Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 5)

Nhà Nguyễn: Gia Long [11/2/1804-30/1/1805]

Hồ Bạch Thảo

Tháng giêng năm Gia Long thứ 3 [11/2-11/3/1804] sứ nhà Thanh là Án sát Quảng Tây Tề Bố Sâm đến cửa ải Nam Quan. Vua nghe tin báo, sai Chưởng dinh Trương Tấn Bửu, Binh bộ Đặng Trần Thường, Tham tri Nguyễn Văn Lễ, sung làm hậu mệnh sứ ở cửa Nam Quan; Phó tướng quân Trần Quang Thái, Hình bộ Phạm Như Đăng, Tham tri Lê Viết Nghĩa, sung làm hậu tiếp sứ ở địa đầu Kinh Bắc; Đô thống chế Phan Tiến Hoàng, Tham tri Nguyễn Đăng Hựu, sung làm hậu tiếp sứ ở công quán Gia Quất. Lại phái 3.500 biền binh và 30 thớt voi theo hậu mệnh sứ ở cửa Nam Quan để nghinh tiếp, 1.000 biền binh theo hậu tiếp sứ đến địa đầu Kinh Bắc đứng chờ. Lại sai đình thần chọn người chia đi trực tại 6 trạm: Mai Pha [huyện Cao Lộc, Lạng Sơn], Nhân Lý [huyện Chi Lăng, Lạng Sơn], Hòa Lạc [huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn], Cần Dinh [huyện Lạng Giang, Bắc Giang], Mỹ Cầu [huyện Yên Dũng, Bắc Giang], Cầu Lim [huyện Tiên Du, Bắc Ninh].

Ngày 13 [23/2/1804], làm đại lễ bang giao. Sáng sớm, đặt đại giá ở sân điện Kính Thiên đến cửa Chu Tước, ngoài cửa đến bến sông Nhị Hà thì bày nghi vệ binh tượng ; sai quan thân cận Tôn Thất Chương đến công quán Gia Quất, Đô thống chế Phan Văn Triệu, Hộ bộ Nguyễn Văn Khiêm, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Đình Đức đến nhà tiếp sứ ở bến sông để nghinh tiếp.

Vua ngự ở cửa Chu tước, hoàng thân và trăm quan theo hầu. Sứ giả nhà Thanh đến, vào điện Kính Thiên làm lễ tuyên phong. Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành sung việc nhận sắc, chưởng Thần võ quân Phạm Văn Nhân sung việc nhận ấn. Lễ xong, mời Bố Sâm đến điện Cần Chánh, mời trà rồi lui. Bèn đặt yến ở công quán Gia Quất, tặng biếu phẩm vật. Bố Sâm nhận lấy the, lụa, vải, sừng tê, kỳ nam, còn dư đều trả lại; rồi tiến mừng phương vật. Vua sai thu nhận một vài thứ để yên lòng. Bố Sâm từ về. Vua sai Tôn Thất Chương đưa đi một trạm và quan hậu mệnh hộ tống ra cửa ải.

Dùng Tham tri Lê Bá Phẩm làm Chánh sứ, Trần Minh Nghĩa và Nguyễn Đăng Đệ sung Phó sứ, đem phẩm vật sang nhà Thanh tạ ơn. Cống phẩm gồm vàng tốt 200 lạng, bạc 1.000 lạng, lụa the đều 100 tấm, sừng tê 2 tòa, ngà voi và nhục quế đều 100 cân. Lại dâng hai lễ cống cho năm Quý Hợi [1803]và năm Ất Sửu [1805] ; ngà voi 2 cặp, sừng tê 4 tòa; trừu, the, lụa, vải đều 200 tấm; trầm hương 600 lạng, tốc hương 1.200 lạng; sa nhân, cau khô đều 90 cân. Theo lệ bang giao cũ, cứ 2 năm thì cống một lần; 4 năm một lần sai sứ dâng luôn hai lễ cống.

