Sử ta, chép hoài chưa trúng- Bài 8

                     8.   Câu chuyện ‘Bắc thuộc’: khi sử gia mắc lỗi anachronism

Đỗ Ngọc Giao

17-Aug-2026

      Anachronism nói cho dễ hiểu là bất cứ thứ gì đặt vô lịch sử mà chẳng trúng lúc, thí dụ nếu ta nói ‘năm 939 khi Việt Nam giành được độc lập’,[1] thì ta đã mắc lỗi anachronism bởi năm 939 chưa có ai biết khái niệm ‘Việt Nam’.

Bài này nêu ra một số lỗi anachronism mà sử gia nhà ta thời nay mắc phải để dệt nên câu chuyện hoang đường ‘ngàn năm Bắc thuộc’.

8.1      Định nghĩa

Muốn tìm hiểu anachronism tới nơi tới chốn thì phải đọc hàng ngàn cuốn sách; dưới đây là mấy ý dễ hiểu trong cuốn sách của Syrjämäki (1968–), học giả người Phần Lan.[2]

Haddock, học giả người Đức, cho hai thí dụ:

  1. Nếu ta nói ‘thế kỷ 14 đã có electron’ thì đó chẳng phải anachronism, nhưng nếu ta nói ‘ông X hồi thế kỷ 14 đã biết khái niệm electron’ thì đó là anachronism.
  2. Phàm ai có ý định đi bơi thì phải có khái niệm ‘bơi’, vậy nếu ta nói ‘ông X đã có ý định đi bơi’ mà thời của ổng chưa có khái niệm ‘bơi’ thì đó là anachronism, nhưng nếu ta nói ‘ông X đã xô đẩy một số electron khi ổng đang bơi’ thì đó chẳng phải anachronism.

Condren, học giả người Úc, nêu 7 loại anachronism:

  1. judgmental anachronism: đặt những giá trị (values) ở đời sau vô đời trước, thí dụ ‘phán-xét đạo-đức’ (moral judgment).
  2. descriptive anachronism: giải thích một ý tưởng (idea) ở đời sau như là ý tưởng ở đời trước.
  3. traditional anachronism: lấy truyền thống (tradition) ở đời sau làm bối cảnh [để giải thích] cho những điều đã chép ở đời trước, khi chưa có truyền thống đó.
  4. sequential anachronism: dựng lại ‘chuỗi biến-cố’ (series of events) hoặc ‘tài liệu’ (texts) để giải thích một mục tiêu nào đó, theo kiểu teleology (mô tả một sự việc bằng cái kết-quả gán cho sự việc đó, chớ chẳng phải cái nguyên-nhơn gây ra sự việc đó).
  5. discursive anachronism: thay thế hoặc bỏ qua ‘cách suy-nghĩ’ (modes of thought) ở một thời [trước].
  6. structural anachronism: pha trộn mối quan hệ giữa hai ‘cách suy-nghĩ’ [ở thời trước] với ‘cách suy-nghĩ’ ở thời sau.
  7. model building.

Burke (1937–), học giả người Anh, nêu 2 loại anachronism:

  1. ‘đơn giản’ hoặc ‘phức tạp’,
  2. ‘vô tình’ (unconscious) hoặc ‘cố ý’ (deliberate/strategic).

Nói tóm lại, dù đôi khi người ta có thể xí xóa một cái anachronism nào thì người ta vẫn phải thừa nhận đó là anachronism. Sử gia bị cột chặt vô hiện-tại nhưng phải biết nhận ra những điều khác biệt giữa hiện-tại với quá-khứ để tránh anachronismlàm sử theo quá-khứ càng nhiều càng hay (do history as historically as possible).

