, ngồi lặng im khá lâu, báu vật của Valinor đang nằm tứ tung khắp lối. Nhưng ông không lấy gì cả duy chỉ có một vật, vật mà ông lấy đi nó có thể làm thay đổi cả lịch sử Trung Địa.

Lão tiến về hướng đông, đến con thác Sirion, và được những Elf canh giử nơi ấy đưa đến Doriath, đến diện kiến đức vua Thingol của vương quốc Nghìn Hang Động. Thingol rất bất ngờ nhưng cũng đau buồn khi ngài nhìn đến lão, Vì ngài nhận ra rằng lão gìa với gương mặt dữ tợn kia không ai khác hơn mà chính là vị anh hùng Húrin Thalion, tù nhân của Morgoth. Nhưng Húrin không nói một lời lão lấy ra một vật dưới áo choàng của lão, Nauglamír một xâu chuỗi ngọc vô giá của Người Lùn được làm từ những thời xa xưa, nó được làm dành riêng cho Finrod Felagund bởi những bàn khéo léo của ông cha người lùn Nogrod và Belegost, một kiệt tác mà sau này con cháu họ khó có thể làm lại được. Húrin đặt Nauglamír dưới chân Thingol, nhưng rồi lão thốt ra những lời cay đắng.

‘Xin hãy nhận lệ phí ta phải trả’ lão rống lên ‘ lệ phí cho công ngươi đã giúp đỡ con và vợ ta! đây là Nauglamír tên của nó chắc hẳn ngươi đã từng nghe qua. Ta mang nó ra từ trong bóng tối của Nargothrond, nơi Finrod để lại sau khi hắn lên đường cùng Beren để đáp ứng yêu cầu của ngươi, thưa đức vua Thingol vùng Doriath!’ Cảm thấy thương hại cho lão, Thingol dằng cơn nóng giận bỡi những lời mĩa mai cay đắng của Húrin.

Cuối cùng Melian lên tiếng ‘Húrin Thalion, Morgoth đã làm cho ngươi mê mụi, vì đã từ lâu ngươi đã bị cặp mắt gian ác của hắn làm động tâm. Thingol đã nhận Túrin làm con nuôi, nó được hai vợ chồng ta thương yêu như một vị hoàng tử. Và không phải do ta hay Thingol làm cho nó không muốn quay lại Doriath. Sau này vợ và con gái ngươi có đến đây sinh sống, họ được ta đối đãi ân cần như khách quý. Chúng ta tìm mọi cách có thể để thuyết phục Morwen không nên đến Nargothrond, nhưng ngươi phải hiểu tính tình của vợ ngươi hơn ai hết. Qua những lời nói đối trá của Morgoth, giờ đây ngươi lại trách mắng những người bạn.’

Nghe được những lời nói của Melian, Húrin đứng yên bất động, lão nhìn rất lâu vào đôi mắt vị nữ hoàng. Và trong đó lão thấy hình ảnh chốn Menegroth, nơi yên bình được bảo vệ bởi vòng phép thuật của bà, và ông thấy rõ những gì diễn ra trong quá khứ. Lão không còn nói thêm gì nữa về những chuyện đã qua, nhưng lão nhặt Nauglamír lên và đặt nó bên chân Thingol. Lão nói ‘Xin hãy nhận lấy nó, xâu chuỗi của người lùn, như một món quà của một kẻ không còn gì, xin hãy nhớ đến Húrin vùng Dor-lómin, giờ đây tâm nguyện ta đã hoàn thành, ta không muốn làm nô lệ cho cuộc đời đau khổ này thêm nữa.’

Lão bỏ ra đi, ra khỏi vương quốc Nghìn Hang Động, lão chỉ thấy bóng tối trước mặt mình. Không một ai biết lão đã đi đâu, nhưng họ nói rằng Húrin sau đó không còn muốn sống nữa, vì đã mất đi định hướng và thú vui của cuộc đời, lão lao thân vào đáy đại dương, và thế là hết thúc cuộc đời của một vị anh hùng tài ba của loài người.

Khi Húrin ra đi, Thingol ngồi rất lâu trong im lặng, nhìn vào báu vật nằm dưới chân ông. Và ông nãy sinh một ý tưởng, ông sẽ làm mới lại xâu chuỗi này. Những năm gần đây, Thingol không phút nào không nghĩ đến Silmaril viên ngọc của Fëanor, số phận ông đã dính chặt với nó, và không muốn để nó yên nghĩ phía sau cánh cửa căn phòng đầy báu vật. Giờ đây ông muốn luôn mang nó bên mình mọi lúc, mọi nơi, khi đi, khi ngủ.

Vào những ngày này, người lùn vẫn đến Beleriand từ lãnh địa của họ tận chốn Ered Lindon, họ vượt qua Gelion, theo lối mòn đến Doriath. Họ là những thiên tài về nghệ luyện kim, và nơi chốn vương quốc Doriath, Thingol rất cần đến bản lĩnh của họ để làm nên những báu vật vô giá. Họ không còn dám đến theo từng nhóm nhỏ mà đến với một đoàn người rất đông và có trang bị vũ khí, vì vùng đất nằm giữa Aros và Gelion vô cùng nguy hiểm. Đó cũng là thời điểm thích hợp khi họ đến Doriath, đức vua Thingol đón tiếp họ nồng hậu vì ngài cần họ giúp sức. Ông muốn họ làm lại xâu chuỗi Nauglamír và ở giữa sẽ đính thêm viên ngọc Silmaril! Người lùn nhìn vào xâu chuỗi với niềm phấn khích, một kiệt tác của ông cha họ để lại. họ lại nhìn vào viên ngọc, trong đời họ chưa được nhìn thấy viên ngọc nào đẹp đến thế, quý giá đến thế. Họ xin phép đức vua xây cho họ một hầm luyện kim, để họ có thể làm lại xâu chuỗi cho ngài, nhưng tâm trí họ thì không cưỡng được sức quyến rũ của Silmaril.
Họ miệt mài làm việc rất lâu năm này qua tháng nọ, Thingol thường hay đến chổ họ làm để quan sát. Một hôm ông đến cũng là ngày họ hoàn thành kiệt tác, mong ước của ông giờ đã tội nguyện. họ đã làm nên một báu vật vô giá, một vật giá trị nhất trong thế giới loài Người và Elves. Những ánh hào quang nó phát ra chiếu sáng trên những khuôn mặt thèm thuồng của người Lùn. Giờ đây không có món châu báu nào có thể so sánh được với nó, không có ánh sáng nào có thể lung linh hơn những tia sáng phát ra từ viên ngọc Silmaril, ánh sáng của thời xa xưa trước khi có sự xuất hiện của mặt trời và mặt trăng.

Thingol một mình và xung quanh ông là vô số người Lùn. Ông lấy báu vật lên, đeo nó vào cổ, nhưng vào lúc ấy lòng tham của người lùn không kiềm được nữa, họ hét lên ‘ngươi không có quyền lấy nó, Elf không có quyền giử lấy báu vật của Nauglamír (người lùn), Nó được làm bởi ông cha ta dành tặng riêng cho Finrod Felagund, người đã chết. Nó đến với ngươi bởi bàn tay của Húrin, kẻ đã đánh cắp nó trong bóng tối Nargothrond.’

Thingol đã thấy được dã tâm của họ là có được Silmaril, Ông giận dữ nói với họ những lời khinh miệt và ngạo mạng ‘Bọn ngươi cả gan dám ra lệnh cho ta, Elu Thingolm, chúa tể của Beleriand. Kẻ đã ra đời trước khi tổ tiên ngươi được đánh thức.’ Ông đứng đó cao lớn, kiêu ngạo và đầy thách thức.

Những người lùn tham lam đã nỗi lên cơn thịnh nộ bởi lời lẽ của Thingol. Chúng bao vây ông, tấn công và giết chết ông. Và thế là kết thúc cuộc đời của vị vua nơi chốn thâm sâu, Menegroth Elwë Singollo, đức vua Doriath, người duy nhất đã lấy một Ainur làm vợ, và trong phút giây sau cùng ông còn nhìn thấy được ánh sáng từ Hai Cây không ngừng phát ra từ viên ngọc Silmaril.

Bọn người lùn chiếm lấy Nauglamír và chốn khỏi Menegroth về lãnh địa bọn chúng, nhưng tin tức về cái chết của đức vua đã bị bại lộ, họ bị truy sát khi đang tìm đường tẩu thoát. Nauglamír được lấy lại, mang đến bên nữ hoàng Melian trong niềm cay đắng. Tuy nhiên có người trong số họ đã kịp thời trốn thoát, họ thuộc nhóm người lùn Nogrod. Họ kể về cuộc truy sát, và nói rằng Người Lùn bị thãm sát dưới mệnh lênh của vua Thingol, kẻ đã lừa gạt phần thưởng họ có được sau nhiều năm làm việc vất vã.

Những người lùn Nogrod than khóc, họ vô cùng câm phẫn cho cái chết của đồng loại và thề sẽ trả thù. Họ suy tính âm mưu và tìm đến sự giúp sức của nhóm người lùn Belegost, tuy nhiên đã bị chối từ. Cuối cùng họ quyết định tiến binh tấn công Beleriand.

Ở Doriath mọi thứ giờ đây bắt đầu thay đổi, Melian ngồi rất lâu trong im lặng bên cạnh xác chết của chồng, bà nhớ về những ánh sáng của những vì sao lần đầu khi họ gặp gỡ. Bà biết rằng vợ chồng bà sẽ xa nhau mãi mãi, và Doriath sẽ bị bao phủ bởi một màu tang tóc. Melian là một Maia thần thông quãng đại, nhưng với tình yêu dành cho Elwë Singollo bà đã quyết định trở thành Elder, một đứa con của Ilúvatar, bà đã dùng thần thông để tạo ra vòng tròn phép thuật bảo vệ Doriath chống lại thế lực ma quỷ từ bấy lâu nay. Nhưng nay Thingol đã chết, và linh hồn ông đã đến Ngôi Nhà Chết của Mandos, cái chết của ông dẫn đến sự thay đổi lớn trong Melian, bà không còn quyến luyến gì chốn Trung Địa, ở đó với bà chỉ có khổ đau. Bà đã thu hồi phép thuật, gỡ bỏ vòng bảo vệ cho khu rừng Neldoreth và các vùng lân cận. Doriath giờ đây nằm trơ trội và có thể bị tấn công bất cứ lúc nào.

Nhưng Melian không nói chuyện đó cho một ai duy chỉ có Mablung người mà bà vô cùng tin cậy, bà nhờ Mablung mang viên ngọc Silamril đến Beren và Lúthien. Sau đó bà biến mất khỏi trung địa, về lại vùng đất của Valar tận chân trời tây của đại dương.

Lúc ấy tinh binh của Naugrim (người lùn) đã vượt qua Aros đến khu rừng Doriath, quân bảo vệ không một ai có thể chịu nỗi sức mạnh của họ, bởi họ đang nỗi lên ngọn lửa hận thù. Trong trận chiến dưới vương quốc Nghìn Hang Động, rất nhiều Elves và Dwarves bị chết, và không một ai sau này có thể quên được ngày đó, cuộc chiến đã làm rạn nứt mối quan hệ giửa Elves và Dwarves vốn bấy lâu nay gìn giử. Nhưng sau cùng chiến thắng thuộc về người lùn, cung điện của Thingol bị cướp phá và nhiều châu báu bị đánh cắp. Và cũng nơi ấy, Mablung chiến đấu oanh liệt đến hơi thở cuối cùng, Silmaril đã bị người lùn chiếm được trước khi nó đến được tay Lúthien và Beren.

Thời gian ấy Beren và Lúthien đang sống tại Tol Galen, thảo nguyên xanh. Con trai của họ là Dior Eluchíl lấy Eluchíl làm vợ. Họ có với nhau hai người con trai đặt tên là Eluréd và Elurín. Họ cũng có thêm một người con gái tên Elwing, Elwing là tên của một vì sao vì khi nàng sinh ra ánh sáng những vì tinh tú đã chiếu khắp nhà nàng.

Giờ tin tức lan truyền bởi Elf sống tại Ossiriand rằng Người Lùn với đã tấn công và tiêu diệt Doriath, những tin này cũng đến tai Beren và Lúthien. Beren rời khỏi Tol Galen cùng với con trai Dior, vượt qua sông Ascar, đi với họ còn rất nhiều Elves Xanh của Ossiriand.

Vào lúc ấy, tàn binh của Người Lùn quay về từ Menegroth, khi họ đến Sarn Athrad họ bị tấn công bất ngờ bỡi kẻ thù vô danh. Khi họ tiến đến con sông Gelion, xung quanh bổng nỗi lên những tiếng còi, kẻ địch tấn công họ từ mọi hướng. Rất nhiều Người lùn bị giết trong đợt giao tranh đầu tiên, kẻ sống sót chạy về hướng đông, bên chân ngọn núi Mount Dolmed họ bị tiêu diệt không ai sống sót. Trong chận chiến tại Sarn Athra, Beren đã chiến đấu trận đánh cuối cùng của đời mình, chàng giết chết vua Nogrod, và lấy lại xâu chuỗi, nhưng chàng vô cùng bất ngờ bởi trên xâu chuỗi kia là viên ngọc Silmaril do chính tay chàng đoạt lấy từ trên vương miệng sắt của Morgoth. Tất cả các báu vật của Doriath bị chàng vùi chôn dưới đáy sông Ascar, từ đó con sông có thêm tên mới nó được gọi là Rathlórie. Beren giử lại xâu chuỗi Nauglamír và trở về Tol Galen.

Lúthien vô cùng đau buồn khi biết tin về cái chết của vua Nogrod cùng nhiều người lùn, vì nàng biết rằng nó sẽ là nguồn khởi đầu cho sự câm thù giửa Elves và Người Lùn. Và truyện kể rằng khi Lúthien cất cao giọng hát, nàng đeo vào người xâu chuỗi có đính Silmaril, viên ngọc thần thánh đã phát ra những ánh sáng lộng lẫy, Ở tận chốn Valior ánh sang từ vùng đất Người Chết Trở Về lấp lánh ánh hào quang. Và vùng đất ấy trở nên vô cùng xinh đẹp, màu mỡ, đơm hoa kết trái, vùng đất thiên thần nơi chốn trần gian.

Dior giờ là người kế thừa ngai vàng của Thingol, chàng nói lời tạm biệt cùng Beren và Lúthien, cùng với vợ là Nimloth đi đến Menegroth, đi với họ còn có hai đứa con trai bé nhỏ là Eluréd and Elurín, và con gái Elwing. Sự trở về của Dior mang lại niềm vui cho thần dân Doriath, xoa dịu nỗi buồn đau mà họ đã hứng chịu.

Vào một buổi tối mùa thu, một người đến trước cửa thành Menegroth, thỉnh cầu gặp đức vua. Ông ta là một thủ lĩnh người Elves Xanh chốn Ossirian, ông trao cho vua Dior một chiếc hộp báu, trong đó là xâu chuỗi ở giữa có đính viên ngọc Silmaril. Dior đau buồn nhìn báu vật vì chàng cũng biết được rằng cha mẹ chàng, Beren Erchamion và Lúthien Tinúviel đã qua đời.

Trái tim của những đứa con Fëanor không bao giờ ngủ yên bởi lời thề khi xưa. Khi Lúthien mang xâu chuỗi, họ không dám chiếm đoạt nó từ tay nàng, nhưng giờ nghe tin nó đã có chủ nhân mới, họ gởi tin cho Dior và muốn lấy lại Silmaril. Dior không trả lời, Celegorm liền khơi dậy hận thù và cùng anh em tấn công vào Doriath, Doriath một lần nữa chìm trong khói lửa, họ tấn công bất ngờ vào một ngày giữa đông, và đó là trận chiến lần thứ hai giữa Elf và Elf. Trong trận chiến ấy, Celegorm và Curufin đều bị Dior giết, nhưng chàng và vợ cũng hy sinh. Thuộc của Celegorm bắt hai đứa con trai của Dior và bỏ đói chúng trong khu rừng hoang, Maedhros vô cùng câm tức về hành động ác độc của chúng, ông ra lệnh tìm hai đứa trẻ mang về nhưng họ vẫn không sao tìm được. Số phận của Eluréd và Elurín sau này không một ai biết.

Doriath cuối cùng đã bị huỷ diệt, nhưng những đứa con của Fëanor không lấy được những gì mà họ muốn. Những người sống sót còn lại cùng với Elwing con gái của Dior mang theo Silmaril trốn thoát. Họ sống lại trên cửa khẩu Sirion và chờ đợi thời cơ phục quốc.

 

Sự Sụp Đổ Của Gondolin – Dịch Từ The Book of Lost Tales

Trước khi vào truyện mình xin nói sơ qua lịch sử cũng như cấu trúc Gondolin để cho các bạn dễ dàng theo dõi

Vào năm 55 của kỷ thứ nhất, vị thần nước Ulmo đã đến mách bảo Turgon trong giấc chiêm bao rằng hãy tìm đến thung lũng Tumladen và xây dựng nơi ấy một thành phố bí mật. Thành phố Gondolin được xây dựng vào năm 116 Kỷ thứ I. Thần dân dưới sự cai trị của Turgon đã di dân đến đó một cách bí mật từ Nevrast.

Thung lũng hình tròn Tumladen bao vây là những dãy núi cao vững chắc gọi chung là Encircling Mountains (hay còn gọi là Echoriath), xưa kia vốn là một cái hồ khổng lồ. Nằm ở giữa là một ngọn đồi to ngày xưa là vốn là một hòn đảo có tên gọi Amon Gwareth và thành phố Gondolin được xây trên nền của ngọn đồi Amon Gwareth. Turgon đã quyết định xây dựng thành phố Gondolin để tưởng nhớ đến thành phố cổ hùng vĩ Tirion, quê hương xa vời bên kia bờ biển Tây.

Nó cần đến 52 năm để xây dựng xong toà nhà đầu tiên. Sau thời gian đó Turgon cùng một số lượng rất đông Noldor và Sindar đã bí mật đi vào thung lũng Tumladen. Turgon đặt tên cho nó là Ondolindë tiếng Quenya có nghĩa là Núi Đá của Nhạc Nước, nhưng theo ngôn ngữ Sindarin thì nó có tên là Gondolin nghĩa là Hòn Đá Bí Mật.

Sau khi đến đó định cư, Gondolin tiếp tục được xây dựng vàp phát triển cực thịnh và xinh đẹp như thành phố Tirion chốn thiên đường. Những bức tường trắng của nó cao sừng sững, cao nhất là Lâu Đài Trắng của Đức Vua và xung quanh là những Tháp Nước khổng lồ. Cũng chính nơi đó đích thân đức vua Turgon đã làm nên hai cây Glingal và Belthil, Cây Vàng và Cây Bạc để tưởng nhớ đến Hai Cây của Valinor.

Echoriath hay Dãy Núi Bao Quanh (Encircling Mountains) tạo thành một cấu trúc trông như một miệng núi lửa khổng lồ. Lối vào duy nhất gọi là Lối Đi Bí Mật hay còn gọi là Lối Thoát Hiểm(The Hidden Way – The Way of Escape) bao gồm đường hầm của một con sông khô cạn và khe núi. Lối vào bị chắn lại bởi một hệ thống gồm 7 chiếc cửa kiên cố và lúc nào cũng được canh phòng cẩn mật. Chúng được làm từ gỗ, đá, đồng, sắt, bạc, vàng và thép. Cánh Cổng Đen (Cổng ngoài cùng ) nằm bên trong đường hầm, trong khi các cánh cổng còn lại nằm trong khe núi và chúng được gọi là Orfalch Echor.

Một khi tiến vào thung lũng, lối đi duy nhất để đến được thành phố là leo lên nhiều bật thang cao ngất để đến được Cổng Chính bởi những sườn đồi nơi ấy rất dốc, đặc biệt là đỉnh Caragdûr nằm ở hướng bắc.

Theo bản vẽ của Tolkien thì Amon Gwareth có chiều cao 400 feet và đỉnh của nó khá bằng phẳng. Lâu Đài của Đức Vua có chiều cao tương đương, cao gần 800 feet so với đáy thung lũng.

Gondolin phân chia thành 11 “Nhà” hay còn gọi là “Thlim”. Sau này khi Tuor đến Gondolin sinh sống thì chàng là thủ lĩnh của một Nhà mới là Nhà Cánh Trắng, nâng tổng số lên 12.

Chương 1: Cuộc Phiêu Lưu Của Tuor

 Tour and Gondolin

Chuyện kể rằng Tuor sống lang thang trong những khu rừng và chưa từng biết chưa từng nghe thấy đại dương hay hát những bài hát về chúng. Chàng sống quanh một bờ hồ tên gọi Mithrim, chàng săn bắn trong rừng, gãi lên những điệu nhạc ngọt ngào từ chiếc đàn gỗ đơn sơ. Giờ đây nhiều người đã nghe đến biệt danh và tài nghệ của chàng, kẻ gần người xa mong muốn tìm đến để nghe được tiếng đàn Tuor, nhưng Tuor đã ra đi và đến sống những nơi quạnh quẽ. Ở nơi đấy chàng gặp những người Noldoli (người Noldor còn được gọi là Noldoli hoặc Gnome), họ dạy chàng ngôn ngữ và phong tục của họ, nhưng định mệnh của chàng không phải gắn chặt với những khu rừng êm đềm này.

Có lẽ vì phép thần hay định mệnh đẩy đưa đã khiến cho một ngày kia chàng tìm thấy một hang động, nơi đó có một con sông bí mật chảy từ hồ Mithrim. Tuor đi vào hang, tìm hiểu hết bí mật của nó, nhưng dòng nước Mithrim đã dẫn lối chàng tiến về phía trước, vào sâu trong tận cùng trái tim lồng núi và chàng không thể nào quay trở về để tìm lại ánh sáng.

Tìm kiếm lối đi trong bóng tối, len lõi từng ngõ ngách của vách núi cho đến khi chàng tìm thấy ánh sáng một lần nữa. Chàng trông thấy một con sông chảy cuồn cuộn qua khe núi, nó khá sâu và hai bên sườn không có lối đi. Giờ đây Tuor không còn mong muốn quay về và theo chiều con sông phiêu lưu mãi về hướng Tây.

Mặt trời mộc sau lưng và lặn trước mặt chàng, và nơi đó có những con thác nước bắn tung tóe, và nhiều lúc cồng vồng xuất hiện ngang qua khe núi và vì lý do đó Tuor goi nó là Golden Cleft (Khe Núi Vàng) hay Rainbow Roof (Nốc Cầu Vồng), theo ngôn ngữ của Noldor nó còn được Cris Ilbranteloth.

Sau ba ngày hành trình, chàng uống nước từ con sông kỳ bí, bắt những con cá vàng, xanh, bạc với nhiều hình thù kỳ lạ. Cho đến khi chàng đến được một nơi, nơi ấy khe núi chợt rộng ra, hai bên sườn núi chũng xuống và gập ghềnh. Rất lâu Tuor nhìn ngấm và lắng nghe tiếng nước chảy, chàng băng qua những tảng đá và cất vang tiếng hát. Những vì sao từ xa chen chút qua vách đá chiếu gọi như đáp trả lại những điệu nhạc từ chiếc đàn thô sơ của chàng.

Một buổi chiều kia, Tuor nghe thấy một tiếng kêu kỳ lạ, chàng không biết nó xuất phát từ đâu hay đấy là tiếng kêu của loài vật nào. Nó có thể là những con thú sống quanh những tảng đá hoặc dường như đó là tiếng kêu của một loài chim xa lạ, tiếng kêu chàng chưa từng nghe thấy cho nên âm thanh kia dù nghe có não nề chàng vẫn mừng thầm trong dạ. Buổi sáng hôm sau chàng lại nghe thấy tiếng kêu ấy, nhìn lên trên chàng trông thấy ba con chim trắng to đang đập những đôi cánh mạnh mẽ bay ngược chiều gió. Chúng là những con chim Mòng Biển, những con chim của Ossë. Quanh con sông này có một bờ đá to, nơi đó có bãi cát trắng và Tuor tìm đến đó trú chân.Chàng không hay biết rằng mình đang tiến gần ranh giới của Đại Dương (The Great Sea).

Chàng đi dọc theo dòng nước chảy qua những khe núi cho đến khi đến được một vùng đất có nhiều cây xanh tươi, chúng rung mình theo những cơn gió đến từ rất xa, chàng tiếp tục lang thang cho đến khi tìm thấy một vực đá đen nằm gần bờ biển và đó là lần đầu tiên chàng trông thấy đại dương và nghe thấy những đợt sóng biển dạt dào. Chàng đứng trên dốc đá mở rộng đôi tay, trái tim chàng cảm thấy lâng lâng khó tả, như có một tình yêu kỳ lạ chàng dành cho đại dương. Nhiều người cho rằng chàng là con người đầu tiên đặt chân đến biển, và khi nhìn đến nó chàng hiểu được ý muốn của nó.

Vào một buổi chiều tối khi mặt trời nấp mình sau vách đá, niềm khao khát phiêu lưu một lần nữa đốt cháy trong lòng chàng. Sáng hôm sau chàng nhìn ra biển và đó là một ngày cuối cùng của mùa hè. Tuor trông thấy ba con thiên nga trắng đang bay đến từ phương bắc. Loài chim này Tuor lần đầu trông thấy và chàng xem đó là một dấu hiệu lạ. Chàng nhũ thầm: “ Đã lâu trái tim đã mách bảo ta rời bỏ chốn này. Thôi thì ta hãy theo dấu ba con chim kia”. Những con chim thiên nga đáp chân mặt hồ và chúng đang chuẩn bị xãy cánh bay xa về hướng nam dọc theo bờ biển, Tuor vội lấy đàn và ngọn giáo chạy theo sau chúng.

Chàng theo chúng đến một vùng đất một lần nữa có rất nhiều cây xanh, tuy nhiên nơi ấy trông vô cùng xa lạ so với những nơi chàng đã từng đi qua. Chàng trèo lên dốc đá cao nhìn thấy xung quanh là những cây tùng, cây sồi già nua. Từ dưới chân những ngọn đồi chàng ngữi thấy trong gió có mùi hương biển mặn mà cùng những cơn gió của đại dương. Những con thiên nga đã bay xa trước mặt chàng, chúng lượn quanh bất ngờ và chậm chạp bay đi nhưng không bao giờ đáp xuống mặt đất, chúng đập những đôi cánh mạnh mẽ như có vẽ hối thúc chàng. Giờ đây vùng đất này nằm xa hướng bắc, đó là một vùng đất trù phú với những đồng cỏ xanh mượt và những cây cao chót vót. Tiếng chim hót lếu lo trong gió, và cũng nơi đây Tuor đã mất dấu những cánh chim trắng của loài chim thiên nga và không còn gặp lại chúng.

Chàng ở lại nơi đó khá lâu, có lẽ cảm thấy mệt mõi với đại dương hoặc theo mong muốn của vị thần Ulmo, vào một buổi tối có một nhóm người Noldor đến và đánh thức chàng trong giấc ngủ. Họ mang đến những chiếc lồng đèn phát ra một màu xanh kỳ lạ và dẫn lối chàng trong bóng tối, đại dương và sóng biển chàng bỏ lại phía sau. Và không lâu chàng đến được một vùng đất tên gọi Arlisgion. Nơi ấy có một con sông vô cùng nỗi tiếng trong lịch sử của Eldar và Noldor, và trong tất cả ngôn ngữ nó có tên gọi Sirion. Chàng tiếp tục phiêu lưu từ xuân sang hạ đến một vùng đất xinh đẹp hơn. Nơi ấy có những con chim bé nhỏ với tiếng hót êm tai. Không có loài chim nào có những tiếng hót hay như thế bởi chúng là loài chim của Vùng Đất Dương Liễu (Land of Willows) hay còn được gọi là Nan-tathren. Nơi ấy cỏ xanh rờn, với vô số cây dương liễu với tuổi thọ không sao đoán được. Chàng vui sướng khi lần đầu trông thấy những cánh bướm xinh đẹp, truyền thuyết cho rằng tổ tiên của tất cả loài bướm đều có nguồn gốc từ thung lũng Dương Liễu. Mùa hè lại đến, Tuor bất ngờ khi nghe thấy những tiếng kêu vo ve của các loài côn trùng, những con ông hút mật trên cành, chàng đặt tên cho chúng và đưa chúng vào những bài hát mà chàng nghĩ ra.

Giờ đây vị thần Ulmo e sợ Tuor sẽ sống mãi nơi xinh đẹp ấy. Ngài không an tâm khi trao trọng trách cho những người Noldor mà ngài bí mật liên lạc để đến hướng dẫn Tuor. Giờ đây ngài lên một cỗ xe với hình thù kỳ quái từ phía trước lâu đài của ngài nằm xa Outer Sea (Outer Sea còn có tên gọi Ekkaia hay Encircling Sea, Đại Dương Bao Quanh. Nó là một đại dương bao bộc quanh tất cả các vùng đất của Arda, Trung Địa và Aman). Cỗ xe có hình thù như một con cá voi khổng lồ, với tiếng tiếng còi từ vỏ ốc ngài tăng tốc lên đường. Ngài đi với tốc độ kinh hoàng và không lâu đã đến cửa khẩu con sông. Ngồi trên cỗ xe, ngài lo sợ sẽ làm tổn thương đến những con nước và bờ cát xinh đẹp của nó vì Ulmo yêu thương tất cả các con sông và đặc biệt là chính con sông này. Ngài đi chân không, vận một áo giáp với những lớp như những vãi cá to xanh và bạc. Tóc của ngài ánh một màu xanh bạc và râu ngài dài đến chân với cùng màu sắc, ngài không hề đội mũ hay vương miện. Bên dưới chiếc áo giáp là chiếc áo với màu xanh lá cây, chúng làm từ vật liệu gì thì không ai biết, nhưng bất kỳ ai nhìn vào màu áo ấy như được trông thấy những động tĩnh từ những nơi sâu xa nhất dưới lồng đại dương nơi nhưng loài cá phát quang ra những màu xanh kỳ lạ, lưng ngài đeo một sợi dây trên đó đính một viên ngọc rất to.

Ngài cũng mang theo một nhạc cụ kỳ lạ bởi nó được làm từ những vỏ ốc rất dài, vặn vẹo và được xuyên thủng nhiều lổ nhỏ. Ngài thổi lên những điêu nhạc kỳ bí với những ngón tay dài ngoằng, điệu nhạc ấy hay hơn tất cả các làn điều mà các nhạc công tài ba nhất từng chơi trên đàn hạc, sáo, hay tiêu. Đó là buổi tối khi Tuor nghe thấy những âm thanh kỳ lạ. Quỳ dưới những bãi cỏ dài, chàng không còn nghe thấy những tiếng kêu của côn trùng, những tiếng ai oán bên kia bờ sông, những mùi hương cỏ dại không còn xông vào mũi chàng.

Đoạn Ulmo xuất hiện và đến nói chuyện cùng chàng. Giọng nói ngài sâu thẵm và cặp mắt ngài chất chứa những gì đó sâu thẵm của tất cả vạn vật. Ngài bảo rằng “O Tuor trái tim cô đơn. Ta sẽ không để con sống mãi nơi này, dù nơi đây xinh đẹp có hoa thơm cỏ lạ, có muôn chim với những tiếng hót ngọt ngào. Nhưng số phận con không thuộc chốn này, giờ con phải lên đường vượt qua những vùng đất lạ tìm kiếm một thành phố có tên gọi Gondolin, và người Noldor sẽ đến hộ tống con trong bí mật để tránh tai mắt của Melko. Những lời nói ta đã đặt trên miệng con, và nơi ấy con sẽ sống lại rất lâu. Vâng có thể một lần nữa định mệnh sẽ khiến xui con đến đại dương thêm một lần nữa, và chắc rằng một đứa trẻ sẽ khám phá ra lối đi từ đại dương đến chốn thiên đường mà không một ai tìm thấy.” Đoạn Ulmo nói với Tuor những gì ngài mong ước và kế hoạch của mình, nhưng lúc ấy Tuor bối rối vì sợ hãi nên hiểu rất ít những gì Ulmo dạy bảo.

Chương 2: Tuor Đến Gondolin

Ngày hôm sau Tuor mệt mỏi và ngủ cho đến tối, người Noldoli đã đến và hướng dẫn chàng tìm lối đi. Họ đi rất nhiều ngày, qua nhiều nơi, đi khi đêm đến và ngủ khi mặt trời ló dạng. Cũng vì lý đó sau này Tuor không còn nhớ được những nơi chàng đã đi qua. Giờ đây Tuor và nhóm người đồng hành lên đường không ngừng nghĩ, họ đến nơi mà vùng đất càng hiểm trở với nhiều vực sâu và suối. Nhưng đã đến lúc người Noldoli cảm thấy lo sợ, trong lòng bất an và bảo rằng “chúng ta đã đến lãnh địa những nơi Melko tàn phá và những người nơi đây hắn bắt làm nô lệ. Không xa lắm nơi này về hướng bắc là Dãy Núi Sắt, đấy là lãnh địa của Melko. Cuộc hành trình này chúng ta đi trong bí mật nhưng một khi biết được Melko sẽ tra tấn bọn ta bằng loài ác thú Balrogs.”

Cảm thấy lo sợ nhóm người Noldoli đã giã từ Tuor, để mình chàng cất bước lên đường. Họ hướng dẫn cho chàng những lối đi an toàn bằng những đường hầm bí mật qua những ngọn đồi. Nhưng giờ đây chàng lạc lối và phải leo lên những đỉnh đồi cao để định hướng. Xung quanh nơi ấy không một bóng người, hơn nữa Gondolin không phải là một nơi đơn giãn dễ dàng tìm thấy.

Giờ đây có một người trong nhóm Noldoli tên gọi Voronwë can đảm vượt qua sợ hãi và quyết tìm Tuor giúp đỡ chàng. Tuor đang nghĩ chân bên con suối, trái tim chàng nhung nhớ về biển và mong ước quay về đó sinh sống, nhưng Voronwë đã đến và bảo rằng” Ôi Tuor, một ngày nào đó ngươi sẽ tìm thấy những gì ngươi mong muốn nhưng giờ đây hãy lên đường vì ta sẽ giúp ngươi tìm đường đến Gondolin, tuy ta không biết rỏ lối đi, nhưng rất sẵn lòng hộ tống ngươi. Chúng ta sẽ tìm thấy thành phố Gondolin và tìm được nơi đó cuộc sống tự do. Biết được rằng người Gondolin là tộc Noldoli duy nhất thoát khỏi sự thống trị của Melko sau trận chiến Unnumbered Tears (Vô Vàn Nước Mắt). sau trận chiến ấy hắn đã giết hoặc bắt giam kẻ địch, nguyền rủa họ và giam cầm họ trong Địa Nguc Sắt (Hells of Iron).

Rất lâu trong cuộc hành trình Tuor và Voronwë đến được một thung lũng khá sâu. Nơi ấy có một con sông chảy qua những khe đá phát ra những âm thanh ồn ào, giục giã như hối thúc. Nơi đó có một vách đá phủ đầy rêu xanh, Voronwë tìm thấy một khoảng trống trông như một chiếc cửa. Nó được bao phũ bởi đám cỏ dại dầy đặc đan xen lên nhau. Nếu không có đôi mắt sáng thì Voronwë khó lòng phát hiện ra nó, hơn nữa vị thần Ulmo đã đặt lên nó một câu thần chú oai lực để ngăn cản kẻ khác phát hiện ra. Không một ai ngoài trừ những người mang trong mình dòng máu Noldoli với đôi mắt tinh anh mới phát hiện ra nó.

Tuor và Voronwë vui mừng khôn xiết vì đã tìm được cánh cửa bí mật, bên trong là một lối đi đen tối, gập ghềnh và uốn khúc. Họ cứ đi mãi đi mãi và bổng nghe phía sau họ có những âm thanh vang dội dường như là bước chân người. Voronwë bảo rằng: “Đó có thể là bọn goblins của Melko, những con Orcs của ngọn đồi”. Họ bỏ chạy trong sợ hãi cho đến khi phát hiện trước mặt có một nguồn ánh sáng loe loét. Từ nguồn ánh sáng đó họ phát hiện ra một cánh cửa trông giống cái cửa lúc trước nhưng to hơn gấp bội. Bất thình lình có tiếng binh giáp, và khi bình tĩnh lại thì đã phát hiện họ đang bị bao vây bởi toán binh vận trong người áo giáp và trang bị vũ khí.

Hiện họ đang ở chân của những ngọn đồi thẳng dốc, và những ngọn đồi này làm thành một vòng tròn bao quanh một một vùng phẳng rộng lớn. Cách xa nơi họ đứng là một ngọn đồi rất to và trên đỉnh của nó là một thành phố đang chào đón ánh bình minh của mặt trời.