Vua chuẩn bị trở về kinh; ngày 21 [2/3/1804], xa giá xuất phát tự thành Thăng Long; Ngày 25 [6/3/1804], đến Thanh Hoa, Vua bái yết Nguyên miếu.

Quốc trưởng Vạn Tượng là Chiêu Ấn chết. Em là Chiêu A nối ngôi. Vua sai Cai cơ Nguyễn Văn Uẩn, và Hàn lâm Lê Văn Phú sang phúng điếu. Vạn Tượng gửi thư nói rằng người dân Trấn Ninh [Xiêng Khoáng, Lào] đều không phục Xà Cương mà xin lập Chiêu Nội, Chiêu Nội cũng xin về ; bèn sai quan Nghệ An lượng cấp lương cho về.

Ngày mồng 8 tháng 2 [19/3/1804], xa giá đến kinh sư. Ngày 17 [28/3/1804], tế cáo Thái miếu chính thức đặt quốc hiệu là Việt Nam. Lễ xong Vua xuống chiếu bố cáo:

Đế vương dựng nước, trước phải trọng quốc hiệu để tỏ rõ nhất thống. Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang, gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước. Hơn 200 năm, nối hòa thêm sáng, vững được nền thần thánh dõi truyền, giữ được vận trong ngoài yên lặng. Chợt đến giữa chừng, vận nước khó khăn, ta lấy mình nhỏ, lo dẹp giặc loạn, nên nay nhờ được Phước lớn, nối được nghiệp xưa, bờ cõi Giao Nam, đều vào bản tịch. Sau nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh mới, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay [28/3/1804], kính cáo Thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”.

Cần nhắc lại sứ nhà Thanh Tề Bố Sâm đến Việt Nam còn có nhiệm vụ hỏi Vua Gia Long có muốn nhận cựu thần nhà Lê trở về nước hay không. Sau khi Vua nước ta chấp thuận, bèn sắp xếp cho trở về nước: 

Ngày 13 tháng 2 năm Gia Khánh thứ 9 [24/3/1804]. Mệnh những người An Nam được biên chế Tá lãnh (1), hoặc bị an trí tại các nơi, được trở về nước. Dụ Nội các:

Trước đây Nguyễn Phúc Anh gõ cửa quan dâng biểu xin  ban phong, đã gia ân phong làm Quốc vương Việt Nam, làm phiên thuộc cai đất Giao Nam. Nhân nghĩ đến những người An Nam theo Lê Duy Kỳ đến đầu thuận nội địa được biên chế  Tá lãnh, tuy được ban cấp tiền lương, sống quây quần với nhau; nhưng xa cách quê hương đã nhiều năm, tình thực đáng thương.

Nay gia ơn cho trở về nước, để toại lòng muốn trở về đất tổ; lại mang hài cốt Lê Duy Kỳ về an táng tại đất cũ, để xây mồ vĩnh viễn. Lệnh cho viên Ðô thống coi kỳ  (2) này, căn cứ vào danh sách của những người An Nam, truyền chỉ thưởng 1 viên Tá lãnh 10 lạng bạc; 1 viên Kiêu kỵ, Hiệu úy thưởng cấp 8 lạng; từ Lãnh thôi đến đàn ông đàn bà người lớn thưởng cấp 5 lạng, trẻ em mỗi người thưởng cấp 3 lạng; tất cả đều do ty ngân khố Quảng Trử cấp phát. Lệnh chia nhóm, đi đến Quảng Tây, giao cho Tuần phủ Bách Linh sai đưa ra khỏi quan ải, báo cho viên Quốc vương thu lãnh. Trừ những kẻ bị an sáp tại Giang Ninh, đã báo cho Trần Ðại Văn tuân theo mà lo liệu; những người An Nam tại Trương Gia Khẩu, Nhiệt Hà, lệnh cho bọn Ðô thống tra xét rồi cho đưa về kinh đô, giao cho [Ðô thống] coi kỳ này theo lệ mà tống hồi. Còn những người trước đây bị phát vãng đến các xứ như Phụng Thiên, Hắc Long Giang, Y Lê; đều ra lệnh cho các Tướng quân tra xét, thả trở về, cùng thưởng cấp như trên, rồi đưa đến Quảng Tây  lệnh ra khỏi quan ải, để biểu thị sự thể tuất ngoại lệ.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 126, trang 14-15 )