Đàng khác, Verbeeck (1961–), sử gia người Bỉ, dùng 3 cách phân loại theo Lorenz (1948–), sử gia người Hà Lan, như sau:

  1. anachronism of facts: đặt những sự kiện (facts), kiến thức (knowledge), ý tưởng (ideas) không trúng thời.
  2. anachronism of language: dùng từ ngữ thời nay để tả và hiểu các hiện tượng đã qua—loại này hay gặp.
  3. anachronism of perspective: dùng những ‘khuôn-sáo diễn-giải’ (interpretative frameworks) của thời nay chớ chẳng phải của thời đã qua.

Verbeeck kết luận rằng anachronism là lỗi nặng khi chép sử, muốn có ‘sử hay’ (good history) thì nên tránh anachronism, nhưng nếu muốn viết lại lịch sử (rewriting history) thì khó tránh khỏi anachronism, thí dụ loại số 3 nêu trên: người ta dùng những khái-niệm sử-học (historiographical concepts) mới lạ nhằm thúc đẩy các mục-tiêu chánh-trị (political goals) thí dụ ‘lập nước’, hoặc các mục-tiêu ý-thức (ideological goals) thí dụ ‘cộng-đồng đa-văn-hóa’.[3]

Bỏ qua anachronism thì sử gia cũng cần để ý tới anatopism: đó là bất cứ thứ gì đặt vô lịch sử mà chẳng trúng nơi. Thí dụ, nếu ta nói ‘thổ dân Giao-châu thời trào Đường đã biết trồng khoai lang’,[4] thì đó là một lỗi anatopism bởi trước thế kỷ 15 khoai lang chỉ trồng ở châu Mỹ. (Nói thêm điều này để nhắc lại rằng làm ‘sử gia’ chẳng phải là chuyện ai muốn làm cũng được!)

8.2      Khảo cứu

8.2.1        Anachronism of facts

  1. Đồng bằng (châu thổ) sông Hồng

Ta biết rằng cho tới ít nhứt là thế kỷ 6 vẫn chưa có một cái thực-thể địa-lý (geographical entity) nào gọi là ‘đồng bằng sông Hồng’ đông người sanh sống như ngày nay, hoặc ít nhứt cũng chưa có ‘đồng bằng sông Hồng’ khá đông người sanh sống như thời sử gia Ngô Sỹ Liên thế kỷ 15, mà chỉ có một vùng đất ngập sình lầy hoang vu.[5]

Vậy, khi chép những dòng như thí dụ bên dưới, sử gia đã mắc lỗi anachronism.

  • Châu Diên là một trong những huyện đầu tiên được trào Hán lập ở đồng bằng sông Hồng.[6]
  • theo thống kê của nhà Hán, năm 2 AD, dân cư ở châu thổ sông Hồng … khá đông.4
  1. Nước sơ-khai

Ta biết rằng trước công nguyên ở nơi ngày nay là miền bắc Việt Nam thì chưa có điều kiện để lập ‘nước sơ-khai’.[7] Mãi tới thế kỷ 11, nhà Lý mới lập ‘nước sơ-khai’ đầu tiên trong lịch sử gọi là Đại Việt.

Vậy, khi chép những dòng như thí dụ bên dưới, sử gia đã mắc lỗi anachronism.

  • một ông vua, có thể tên là Thục Phán, đã chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương …6
  • có thể khẳng định nước Âu Lạc của An Dương Vương tiếp nối nước Văn Lang thời Hùng Vương.4
  1. Người Việt

Churchman, học giả người Úc, giải thích như sau.

Những cái tộc-danh (ethnonym) mà sử gia người Việt thời nay ‘claim’ là của họ (ViệtLạc) thì gắn với nhiều nhóm người thời Hán–Đường chớ chẳng riêng một nhóm người nào. Mọi dữ liệu văn-tự, ngôn-ngữ và khảo-cổ đều không có một cái tên nào khác để gọi người Việt trước thế kỷ 10. Tài liệu thời Hán–Đường không phân biệt ‘người Hán’ với ‘người Việt’ theo giống nòi hoặc tiếng nói chi hết, mà là phân biệt đại khái một nhóm người ‘văn minh’ (civilised) với một nhóm người ‘man’ (barbaric) chưa bị ‘Hán hóa’, theo những nhơn-tố có thể thay đổi nhanh chóng trong một đời người, thí dụ tập quán xã hội, vậy thôi.