Khi Voronwë nói chuyện thì toán lính canh nhận ra được ngôn ngữ quen thuộc vì nó thuộc tộc elf Noldoli. Tuor hỏi họ là ai, nơi đây là chốn nào và lấy làm thích thú với vũ khí mà họ đang sử dụng. Một người trong số họ trả lời: “Bọn ta là lính canh “Lối Thoát Hiểm (Lối Đi Bí Mật)”. Rất mai mắn cho các ngươi vì đã tìm ra nó và trước mặt các ngươi là Thành Phố với 7 Tên Gọi, nơi kẻ thù của Melko có thể đến làm chổ nương thân. Trong ngôn ngữ thông thường thành phố này còn có tên là Gondolin. Đoạn Voronwë nói “Xin hãy đưa chúng tôi vào diện kiến đức vua vì có việc vô cùng hệ trọng cần nói đến ngài.” Họ đáp rằng các ngươi có thể đi tiếp mà không cần người dẫn đường vì nó nằm đấy rất dễ nhận thấy cùng những toà lâu đài cao ngất đến tận chốn thiên đường. Tuor và Voronwë tiếp tục đi cho đến khi họ đến chân của Đồi Tháp Canh (trong ngôn ngữ Noldor nó còn được gọi là Amon Gwareth, thành phố Gondolin được xây trên ngọn đồi đó), họ đặt chân lên những bật thang cao thẳng tấp để đến được Cổng Chính của thành phố vì đấy là lối đi duy nhất. Và khi những tia nắng vàng ấm áp cuối cùng của mặt trời chiếu gọi cũng là lúc họ đến được nơi cao nhất, bên dưới có nhiều cập mắt tò mò theo dõi bước chân họ.

Tuor nhìn thấy những bức tường đá, những toà tháp nhọn cao, đến những bậc tam cấp được làm từ đá và hoa cương, những lối đi xinh xắn và không khí trở nên mát mẽ vì những Tháp Nước của Amon Gwareth. Tuor cứ ngỡ đang trong giấc mơ bởi những gì chàng trông thấy ngoài sức tưởng tượng đối với một người phàm tục, chàng say sưa nhìn ngấm thành phố hào hao Gondollin.

Trước cổng thành có đặt một chiếc chuông báo động, một đám đông tò mò vây lấy họ, mừng rỡ vì đã có thêm một người Noldor thoát khỏi sự thống trị của Melko, bất ngờ vì trước mắt họ là Tuor bởi chàng đang mang một ngọn giáo với đỉnh được làm từ xương cá, dáng dấp phong trần và đang mặc trong người là quần áo được làm từ da gấu. Chàng đứng đấy cao lớn và oai phong.

Một người lính gát đến và bảo rằng: “đây là một thành phố Gondolin nơi những người yêu tự do với trái tim chân thật có thể đến làm chổ nương thân nhưng sẽ không cho những kẻ lạ mặt bước vào, hãy khai mau danh tánh. Voronwë tự xưng là Bronweg thuộc người Gnomes đến đây từ mong muốn của Ulmo đễ dẫn đường cho một đứa con của loài người, và Tuor bảo rằng: “Ta là Tuor con trai của Huor, những đứa con của con người phương bắc sống rất xa nơi đây, đến đây bởi mong muốn của vị thần Ulmo từ Outer Oceans.” Tất cả lắng nghe trong im lặng vì giọng nói trầm đặc biệt của chàng làm họ say mê, nó ấm áp và ngọt ngào như điệu nhạc của đại dương. Một người nói “mang họ đến diện kiến đức vua”.

Những con đường đá thành Gondolin rộng thênh thang, những ngôi nhà xinh đẹp cùng những khu vườn với những bông hoa sáng rực hai bên đường. Nhiều toà nhà rất cao được làm từ những tảng đá đã được đẽo khắc vô cùng tinh xảo. Quãng trường với những tháp nước to lớn và nơi ấy những con chim đang hót ríu rít trên cành. Nhưng xinh đẹp hơn hùng vĩ hơn cả là lâu đài của đức vua. Nó là toà tháp cao nhất, trước cửa vào là những tháp nước phun ra 7 vòi nước lên không trung và khi rơi xuống chúng đã làm nên hạt mưa sáng lóng lánh như những hạt thuỷ tinh. Nơi ấy, ngày đến có ánh mặt trời chiếu gọi, đêm đến có ánh trăng vàng huyền diệu sưởi ấm. Những con chim sống nơi đó chúng trắng như tuyết với tiếng hót ngọt ngào hơn cả những lời ru.

Hai bên cửa vào có trồng Hai Cây, một cây hoa vàng và một cây hoa bạc. Chúng không bao giờ tàn héo bởi chúng có mầm móng từ những giống cây nơi chốn thiên đường Valinor. Hai Cây có tên gọi là Glingol và Bansil.

Đoạn đức vua Turgon thành Gondolin mặc trong người cẩm bào trắng, mang thắt lưng vàng, đầu đội một chiếc mũ đính hồng ngọc đứng trước cửa và nói “Chào mừng, Ôi những người con của vùng đất chịu nhiều khổ đau. Sự có mặt của các ngươi đã viết lên một trang sử mới cho Gondolin!”
Vị thần Ulmo đã đặt một phép thuật lên trái tim và bờ môi Tuor, chàng nói “Ôi người cha của thành phố Đá Trắng, tôi được nhờ đến đây bởi vị thần Ulmo, người đã làm nên điệu nhạc tận những nơi trống rỗng của thế giới, người hiểu được suy nghĩ của những đứa con Illuvatar Người và Elf hơn ai hết, để nói với ngài rằng Thời Khắc Đã Đến. Những lời bàn tán về kinh thành Gondolin và số phận của nó không đủ vững mạnh để chống lại cơn phẩn nộ của Melko, các Valar ngồi trên những dãy núi của Valinor đang nhìn về thế giới từ trên đỉnh Taniquetil thấy được sự đau khổ, áp chế của Noldoli và những con người lang thang bởi Melko đang thống trị họ từ những vùng đất đen tối. Do vậy tôi có nhiệm vụ đi đến đây một cách bí mật để nhắc đến ngài rằng hãy gia tăng quân lực nhanh chóng vì thời khắc đã đến, hãy sẵn sàng cho cuộc chiến bởi thời cơ đã chín mùi.”

Đức vua nói: “Điều đó ta không thể nghe theo dù đấy là những lời nói cao quý của vị thần Ulmo hay tất cả Valar. Ta sẽ không để cho thần dân ta xông trận chống lại quỷ dữ, chống lại Orcs, hay đặt thành phố này trong cơn hiễm nguy để đối phó với Melko.”

Tuor nói: “Nếu ngài dám thách thức cùng hiểm nguy, bỏ qua sự nuối tiếc thì Orcs sẽ không còn lộng hành. Còn trái lại chúng sẽ chiếm được hết tất cả các ngọn núi trên trái đất này, và đó không còn là chuyện riêng của Elf hay Người. Nhưng nếu ngài đặt lòng tin vào Valar thì dù kẻ địch có mạnh đến đâu nhưng cuối cùng Orcs sẽ bị diệt vong và sức mạnh của Melkor chỉ còn là tro bụi.

Nhưng Turgon đáp rằng ông là vua của Gondolin và không một ai có thể buột ông làm những việc ông không muốn, đăt cược với sinh mạng hàng vạn người nơi đây, đặt hiểm nguy cho thành phố xinh đẹp mà sau hàng trăm năm lao động vất vả mới có được.

Biết được đức vua Turgon không dễ dàng chấp nhận nên Tuor đáp: “Thần Ulmo đã nói, người Gondolin hãy chuẩn bị bí mật đến bờ sông Sirion tìm đường ra bờ biển và nơi ấy hãy xây thuyền tìm đường về Valinor. Dù lối đi đã bị lãng quên và lưu mờ trên cõi đời, và biển cùng núi bao quanh nó, nhưng vẫn còn nơi đó người Elf đồi Kôr và các vị thần chốn Valinor. Dù giờ đây họ đã che giấu mãnh đất thần thánh khỏi bản tay ma quỹ, nhưng nếu có người với trái tim nhân hậu mang trong mình sự khổ đau bởi những gì Melko gây ra thì có thể một lần nữa nhóm lên ngọn lửa tức giận cho Valar, cho dù Melko có mạnh đến đâu hắn cũng bị tiêu diệt”

Turgon đáp: “Cứ mỗi năm khi đông qua đi, ta đã cử rất nhiều người bí mật đến gần con sông Sirion, ra bờ biển Great Sea. Cũng nơi ấy họ xây thuyền vượt nghìn trùng đại dương đến những nơi tận cùng của mặt trời và mặt trăng để tìm đường đến Valinor. Nhưng lối đi giờ đã không còn, biển và núi chặn lối họ, sóng dữ cuốn lấy họ. Và các vị Valar kia ngồi đấy điềm nhiên, họ có hay có biết những gì tàn ác, xấu xa nơi chốn Trung Địa do Melko gây ra. Không, đã quá đủ cho những người ta đã phái đi mà không một ai quay về, họ bỏ thân nơi đất lạ, chôn xác nơi đáy đại dương lạnh lẽo. Ta sẽ không cử thêm một ai khác vì ta tin rằng kinh thành này có đủ sức mạnh để đối phó Melko.”

Nghe những lời của đức vua, Tuor trong lòng nặng trĩu ngồi kề bên tháp nước làm chàng nhớ đến những đợt sóng biển, những vị mặn của đại dương và thầm ước quay về chốn ấy. Nhưng Turgon biết đươc rằng Tuor dù chỉ là một người phàm tục nhưng lại được Valar tin tưởng, hết mực thương yêu. Chàng có cái nhìn thẳng thắng và giọng nói oai hùng, một con người đáng quý nên đức vua đã mời chàng ở lại Gondolin và cho phép chàng sống trong cung điện của hoàng tộc nếu chàng muốn.

Chương 3: Hạt Giống Đen Tối Đã Nảy Mầm.

Sau nhiều năm sinh sống nơi Gondolin, Tuor học hỏi được nhiều điều nhất là từ Voronwë người vô cùng quý mến chàng. Chàng được chỉ dạy tận tình bởi những người tài ba nhất trong vương quốc. Không lâu chàng thành người vô cùng thông thái, thấu hiểu những điều mà trước đây con người vẫn còn mù mịt. Chàng nghe kể về những câu chuyện của Gondolin, tìm hiểu về cấu trúc đường hầm bí mật mà mọi người nơi đó gọi là Lối Thoát Hiểm (Way of Escape), cùng những nơi được phòng thủ cẩn mật và sẳn sàng tiêu diệt kẻ thù khi chúng đến gần lãnh địa. Tuy nhiên giờ đây mọi thứ đã thay đổi những người lính gát nơi đó chỉ làm việc cho có lệ vì từ khi người Gondolin khai hoang những mãnh đất quanh chân đồi Amon Gwareth thì các loài chim, dã thú hay rắn độc đều bị phát hiện từ xa trước khi chúng đến gần. Người Gondolin được ban cho có đôi mắt sáng, sáng hơn cả những con diều hâu của Vị Thần Gió Manwë Súlimo chúa tể của Người Và Elf. Với đôi mắt sáng ấy, họ là những cung thủ tài ba nhất trên chốn Trung Địa, những mũi tên họ bắn ra vô cùng chuẩn xác và có thể đi xa gấp 7 lần so với người thông thường.

Sau hàng trăm năm lao động hăng say, giờ họ tập trung khai thác kim loại, đá quý để làm nên những thanh kiếm, rìu, trụ, cùng những chiếc áo giáp vô cùng tinh vi. Cũng nơi đó Tuor học được những kỷ thuật xây bằng đá, nghệ thuật điêu khắc và hội hoạ đồng thời các kỷ năng rèn luyện kim loại, đá quý. Chàng lại nghe những câu chuyện lạ về mặt trời, mặt trăng và ngôi sao, những nhân tố cấu thành quả đất và chốn thiên đường Valinor. Chàng học hỏi ngôn ngữ người Elf và các ngôn ngữ cổ khác, nghe những câu chuyện về đấng Illuvatar cùng các Ainur với điệu nhạc thần kỳ đã định hình nên thế giới.

Chàng là một người tài ba mà trên hết lại có một trái tim nhân hậu, cam đảm và thẳng thắng nên đức vua càng yêu mến chàng hơn. Một lần nọ ông ra lệnh cho các thợ rèn tài ba nhất làm cho chàng một chiếc áo giáp thật đẹp xem như đó là một món quà ông ban tặng. Nó được làm từ thép Gnome bên trên có phủ lớp bạc phát sáng hào quang. Mũ chàng đội có hình hai cánh chim thiên nga được làm từ kim loại và ngọc. Chàng thích dùng rùi hơn là dùng kiếm, chiếc rìu đó người Gondolin đặt tên là Dramborleg.

Một dinh thự được xây cho chàng nằm ở hướng nam bởi chàng thích có được không khí tự do. Những lúc bình minh chàng thường đứng nơi ban công để nhìn ngắm mặt trời ló dạng và khi đó những tia nắng đầu tiên đã chiếu gọi lên hai chiếc cánh thiên nga khiến chúng phát sáng lấp lánh.

Sau nhiều năm sống tại Gondolin, Tuor đã chiếm được tình yêu của con gái đức vua là nàng công chúa Idril. Lần đầu nhìn qua cửa sổ trông thấy Tuor đứng trước cửa lâu đài, nàng đã yêu Tuor từ dạo đó. Đức vua Turgon không hề phản đối tình yêu của họ bởi ngài rất an tâm và tin tưởng Tuor. Và cả kinh thành Gondolin bắt đầu chờ đón ngài vui cho lễ cưới giữa Tuor và Idril, lễ cưới của họ được tổ chức trước đền Gar Ainion một nơi thần thánh nhất trong cung điện. Mọi người hân hoan chào đón ngày thành hôn của họ và cầu mong họ hạnh phúc mãi, tuy nhiên lại có một người mang mối hận trong lòng kẻ đó không ai khác hơn là Maeglin vốn là cháu trai đức vua.

Maeglin là con trai của Aredhel em gái đức vua và Eöl một người Elf thích bóng tối. Biểu tượng của Maeglin là Chuột Chũi Lông Đen, hắn là thủ lĩnh cầm quyền Nhà Chuột Chũi, một trong 12 Nhà của Gondolin.

Khác hẳn mọi người sống nơi ấy, Maeglin là kẻ hẹp hòi và đầy tham vọng. Tuy là cháu trai của đức vua và đã sống ở Gondolin khá lâu nhưng hắn vẫn không lấy được tình cảm của mọi người nơi đấy. Có nhiều lời đồn rằng hắn mang trong mình dòng máu xấu xa của Orc. Hắn đã cầu mong đức vua Turgon để có được con gái ngài tuy nhiên ông đã không đồng ý bởi thấy được tham vọng của Maeglin là quyền lực tối cao hơn là có được tình yêu. Idril là một người con gái xinh đẹp và can đảm, mọi người trìu mến gọi nàng với biệt danh Bàn Chân Bạc (Silver Feet) bởi dù với cương vị là một nàng công chúa nhưng nàng lại thích đi chân không. Maeglin vô cùng căm phẫn khi Tuor đã chiếm được trái tim của Idril, đã lấy hết những gì đáng ra phải thuộc về hắn.

Thời gian thắm thoát trôi qua, tình yêu của Idril và Tuor đã đơm hoa kết trái khi đứa con bé bỏng của họ chào đời, họ đặt tên cho nó là Eärendel. Đó là một đứa bé đẹp nhất, làn da trắng trẻo với đôi mắt xanh hơn cả bầu trời phương nam. Đức vua Turgon vui mừng khôn xiết, nhưng Maeglin trở nên suy tư hơn từ khi đứa bé chào đời.

Kể từ khi Tuor mất tích dưới chân những ngọn đồi, nhiều năm trôi qua cho đến một hôm Melko nhận được một tin rất lạ. Câu chuyện được thêu dệt khác nhau nhưng đều có điểm chung là có một người đàn ông lang thang qua các thung lũng, qua các con suối và đi về hướng con sông Sirion. Sức mạnh Melko hiện tại không gì có thể làm hắn e ngại, tuy nhiên sông Sirion nơi Ulmo thường xuất hiện làm hắn không quên được sức mạnh và sự đe doạ của các Valar. Hắn tập trung một đội quân dọ thám lớn và hiệu nghiệm gồm những đứa con của Orcs, chúng với những đôi mắt vàng, xanh như loại mèo hoang có thể nhìn xuyên qua màn đêm, xuyên qua cả sương mù dày đặc; những con rắn độc có thể đi đến tận cùng ngõ ngách, những nơi đen tối nhất của thế giới; những con sói, chó hoang, loài chồn khát máu, mũi chúng có thể ngữi được những mùi hương lạ dù cho dòng nước có làm cho nó phai mờ; những con cú, những con diều hâu với đôi mắt sáng quắc có thể biết được từng cử động nhỏ của con mồi dù cho đó là ngày hay đêm. Melko kêu gọi tất cả quay trở về bên Lâu Đài Sắt, hắn ra lệnh cho chúng tìm kiếm tung tích một người đàn ông đã chốn thoát từ vùng Đất Đen Tối(Land of Shadows) gần con sông Sirion, đồng thời ra lệnh cho chúng truy bắt những người Noldoli đã trốn khỏi lồng bàn tay của hắn, những kẻ hắn muốn tiêu diệt hoặc bắt giam tra tấn hoặc làm nô lệ.

Thuộc hạ dọ thám của Melko sau nhiều năm đã ngữi từ những viên đá, những con suối, săn lùng trong từng rừng rậm, vực sâu, thám thính không khí và những nơi cao, dò thám những lối đi từ những thung lũng hay đồng bằng. Từ cuộc săn lùng này chúng đã đem về những tin tức khá thú vị cho Melko, nhiều thứ bí mật chúng lôi ra ánh sáng và cuối cùng đã khám phá ta Lối Thoát Hiểm (Way of Escape) nơi khi xưa Tuor và Voronwë đã vào để đến được Gondolin. Nhưng phép thuật đặt trên cánh cửa đã cản bước chúng. Tuy nhiên chúng vẫn tìm cách chui qua các ngõ khác, len lõi vào tận các đường hầm, thậm chí đến tận chân Dãy Đồi Bao Quanh (đồi Encircling Hills) và chứng kiến thành phố xinh đẹp Gondolin trên ngọn đồi Amon Gwareth ở xa xa. Nhưng khi đến gần nơi đó chúng không phải là đối thủ của những chiến binh nơi đó, hơn nữa núi non hiểm trở khó lòng vượt qua. Thêm vào đó người Gondolin là những cung thủ tài ba, những mũi tên họ bắn đã hạ gụt được bọn diều hâu dám bén lẽn đến gần Gondolin, kể cả những con rắn độc đang trườn mình trên Dãy Đồi.

Lúc Eärendel được 1 tuổi cũng là lúc thung lũng Tumladin bị đám dọ thám bao vây hơn bao giờ hết. Đức vua Turgon nhớ đến lời nói khi xưa của Tuor và trong lòng cảm thấy bất an. Ngài ra lệnh tăng cường binh lực, siết chặt phòng thủ từ mọi phía. Ông lại cho chế tạo thêm các công cụ chiến tranh và đặt chúng trên những ngọn đồi. Những ngọn lửa độc, dung dịch nóng, tên và đá chuẩn bị sắn sàng tiêu diệt kẻ nào dám bén mạng đến gần vách núi.

Tuor càng trở nên suy tư bởi chàng càng thấu hiểu những lời nói của Ulmo khi xưa, chàng tìm đến Idril để xoa dịu âu lo. Biết được rằng Idril có một quyền năng đặc biệt có thể nhìn thấu những suy nghĩ đen tối của Người và Elf, mạnh hơn sức mạnh của những người thuộc Eldar. Do đó một ngày nàng bảo với Tuor rằng: “Chàng ơi! thiếp không thể tha thứ cho bản thân vì đã hoài nghi Maeglin, thiếp sợ rằng hắn sẽ mang tai hoạ và những điều xấu xa đến vương quốc xinh đẹp này dù thiếp không biết chắc rằng bằng cách nào. Hắn đã biết tường tận những việc chúng ta làm, thiếp sợ rồi một ngày nào đó bí mật này sẽ rơi vào tay kẻ thù. Thiếp mơ thấy một cơn ác mộng, trong giấc mơ Maeglin đã xây một lò lửa và hắn ra tay tàn nhẩn vứt Eärendel đứa con bé bỏng của chúng ta vào đấy.”

Nhưng Tuor trả lời:”Dù ta không thích Maeglin nhưng không có lý do gì để kết tội hắn. Hắn là cháu trai của cha nàng, là em họ của nàng, chúng ta không còn cách nào khác hơn là cẩn thận đề phòng.”

Idril đáp: “Meglin là một kẻ kiêu ngạo và nhiều người sống nơi kinh thành xinh đẹp này không hề yêu thích hắn. Chúng ta phải chọn trong số họ những người đáng tin nhất để theo dõi động tĩnh của Meglin nhất là khi hắn đi xa qua những ngọn đồi. Một điều khác vô cùng quan trọng là chàng hãy tìm những người đáng tin cậy, dưới sự giúp sức của họ để đào một đường hầm bí mật, một lối thoát hiểm mà ít người biết đến. Đó là một việc cần tính nhẫn nại, tốn nhiều công sức và thời gian. Đường hầm ấy sẽ được đào từ dinh thự này xuống sâu dưới những lớp đá cứng của ngọn đồi vào tận thung lũng bên dưới. Nhưng nó sẽ không dẫn ra “Lối Thoát Hiểm” bởi trái tim thiếp mách bảo không nên tin tưởng vào lối đó. Điểm dừng của nó phải xa hơn, đến cả Vực Đá Đại Bàng (Cleft of Eagles nơi chúa tể Đại Bàng sinh sống). Xin hãy nghi nhớ nó phải được làm trong bí mât mật và cần phải thực hiện khẩn trương vì thời gian không còn nhiều”.

Không lâu sau đó Maeglin đi đến những đồi núi ở xa để truy tìm vàng, tìm bạc nhưng vô tình hắn đã bị bọn Orcs bắt được. Biết được hắn là người của Gondolin chúng định ra tay giết chết. Vào lúc ấy sợ hãi vì mạng sống đang bị đe doạ nhưng có lẽ hạt giống đen tối đã nảy mầm, Maeglin nói rằng:” Các ngươi có biết ta là Maeglin con trai Eöl người đã lấy em gái vua Turgon của Gondolin làm vợ.” Bọn Orcs đáp:”Điều đó có gì can hệ đến bọn ta?” Meglin nói:”Rất can hệ đến bọn ngươi, bởi nếu các ngươi giết ta dù nhanh hay chậm các ngươi sẽ mất đi những tin tức hay ho mà chủ nhân ngươi rất nóng lòng muốn nghe.”

Nghe thấy những lời trên chúng dừng tay lại, và Maeglin kể cho chúng về thiết kế của thành phố Gondolin, những bức tường bảo vệ, độ cao, độ dày của chúng, những tiển xạ canh phòng cẩn mật cùng đội hùng binh một dạ trung thành với đức vua. Hắn cũng kể chúng nghe về các loại vũ khí chiến tranh oai lực của Gondolin cùng những nơi đặt chúng.

Chúng hoài nghi những gì Maeglin nói và cho rằng hắn đang bịa đặt, cố thổi phồng sức mạnh nhầm hù doạ kẻ thù. Hiểu được suy nghĩ của chúng, Meglin nhanh nhẫu nói: “Các ngươi không muốn làm thoả lòng chủ nhân sao, các ngươi các cứ mang ta đến diện kiến ngài, nhất định ngài sẽ biết được những lời ta nói có đáng giá hay không.”

Với những lời trên chúng đưa Maeglin quay về Dãy Đồi Sắt và đến cung điện đen tối của Melko. Khi Meglin quỳ trước chân Melko, hắn sợ hãi khi nhìn thấy hình hài ma quái của hắn, cùng những con sói hung tợn đang nhe nanh múa vuốt, những con rắn độc ưỡn mình quần quại. Maeglin kể tường tận cho Melko những gì hắn biết về Gondolin. Nghe thấy những lời của hắn, Melko mừng thầm trong dạ và toan tính âm mưu đánh một trận để có thể diệt tận gốc Gondolin.

Maeglin giúp Melko lên một kế hoạch hoàn mỹ mà phần thưởng hắn có được là trở thành thủ linh của một đội quân Orcs và hơn hết là có được nàng công chúa Idril. Hắn còn muốn thấy được Tuor và Eärendel phải chết thãm trong lửa đỏ.

Đoạn Meglin lên đường trở về để tránh mọi hoài nghi đồng thời làm gian tế nội ứng chờ thời cơ. Hắn từ đấy mang một mặt nạ giả tạo và mọi người cho rằng Meglin đã thay đổi tính tình, ngày càng sống có tình cảm hơn. Một hôm Maeglin nói: ” Ta đã làm viêc quá lâu và có ý nghĩ ngơi, ta muốn bỏ thời gian học hỏi thêm về âm nhạc, vui ca múa hát.” Từ đấy hắn không đi xa nữa, không còn đến những ngọn đồi để tìm vàng, tìm bạc.

Không ít lâu sau quân dọ thám của Melko cũng rút lui dần, vua Turgon thấy trong lòng nhẹ nhõm vì tin rằng Melko đã bỏ cuộc vì hắn không tài nào tìm ra cách để tấn công Gondolin. Nhưng ông đã lầm, Melko dốc hết sức mạnh và làm việc không ngừng nghĩ. Trong khi người Noldoli khó khăn để săn tìm các kho kim loại để chế tạo vũ khí thì Melko có sẵn kho sắt kho bạc dùng hoài không hết. Melko tập hợp các thợ rèn tài ba nhất của hắn, cùng với tà thuật kinh hồn với những linh hồn từ những ngọn lửa địa ngục không bao giờ tàn lụi hắn đã làm nên một đội quân quái vật. Những con quái vật này hắn chỉ có thể tạo ra được một lần và mãi mãi về sau chúng sẽ không còn xuất hiện trên cõi đời. Một vài cơ thể toàn là sắt, vô cùng cứng cáp nhưng lại uyển chuyển như dòng sông kim loại được đốt cháy trong lửa đỏ đang chảy chầm chậm hoặc có thể cuộn tròn và dễ dàng trườn lên trên tất cả chướng ngại vật. Những con Orcs tàn bạo và hung hãn nhất trong lịch sử. Một số khác làm từ đồng và thiếc được ban cho trái tim từ ngọn lửa địa ngục bừng cháy, chúng dễ dàng làm cho kẻ địch tan nát chỉ với những cú giẫm đạp hay hơi thở nóng rực của chúng. Nhưng lợi hại nhất là Quái Vật Gondolin, chúng được làm từ những ngọn lửa tinh khiết, trông như những thanh kim loại khổng lồ đang quằng quại trong lửa đỏ, dù cho đó là sắt hay đá cũng sẽ tan chảy như nước trước mặt chúng, trên lưng chúng cõng hàng trăm quái thú Balrogs và khi xông trận chúng phối hợp ăn ý tạo thành một đội quân bất khả chiến bại.

Chương 4: Hoả Thiêu Kinh Thành Gondolin

Khi mùa hè thứ 7 trôi qua kể từ ngày Meglin phản bội, Melko cũng đã rút hết quân dọ thám vì giờ đây từng con đường, từng ngõ ngách từng gốc núi hắn đã nắm rõ trong lồng bàn tay. Người Gondolin thì cứ cho rằng Melko bỏ cuộc vì hắn đã không tài nào tìm ra cách tấn công Gondolin, kinh thành bất khả xâm phạm của họ. Nhưng nàng công chúa Idril chỉ thấy bóng tối bao quanh, ánh sáng trên khuôn mặt nàng dường như đã bị mây mờ che khuất. Đức vua Turgon ra lệnh giảm số quân tuần tra xuống thậm chí còn ít hơn con số khi xưa.

Và mùa thu qua đi, đại tiệc Hoa Quả Mùa Đông lại gần kề. Tuor đứng trên pháo đài dõi mắt trông về Dãy Núi Bao Quanh. Idril đến bên chàng và những cơn gió làm thổi tung mái tóc, Tuor nhìn người vợ xinh đẹp như lần đầu họ gặp gỡ nhưng dường như trên khuôn mặt nàng không dấu được nỗi âu lo. Idril nói: “Đã đến lúc chàng phải chọn lựa”. Tuor không hiểu ý nàng, nhưng Idril lại nói tiếp “Thiếp vẫn mãi không yên về tính mạng con trai chúng ta, thiếp mơ thấy những cơn ác mộng về cảnh Eärendel chết thãm thương trong biển lửa và Melko là kẻ đã gây nên cớ sự”. Tuor vuốt ve an ũi nàng, nàng lại hỏi tiếp về tiến trình của Đường Hầm Bí Mật và có chút an tâm khi nghe được những lời Tuor nói. Đường Hầm đó với vua Turgon thì họ không dám hé lộ vì ngài là một vị vua nhân từ, cao quí nhưng lại quá tin vào đứa cháu trai gian xảo Meglin. Ông mù quáng tin vào những lời nói giã tạo của hắn, và càng tin hơn vào sức mạnh của Gondolin kinh thành mà ông cho rằng Melko khó bề xâm chiếm và phải bỏ cuộc.

Đến độ giữa đông tiết trời vô cùng giá buốt, sương mù dầy đặc trên thung lũng Tumbalin, nước trong ao hồ đóng băng và Hai Cây vẫn chưa trổ hoa. Đông qua đi xuân lại đến làm băng tuyết tan chảy trên các dãy núi, và thung lũng khô nay lại có sức sống từ những dòng nước mát lạnh từ trên cao đổ xuống, vạn vật như được đánh thức sau giấc ngủ của một mùa đông băng giá. Và người kinh thành Gondolin háo hức chờ đón ngày lễ Nost-na-Lothion hay Ngày Sinh Hoa Quả và họ nguyện cầu cho một năm mới đầy hứa hẹn.

Thời gian trôi qua không lâu nữa người Gondolin sẽ chào đón lễ hội Tarnin Austa hay Lễ Hội Mùa Hè một lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày đầu tiên của mùa hè trong năm. Theo thông lệ hàng năm họ tổ chưc một lễ hội linh đình chào đón vị Thần Mặt Trời. Buổi tiệc kéo dài từ lúc đêm khuya cho đến khi mặt trời ló dạng, không ai được phép nói chuyện nhưng lại vui vẻ đấm mình trong những điệu nhạc vui tươi được sướng lên từu lúc đêm khuya. Đã bao năm qua đi họ đã vui vẻ nhảy múa theo điệu nhạc và trông ngống về hướng đông nơi ánh sáng mặt trời sẽ xuất hiện. Giờ là nữa đêm cả thành phố được trang trí vô số lồng đèn phát ra ánh sáng bạc ấm áp, phản chiếu lên những chiếc lá trên cành cây khiến chúng sáng lấp lánh như những hạt ngọc đang nhảy múa theo cơn gió.

Mặt trời đã ẩn mình thật xa qua các dãy núi nhưng mọi người không dấu được niềm háo hức đợi chờ và mọi cặp mắt đều nhìn về hướng đông. Mặt trời đã lặn từ lâu và xung quanh chỉ là bóng tối nhưng họ lại bất ngờ khi nhìn thấy một tia sáng rực rỡ xuất hiện, nhưng nó không xuất hiện ở hướng đông mà lại xuất hiện từ dãy núi hướng bắc, họ lấy làm lạ vì ánh sáng kia ngày càng đỏ rực và kìa tuyết trên dãy núi dường như lại nhượm một màu máu đỏ tươi, và đó là thời khắc ác quỷ của Melko đã kéo đến Gondolin.

Những kỵ sĩ từ đâu xuất hiện, trong hơi thở hổn hển họ báo hung tin Gondolin đang bị tấn công bởi những con quái thú kỳ lạ có hình hài như rồng như rắn. Nỗi hoang mang lo sợ tràn ngập cả thành phố, mọi nơi trở nên nhốn nháo với tiếng than khóc của phụ nữ cùng tiếng rào thét của trẻ em.

Quảng trường chính nhanh chóng là nơi tập hợp tất cả các đạo quân của 12 Nhà Gondolin. Dũng mãnh là Nhà Của Đức Vua với màu sắc chủ đạo là trắng, vàng và đỏ. Biểu tượng của họ là mặt trời, mặt trăng và một trái tim đỏ thấm. Đứng giữa là Tuor với chiếc áo giáp bạc sánh lấp lánh, xung quanh chàng là đạo quân Nhà Cánh Trắng trên đầu đội mũ Hai Cánh Thiên Nga. Nhưng Meglin cũng kéo quân Nhà Chuột Chũi đến, họ mặc trong người áo giáp đen và đeo chiếc mũ thép tròn vành bên ngoài được bao lại bởi lớp lông đen chuột chũi.

Những ngọn đồi hướng bắc đang sáng rực và dường như có những con sông lửa đang chảy chầm chậm xuống thung lũng Tumladin, kẻ địch còn khá xa nhưng mọi người đã cảm nhận được cái nóng của nó.

Mọi người đều có mặt đầy đủ, những cung thủ tài ba nhất từ Nhà Chim Nhạn và Nhà Cánh Cung, họ đang dàn trận trên những bức tường thành để chuẩn bị đối phó với kẻ thù. Người Nhà Chim Nhạn trên mũ có đính một chiêc quạt được làm từ lông chim với màu sắc được sắp xếp theo thứ tự trắng, xanh, tím và đen, chiếc khiên họ sử dụng có hình một mũi tên trắng. Thủ lĩnh của họ Duilin, ông là một người cực kỳ nhanh nhẹn và cương quyết.

Nhà Cánh Cung gồm những người giàu có, họ vận trang phục với màu sắc sặc sỡ, tay họ mang đầy trang sức đang phát sáng lấp lánh, khiên họ mang có màu xanh da trời và viền của nó được trang trí bằng những hạt ngọc quý có nhiều màu sắc, ở giữa lại đính thêm một hạt ngọc to. Egalmoth là thủ lĩnh Nhà Cánh Cung, ông đang mặc một chiếc áo xanh lam trên có đính vô số ngọc thạch làm thành những ngôi sao ngủ sắc. Tài nghệ bắn cung của ông thì không ai sánh bằng, ông có thể bắn xa hơn so với bất kỳ ai trong kinh thành Gondolin này.

Và có quân Nhà Trụ Cột và Nhà Tháp Tuyết, người đứng đầu cả hai Nhà là Penlod, một người cao to. Đồng thời có người Nhà Cây đang mặc trang phục xanh lá cây, vũ khí họ sử dụng là gậy và nỏ, thủ lĩnh của họ là Galdor một người không biết hiểm nguy là gì. Và nơi đó có quân Nhà Hoa Vàng, khiên của họ mang biểu tượng hoa mặt trời vàng rực rỡ, thủ lĩnh của họ là Glorfindel ông đang mặc chiếc áo choàng có thêu vô số hoa vàng trông như một cánh đồng hoa nở rộ khi xuân đến.

Đến từ phía nam là đạo quân Nhà Tháp Nước và Ecthelion là thủ lĩnh của họ. Họ rất thích kim loại đặc biệt là bạc và sử dụng những thanh kiếm dài sáng chói. Trước khi xông trận họ thường thổi lên những tiếng sáo thanh tao. Đến sau họ là quân Nhà Đàn Hạc, họ là những người tài ba về âm nhạc nhưng không kém phần can đảm, tuy nhiên thủ lĩnh của họ Salgant lại là một kẻ hèn nhác, một tên cúi lòn, nịnh hót Meglin. Trang phục của họ được trang trí những tua bạc, tua vàng và có thêu chiếc đàn hạc trắng nỗi bật trên nền đen.

Đến cuối cùng là đạo quân của Nhà Búa Thần, trong số họ có nhiều người thợ rèn tài ba cùng những thợ thủ công tài giỏi nhất, họ tôn thờ vị thần Aulë hơn hết. Vũ khí họ sử dụng là những chiếc truỳ khổng lồ, họ có những cánh tay mạnh mẽ và dùng những chiếc khiên nặng nề. Nhà Búa Thần đã từ lâu thu nạp những tù nhân Nodoli trốn thoát khỏi ngục sắt của Melko, vì lý do đó họ căm thù những việc làm của Melko hơn ai hết và nhất là Balrogs những con quái vật họ thề sẽ không đội trời chung. Thủ lĩnh của họ là Rog một người có sức mạnh phi thường chỉ đứng sau Galdor. Biểu tượng của họ là chiếc búa thần chém mạnh vào chiếc đe làm bật ra những tia lửa sáng chói. Đó là đạo quân đông nhất, đồng thời can đảm và thiện chiến nhất.

Giờ đây khuôn mặt vị thủ lĩnh Nhà Cánh Trắng đang trầm ngâm, lo lắng cho sự an toàn của vợ con, Biết được tai biến đang đến, Idril mặc vào người một chiếc áo giáp và trở về tìm Eärendel. Đứa bé đang la khóc vì nó nhìn thấy những ánh sáng đỏ chói trên các bức tường trong phòng, nhưng Idril đã kịp trở về và mang đến cho nó một chiếc áo giáp nhỏ bé mà nàng âm thầm làm từ lâu. Idril đau buồn cho thành phố mà nàng vô cùng thương yêu, lo sợ kế hoạch của mình sẽ bị thất bại dưới cơn bão táp bất ngờ từ những con quái thú rồng rắn của Melko.

Bốn giờ trôi qua kể từ lúc nữa đêm, và bầu trời ở các hướng bắc, đông và tây đỏ rực như máu. Những con quái thú bằng sắt có hình thù rắn rít đang tiến càng gần thung lũng. Đức vua Turgon nhanh chóng kêu gọi một cuộc hợp khẩn cấp, tuy nhiên Tuor và Meglin chưa đến kịp vì ở quá xa. Fuilin đến cùng Egalmoth và Penlod. Rog sãi bước cùng thủ lĩnh Nhà Cây Galdor, Glorfindel Nhà Hoa Vàng và Ecthelion Nhà Tháp Nước. Đức vua cho rằng nên nhanh chóng phá vòng vây vì cái nóng khó cưỡng ngày càng tiến gần, nhiều người ủng hộ ý kiến trên nhưng cũng có một số đông không tán thành. Họ cho rằng nên phá vòng vây bằng cách nào, chia ra bao nhiêu đội, xông ra từ hướng nào và quan trọng hơn cả là sự an toàn của phụ nữ và trẻ em.