Tháng 3 [10/4-8/5/1804], sai Bắc Thành chế các thứ cân, thước và phương, thăng, hộc. Dụ rằng :

 “Thống nhất đo lường là việc đầu tiên trong chính trị. Nay nên theo thức mà chế tạo, gửi khắp các trấn. Phàm dân có chế để dùng phải lấy đó làm kiểu, do sở tại so sánh rồi khắc chữ làm tin. Làm trái thì có tội”.

Sai Điển quân Lưu Phước Tường và Hàn lâm viện Trần Công Hòa sung chánh phó sứ sang Xiêm. Người Xiêm đến cáo việc tang của vua thứ hai nước ấy, nên sai bọn Tường sang phúng. Tặng Phật vương 50 lạng vàng, 500 lạng bạc, the màu và vải trắng đều 100 tấm ; phúng vua thứ hai 500 cân sáp ong, 100 tấm vải trắng, 3.000 cân đường cát, đường phèn, đường phổi đều 500 cân. Khi sứ giả trở về, người Xiêm gửi thư đến tạ ơn.

Lữ Tống [Philippin] bị đói, xin mua gạo ở Gia Định; quan Lưu trấn không muốn bán, đem việc tâu lên. Vua bảo rằng :

Bờ cõi dù khác nhau, nhưng lấy lòng chung mà thương nhau, sao nỡ không ngó đến”.

Bèn bán cho 50 vạn cân gạo.

Nhân ban học quy cho các thành và dinh trấn; quan Bắc Thành tâu rằng :

Hiện nay Thánh thượng lưu ý đào tạo nhân tài, chia đặt Đốc học, rèn đúc học trò, để cống hiến cho nhà nước. Đó thực là cơ hội lớn để sửa đổi phong tục và tác thành nhân tài. Nhưng sự dạy dỗ mới bắt đầu thì văn khoa cử nên có kiểu mẫu để làm khuôn phép cho học trò. Vậy xin chuẩn định học quy, khiến cho người dạy lấy đó mà dạy học trò, và học trò lấy đó mà chuyên nghiệp, để cho giảng dạy khảo khóa lấy đó mà theo”.

Vua chuẩn lời tâu; sai Tham tri Hình bộ Nguyễn Thế Trực và quan Quốc tử giám Nguyễn Viết Ứng soạn định những bài mẫu mới về kinh nghĩa và văn sách, để ban bố thi hành.

Giặc nổi ở Thái Nguyên, đánh cướp Vũ Nhai [Thái Nguyên]                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    và Lạng Giang [Bắc Giang]. Trấn thủ Kinh Bắc là Phạm Tiến Tuấn đem quân đi đánh. Quan Bắc Thành sai đem quân tăng cường, đến nơi thì giặc tan vỡ, nên rút quân về.

Thủy sư Bắc Thành đánh tan giặc biển Tề Ngôi ở hải phận Yên Quảng [Quảng Ninh], bắt được quân giặc 13 người và thuyền ghe khí giới đem nộp.

Đắp tám đoạn đê mới ở Bắc Thành: Một đoạn ở xã Thượng Cát huyện Từ Liêm [Hà Nội] dài hơn 135 trượng [1 trượng=4 mét]; một đoạn ở xã Phú Xuyên huyện Tiên Phong [Ba Vì, Hà Tây], dài hơn 394 trượng; một đoạn ở xã Phù Liệt huyện Văn Giang [Hưng Yên] dài hơn 361 trượng; một đoạn ở xã Phù Cầm huyện Yên Phong [Bắc Ninh] dài hơn 47 trượng; một đoạn ở xã Đông Phù Liệt huyện Thanh Trì [Hà Nội] dài hơn 370 trượng; một đoạn ở xã Hà Lão huyện Hưng Nhân [huyện Hưng Hà, Thái Bình] dài hơn 119 trượng, một đoạn ở xã Đường Sâm huyện Chân Định [huyện Kiến Xương, Thái Bình] dài 214 trượng; một đoạn ở xã Trà Lý huyện Chân Định dài hơn 88 trượng. Sai quan Bắc Thành thuê dân đắp, chi tiền hơn 89.000 quan.