Tới khi vùng đồng bằng sông Hồng được tự trị, thì nhà-cầm-quyền bổn xứ mới có thể quy định địa vị xã hội của di dân và thương nhơn phương bắc ở nơi đó. Vậy sớm lắm là từ thời nước Đại Việt độc lập hồi thế kỷ 11 mới bắt đầu có một cái ‘hiểu’ mà cuối cùng trở thành một thứ giống như khái niệm ‘người Hán’ với ‘người Việt’ ngày nay—và cũng từ khi đó khái niệm ‘người Hán ở nước Việt’ mới trở thành thực-tại (objective reality), dù trước kia đã từng có nhiều đợt di dân từ phương bắc qua.[8]

Tóm lại, trước thế kỷ 11 chưa ai biết các khái niệm ‘người Việt’ và ‘người Hán’.

Vậy, khi chép những dòng như thí dụ bên dưới, sử gia đã mắc lỗi anachronism.

  • Lý Bí [thế kỷ 6] là người Việt đầu tiên xưng đế hiệu …6
  • các thái thú nhà Hán … buộc người Việt theo lối sống và phong tục của người Hán …4
  • sau chiến thắng, Ngô Quyền … xây dựng đất nước với những biến đổi mà trước đó chưa người Việt nào thực hiện.[9]
  • người Việt có họ Vũ từ trước công nguyên.[10]
  1. Tiếng Việt

Thời nhà Lý, thế kỷ 11–13, cũng là lúc bắt đầu nảy ra một thứ ‘tiếng Việt’ xưa nhứt mà từ đó mới có thứ ‘tiếng Việt’ ta đang nói ngày nay.[11] Nghĩa là trước thế kỷ 11 chưa có bất cứ một thứ ‘tiếng Việt’ nào hết.

 Bảng dưới là mấy thí dụ ‘tiếng Việt xưa’ hồi thế kỷ 15.[12]

proto-Vietic tiếng Việt xưa (đã có tone) tiếng Việt nay
*p-səɲʔ

*t-puːj

*l-taːʔ

pʰa:5 sa:n5

tɨ:1 ɓo:j1

la:1 ɗa:3

[con] rắn

vui

[cục] đá

Vậy, khi chép những dòng như thí dụ bên dưới, sử gia đã mắc lỗi anachronism.

  • suốt ngàn năm nội thuộc … tiếng Việt vẫn là thứ tiếng của … quần chúng trong xã hội.6
  • hơn một ngàn năm Bắc thuộc … tiếng Việt cổ … vẫn dùng … trong cộng đồng dân Việt.4

8.2.2        Anachronism of language

  1. Chuyện bà Triệu

Sử gia thời xưa bê chuyện bà Triệu ‘vú dài ba thước’ trong sách Tàu vô sử ta. Sử gia thời nay thì tin rằng ‘chắc chắn việc bà Triệu khởi nghĩa hẳn là có thực’.6

Song le, sử gia đã làm cho câu chuyện mất hết cái chất ‘khả tín’ khi lấy câu nói này nhét vô miệng bà Triệu:

  • ‘Tôi chỉ muốn cưỡi gió đạp sóng chém cá kình biển đông, quét sạch hải vũ, cứu dân khỏi chìm đắm, há theo thói đời cúi đầu khom lưng làm tỳ thiếp cho người.’