Vào lúc đó Meglin và Salgant lại có một cuộc hợp khác, ho bàn bạc tìm cách bảo vệ các kho báu. Meglin bày mưu tìm cách tiêu diệt tất cả người Gondolin vì hắn sợ rằng nếu còn sống sót một ngày nào đó khi biết ra sự thật thì họ nhất định sẽ tìm hắn trả thù. Thủ lĩnh Nhà Chuột Chũi đánh trúng nhược điểm của vua Turgon khi nói rằng” Thưa đức vua, thành phố Gondolin có vô số kho châu báu, nhiều báu vật được làm từ tay của Noldoli vượt lên trên cái đẹp. Các chiến binh, các vị thủ lĩnh thì tài ba và một dạ trung thành, vậy tại sao ta không nên quyết chiến mà lại bỏ chạy để thành phố xinh đẹp mấy trăm năm khổ công xây dựng phút chốc lại rơi vào tay kẻ thù. Chiến thắng nhất định sẽ thuộc về chúng ra, Balrogs sẽ biết được thế nào là sức mạnh của Gondolin”.

Những lời nói của Meglin đã khiến đức vua phân vân, bởi hắn biết được ông sẽ không dễ dàng từ bỏ thành phố này, thành phố mà ông xem như chính sinh mạng của mình. Meglin thêm dầu vào lửa: “Xin hãy nhìn kìa! chúng ta đã bỏ ra quá nhiều năm để xây nên những bức tường thành kiên cố, những chiếc cổng khó bề công phá, những vũ khí uy lực cùng vô số cung tên đang chờ để lấy máu kẻ thù. Sao trong giờ phút hiểm nguy này không sử dụng chúng để bảo vệ những gì ta yêu quý mà lại xông ra tay không đối địch với kẻ thù toàn sắc thép và lửa đỏ. Những kẻ đã làm rung chuyển cả dãy núi chỉ với những tiếng thét và bước chân của chúng.”

Nghe những lời của Meglin, Salgant run rẩy khi nghĩ đến cảnh phải đối đầu với kẻ địch hung tàn, hắn lớn giọng nói: “Meglin nói chí phải thưa bệ hạ, xin hãy nghe lời anh ta”.
Đức vua cuối cùng cũng nghe theo những lời nói gian xảo của Meglin và bảo không cần bàn thêm về chuyện phá vòng vây. Nhưng Tuor lại buồn rầu và chàng tập hợp quân Nhà Cánh Trắng rời bỏ hoàng cung, trong giờ phút đó khói đen đã lan đến các con đường trong thành phố.

Giờ đây bọn lâu đang vượt qua thung lũng và các lâu đài trắng của Gondolin đang đỏ rực trước mặt chúng. Những người can đảm nhất cũng phải khiếp vía trước hình hài ma quỷ của các con quái vật trông như những con rồng mà cơ thể toàn là lửa, những con rắn thân thể như đồng như sắt đang tiến đến ngọn đồi Amon Gwareth. Họ bắn sử dụng vũ khí ném đá, ném sắt bắn những mũi tên chuẩn xác nhưng cũng chẳng làm chậm bước tiến của chúng. Bất ngời họ mừng thầm vì khi đến chân ngọn đồi những con rắn lửa này không thể leo lên vì vách đá thẳng đứng và trơn trượt. Tuy nhiên chúng vẫn không bỏ cuộc, hơi nóng của chúng đã làm nước của các con sông trên đồi Amon Gwareth phải bốc hơi. Sức nóng ác nghiệt đã khiến nhiều phụ nữ phải ngất đi còn đàn ông thì mồ hôi đầm đề.

Trước tình thế trên Gothmog chúa tể của loài Balrog đã hợp quân, hắn tập chung tất cả quái thú bằng sắt có khả năng co cuộn. Chúng chồng chắt lên nhau ngai trước cổng bắc của kinh thành, chúng làm thành một khối khổng lồ có hình xoắn ốc cao lớn đến độ có thể chạm đến đỉnh đồi. Sức nặng của nó khi tông vào đã khiến cho cổng thành phải sụp đổ, tuy nhiên phần lớn các bức tường xung quanh vẫn còn đứng vững. Quân Gondolin sử dụng những chiếc máy lăn đá ném ra các tảng đá khổng lồ, những thanh sắc to nóng đỏ liên tục tấn công những con quái thú gian ác. Chúng chỉ chao đảo trước đòn tấn công nhưng tiệt nhiên không dễ dàng bị phá vỡ.

Thật bất ngờ vì bụng những con quái thú bổng mở tung ra và vô số Orc từ trong đấy bước ra và nhanh chóng nhảy vào cổng thành. Quân Nhà Chim Nhạn cùng Nhà Cánh Cung bắn những mũi tên đen tiên tiếp đến chúng, xác cả hai phe rơi lã tã như những chiếc lá mùa thu trong cảnh hổn độn của khói đen mù mịt. Tuy dủng cảm thiện chiến nhưng quân Orcs ngày càng đông và chúng đã đánh từ từ vào bên trong thành và chiếm được một phần phía bắc thành phố.

Vào lúc đó Tuor cùng quân Nhà Cánh Trắng vượt qua cảnh hổn độn của đường phố để trở về dinh thự nhưng chàng không biết rằng Meglin đã đến trước một bước. Hắn tin rằng chiến tranh đang lan tràn và phút chốc sẽ lan vào khắp nơi trong thành phố và thời cơ hắn chờ đợi bấy lâu đã đến. Hắn cuối cùng cũng biết được tin về đường hầm bí mật mà của Tuor và nghĩ rằng đường hầm đó cũng sẽ dẫn đến Lối Thoát Hiểm. Đây là một đêm đáng nhớ, hắn phải sử dụng đầu ốc, vận dụng thời cơ cho thích đáng để đoạt những gì phải thuộc về hắn và hãm hại người Noldoli. Hắn lén lút đưa tin cho Melko để dàn sẳn một đội quân bên ngoài Lối Thoát Hiểm. Hắn có có ý định bắt lấy Eärendel quăng đứa bé vào hố lửa bên dưới và tìm kiếm Idril để ép buột nàng nói ra bí mật của Đường Hầm Bí Mật, bắt nàng cùng đến bên Melko. Với Salgin hắn đã ra lệnh cho ông ta xông vào trận chiến ác liệt, nhưng hắn có ngờ đâu Saglin là một kẻ hèn nhát, hắn đang run rẩy trốn tránh trong phòng.

Khi Tuor đến thì đã thấy toán quân hung hăng của Meglin đã bao vây dinh thự. Đó là toán quân tự do không bị ràng buột bởi Melko, tuy nhiên họ lại một dạ trung thành với chủ nhân, cho nên dù trông thấy tình cảnh của Idril họ vẫn không ra tay giúp đỡ hoặc không màn đến những việc Meglin đang làm.

Meglin nắm lấy tóc Idril và cố lôi nàng ra ngoài tường thành để cho nàng trông thấy cảnh đứa con yêu quí của nàng sẽ bị ném vào trong biển lửa, nhưng hắn lại không ngờ nàng phản kháng quá quyết liệt dù thân hình nàng có mãnh mai, một mình nàng như một con hổ cái dùng hết sức bình sinh trong cơn điên loạn mong giải cứu con mình. Tuor đã đến gần và chàng hét lớn vang vội khắp nơi khiến cho bọn Orc cũng phải nghe thấy, quân Cánh Trắng chiến đấu quyết liệt với quân Chuột Chũi trong cảnh hổn đoạn. Trước tình hình trên Meglin vội lấy dao đâm vào người Eärendel nhưng đã bị đứa bé cắn sâu vào cánh tay, và do chiếc áo giáp nó đang mặc đã khiến nhát chém yếu đi và lệch hướng. Trong cơn phẩn nộ cùng cực, Tuor xông đến tấn công Meglin, tóm lấy hắn quăng qua bức tường thành bên dưới đầy lửa đỏ. Cơ thể hắn rơi rớt và va vào vách đồi Amon Gwareth đến ba lần trước khi tan thành tro bụi bởi hố lửa đang bừng bừng bốc cháy bên dưới. Và thế là kết thúc cuộc đời của kẻ bất lương và từ đấy cái tên Meglin là một nỗi u nhục cho Eldar và Noldoli. Quân Chuột Chũi có quân số lớn hơn so với Cánh Trắng nhưng trước cơn thịnh nộ của Tuor họ đã phải khiếp vía và bỏ chạy tan tác. Chống lại ý muốn của Voronwë và vài người thân cận, Tuor giao vợ con cho họ bảo vệ và quyết cùng những người còn lại xông pha chiến trận vì chàng tin rằng Gondolin vẫn còn có thể cứu giãn.

Trận chiến ngày một ác liệt nơi Cổng Chính của kinh thành, và Duilin của Nhà Chim Nhạn đã tử trận, ông bị bắn bởi những tên lửa Balrog phóng ra và xác ông rơi xuống tường thành. Đoạn Balrogs tiếp tục phóng ra những tia lửa có hình dáng như những con rắn lửa đang nhảy múa trong không trung. Chúng rơi trên các máy nhà, rơi xuống các khu vườn các mọi thứ bắt đầu bốc cháy. Hoa và cỏ đều cháy trụi, những bức tường trắng của các toà lâu đài hay những dãy cột đều nhuộm màu một đen như than.

Tồi tệ hơn là những con Balrog bắt đầu leo lên trên khối sắt khổng lồ do những con rắn sắt cuộn tròn vào nhau, nó vô cùng vững chắc dù cho họ có cố bắn những mũi tên hay những tảng đá khổng lồ cũng không hề làm nó lay chuyển, quân giữ thành trong lòng lo sợ và hoang man. Đoạn Rog thủ lĩnh Nhà Búa Thần nói với giọng hào hùng: “Ai lại sợ Balrog chỉ vì hình hài xấu xa của chúng, hãy nhìn trước mắt chúng ta là kẻ thù truyền kiếp, là những con quái vật đã tra tấn hành hạ những đứa con Noldoli. Hãy tiến lên nào hỡi các chiến binh Búa Thần, chúng ta sẽ nghiền nát bọn chúng”. Rog cầm trên tay một chiếc truỳ to và dài, ông xông pha tiến lên tấn công bảo vệ nơi cổng thành đã bị phá, tất cả quân Nhà Búa Thần đồng loạt theo sau. Lời nói và hành động của Rog đã khiến quân lính nỗi lên cơn thịnh nộ, họ không còn e dè kẻ địch dù chúng có tàn bạo đến đâu và tiến lên tấn công như bảo táp. Cuộc chiến trên đã đi vào huyền thoại và người Noldoli sẽ hát mãi bài hát về những vị anh hùng Nhà Búa Thần. Quân Orc bị đánh tan tành và liên tiếp rơi vào hố lửa đang bừng cháy bên dưới. Quân Rog đã đánh lùi kẻ địch không những thế họ còn tấn công và tiến lên trên đống sắt rắn ma quái đang cuộn tròn quằn quại. Họ đến tấn công Balrogs, nhưng những con quái thú này cơ thể là lửa là thép, sử dụng roi lửa và răng chúng là sắt thép, cơ thể vô cùng cứng cáp cho nên dù họ tấn công liên tục cũng khó lòng làm cho chúng bị thương. Tuy nhiên khi họ bắt lấy những chiếc roi lửa của chúng và dùng nó tấn công lại thì kỳ diệu làm sao một vài con đã bị giết khiến cho bọn lâu la của Melko phải khiếp vía. Vì trong lịch sử chưa bao giờ có bất kỳ Balrog đã từng bị giết bởi Elf hay Người, cho nên những gì bọn chúng chứng kiến thật khó tin. Đoàn quân của Rog đã đánh lui kẻ dịch đến tận bên dưới thung lũng Tumladin.

Nhưng Gothmog chúa tể của loài Balrogs đã tập chung tất cả các quái thú của hắn và mệnh lênh một số sẽ tấn công quân Búa Thần đang ở trước mắt, một số lượng lớn hơn tấn công nhanh vào hai bên sườn thành. Đám rắn lửa cuộn tròn và cao hơn, chúng tiến sát hơn đến cổng thành khiến quân Rog không thể chiến thắng dù đã có quá nhiều người hy sinh. Bên dưới thung lũng là những tiếng kêu thét vang trời, dù bị bao vây nhưng quân Nhà Búa Thần vân không bỏ cuộc, họ chém đông chém tây cho đến khi hơi tàn sức kiệt. Nhưng quân Orc, Balrog và rồng lửa bao vây họ, họ cuối cùng họ cũng không chiến thắng được sắt và lửa dù người ta cho rằng một mạng quân Búa Thần đã đổi lấy bảy mạng quân địch. Họ hoang mang như rắn không đầu dưới cái chết của thủ lĩnh Rog và thế là toàn quân Búa Thần đã dủng cảm hy sinh.

Quân Melko đã tấn công sâu hơn vào trong lồng thành phố và thủ lĩnh Penlod cũng tử trận trên một con đường nhỏ, thi thể ông dựa một bức tường. Xung quanh là đầy rẩy xác quân Nhà Trụ Cột và Nhà Tháp Tuyết. Và như thế quân Melko đã chiến thắng phần lớn tất cả cổng và tường thành dù quân Nhà Chim Nhạn và Cánh Cung có cố phản công, bên trong thành chúng cũng chiếm được một vùng đất rộng và đang tiến gần đến khu trung tâm. Kẻ địch đang trong thế thượng phong nhưng quân chúng lại chết rất nhiều so với quân Gondolin, xác kẻ tấn công và người bảo vệ nằm chồng chất la liệt trên các con đường, quanh các cổng thành. Thấy được sự dủng mãnh của quân Gondolin, thủ lĩnh quân Melko lên một kế hoạch cố giữ những gì đã chiếm, những con quái thú rắn bằng đồng khổng lồ nhưng thô kệch di chuyển chậm sẽ leo lên lưng những con bằng sắt vì chúng di chuyển nhanh hơn. Trong khi đó bọn Balrog cỡi trên lưng con rồng khổng lồ có cơ thể làm từ lửa vì chúng biết rằng phải tấn công nhanh chóng bởi lửa của quái thú sẽ không tồn tại mãi mãi, chúng chỉ có thể được khôi phục từ những chiếc giếng lửa của Melko cách rất xa nơi ấy.

Chương 5: Tuor Và Ecthelion

Dù quân Melko có đi nhanh đến đâu thì phía trước phải đối phó với một đoàn quân bất ngờ. Từ đâu bổng nỗi lên những tiếng sáo vi vu tuy êm dịu nhưng đã khiến chúng khiếp sợ khi hiểu ra ý nghĩa của điệu nhạc kia. Vâng đấy là tiếng sáo của quân Tháp Nước do Ecthelion lãnh đạo đã kéo đến. Tiếng sáo thần thánh trước khi xông trận, những hạt ngọc trên khiên sáng rực dưới ánh lửa làm họ trông như những vị tướng thần xông ra trận mạc. Thình lình tiếng sáo tắt lịm và với giọng nói oai hùng Ecthelion ra lệnh tuốt gươm. Chuyện kể rằng quân Ecthelion đã giết số quân Orcs nhiều hơn bất cứ cuộc chiến nào đã từng xảy ra giữa hai giống loài và cái tên Ecthelion sẽ trở thành nỗi khiếp đãm cho Orc sau này.

Vào lúc đó Tuor cùng quân Cánh Trắng đã đến và sát cánh cùng quân Ecthelion, họ hỗ trợ nhau và liên tiếp tấn công kẻ thù khiến chúng rút lui đến tận cổng thành. Nhưng bổng dưng mặt đất rung chuyển, có những tiếng động vang trời và những con rồng lửa từ đâu bổng nhiên xuất hiện. Các bức tường thành của lâu đài đều bị chúng đạp tan ra từng mãnh vụn.

Quân Chim Nhạn và Cánh Cung chiến đấu cực nhọc trên các dãy tường thành từ hướng đông, bên hướng tây. Một trong những con rắn khổng lồ thân thể toàn đồng với sức nặng của nó đã đè bẹp bức tường ở dãy thành đông. Đến sau nó là một quái thú trông như một con rồng nhưng cơ thể chỉ toàn là lửa đỏ và trên lưng nó là vô số Balrogs. Lửa độc từ miệng của loài sâu bọ đã đốt cháy những người đối kháng và hai chiếc cánh thiên nga trên mũ của Tuor đã bị cháy đen. Chàng tập hợp tất cả quân Cánh Cung và Chim Nhạn còn lại cùng bên trái là Ecthelion của Nhà Tháp Nước. Giờ đây một lần nữa vô số Orc lại chui ra từ ổ bụng của những con rồng sắt, chúng trà trộn vào đám Balrog hung hăng tấn công quân Gondolin như bão táp. Cũng chính nơi đó Tuor đã giết chết Othrod một tên thủ lĩnh Orc, chém lìa Balcmeg và đâm trọng thương Lug với chiếc rìu thần. Ecthelion thì một nhát kiếm đã lấy được thủ cấp hai tên thủ lĩnh Orc và Orcobal hung tàn.

Sự dủng mãnh của họ đã khiến quân địch khiếp vía, họ lại xông đến tân công Balrog. Những con quái thú này Ecthelion giết chết ba bởi thanh kiếm sắc bén khi chém đến thép đến lửa cũng phải bị tổn thương, chúng quần quại trong cơn đau đớn. Chiếc rìu Dramborleg trong tay Tuor càng khiến chúng kinh sợ hơn, chàng múa rìu làm nó phát ra những tiến kêu vun vút như những âm thanh từ đôi cánh đại bàng đang vỗ cánh trên không trung. Chiếc rìu tử thần đã lấy đi sinh mạng năm tên Balrog.

Nhưng dù có dủng mãnh đến đâu thì số ít khó lòng chiến thắng số đông. Cánh tay Ecthelion đã bị một chiếc roi lửa của Balrog làm trọng thương, chiếc khiên cũng rơi xuống đất và ngai lúc đó con rồng lửa khổng lồ đã đến kề bên đống đá đổ nát. Tuor vội chạy đến trợ giúp Ecthelion, nhưng bất ngờ mặt đất rung chuyển và con rồng khổng lồ kia đang giương bàn chân to lớn của nó định đè bẹp hai người, nhưng Tuor đã nhanh như chớp vơ lấy chiếc rìu chém vào bàn chân làm cho nó kêu la thãm thiếc. Lửa từ vết thương trào ra và con quái thú lên cơn điên loạn, đuôi có nó quờ quạng mọi hướng đã khiến không ít Noldoli và Orc phải bỏ mạng. Giờ đây Tuor cõng Ecthelion trên lưng cùng những người còn lại thoát khỏi con rồng đang điên loạn giẫm đạp khắp nơi khiến cả kinh thành Godolin rung chuyển.

Và đó là Tuor con trai Huor đã chiến đấu oanh liệt trước kẻ thù, chàng mang về từ trận chiến Ecthelion thủ lĩnh Nhà Tháp Nước, nhưng những con rồng độc ác và kẻ địch đã chiếm một nữa thành phố cùng tất cả vùng đất phương bắc của nó. Chúng tàn bạo tự do cướp bốc, giết người. Chúng bắt giữ nhiều tù nhân, phụ nữ, trẻ em và trối chặt hai tay họ và tống giam vào buồng sắt khổng lồ trên bụng những con rồng sắt để dễ dàng mang về Angband.

Chạy theo hướng bắc Tuor đã đến một quảng trường nơi đó chàng trông thấy Galdor đang dủng cảm chiến đấu, xung quanh ông chỉ còn rất ít quân Nhà Cây. Các tàn quân còn lại của Cánh Trắng, Nhà Cây, Tháp Nước, Chim Nhạn và Cánh Cung tập hợp tạo thành đội quân. Tuor đưa ra kế hoạch tìm cách rút quân về Quảng Trường Chính của Hoàng Cung. Giờ đây có nhiều người bị thương nặng hoặc mệt mõi không còn sức lực, và Tuor thì tay chân rả rời sau hàng giờ chiến đầu lại cõng thêm trên lưng Ecthelion, người giờ đây đang mê man bất tỉnh. Chàng dẫn quân theo lối Đường Cung (Road of Arches) từ hướng tây bắc nhầm ngăn chặn kẻ địch tấn công từ phía sau. Bổng có tiếng binh giáp xuất phát từ hướng đông của Quảng Trường và kìa Glorfindel và quân Hoa Vàng cuối cùng đã đến.

Nói về Glorfindel tham gia trận chiến ác liệt diễn ra nơi khu Chợ Chính nằm ở hướng đông của thành phố. Một đội quân Orc đi theo lối vòng tấn công họ bất ngờ. Tuy vậy họ vẫn chiến đấu không mệt mõi cho đến khi bị áp đảo bởi một con rồng lửa. Bị bao vây tứ hướng Glorfindel cùng những người còn lại tìm đường thoát khỏi vòng vây, nhưng những kiến trúc tuyệt đẹp, những thứ quý giá được làm từ bàn tay khéo léo của Noldoli đã bị lửa đỏ thêu huỷ. Chuyện kể rằng thuộc hạ của Glorfindel hối hả chạy đến hoàng cung xin viện trợ và đức vua Turgon đã hạ lệnh cho quân Đàn Hạc đến hiểm trợ. Nhận được lệnh trên nhưng Salgant đã không tuân theo mà trái lại hắn còn che giấu mọi người và lệnh cho quân Đàn Hạc cấm trại ở hướng nam nhầm bảo vệ dinh thự của hắn. Quân lính trở nên cáu gắt vì mệnh lệnh của thủ lĩnh đốn mạc, họ quyết trái lệnh quay về hoàng cung thì mới hiểu được sự sấu xa của Salgant. Cũng vì lý do đó họ đã kịp thời đến giải vây cho quân Glorfindel trong giờ phút khẩn cấp nhất. Tuy nhiên nhiều người trong số họ bị vây hãm trong trận chiến đó mà xung quanh chỉ là lửa đỏ, họ ngả rục trước hơi thở và lửa ma nóng bỏng của loài rồng ma quái.

Tuor uống những giọt nước tinh khiết từ Tháp Nước của Quảng Trường Chính và cơ thể nhanh chóng hồi phục, chàng lấy nước cho Egalmoth uống và rửa mặt để ông được tỉnh lại. Giờ họ đã rút vào Quảng Trường Chính của hoàng cung nơi được bảo vệ bởi các bức tường đá vững chắc, tuy nhiên hướng nam vẫn còn bỏ ngõ và từ hướng đó Egalmoth cùng những người Nhà Cánh Cung đã đến.

Giờ đây Quảng Trường Chính đã tập hợp đầy đủ các chiến binh còn lại của 12 Nhà Gondolin, duy chỉ Nhà Búa Thần đã hy sinh không còn một ai. Lâu đài của đức vua vẫn chưa bị chạm đến và nơi đó sẽ là nơi diễn ra trận đánh cuối cùng.

Quân Melko cũng tập chung lực lượng, 7 con rồng lửa trên lưng là Balrogs cùng Orcs đến từ các hướng bắc, đông, tây chúng hối hả truy tìm lâu đài đức vua. Nơi tường thành bảo vệ đã xảy ra trận chiến đẫm máu, Egalmoth cùng Tuor tả xung hữu đột trong khi Ecthelion bị thương đang nằm kề bên một tháp nước. Cuối cùng những con rồng cũng phá được các bức tường ở hướng bắc, nơi đó có Con Đường Hoa Hồng một nơi vô cùng thơ mộng nhưng giờ đây còn lại chỉ là những vết đen dài, hoa cỏ cháy trụi cùng những tiếng gào thét vang trời.

Tuy bị thương nặng nhưng Tuor đã can đảm chặn lối quái thú, Egalmoth cùng những người khác đẩy chàng qua một bên và dồn chàng vào trung tâm Quảng Trường kề bên Tháp Nước. Nhưng không khí bổng trở nên ôi bức vì Gothmog chúa tể loài Balrog, con trai Melko đã đến tấn công Tuor. Tuor bị thương nên không còn đủ sức chống đỡ những đòn roi lửa của Gothmog, nhưng vào lúc đó Ecthelion với sức lực còn lại vớ lấy thanh kiếm xông đến tấn công loài ác quỷ, roi lửa cùng hơi nóng của nó đã khiến Ecthelion đánh rơi thanh kiếm nhưng trong bước đường cùng Ecthelion liều mạng dùng chiếc mũ có thanh sắt nhọn đâm vào ngực nó và khiến cả hai rơi vào đáy sâu của Tháp Nước. Thế là Ecthelion vị anh hùng Gondolin, một trong chiến binh mạnh mẽ nhất của Noldoli đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và yên nghĩ trong dòng nước lạnh.

Tuor trông thấy những gì đã xãy ra, chàng thương tiếc cho vị anh hùng thành Gondolin. Nhưng trận chiến vẫn tiếp diễn, kẻ địch hung hăng chém giết vì cái chết của tên nguyên soái đã khiến chúng nổi cơn điên loạn. Từ trên lâu đài, đức vua Turgon bước xuống trong áng sáng chói ngời, tay cầm thanh gươm xông vào trận địa chiến đấu cùng mọi người. Dường như có thêm sức mạnh họ đã càn quét kẻ địch, nhiều Balrog bị giết, họ bao vây một con rồng lửa và dồn nó đến bên tháp nước và một lần nữa là nơi chôn xác loài ác quỷ. Lửa trong người con quái thú đã khiến nước khô cạn, nó không còn phun ra những vòi nước lên không trung mà bốc hơi làm thành những làn khói khổng lồ hội tụ thành những đám mây mù trôi nhẹ khắp nơi. Cả Quảng Trường chìm trong hơi nước mù mịt, nhiều người bị chết bởi hơi nóng hoặc bị giết bởi kẻ thù, dưới gốc cây Glingol và Bansil đầy rẩy xác người.

Đức vua Turgon nói: “Đại bại làm sao kinh thành Gondolin!”, mọi người rùng mình khi nhớ đến lời tiên tri khi xưa của Mandos về định mệnh của Noldoli. Nhưng Tuor quá yêu mến đức vua, chàng hô to: “Gondolin vẫn còn đứng vững, Ulmo sẽ không bỏ rời chúng ta.” Nhưng lúc đó Turgon đứng trên bậc đá và Tuor đứng trước mặt làm ông nhớ đến lời nói của chàng ngày xưa khi lần đầu đặt chân đến Gondolin. Turgon nói: “Ma quỷ ta đã mang đại hoạ đến chốn thần tiên này trong sự hờn trách của Ulmo, và ngài không còn màn đến dù giờ đây nó chìm trong biển lửa. Ta không còn hy vọng gì thêm nữa, nhưng những người con của Noldoli sẽ không hứng chịu thêm mất mát.” Turgon lại nói tiếp: “Chạy không phải là chống lại số mệnh, ôi các con của ta! hãy chạy thoát thân trước khi quá muộn, và hãy để Tuor là người đưa đường dẫn lối.”

Ông tháo bỏ vương miện và đặt nó bên gốc cây Glingol, nhưng Galdor đã nhặt nó lên trao lại nhưng ông không chấp nhận. Đầu trần ông tiến lên nơi cao nhất của toà tháp và hô to: “Thật tuyệt vời làm sao cho chiến thắng vinh quang của Gondolin.” giọng ông nói vang vội khắp nơi, bọn Orc nghe thấy cười hê hả trong nhạo báng.

Chương 6: Tẩu Thoát

Họ bàn nhau về việc phá vòng vây, nhưng lại e ngại đó là một chuyện không dễ dàng và không tin tưởng có thể đến được vùng đồng bằng của thung lũng hay vượt qua các dãy núi. Tuor nhìn quanh thì thấy có nhiều phụ nữ và trẻ em, chàng không muốn chứng kiến cảnh họ phải chết thãm nên đã nói đến đường hầm bí mật. Tuor cùng mọi người van xin đức vua Turgon thay đổi ý định và cùng họ thoát khỏi vòng vây, nhưng ông đã cương quyết dù có chết thì sẽ chết cùng Gondolin nên cho dù họ có nói cách nào ông cũng không đổi ý. Ông càng yên tâm hơn khi biết Idril và Eärendel vẫn còn một con đường sống và khuyên họ nên khởi hành ngay lập tức.

Nghe kế hoạch Tuor đưa ra các vị thủ lĩnh xem đó như là con đường liều mạng vì đường hầm quá nhỏ bé lại chật hẹp trong khi số người phải vượt qua lại quá đông. Nhưng Turgon lại hối thúc: “Hãy để Tuor là thủ lĩnh của các ngươi và mau cấp tốc lên đường trước khi quá muộn, nhưng ta Turgon sẽ không bao giờ rời bỏ chốn này.” Nghe những lời trên nhiều người càng không muốn bỏ rơi đức vua đáng kính, Turgon lại nói tiếp: “Nếu các ngươi xem ta là vua thì phải tuân theo mệnh lệnh của ta, ta ra lệnh cho các ngươi đi ngay bây giờ!”. Nhưng đội quân Nhà Hoàng Tộc thà chết bảo vệ ngài và không cùng những người khác lên đường. Trước tình hình trên Tuor phân vân giữa đức vua đáng kính và vợ cùng con trai, Dẫu tình yêu của chàng dành cho Idril hơn cả Gondolin nhưng dù quyết định nào cũng làm trái tim chàng tan nát.

Những con rắn đồng rắn sắt đang que quẩy từ những xác chết trên Quảng Trường, trong làn khói sương mù mịt kẻ địch một lần nữa tập hợp lực lượng đánh một đòn cuối cùng tiêu diệt Gondolin. Giờ quyết định đã đến, Tuor nghe thấy những tiếng than khóc của phụ nữ, trẻ em, thương sót cho những người còn lại của Gondolin nên tập hợp tất mọi người lại. Chàng cho quân bảo vệ quanh họ, phân bố chật chẽ hai bên đồng thời tăng cường phòng thủ ở phía sau. Mục đích của chàng là đi theo hướng nam một cách nhanh nhất, đi bằng lối Con Đường Hoa Gấm (Road of Pomps) đến Điện Tế Thần nơi khi xưa đã từng tổ chức đám cưới của chàng và Idril. Và sẽ vượt qua Lối Nước Chảy (Way of Running Waters) nơi có các tháp nước cao ở hướng nam để đến dinh thự của chàng.

Kẻ địch quan sát động tĩnh của họ vội đến tấn công bên sườn trái và phía sau từ đông sang bắc. Nhưng may mắn cho họ vì bên phải đã được che chắn bởi lâu đài và không ít lâu sau những người đi đầu sẽ đến được Con Đường Hoa Gấm.Trong ánh sáng chập chờn, vài con rồng nhảy đến tấn công họ, nhưng Glorfindel cùng đội quân Nhà Hoa Vàng đã bảo vệ ở phía sau dù nhiều người đã hy sinh nhưng cuối cùng họ cũng vượt qua Con Đường Hoa Gấm và đến được Điện Tế Thần (Gar Ainion).

Đó là một vùng đất rộng nằm giữa thành phố bốn bề trống trãi, nơi đó có một mãnh đất cao nhất so với những nơi khác. Tuor nhìn lại phía sau thì thấy một đoàn quân quỷ dữ đang rầm rộ kéo đến và e rằng khó bề thoát khỏi tai ương. Nhưng có lẽ do Valar phù hộ kẻ địch bổng nhiên chậm bước và không phát hiện ra họ trong làn khói sương mù mịt và đó thật là một chuyện lạ kỳ.

Đoàn người đã đến được Điện Tế Thần và kìa Tuor trông thấy người vợ hiền đang đứng đợi chờ. Tóc nàng xoã tung đông đưa theo gió như trong ngày cưới. Đứng bên nàng là Voronwë nhưng lạ thay quanh họ không thấy một ai. Tuor vui mừng khôn xiết, nhưng Idril dường như không để ý đến chàng, mắt nàng đâm đâm nhìn về một nơi xa, nơi lâu đài đức vua đang chìm trong biển lửa. Tất cả mọi người dừng chân trông về hướng ấy, mắt họ ướt nhoè và trái tim như chết lặng.

Giờ đây họ trông thấy kẻ thù tiến càng gần lâu đài và nó không còn đường cứu vãn. Một con rồng khổng lồ cuộn mình đến bậc thang cao nhất làm nhơ bẫn màu trắng tinh khiết của lâu đài. Bọn Orcs thi lục lọi tàn phá khắp nơi trong khi các chiến binh Nhà Hoàng Tộc ra sức chống cự trong tuyệt vọng. Cây Glingol và Bansil bị lửa cháy đen, và lâu đài giờ đây bốn bề bị phủ vây. Dưới chân lâu đài những con rồng sắt, rồng đồng phun ra những ngọn lửa nóng rát từ những giếng địa ngục của Meko, lâu đài chao đảo trong cơn lửa đỏ cùng những tiếng kêu thê thãm của những người không may.

Idril nói trong nước mắt: ” Thật đau đớn cho ta khi phải nhìn cảnh cha già bị thiêu chết trên đỉnh tháp cao”. Nàng trở nên điên dại trong nỗi thống khổ. Tuor nói: “Ôi Idril! nàng vẫn còn có ta, giờ thì hãy nén thương đau cùng nhau lên đường, hãy tránh xa địa ngục đen tối của Melko!”.

Vào lúc đó từ nơi khổ đau của trần thế lại phát ra những tiếng kêu la thãm thiết và kìa toà tháp chao mình trong biển lửa và đổ ngã, một âm thanh vang trời vang vội khắp nơi. Và thế là Turgon đức vua của thành phố hào hoa Gondolin đã ra đi, và giờ đây chiến thắng đã thuộc về tay Melko.

Đoạn Idril nói trong ngẹn ngào: “Buồn thay cho cha ta, ngài quá không ngoan nhưng lại quá mù quáng”. Tuor lại nói tiếp” “Buồn thay cho những người ta yêu quý, chúng ta phải lên đường ngai lập tức chỉ e quá muộn”. Họ lên đường đi xa trong khi bọn Orc săn lùng châu báu trong các lâu đài và bọn chúng đang ăn mừng cho chiến thắng.

Trên đường đi về hướng nam họ bắt gặp một nhóm Orcs đang cướp bốc, tàn phá và chúng bỏ chạy khi thấy đoàn người. Xung quanh giờ chỉ là những đống điêu tàn đổ nát, lửa cháy khắp nơi bởi sự tàn nhẫn của kẻ thù. Họ cũng đã cứu được một vài người may mắn còn sống sót.

Đi thêm một đoạn Tuor hỏi Voronwë về những gì đã xảy ra nhất là tin tức của Eärendel vì Idril đã ngất từ tối đêm qua do quá xúc động. Voronwë kể lại rằng cả hai đã đứng đợi trước cửa vì những tiếng kêu la đến từ chiến trường, Idril lo lắng không yên khi không có tin tức của Tuor. Sau một thời gian dài chờ đợi nàng đã hối thúc những người thân cận mang Eärendel đi vào đường hầm trước. Nàng đau buồn trong giờ phút chia ly vì không biết được mình có còn được gặp lai đứa con thân yêu nữa hay không và bảo rằng sẽ không muốn sống nếu như không tìm được chồng. Nàng tập hợp phụ nữ, trẻ em, những người đang chốn chạy và đưa họ vào đường hầm thoát thân.

Idril và Voronwë phát hiện một toán quân khá đông, và Voronwë nhanh trí kéo nàng vào chổ ẩn thân. Bởi do may mắn hay thần linh phù hộ chúng tàn phá khắp nơi, đốt cháy dinh thự Tuor nhưng vẫn không tài nào tìm ra đường hầm bí mật. Voronwë lại nói “Thêm vào đó công chúa càng trở nên điên loạn bởi u sầu và quyết đi sâu vào trong thành phố nơi đang diễn ra chiến tranh tàn khốc làm cho tôi vô cùng lo lắng.”

Khi nói ra những lời này họ đã đến dãy tường thành phía nam của dinh thự Tuor. Và kìa giờ đây khói đen mù mịt, những gì sót lại chỉ là những mãnh đá vụn cháy đen. Nhìn cảnh trên Tuor trong lòng đau đớn, nhưng họ bổng nghe thấy tiếng quân binh có lẽ bọn Orc đã kéo đến cho nên Tuor đã vội đưa mọi người vào đường hầm bí mật.

Đứng trên những bậc thang của đường hầm, họ nhìn về thành phố Gondolin quê hương hơn 400 năm của họ một lần cuối, nhìn về phía trước thì chỉ thấy tương lai đen tối trong sự săn đuổi của Melko. Tuor cảm thấy nhẹ nhõm khi tất cả mọi người đã đi vào đường hầm mà không bị phát hiện, chàng càng tin rằng Valar đã không bỏ rơi họ.