Ngày mồng một tháng 4 [9/5/1804], xây cung thành và hoàng thành. Cung thành bốn mặt dài suốt 307 trượng 3 thước 4 tấc, xây bằng gạch, cao 9 thước 2 tấc, dày 1 thước 8 tấc. Hoàng thành bốn mặt dài suốt 614 trượng, xây gạch, cao 1 trượng 5 thước, dày 2 thước 6 tấc. Hồ bọc ba phía, trái, phải, sau; dài 464 trượng 1 thước.

Người huyện Diên Hà [huyện Hưng Hà, Thái Bình] là Lê Duy Thanh đem dâng sáu quyển Tạp Lục và hai quyển Quần Thư Khảo Biện của cha là Lê Quý Đôn.

Bọn giặc Thái Nguyên còn sót đánh cướp đồn Bắc Cạn; quan trấn đem quân đánh úp phá được.

Bàn định quan chế 2 ban văn, võ; từ nhất phẩm đến cửu phẩm. Bàn xong, đem tuyên bố trong triều; dụ cho bầy tôi rằng:

Bọn khanh nếu có ý kiến đều nên nói thực, chứ không nên trước mặt thì đồng ý, sau khi lui về lại còn nói”.

 Bầy tôi đều nói xin theo lời đã bàn; bèn ban bố khắp nơi.

Tháng 5 [8/6-6/7/1804], cho dời trấn lỵ Thanh Hoa từ xã Dương Xá huyện Đông Sơn đến xã Thọ Hạc huyện Đông Sơn; dời trấn lỵ Nghệ An từ xã Dũng Quyết huyện Chân Lộc đến xã An Trường huyện Chân Lộc.

Người thiểu số Thạch Bích [Đá Vách] giáp giới đầu nguồn Quảng Ngãi [Kon tum], thường xuống quấy nhiễu; nhắm đề phòng lâu dài vào tháng 5  sai Lê Văn Duyệt và Lê Quang Định biên chế quân và dân Quảng Ngãi làm mười kiên cơ. Phàm quân dùng người quê ở Quảng Ngãi, từ phó đội trở xuống, đều cho về cùng với dân ở đấy biên chế thành cơ đội; dân cho miễn thuế thân và dao dịch, chia phiên đi thú.

Công chúa nhà Lê cũ là Ngọc Hân mất. Năm Bính Ngọ Cảnh Hưng thứ 47 [1786], Vua Lê Hiển Tông gả Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ, đến lúc Tây Sơn mất Ngọc Hân về quê mẹ ở xã Phù Ninh [huyện Thuận Thành, Bắc Ninh], đến nay mất. Quan huyện Đông Ngàn [Bắc Ninh] xin cho làm lễ an táng; dân Phù Ninh lập đền thờ bà.

Tháng 6 [7/7-4/8/1804], việc xây cất cung thành và hoàng thành sợ gây phiền nhiễu dân,  Lưu trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân tâu rằng:

 “Nay trong nước mới định mà công việc bắt dân làm luôn, sợ sinh ta thán, xin phát nhiều tiền bạc để thưởng cấp, khiến dân vui lòng mà quên mệt nhọc”.