Câu nói huê mỹ đó có lẽ do một vị nho sỹ nào hồi thời trào Nguyễn đặt ra, và tổng-đốc học-giả Vương Duy Trinh ghi lại trong cuốn Thanh Hoá kỷ thắng cuối thế kỷ 19: 但願乗風破浪斬長鯨於東溟掃清海宇極斯民於墊溺豈效世人頓首曲腰作人婢妾爲邪兄恠之.[13]

Vậy, khi gán ngôn-từ ở thế kỷ 19 cho một nhơn vật ở thế kỷ 3—cứ cho là có thực—thì sử gia đã mắc lỗi anachronism.

8.2.3        Anachronism of perspective

  1. Chánh quyền đô hộ

Người châu Âu đặt ra ‘chánh-quyền đô-hộ’ (colonial administration) để cai trị những vùng thuộc địa của họ từ thế kỷ 16–17. Thí dụ chánh-quyền đô-hộ do người Pháp lập ra năm 1887 để trực trị liên-bang Đông Dương, gồm luôn nước ta, do toàn-quyền Paul Doumer (1857–1932) điều hành, với một ‘guồng máy’ đồ sộ như sử gia Nguyễn Thế Anh (1936–2023) mô tả.[14]

Các trào Hán–Đường thời xưa có lập ‘chánh quyền’ theo kiểu đó để cai trị những vùng đất ‘phiên phụ’ của họ hay chăng?

Luật gia Phan Văn Trường (1878–1933), từng hoạt-động chánh-trị với những Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… cũng là người đầu tiên chánh thức đề xướng việc dùng chữ quốc-ngữ làm văn tự cho người Việt,[15] giải thích như sau:

‘… khi An Nam bị Trung Quốc sáp nhập … những quan viên người Trung Quốc cai trị nó cũng giống hệt như cai trị các tỉnh khác của Trung Quốc. Tốt hay xấu gì thì họ cũng đều cai trị mọi người như nhau, không có sự phân biệt nào giữa người Trung Quốc và người An Nam, tất cả đều là con dân của đế chế Trung Hoa.

‘Với hoàn cảnh trên, nếu nói rằng dân tộc An Nam đã nhiều lần chịu sự đô hộ của Trung Quốc thì đây là một biểu đạt không thỏa đáng … Có thể kết luận rằng dân tộc An Nam, trước khi bị người Pháp xâm lược, chưa bao giờ nằm dưới ách đô hộ của một thế lực ngoại bang nào.’[16]

Theo luận điểm trên, mà tôi cho là xác đáng, thì các trào Hán–Đường không hề đặt ra thứ gì giống như ‘chánh-quyền đô-hộ’ của người Pháp để cai trị miền bắc nước ta [khi đó chưa có đồng bằng sông Hồng].

Vậy, khi lấy khái niệm ‘chánh-quyền đô-hộ’ của người Pháp ở thế kỷ 19–20 để mô tả những gì xảy ra ở thời Hán–Đường, như thí dụ bên dưới, sử gia đã mắc lỗi anachronism.

  • năm … 468 … một … người Việt là Lý Trường Nhơn nổi dậy cướp lấy chánh quyền tự lập làm thứ sử.6
  • cuối thế kỷ 9 … tầng lớp ‘hào trưởng’ người Việt … lãnh đạo nhân dân đánh đổ chánh-quyền đô-hộ.4
  1. Phong trào giải phóng dân tộc

‘Phong-trào giải-phóng dân-tộc’ (national liberation movements), nói đại khái, là những hoạt động chống lại chánh-quyền đô-hộ của ngoại bang, do ‘người bị đô-hộ’ ở bổn xứ gây nên, nhằm có được tự-do, độc-lập hoặc tự-trị (autonomy)—các phong trào này lan rộng giữa thế kỷ 20, sau thế chiến 2.[17]

Thí dụ ‘phong-trào giải-phóng dân-tộc’ ở nước ta thời Pháp thuộc, diễn ra qua ba giai đoạn trong những năm 1858–1945.14

Nếu như thời Hán–Đường không lập ‘chánh-quyền đô-hộ’, thì tức nhiên cũng chẳng có thứ gì giống như ‘phong-trào giải-phóng dân-tộc’ theo nghĩa nói trên.