Nhưng phía trước trong đường hầm lại có những tảng đá lớn chặng lối vì sự sụp đổ của toà lâu đài. họ nhanh tay dọn đường và tiến về phía trước. Đi theo đường hầm cho đến khi họ đến được một nơi có độ cao tương đương bề mặc thung lũng thì cái nóng càng cao không sao cưỡng được. Đó là vì họ đang ở rất gần thành phố, rất gần mặt đất và phía trên là lửa rồng cháy rực. mặt đất rung chuyển, những tảng đá rơi rớt khiến nhiều người chết, cả đường hầm khói đen mù mịt dù cho họ có mang lồng đèn hay đuốc vẫn không có lợi ích gì. Họ bất ngờ vấp lên những xác chết đó là những người không may đi trước và đã không thoát khỏi tai kiếp, Tuor lo sợ cho an nguy của Eärendel và tất cả rơi vào bóng tối.

Đã hai giờ trôi qua họ lầm lũi đi trong đường hầm đen tối và nghĩ rằng ra được bên ngoài là một điều kỳ diệu. Đường hầm thoát ra một hố rộng trước kia vốn là một cái hồ lớn, nhưng giờ đây nước trong hồ đã cạn cỏ hoang dầy đặc mọc cao chót vót. Nơi đó họ đã gặp đoàn người đi trước nhưng vẫn không biết được tung tích của Eärendel.

Họ khóc than khi nhìn về ngọn đồi Anion Gwareth hiện như một cái chảo lửa đỏ. Nơi đó quê hương thành phố xinh đẹp của họ đang bị lửa rồng thêu cháy, những con quái thú ra vào những cánh cỗng và Balrogd, Orcs không ngừng lùng sục khắp nơi và tự do tàn phá. Tuy nhiên những người dẩn đầu trong lòng nhẹ nhõm vì họ tin rằng giờ đây kẻ thù đang mãi mê chiến thắng, chúng tập chung trong thành phố nên sẽ an toàn cho con đường họ đi phía trước.

Galdor nói” Chúng ta phải đến được Dãy Núi Bao Quanh trước khi bình minh, giờ là mùa hè và thời gian không còn nhiều.” Họ bàn tán xôn xao về con đường họ sẽ chọn lựa. Một vài cho rằng lựa chọn của Tuor đến Cristhorn hay Đèo Đại Bàng là một sai lầm, họ cho rằng mặt trời sẽ mọc từ lâu trước khi họ đến được chân ngọn đồi và sẽ bị nhấn chìm bởi những con rồng và quái thú. Hãy đi đến Bad Uthwen vào Lối Thoát Hiểm bởi đoạn đường đến đó ngắn hơn rất nhiều chỉ bằng một nữa, hơn nữa mọi người đã mệt mõi nhiều người lại bị thương họ sẽ không chịu đựng được quãng đường quá xa.

Nghe những lời trên Idril nhiệt liệt phản đối, nàng cố thuyết phục họ không nên tin vào con đường thần bí đó vì trước đây nó đã từng bị phát hiện, hơn nữa giờ đây phép nhiệm mầu bảo vệ Gondolin đã không còn. Tuy nhiên một số người vẫn không nghe theo lời van cầu của Idril, họ chia tay nhóm người Tuor và lên đường đến Bad Uthwen. Như Idril tiên đoán nơi đó họ rơi vào miệng quỷ dữ vì Melko đã cho quân mai phục trước của đường hầm từ lâu. Không một ai trong số họ sống sót để thấy được ánh sáng mặt trời.

Những người còn lại được Legolas Greenleaf của Nhà Cây đi trước dẫn đường vì chàng biết rất rõ vùng đất ấy và có đôi mắt cực sáng có thể nhìn rõ mọi vật dù đó là ngày hay đêm. Ho đi liên tục qua các vùng thung lũng và chỉ dừng chân sau một cuộc hành trình rất dài.

Khi họ khởi hành dưới sự che chở của sương mù dầy đặc có lẽ đến từ các tháp nước trong kinh thành và cuối cùng đến được chân dãy núi trước khi mặt trời mọc. Đó là những dãy núi hay nói đúng hơn là những ngọn đồi thấp cách kinh thành Gondolin 7 dậm, và Cristhorn hay ngọn Đèo Đại Bàng ở trên cao thêm 2 dậm. Giờ đây mặt trời đã đứng bóng trên dãy đồi tây. Nó to lớn và đỏ rực, nhưng Gondolin giờ đây chỉ còn là đống đổ nát chôn thân trong mây mù. Không khí trở nên trong lành và phía trước họ trông thấy một cuôc sắn đuổi vô cùng kỳ lạ. Những con sói to lớn cỡi trên lưng chúng là Orc trên tay đang cầm những ngọn giáo đang đuổi giết một nhóm người. Tuor vội nói nhìn kìa! đó là Eärendel con trai ra, khuôn mặt nó như phát ra ánh sáng của những vì sao trên vùng đất hoang dã, xung quanh nó là người Nhà Cánh Cung và dường như họ đang bị thương nặng, đứa bé được Hendor một người hầu của Tuor vác trên vai. Tức khắc Tuor chọn ra 50 người còn khoẻ mạnh cùng chàng đến giải vây, họ xếp đội hình thành một dãy bao vây không cho thuộc hạ Melko chốn thoát vì sợ rằng chúng sẽ mang tin tức về kinh thành. Với kế hoạch đó Tuor đã thành công, tuy bị thương nặng nhưng hai tên đã chốn thoát và mang tin tức về cho đồng bọn dù đã quá muộn.

Eärendel vui mừng khôn xiết khi gặp lại cha mẹ, Tuor mang nó trên vai và cùng đoàn người trở lại. Nơi đó nỗi buồn của Idril vơi đi phần nào khi gặp lại đứa con yêu quí. Eärendel hỏi mẹ: “Mẹ trông mệt mõi, con nhìn trong cả đoàn người nhưng lại không thấy Salgant!”. Idril chỉ mĩm cười nhưng không trả lời. Nó lại hỏi tiếp” Salgant đang ở đâu?”. Bởi Salgant thường kể cho nó nghe những câu chuyện, hay chơi đùa với nó mỗi khi có dịp đến thăm viếng vợ chồng Tuor. Hắn rất thích rượu ngon và các bửa ăn thịnh soạn khi được làm khách nơi dinh thự Tuor. Nhưng không một ai biết Salgant đã ở đâu hoặc hiện đang làm gì, có lẽ ông ta đã bị lửa thiêu khi đang còn ẩn trốn trên giường, hoặc ông ấy đã bị quân Melko bắt làm tù binh để làm trò hề, nếu thế thật là đáng tiếc cho một giống loài thánh thiện, một dòng tộc cao quý của Gnomes. Eärendel rất buồn khi nghe những điều đó, nó đi bên mẹ nhưng không nói một lời nào.

Đó một buổi sáng kỳ lạ mặt trời đứng bóng nhưng mọi nơi vẫn còn u ám, tiếp tục lên đường và nghĩ chân trên một thung lũng nhỏ có nhiều rừng cây và bụi gậm. Nhiều người ngủ say trong cuộc hành trình gian nan nhưng Tuor vẫn không chợp mắt vì chàng không an tâm, lo sợ kẻ địch đột kích bất ngờ. Họ ăn một buổi ăn nhanh với vài miếng thịt vụn, Eärendel lại hỏi mẹ: “Mẹ Idril con muốn Ecthelion thổi sáo cho con nghe hay thổi những tiếng nhạc kỳ lạ từ những chiếc lá dương liễu.” Idril không nói được lời nào và mọi người nghe thấy những lời của đứa trẻ ai cũng đau xót vì họ quá yêu mến Ecthelion, vị anh hùng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ Gondolin.

Khoảng một giờ sau đó mặt trời bắt nấp mình sau dãy đồi và đoàn người tiếp tục lên đường. Họ leo lên những con đường gập ghềnh, cỏ bất đầu mọc ít đi nhường cho những tảng đá phủ đầy rêu xanh, kể cả cây thông hay linh sam đều trở nên thưa thớt.

Giờ đây họ đã đến gần Đèo Cristhorn hay Vực Đá Đại Bàng, nó là một lối đi nguy hiểm, nhất là hiện giờ mặt trời đã khuất bóng. Không đèn, không đuốc lại còn vô số người già, trẻ em, kẻ thì bệnh tậc kẻ lại bi thương, tuy nhiên họ không còn lo sợ quân Melko vì đã đi quá xa, đến một nơi không ai ngờ đến. Khi lên càng cao thì trời càng tối đen như mực, con đường nhỏ hẹp và bấp bênh vì thế họ phải dàn ra thành những hàng dài rời rạc. Galdor cùng những người có trang bị vũ khí đi phía trước, đi cùng họ là Legolas với cặp mắt sáng như mèo trong đêm tối họ có thể những gì ở rất xa. Theo sau là những người phụ nữ còn khoẻ mạnh đang ra sức giúp đỡ những người bị bệnh hay bị thương, Idril và Eärendel đi cùng nhóm người này. Tuor cùng quân Cánh Trắng bảo vệ phía sau họ, đồng thời giúp đỡ những người bị thương từ trận chiến trong kinh thành. Đi sau họ là rất nhiều phụ nữ và trẻ em cùng những cô gái. Hai bên và phía sau cùng được bảo vệ bởi những đội quân hùng mạnh trong đó có Glorfindel Tóc Vàng Kim của Nhà Hoa Vàng.

Cristhorn là một ngọn đèo rất cao, cao đến độ mùa xuân hay mùa hè không bao giờ đến được chốn ấy và giá buốt quanh năm. Trong khi mặt trời chiếu những tia nắng đang nhảy múa dưới thung lũng thì nơi đó tuyết phủ đầy, gió mạnh gào thét như cắt da cắt thịt. Tuyết tiếp tục rơi và những cơn gió mạnh thổi chúng bay xoay tít rơi vào mắt mọi người và đó là một điều không tốt vì con đường vô cùng chặc hẹp một bên là dốc đá thẳng đứng một bên và vực sâu không đáy. Ở đó có những tảng đá cao chộc trời và trên đó có những tổ chim kỳ lạ và đó là lãnh địa của Thorndor chúa tể đại bàng, vua của giống loài Thornhoth hay còn được người Gondolin gọi là Sorontur.

Một thác nước lớn đổ vào đáy vực nó có tên Thorn Sir. Nó đổ từ phía nam trên một vách đá cao nhưng nguồn nước vô cùng yếu ớt.

Galdor và mọi người giờ đang đi đến gần nơi con thác Thorn Sir đổ vào vực thẩm, Ho trở nên khả nghi khi thấy những chiếc bóng đang chập chờn phía trước, nhưng kẻ đã nấp mình sau những tảng đá và đã qua tránh được ánh mắt sức bén của Legolas. Tuor biết rằng đã bị mai phục, chàng liền hạ lệnh cho phụ nử, trẻ em cùng những người bị thương lui về phía sau, còn mình cùng quân Cánh Trắng xông lên trợ giúp Galdor. Và đó là một cuộc ấu đã trên một vực cao nguy hiểm. Nhưng bất ngờ có những tảng đá cao từ trên cao rơi xuống va vào nhiều người khiến họ bị thương, nhưng đó không là gì với tin họ nhận được rằng phía sau cũng đang bị tấn công và một con Balrog đi cùng chúng.

Quân dọ thám đã được lệnh của Melko giăng bẫy khắp các dãy đồi, hơn nữa chúng đã phát hiện ra đoàn người từ khi họ đặt chân đến thung lũng Cây Phỉ, giờ đây chúng tập chung nhiều băng nhóm và đồng loạt tấn công. Galdor và Glorfindel bình tĩnh trong cuộc đột kích bất ngờ, nhiều tên Orcs đã bị đánh rơi vào vực sâu không đáy, nhưng điều lo ngại là những tảng đá cứ tiếp tục rơi và Tuor sợ rằng kéo dài như thế họ sẽ bị đánh bại và cuộc tẩu thoát theo đó sẽ thất bại.

Nhưng lúc đó mặt trăng bắt đầu nhô lên cao, màn đêm được phá vỡ và ánh sáng tuy yếu ớt nhưng cũng phá được mà đêm tịch mịch. Thorndor chúa tể đại bàng giật mình thức giấc, ngài vô cùng căm thù Melko bởi hắn đã bắt đi rất nhiều đại bàng thuộc giống loài Thornhoth. Hắn xiềng xích họ lại treo lên những tảng đá cao sắc bén, tra tấn ép buộc họ chỉ dạy cho hắn phép thuật để bay bởi hắn có tham vọng muốn đọ sức cùng quân Manwë trên không. Và khi họ không chịu nói ra, hắn sẽ cắt lấy đôi cánh và cố tìm cách sử dụng chúng nhưng cũng vô ích!

Giờ đây những tiếng la hét vang lên từ bên dưới đã khiến vị chúa tể đại bàng tò mò, ngài tự hỏi: “Có chuyện gì kỳ lạ thế, Orcs trên những ngọn đồi của ta, dám bén mạng đến gần vương quốc của ta, và vì sao những người con Noldoli lại kêu la thãm thiết bởi những đứa con ghê tởm của Melko?”. Thorndor với chiếc mõ cứng như thép, móng vuốt sắc bén như gươm, ngài vươn đôi cánh dủng mãnh và theo sau là những cơn gió mạnh như những trận cuồng phong vì thần dân Thornhoth cùng đức vua xông trận. Họ sà xuống và dùng những móng vuốt như dao xé nát những khuôn mặt xấu xa của Orcs, quăng chúng vào những tảng đá nhọn dưới con thác Thorn Sir.

Đoàn người Gondolin vui mừng khôn tả khi đại bàng xuất hiện, và từ đó về sau họ lấy hình ảnh đại bàng là biểu tượng để biểu hiện cho sự vui mừng, nhưng Eärendel lại thích đôi cánh thiên nga của cha nó hơn.

Giờ quân Galdor không còn bị trở ngai và đã đánh lui kẻ thù, bởi cơn thịnh nộ của quân Thornhoth quá ghê gớm khiến chúng hồn phiêu phách tán bỏ chạy tứ hướng. Tuy nhiên quân Glorfindel vẫn đang chiến đấu mệt mõi phía sau. Lúc đó Balrog và quân Orc bị đánh lui, nhưng trong cơn điên loạn Balrog đã nhảy đến tấn công phụ nữ và những người bị thương bằng chiếc roi lửa của nó. Đoạn Glorfindel tiến đến đối địch, chiếc áo giáp của ông chiếu sáng lấp lánh dưới ánh trăng kỳ diệu. Glorfindel tấn công khiến con Balrog phải nhảy mình lên một tảng đá cao và Glorfindel nhảy lên chiến đấu cùng nó. Glorfindel tấn công Balrog liên tiếp khiến nó phải né bên này tránh bên kia, chiếc áo giáp lại có thể đỡ được những đòn roi lửa và hàm sắt của nó khiến nó càng thêm hoảng sợ. Glorfindel tấn công một đòn mạnh và chém đứt cánh tay đang cầm roi lửa của nó. Con Balrog nhảy nhót trong cơn đau đớn và xem chừng vô cùng e dè Glorfindel. Nó xông đến túm lấy vai Glorfindel nhưng ông đã vội lấy một con dao gâm đâm vào bụng con quái thú khiến nó gào thét và rơi về phía sau, nhưng trước khi rơi xuống nó đã kịp đợp lấy những chiếc móc trên mũ Glorfindel và lôi cả hai cùng rơi xuống vực thẩm, âm thanh vang vội cả đáy vực Thorn Sir khi họ rơi xuống, và bọn Orc như rắn không đầu chúng vội bỏ chạy thoát thân. Thorndor vua đại bàng đã bay xuống vực sâu và mang về xác Glorfindel, nhưng con Balrog thì vẫn nằm đấy, dòng nước Thorn Sir từ đó đổ ra một màu đen cho đến nhiều ngày sau đó.

Tuor Và Sự Sụp Đổ Của Gondolin (Tóm Tắt Từ The Silmarillion)

Tuor là con trai của Rían và Húor, Húor là em trai của Húrin và ông đã bị chết trong chận chiến thứ Năm nếu các bạn còn nhớ. Tuor được Annael, một Elf Xám nhận làm con nuôi. Khi chàng được 16 tuổi, người Elf vùng Androth khai chiến để mở rộng lãnh thổ đến vùng Sirion, nhưng họ lại bị mai phục và trong trận chiến ấy Tuor bị bắt làm nô lệ. Ba năm sau, chàng trốn thoát và trở về Androth, không bỏ cuộc chàng lại tìm mọi cách phá hoại căn cứ kẻ thù. Angband đã treo giải thưởng cao cho kẻ nào có thể lấy được thủ cấp của chàng.

Vị thần nươc Ulmo từ lâu đã chọn Tuor cho kế hoạch của ngài. Bị săn lùng khắp nơi, Tuor rời bỏ quê hương lưu lạc đến Nevast, vùng đất khi xưa Turgon đã từng sống trước khi ông xây dựng vương quốc Gondolin theo lời mách bảo của Ulmo. Sự ra đi không ai hay biết, chàng ở lại Nevast cho đến một hôm có 7 con Thiên Nga khổng lồ từ đâu bổng xuất hiện trên bầu trời, biết đó là điều lạ, chàng liền đuổi theo chúng. Theo dấu 7 con thiên nga, chàng khám phá ra hang động Vinyama, khi vào bên trong chàng tìm thấy một thanh kiếm và một chiếc áo giáp, những vật này vốn của Turgon khi xưa ông để lại theo lời mách bảo của thần nước Ulmo. Chàng mặc giáp sắt, tay mang thanh kiếm tiến vào hang động tối tăm, chàng đi mãi đi mãi cho đến khi phát hiện trước mặt mình là một bãi biển kỳ lạ. Vị thần Ulmo bổng xuất hiện trước mặt chàng và bảo “Ngươi hãy tìm đường đến vương quốc Gondolin, và hãy gỡi đến Turgon lời ta cảnh báo về mối nguy cơ của Gindolin. Ta ban cho ngươi chiếc áo thần để có thể che mắt kẻ thù.”

Trên đường đi, Tuor đã cứu mạng cho Vonronwe, Vonronwe vốn được Turgon sai đi tìm đường vào Valinor, van xin các vị thần giúp đỡ. Đường vào Valior đã bị chắn, và vị thần Ulmo đang canh giữ nơi ấy. Ulmo đã nỗi cơn bão lớn đánh dạt thuyền ông đến nơi này. Nghe Tuor kể về câu chuyện của mình, Vonronwe đồng ý giúp chàng đến Gondolin. Trên đường đi, họ đã bắt gặp một chàng trai trẻ, vận một chiếc áo đen, tay mang một thanh kiếm đen, người ấy không ai khác hơn chính là Túrin Turambar. Có lẽ định mệnh đã an bài, họ đi đối diện nhau, nhưng lại không nhận ra nhau. (Câu chuyện này và chuyện của Túrin xãy ra cùng một thời gian nha mấy bạn).

Họ đến cổng thành và bí mật đi vào Gondolin, nhưng khi đến nơi Tuor bị lính canh bắt. Tuor đưa ra thanh kiếm, áo giáp của Turgon, đồng thời chàng bảo đến đây theo lời dặn dò của Ulmo vì có việc hệ trọng cần gặp vua Turgon. Tuor được đưa đến diện kiến Turgon, chàng nói cho ông nghe về những lời cảnh báo của Ulmo, rằng những gì những gì Noldor gầy công xây dựng bấy lâu nay sẽ sớm bị huỷ diệt, và khuyên ông cùng mọi người nên rời khỏi Gondolin. Nhưng Turgon rất tự hào về Gondolin, ông lại tin rằng thế lực bấy lâu ông rèn luyện không dễ gì bại dưới tay Morgoth. Hơn nữa Maeglin lại đưa ra những lời chống đối lại Tuor, những lời hắn nói là những lời Turgon muốn nghe. Ông quyết định không rời bỏ Gondolin, tuy nhiên lời cảnh báo của Ulmo đã làm ông lo lắng, ông ra lệnh đóng tất cả cổng thành phố, cấm tất cả mọi người nếu không có lệnh sẽ không được rời Gondolin nữa bước.

Vào lúc ấy vua đại bàng Thorondor mang tin tức đến Gondolin về sự sụp đổ của Nargothrond và Doriath, nhưng tai của Turgon không còn muốn nghe những chuyện đó nữa và an phận không muốn quan tâm những gì đã xãy ra ở thế giới bên ngoài.

Tuor ở lại Gondolin. sau 7 năm sống nơi chốn ấy, chàng và Idril con gái đức vua Turgon đem lòng yêu nhau. Vì tính tình ngai thẳng và dủng cảm, chàng rất được Turgon yêu mến, nên khi chàng ngỏ ý cầu hôn Idril, đức vua đã đồng ý. Điều đó làm Maeglin vô cùng tức giận, hắn thù ghét Tuor hơn bao giờ hết, hắn muốn có được nàng Idril, người duy nhất kế thừa ngai vàng. Mùa xuân năm sau, Idril và Tuor có nhau một đứa con trai đặt tên là Eärendil, Eärendil là một Elf-lai và mang trong người sự khôn ngoan, kiến thức sâu thâm của Eldar cùng với sự mạnh mẽ của loài Người.

Gondolin yên bình và hạnh phúc, nhưng nên nhớ rằng Húrin sau khi được thả ra từ Angband, lão đã vô tình làm lộ bí mật về vị trí của Gondolin. Morgoth bắt đầu tập trung tìm kiếm lãnh địa ấy, hắn cho thuộc hạ theo dõi những động tĩnh xãy ra chốn đó. Nàng Idril là một người biết nhìn xa, lời cảnh báo của chồng đã khiến nàng không mấy an tâm, nàng có linh cảm điều kinh hoàng sắp xảy đến với vương quốc Gindolin. Nàng đã âm thầm cho ngươi xây đường hầm bí mật để thoát ra khỏi thành, việc này được giữ kín, kể cả Maeglin cũng không hề hay biết.

Maeglin bất chấp lệnh cấm của vua Turgon, hắn rời khỏi Gindolin để truy tìm những mõ vàng, nhưng hắn đã bị Orcs bắt sống và đem về Angband. Không chịu nỗi cực hình, cùng những lời dụ lợi của Morgoth, hắn đã nói ra bí mật của Gondolin, Morgoth đã hứa với hắn sau khi thành công sẽ cho hắn làm vua Gondolin và lấy nàng Idril làm vợ. Hắn trở lại Gondolin để tránh sự hoài nghi, đồng thời là nội gián chờ thời cơ ra tay.

Khi Eärendil được 7 tuổi, Morgoth sau nhiều năm chuẩn bị thế lực, hắn cuối cùng cũng tấn công Gondolin. Đó là vào ngày lễ hội, mọi người dân thành Gondolin đang tụ tập quanh tường thành để chào đón mặt trời mọc. Với lực lượng hùng hậu gồm Balrogs, Orcs, Sói và Rồng, kinh thành Gondolin đã bị chiếm, toà tháp nơi Turgon ngụ bị lửa rồng thêu sạch, đức vua Turgon cũng không thoát chết. Trong cảnh hỗn loạn ấy, Tuor đi tìm vợ con nhưng chàng đã đến chậm một bước vì Idril và Eärendil đã bị Meaglin bắt lấy. Chàng giao tranh với hắn và đánh hắn rơi xuống tường thành, ở bên dưới là lửa đang bốc cháy.

Idril cùng Tuor dẫn mọi người thoát hiểm qua đường hầm bí mật, Khói lửa mù mịt phía trên đã giúp họ che đậy tai mắt của đoàn quân Morgoth. Nhưng khi họ leo lên những dãy núi cao, họ bị tấn công bởi Orcs và một con Balrog. Anh hùng Glorfindel đã chiến đấu, giữ chân Balrog để tạo cơ hội cho mọi người chốn thoát. Cả hai chiến đấu kịch liệt và rớt vào vực sâu không đáy. Vào thời điểm nguy nan những vị đại bàng đến đánh đuổi bọn Orcs, chúa tể đại bàng Thorondor bay xuống vực và mang xác Glorfindel lên an táng. Họ an táng ông, và từ ngôi mộ những bông hoa vàng mộc lên, những bông hoa mà Glorfindel rất yêu thích.

Tuor dẫn những người còn lại đến cửa khẩu sông Sirion. Không hẹn mà gặp, họ gặp được nhóm người của Doriath, trong đó có Elwing con gái đức vua Dior. Dòng tộc Noldor đã được xum vầy, và về sau Ereinion Gil-Galad con trai Fingon được tôn làm vua.

Morgoth nghĩ kế hoạch của hắn đã thành công, những gì Elf còn sót lại không đe doạ được hắn. Trong tình thế đó, vị thần Ulmo đại diện cho Elf van xin Valar tha thứ cho Noldor, hãy đến Trung Địa và trợ giúp những đứa con Illuvatar chống lại ác ma Morgoth. Lời van xin của Ulmo không làm thay đổi quyết định của Valar, chuyện kể rằng chỉ có kẻ nào có thể đại diện cho cả hai giống loài Người và Elf mới có thể thuyết phục được Manwë.

Thời gian thắm thoát trôi qua, Tuor giờ đã già nua. Ông cho xây một chiếc thuyền thật lớn và cùng với Idril du hành về phươngTây, tìm đường vào Aman…

 

Cuộc Du Hành Của Eärendil Và Sự Phẫn Nộ Của Các Vị Thần

elrond-elros-family-tree

Eärendil là một Elf-lai vốn là con trai của Idril và Tuor, chủ nhân vùng Sirion, chàng kết hôn cùng Elwing con gái đức vua Dior hậu duệ của Luthien và Beren. Elwing sanh hai người con trai đặt tên là Elrond và Elros. Với sự trợ giúp của Círdan, Eärendil xây một chiếc thuyền thật to gọi là Vingilot, dùng nó chàng lên đường du hành tìm tung tích cha mẹ, và hơn tất cả là tìm đường đến Aman, cầu xin sự trợ giúp của Valar vì giờ đây Trung Địa đang chìm trong bóng tối. Elwing không đi cùng chồng, nàng ở lại cùng mọi người, ngày ngày ngồi bên bờ biển trông ngống tin chồng. Khi Eärendil đến vùng biển phía tây, nơi ấy giờ đây được chắn giữ bởi thần thông của Valar, Eärendil không có cách nào vượt qua vùng biển để đến Aman, một phần chán nản, một phần thương nhớ vợ nên quyết định quay về.

Elwing vẫn còn giữ viên Silmaril, những người con Feanor không thề quên được lời thề năm xưa, họ gỡi thư yêu cầu Elwing trả lại Silmaril. Elwing cùng những người khác bàn luận, họ tin rằng Silmaril đã ban phước lành cho họ và giờ đây dù Eärendil đang lênh đênh trên biển, họ vẫn chối lời yêu cầu trên. Anh em nhà Feanor liền tấn công Sirion, và đó là cuộc chiến chủng tộc lần ba. Sirion bị tiêu diệt, nhưng hai người con của Feanor cũng bị giết, chỉ còn lại sót lại Maedhros và Maglor. Những người Sirion sống sót chạy đến lãnh địa của Círdan và Gil-galad vùng Balar. Và chuyện kể rằng Elrond và Elros đã bị bắt đi, còn Elwing cùng với viên Silmaril nàng đã lao thân vào biển.

Elwing được vị thần Ulmo cứu sống, ngài dùng phép mầu hoá nàng thành chim, mang viên Silmaril trước ngực, nàng bay đi tìm Eärendil khi chàng đang trên đường trở về Sirion. Nhận được tin, Eärendil vô cùng đau buồn về sự sụp đổ của Sirion và việc hai đứa con trai bị bắt, chàng tin rằng chúng đã bị anh em nhà Feanor giết chết. Tuy nhiên Maglor không những không giết mà còn nhận chúng làm con nuôi, về sau này tình cảm họ càng trở nên khắn khích.

Với viên Silmaril trong tay, Eärendil, Elwing cùng ba người trung thành vượt biển một lần nữa tiến về hướng tây, nhờ vào quyền năng của Silmaril họ đã vượt qua vòng phép thuật của Valar, và tìm được lối vào Aman. Eärendil là kẻ phàm trần đầu tiên đặt chân lên bờ biển Tây chốn Valior. Eärendil muốn một mình đến diện kiến Valar và chịu cơn thịnh nộ của họ, nhưng Elwing không muốn xa chàng và nàng đã giông thuyền đuổi theo, cùng nhau họ vượt qua Calcirya. Khi đến Tirion, Eärendil biết được đấy là số mệnh, nên một mình chàng tiến vào Valinor. Lúc đó là vào dịp lễ hội chốn thiên đường, rất ít người Elf ở lại canh giữ Tirion. Khi họ trông thấy ánh sáng từ viên Silmaril phát ra đã vội vã bỏ chạy về Valimar. Khi đến nơi, Eärendil thấy xung quanh mình một bóng người, chàng lo sợ ma quỷ đã tàn phá nơi này, và định quay lại bờ biển, nhưng vào lúc ấy Eonwë sứ giả của vị thần Manwë đã đến và mời chàng đến diện kiến các Valar.

Trước mặt họ, chàng van xin họ hãy tha thứ cho Noldor, và hãy xót thương cho Người và Elves, hãy đến cứu những đứa con của Illuvatar hiện đang chịu đầy khổ đau nơi chốn Trung Địa. Đoạn Valar mỡ cuộc hội nghị, họ bạn luận rất lâu và cuối cùng đi đến quyết định chấp thuận lời thĩnh cầu của Eärendil. Nhưng Eärendil và Elwing sẽ không được phép trở về Trung Địa, và bởi cả hai đều là Elf Lai nên họ được quyền chọn lựa số phận của họ là Người hay Elves. Elwing chọn trở thành Elf bởi vì nàng rất yêu mẹ Lúthien, Eärendil tuy trái tim hướng về loài Người hơn, nhưng tình yêu dành cho vợ, chàng đã chọn trở thành Elf.

Eärendil mang trong mình viên Silmaril đến vùng đất hướng đông trên cõi Aman, viên Silmaril từ đấy trở thành một ngôi sao sáng trên bầu trời. Ở Trung Địa, người Elf nhìn thấy một ngôi sao mới xuất hiện ở hướng đông, họ đã đặt tên cho nó là Gil-Estel, có nghĩa là Ngôi Sao Hy Vọng. Elwing được ban cho một toà tháp, nàng học về ngôn ngữ của loài chim và chúng dạy nàng bay. Sau những chuyến du ngoạn, Eärendil quay trở lại gặp nàng, và tình yêu của họ tồn tại vĩnh cửu.

Morgoth cảm thấy có điều bất thường, nhưng hắn không tin rằng còn có kẻ nào dám khai chiến chống lại hắn, và cũng tin hắn đã chia cách Noldor và Valar mãi mãi, và nghĩ những kẻ ngồi trẫm trệ trên thiên đường kia không còn muốn nhúng tay vào việc gì nơi chốn Trung Địa. Nhưng hắn đã lầm, Valar cuối cùng đã đến Trung Địa, đi cùng với họ là những ngươi Elf Vanyarin và Noldor chốn Aman. Teleri vốn yêu thích hoà bình nên quyết định không đi, nhưng vì nghe lời khuyên của Elwing, nên cuối cùng họ đã tham chiến và giông thuyền đến Trung Địa.

Đội quân phương Tây gặp quân phương Bắc tại Anfauglith, tất cả thế lực của quân phương bắc dồn vào trận chiến. Không một người Elf nào còn lại ở Trung Địa tham chiến, trái lại hậu duệ còn lại của 3 nhà Edain đã cùng quân Valar sát cánh bên nhau.

Đa số Balrogs đều bị diệt, một vài chốn thoát và ẩn thân sâu trong lồng đất, hay tận cùng những hang động sâu thẫm, bọn Orcs cũng bị tiêu diệt rất nhiều. Với lực lương cuối cùng, Morgoth thả ra một đám rồng và thế lực của Valar đang bị đánh lùi, nhưng vào lúc ấy Eärendil đến từ bầu trời cùng những bầy chim và Thorondor là thủ lĩnh của họ. Từ đó diễn ra trận chiến trên không, trận chiến kéo dài cho đến mãi sáng hôm sau. Eärendil giết chết Ancalagon, một con Rồng Đen khổng lồ, xác nó rơi xuống và tan nát dưới chân ngọn tháp Thangorodrim. Những tên thuộc hạ còn lại của Morgoth bỏ trốn, còn Morgoth đang trốn sâu trong ngục tối Angband. Cuối cùng Morgoth bị bắt và giãi về Aman, những viên Silmarils trên vương miện sắt của hắn bị Eonwë (thủ lĩnh Maiar của Manwe) đoạt lấy.

Eonwë thay Manwe kêu gọi những người Elf vùng Beleriand rời khỏi Trung Địa và đến sống chốn Aman, nhưng Maedhros và Maglor muốn ở lại Trung Địa vì hiện giờ Eonwë đang giữ trong tay hai viên ngọc Silmarils. Họ gởi thông điệp đến Eonwë và muốn lấy lại Silmarils, Eonwë trả lời rằng vì 3 viên Silmarils, vì một lời thề mà dẫn đến cuộc chiến trong chũng tộc đến 3 lần, và mệnh lệnh của Manwe rằng 3 viên ngọc Silmarils sẽ được mang đến Aman.

Maglor u sầu vì không lấy lại được Silmaril, ông muốn cùng Eonwë đến trước mặt Valar đòi lại công bằng, nhưng nghe theo lời khuyên của Maedhros, họ cải trang và lén vào doanh trại của Maedhros đánh cắp 2 viên Silmarils. Tuy nhiên khi chạm đến viên Silmaril, bàn tay Maedhros đã bị đốt cháy, không chịu được nỗi đau đớn, cùng với viên Silmaril ông nhãy vào vực sâu không đáy. Maglor đoạt viên Silmaril còn lại và cũng cùng chung số phận, ông lao mình xuống đáy biển sâu.

Những người Elf vùng Beleriand xin Valar và Teleri tha thứ, nghe theo lời kêu gọi của Valar họ đến sống nơi chốn Aman trên một hòn đảo có tên Tol Eresseä. Tuy nhiên rất nhiều người Elf quyến luyến không muốn rời khỏi Trung Địa, trong đó có thể kể Círdan, Galadriel và Celeborn, Gil-galad.

Morgoth bị ném vào khoảng không của thế giới, phía xa Những Cánh Cửa Đen nơi hắn luôn được canh giữ và mãi mãi không trốn thoát được. Tuy căn cứ của hắn đã bị tiêu diệt, nhưng sự dối trá, căm thù hắn đã gieo cho Elf và Người vẫn còn bén rễ, và chúng sẽ không bao giờ bị diệt.

Sự Sụp Đỗ Của Đế Chế Númenor

Dù loài người thức giấc vào thời điểm đen tối và chịu sự cai trị của Morgoth rất nhiều năm, nhưng nhiều người đã không trở nên xấu xa, mà trái lại họ đã làm những việc rất được kính nễ. Họ được gọi là Edain, trong số họ có thể kể đến Eärendil người anh hùng đã vượt qua bao sóng gió để đến thiên đường Valior cầu xin Valar diện binh tiêu diệt Morgoth.

Sau khi Mogorth bị tiêu diệt, có nhiều người từ chối lời kêu gọi của Valar, họ đi theo những kẻ xấu xa vốn là thuộc hạ dưới trướng của Morgoth. Biết được dù rằng Morgoth bị diệt nhưng những mầm móng đen tối mà hắn để lại sẽ tồn tại mãi mãi chốn Trung Địa, vì thế Valar đã kêu gọi người Elves trở về Valinor, và họ đã xây một hòn đảo cho Người Edain nằm giửa Trung Địa và Valinor, nó có tên gọi Andor, nhưng được biết đến nhiều hơn với biệt danh Númenor.

Theo hướng ngôi sao Eärendil (vốn là một viên Silmaril), con người vượt qua những đại dương êm đềm để đến hòn đảo ấy. Những người cư ngụ chốn ấy gọi là Dúnedain (hay còn gọi là người Númenor). Đức vua đầu tiên của họ là Elros là con trai của Eärendil và Elwing. Elros còn có thêm một người anh trai là Elrond. Nhưng hai anh em họ mỗi người một số phận. Vì họ là Elf Lai nên có quyền chọn lựa số phận của mình là Người hay Elves. Elrond chọn trở thành Elf và sau này ông là chủ nhân của Rivendell chốn Trung Địa, còn Elros chọn trở thành Người và ông là vị vua đầu tiên của Númenor. Những người Númenor có tuổi thọ rất dài họ có thể sống đến hàng trăm năm, Elros sống đến năm trăm năm.

Trong khi ánh sáng và văn minh chốn Trung Địa ngày càng thụt lùi, thì chốn Númenor ngày càng phát triển cường thịnh. Họ trở thành những người bạn của Elves và thường hay sử dụng ngôn ngữ của họ. tên của những vị vua và thành phố thường được đặt theo tiếng Elves. Dù họ là những bật thiên tài về xây dựng, nhưng họ lại rất yêu thích hoà bình và dùng tài năng của họ vào việc xây dựng tàu thuyền và làm những cuộc phiêu lưu trên biển.

Sợ rằng Númenor thèm thuồng có được cuộc sống trường thọ như Elves và Valar nơi chốn Valinor, họ bị Valar cấm không được xuôi thuyền về vùng biển Tây nơi Valinor đang đứng sừng sửng, nhưng những người Númenor không hiểu rỏ mục đích của mệnh lệnh này. Họ đã đi đến tận cùng những nơi hẽo lánh của thế giới, từ Númenor họ có thể thấy được thành phố Avallónë ở xa xa trên bãi biển Tol Eressëa và rất thèm thuồng đến được chốn ấy. Rất nhiều lần Eldar vượt biển đến thăm họ và mang theo nhiều món quà, bao gồm Nimloth một Cây Trắng mà Yavanna ban tặng. Người Númenor cũng thường dong thuyền đến Trung Địa để giúp đỡ đồng loại những người đã bị bỏ lại, những người ở Trung Địa gọi họ là những vị thần, và từ đó họ không còn sợ hãi những gì tối tăm.