 Chiếu Vua trả lời:

 “Khanh nói phải đó. Nhưng kinh sư là đất căn bản, đặt hiểm để giữ nước, việc ấy không thể thiếu được. Nay chinh chiến mới yên, người ta còn quen sự khó nhọc, khó nhọc thì dễ khiến, mà việc dễ nên. Nếu để vài năm sau thì dân quen yên rỗi, yên rỗi thì khó khiến, mà oán thì dễ sinh. Trẫm nhân nhọc mà bắt nhọc luôn để xây dựng lấy chốn thần kinh, đó là kế nhọc một lần mà nghỉ mãi mãi. Quân dân đi làm việc, trẫm đã ưu cấp cho. Ngươi nói không giấu giếm, trẫm rất khen ngợi”.

Cung thành [Tử Cấm thành] và Hoàng thành đã làm xong; cho binh Bắc Thành về quê nghỉ ngơi, thưởng mỗi người một quan; từ đội trưởng trở lên thưởng thêm hai tháng tiền bổng. Miễn thuế thân năm nay cho các thợ làm việc ở kinh.

Bắc Thành nước lớn, đê vỡ, sai quan lấy thóc kho phát chẩn rồi đem việc tâu lên. Vua sai quan địa phương xét những người bị tai nạn nhiều quá thì cho vay tiền để đong thóc giống gieo mạ, không bỏ lỡ mùa màng.

Năm ngoái nước Hồng Mao [Anh] sai sứ đến hiến phương vật và dâng biểu xin lập phố buôn ở Sơn Trà, Đà Nẵng; bị nhà Vua từ chối. Năm nay Hồng Mao lại sai sứ đến dâng phương vật, xin cho người nước ấy ở lại Đà Nẵng buôn bán. Vua nói:

 “Tiên vương kinh dinh việc nước, không để người Hạ lẫn với người Di, đó thực là cái ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ. Người Hồng Mao gian giảo trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về, khước từ những phương vật họ hiến”.

 Rồi sau bọn Hội Thương Trọng [tên quan người Anh] hai ba lần dâng thư yêu cầu; Vua cũng không cho.

Cấm dân gian không được buôn bán các thứ gỗ quí: táu, lim, giáng hương; làm trái thì xử tội nặng. Thuyền buôn nước ngoài mua trộm các thứ ấy, cũng bị tội như thế. Trước khi cấm mà đã lỡ bán, thì đem nộp hết cho quan, trả tiền đúng giá.

Sai Lễ bộ bàn định nơi thờ các công thần tại đền Hiển Trung Gia Định, tổng cộng 1.015 người. Trong đó có các danh thần như: Thái úy quốc công Võ Tánh, Lễ bộ tặng Thái tử thái sư quận công Ngô Tòng Chu, Quận công Chu Văn Tiếp ; Đại tướng quân quận công Tôn Thất Hội, Đô thống chế tặng Thiếu bảo quận công Tống Viết Phước.

Phía nhà Thanh phát hiện vài cựu thần nhà Lê được chấp nhận cho trở về nước đã mang nô bộc người Trung Quốc cùng trở về. Sự việc tâu lên, Vua Gia Khánh ban chỉ dụ tìm cách ngăn chặn:

Ngày 3 tháng 6 năm Gia Khánh thứ 9 [9/7/1804]. Dụ các Quân cơ đại thần:

“ Bách Lân dâng tấu triệp rằng tra rõ những người Di An Nam từ Giang Ninh [Nam Kinh]  cho trở về là bọn Bế Nguyên Cung, mang nô bộc là bọn là bọn Tạ Xương Linh; đã phân biệt chuộc rồi lưu lại.

Bọn Bế Nguyên Cung, trước đây lúc bị an trí tại Giang Ninh, chúng là người Di, không đáng được mua người dân nội địa làm nô bộc; nay được cho phép về nước, há lại được mang theo những người này. Từ nay trở về sau, các người Di lục tục trở về, nếu như có mang về, đều cho liệu biện như vậy.

