Hữu Thỉnh- Vũ trụ hóa nỗi cô đơn

 

Thy Sinh

Thơ viết ở biển

Anh xa em
Trăng cũng lẻ
Mặt trời cũng lẻ
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn

Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến
Vì sóng đã làm anh
Nghiêng ngả
Vì em…

 
Góc nhìn về tình yêu

Tình yêu đôi lứa là đề tài tốn nhiều giấy mực nhất của văn chương. Dù trải qua bao thời đại, bản chất của nó dường như chưa bao giờ thay đổi, đó là hành trình của những cái tôi tự nguyện hòa quyện và tan biến lẫn nhau. Nếu Plato coi tình yêu là cuộc tìm kiếm nửa còn thiếu để đạt đến sự vẹn toàn, thì Aristotle lại định nghĩa đó là một linh hồn cư ngụ trong hai thể xác. Dù được diễn giải dưới góc độ nào, thì tâm thế của kẻ đang yêu vẫn luôn là trăn trở của thơ ca.

Nghệ thuật, từ cổ điển đến hiện đại đã kiến tạo những biểu tượng cho tình yêu như trái tim, hoa hồng, hay thần Cupid – tất cả đều là hiện thân của sự lãng mạn và vĩnh cửu. Nhưng bên cạnh những biểu tượng rực rỡ có tính quy chuẩn ấy, vẫn còn một biểu tượng thầm lặng hơn, ít được gọi tên hơn, đó là nỗi cô đơn. Lâu nay, nỗi cô đơn trong tình yêu thường bị đánh đồng một cách giản đơn với nỗi nhớ. Từ góc nhìn về tình yêu cả trong nghệ thuật lẫn trải nghiệm cá nhân, chúng tôi chọn Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh để đi sâu vào biểu tượng này. Bởi nỗi cô đơn không chỉ là dư âm của nỗi nhớ, mà đã kiêu hãnh trở thành bản thể của tình yêu.

 

Cơ chế nghệ thuật

Thơ viết ở biển lan tỏa một cách tự nhiên, ngay cả với những người không thường xuyên đọc thơ? Có lẽ do tác giả đã kiến tạo một nghịch lý ngay khi mở đầu:

Anh xa em

Trăng cũng lẻ

Mặt trời cũng lẻ

Không gian mở ra toàn bộ vũ trụ, nhưng chỉ có ba chủ thể đơn nhất đồng hiện là “Anh”, “Trăng” và “Mặt Trời”. Theo lẽ thường, Mặt Trăng và Mặt Trời là những thực thể vĩ đại của vũ trụ, phải sánh với Trái Đất mới đồng đẳng. Nhưng ở đây, tác giả lược bỏ Trái Đất, đặt trực diện nhân vật “Anh”, một con người nhỏ bé sánh ngang với “Trăng” và “Mặt Trời”. Thủ pháp này cho thấy trên mặt đất lúc ấy chỉ có một mình anh, cô độc một cách tuyệt đối và đáng thương.

Mặt Trăng và Mặt Trời hay cả Trái Đất vốn đơn nhất từ thuở khai thiên lập địa, chúng luôn luôn “lẻ”. Cái tài của Hữu Thỉnh là đặt hai thực thể vĩnh hằng vốn dĩ đơn nhất ấy vào đúng khoảnh khắc cô đơn của con người. Nỗi cô đơn của một cá thể đang yêu lập tức đồng dạng với nỗi cô đơn căn bản của vũ trụ. Nếu tác giả viết khác đi: “anh bên em / trăng cũng lẻ / mặt trời cũng lẻ” thì cấu trúc này bị triệt tiêu, vì không tạo ra hiệu quả nghệ thuật. Ba câu thơ trên đều đứng độc lập, tạo khoảng trắng giữa hai dòng chính là khoảng trống của sự xa cách. Người đọc vì thế không chỉ hiểu sự cô đơn, mà còn nhìn thấy và nghe thấy nó đứt gãy ra sao. Nếu dừng ở đây, tác phẩm đã là bài thơ ba câu tuyệt trác. Nhưng tác giả tiếp tục đẩy nó đi xa hơn.

Vì “Anh”, “Trăng”, “Mặt Trời” đã lẻ, nên đến câu thứ tư, “Biển” phải “cậy mình dài rộng” để khỏa lấp. Chữ “cậy” rất đắt, nó thể hiện phản ứng phòng vệ của cái tôi vừa có chút bướng bỉnh, vừa có chút tội nghiệp. Biển cậy mình dài rộng để trốn tránh cái lẻ loi của vũ trụ, nhưng càng cậy dài rộng lại càng lộ ra cái cô đơn khi “vắng cánh buồm”. Nỗ lực khỏa lấp của biển, cũng như nỗ lực gồng mình mạnh mẽ của anh cuối cùng đều bất thành.