Vậy, khi lấy khái niệm ‘phong-trào giải-phóng dân-tộc’ ở thế kỷ 19–20 để mô tả những gì xảy ra ở thời Hán–Đường, như thí dụ bên dưới, sử gia đã mắc lỗi anachronism.

  • giữa đời Đường … phong trào đấu tranh của nhân dân … càng nổi lên mạnh …6
  • hơn một ngàn năm chống ‘Bắc thuộc’ … hàng vạn người … đã … tham gia … những phong trào quật khởi … đánh đổ ách thống trị … giành … độc lập tự chủ.4

8.2.4        Hậu quả

Các lỗi anachronism nêu trên dù ‘vô tình’ hay ‘cố ý’ thì vẫn là lỗi nặng, khó bề xí xóa.

Lỗi 1 nặng hơn hết thảy. Mắc lỗi đó, sử gia bê nguyên cái quận Giao Chỉ bên Quảng Tây ngày nay, cùng những sự tích nơi đó mà có ghi trong sách Tàu, đem về đặt lên cái bãi sình rộng minh mông nơi chưa có đồng bằng sông Hồng, và rồi, mắc thêm các lỗi khác, sử gia dệt nên câu chuyện ‘Bắc thuộc’ với những tình tiết hoang đường thí dụ như sau.

  • Hùng Vương lập nước Văn Lang trên bãi sình,
  • Triệu Đà xua quân qua lội bộ trên bãi sình đánh chiếm nước ta,
  • thái thú người Hán qua lập chánh quyền đô hộ ăn ngủ trên bãi sình cai trị nước ta,
  • người Việt trở thành nô tỳ ở các trang trại trên bãi sình của địa chủ người Hán,
  • nước ta thời Hán có hơn 700,000 người Việt đẻ ra lớn lên trên bãi sình,
  • hai bà Trưng lập căn cứ trên bãi sình chống chánh quyền đô hộ,
  • Sĩ Tiếp qua nước ta ngồi xổm trên bãi sình truyền bá Nho giáo,
  • Lý Bí là người Việt dựng nước Vạn Xuân trên bãi sình.

Tới thời Đường thì phần lớn bãi sình hết là bãi sình và trở thành một phần của ‘An Nam đô hộ phủ’ (679–907) mà giữa thế kỷ 8 mới có gần 100,000 người sanh sống.[18]

Tới đây thì sử gia kết thúc câu chuyện ‘Bắc thuộc’ với một tình tiết hoang đường như sau.

  • năm 905, Khúc Thừa Dụ tự xưng ‘tiết độ sứ’, giành quyền quản lý đất nước, chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc thuộc.4

Gọi là ‘hoang đường’ bởi lúc đó chẳng có ‘đất nước’ nào hết và cũng chẳng có ai biết ‘một ngàn năm Bắc thuộc’ là cái giống gì.

Cứ cho Khúc Thừa Dụ là nhơn vật có thực, lúc đó đang làm chief cai trị một cái làng ở xứ An Nam (sử ta gọi là ‘hào trưởng’), thì người nào như họ Khúc trước sau cũng chỉ có một tham vọng là nắm chức ‘tiết độ sứ’ trong guồng máy hành chánh của trào Đường để cai trị nguyên xứ An Nam, và giữ lấy chức đó cho dòng họ nhà mình, ngoài ra chẳng muốn gì hơn. Sau họ Khúc thì những Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiễn cũng tranh giành chức đó, vì có cùng tham vọng là làm quan cho ‘thiên trào’, vậy thôi.

Sử gia lấy khái niệm ‘ngàn năm Bắc thuộc’ của mình mà cắt nghĩa hành động của Khúc Thừa Dụ: đây lại là một lỗi anachronism of perspective.