Còn bọn Bế Nguyên Cung tại Giang Ninh riêng mua nô bộc, các quan địa phương sao không biết và xét đến; nếu không nhờ Quảng Tây điều tra ra và lưu giữ, thì dân nội địa đã bị dân Di làm nô dịch sai khiến, thật không hợp thể chế. Hiện tại bọn Tạ Xương Linh và văn khế mua, đã giao cho ủy viên Giang Nam mang về. Lệnh Trần Ðại Văn tra trong văn khế xem quê quán bọn này ở đâu, mua năm nào; Diêu Thành Quí bị Hà Ðình Cầu mua năm nào, căn cứ vào năm để biết được các viên phụ trách cai quản, rồi soạn tấu triệp đầy đủ  dâng lên để tham hặc.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 130, trang 1-2)

Tháng 7 [5/8-3/9/1804], qui định thời gian chuyển đệ công văn theo trạm; từ Gia Định đến kinh đô là 13 ngày, từ Bắc Thành đến kinh đô là 5 ngày; đúng hạn thì được thưởng tiền, Gia Định thưởng 5 quan, Bắc Thành thưởng 3 quan.

Định lệ thuế cho người thiểu số ở đạo Cam Lộ [Quảng Trị]: Sách Làng Tổng gạo nếp 10 sọt, vỏ gai 30 bó, bí xanh 300 quả, trâu một con, sáp ong 7 cân 8 lạng, thóc đen 5 sọt ; sách Làng Sen gạo nếp 10 sọt, sáp ong 15 cân, thóc đen 5 sọt, bí xanh 100 quả, mật ong 2 hũ ; hai sách Làng Tán, La Miết, gạo nếp 2 sọt ; sách Tầm Linh tiền 64 quan 2 tiền ; nguồn Viên Kiệu và hai sách Xà Đoan và Tiết Đường tiền 105 quan, hương vị 3 sọt, nhựa trám 3 sọt, song 12 sợi, mây đá 240 sợi, mây nước 11.000 sợi, mây sắt 31.000 sợi, chiếu mây 3 tấm, gạo nếp 32 sọt.

Tháng 8 [4/9-3/10/1804], quan tài Cựu hoàng Lê Chiêu Thống đã được đưa từ Trung Quốc về nước, quan Bắc Thành đem sự việc tâu lên. Vua hạ chiếu cho Diên Tự Công Lê Duy Hoán [ con Hoàng thân Lê Duy Chi, cháu Cựu hoàng Lê Chiêu Thống] đón tại ải Nam Quan. Ngày 24 tháng 9 [27/10/1804] Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành sai quân, cùng đinh phu các huyện tới Lạng Sơn rước quan tài về thành Thăng Long, tế điếu tại nhà Diên Tự Công. Vua cho 700 quan tiền, 500 phương gạo [ 1 phương= 30 lít], dùng binh thuyền hộ tống về táng ở Thanh Hoa.

Còn hài cốt những bầy tôi như Đinh Nhạ Hành, thì cho lãnh về quê an táng; dùng tiểu gỗ đưa về, cấp tiền vải cho gia đình.

Riêng Hoàng phi Nguyễn Thị Kim, người huyện Lang Tài, Bắc Ninh là vợ Cựu hoàng Lê Chiêu Thống. Cuộc biến năm Kỷ Dậu [1789], Cựu hoàng chạy sang Trung Quốc, Hoàng phi theo không kịp, ẩn nấp trong thôn ấp, không ai biết. Đến nay đến chịu tang, thương khóc, rồi uống thuốc độc chết. Quan Bắc Thành cấp cho 100 quan tiền và một tấm gấm để chôn, rồi đem việc tâu lên, xin nêu danh tiết. Đặng Đức Siêu quan bộ Lễ bàn rằng :

Nêu khen những người tiết nghĩa là cốt để khuyên người; nhà Chu thì nêu danh cả xóm và đắp mộ; nhà Hán thì nêu danh và tha thuế cả nhà, đời Minh dân gian có người trinh tiết thì nêu họ tên, khắc vào bia đá, đều chưa bao giờ phong tên thụy cả. Nay Nguyễn Thị Kim tuy không ví như dân thường nhà quê, mà hay giữ vẹn được mình, tiết nghĩa khá khen, xin cho biển ngạch để nêu khen”.