Dù họ có tuổi thọ lâu dài, nhưng người Númenor vẫn phải chết, họ bắt đầu không mãn nguyện với số phận của mình và có những dấu hiệu không tán thành về lệnh cấm của Valar về việc cấm họ xuôi thuyền về phương Tây. Nhiều người đã muốn vượt xa Tol Eressëa hay là muốn đặt chân lên chốn thiên đường Aman, vì họ tin rằng họ là những kẻ kiêu hùng của thế giới. Những lời trên cuối cùng cũng đến tai Valar, họ gởi một sứ giả đến giải thích cho đức vua Tar-Atanamir (vua đời thứ 13 của Númenor) rằng Aman không phải khiến cho những ai sống chốn ấy trường sinh, mà chính những người nơi ấy bản thân họ đã là bất tử, và định mệnh này chỉ được thay đổi bởi chính đấng Illuvatar. Chết không phải là sự trừng phạt, mà nó là một giai đoạn của sự hiện hửu. Cũng như số phận của Elves là cuộc sống vĩnh cửu, nhưng đó không phải là một món quà. Những kẻ tin rằng chết là sự trừng phạt chỉ là những tên đã bị Morgoth lợi dụng.

Nhưng Tar-Atanamir không hài lòng với câu trả lời trên, ông cố níu kéo cuộc sống và ngai vàng cho đến khi ông qua đời, và con trai ông lên nối ngôi. Con trai Tar-Atanamir là một người đầy tham vọng, và người Númenor bắt đầu chia thành hai phe: một Phe King’s men (theo đức vua và chống đối lại Eldar và Valar) và một phe là Elf-friends (tuy trung thành với đức vua nhưng tin cũng tin vào sự thông thái của Elves và Valar.)

Thời gian trôi đi, cái chết càng ám ánh họ, và họ bắt đầu tìm cách để có cuộc sống dài lâu bằng những biện pháp đi ngược lại tạo hoá, họ cho xây dựng những lăng mộ kỳ quái, họ ngưng cúng hoa quả và tôn thờ Ilúvatar. Họ tập trung chinh phạt Trung Địa, nơi họ có thể dễ dàng tìm kiếm sự giàu có và quyền lực. Họ không còn đến đấy để dạy những người Trung Địa, mà họ đến để thôn tính. Những người Elf-friends tìm đến Gil-galad (Vua của Noldor chốn Trung Địa) và giúp đỡ ông chống lại Sauron (ở phần sau sẽ nói rõ sự trở lại của Sauron cùng với chiếc nhẫn quyền lực của hắn). Thế lực Sauron giờ đang lớn mạnh ở Trung Địa, và hắn muốn thống trị chốn ấy. Hắn ghét và căm thù Númenor nhưng rất e dè họ.

Nơi Númenor, sự hờn căm đối với Valar ngày càng tăng, tiếng Elf bị cấm sử dụng, và những người Elves cũng bị cấm viếng thăm Númenor. Cây Trắng Nimloth không được trông nôm, những người Elf-friends phải phân vân chon lựa giữa hai con đường là trung thành với vua hay là Valar. Vua ra lệnh đuổi những ngươi Elf-friends từ lãnh địa miền Tây đến sống nơi lãnh địa Miền Đông của hòn đảo, nơi họ sẽ bị giám sát, nhiều người đã rời bỏ và đến sống nơi Trung Địa hoà vào lãnh địa của Gil-galad, vua đã ban lệnh cấm không cho họ quay trở về.

Cao quý nhất trong vương tộc là gia đình Andúnië, nỗi tiếng nhất trong số họ là công nương Inzilbêth với sắc đẹp không ai sánh bằng, bà đã lấy vua Ar-Gimilzôr (vua đời thứ 21 của Númenor) làm chồng. Họ không hề yêu nhau, cũng như những đứa con trai của họ. Inzilbêth có tư tưởng Elf-friends, và con trai trưởng của bà là Inziladûn cùng tư tưởng với mẹ, trong khi con trai út thì rất giống cha, rất kêu ngạo. Ar-Gimilzôr rất muốn con trai út lên nối ngôi, nhưng đó là trái với luật lệ. Khi Inziladûn lên làm vua và ông bắt đầu trông nôm Cây Trắng và muốn nối lại mối quan hê thân thiết với Elf và Valar, nhưng họ đã đóng trái tim họ lại và không cho ông cơ hội bởi những hành động ngông cuồng của cha ông. Ông cũng lấy tên theo tiếng Elves gọi là Tar-Palantir, và lâp ra lời thề đó là khi nào Cây Trắng bị chết, thì dòng dõi vương tộc Númenor cũng kết thúc.

Người em trai của vua Tar-Palantir lãnh đạo nhóm người King’s men và thẳng thừng chống đối lại anh trai. Dù hắn qua đời sớm, nhưng con trai hắn là Pharazôn một kẻ còn tham vọng hơn cha. Khi đức vua Tar-Palantir qua đời trong đau buồn, ông chỉ để lại một người con gái tên Míriel lên kế thừa ngai vàng. Phá bỏ luật lệ vương triều vốn không cho kết hôn gần, Pharazôn lấy Míriel làm vợ và đoạt lấy ngai vàng, đổi tên thành Ar-Pharazôn, và đổi tên Míriel thành Ar-Zimraphel, hắn là một bạo chúa hùng mạnh nhất của đế chế Númenor.

Tin tức đến tai Ar-Pharazôn rằng Sauron nơi chốn Trung Địa đang cũng cố lực lượng và đưa ra những lời thách đấu là sẽ tiêu diệt Númenor, chiếm lấy danh hiệu Vua của Loài Người (King of men). Những tin này làm bận lòng Ar-Pharazôn và ông muốn quyết lấy danh hiệu Vua của Loài Người và biến Sauron thành nô lệ. Không cần bàn luận cùng ai, ông tiến đánh Sauron nơi Trung Địa, ông ra lệnh cho Sauron ra đầu hàng và muốn hắn thề sẽ trung thành cùng Númenor. Sauron nghe theo mệnh lệnh vì thấy được hắn không là đối thủ của lực lượng quá hùng mạnh của Númenor, nhưng trong lòng hắn lại mừng thầm vì những gì hắn tính toàn đã bước đầu thành công. Hắn vốn là một kẻ có biệt tài về hung biện, nhưng dù những lời lẽ của hắn có rất hay và uyên thâm đến đâu nhưng Ar-Pharazôn cũng không phải là một kẻ ngu đần. Ông bắt Sauron, trói hắn giải đến Númenor. Lần đầu đến Númenor, Sauron vô cùng thán phục bởi sự giàu sang và lộng lẫy của vương quốc Númenor, nhưng hắn lại càng ganh tị và căm thù họ hơn bao giờ hết.

Qua những lời xão trá và nịnh bợ của Sauron, hắn đã chiếm được trái tim của những vị lãnh chúa chốn Númenor duy chỉ có Amandil người mà hắn vô cùng e ngại. Hắn hứa sẽ đem đến cho họ giàu sang, đưa họ đến vùng dất mà họ chưa từng biết đến. Hắn đã dần dần đầu độc tấm trí họ, hướng họ theo con đường đen tối và bí mật tôn thờ Melkor.

Amandil có con trai là Elendil, và cháu trai là Isildur và Anárion, ông là một vị tướng thần trụ cột lâu nhất trong vương triều. Gia đình ông rất được thần dân tôn kính, Sauron rất sợ gia đình họ. Amandil đã tìm cách đưa những Elf-friends đến sống tại Rómenna vì đức vua đã ban lệnh xử tử họ. Dù trái lại ý muốn của Ar-Pharazôn, nhưng Sauron rất muốn Nimloth Cây Trắng bị đốn bỏ để chấm dứt đòng dõi vương triều Númenor. Amandil biết được âm mưu của Sauron, ông đã sai Isildurr lén lút vào chốn nguy hiểm được canh chừng nghiêm ngặt bởi thuộc hạ Sauron và lấy trộm một quả từ cây Nimloth. Trong lần hành động ấy, Isildur bị chém trọng thương nhưng cũng hoàn thành sứ mệnh. Amandil đã cầu nguyện cho một trái duy nhất còn sót lại của Nimloth, và khi hạt giống bắt đầu nãy mầm là khi vết thương của Isildur cũng lành lại.

Âm mưu của Sauron đã thành công, hắn cho người đốn bỏ cây Nimloth, hắn lại cho xây một đền thờ lớn và dùng tà thuật thiêu đốt cây Nimloth trong đó. 7 ngày sau nó bị đốt cháy, khói đen mù mịt khắp chốn Númenor trước khi nó tan biến về phương tây. Từ đó hắn dùng đền thờ đó để lấy tánh mạng của những người tù nhân Elf-friend làm vật hiến tế cho chúa tể hắc ám, và sức mạnh hắn tăng thêm một bật.

Trong thời gian đó, người dân Númenor bắt đầu trở nên sợ sệt và thâm độc, họ trở nên ghanh ghét nhau, họ ghanh những kẻ có quyền lưc và giàu có trong khi họ thì không. Tuy nhiên Númenor vẫn còn cường thịnh và nắm giử trong tay vận mệnh Trung Địa. Quyền lực Ar-Pharazôn ngày càng tăng nhưng ông ta ngày càng trở già nua và rất sợ chết, Sauron nói với ông rằng sở dĩ Valar cấm họ không được đến Valinor vì họ sợ một khi thế lực của ông lớn mạnh sẽ là mối nguy hại cho họ. Những lời xúi giục của Sauron cũng đến tai Amandil, ông vô cùng đau buồn và biết rằng chiến tranh đang gần kể, nên cùng con cháu và những người Elf-friend còn lại dong thuyền đến Rómenna, sống cuộc sống tha hương.

Những ngày này giông bão chốn Númenor nỗi lên liên miên, nhiều thuyền bị đánh chìm, những đám mây hình đại bàng xuất hiện ở hướng tây, một màu đen bao trùm Númenor, sấm sét liên hồi. Ngôi đền của Sauron bị sét đánh trúng và phát hoả nhưng nó không bị diệt. Ar-Pharazôn chuẩn bị nhiều chiến thuyền cùng đoàn hùng binh tiến về phương tây, họ vượt qua vùng biển cấm, tiến xa Tol Eressëa và cuối cùng đến Aman. Vào lúc ấy, Ar-Pharazôn bắt đầu cảm thấy lo sợ và muốn quay về, nhưng sự kiêu ngạo đã làm mù loà tâm trí ông ta, họ bước lên bờ và khẳng định vùng đất ấy là của họ nếu không có kẻ nào ra nghênh chiến. Những người Elves vùng đó chạy thoát thân đến Túna.

Vị thần gió Manwe, vua của Arda, đến xin lời khuyên của Illuvatar, và ngài đã quyết định thế giới sẽ được làm lại. Một hố đen khổng lồ xuất hiện giữa Valinor và Númenor, những chiến thuyền của Númenor cũng bị vùi thây trong đó. Cơn động đất làm sụp những ngọn núi và vùi Ar-Pharazôn cùng đoàn hung binh của ông dưới đống đá đổ nát. Aman và Eressëa bị duy dời và biến khỏi mãi mãi trên bề mặt của Arda. Lãnh địa Númenor bị nhấn chìm vào hố đen khổng lồ và dần dần biến mất.

Khi Amandil tiến gần bờ biển, hố đen khổng lồ đã mở ra và những cơn gió mạnh đã thổi tạt thuyền họ đến Trung địa. Thuyền bị phá huỷ hoàn toàn trong cơn bão nhưng họ may mắn thoát chết. Đại dương lúc ấy được làm lại, nhiều hải đảo mộc lên, nhiều cái bị nhấn chìm, dòng sông con suối đều thay đổi.

Người Elf-friends xây một vương quốc mới ở Trung Địa, tuy nó chỉ là một chiếc bóng của ánh của đế chế Númenorkhi xưa, nhưng họ sống yên vui trong hoà bình. Sauron cũng bị vùi thây trong hố đen cùng với Númenor, nhưng hắn không thể chết vì còn đấy ma lực của chiếc nhẫn. Thể xác hắn bị tiêu diệt, nhưng linh hồn hắn bay về trốn Mordor cùng với chiếc Nhẫn, nơi ấy hắn hiện hửu dưới hình dáng mới, Con Mắt Của Sauron.

Phần 5: Chiếc Nhẫn Quyền Lực Và Kỷ Thứ III – Chuỗi Sự Kiện Dẫn Đến Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn

Khi Morgoth bị tiêu diệt, Sauron nhận tội trước mặt Eonwë một vị Maia thân cận của Thần Manwe. Nhưng vì Maia không thể xử tội Maia nên Eonwë đã giải Sauron đến Valior để chịu sự trừng phạt của Manwe. Từng là thuộc hạ đắc lực và đầy quyền uy nhất của Morgoth, Sauron không muốn mất đi tự do và những gì hắn đã đạt được nên hắn trốn thoát vào Trung Địa.

Sau khi Morgoth bị hạ, Beleriand bị phá huỷ và xung quanh ngập lụt. Một vài Elf Noldor còn sót lại nơi Trung Địa dưới sự lảnh đạo của Gil-galad, họ xây dựng một lãnh địa mới gọi là Lindon, và cũng nơi ấy họ đã cho xây Grey Havens. Nhiều người Elf Teleri vẫn còn sống ở Doriath và Ossiriand, họ xây dựng một vương quốc trong khu rừng Silvan Elves. Số Elf còn lại của Noldor đến sống ở Eregion dọc theo dãy núi sương mù (Misty Mountains) cùng với người Lùn Râu Dài và lập nên vương quốc Moria. Ở đó mối quan hệ của Elves và Người Lùn bắt đầu hàn gắn. Và Gwaith-i-Mírdain (những người Elves có năng khiếu về luyện kim) dưới sự dạy bảo của Celebrimbor (giòng dõi nhà Fëanor) đã trở thành những bật kỳ tài về nghệ luyện kim.

Lo sợ Elf một lần nữa quay về nắm giử quyền lực nơi Trung Địa, Sauron đã tìm cách khống chế họ. Sauron là một Maia đầy quyền năng, hắn có thể biển đổi hình dạng bên ngoài dưới nhiều hình hài khác nhau, trong hình thể thần thánh hay tà ma. Hắn đã giả thành thần thánh và tự xưng là Annatar, một vị thần báu vật và tìm đến những vị chúa tể của Elf. Ở Lindon hắn bị xua đuổi bởi Gil-galad và Elrond, nhưng ở nơi khác hắn được đón tiếp nồng hậu vì hắn hứa sẽ ban cho họ những điều mà họ mong ước, và biến Trung Địa thành nơi hùng mạnh và giàu đẹp như chốn Valinor. Hắn lại bảo Gil-galad và Elrond không cần đến sự trợ giúp của hắn vì họ sợ những nơi khác sẽ trở nên cường mạnh như Lindon. Hắn được đón tiếp ân cần tại Eregion nơi mà người Elf mong muốn phát triển tài năng về nghệ luyện kim của họ. Ở nơi đó Sauron hướng dẫn người Elf làm ra những chiếc nhẫn đầy quyền năng, nhưng Sauron đã đặt vào phần sức mạnh của hắn vào đó và những chiếc nhẫn kia sẽ bị hắn khống chế.

Trong bí mật Sauron làm nên một chiếc nhẫn quyền lực The One Ring, một chiếc nhẫn có thể thống trị những chiếc nhẫn còn lại, bởi vì năng lực của những chiếc nhẫn còn lại gắn liền với nó, nên chúng sẽ mãi mãi tồn tại một khi The One Ring không bị diệt. Với nó Sauron có thể thấy được những gì họ làm, và điều khiển tâm trí những kẻ đeo những chiếc nhẫn còn lại.

Những người Elves biết được được âm mưu của hắn, nên đã không còn đeo những chiếc nhẫn mà hắn ban tặng. Sauron mở ra chiến tranh đòi lại những chiếc nhẫn vốn được làm dưới sự giúp đỡ của hắn. Nhưng những người Elves đã chạy thoát và mang cùng họ 3 chiếc nhẫn mạnh mẽ nhất. Chúng được tạo ra bởi Celebrimbor mà không có sự giúp sức của Sauron, chúng đầy quyền năng, có thể xoá đi sự mệt mõi của thời gian và làm cho nơi chúng cư ngụ trở nên giàu có và hạnh phúc, và Sauron muốn có được chúng hơn bao giwof hết. Chúng có tên là Narya, Nenya, và Vilya – Chiếc nhẫn Lửa, Nước, Và Khí. Dù Sauron chưa bao giờ chạm đến chúng nhưng chúng vẩn bị khống chế bởi The One Ring.

Chiến tranh không bao giờ chấm dứt giữa Sauron và Elves, vùng Eregion bị tiêu diệt và Celebrimbor bị giết. Cửa vào Moria cũng đóng chặt, vào lúc ấy Rivendell được hành thành bởi Elrond. Sauron chiếm những chiếc nhẫn còn lại từ người Elf và đem nó ban tặng cho các vị lãnh chúa của các gống loài để âm thầm điều khiển họ. Với Người Lùn Râu Dài, hắn cho 7 chiếc nhẫn, nhưng người lùn vốn rất kiên cường và khó điều khiển, và họ chỉ sử dụng chiếc nhẫn vào mục đích đi tìm châu báu, và đó cũng dẫn đến kết quả cay đắng cho họ, nhiều chiếc nhẫn bị lửa Rồng đốt cháy khi họ truy tìm kho báu trong lồng đất đang được canh giữ bởi những con Rồng tham lam và xão trá. Loài người rất dễ dụ dỗ, vì họ mong muốn, thèm khát có cuộc sống trường sinh và những chiếc nhẫn mà Sauron ban sẽ khiến mong ước của họ thành hiện thực. Hắn ban tặng 9 chiếc nhẫn cho 9 vị vua của loài người, những chiếc nhẫn này không những khiến họ có cuộc sống trường sinh mà còn giúp họ tàn hình, và chỉ có chúa tể đích thực của The One Ring là Sauron mới có thể thấy được họ. 9 vị vua này sau này trở thành Nazgûl.

Sauron trở thành chú tể hắc ám đầy quyền lực, hắn tấn công mọi nơi duy chỉ có Gil-galad ở Lindon là hắn còn e ngại. Vào lúc ấy Númenór vẫn còn tồn tại và họ đến trợ giúp Gil-galad chống lại Sauron như đã kể ở phần trên. Númenór bắt đầu tấn công Sauron vì hắn dám thách thức họ và tự xung là Vua Của Loài Người. Hắn bị bắt đến Númenór và sau đó là sự sụp đổ của Númenór.

Khi Númenór bị sụp đổ, và hắn cũng bị diệt nhưng vì chính sức mạnh của The One Ring đã khiến hắn không bị diệt mà linh hồn hắn quay về lại Trung Địa. Giờ đây thế lực của Gil-galad nơi Trung Địa càng lớn mạnh, nhiều người đã di chuyển đến những vùng đất đen tối xa xôi.

Như đã kể ở phần phần trước, sau khi giông bão nỗi lên, đoàn người Elendil, Anárion, và Isildur đã đến được Trung Địa. Elendil đến Lindon và kết bạn cùng Gil-galad, ông ta cũng những người thân cận đến vùng đất phía bắc thành lập một vương quốc mới có tên Arnor. Còn Anárion và Isildur tiến về phía nam và vượt qua con sông Anduin và thành lập một vương quốc mới với tên gọi Gondor, thành phố chính của vương quốc này là Osgiliath. Họ cũng thành lập hai thành phố lớn khác là Minas Ithil và Minas Anor

Người Númenor khi đến Trung Địa cũng mang theo họ những báu vật chốn Númenor. Cây Trắng từ hạt giống của Nimloth được trồng ở Minas Ithil. Họ cũng mang theo 7 viên đá thần: 3 viên đã trao cho Elendil, và 2 viên còn lại do 2 anh em Anárion và Isildur giữ. Viên đá này sẽ cho biết được những gì đang xãy ra nơi chốn viên đá khác, nhưng những người có ý chí vững bền, và đầy nghị lực có thể nhìn thẳng vào nó và có thể thấy được những gì cần biết, những động tĩnh của kẻ thù họ đều hay biết.

Sauron chuẩn bị chiến tranh tấn công Elves một lần nữa. Hắn đã tiến đánh Isildur ở Minas Ithil. Cây Trắng bị tiêu diệt, nhưng gia đình Isildur đã chốn thoát và mang theo hạt giống của Cây Trắng. họ vượt thuyền tìm đến sự trợ giúp của Elendil. Anárion không thể giữ kinh thành Osgiliath lâu hơn dưới đợt tấn công như vũ bão của Sauron.

Thấy được Sauron từng bước tiêu diệt từng vương quốc ở Trung Địa, Gil-galad và Elendil cùng nhau thành lầp một lực lượng liên minh cuối cùng và tiến đánh Sauron ở Dagorlad, tất cả các giống loài đều chia thành hai phe thiện và ác, duy chỉ có loài Eves một lòng tiêu diệt Sauron. Lực lượng liên minh chiến thắng dù phải trả giá rất cao, nhiều người bị giết trong đó có Anárion. Mordor được khống chế đến 7 năm. Nhưng cuối cùng Sauron mở đợt tấn công tiếp theo, cả Gil-galad và Elendil đều bị giết, và thanh kiếm của Elendi là Narsil bị gãy. Nhưng với mãnh kiếm còn sót lại, Isildur đã cắt đứt Chiếc Nhẫn từ tay Sauron và chiếm lấy nó. Sauron một lần nữa tan biến khỏi thể xác và trốn tránh rất nhiều năm sau đó.

Và đó là bắt đầu kỷ thứ 3. Thuộc hạ của Sauron đa phần bị diệt, và Isildur trồng Cây Trắng ở Minas Anor để tưởng nhớ đến anh trai. Nhưng nỗi sợ hãi mà Sauron mang đến vẫn còn trong tim nhiều người.

Trong cuộc hội nghị, Elrond và Círdan đề nghị Chiếc Nhẫn nên bị tiêu diệt trong ngọn lửa nơi mà nó được làm ra, nhưng Isildur đã chối từ lời yêu cầu trên. Ông lập lại một vương quốc trên lãnh địa của cha ông khi xưa, ở xa Mordor. Trên đường đi, ông bị Orcs mai phục và mọi người đi theo gần như bị giết sạch, trong đó bao gồm 3 người con trai lớn của ông. Isildur đeo vào chiếc nhẫn tàn hình và trốn thoát. Ông nhãy xuống sông, nhưng chiếc nhẫn đã phản bội và vuột khỏi tay và dẫn đến cái chết của ông. Chỉ còn 3 người còn sông sót sau đợt mai phục đó, và một người trong số họ đã giữ mãnh kiếm của Narsil.

Con trai út của Isildur là Valandil đã ở lại Rivendell trong suốt thời kỳ chiến tranh, và những mãnh kiếm Narsil được mang đến đó, Elrond cho biết rằng thanh kiếm sẽ không được hàn lại cho đến khi có sự xuất hiện của The One Ring và sự trở lại của Sauron. Valandil quay lại và cũng cố vương quốc phía bắc, nhưng nó dần mất đi sự cường thịnh và huy hoàng và đi vào quên lãng.

Ở miền nam, Gondor vẫn tồn tại và ngày càng phồn vinh, nhưng thế mạnh của Númenór ngày càng suy yếu vì dòng máu họ đã trộn lẫn với những giống người khác. Vị vua thứ 23 cùng với gia đình ông ta chết trong một trận dịch bệnh cùng với rất nhiều người Gondor, và Gondor giờ đây trở nên hoang vắng.

Không một ai hay biết rằng Mordor đã từng bước trở mình, Nazgûl đã trở về và chuẩn bị chiến tranh cho chủ nhân của chúng. Khi Eärnil là vua, Mordor đã tấn công và chiếm lấy Minas Ithil và sau này chúng đổi tên nó lại là Minas Morgul. Osgiliath bị bỏ hoang, và Minas Anor đổi tên thành Minas Tirith và từ đó chiến tranh liên miên với Minas Morgul. Con trai của Eärnil là Eärnur lên làm vua, ông tiến binh đến đánh Minas Morgul, trong trận chiến ấy ông bị bắt sống bởi nazgûl và từ đó không ai còn gặp ông ta nữa. Vào lúc đó một giống người mới đang lớn mạnh, Rohirrim, những chiến binh Rohan, họ tiến đến phương bắc và giúp đỡ Gondor trong trận chiến, từ đó nazgûl không còn dám tấn công họ nữa cho đến khi Sauron trở về.

Vào lúc đó, Rivendell trở thành chốn an toàn, và giọt máu sau cùng của Isildur sống nơi đó từ thời niên thiếu cho đến khi trưởng thành. Elrond vẫn giử những mãnh vỡ của Narsil, và những người Elf còn lại sống ở Grey Havens và chủ nhân của họ là Círdan.

3 chiếc nhẫn còn lại vẫn được che dấu, nơi nào giữ chúng sẽ trở nên mạnh mẽ và cường thịnh. Elrond và Galadriel giữ hai chiếc, vì thế vương quốc họ trở nên giàu đẹp. còn chiếc nhẫn thư 3 chỉ có Elrond, Galadriel, và Círdan biết về tung tích của nó. Nhưng rất may, Chúa Nhẫn đã bị diệt trước khi Sauron chiếm lại chúng, một khi 3 chiếc nhẫn bị diệt, thì số phận vương quốc họ thống trị cũng thế.

Vào lúc ấy, linh hồn Sauron đã trở lại trong khu rừng Mirkwood, trước kia còn được biết đến là Khu Rừng Xanh, nhưng giờ đây nó phủ một màu đen tối bởi có mặt của Sauron cùng thế lực hắc ám của hắn ở trên ngọn đồi Dol Guldur. Chỉ ở phía bắc khu rừng nơi những người Elves Thranduil cư ngụ, tà ma không dám đến nơi ấy.

Khi những bóng tối lần đầu xuất hiện (trước khi có sự sụp đổ của Numeror), Istari đến phương tây chốn Valar và báo cho họ nghe về tình hình Trung Địa, và cuộc chiến của họ chống lại Sauron. Valar đã gởi đến Trung Địa những phù thuỷ tài ba, thũ lĩnh trong số họ là Saruman và Gandalf. Dù Saruman có quyền năng cao, nhưng Gandalf là người cẩn trọng, và ông đã khám phá ra được ma quỷ trong khu rừng Mirkwood và tìm cách tiêu diệt nó.

Lịch Sử Gondor 

mình thấy có nhiều bạn hay lẫn lộn vấn đề này: Arnor và Minis Anor và có nhiều thắc mắc về lịch sử Gondor. Nhân tiện mình sẽ tóm tắt sơ qua từ phần appendix A của LOTR: Annals of the Kings and Rulers. Xem như là nối tiếp Phần 5: Chiếc Nhẫn Quyền Lực và Kỷ Thứ 3 (Bạn tìm trong mục lục đọc phần đó để biết thêm chi tiết)
Số người Númenor lưu vong đến Trung Địa dưới sự dẫn dắt của Elendil cùng hai người con trai là Anárion và Isildur. Họ lập ra hai vương quốc chính ở phía bắc và nam. phía bắc có tên gọi Arnor do Elendil cai trị, vương quốc phía nam là Gondor và hai thành phố chính của nó là Minas Ithil và Minas Anor. Minas Ithil do Isildur cai trị và cũng nơi đó trồng Cây Trắng, Minas Anor thì do Anárion cai trị.

Sau trận Liên Minh Cuối Cùng giữa Người và Elf đánh Sauron, đức vua Elendil đã hy sinh nhưng Isildur đã nhặt thanh kiếm của cha và chém đắt ngón tay của Sauron đem về chiến thắng vinh quang. Isildur đem hạt giống còn lại của Cây Trắng đến trồng ở Minas Anor đồng thời cai trị nó. Giờ đây có chiếc nhẫn trong tay, Isildur muốn đem quân về phương bắc để cũng cố lại vương quốc Anor vốn ngày càng suy yếu do hậu quả chiến tranh. Nhưng trên đường đi, ông đã bị mai phục trong biến cố Gladden Fields. Isildur cùng ba người con trai đều bị giết và chiếc nhẫn cũng bị chìm xuống đáy sông mà sau sau này rơi vào tay Smeagol.

Người con trai út của Isildur là Valandil hiện vẫn còn nhỏ tuổi và đang sống ở Rivendell trở thành vị vua thứ 3 của Arnor.

Trong khi đó ở phương nam, sau trận chiến Liên Minh Cuối Cùng, Minas Ithil được trùng tu lại và con trai Anárion là Meneldil lên cai quản. Vương quốc Gondor nhiều năm sau đó tập trung phát triển Minas Anor và bắt đầu duy dời kinh thành đến nó.

Năm 1636 của kỷ thứ 3, Minas Ithil chịu một trận đại dịch kinh hoàng, dân số suy giãm trầm trọng.

Năm 2000 để chuẩn bị cho sự trở về của Sauron, Ringwraiths đã tiến đánh Minas Ithil và cuối chúng chiếm được nó, viên đá palantír cũng bị chiếm lấy và sau này sau này được chúng sử dụng ở Barad-dûr (Tháp Đen). Minas Ithil sau này đổi tên thành Minas Morgul và là căn cứ chính của Witch-King.

Trong khi đó, Minas Arnor được đổi tên thành Minas Tirith, tuy nhiên người Númenor nơi ấy ngày suy giãm, họ càng pha trộn với người bình thường nên ngày càng mất gốc. Nó sau này do các Nhiếp Chính Vương (Steward) cai quản và thường xuyên xãy ra chiến tranh với Minas Morgul.

Tiếp câu chuyện ở phương bắc, sau biến cố Gladden Fields, người Númenor không bao giờ hồi phục lại thế lực như xưa.

Sau cái chết của vị vua thứ 10 là Eärendur, vào năm 861 của Kỷ Thứ Ba, Arnor bắt đầu nội chiến, ba người con trai của Eärendur tranh giành ngai vàng và vương quốc Arnor phân chia thành ba nước nhỏ (thời tam quốc). Người con trai lớn là Amlaith thống trị Arnor nhưng dưới sự tấn công của hai người em, ông chỉ cai trị một vùng lãnh thổ nhỏ có tên Arthedain. Hai người khác cai trị hai vùng khác có tên Cardolan và Rhudaur, và từ đó 3 nước xãy ra chiến tranh liên miên để tranh dành lãnh thổ. Thủ đô chính của Arnor là Annúminas dân số ngày càng suy giãm và sau này trở nên hoang phế, chỉ còn lại là đống đổ nát.
Chiến tranh không ngừng, nhưng cuối cùng Arthedain và Cardolan trở nên hòa bình, ngược lại Rhudaur càng tỏ ra hung hăng với Cardolan để tranh dành quyền sở hửu tòa tháp Amon Sûl (hay còn gọi là Weathertop, nơi mà Frodo bị Witch-King đâm đó mấy bạn) và các viên đá palantír.

Khoảng năm 1300 kỷ thứ 3, Witch-King trở lại vùng núi tây bắc của Arnor nơi đó hắn thành lập vương quốc ma Angmar

Vị vua cuối cùng của Rhudaur vốn không phải là hậu duệ của người Númenor và hắn trở thành tay sai cho Angmar, từ đó Rhudaur cùng với Angmar tấn công Cardolan và Arthedain liên tục. Cardolan chính trị bất ổn và bị diệt vong vào năm 1409. Thế là vương quốc hùng mạnh Arnor ngày nào giờ đây sau nội chiến cùng với sự tấn công của Angmar chỉ còn lại một Arthedain bé nhỏ.

Angmar chiếm được Fornost và Arthedain cuối cùng bị diệt vào năm 1974 của Kỷ Thứ Ba. Một năm sau đó, lực lượng Gondor cùng với đội quân Arnor còn sót lại dưới sự trợ giúp của Elf mở ra trận chiến Fornost và tiêu diệt được Angmar và Witch-King phải bỏ chạy. Tuy chiến thắng nhưng vì chiến tranh dân số Arnor còn lại rất ít, người Númenor sống rãi rác tại phía nam Rivendell, và sau này còn được gọi là Ranger của phương bắc. Tuy nhiên họ là những giọt máu của dòng dõi vương tộc Númenor và chỉ có họ mới có khả năng đoàn kết những người tự do của Trung Địa, và là kẻ có quyền kế thừa của ngai vàng Gondor. Sauron không ngừng truy sát những giọt máu cuối cùng của Ilsildur vì hắn lo ngại một ngày họ sẽ thống nhất người tự do Trung Địa để tiêu diệt hắn.

Báu vật họ mà họ gìn giữ là chiếc nhẫn Barahir, nếu các bạn còn nhớ trong trận chiến thứ tư của kỷ thứ nhất, Barahir đã cứu mạng đức vua Finrod Felagund, để trả ơn ngài đã tặng chiếc nhẫn cho Barahir. Chiếc nhẫn này sau đó được Beren giữ và sử dụng nó trong nhiệm vụ đoạt lấy Silmarils (và nhĩ nhiên Beren là nội của Elwing, Elwing là mẹ của Elros vốn là tổ tiên của Aragon

Ngai vàng Gondor (Argon18 Dịch)

Cuối Niên đại thứ 2, sau khi vương quốc Númenor bị nhấn chìm xuống đáy biển, Elendil dẫn những người sống sót đến vùng Trung địa. Giờ đây họ gọi mình là người Dúnedain. Người Dúnedain gọi Trung địa là “vùng đất lưu vong” và lập nên những lãnh thổ mới. Elendil lên phía Bắc lập ra vương quốc Arnor, 2 con trai là Isildur và Anarion về phía Nam lập vương quốc Gondor. Họ xây 2 ngọn tháp Minas Ithil và Minas Anor, và trên dòng sông Anduin dựng nên thủ đô Osgiliath, nơi có 2 ngai vàng cho 2 vị vua cùng trị vì. Sau Cuộc chiến của Liên minh cuối cùng, Elendil và Anarion tử trận, Isildur trở thành vua của cả 2 vương quốc. Ông để Meneldil – con của Anarion – tiếp quản Gondor, rồi lên đường đi Arnor. Isildur bị phục kích và chết cùng 3 người con trai. Người con út – Valendil – trở thành vua của Arnor. Về lý thuyết thì các vua Arnor vẫn có quyền đòi thừa kế lãnh thổ Gondor từ Isildur, nhưng họ chưa bao giờ làm vậy, và Gondor thuộc quyền cai trị của dòng dõi Anarion.

Khoảng năm 1400 Niên đại thứ Ba, Gondor phát triển thịnh vượng và phát triển liên minh ngày càng gắn bó với vương quốc Rhovanion. Valacar – nhà vua thứ 20 – khi còn trẻ được cử đi sứ sang Rhovanion để học hỏi văn hóa và gắn kết liên minh. Điều không ai ngờ là ông này … cưới luôn công chúa của Rhovanion. Điều này gây bất bình trong giới quý tộc Gondor, vốn coi trọng sự thuần chủng của người Númenor. Người Númenor có cuộc sống dài lâu, và sự pha trộn dòng máu với người bình thường sẽ khiến các thế hệ sau giảm tuổi thọ. Đó là chưa kể đến việc người Rhovanion đến Gondor sống lẫn với người Dúnedain ngày càng nhiều cũng không được các nhà quý tộc chấp nhận. Khi Valacar mất và con trai Eldacar – vị vua đầu tiên mang dòng máu lai – lên ngôi, một cuộc nổi loạn đã nổ ra. Osgiliath bị đốt cháy và viên Palantir ở đây bị thất lạc. Eldacar trốn thoát về Rhovanion, sau 10 năm lưu vong, nhờ sự giúp đỡ của người Rhovanion và những người trung thành, đã chiếm lại được Minas Tirith. Các quý tộc nổi loạn bỏ về phương Nam chiếm giữ thành phố cảng Umbar ( lúc này vẫn thuộc về Gondor). Từ đó Umbar kết liên minh với người Haradrim, trở thành kẻ thù lâu đời của Gondor và thường xuyên gửi những đoàn thuyền hải tặc tấn công bở biển phía Nam.

Cùng lúc này, Arnor đã chìm trong nội chiến 400 năm. Arnor bị chia thành 3 vương quốc: Arthedain, Cardolan và Rhudaur. Sau nhiều thế kỉ chiến tranh, cả 3 vương quốc suy yếu, và WitchKing chọn nơi này để tấn công. Hắn lập căn cứ ở Angmar, tập họp vô số Orc, troll và nhiều giống loài hắc ám, tấn công tiêu diệt từng vương quốc một. Cuộc nội chiến khiến Gondor không thể gửi quân cứu viện. Rhudaur quy phục Angmar, còn Cardolan bại trận và người Dúnedain bị tàn sát. Chỉ còn Arthedain, với sự giúp đỡ của người Elf, cố gắng chống chọi được thêm vài trăm năm.