8.3      Kết luận

Ta đã tìm hiểu vì sao gọi ‘ngàn năm Bắc thuộc’ là một câu chuyện hoang đường: vì mắc những lỗi anachronism bự tày đình. Câu chuyện đó tức nhiên chẳng phải là ‘sử hay’ (good history), dù vậy, sử gia nhà ta thời nay vẫn kể tới kể lui, có thể bởi vì nhiệm vụ của họ không phải là làm ‘sử hay’, mà là tạo ra một cái ‘ký-ức tập-thể’ (collective/historical memory) gồm những tình tiết ướt át như vầy:

  • người Việt bị người Hán đô hộ hàng ngàn năm mà vẫn là người Việt chớ chẳng bị ‘đồng hóa’ thành người Hán,
  • nước ta bị mất chủ quyền hàng ngàn năm mà vẫn có thể giành lại nước.

Điều đáng tiếc là cái ‘ký-ức tập-thể’ đó gây cho người ta một niềm tự-hào/sung-sướng giả tạo, chớ chẳng đem lại một chút sự thực nào hết trơn hết trọi.

Bây giờ, nếu bỏ hết những lỗi anachronism nêu trên, thì ta sẽ còn lại những gì thay cho câu chuyện ‘Bắc thuộc’ hoang đường? Chủ đề này, để cho tiện, sẽ nói riêng ở một bài khác.

Chót hết, dẫn lời của Marwick (1936–2006), sử gia người Anh: ta cần hiểu một điều rằng các xã hội thời xưa thì thiệt là khác so với xã hội chúng ta, và cũng thiệt là khó biết; cho nên anachronism vẫn là một lỗi dễ thấy nhứt khi những người kém-tay-nghề lại ráng làm sử gia.[19]


 

[1] Lê Thành Khôi (1955, 1982) Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc tới giữa thế kỷ 20. Nguyễn Nghị dịch (2014).

[2] Sami Syrjämäki (2011) Sins of a historian: perspectives on the problem of anachronism.

[3] Georgi Verbeeck. Anachronism and the rewriting of history: the South Africa case. The Journal for Transdisciplinary Research in Southern Africa, vol 2, no 1, 2006.

[4] Vũ Duy Mền et al (2017) Lịch sử Việt Nam, tập 1: từ khởi thủy đến thế kỷ 10.

[5] https://nghiencuulichsu.com/2026/02/01/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-2/

[6] Lê Mạnh Hùng (2007) Nhìn lại sử Việt: từ thượng cổ cho đến hết Bắc thuộc.

[7] https://nghiencuulichsu.com/2026/04/19/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-5/

[8] Michael Churchman. Before Chinese and Vietnamese in the Red River plain: the Han–Tang period. Chinese Southern Diaspora Studies, vol 4, 2010.

[9] Trần Thị Vinh et al (2017) Lịch sử Việt Nam, tập 2: từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14.

[10] Vũ Dương Thuý Ngà (2013) Góp bàn thêm về lịch sử của một dòng họ.

[11] John Dương Phan (2013) Lacquered words: the evolution of Vietnamese under Sinitic influences from the 1st century BCE through the 17th century CE.

[12] Masaaki Shimizu (2015) A reconstruction of ancient Vietnamese initials using Chữ Nôm materials.

[13] https://www.facebook.com/bacvanuocle/

[14] Nguyễn Thế Anh (1970) Việt Nam thời Pháp đô hộ.

[15] https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Văn_Trường

[16] Phan Văn Trường (1925-1926) Une histoire de conspirateurs Annamites à Paris ou La vérité sur l’Indochine. Sity Maria Cotika & Huỳnh Mai dịch (2020).

[17] Jeffrey Sluka (1996) National liberation movements in global perspective. Proceedings of the Conference on Tamils in New Zealand.

[18] Vi An Lu. The Annan Protectorate in northern Vietnam during the Tang period (679–907). JRAS, Series 3 (2025).

[19] Arthur Marwick (2001) The new nature of history: knowledge, evidence, language.

Bình luận về bài viết này