Vua liền sai quan Bắc Thành dựng bia đá ở làng, khắc chữ : “Khâm tứ an trinh tuẫn tiết Nguyễn Thị Kim chi môn” [Kính ban nơi cửa nhà Nguyễn Thị Kim là bậc an trinh tuẫn tiết.], cấp cho 2 người mộ phu, 20 mẫu ruộng, giao cho họ Lê giữ việc thờ cúng.

Riêng bộ Quốc Sử Di Biên của Thám hoa Phan Thúc Trực cung cấp thêm sử liệu như sau:

Vào tháng 7 [5/8-3/9/1804], bọn di thần Lê Quýnh đưa quan tài Cựu hoàng Lê Chiêu Thống về đến Lạng Sơn, làm lễ tế điện ở ngoài thành. Ngày 26 [30/8/1804] Lê Quýnh về thành Thăng Long trước, yết kiến Quận công Nguyễn Văn Thành, quỳ nhưng không lạy và nói:

Chưa được lạy Vua, chưa dám lạy tôn công.”

Quận Thành mời ngồi, Quýnh tạ rằng:

Nước mất, không biết dựng lại, tôi là tội nhân của tôn công; nay thấy tôn công, tôi toát mồ hôi thấm áo. Duy hài cốt của Cố quân, chưa được tấc đất để an táng, xin tôn công tán thành cho.”

 Quận Thành nói:

Lo gì việc ấy, nhà Vua mong ông như khát mong nước uống, thường nói khi ông về vào yết kiến ngay, nói chuyện dăm bảy ngày. Công việc của Cố quân, tôi bảo đảm làm cho thành tựu.”

Ngày mồng 6 tháng 8 [9/9//1804], Quýnh trở về quê; ngày mồng 7 [10/9//1804] cáo yết nhà thờ họ. Ngày 12 [15/9/1804] Quýnh trở lại thành Thăng Long, xin vào kinh dâng tờ tâu, được Vua cho đem hài cốt Cựu hoàng chôn tại làng Bố Vệ [huyện Đông Sơn, Thanh Hóa]. Ngày 24 tháng 9 [27/10/1804] Quận Thành sai quân, cùng đinh phu các huyện tới Lạng Sơn rước quan tài về thành Thăng Long, tế điếu tại nhà Diên Tự Công.

Bấy giờ Hoàng hậu Nguyễn Thị Kim từ chùa Lã đến viếng tang Vua, khóc với Lê Quýnh, rồi hỏi thân thế mình nên như thế nào. Quýnh bảo:

Chết theo tiên quân là thượng kế; về lăng tẩm để giữ đèn hương là kế thứ hai.”

Hậu bèn uống thuốc độc chết, bấy giờ mới 40 tuổi.

Ngày 28 tháng 10 [29/11/1804], Quận Thành đưa tang Cố quân về làng Bố Vệ an táng, rồi phụ táng Hoàng hậu vào đấy.

Lê Quýnh từ Thanh Hóa về, vào lạy tạ ơn Quận Thành, rồi trở về quê, đến chùa Đại Đồng tu, có câu thơ:

Phật tổ dung vi sơ đệ tử,

Hoàng Vương hứa tác cựu nhàn dân.

(Phật tổ cho làm đệ tử mới,

Vua hứa làm dân cũ nhàn.)

Tính Lê Quýnh hẹp hòi, thấy ai có chút lỗi nhỏ cũng đều chỉ trích không bỏ qua, nên người ta không phục. Lại dụng tâm tà, lúc đi sang Tàu, những ruộng ao các con bán đi đều nhất nhất đòi về!