Năm 1864 Niên đại thứ Ba, vua Araphant của Arnor chào đón đứa con trai mới sinh, đặt tên là Arvedui – tiếng Elf nghĩa là “vị vua cuối cùng”. Sở dĩ có cái tên như vậy là do lời của nhà tiên tri Malbeth:

“Ngươi sẽ gọi hắn là Arvedui, vì hắn sẽ là vua cuối cùng của Arthedain. Dù vậy, một sự lựa chọn sẽ đến với người Dúnedain, và nếu họ chọn con đường có vẻ như ít hi vọng hơn, thì con trai ngươi sẽ đổi tên, và trở thành vua của một lãnh thổ rộng lớn. Ngược lại, nếu con đường khác được chọn, thì sẽ có muôn vàn khổ đau và nhiều đời người sẽ trôi qua, cho đến khi người Dúnedain đứng dậy, và một lần nữa được thống nhất.”

Arvedui lớn lên, cưới công chúa Firiel – con gái vua Ondoher của Gondor làm vợ, lần đầu tiên sau một thời gian dài, gắn bó 2 dòng dõi hoàng gia lại với nhau.

Lại nói về Ondoher – vị vua thứ 32 của Gondor. Năm 1944, Gondor bị tấn công cùng lúc bởi người Wainrider từ phía Bắc và người Haradrim từ phía Nam. Nhà vua cử một đạo quân xuống bảo vệ phía Nam, rồi tự mình cùng con trai trưởng Antarmir dẫn quân lên phía Bắc. Tuy nhiên người Wainrider di chuyển nhanh hơn họ dự đoán. Quân Gondor bị tấn công bất ngờ khi chưa kịp bố trí phòng thủ, cả Ondoher và Antarmir bị giết khi trận chiến vừa bắt đầu. Quân Gondor rối loạn và bị xe ngựa và kị binh đối phương tàn sát. Con trai thứ của nhà vua, Faramir, vốn không được dẫn theo trận chiến để đề phòng bất trắc, nhưng đã cải trang tham gia đoàn quân. Faramir bị giết trong đám loạn quân. Kể cả Minohtar, người gọi nhà vua là cậu, cũng bị giết. Gondor bất ngờ rơi vào cuộc khủng hoảng khi nhà vua cùng tất cả người thừa kế đều tử trận.

Ở mặt trận phía Nam, Earnil – một quý tộc có họ hàng xa với nhà vua – dẫn dắt quân đội Gondor đánh bại người Haradrim. Nghe tin dữ, Earnil tức tốc dẫn quân lên phía Bắc, tập họp tàn quân Gondor và tấn công đúng lúc người Wainrider đang ăn mừng chiến thắng. Earnil đốt cháy các xe ngựa rồi lùa những kẻ bỏ chạy vào vùng Dead Marshes ( Đầm lầy Chết). Người Wainrider thiệt hại nhiều tới mức họ không dám quấy rối Gondor trong nhiều trăm năm kế tiếp.

Ondoher

Cây gia phả của Ondoher và Earnil. Họ có cùng tổ tiên là vua Telumehtar.
Tạm thời chưa tìm được người thừa kế ngai vàng, hội đồng nhiếp chính Gondor đứng ra cai quản vương quốc. Các quan nhiếp chính cho thấy khả năng cai trị hiệu quả, và từ đó bắt đầu truyền thống quan nhiếp quản lý khi đất nước không có vua. Lúc này cả Arvedui và Earnil đều tuyên bố rằng mình là người kế vị ngai vàng Gondor. Đúng như lời tiên tri của Malbeth, đây là lúc người Dúnedain lựa chọn.

Arvedui đưa ra nhiều lập luận xác đáng, ông vừa là hậu duệ của Isildur vừa là chồng của Firiel con gái Ondoher. Theo luật cũ của Númenor thì con gái cũng có quyền nối ngôi. Tuy nhiên hội đồng nhiếp chính biết rằng Earnil vừa lập công lớn và đang được sự ủng hộ mạnh mẽ của người Gondor. Họ cũng biết rằng nếu chọn Arvedui thì gần như chắc chắn một cuộc nội chiến giành ngai vàng nữa sẽ nổ ra. Lấy lý do rằng, ở vùng đất lưu vong, chiến tranh liên miên không cho phép áp dụng các luật lệ cũ, và ngai vàng phải được truyền cho nam để lãnh đạo quân đội, hội đồng từ chối quyền thừa kế của Firiel và bầu Earnil làm vua. Lời từ chối của hội đồng nhiếp chính là một lý do quan trọng khiến sau này hậu duệ của Arvedui ( có cả Aragorn trong số đó) cực kì thận trọng khi nghĩ tới ngai vàng Gondor.

Arvedui
Mùa đông năm 1974, WitchKing tập họp lực lượng cho một cuộc tấn công cuối cùng. Fornost, thủ đô của Arthedain thất thủ, nhưng Arvedui và người của mình đã giữ đủ lâu để hoàng tử Aranath chạy thoát về Lindon cầu cứu Cirdan. Arvedui bỏ chạy lên phương Bắc chờ thuyền của người Elf đến cứu. Khi đã ở trên thuyền, bỗng nhiên một cơn gió lớn nổi lên, thân thuyền va vào băng gãy làm đôi, vị vua cuối cùng của Arthedain chìm xuống biển. 2 viên palantir cũng thất lạc. 

Earnil tập họp một hạm đội lớn dưới sự chỉ huy của con mình là Earnur về giải cứu Fornost, nhưng họ đến quá trễ. Với sự giúp đỡ của người Elf Lindon và Rivendell, cùng những người Arthedain sống sót, Earnur đánh bại WitchKing nhưng không giết được hắn. Cũng ở đây, Glofindel đưa ra lời tiên tri về WitchKing:

“Far off yet is his doom, and not by the hand of man shall he fall.”

Angmar bị tiêu diệt, nhưng Arthedain cũng hoàn toàn sụp đổ. 

WitchKing quay về Mordor và bắt đầu cuộc chiến chống lại Gondor. Hắn chiếm được Minas Ithil và toàn bộ vùng Ithilien. Minas Ithil đổi tên thành Minas Morgul. Earnur nối ngôi Earnil, đổi tên Minas Anor thành Minas Tirith. Earnur thừa kế tài năng quân sự và lòng dũng cảm, nhưng không có được sự khôn ngoan của cha. Mất Minas Ithil khiến ông nổi giận, và khi WitchKing thách đấu tay đôi, Earnur nhận lời. Earnur đi vào Minas Morgul và không bao giờ được nhìn thấy nữa. Không có con nối dõi, các quan nhiếp chính bắt đầu cai quản Gondor “tới khi nhà vua trở về”. Sau này, họ rất thận trọng với bất kì kẻ nào đòi ngai vàng, vì không muốn chia rẽ Gondor một lần nữa. 

Người Dúnedain phương Bắc còn quá ít không thể xây dựng vương quốc lại nữa. Họ sống lang thang để trốn sự săn đuổi của kẻ thù, nhưng cũng tiến hành những cuộc chiến bí mật để bảo vệ vùng đất của Arnor ngày xưa. Đó là lý do vùng Shire của người Hobbit rất thanh bình và ít khi bị bọn Orc quấy phá. Aranath, con của Arvedui, sống với người Elf, sau này trở thành thủ lĩnh đầu tiên của những người Dúnedain lang thang, được biết đến với tên gọi các Ranger phương Bắc. Bị săn đuổi và bị quên lãng, họ vẫn truyền nhau chiếc nhẫn của Barathir để nhắc nhở về nguồn gốc của mình và đợi ngày trở về.

All that is gold does not glitter,

Not all those who wander are lost;

The old that is strong does not wither,

Deep roots are not reached by the frost.

From the ashes a fire shall be woken,

A light from the shadows shall spring;

Renewed shall be Blade that was Broken,

The crownless again shall be king.
Từ tro tàn ngọn lửa sẽ thức giấc

Từ bóng đêm ánh sáng sẽ bừng lên

Thanh gươm đã gãy sẽ lại nối liền

Kẻ không ngai sẽ lại trở thành vua

Sự Thay Đổi Địa Lý và Phân Bố Dân Cư Của Trung Địa Sau Trận Chiến The War of Wrath.

(Trích The Atlas of Middle-Earth by Karen Wynn Fonstad )

Middle-earth

Sự thay đổi lớn nhất về mặt địa lý của Trung Địa ở kỷ thứ II là kết quả của sự tiêu diệt Angband trong trận chiến War of Wrath. Trong quá trình diễn ra trận đánh, các vùng đất nằm ở tây bắc bị rung chuyển và hầu như bị nhấn chìm dưới đáy đại dương. Galadriel đã từng đưa ra lời tiên tri rằng sau này một ngày chúng sẽ được trỗi lên nhưng không một ai biết là vào lúc nào. Ở Trung Địa, ngôi mộ Turin, Morwen vẫn còn đứng vững dưới cơn rung chuyển. Tol Morwen được diễn tả là nằm đơn độc, nó có lẽ là điểm nằm ở cực tây thuộc Beleriand duy nhất nhất còn sót lại.

Khi Beleriand bị tiêu diệt, nhiều người đã lánh nạn trên những vùng cao nguyên. Khi nước bắt đầu dâng tràn lên những đỉnh đồi thì họ đã xây thuyền và lên đường lánh nạn. Những mãnh còn sót lại của Dorthonion và Đồi Himring đến kỷ thứ II thì chỉ còn Tol Fuin và Himling hay những hòn đảo nhỏ nằm ở phía tây.

Lindon chỉ là một phần đất liền của Beleriand còn sót lại. Tại con sông Ascar, một phần Dãy Núi Blue Mountains bị phá vỡ và sóng biển tràn vào tạo nên Vịnh Lhûn (Lune).

Hai thành phố sầm uất của người lùn là Nogrod và Belegost nằm trong dãy núi Blue Mountains cũng bị tiêu diệt, và người Lùn phải đến sống những nơi khác của dãy núi. Cũng có thể cho rằng Tower Hills và những ngọn đồi của Ered Luin đã được hình thành trong giai đoạn này.

Edain đã sát cánh cùng Valar tiêu diệt cái ác, vì lý do đó vị thần Ossë đã nâng một vùng đất nằm giữa đại dương có tên gọi Andor hay Mãnh Đất Quà Tặng để ban tặng cho họ. Nó nằm gần Valinor hơn so với Trung Địa và người Eldain thuộc 3 dòng tộc của loài người vĩ đại đến đó sinh sống. Họ gọi vùng đất ấy là Númenor hay Westernesse.

Xa rời Beleriand, nhiều người Elf chọn rời khỏi Trung Địa vì thành phố Tirion gần với họ. Họ xuôi thuyền đến hòn đảo Tol Eressëa và thành lập bến cảng Avallónë và thành phố sầm uất nơi ấy. Thành phố Avallónë là thành phố đầu tiên được nhìn thấy nếu nhìn từ hướng đông Númenor.

Sự Phân Bố Lại Dân Cư

Khi một phần Dãy Núi Blue Mountains bị phá vỡ, người lùn đã đến sống những nơi ít trũng hơn, đặc biệt là ở phương nam thành phố Belegost vẫn còn tồn tại. Sau đó nhiều nhóm người đã làm cuộc di cư đến Moria, họ đến nơi vào năm 40 của Kỷ Thứ II. Sự Di Cư diễn ra trong suốt quá trình những vùng đất phương bắc bị diệt, nhiều người lùn đã sống sót bao gồm cả người tốt lẫn kẻ xấu xa đã lánh nạn đến Moria.

Bọn thuộc họ của Angband chạy thoát thân về hướng đông, trong khi những người ở phương nam hoặc là theo thuyền về phương Tây hoặc là đến Lindon và những vùng đất xa hơn.
Ở cuối kỷ thứ I, nơi tập trung số lượng Elf lớn nhất là trên hòn đảo Balar. Cả hai Gil-galad và Círdan quản lý phần đông những người đến từ Falas, Nargothrond, Gondolin, và Doriath. Một vài vẫn còn sống lại ở Ossiriand và trên những hải đảo tây bao gồm Elf Xanh, Sindar vùng Doriath và một vài Noldor thuộc về gia tộc Fëanor.

Nhiều người Elf vâng theo lời kêu gọi của sứ giả Eönwë rời bỏ Trung Địa để đến Valinor thì phải xây thuyền khẩn cấp và rời khỏi Balar trước khi nó bị nhấn chìm. Những người còn thì phải đến sống những nới có địa hình cao hơn.

Phần lớn Noldor và rất nhiều Sindar chọn con đường trở về phương Tây và rời bỏ Trung Địa từ những năm đầu tiên của Kỷ Thứ II. Trên hòn đảo Tol Eressëa họ xây nên một thành phố mới Avallónë và mãi về sau đó nơi đó vẫn còn tồn tại một bến cảng dành cho những ai đổi ý muốn xuối thuyền về phương tây. Rất nhiều Sindar, đặc biệt là những người gốc Teleri du hành theo hướng đông, khai phá các vùng đất mới đến tận năm 1600 thì họ hoà nhập cùng những người Silvan Elves sống rãi rác trong nhưng khu rừng. Nỗi tiếng nhất là Thranduil người sau này là vua của tộc Sindar trong khu rừng Mirkwood, có thể là trước kia trước khi diễn ra trận chiến ông ta đã từng sống tại Doriath.

Người Noldor còn lại ở Hither Shore đến sống ở vùng đất phía tây Ered Luin (Blue Mountains). Nó từng biết đến với tên gọi Lindon. Nhưng sau khi bị sóng biển từ con sông Ascar phá vỡ dãy núi và hình hình Vịnh Lhûn, hai phần còn lại của mãnh đất ấy chịu sự cai trị của Gil-galad và Círdan. Gil-galad trở thành chủ nhân vùng đất Forlindon (Bắc Lindon) và Círdan thì chủ nhân của Harlindon (Nam Lindon). Ở bờ biển đông họ cho xây bến cảng Mithlond hay còn gọi là Grey Havens (Bến Cảng Xám). Sống cùng với Gil-galad là Elrond, sống cùng Círdan là Celeborn và Galadriel cho đến khi họ lên đường theo hướng đông đến Lórien. (Xem thêm chi tiết trong phần Lịch Sử Celeborn và Galadriel)

Đối với thuộc hạ của Morgoth, những giống người trước kia phục vụ cho hắn còn sống sót sau trận đánh bỏ chạy theo hướng đông, nơi ấy một vài người trở thành vua. Nhiều năm sau họ bắt đầu gây chiến và tàn phá Gondor.

Đối với những giống loài khác do Morgoth tạo ra phần đông bị tiêu diệt bao gồm Balrogs, rồng, Troll, Orc và Sói. Chúng trốn tránh tìm đến sống những nơi đen tối, thâm sâu.

Một con Balrog duy nhất được nhắc đến là con chạy đến sống ở Moria và được phát hiện vào giai đoạn đầu ở Kỷ Thứ III khi người lùn tiến hành khai thác hầm mõ sâu hơn tận trong lồng đát. Nơi đó con quái thú sinh sống cho đến khi bị giết bởi Gandalf.

Loài rồng đặc biệt là những con rồng có cánh như Smaug sau nhiều năm đã sinh sôi ở vùng Withered Heath và sống ở vùng đất hoang ở phía bắc Dãy Núi Xám.

Orcs và đồng minh là Sói thường được tìm thấy ở phía bắc Dãy Núi Sương Mù và Dãy Núi Xám, mặc dù sau này lảnh thổ của chúng ngày càng mở rộng khi Sauron đã trở lại và tà ma ngày càng hoành hành. Mount Gundabad là căn cứ chính của chúng. Troll thì sống rãi rác ở những thung lũng bắc của Dãy Núi Sương Mù.

Sauron thuộc hạ của Morgoth đã từ chối xin lời tha thứ đến Valar. Hắn trốn tránh để nén lại Trung Đại cho đến năm 500 Kỷ Thứ II. Năm 1000 hắn chọn Mordor làm căn cứ và xây dựng Barad-dûr hay Tháp Đen, toà tháp đó được hoàn tất vào năm 1600 và thế là các giống loài tự do ở Trung Địa lại phải đối phó với một thế lực hắc ám khác đang trỗi dậy.

Mối liên hệ giữa hai bản đồ trên: Kỷ Thứ III (trong LOTR) và bản đồ Beriland ở Kỷ Thứ I (The Silmarillion) đã được giải thích từ trong quyển The Silmarillion.

Như chúng ta đã biết trận chiến War Of Wrath là dấu mốc chấm dứt Kỷ Thứ I, sau cuộc chiến thì địa hình Trung Địa thay đổi hoàn toàn. Trong trận chiến đó Valar đã dẫn theo một đại đội hùng binh để lật đổ Morgoth và phá tan tành lãnh địa Angband cùng Dãy Đồi Sắt. Đó là trận chiến của các vị thần mà hậu quả của nó là các vùng trong lãnh địa Beleriand cũng bị phá huỷ trầm trọng. Trích Silmarillion “ Trận chiến mãnh liệt đến độ những vùng phương bắc của kẻ địch bị tan tành từng mãnh, đại dương thét rào nhấn chìm tạo nhiều lỗ trống khắp nơi…”.

Cũng vì nguyên nhân đó bản đồ ở Kỷ thứ I sẽ không tương ứng với bản đồ ở kỷ thứ III. Những vùng đất trong bản đồ ở kỷ thứ I đã bị nhấn chìm dưới đại dương. (có nhiều nguồn cho rằng quá trình nhấn chìm đó chia ra làm hai giai đoạn: sau trận War of Wrath thì Beleriand đã có rất nhiều thay đổi. Và nó hoàn toàn bị nhấn chìm sau khi đế chế Númenor bị sụp đổ ở Kỷ Thứ II. Tuy nhiên dù trong quá trình nào thì kết quả ở Kỷ Thứ III đều như nhau như chúng ta đã thấy).

Dù vậy vẫn còn một vài nơi ở Kỷ Thứ I vẫn còn tồn tại. Dễ dàng nhận thấy nhất là dãy núi được biết đến với tên gọi Ered Luin hay còn gọi Blue Mountains. Ở kỷ thứ I, chúng là dãy núi liên tục tạo nên một đường biên giới tận cùng phía đông của Beleriland, sau kỷ thứ I đại dương đã đến tận những chân núi, và sóng mạnh đánh úp phá huỷ một phần núi và hình thành nên một cái vịnh rộng lớn được gọi là vịnh Lhûn (hay Gulf of Lune). Ở phía tây của dãy núi là một vùng đất của người Elf sau này dưới sự cai trị của Gil-galad có tên gọi Lindon, xưa kia vốn là một phần đất liền thuộc về lãnh thổ Ossiriand (Nơi Beren và Luthien sinh sống). Lindon Ở Kỷ thứ III có một bờ biển mới, và diện tích thu hẹp lại nằm giữa núi và biển.

Một nơi khác còn tồn tại là hòn đảo Himling nằm ngoài bờ biển Tây Bắc của Trung Địa. Trong kỷ thứ I nó từng là Đồi Himring (Hill of Himring) vốn về căn cứ của Maedhros con trai Fëanor. Nó là một dấu mốc quan trọng để tìm đến mối tương quan về bờ biển tây giữa hai bản đồ.

Trong Silmarillion cũng đã khẳng định vùng đất Stone of the Hapless (Hòn Đá Tai Ương nằm gần khu rừng Brethil, xem trên map), bia tưởng nhớ Morwen, Túrin và Nienor vẫn còn tồn tại đến kỷ thứ III và sau này trở nên một hòn đảo có tên gọi Tol Mowen.

Những gì còn lại của Gondolin, Nargothrond, Menegroth và các thành phố, căn cứ lớn khác ở Kỷ Thứ I đều đã bị mất, có thể bị diệt bởi chính trong trận War of Wrath hoặc bị nhận chìm bởi đại dương. Chúng ta không có những chi tiết cụ thể về chúng, nhưng nếu chúng vẫn còn tồn tại sau trận chiến trên thì những gì còn sót lại dưới đáy đại dương sau hàng ngàn năm không gì khác hơn ngoài những đống hoang phế.

Beleriand là một phần lãnh thổ nằm ở Tây Bắc của Trung Địa ở kỷ thứ I, khi mình so sánh nó với Trung Địa mình luôn dùng từ “Trung Địa ở Kỷ thư III”. Và mình nghĩ rằng bản đồ thứ I so sánh 2 map dù rất đúng những vẫn còn vài điểm chưa chính xác: VD diện tích Beleriand không to lớn như vậy so với Trung Địa ở Kỷ thứ III. Nếu để ý khu rừng Brethil nơi sau này có hòn đảo Tol-Morwen nếu theo map đó thì nó ở kỷ thứ III nó sẽ nằm rất xa so với bờ biển Tây của Trung Địa.

Lịch Sử của Galadriel và Celeborn

(Trích Từ Unfinished Tales, Phần II, Chương IV)

Galadriel và Finrod là con của Finarfin vốn là người con trai thứ hai của Indis và Finwë. Finarfin giống dòng máu bên mẹ về suy nghĩ và hình dáng, ông có một mái tóc vàng của tộc elf Vanyar quý phái, thanh tao cũng như tình yêu tha thiết dành cho Valar. Ông thường tìm đến những người elf Teleri để tìm lấy phút giây thanh bình vì những căng thẳng trong mối quan hệ với người anh cùng cha khác mẹ là Feanor. Ông học hỏi ngôn ngữ của Teleri và kết hôn cùng Ea¨rwen con gái vua Olwë vùng Alqualondë, vì thế những đứa con của họ mang trong người dòng máu vua Elu Thingol của vương quốc Doriath trên vùng lãnh thổ Beleriand tận chốn Trung Địa xa xôi, vì Thingol là anh trai của đức vua Olwë.

Mối quan hệ ruột thịt đó một phần ảnh hưởng đến quyết định của họ rời xa Aman tìm cuộc sống lưu vong nơi trốn Trung Địa, và đó là một sự kiện lịch sử trọng đại của Trung Địa.

Finrod rất giống cha về khuôn mặt, màu tóc cũng như có trái tim cao thượng và nhân hậu, nhưng ông cũng giống dòng dõi Noldor về sự can đảm, tính say mê và trái tim không yên. Ông cũng chịu sự ảnh hưởng của mẹ về tình yêu dành cho biển cả và những mơ ước đến những vùng đất xa xôi nơi ông chưa đặt chân đến.

Galadriel được cho là mạnh mẽ nhất trong tất cả Noldor, có thể ngoại trừ Feanor. Dù thế bà vẫn uyên thâm hơn cả Feanor và ngày càng thông thái vì cuộc sống lâu dài nhiều Kỷ sau đó. Tên thật của bà là Nerwen, bà rất cao so với những người phụ nữ Noldor khác. Bà có cơ thể mạnh mẽ, đầu ốc và ý chí sắc bén. Bà đươc khen ngợi rất xinh đẹp, mái tóc của bà tuyệt vời không gì sánh bằng. Nó mang một màu vàng tinh khiết như mái tóc của cha và bà Indis, nhưng màu vàng thuần khiết và lóng lánh hơn, màu vàng của nó được chạm đến như từ những ánh bạc như những vì sao. Và người Eldar bảo rằng ánh sáng từ Hai Cây Laurelin và Telperion đã từ lâu ngự trị bên trong mái tóc ấy. Và có nhiều người cho rằng Fëanor đã lấy cảm hứng từ mái tóc của Galadriel để nghĩ ra rằng có thể bắt lấy, pha trộn những ánh sáng từ Hai Cây, nhàu nắn chúng bằng tay để làm thành 3 viên ngọc Silmarils bởi Fëanor say mê mái tóc của Galadriel với sự ngưỡng mộ cùng cực. Ông ta đã cầu mong bà ba lần ban cho một bím tóc, nhưng Galadriel đã không ban cho ông ấy đến một sợi tóc. Hai đại gia đình Noldor mạnh mẽ nhất Eldar chốn Valinor vốn bất hoà từ lâu và mãi mãi về sau.

Galadriel được sinh ra trên vùng đất thần linh Valinor, nhưng không lâu bà đã mơ về những vùng đất xa xôi, nơi bà có thể cai trị với quyền quyết định của mình. Vâng bà vẫn mang trong người dòng máu Vanyar và một lòng trung thành với Valar và không hề quên điều đó. Bà đã được ban cho một món quà quý báu là có thể đọc được suy nghĩ, tâm địa của kẻ khác, nhưng bà luôn đánh giá kẻ khác với lòng độ lượng và cảm thông, nhưng với Fëanor bà lại không có một chút bao dung bởi bà đã thấy được nơi kẻ ấy bóng tối khiến bà sợ hãi và câm thù.

Và thế là khi ánh sáng của Valinor tàn lụi, bà đã tham gia vào cuộc nỗi loạn chống lại lệnh của Valar và cùng đoàn người Noldor lên đường đến Trung Địa. Một khi bước chân trở thành kẻ lưu vong, bà có chút động lòng, nhưng bà lại quyết tâm ra đi dù những lời tiên tri về số phận đen tối của Noldor của vị thần Mandos, và kể cả cuộc chiến tàn bạo đối với Teleri và chiếm đoạt thuyền của họ dù rằng bà không tham chiến mà còn một lòng chiến đấu chống lại Fëanor để bảo vệ dòng tộc bên mẹ, bà vẩn không muốn quay trở lại Valinor. Sự kiêu hãnh đã khiến bà không chút động lòng vào những ngày cuối cùng của Eldar và khi Morgoth cuối cùng đã bị lật đổ, bà đã từ chối nói lời xin tha thứ đến Valar và quyết ở lại Trung Địa.

Mãi cho đến khi Hai Kỷ dài đăng đẳng sau đó trôi qua, và cuối cùng những gì mong muốn, hoài bảo của tuổi trẻ đã nằm gần tầm tay, sự thèm khát The One Ring và thống trị Trung Địa mà bà từng mơ ước, mong ước bay cao nhưng bà đã từ chối nó, bà đã vượt qua thử thách cuối cùng và quyết định rời bỏ Trung Địa mãi mãi (thử thống trị The One Ring khi Frodo đến Lothlórien).

Khi đến Trung Địa, bà được chào đón ở Doriath bởi vì mẹ bà là Ea¨rwen vốn là con gái của Olwë, em trai đức vua Thingol. Và cũng bởi vì bà không tham gia trận Kinslaying ở Alqualondë nên bà đã trở thành bạn của hoàng hậu Melian. Cũng ở nơi đó bà đã gặp người chồng tương lai Celeborn, cháu trai của Elmo người anh em với đức vua Thingol. Vì tình yêu dành cho Celeborn và Celeborn cương quyết không rời khỏi Trung Địa nên bà đã cùng chồng vượt qua Ered Lindon đến Eriador. Khi họ ra đi có rất nhiều người Noldor đi theo họ, với Elf Xám và Elf Xanh cùng nhau họ xây dựng ở một vùng lãnh thổ gần bờ hồ Nenuial (nằm phía bắc vùng Shire). Celeborn và Galadriel được xem như là chúa tể và công nương của người Eldar nơi Eriador bao gồm những người elf có nguồn gốc Nandor vốn chưa một lần vượt qua Ered Lindon và đặt chân đến Ossiriand.

Nhưng sau đó Galadriel trở nên cảnh giác Sauron một lần nữa vì Sauron không chỉ là một cái tên đơn thuần, và tổ chức của hắn không chỉ gồm những kẻ đơn giãn vốn là thuộc hạ dưới chướng của Morgoth. Bà cảm nhận được ma quỷ đang thức giấc và thế giới chuẩn bị chao đảo, và có lẽ nguồn gốc ma quỷ đó đến từ một nơi cực xa ở hướng đông, rất xa ngoài Eriador và Dãy Núi Sương Mù.

Vì thế Celeborn and Galadriel lên đường đi về phương đông, vào khoảng năm 700 của Kỷ Thứ Hai và họ thành lập vương quốc của người Noldor trên vùng Eregion. Có thể đó là quyết định của Galadriel vì bà rất ham tường người lùn của Khazaddûm (Moria). Dù vẫn còn một số ít người lùn trú ngụ ở bên hướng đông vùng Ered Lindon nơi khi xưa vốn thuộc những vương quốc cổ xưa hùng mạnh của người lùn là Nogrod và Belegost, nhưng họ đã dồn phần lớn sức lực về Moria. Celeborn không hề yêu thích người lùn dù họ thuộc dòng tộc nào, và không bao giờ tha thứ cho họ vì cuộc chiến họ đã gây ra khiến vương quốc Doriath bị diệt vong, nhưng sự thật là cuộc chiến đó chỉ do người lùn Nogrod gây ra và họ đã bị tiêu diệt tại trận chiến Sarn Athrad.

Người lùn Belegost rất e ngại vì hậu quả của trận chiến trên và về mối quan hệ ngày càng đen tối giữa Elf và Người Lùn, do vậy họ đã rời khỏi theo hướng đông đến Khazad-dûm. Người lùn Moria hoàn toàn vô tội trong sự sụp đổ của Doriath và họ không hề chống đối người Elf.

Dù trong trường hợp nào Galadriel vẫn nhìn xa hơn Celeborn. Và bà ta đã biết được từ khi khởi đầu Trung Địa sẽ không bao giờ thoát khỏi mầm móng tàn ác của Morgoth ngoại trừ sự liên minh của các giống loài tự do một lòng chống lại hắn.

Bà nhìn thấy người lùn là những chiến binh oai hùng chống đối bọn Orcs. Hơn nữa Galadriel có sự cảm thông với họ vì tình yêu của họ với nghệ thuật điêu khắc và sự cảm thông đó hơn hẳn so với các tộc Eldar khác. Bởi người lùn là những đứa con của vị thần Aulë, và Galadriel giống như những người Noldor khác được Aulë hết lòng thương yêu và dạy bảo họ kỷ năng luyện kim ngai khi họ đặt chân đến Aman.

Trong đoàn đồng hành của họ có một người elf tài ba tên gọi Celebrimbor. Celebrimbor là con trai của Curufin vốn là người con trai thứ năm của Fëanor. Celebrimbor gần như rất giống người lùn về sự say mê điêu khắc, luyện kim và ông ta sớm trở thành thủ lỉnh của nhóm thợ điêu khắc vùng Eregion và từ đấy trở thành người bạn thân thiết với người lùn Khazad-dûm. Người bạn thân thiết nhất của ông có lẽ là Narvi vốn là người đã khắc lên dòng chử trên Cửa Tây Moria “Im Narvi hain echant: Celebrimbor o Eregion teithant i thiw hin” nghĩa là “Ta Narvi đã làm chúng, và Celebrimbor vùng Hollin (hay Eregion) đã vẽ những ký hiệu”.

Cả hai dòng tộc người lùn và Elf đều có lợi từ mối hợp tác trên vì thế Eregion ngày càng trở nên mạnh mẽ và Khazad-dûm càng trở nên xinh đẹp và kết quả đó sẽ không đạt được nếu không có sự hợp tác giữa hai giống loài.

Thành phố chính của Eregion là Ost-in-Edhil được xây dựng vào khoảng năm 750 của Kỷ Thứ Hai. Tin tức cuối cùng cũng đến tai Sauron về những sự kiện trên và hắn ngày càng lo sợ về những đợt viếng thăm của người Númenóreans đến Lindon và những bờ biển tận xa phương nam, và tình bạn giữa họ với Gil-galad. Hắn nghe rằng Aldarion con trai vua Tar-Meneldur của Númenor giờ đây đã trở thành một người xây thuyền tài ba và đã mang những chiến thuyền đến tận những bến cảng tận Harad. Sauron do vậy đã tạm thời để Eriador yên bình và hắn chọn vùng đất Mordor làm căn cứ chính chống lại Númenor.

Khi hắn cảm thấy căn cứ đã vững mạnh, hắn đã sai thuộc hạ dọ thám Eriador. Cuối cùng vào khoảng năm 1200 của kỷ thứ hai, hắn đích thân đến đó dưới hình hài thần thánh nhất có thể.

Nhưng cũng trong thời gian đó, sức mạnh của Galadriel và Celeborn ngày càng tăng cùng với sự giúp đỡ của người lùn Moria, họ đã bắt đầu có sự liên lạc với vương quốc người Nandor vùng Lórinand nằm bên kia Dãy Núi Sương Mù. Đây là vương quốc của những người Elf Nandor vốn từ bỏ cuộc Đại Hành Trình từ bờ hồ Cuiviénen vào những ngày ban sơ và đã sống lại những khu rừng quanh thung lũng Anduin. Đó là những cánh rừng trãi dài nằm hai bên bờ dòng Đại Giang (Great River), bao gồm những khu vực sau này bao gồm Dol Guldur. Những người elf này không vua, không người cai trị và họ sống cuộc sống tự do, không màn đến trận chiến giữa Eldar và Morgoth vì sức mạnh Morgoth tập trung vào vùng Tây Bắc của Trung Địa. Nhưng sau đó có nhiều người Sindar và Noldor đến đó sinh sống, và họ bắt đầu chịu sự Sindar Hoá (Sindarizing) dưới sự ảnh hưởng của nền văn hoá của Beleriand.

Ở Lindon, Gil-galad đã xua đuổi những sứ giả của Sauron và kể cả bản thân hắn. Những Sauron đã tìm thấy mai mắn với Noldor vùng Eregion và đặc biệt là Celebrimbor người rất say mê học hỏi những kỷ năng mới, những kỷ năng mà Sauron dạy vì hắn đã giả dạng thành Annatar, một vị thần báu vật.

Ở Eregion, Sauron tự nhận là sứ giả do Valar sai đến Trung Địa và được lệnh ở lại Trung Địa để giúp đỡ người Elf. Hắn biết được rằng Galadriel sẽ là đối thủ và là chướng ngại cho hắn đạt đến mục đích, vì thế đã cố gắng xoa dịu, chịu đựng sự khinh miệt của bà ta với sự nhẫn nại và nhã nhặn (không giải thích vì sao Galadriel lại khinh miệt Sauron, có thể bà ta đã thấy được dưới lớp Annatar là một kẻ gian ác hoặc tại sao nếu đã biết được bộ mặt thật của Sauron thì sao bà ta lại cho phép hắn ở lại Eregion).

Sauron đã dùng hết tài năng của hắn dụ dỗ Celebrimbor và những thợ luyện châu báu Gwaith-i-Mírdain, Gwaith-i-Mírdain là nhóm người rất có địa vị và được coi trọng trong xã hội. Nhưng Sauron làm việc trong bí mật và không hề tiết lộ cho Galadriel và Celeborn hành tung của hắn. Và không lâu sau đó nhóm thợ Gwaith-i-Mírdain bắt đầu chịu sự ảnh hưởng của hắn. Trước tiên họ nhận được những lợi ích to lớn từ sự chỉ dạy của Sauron, sự ảnh hưởng đó ngày càng mạnh mẽ khiến Sauron bắt đầu xúi giục họ chống đối lại Galadriel và Celeborn và hãy chiếm lấy quyền cai trị Eregion.

Và đó là khoảng thời gian giữa năm 1350 đến 1400 của Kỷ Thứ Hai, Galadriel vì vậy đã rời bỏ Eregion vượt qua Khazad-dûm đến sống ở Lórinand, bà cũng mang theo Amroth*** và và đứa con gái tên Celebrían, nhưng Celeborn không muốn đặt chân vào lãnh địa của người lùn nên đã ở lại Eregion. ở Lórinand, Galadriel lấy quyền thống trị và bảo vệ lảnh thổ chống đối lại Sauron.

Sauron rời khỏi Eregion vào khoảng năm 1500 khi nhóm thợ Mírdain bắt đầu làm nên những chiếc nhẫn quyền lực. Giờ đây Celebrimbor vẫn một dạ trung thành với Galadriel nhưng vẫn chấp nhận lời chỉ dạy của Sauron, nhưng không lâu ông đã phát hiện ra sự hiện hửu của the One Ring và bắt đầu biết được âm mưu của Sauron. Ông đến Lórinand và tìm gặp Galadriel để xin dạy bảo. Họ quyết định phải huỷ diệt tất cả những Chiếc Nhẫn Quyền Lực cùng một lúc, nhưng đã thất bại vì không thể tìm ra sức mạnh để huỷ diệt chúng. Galadriel khuyên nên đem Ba Chiếc Nhẫn Elf đi giấu và không bao giờ sử dụng chúng, giấu những nơi xa Eregion. Cũng vào thời điểm ấy Galadriel nhận lấy chiếc nhẫn Nenya, Chiếc Nhẫn Trắng từ tay Celebrimbor, và bằng vào sức mạnh của nó vương quốc Lórinand trở nên mạnh mẽ và xinh đẹp. Và cũng chính sức mạnh của nó đã khiến bà sau này trở nên mong muốn tìm lại đại dương và theo thuyền trở về phương Tây.

Celebrimbor nghe theo lời khuyên của Galadriel rằng Chiếc Nhẫn Khí và Nhẫn Lửa nên mang khỏi Eregion và đã đem chúng đến Gil-galad ở Lindon. Khi Sauron nhận biết được sự hối hận và căm phẫn của Celebrimbor, hắn đã lộ nguyên hình và cơn phẫn nộ bùng phát. Hắn tập chung lực lượng tiến quân qua Calenardhon (vùng Rohan xưa) xâm chiếm Eriador vào năm 1695. Những tin tức trên cuối cùng cũng đến tai Gil-galad và ngài đã gởi một đội hùng binh dưới sự lãnh đạo của Elrond đến trợ chiến. Nhưng đoàn hùng binh dưới sự lãnh đạo của Elrond vẫn còn khá xa trong khi Sauron dồn lực lượng về hướng bắc tấn công một đoàn chí mạng đến Eregion.