Khổ thơ tiếp theo chuyển hóa nỗi cô đơn ấy vào sâu trong tâm cảm, khi “Anh” nhận ra mình đã mòn như vách núi. Bởi những làn “roi” vô hình quất vào tâm tưởng anh rất nhẹ nhưng sức bào mòn lại khôn cùng. Đây là một nghịch lý nghệ thuật thú vị: gió vốn vô hình nhưng lại mang quyền năng của roi. Tương tự, “em” không mang năng lượng của hoàng hôn (chiều), nhưng lại có thể “nhuộm anh đến tím”. Màu tím ở đây, vừa gợi tả trạng thái tổn thương, tím tái như vết bầm của làn roi, vừa mang nghĩa sâu kính của sự thủy chung. Để rồi ngay cả “sóng”, thực thể luôn chuyển động có hướng – cũng bị mất phương hướng và trở nên vô nghĩa “nếu không đưa em đến”. Anh đã chấp nhận tất cả, dù bị sóng làm chao đảo khổ sở đến đâu cũng được, miễn là sóng đưa được em đến. Bài thơ chao thêm một lần nữa như những lớp sóng quật thẳng vào anh:

Vì sóng đã làm anh

Nghiêng ngả

Vì em…

Về mặt thị giác, các câu thơ đứng đơn độc tạo hình cho sự nghiêng ngả. Cuối cùng là cụm từ “Vì em…” với ba dấu chấm lửng. Chính vì cái lửng này mà bài thơ dù ngắn nhưng không kết thúc trong tâm trí người đọc.

Điều đặc biệt trong Thơ viết ở biển là khi khắc họa nỗi cô đơn của “Anh”, để qua đó sinh nghĩa cho chủ thể “em”. Em không hiện ra như là trăng, như là mặt trời, mà hiện ra trong hệ tọa độ cảm xúc của anh. Ở đó, em được đồng nhất với các thế lực tự nhiên, trở thành nguồn năng lượng có khả năng chuyển hóa ngoại cảnh. Em là cội nguồn của cái đẹp và là sự cứu rỗi cho cả vũ trụ.

 

Cực hạn thẩm mỹ

Nhiều người đặt Thơ viết ở biển cạnh Chùm nhỏ thơ yêu (1962) của Chế Lan Viên, nhưng chúng tôi cho rằng đây là hai hệ thi pháp hoàn toàn khác biệt. Nếu Chùm nhỏ thơ yêu khắc họa nỗi nhớ, mang tâm thức hướng ngoại và kỳ vĩ, thì Thơ viết ở biển lại đào sâu vào nỗi cô đơn, với tâm thức hướng nội trầm lắng mà xáo động. Sự phân biệt ranh giới giữa nỗi nhớ và nỗi cô đơn hết sức cần thiết để thấu hiểu và cảm thụ trọn vẹn giá trị riêng của mỗi tác phẩm. Nếu thi pháp của Chế Lan Viên thiên về sự dụng công của lý trí, thì Thơ viết ở biển lại đại diện cho một cơ chế kiến tạo khác.

Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.

Bằng cơ chế đồng hiện khi đặt nỗi cô đơn của con người tương đồng với nỗi cô đơn của vũ trụ, kết hợp với cách phủ định tính chức năng của các hiện tượng tự nhiên (gió, chiều, sóng) nhằm làm nổi bật quyền năng tuyệt đối của chủ thể trữ tình “em” đã giúp tác phẩm trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận nhưng lại rất khó mô phỏng.

Ngôn ngữ thơ hiện đại, bứt phá khỏi những sáo mòn mang tính ước lệ của thi pháp truyền thống. Có thể nói, tác giả đã vũ trụ hóa nỗi cô đơn, tạo tác một biểu tượng “đúng tuyệt đối” về nỗi cô đơn trong tình yêu ở mọi thời đại. Chính vì thế, Thơ viết ở biển đã chạm tới cực hạn thẩm mỹ và xứng đáng được xem là một kiệt tác của văn chương Việt.

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh, tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942, quê ông ở Tam Dương, Vĩnh Phúc. Ông nhận được nhiều giải thưởng văn chương, trong đó có những giải thưởng quan trọng như Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012. Bài thơ Thơ viết ở biển in trong tập Thư mùa đông (1994), đoạt Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1995.

 

TP.HCM, tháng 9 năm 2026

Thy Sinh

 

Bình luận về bài viết này