Tiền quân và hậu quân của Sauron tiến đến gần kề, quân Celeborn xông ra phá vòng vây, dù đội quân Celeborn cuối cùng cũng hợp lực cùng quân Elrond nhưng họ giờ đây không thể nào chiếm lại Eregion bởi quân Sauron mạnh hơn họ rất nhiều về quân số. Cuối cùng bọn xâm lăng cũng tiến vào Eregion và mọi nơi trở thành bình địa. Sauron đã đạt được mục tiêu cuối cùng là chiếm lấy toà nhà Mírdain, nơi các thợ rèn sinh sống cùng với những báu vật của họ. Celebrimbor liều lĩnh đứng chặn Sauron trước những bậc thang trước lối vào Mírdain nhưng đã bị bắt sống. Căn nhà ấy bị lụt soát khắp nơi bởi Sauron nóng lòng truy tìm những Chiếc Nhẫn Quyền Lực. Nơi đó Sauron lấy được The Nine Rings cũng như những báu vật khác của Mírdain, Nhưng The Seven và The Three thì hắn không tài nào tìm thấy. Hắn tra tấn Celebrimbor để ông khai ra hành tung của chúng, cuối cùng Sauron cũng biết được hành tung của The Seven bởi Celebrimbor đã khai vì chúng không đáng quý như the Three. The Seven và the Nine được làm dưới sự trợ giúp của Sauron, nhưng riêng the Three thì chỉ do Celebrimbor tự mình làm với quyền năng và mục đích khác hoàn toàn khác.

Quan tâm nhiều đến the Three, nhưng Sauron vẫn không lấy được lời khai nào từ Celebrimbor, hắn quyết định giết chết Celebrimbor. Nhưng hắn vẫn có thể đoán được sự thật rằng the Three đã rơi vào tay của người elf mà không ai khác hơn chính là Galadriel và Gil-galad.

Trong cơn phẩn nộ, hắn tiến hành chiến tranh một lần nữa, mang theo cờ hiệu trên ngọn giáo là thi hài của Celebrimbor bị xuyên bởi vô số cung tên của Orcs và hắn trở lại tấn công lực lượng Elrond. Elrond cùng với số người elf Eregion còn lại trốn thoát vì ông không có đủ lực lượng chống đỡ. Nhưng thật bất ngờ khi ông biết được rằng Sauron không tấn công phía sau vì vào lúc ấy đoàn quân người lùn Khazad-dûm đã đến trợ giúp cùng với đội quân elf đến từ Lórinand* do Amroth** cầm đầu. Elrond có thể tự giải thoát nhưng đội quân ông ta bị dồn về hướng bắc, và đó là vào năm 1697 Elrond đã dựng nên một căn cứ ẩn thân vững chắc tại Imladris mà sau này còn được biết đến với tên gọi Rivendell.

Sauron rút lui lực lượng tấn công Elrond và tập trung vào quân người lùn và elf Lórinand. Đoàn quân Sauron đã đánh dồn họ trở lại nhưng khi đến Moria thì cánh cửa đã đóng sầm lại và quân Sauron tài thể vào vào được. Cũng vì lý do đó, Sauron trở nên căm ghét Moria, và hắn mệnh lệnh cho Orcs phải tàn phá và tiêu diệt người lùn bất cứ lúc nào có cơ hội.

Nhưng giờ đây Sauron đã là chủ nhân mới của Eriador, và Lórinand hắn có thể chờ thời cơ. Hắn thanh trừng các vùng đất, giết hoặc dồn nén những nhóm Người sinh sống nơi ấy, săn lùng người elf còn sót lại, nhiều người elf sau đó đã chạy thoát thân đến Imladris.

Giờ đây mục tiêu tiếp theo của Sauron là Lindon, nơi hắn tin rằng có thể chiếm lại được ít nhất là một trong ba chiếc nhẫn the Three Rings. Hắn do đó dồn quân lực tấn công theo hướng tây về vùng đất của Gil-galad, tàn phá bất cứ nơi nào hắn đến. Nhưng hắn cũng để lại Eregion một lực lượng đủ để đối phó quân Elrond tấn công từ phía sau.

Giờ đây sau nhiều năm người Númenor đã mang nhiều chiến thuyền đến bến cảng Grey Havens, và nơi đó họ được chào đón nhiệt liệt. Từ khi e ngại Sauron mở chiến tranh tấn công Eriador, Gil-galad đã gởi lời cầu diện đến Númenor. Và trên những bờ biển Lindon, người Númenóreans đã bắt đầu xây dựng một quân lực hung mạnh và diện trợ cho cuộc chiến. Vào năm 1695, khi Sauron tấn công Eriador, Gil-galad đã kêu gọi sự trợ giúp từ Númenor. Đức vua Tar-Minastir của Númenor đã gởi đến Trung Địa một đội thuỷ quân hùng hậu, nhưng họ đến quá muộn không kịp đến bờ biển Trung Địa mãi đến năm 1700. Vào thời gian đó Sauron đã chiếm đoạt hoàn toàn Eriador và đang bao vây Imladris và xâm chiếm đến gần đường biên giới Con Sông Lhûn. Hắn tập chung thêm nhiều lực lượng, tấn công theo hướng đông nam và xâm chiếm Enedwaith.

Gil-galad và quân Númenóreans cố trấn giữ Lhûn với hy vọng bảo vệ Grey Havens. Và trong thời điểm tưởng như không còn hy vọng, đội hùng binh Tar-Minastir cuối cùng đã đến.

Quân Sauron bị đánh dồn về phía đông nam và chúng bị tử vong vô số tại khúc sông Sarn Ford, và mặc dù được diện trợ từ quân ở Tharbad nhưng Sauron vẫn bất ngờ vì đội quân hùng hậu Númenor một lần nữa đột từ phía sau bởi Ciryatur*** đã đặt một đội quân lớn gần bờ biển tại cửa khẩu Gwathló.

Trong trận chiến tại Gwathló, quân Sauron bị tiêu diệt gần như hoàn toàn và chính bản thân hắn thoát thân trong gang tất. Hắn không còn đến một thuộc hạ thân cận và chốn thoát về một vùng đất sau có tên gọi là Dagorlad. Trong sự nhục nhã ê chề hắn trở về Mordor và thề sẽ trả thù người Númenor. Đội quân còn lại của Sauron đang bao vây Imladris đã bị quân Elrond và Gilgalad tiêu diệt hoàn toàn. Eriador sạch bóng kẻ thù, nhưng những gì còn lại chỉ là đống hoan tàn đổ nát.

Và cũng vào thời điểm đó cuộc hợp lần đầu được tổ chức và đã quyết định người elf sẽ tập chung phát triển vùng đất mới ở Imladris hơn là Eregion. Cũng thời gian đó Gil-galad đã tặng chiếc nhẫn Vilya, Chiếc Nhẫn Xanh cho Elrond đồng thời đề cử Elrond là người cai quản Eriador. Nhưng với chiếc Nhẫn Đỏ, Gil-galad giữ lại và cho đến sau này ông tặng nó cho Círdan vào thời điểm diễn ra trận Liên Minh Cuối Cùng.

Nhiều năm sau đó vùng đất phương Tây trở nên thanh bình, và thời gian đã hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng giờ đây người Númenóreans ngày càng ảnh hưởng và phát triển mạnh mẽ trên Trung Địa, và từ thời gian đó về sau họ bắt đầu sinh sống trên những bờ biển Tây, họ trở nên hùng mạnh đến độ Sauron phải từ bỏ ý định mở rộng lãnh địa Mordor trong một thời gian rất lâu.

Nói về Galadriel, bà cảm thấy nhớ nhung đến đại dương và quyết định rời bỏ Lórinand đến sống gần biển. Bà trao quyền cai trị Lórinand cho con trai Amroth. Bà vượt qua Moria một lần nữa cùng với Celebrían đến Imladris tìm kiếm Celeborn. Cũng nơi đó bà đã tìm gặp ông ta và họ cùng nhau sống lại nơi đó rất lâu. Chính nơi ấy Elrond lần đầu gặp và yêu Celebrían con gái Galadriel.

Nhiều năm sau Galadriel và Celeborn cùng với Celebrían rời bỏ Imladris đến sống tại một vùng đất nằm giữa cửa khẩu sông Gwathló và Ethir Anduin. Nơi đó họ sống tại Belfalas mà sau này còn có tên gọi Dol Amroth. Con trai họ Amroth đã nhiều lần đến viếng thăm. Mãi cho đến khi gần đến Kỷ Thứ Ba khi Amroth mất tích hoặc đã chết, vùng Lórinand trở nên hoang tàn và năm 1981 Galadriel quyết định trở lại nơi ấy sinh sống vào và phát triển nó trở nên cường thịnh.

Lórinand*: là tên gọi cổ của Lothlórien
Amroth**: theo Unfinished Tales thì Amroth là con trai của Galadriel và Celeborn. nhưng theo câu chuyện Amroth và Nimrodel thì Amroth là con trai của Amdír.
Ciryatur***: là vị tướng tài ba của Númenor

Lịch Sử Của Người Lùn Râu Dài

Dịch từ Appendix A của LOTR phần Durin’s Folk.

drawf of elbor

Cảnh báo các bạn chưa đọc the Hobbit vì bài viết này spoil cốt truyện Hobbit rất nghiêm trọng, nếu bạn tò mò thì cứ đọc tiếp vì nó sẽ giúp bạn hiểu sâu thêm về bộ phim sắp chiếu. Thấy các bạn cho rằng phim sẽ không có nhiều cảnh hành động, tuy nhiên theo mình nghĩ nếu Peter Jackson lấy thêm tư liệu từ mấy trang này thì sẽ không thiếu mấy pha hành động hoành tráng đâu.

chuyện bắt đầu khi chưa có sự xuất hiện của mặt trời và mặt trăng, Durin là tên của một vị cha già nhất trong bảy người cha tổ tiên của người lùn, tổ tiên của các vị vua râu dài. Ngài ngủ một mình trong giấc ngủ sâu của thời gian, khi thức giấc ngài đến vùng đất Azanulbizar, và trong những hang động thâm sâu nằm trên Kheled-zâram ở hướng đông của dãy núi Misty Moutains, và nơi đó ngài cư ngụ mãi cho đến sau này. Nơi đó còn được biết đến với tên gọi là Khazad-dûm hay Moria, một nơi được nhắc đến nhiều trong thơ ca.

Khi thế giới vẫn còn trẻ, ngọn núi còn xanh tươi
Mặt trăng chưa tỳ vết
Dòng sông, con suối chưa được đặt tên
Durin thức giấc và ngài bước đi cô độc
Ngài đặt tên cho những ngọn đồi, những thung lũng vô danh
Ngài uống nước từ những chiếc giếng còn chưa có mùi vị!

Ngài trông về Mirrormere
Thấy một chòm sao xuất hiện
như những hạt ngọc phát sáng long lanh
chiếu gọi lên chiếc bóng ngài đơn độc.

Thế giới vẫn còn tươi đẹp, ngọn núi cao chót vót,
vào những ngài xa xưa trước khi sụp đổ
Của những vì vua oai hùng chốn Nargothrond
và Gondolin, giờ đây họ đã ngụ
qua vùng biển Tây thật xa
Thế giới đã từng tươi đẹp vào những ngày của Durin

Ngài là một vì vua với ngai vàng trong hang đá
vô vàn phòng và cột đá
mái cung điện làm từ vàng, nền từ bạc
và dòng chử runes quyền năng đặt trước cửa
Ánh sáng của mặt trời, ngôi sao và mặt trăng
Những ngọn đèn phát sáng ánh pha lê
không tàn lụi bởi mây mù hay bóng tối
Nơi đó nó mãi mãi lung linh.

Ngài sống nơi đó rất lâu, kiêu hùng và thần thánh, ngài còn được gọi là Durin Bất Tử, tuy nhiên cũng đến lúc ngài ra đi, lăng mộ của ngài được đặt trong Khazad-dûm, nhưng dòng dõi Durin sẽ không bao giờ kết thúc. Như để tưởng nhớ đến Durin Bất Tử, đã năm đời các vị vua râu dài cai trị nơi ấy đều có tên Durin, vì họ luôn tin rằng Durin Bất Tử sẽ mãi không chết và ngài đang trở lại.

Sau khi kết thúc kỷ thứ nhất, sức mạnh và sự giàu có của Khazad-dûm ngày càng tăng, bởi nó tập trung rất nhiều nhân tài và họ rất thềm thuồng để học hỏi về kỷ năng luyện kim của người xưa, người đã làm nên vương quốc cổ xưa Nogrod và Belegost giờ chỉ còn là những đống hoang phế trên ngọn núi Blue Mountains. Sự lớn mạnh của Moria một lần nữa phải đối đầu với sự trở lại của Sauron, vùng đất Eregion bị diệt, cánh cỗng vào Moria từ đó bị đóng sầm lại bởi những câu thần chú quyền năng, cung điện Khazad-dûm rất sâu và vững mạnh, ở nới đó nhiều người lùn oai hùng cư ngụ nên tạm thời Sauron không đủ sức mạnh để tiêu diệt nó. Vì thế sự giàu có của Moria tồn tại rất lâu, tuy nhiên số lượng người lùn nơi đó ngày một vơi đi và họ ngày càng xa cách với thế giới bên ngoài.

Chuyện kể rằng vào giữa thời kỳ của kỷ thứ ba, Durin một lần nữa là vua, và đã sáu lần cái tên đó được xướng tụng. Sức mạnh của Sauron một lần nữa lớn mạnh, bóng tối bao trùm các khu rừng và giờ đây nó đang lan dần đến Moria. Khi tà ma đã bị khuấy động và chuẩn bị thay đổi cục diện thế giới, những người lùn ẩn thân rất sâu, tuy nhiên họ vẫn không ngừng truy tìm tận nơi thâm sâu của Baraz-inbar vật liệu quý mithril, một kim loại mà giá trị của nó quý giá hơn tất cả nhưng gì mà họ đang sở hửu. Trong nơi sâu thăm thẵm kia, một loài vật kinh tởm đang ngủ sâu sau trận chiến War of Warths khi xưa khi Valar và đồng minh đã tiêu diệt Angband, nó trốn thoát từ sự sụp đổ của toà tháp

Thangorodrim và ẩn mình sâu trong lồng đất, cơ thể nó làm từ lửa và với ngọn roi lửa, Balrog thuộc hạ của Morgoth đã thức giấc. Nó giết chết Durin, phá huỷ Moria, Náin I con trai của Durin cùng mọi người phải bỏ chạy và thế là kết túc những ngày huy hoàng của Moria.

Đa số người trong số họ trốn thoát và đi về phương bắc, Thrain I con trai của Nain đã đến sống nơi vùng đất Erebor thuộc ngọn núi Lonely Mountain, nằm gần biên giới phía đông của khu rừng Mirkwood, ở đó họ làm lại từ đầu, họ miệt mài xây dựng và lập nên vương quốc Erebor hay còn gọi là vương quốc Dưới Chân Núi. Ở Erebor, Thrain tìm được rất nhiều vàng và cũng nơi đó ông đã tìm thấy một báu vật vô giá, viên đá Arkenstone, Trái Tim của ngọn núi. Nhưng Thorin I con trai Thrain lại mong muốn khám phá xa hơn trên những ngọn núi Grey Mountains nằm về xa ở hướng bắc, nơi chưa được khám phá và nhiều kho báu đang chờ đợi họ. Nhưng nơi đó là nơi cư ngụ của những con rồng tàn ác, giờ đây chúng sinh sôi nảy nở, và từ đó bắt đầu cuộc chiến giữa người lùn và rồng. Cuộc chiến diễn ra qua bao thời kỳ cuối cùng vị vua của người lùn bấy giờ là Dáin I cùng với con trai thứ hai là Frór đã phải bỏ mình.

Không lâu sau đó con cháu Durin phải rời bỏ vùng Grey Mountains, Grór con trai Dáin cùng với nhiều người còn lại đến sống nơi Iron Hills (Đồi Sắt) và lập ra vương quốc nơi ấy.

Thrór là người thừa kế của Dáin cùng với người chú tên Borub và những người còn lại quay về Erebor. Thrór mang về cung điện nguy nga Thráin viên đá quý Arkenstone, từ đó họ xây dựng lại thế lực và trở nên giàu có, họ kết bạn với những người sống quanh đó. Họ không chỉ làm nên những báu vật vô giá mà còn những vũ khí, áo giáp tinh vi, lưu thông hàng hoá giữa ngươi lùn Erebor và người lùn Iron Hills ngày càng mạnh mẽ. Những người phương bắc ngụ giữa hai con sông Celduin và Carne dưới sự trợ giúp của người lùn đã đánh đuổi kẻ thù, người lùn sống trong hoà bình và sức mạnh của họ ngày càng lớn mạnh.

Tin đồn về sự giàu có của người lùn Erebor cuối cùng cũng đến tai lũ rồng tham lam, và Smaug con rồng vàng khổng lồ, một trong những con rồng khổng lồ còn sót lại, nó tấn công người lùn Erebor bất ngờ mà không một lời cảnh báo. Không lâu sau, các vương quốc bị tiêu diệt trong lửa đỏ, và cả thành Dale nằm gần nơi đó cũng cùng chung số phận, tất cả giờ đây hoang tàn. Smaug bay vào cung điện nguy nga, nơi đó nó nằm dài trên chiếc giường vàng và xung quanh là vô vàn châu báu.

Thrór cùng với con trai là Thráin II và nhiều người đã chốn thoát qua cánh cửa bí mật. Họ đi về phương nam và trở thành những kẻ lang thang không nhà.

Một năm sau, Thrór giờ đây đã già nua, nghèo đói, trong cơn tiệt vọng ông đã trao lại cho con trai một báu vật cuối cùng mà bấy lâu ông gìn giữ, chiếc nhẫn cuối cùng trong bảy chiếc nhẫn của người lùn khi xưa. Đoạn ông cùng một người trung thành tên Nár chia tay mọi người. Với chiếc nhẫn, trước khi ra đi Thrór đã bảo với con trai ông rằng:

“báu vật sẽ giúp con tìm lại cơ may mới, sự giàu sang mà con chưa tìm được, chiếc nhẫn sẽ giúp con tìm vàng để đúc kết vàng.”

“Cha có chắc rằng là sẽ không quay về Erebor? Thráin bảo.

“sẽ không còn nữa ở độ tuổi của ra” Thrór đáp.” Mối thù của dòng tộc ta với con rồng Smaug giờ đây ta để lại cho con và con cháu con gánh vác. Ta đã quá mệt mõi với sự nghèo đói, ta sẽ đi và truy tìm những gì có thể”. Nhưng ông không nói rỏ là sẽ đi đâu.

Ông trông như điên dại, điên dại có lẽ vì tuổi già trong nghèo túng, vì sự suy tàn của Moria, thánh địa của tổ tiên; hoặc có thể là do chiếc nhẫn, và có thể rằng nó trở nên ma quái vì chủ nhân của nó đã trở mình thức giấc, nó khiến ông nổi lên lòng tham và luyến tiếc một thời vàng son và tự mình tìm đến con đường diệt vong. Ông cùng Nár đi theo hướng bắc, vượt qua ngọn đèo Redhorn và dấn thân vào Azanulbizar.

Khi Thrór đến được Moria, cánh cổng giờ đã mở tung nhưng Nár van xin ông đừng vào vì không biết những gì đang chờ đợi phía trước. Bỏ ngoài tai những lời cảnh báo của Nár, ông hiên ngang tiến vào như một vị thiên tử của Moria đã quay trở lại.

Nár ẩn mình gần nơi ấy nhiều ngày, rồi một hôm ông nghe tiếng thét vang trời và âm thanh từ những tiếng còi, một xác người bị treo lũng lẵng trước bậc thang. Lo sợ đó là Thrór, Nár từng bước tiến lại gần, nhưng thình lình một giọng nói vang lên:

“hãy nhanh nào, tên trộm! bọn ta đã thấy ngươi. Nhưng hôm nay ngươi không cần phải lo sợ. ta cần ngươi để đưa tin.”

Đoạn Nár bước vào, và tìm thấy đó đích thực là xác chết của Thrór, nhưng chiếc đầu đã bị chém đứt và nằm lăn lốc dưới đất. ông quỳ bên xác Thrór và nghe bọn Orcs cười ngạo nghễ trong bóng tối, giọng nói lại vang lên

“Nếu kẻ ăn mài không van xin ngoài cửa mà lén lút vào đây trộm cắp, đấy là những gì mà hắn phải nhận lấy. Nếu bất cứ một tên nào trong bọn ngươi dám bén mạng đến đây một lần nữa, chúng còn chết thảm hơn thế này. Hãy đi và nói lại những gì ta đã nói! Nhưng nếu gia đình hắn muốn biết ai đã ra tay, cái tên ta đã viết rỏ trên mặt hắn. Ta đã viết nó! Ta đã giết hắn! Ta là chủ nhân nơi đây!’

Nár quay đầu nhìn vào thủ cấp và thấy trên đó khắc dòng chử runes của người lùn, trên đó viết một cái tên, cái tên AZOG, môt cái tên mà mãi mãi sau này người lùn ghi mối thâm thù vào tận đáy tim. Nár nhặt thủ cấp lên, nhưng giọng nói lại vang lên:

“Bỏ nó xuống!! đây là lộ phí của ngươi’. một túi bạc, bên trong là vài đồng tiền. Nár chạy xuống ngọn đồi Silverlode, nhưng khi ông nhìn lại thì thấy bọn Orcs phanh thây Thrór và vứt xác cho lũ quạ đói.

Nár đem câu truyện về kể lại cho Thráin, khi nhận được hung tin ông vuốt râu và ngồi lâu im lặng. Đã bảy ngày trôi qua ông không nói một lời, cuối cùng ông đứng lên và bảo:” Đã quá sức chịu đựng!” và đó là bắt đầu cuộc chiến giữa người lùn và Orcs, cuộc chiến rất dài và thảm khóc, cuộc chiến kinh hoàng nhất diễn ra trong những nơi thâm sâu dưới bề mặt trái đất.

Thráin gởi tin đến tất cả người lùn từ bắc, đông, tây, nhưng cần đến 3 năm để người lùn có thể tập trung và củng cố lực lượng, họ nghe theo lời kêu gọi của Thráin với ngọn lửa thù đốt cháy trong tim.

Khi tất cả đã sẳn sàng, họ tấn công từng căn cứ của bọn Orcs mà họ tìm gặp từ Gundabad đến Gladden. Cả hai phe chiến đấu kịch liệt nhưng chiến thắng cuối cùng về tay người lùn bởi sức mạnh phi thường và vũ khí bất khả chiến bại của họ. Họ săn lùng hành tung của Azog trong từng hang động, trên từng vách đá của ngọn núi.

Khi họ tấn công vào Moria, bọn Orcs đã bỏ chạy trước mắt họ, đoàn binh Dwarf cuối cùng đã trở lại Azanulbizar. Ở đó có một thung lũng bao la nằm giữa hai ngọn núi và xung quanh là chiếc hồ khổng lồ Kheled-zâram. Khi người lùn thấy được cánh cổng đi vào đường hầm nằm hai bên ngọn đồi, họ đang định tiến quân lên thung lũng, nhưng lực lượng hùng mạnh của kẻ thù đang chờ đợi họ trên ngọn đồi, một lực lượng cuối cùng mà Azog giữ lại.

Có lẽ may mắn đã không đến với người lùn, bởi đó là một ngày tối trời của mùa đông, không thấy xuất hiện bóng dáng của mặt trời, bọn Orcs đã không manh động vì lực lượng của chúng thua xa kẻ thù, tuy nhiên chúng đang có được lợ thế vì đang ở trên đồi cao. Và thế là bắt đầu trận chiến Azanulbizar hay còn gọi là Nanduhirrion theo ngôn ngữ Elf. Đợt tấn công đầu tiên dưới sự dẫn dắt của Thráin đã bị bại, nhiều người đã hy sinh và họ bị đánh dồn vào khu rừng không xa Kheled-zâram. Cũng tại nơi đó Frerin con trai của Thráin đã hy sinh, và nhiều người trong binh đoàn của Thráin và Thorin đều bị trọng thương. Ở nơi khác trận chiến tiếp tục diễn ra khiến nhiều người chết, cho đến khi có sự xuất hiện của hùng binh người lùn ở Iron Hills và trong số họ là vị anh hùng Náin. Họ đến muộn nhưng với sức khoẻ phi thường đã đánh lui bọn Orcs ra khỏi Moria. Họ thét rào tên “Azog!Azog!” và săn lùng hắn.

Náin đứng trước cánh cỗng và rào thét “Azog! Kẻ hèn nhát kia, sao không chịu ra!”
Azog nghe những lời lên, hắn xuất hiện. Azog là một tên Orc to lớn, với cái đầu to đang mang mũ sắt rất khó phá vỡ. Cùng với hắn là vô số tên thuộc hạ như thế. Chúng lại gần Náin và bảo:

“lại một kẻ ăn mài trước cửa nhà ta? Với những lời trêu trộc, hắn tấn công Náin. Nhưng Náin đang trong cơn lửa giận và kiệt lực vì trận chiến, trong khi Azog vẫn còn dồi dào sức lực. Náin đánh ra những đoàn tấn công với sức lực còn lại, nhưng Azog đã né tránh được và đá vào chân Náin làm ông chao đão về phía trước, Azog vung gươm chém lấy thủ cấp Náin. Azog cười ngạo nghễ hắn cầm chiếc đầu như một món quà chiến thắng với những tiếng cười ác độc.

Nhưng tiếng cười đó vụt tắt bởi hắn đã nhận ra rằng tất cả bọn thuộc hạ đang tháo chạy trong sợ hãi, tuy nhiên rất ít tên trốn thoát dưới sự tấn công như vũ bảo của người lùn. Azog thấy thuộc hạ xung quanh mình bị giết hoặc bỏ chạy thoát thấn, hắn quay trở lại và trốn vào phía sau cánh cổng.

Đuổi theo sau hắn là một người lùn với chiếc rìu đỏ. Đó chính là anh hùng Dáin Bàn Chân Sắt, con trai của Náin. ông đã đuổi kịp Azog và cũng nơi đó lấy thủ cấp hắn trả thù cho cha.

Cuối cùng người lùn đã chiến thắng nhưng họ không làm bất kỳ buổi tiệc hay hát một bài ca nào bởi họ phải hy sinh quá sức tưởng tượng để đổi lấy vinh quang.

Thráin sau trận chiến giờ một con mắt đã mù loà và chân đầy thương tật, ông nói” Tốt! chúng ta đã chiến thắng. Khazad-dûm giờ là của chúng ta!”.

Nhưng đám đông trả lời rằng:” Ngài là hậu duệ của Durin, nhưng cho dù với con mắt còn lại, ngài cũng nhìn rỏ rằng chúng ta chiến đấu để trả thù, và đã đạt được mục đích, nhưng cái giá phải trả thật quá đắng cay. Nếu đây là chiến thắng thì bàn tay chúng ta còn quá bé nhỏ để có thể giữ nó lâu hơn.”

Và những người không thuộc dòng dõi Durin bảo rằng:

“Khazad-dûm không phải là nhà của tổ tiên chúng tôi, nó là gì đối với chúng tôi? một báu vật không còn hy vọng? nhưng ngay bây giờ chúng tôi phải ra đi mà không cần phần thưởng, trở về quê hương chúng tôi càng sớm chúng tôi càng cảm thấy thoải mái.”

Thráin quay sang Dáin và bảo “ta chắc rằng dòng máu ta sẽ không bỏ rơi ta chứ?
‘Không,” Dáin trả lời.

“người là cha của mọi người, chúng tôi tôn quý người, và mãi mãi sau này cũng thế, nhưng chúng ta không đi vào Khazad-dûm. Chỉ cần ta nhìn qua những chiếc bóng phía xa cánh cửa, không biết ma quỷ gì đang chờ đợi chúng ta phía trước. Thế giới sẽ đổi thay và khi nào chúng ta mạnh mẽ hơn thì đó là thời điểm chúng ta hiên ngang bước vào Moria.”

Dáin Bàn Chân Sắt dẫn đoàn người của cha ông trở về Iron Hills, Thráin cùng con trai Thorin và đoàn người còn lại quay về Dunland và lang thang trên vùng đất Eriador, cho đến khi cuối cùng họ định cư trên vùng đất phía đông của Ered Luin. Những ngày này sắt là vật liệu họ rèn luyện nhiều nhất, nhưng từ từ dân số họ tăng dần, nhưng Thorin nhớ lại những gì Thrór đã từng nói “chiếc nhẫn cần vàng để rèn luyện ra vàng.”

Người lùn giờ tin rằng Sauron bằng tà thuật đã khám phá ra kẻ nào đang giữ chiếc nhẫn. Sức mạnh chiếc nhẫn mang đến cho họ chỉ là ngọn lửa tham lam để truy tìm báu vật, và họ sẽ nỗi cơn thịnh nộ và trả thù cay cú kẻ nào đã chiếm đoạt kho báu của họ. Dù họ có thể bị tổn thương hoặc dĩ bị giết chết, nhưng ý chí của họ không bị lung lai hay bị điều khiển bởi kẻ khác. Cũng cùng ngyên nhân ấy, tuổi thọ của họ không bị ảnh hưởng bởi chiếc nhẫn. Sauron biết mình đã thất bại vì không thể điều khiển người lùn, hắn quyết tiêu diệt họ.

Có lẽ một phần vì căm phẫn, một phần vì chiếc nhẫn, Thráin vài năm sau đó trở nên không yên, ông bổng ham muốn vàng bạc hơn bao giờ hết, khi ông không thể chịu đựng được nữa, ông hướng ý nghĩ về Erebor và muốn quay về đó. Ông không nói một lời đến Thorin về những gì ông đang nghĩ, nhưng với Balin và Dwalin và vài người khác ông nói lời tạm biệt và lên đường.

Ít ai biết chuyện gì sau đó xãy đến với ông. Nhiều người cho rằng sau khi ông cùng một đoàn tuỳ tùng lên đường, ông bị săn lùng bởi thuộc hạ của Sauron. Bọn sói rượt đuổi ông, Orc truy sát ông, loài ác điểu dò thám tin ông. Ông đi về phương bắc và nơi đó ma quỷ đang chờ đợi ông. Vào một buổi tối, ông cùng đoàn tuỳ tùng lạc vào vùng đất xa Anduin, trời bổng nổi lên trận mưa đen và họ phải trú thân bên bìa rừng Mirkwood. Nhưng khi đến sáng, đoàn tuỳ tùng không tìm thấy ông, họ tìm ông khắp nơi, cuối cùng họ biết ông đã bị bắt sống và giãi đến Dol Guldur. Ở đó ông bị tra tấn, chiếc nhẫn bị cưỡng đoạt và cuối cùng ông đã chết.

Thorin Oakenshield trở thành người nối ngôi của dòng dõi Durin, nhưng một ngai vàng không có hy vọng. Ông lao động hăng sai, tìm nhiều báu vật có thể. Số người theo ông sau đó tăng lên bởi những người Durin lang thang sau khi nghe được tin người kế thừa ngai vàng đang sống ở phía tây. Giờ đây họ có những hang động lộng lẫy trong hang núi, có nhiều kho báu, và họ bắt đầu hát vang bài hát Lonely Mountain.

Những năm sau đó, trái tim Thorin đốt cháy một lần nữa bởi ngọn lửa căm thù, ông muốn báu thù con rồng Smaug và chiếm lại kho báu của tổ tiên. Ông nghĩ đến vũ khí, quân lực và tìm kiếm đồng minh.

Và cuối cùng cơ hội đã đến khi ông găp được Gandalf, sự gặp gỡ của họ đã làm thay đổi toàn diện cục bộ của dòng dõi Durin. Đó là vào lúc Thorin trở về trong cuộc du hành, ông nghĩ chân tại quán trọ vùng Bree, và Gandalf cũng đang ở đấy. Gandalf đang trên đường đến vùng Shire, nơi ông chưa đặt chân đến gần hơn hai mươi năm.

Gandalf đã biết được Sauron đang trở lại, nếu thế lực hắn đủ mạnh hắn sẽ tấn công Rivendell. Ở phía bắc, qua những ngọn núi giờ đây chỉ có người lùn vùng Iron Hills, và xa hơn nữa là lãnh địa của con rồng Smaug. Đối với con rồng, Sauron có thể sử dụng nó với kết quả mỹ mãn.

Thorin đứng trước mặt Gandalf và bảo ”ngài Gandalf, Ta đã từng nghe danh tiếng của ngài, giờ đây ta rất hân hạnh được nói chuyện cùng ngài. Ta đã muốn tìm ngài rất lâu rồi.”

Gandalf nhìn ông tò mò.” Thật là kỳ lạ Thorin Oakenshiled”. “bởi ta cũng đang nghĩ đến ngươi, ta đang trên đường đến vùng Shire, và cũng đang nghĩ sẽ tìm đến hang đá nơi ngươi ở.”

Gandalf lên một kế hoạch vô cùng kỳ lạ để giúp Thorin và đoàn đồng hành đến vùng Shire và lên đường đến Lonely Mountain để đòi lại kho báu của tổ tiên.

 

The One Ring

Vào Kỷ thứ Hai, lo ngại trước nguy cơ người Elf một lần nữa sẽ thống trị Trung Địa, Sauron đã giã dạng thành Annatar, một vị thần báu vật, hắn giúp đỡ người Elf ở Eregion, thủ lĩnh của họ là Celebrimbor (thuộc gia đình Feanor) làm nên những chiếc nhẫn quyền lực. Tất cả có 19 chiếc, nhưng trong đó duy chỉ có 3 chiếc do chính tay Celebrimbor làm ra mà không có sự giúp sức của Sauron, 3 chiếc đó gọi chung là The Three, tuy nhiên Celebrimbor đã sử dụng kỷ thuật đúc nhẫn do Sauron chỉ dạy để làm nên chúng do đó chúng vẫn chịu sự cai trị của Sauron.

Trong bí mật Sauron làm ra chiếc nhẫn quyền lực bằng lửa trên ngọn núi Mount Doom, một chiếc nhẫn thống trị các chiếc nhẫn còn lại

Ba chiếc Nhẫn cho các vị vua Elves dưới bầu trời,
Bảy chiếc cho các chúa tể Người Lùn trong hang đá,
Chín chiếc cho các vị vua của loài người trần tục,
Một chiếc thuộc về Chúa Tể Hắc Ám trên ngôi cao đen tối
Trên vùng đất Mordor, nơi bóng tối phủ đầy.
Một chiếc nhẫn thống trị bọn chúng, một chiếc tìm đến chúng,
Dẫn dắt và trối buột chúng trong bóng tối
Trên vùng đất Mordor nới bóng tối phủ đầy

Bài thơ mở đầu của bộ tiểu thuyết LOTRs, phần in đậm là hai hàng chữ được khắc bên trong The One Ring. The One Ring sẽ thống trị các chiếc nhẫn còn lại, và những kẽ đeo chúng sẽ chịu sự sai khiến của Sauron. Biết được âm mưu của Sauron nên người Elf không sử dụng chúng nữa. Biết kế hoạch đã bại lộ nên Sauron đem quân đi đánh để chiếm lại 19 chiếc nhẫn, tuy nhiên hắn chỉ lấy lại được 16 chiếc, The Three đã được người Elf giấu đi. Hắn đem 9 chiếc ban cho 9 vị vua của loài người, 7 chiếc cho 7 vị chúa tể người lùn. Loài người rất dễ dụ dỗ vì họ rất mong muốn một cuộc sống trường sinh, 9 chiếc nhẫn đã đem lại cho họ cuộc sống vĩnh cửu nhưng họ phải trả một cái giá rất đắt, họ trở thành những hồn ma, Nazgûl. Người Lùn rất khó thuần phục, họ chỉ sử dụng nhẫn khi truy tìm kho báu, và 7 chiếc nhẫn sau này đã bị lửa rồng huỷ diệt.

Hình Dáng

The One Ring được làm bằng vàng, nhưng rất khó bị huỷ diệt. không như những chiếc nhẫn khác vốn dể dàng bị huỷ diệt bởi lửa Rồng, The One Ring chỉ bị tiêu diệt bằng chính ngọn lửa nơi nó được tạo ra trên ngọn núi Mount Doom.

Nó không được trang trí cầu kỳ bằng những hạt ngọc, hay châu báu khác như những chiếc nhẫn còn lại, nó trông rất đơn giãn tuy nhiên khi để vào lửa thì sẽ hiện lên hai dòng chữ

“One Ring to rule them all, One Ring to find them,
One Ring to bring them all and in the darkness bind them”

Một chiếc nhẫn thống trị bọn chúng, một chiếc tìm đến chúng,
Dẫn dắt và trối buột chúng trong bóng tối.”

Quyền Năng

Chiếc nhẫn đối với Sauron sẽ có phần lợi đồng thời cũng hại.

Để tạo ra chiếc nhẫn, hắn đã dồn phần lớn fëa (linh hồn) vào chiếc nhẫn, quyền năng của hắn sẽ gắn chặt với nó. Khi có chiếc nhẫn trong tay hắn có thể điều khiển tất cả những chiếc nhẫn còn lại và sức mạnh của hắn sẽ tăng thêm một bậc, Chiếc nhẫn cho hắn sức mạnh để điều khiển đội binh hùng mạnh và làm khiếp vía kẻ thù. Vì đã đặt một phần linh hồn vào nó cho nên hắn sẽ tồn tại vĩnh viễn một khi chiếc nhẫn không bị tiêu diệt. Mặc hại là Sauron sẽ phụ thuộc và chiếc nhẫn, không có nó quyền năng của hắn sẽ suy giãm trầm trọng.

Chỉ có Sauron mới đích thực là chủ nhân thực sự của The One Ring, Chúa Tể Của Những Chiếc Nhẫn. Kẻ khác khi sự dụng nó chỉ đem lại kết quả tai hại. Phải kể rằng sức mạnh mà chiếc nhẫn đem lại sẽ tương đương với quyền năng của kẻ mang nó, đối với giống loài bình thường như người hay Hobbit nó sẽ cho họ khả năng tàn hình, đối với giống loài cao hơn nếu họ có khả năng chiến thắng được sức mạnh của Sauron để có thể điều khiển chiếc nhẫn thì họ có khả năng trở thành bất khả chiến bại. Nhưng đó là trò chơi may rũi, có thể thấy Saruman đã bỏ ra thời gian khá lâu để nguyên cứu về The One Ring, ông bí mất ra lệnh cho Orc để đem về cho ông The One Ring. Nhưng Chiếc Nhẫn bản thân nó là tà đạo, kẻ có dã tâm trở thành chủ nhân của nó chỉ có con đường diệt vong.

Người đeo chiếc nhẫn càng lâu sẽ càng bị nó ăn mòn tâm trí, và theo thời gian họ sẽ trở thành những hồn ma. Nó khiến người đeo nhẫn luôn muốn được có nó, họ thay đổi tính tình và trở nên ích kỹ và sẵn sàng giết kẻ nào muốn chạm đến nó.

The One Ring có khả năng thay đổi kích thước và có thể vuột vuột khỏi tay “chủ nhân” nó bất cứ lúc nào. Khi xa Mordor chiếc nhẫn tỏ ra vô hại, tuy nhiên khi Chủ Nhân đích thực của nó gọi, nó sẽ cố gắng trả lời và tìm cách đến được với hắn.

7 Kỳ Quan Của Trung Địa

Pillars of the Argonath

Pillars of the Argonath

Argonath còn được biết đến với biệt danh Cánh Cổng Argonath hay Những Trụ Cột Của Những Vì Vua. Nó bao gồm hai bức tượng khổng lồ được cho là của Isildur và Anárion đứng sừng sững hai bên con sông Anduin, nằm về phía bắc Nen Hithoel. Nó là mấu chốt biên giới phía bắc Gondor.

Được khởi công xây dựng vào năm 1340 của Kỷ Thứ Ba theo mệnh lệnh của vua Rómendacil II thuộc vương quốc Gondor nhầm phân chia biên giới phía bắc. Bức Tượng là hình ảnh hai vị vua mình vận chiến bào, tay phải cầm rìu, tay trái trong tư thế phòng vệ, cảnh cáo kẻ địch tốt hơn không nên dại dột xâm chiếm Gondor.

Isengard

Isengard

Isengard được xây vào kỷ thứ Hai, xung quanh toà tháp Orthanc bởi người Númenor. Nó nằm về phía tây bắc của vương quốc Gondor và cực nam của dãy núi Sương Mù, được bảo vệ bởi con sông Isen cùng với khu căn cứ Helms Deep của người Rohan.

Nó bao gồm những bức tường đá bao quanh vùng đồng bằng rộng lớn, ở giữa là ngọn tháp Orthanc. Isengard chỉ gồm một cánh cỗng hướng về phía nam.

Vào thời kỳ nhiếp chính Beren của Gondor, và trong ngày đăng cơ của Fréaláf của Rohan, phù thủy trắng Saruman mang đến nhiều món quà, hắn đề nghị sẽ trông chừng Isengard, Fréaláf mừng gỡ vì đã có thêm một đồng minh là Saruman vì quân lực của chàng bấy giờ vô cùng yếu kém vì sau một mùa đông dài đăng đẵng và trận chiến vừa kết thúc. Nhưng ai biết được chữ ngờ, Saruman từ căn cứ đó sau này đã trở thành một mối nguy hại không ngờ cho Rohan.

Barad-dûr

Barad-dûr còn được biết đến với tên gọi Toà Tháp Đen, nó là căn cứ chính của chúa tể hắc ám Sauron. Được xây dựng vào kỷ Thứ Hai, nó hoàn toàn bị tiêu diệt sau “Cuộc Chiến Của Những Chiếc Nhẫn”. Trong ngôn ngữ đen, nó còn được gọi là Lugburz.

Barad-dûr được xây dựng bởi Sauron trên vùng đất Mordor không xa ngọn núi lửa Mount Doom. Nó được xây dựng vào khoảng năm 1000 của kỷ thứ Hai và phải mất 600 năm để hoàn thành. Nó là căn cứ lớn mạnh nhất ở trung địa kể từ trận chiến “War of Warth” và sự sụp đổ của Angband.

Barad-dûr bị bao vây suốt hơn 7 năm bởi thế lực đồng minh trong trận chiến Cuối Cùng của Người và Elf, nó đã bị tàn phá sau khi Sauron đã bị bại, tuy nhiên do Sauron đã dùng quyền năng của The One Ring tạo ra nó, nên nền móng của nó vẫn không bị tiêu diệt trừ khi The One Ring bị huỷ.

Isildur đã không chiến thắng lòng mình để huỷ diệt chiếc nhẫn, ngọn tháp được xây lại sau khi Sauron trở về Mordor hàng ngàn năm sau đó.

Minas Tirith

Minas Tirith

Minas Tirith có tên gọi ban đầu là Minas Anor, nó là thủ đô của Gondor trong suốt kỷ thứ ba và thứ tư. Thành phố còn có tên gọi là Thành Phố Trắng, bởi trước cỗng kinh thành có trồng Cây Trắng

Bao quanh Minas Tirith là bức tường tròn lớn Rammas Echor, nằm trong bức tường ấy là thành phố và cánh đồng Pelennor.

Thành phố được chia thành 7 tầng, mỗi tầng cao 100 feet, và được bảo vệ xung quanh bởi bức tường trắng ngoại trừ tầng thứ nhất được bao quanh bởi những viên đá đen cùng chung chất liệu với toà tháp Orthanc.

Các cánh cổng nối liền các tầng thành không liên tục một chiều mà chúng quanh mặt theo những hướng khác nhau.

Tầng thứ nhất là tầng thấp nhất nhưng đồng thời cũng to nhất, cánh cổng chính dẫn đến những cánh đồng, nhà cửa, phố xá.

Menegroth

Menegroth còn được biết đến với biệt danh cung điện nghìn hang động, nó là thủ phủ của vương quốc Doriath thuộc về đức vua Thingol và hoàng hậu Melian. Nó hoàn toàn là một thành phố ngầm dưới lồng núi và chỉ có lối vào duy nhất qua chiếc cầu đá Esgalduin. Người Lùn Râu Dài đã có công rất nhiều khi giúp đỡ người Sindar làm nên một trong những kỳ quan kỳ vĩ nhất của Trung Địa vào những ngày xa xưa. Những chiếc cột được đẽo từ những cây sồi khổng lồ cùng với cành và lá của chúng. Cung điện treo những chiếc đèn vàng và vố số vòi nước bạc, trên vách đá là vô số hình ảnh của muôn thú, những bông hoa, và vô vàn loài chim. Truyện kể rằng các loài chim sơn ca thường đến sống nới đó và đức vua Thingol là vì vua có một cung điện huy hoàng nhất trong tất cả các vì vua ngụ phía đông bờ biển.

Gondolin

Gondolin là thành phố bí mật của Elf nằm gần trung tâm lảnh thổ Beleriand của Trung Địa. Nó được xây dựng bởi Turgon thuộc dòng dõi vương tộc Noldor vào những năm bắt đầu của kỷ thứ nhất.

Một lần trong giấc chiêm bao, Turgon được vị thần nước Ulmo mách bảo là hãy đi tìm cho mình một căn cứ bí mật ở thung lũng Tumladen

Dưới sự chỉ dẫn của ngài, Turgon tìm đến vùng đất Nevrast và phát hiện thung lũng ấy. Nó được bao bộc bỡi những ngọn núi cao, nằm về hướng tây của Dorthonion và hướng đông con sông Sirion, mọi mặt được bảo vệ bởi những bức tường đá, và lối vào duy nhất là một đường hầm bí mật còn được gọi là Hidden Way. Nằm ở giữa thung lũng là một ngọn đồi, nó còn được gọi là ngọn đồi canh giữ.

The Hidden Way hay đường hầm bí mật được bảo vệ bởi 7 cánh cổng, tất cả đều được canh phòng cẫn mật, 7 cánh cỗng được làm từ 7 vật liệu khác nhau. Cỗng ngoài được làm bằng gỗ để che mắt kẻ ngoài, tiếp theo là đá, đồng, sắt, bạc, vàng, và thép.

Khazad-dûm (Moria)

trích bài thơ J.R.R Toilken diễn tả Moria trong quyển LOTR

Khi thế giới vẫn còn trẻ, ngọn núi còn xanh tươi
Mặt trăng chưa tỳ vết
Dòng sông, con suối chưa được đặt tên
Durin thức giấc và ngài bước đi cô độc
Ngài đặt tên cho những ngọn đồi, những thung lũng vô danh
Ngài uống nước từ những chiếc giếng còn chưa có mùi vị!

Ngài trông về Mirrormere
Thấy một chòm sao xuất hiện
như những hạt ngọc phát sáng long lanh
chiếu gọi lên chiếc bóng ngài đơn độc.

Thế giới vẫn còn tươi đẹp, ngọn núi cao chót vót,
vào những ngài xa xưa trước khi sụp đổ
Của những vì vua oai hùng chốn Nargothrond
và Gondolin, giờ đây họ đã ngụ
qua vùng biển Tây thật xa
Thế giới đã từng tươi đẹp vào những ngày của Durin

Ngài là một vì vua với ngai vàng trong hang đá
vô vàn phòng và cột đá
mái cung điện làm từ vàng, nền từ bạc
và dòng chử runes quyền năng đặt trước cửa
Ánh sáng của mặt trời, ngôi sao và mặt trăng
Những ngọn đèn phát sáng ánh pha lê
không tàn lụi bởi mây mù hay bóng tối
Nơi đó nó mãi mãi lung linh.”

Một trong những vương quốc cố xưa và nổi tiếng nhất của người lùn là Khazad-dûm, nó là nơi chào đời của Durin Bất Diệt, một trong 7 người cha tổ tiên của người Lùn Râu Dài. Nó đã tồn tại qua suốt 5 kỷ của dưới ánh sáng ngôi sao, và 3 kỷ của niên đại mặt trời.

Nó còn được biết với tên gọi Moria, một thành phố ngầm hùng vĩ dưới lồng đất và vô cùng phức tạp, bao gồm hệ thống khổng lồ các đường hầm, buồng chứa, hầm mỏ, và những căn hầm khổng lồ chạy xuyên suốt qua ngọn núi sương mù.

Glorfindel

Kỷ Thứ Nhất

Glorfindel thuộc giống Elf cao quí với máy tóc vàng, và được cho rằng có mối quan hệ mật thiết với Elf Vanyar. Glorfindel đến Trung Địa cùng với đoàn người Turgon trong cuộc di dân của Noldor, tuy nhiên ông không tham gia trận Kinslaying ở thành phố cãng Alqualondë.

Glorfindel đã theo Turgon đến sống ở vương quốc thần bí Gondolin. Khi Morgoth tấn công Gindolin, ông đã theo gia đình Tuor trốn thoát, tuy nhiên khi họ đến ngọn núi cao đã bị mai phục bởi quân Orcs và balrog, Glorfindel đã cùng với con balrog có một cuộc chiến long trời, kết quả cả hai rơi xuống vực sâu không đáy và chết. Giống như các loài Elf khác, sau khi chết Glorfindel sẽ trở về Ngôi Nhà của Mandos để chờ phục sinh.

Kỷ Thứ 3 và Cuộc Chiến Của Những Chiếc Nhẫn

Nhận biết được tài năng của Glorfindel, Valar đã gỡi ông đến Trung Địa một lần nữa, ông đến đó trước hoặc cũng có khả năng đến cùng với tổ chức Istari để giúp đỡ người tự do Trung Địa chống lại thế lực đang dần lớn mạnh của Sauron khi hắn đã bí mật luyện thành công The One Ring.

Istari là tổ chức bào gồm 5 Maiar được Valar gỡi đến Trung Địa để chống lại thế lực Sauron. Ban đầu Valar chỉ đề cử 3 Maiar, vị thần vật chất Aule cử Curumo (còn được gọi là Saruman), Saruman là kẻ có quyền năng nhất trong nhóm. Vị thần rừng Orome cử Morinehtar (Alatar), và thần gió Manwe cử Olórin (Gandalf). Sau đó Yavanna yêu cầu gỡi thêm 2 maiar nữa là Aiwendil (Radagast) và Rómestamo (Pallando).

Họ đổi tên trước khi đến Trung Địa, họ còn được gọi là phù thủy. Tên của họ được gọi theo màu sắc quần áo họ mặc khi đến Trung Địa – Phù thủy trắng Saruman, phù thủy nâu Radagast, phù thủy xám Gandalf, Atalar và Pallando được gọi chung là phù thủy xanh.

Khi đến trung địa, Glorfindel tham gia cùng lực lượng của Elrond, và cùng quân Rivendell giúp đỡ vương quốc Arnor chống lại kinh thành ma quái Angmar của Witch-King.
Vương quốc Angmar được thành lập bỡi chúa tể ma nhẫn Ringwraiths mà sau này còn biết đến với biệt danh Witch-king của Angmar. Mục đích của nó nhầm làm suy yếu sự lớn mạnh của kinh thành Arnor, đồng thời làm căn cứ địa vững bền cho thế lực của Sauron ở phương bắc. Angmar nằm ở cực bắc của dãy Núi Sương Mù, vùng đất ấy giá băng, và quanh năm phủ đầy tuyết trắng.

Năm 1975 của Kỷ Thứ 3 (1975 TA), hoàng tử Eamur của Gondor liên minh với Elf tấn công Angmar nhầm tiêu diệt nó hoàn toàn trong trận chiến Fornost. Sự dủng mãnh của Glorfindel đã khiến Witch-King đại bại và hắn phải bỏ chạy trong đêm tối, Eamur đuổi theo truy sát nhưng Glorfindel đã ngăn lại vì ông đoán trước rằng không một người đàn ông nào có thể giết được hắn, tuy nhiên trong tương lai hắn sẽ bị tiêu diệt. Lời tiên tri đã thành sự thật vì sau này Witch-King đã bị hạ bởi Éowyn một người con gái, và Merry Brandybuck một Hobbit!.

Một nghìn năm sau, Glorfindel giúp đỡ Frodo Baggins cùng nhóm đồng hành đến được Rivendell trong sự truy sát của Nazgûl.

 

Lịch sử Vương quốc Rohan

Vương quốc Rohan đã từng nằm ở vùng đất Celenardhon, trên một thung lũng bao la giữa dãy Núi Sương Mù và ngọn Bạch Mã. Người Gondor gọi họ là Rohirrim (có nghĩa là chúa tể của những chiến mã), nhưng họ tự xưng là Eorlingas.

Lịch sử

Hậu Duệ Của Người Phương Bắc (Northmen)

Người Rohan không có mối quan hệ gì với người Edain (3 tộc người đã giúp Elf chống lại Morgoth nếu các bạn còn nhớ, và sau này thành lập vương quốc Númenor), nhưng họ lại mối quan hệ rất gần với người Beorning hoặc người thành Dale.

Beorning là một giống người có thể thay đổi hình dạng, họ có khả năng biến thành Gấu hay các loài vật khác, tổ tiên của họ là Beorn, nhân vật này lần đầu xuất hiện trong tác phẩm the Hobbit. Họ sống trong thung lũng Anduin nằm giữa rừng Mirkwood và sông Đại Giang, suốt kỷ thứ ba họ đã bảo vệ khu rừng Carrock chống lại sự xâm chiếm của Orcs và Wargs (sói). Họ có tuổi thọ giống người bình thường và thông thạo cả hai ngôn ngữ Người và Gấu. Họ không ưa Người Lùn Râu Dài và kẻ địch của họ là Goblins. Họ rất yêu thương loài vật, không săn bắn chim hay dã thú, thức ăn chính của họ là mật ông!

Thành Dale nằm dưới chân ngọn Núi Cô Đơn (Lonely Mountain), từng là một thành phố phồn dinh, nhưng nhiều năm sau đó nó bị bỏ hoang khi con rồng xão nguyệt Smaug đến cai trị ngọn núi nơi ấy. Thành phố được phục hồi sau trận chiến của Năm Đội Quân (Battle of the Five Armies) xảy ra khi Bilbo Baggins và nhóm người lùn lấy lại kho báu từ con rồng Smaug. Smaug bị hạ bởi một cung thủ tài ba tên là Bard, chàng là hậu duệ của vua Girion của thành Dale khi xưa, và sau này chính chàng cũng được tôn làm vua. (trả lời luôn cho bạn nào hỏi ai giết Smaug)

Ở những giai đoạn đầu tiên của kỷ Thứ Ba, tổ tiên người Rohan sống ở vùng lãnh địa gọi là Rhovanion, một vùng đất nằm ở hướng đông Mirwood, tuy nhiên họ không bao giờ thống nhất dưới sự cai trị của mội vì vua. Họ không ngừng liên minh với Gondor trong nhiều trận chiến. Tuy lúc nào họ cũng xãy ra chinh chiến với kẻ địch (Balchoth, Wainriders), nhưng không vì thế mà dân số của họ bị thuyên giãm.

1000 năm sau của kỷ thứ ba, dưới sự lãnh đạo của Marhari hậu duệ của Vidugavia vốn là vị hoàng tử mạnh nhất của Rhovanion (sơ khai của Rohan), họ chiến đấu bên cạnh vua Narmacil II của Gondor, tuy nhiên lại bị Wainriders đánh bại (một nhóm người phương Đông), và tứ đó thế lực của họ tan rã và phân bố rãi rác. Không lâu sau đó, Marhwini con trai của Marhari nối nghiệp cha, tập hợp số người còn lại, và từ đó tạo nên những người Rohan đầu tiên. Họ sống ở thung lũng Anduin, nằm giữa Carrock và cánh đồng Gladden, họ hồi phục dần thế lực và còn được biết đến với tên gọi Éothéod .

Người Éothéod

Năm 1970 của kỷ thứ ba, sau khi vương quốc Angmar của Witch-king bị sụp đổ, vì người Éothéod cần mỡ rộng lãnh thổ đã dẫn đến nhiều cuộc xung đột với Dol Guldur. Người Éothéod nuôi dưỡng chiến mã và nhanh chóng đánh đuổi tàn quân còn lại của Angbar ra khỏi vùng đất của họ. Hoàng tử Fram đã giết chết con rồng Scatha, một trong những con rồng còn sót lại của Grey Mountains, giờ chỉ còn sót lại hai con rồng là Smaug và Erebor. Khi Fram giết chết Scatha, họ đã sở hữu rất một kho báu đồ sộ từ trong hang động của nó, nhưng từ đó lại dẫn đến mâu thuẫn với Người Lùn vì họ cũng cho rằng kho báu đấy là của họ. Có nhiều lời đồn rằng sau đó người lùn đã giết chết Fram và dẫn đến sự bất hoà giữa hai chũng tộc Rohan và Người Lùn.

Năm trăm năm sau, Léod vị thủ lĩnh đương thời của Éothéod đã bắt được một ngựa hoang, một con ngựa dủng mãnh nhưng rất khó thuần phục, nó không nghe lời bất cứ ai. Tuy vậy Léod vẫn cương quyết cỡi nó, con ngựa hoang đã tháo chạy và khiến Léod va đầu vào đá và chết. Eorl con trai của Léod khi chỉ mới 16 tuổi đã lên nối nghiệp cha, chàng không lúc nào quên được việc truy tìm con ngựa hoang đã khiến cha chàng chết. Sau nhiều năm tìm kiếm, Léod đã tìm được con ngưa ấy, thay vì giết nó để trả thù cho cha, chàng nói với nó rằng “Ngươi phải trả cho ta sự tự do của ngươi vì ngươi đã khiến cha ta chết”. Nó là một con ngựa có tính người và hiểu được những gì chàng nói, từ đó nó trung thành với Eorl và chàng đặt tên cho nó là Felarof.

Món Quà Calenardhon và Lời Thề của Eorl

Vào năm 2509 của Kỷ Thứ 3, thế lực phương Đông đã tấn công Calenardhon và đang hâm he các vùng lãnh thổ phía nam, Eorl tuy còn trẻ tuổi nhưng biết được mối nguy hại một khi Gondor thất thủ, các vùng lãnh thổ phía tây Anduin sẽ không khỏi rơi vào tay thế lực của Sauron, trước tình thế đó Eorl đã liên minh cùng nhiếp chính vương Cirion của Gondor. Khi lực lượng của Cirion bị tấn công dồn dập và sắp bị tiêu diệt bởi quân Orcs, đội kỵ binh của Eorl đã đến bất ngờ và kịp thời đổi ngược tình thế.

Cirion để lại Calenardhon cho Eorl và người của chàng canh giữ trong 3 tháng, vị nhiếp chính vương làm cuộc hội nghị và họ cho rằng người của Eorl cần một vùng đất để cai trị và phát triển, và tin rằng họ sẽ là đồng mình mạnh mẽ để chống lại thế lực Sauron nên đã quyết định trao tặng cả vùng đất Calenardhon cho Eorl. Cảm động trước món quà trên, Eorl đã lập ra lời thề “Lời thề của Eorl”, chàng thề rằng sẽ giữ mãi mối thâm tình với Gondor, và sẽ luôn bên cạnh Vương Quốc phương Nam chống lại kẻ thù phương Đông.

Vương Quốc Rohan

Brego con trai của Eorl hoàn thành xong công trình vĩ đại là kinh thành Meduseld, nơi mà sau này các vị vua của Rohan sẽ cư ngụ. Để ăn mừng cho thành quả đạt được, Baldor con trai của Brego quyết định thám hiểm Paths of the Dead (Con Đường Chết, con đường mà sau này Aragorn đã tiến vào ở phần 3 LOTRs), nhưng Baldor đã lạc và mãi sau này vẫn không tìm được, Brego vô cùng đau buồn trước tin trên và qua đời không lâu sau đó, đứa con kế của ông là Aldor lên nối ngôi.

Đến thời vua thứ 7 của Rohan là Déor, một thế lực mới nỗi lến đó là Dunlendings, họ bắt đầu chiếm lấy các khu rừng hoang của Isengard và lấy đó làm căn cứ chống lại Rohan. Người Dunlendings tiếp tục khiêu khích Rohan cho đến đời vua thứ 9 là Helm Hammerhand. Helm là một người cường tráng và can đãm, ngài cương quyết làm suy yếu thế lực của Dunlendings.

Thủ lĩnh hiện tại của Dunlendings là Freca, ông ta có một căn cứ vô cùng vững chắc và không chịu sự cai trị của Rohan. Họ hẹn nhau đàm phán tại Edoras, lúc ấy Freca đưa ra lời đề nghị là đức vua Helm nên gã công chúa cho con trai hắn là Wulf, thấy được đấy là cớ để chúng lấy được dòng máu trong vương tộc và sẽ là nguy cơ sụp đổ của Rohan nên Helm đã chối từ. Lời từ chối trên đã làm phật ý Freca, dẫn đến ấu đã và kết quả là Helm đã giết chết Freca, từ đó họ trở thành kẻ thù nhau.

Thật không may vào lúc đó Gondor bị thế lực Sauron tấn công, thấy đó là cơ hội khi đồng mình của Rohan đang bị tấn công bởi kẻ thù khác, Wulf dẫn toàn quân đi chinh phạt và đánh bại quân của Helm. Helm cùng với thần dân phải lánh mình trong khu căn cứ Hornburg, và sau này còn biết đến với tên gọi Helm’s Deep.

Wulf chiếm lấy kinh thành Meduseld, và tự xưng là vua và từ đó bắt đầu một đông dài đăng đẵng, nhiều người Rohan trở nên đói rét và bệnh tật. Ẩn thân trong Hornburg, Helm ngày càng trở nên tiều tuỵ và uất ức, nên đã đến doanh trại của kẻ thù và giết chúng bằng tay không. Trước khi xuất hiện, Helm thổi một chiếc Còi thật to, tiếng còi làm khiếp vía kẻ thù và bọn chúng bỏ chạy khi nghe thấy âm thanh đó. Từ đấy Helm lấy lại danh tiếng và làm khiếp sợ kẻ thù nhiều năm sau đó, nhưng cuối cùng vào một đêm ông đã chết cóng bên ngoài bức tường thành Hornburg.

Mùa xuân lại đến, Fréaláf cháu trai của Helm dẫn theo một đội quân nhỏ cùng với những người còn sống sót sau mùa đông dài đăng đẵng, dưới sự trợ giúp của Gondor, họ tấn công Edoras bất ngờ và giết chết Wulf, chiếm lại kinh thành Meduseld, và tiêu diệt Corsairs. Fréaláf được tôn làm vua, và trong ngày đăng cơ của chàng, phù thủy trắng Saruman mang đến nhiều món quà và chúc mừng cho sự chiến thắng của họ. Saruman sau đấy lấy khu đất hoang Isengard làm căn cứ, Fréaláf mừng gỡ vì đã có thêm một đồng minh là Sauruman vì quân lực của chàng bấy giờ vô cùng yếu kém vì sau một mùa đông dài đăng đẵng và trận chiến vừa kết thúc. Nhưng ai biết được chữ ngờ, Sauruman từ căn cứ đó sau này đã trở thành một mối nguy hại không ngờ cho Rohan.

Círdan

Có lẽ Círdan được biết nhiều nhất là người đã tạo ra những chiếc thuyền đưa những người elf còn lại ở Trung Địa đến Valinor và là người mang chiếc nhẫn Narya và sau này tặng nó lại cho Gandalf khi biết được nhiệm vụ của ông.

 Thực chất ông là elf có tuổi thọ lâu đời nhất còn sót lại ở Trung Địa, hay cụ thể hơn ông là một trong những elf thức giấc đầu tiên bên bờ hồ Cuiviénen trước khi có sự xuất hiện của mặt trời và mặt trăng. Ông thuộc nhóm elf Teleri, cùng với Elwë dẫn dắt đoàn người Teleri đến Valinor, tuy nhiên khi đến gần bờ biển Trung Địa ông đã rất yêu thích biển và cùng với sự mất tích của người bạn thân là Elwë (vua Thingol) nên quyết định ở lại Trung Địa mà không đặt bước đến Valinor.

Ở kỷ thứ nhất, sau khi Thingol trở thành vua vùng Beriland, Círdan trở thành chủ nhân của hai bến cảng Eglarest và Brithombar. Sau này ông lại là chủ nhân bến cảng Falas và là cố vấn quân sự cho Finrod Felagund vốn là chúa tể Nargothrond.

Bến cảng Falas bị quân Morgoth tiêu diệt vào năm 474 của kỷ thứ nhất, Círdan đã đến tị nạn tại cửa khẩu Sirion cùng với những người còn sót lại của Noldor bao gồm Elwing và Eärendil. Cũng chính nơi đó ông đã giúp Eärendil xây chiếc thuyền huyền thoại để chàng vượt biển tây đến Aman cầu mong diện binh của Valar, và nhiệm vụ đó đã thành công như các bạn đã đọc ở các phần trước.

Ở kỷ thứ hai, một lần nữa Círdan không muốn đến Aman theo lời kêu gọi của Valar, ông xây ba bến cảng lớn là Forlond, Harlond và Mithlond trên vùng đất Lindon, và cũng nơi đó ông đón nhận đoàn thuyền của những người Númenór vong quốc. Ông sau này trở thành thủ lĩnh cho đức vua Noldor cuối cùng là Gil-Galad và cùng ngài chiến đấu trong trận Liên Minh Cuối Cùng để tiêu diệt Sauron. 

Kỷ thứ ba vốn là kỷ nguyên của loài người, ông trở thành chủ nhân của bến cảng Grey Havens và xây dựng những chiếc thuyền đưa những người Elf còn sót lại ở Trung Địa về Valinor. Cũng vào thời gian ấy khi tổ chức phù thủy Istari đến Trung Địa, ông đã tặng chiếc nhẫn Narya cho Gandalf khi biết được bản chất thực sự của Olórin một maia.

Ông trở thành một thành viên chính trong tổ chức White Council tại Rivendell. Tổ chức này bao gồm các vị chúa tể Elf Eldar cùng với vài thành viên của nhóm phù thủy Istari, nó được thành lập nhầm tiêu diệt thế lực hắc ám Dol Guldur đang lớn mạnh trong khu rừng đen Mirkwood.

Thành viên nó bao gồm: phù thủy trắng Saruman, phù thủy nâu Radagast, phù thủ xám Gandalf, Elrond của Rivendell, Galadriel của Lothlórien và Círdan chủ nhân bến cảng Grey Havens. Saruman được bầu là người lảnh đạo tổ chức dù Galadriel đã nhiệt liệt phản đối.

Cuộc hợp của tổ chức diễn ra đầu tiên vào năm 2463 của kỷ thứ ba khi thế lực hắc ám Dol Guldur đang lớn mạnh, Gandalf đi đến phía nam khu rừng Mirkwood để tìm xác định danh tánh của Necromancer vốn đang cai trị Dol Guldur.

Năm 2851 họ mở một cuộc hợp khác để bàn luận về những khám phá của Gandalf, nhưng vào lúc đó Saruman đã biết được The One Ring hiện vẫn còn ở khu vực cánh đồng Gladden Fields và Sauron đang tích cực truy tìm nó nên đã thuyết phục họ tập trung cho nhiệm vụ mới là truy tìm chiếc nhẫn.

năm 2941, Tổ chức gặp nhau một lần nữa, đây cũng là lý do vì sao Gandalf bỏ đoàn người Bilbo và người lùn trong cuộc phiêu lưu của họ đến ngọn núi Cô Đơn để lấy lại kho vàng. Gandalf cuối cùng đã xác định được Necromancer chính là linh hồn của Sauron đang củng cố thế lực, ông cùng tổ chức đánh đuổi Sauron ra khỏi Guldur và rất lâu sau đó hắn mới tái xuất hiện tại Mordor

Cuộc hợp mặt cuối cùng của tổ chức là vào năm 2953, họ bàn luận về việc Sauron đang truy tìm the One Ring, Saruman một mực cho rằng chiếc nhẫn đã rơi vào con sông Anduin và đã trôi dạt ra ngoài đại dương bao la và khuyên họ không nên tập trung vào tung tích của nó. Cũng chính trong cuộc hợp này Gandalf đã bắt đầu nghi ngờ về hành vi của Saruman rằng ông ta đang thèm khát chiếc nhẫn.

Sau Cuộc Chiến Của Những Chiếc Nhẫn, Sauron bị tiêu diệt, Círdan đã chuẫn bị thuyền cho những người mang nhẫn là: Bilbo, Frodo, Elrond, Galadriel và Gandalf đến Valinor. Và không có rõ ràng là ông có theo họ đến Aman hay không, nhưng sau này Tolkien viết một lá thư giải thích rằng ông đã ở lại Trung Địa vì không muốn xa rời nó.

Rồng Trung Địa

Nguồn Gốc Và Lịch Sử Trong Giai Đoạn Đầu

Thấy được sức mạnh của Noldor trong trận chiến, Melkor nhận ra rằng bằng vào sức lực của Orcs thì không thể nào đánh bại Noldor. Hắn đã bắt đầu tạo ra một giống loài quái vật mới, đó là loài Rồng.

Tổ tiên của tất cả loài rồng là Glaurung, một con quái thú mạnh mẽ, vô cùng thông minh và gian xảo cùng với những câu thần chú thôi miên kinh hồn. Glaurung đóng một vai trò quan trọng trong câu truyện về số phận những đứa con của Hurin. Một trong những tội ác nó gây ra là tiêu diệt vương quốc Elf cường thịnh một thời là Nargothrond, và dùng thần chú khiến Nienor quên hết tất cả mọi chuyện trên đời. Sự mất trí của Nienor đã khiến nàng lấy người anh trai ruột của mình là Túrin làm chồng. Khi Nienor biết được sự thật và đó là âm mưu của Glaurung, nàng đã gieo mình xuống vực sâu. Glaurung cuối cùng cũng bị giết bởi Túrin trong một trận chiến một mất một còn.

Trong trận chiến dẫn đến sự sụp đổ của Gondolin, binh lực của Morgoth bao gồm nhiều con rồng mạnh mẽ và khủng khiếp trong đó đáng sợ nhất là Quái Thú Gondolin (Beast of Gondolin). Quái thú Gondolin là một con rồng khổng lồ,nó to lớn đến độ có thể mang trên lưng những con Balrogs. Nó được cho là một con rồng lửa, và khi tấn công Gondolin nó đã ghiền nát các bức tường thành và khiến xung quanh trở thành biển lửa. Nó gần như giết chết Tuor nếu như chàng không kịp chém trọng thương chân nó. Con quái thú này không được nói đến nhiều duy chỉ với cái đuôi khổng lồ nó có thể giết rất nhiều Orcs và Noldor khi nó lên cơn nóng giận.

Trong suốt trận chiến War of Wrath, trận chiến cuối cùng giữa Valar, Eldar, Edain và Morgoth, Morgoth đã tung ra một loại rồng mới, những con rồng có cánh. Đứng đầu trong những con rồng đó là con rồng đen khổng lồ Ancalagon. Dù đã bị Eärendil giết chết nhưng xác của nó khi ngả xuống đã làm sụp đổ hoàn toàn các toà tháp Thangorodrim.

Trong trận chiến đó nhiều con rồng đã bị diệt, một vài trốn được và sống sót trong các kỷ tiếp theo.

Sự Tái Xuất của Rồng

Trong các câu truyện ở kỷ thứ II, rồng không được đề cập đến. Có thể là những con rồng còn sống sót đã đến sống ở khu Đất Hoang Phương Bắc (Northern Waste), và chúng sống cách xa loài người và elf. Qua nhiều thế kỷ chúng tiếp tục sinh sôi nảy nở, cụ thể là vùng đất Withered Heath một khu vực phía bắc ở Dãy Núi Xám (Grey Mountains).

Ở kỷ thứ III, những con rồng ở Withered Heath bắt đầu xuất hiện và gây chiến. Chúng tấn công các vùng đất người lùn và cũng có thể trong các trận chiến này lửa của chúng đã tiêu diệt bốn Chiếc Nhẫn của người lùn.

Con rồng đáng sợ nhất ở kỷ thứ III là Smaug, nó đã tấn công và chiếm đoạt vương quốc người lùn Erebor nằm gần thành Dale. Sự tấn công của Smaug đã khiến người lùn thuộc dòng dõi Durin phải sống lưu vong.

Dù Smaug cho là con rồng mạnh nhất ở kỷ thứ III, nhưng nó không phải là con rồng cuối cùng còn sống sót.

Phân Loại

Tolkien đã tự sáng tạo ra hệ thống phân loại rồng của riêng mình dựa vào đặc tính di chuyển và khả năng phun lửa của chúng.

Nhiều loại rồng (Glaurung) đi bằng bốn chân giống như các loại bò sát khổng lồ hay rồng Komodo (Rồng Komodo ở Indonesia đó các bạn). Những loại rồng khác như Ancalagon, Smaug ngoài khả năng đi bằng bốn chân chúng còn có cánh và có thể bay. Những con rồng có cánh lần đầu xuất hiện ở trận chiến War of Wrath khi Valar và Eldar đưa binh đi tiêu diệt Morgoth đánh dấu cho sự kết thúc của kỷ thứ I.

Những con rồng có khả năng phun lửa còn được gọi là Urulóki, Rồng Lửa. Cũng không rõ là từ Urulóki dùng cho những con rồng ở thế hệ thứ I như Glaurung dù có khả năng thở ra lửa nhưng lại không có cánh hay nó cũng ám chỉ các loài rồng lửa sau này có cánh trong đó có Smaug.

Trong phần phụ lục A, Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn, Tolkien đã đề cập đến cụm từ “Cold-drake” hay Rồng Lạnh, đấy là từ dành cho các loài rồng không có khả năng phun lửa mà lại có khả năng phun băng và tuyết.

Các Đặc Tính

Tất cả các loài rồng đều tham lam và rất mê châu báu đặc biệt là vàng. Chúng rất thông minh, gian xảo, độc ác và có sức mạnh phi thường và đặc biệt là khă năng gây mê với những câu thần chú còn được gọi là “Dragon Spell”, Thần Chú Rồng.

Tuy mạnh mẽ và nguy hiểm nhưng chúng lại tăng trưởng rất chậm, cũng vì lý do đó lần đầu Morgoth sử dụng chúng trong trận chiến đã thất bại vì chúng chưa đủ mạnh để gây tổn hại đáng kể. Cũng như tuy mạnh mẽ nhưng lửa của chúng được cho là không đủ độ nóng để làm tan chảy The One Ring, tuy nhiên bốn trong bảy Chiếc Nhẫn của Người Lùn đã bị lửa rồng tiêu diệt.

Advertisements

4 thoughts on “Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn: Tóm Tắt Lịch Sử Trung Địa Và Các Giống Loài

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s