Bấy giờ phía nhà Thanh, viên Ðô thống Ô Lỗ Mộc Tề thuộc tỉnh Cam Túc đặt câu hỏi rằng trong địa địa phương y phụ trách, năm Càn Long thứ 36 [1771] đã an sáp người Việt Nam  là bọn Hoàng Công Toản, gồm 22 hộ; những người này có nên chấp thuận về nước, như đã giải quyết cho đám cựu thần nhà Lê hay không? Vua Gia Khánh giải thích bọn Hoàng Công Toản vốn là cừu địch với họ Lê nên đến đầu thuận nội địa, nhưng hiện tại Nguyễn Phúc Ánh, người được nước vốn thuộc cựu thần nhà Lê. Nhà Vua lo rằng những người này sau khi trở về nước sẽ không có chỗ nương dựa; nên cho ở lại Trung Quốc;

Ngày 6 tháng 8 năm Gia Khánh thứ 9 [9/9/1804]. Lại dụ:

Hôm nay Quân cơ đại thần tâu bộ hình chuyển văn thư cho biết căn cứ Ðô thống Ô Lỗ Mộc Tề báo rằng tại địa phương Ðầu Ðồn thuộc xứ này, vào năm Càn Long thứ 36 [1771] an sáp người Di là bọn Hoàng Công Toản, gồm 22 hộ; những người này nên hay không nên chấp thuận cho trở về nước. Qua Quân cơ điều tra rõ, Hoàng Công Toản là hậu duệ họ Mạc (3), nhân họ Lê diệt Mạc nên đổi họ để trốn, cư trú tại trại Mãnh Thiên. Lại bị An Nam đánh, sức không chống nỗi, đem quyến thuộc hơn 100 người, vào năm Càn Long thứ 34 [1769] khẩn cầu nội phụ. Ðã được cho an sáp gần biên giới, rồi viên Quốc vương nước này xin đưa về để trị tội, nên bi bác và cho an sáp tại Ô Lỗ Mộc Tề.

Những gia đình An Nam này với những người đi theo Lê Duy Kỳ được cho trở về; tình tiết không giống nhau, nên khó có thể liệu biện  cùng một cách. Nay truyền dụ cho viên Ðô thống, nếu như lúc này các hộ thuộc bọn Hoàng Công Toản không xin trở về nước, thì gác lại không bàn đến. Nếu bọn y nhân các các hộ theo Lê Duy Kỳ đều được chấp thuận cho trở về nước, rồi lại khẩn cầu xin hồi hương thì viên Ðô thống cần dụ rằng: Bọn ngươi vốn là cừu địch với họ Lê nên đến đầu thuận nội địa, nhưng hiện tại Nguyễn Phúc Ánh, người được nước, vốn thuộc cựu thần nhà Lê. Ðại Hoàng đế lo rằng các ngươi sau khi trở về nước sẽ không có chỗ nương dựa nên vì lòng thể tuất không đưa các ngươi giao cho nước này. Các ngươi đáng an cư lạc nghiệp, không nên nghe những điều quấy. Dụ một cách minh bạch như vậy, bọn chúng sẽ cảm khích về sự ban ơn. Ðem dụ này lệnh để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 133, trang 12-13)

Tháng 9 [4/10-1/11/1804], bọn giặc Triều Châu [Quảng Đông] là Mã Sĩ Anh quấy phá địa phương Hưng Hóa, tràn đến châu Văn Bàn [Lào Cai], Châu trưởng Đèo Quốc Uy đánh phá, bắt được Sĩ Anh và đồ đảng 20 người. Thưởng cho Quốc Uy một cặp áo và 300 quan tiền.

Sau khi Thái miếu [miếu thờ các đời], miếu Triệu tổ [Nguyễn Kim], miếu Hoàng khảo [cha Vua Gia Long] làm xong; vào ngày mồng 6 tháng 10 [7/11/1804], Vua đích thân đem bầy tôi làm lễ đặt bài vị các Vua và Hoàng hậu tại các miếu. Ngày mồng 7 [8/11/1804], Vua đến làm lễ; xong Vua ngự điện nhận lễ chầu mừng, cho bầy tôi ăn yến. Rồi sai dựng hành lang hai bên tả hữu miếu Triệu Tổ để chứa đồ tế.

Ngày 19 [20/11/1804], rước Thái hậu đến ở cung Trường Thọ; Vua thân đến chầu mừng.  Từ đó cứ 3 ngày hoặc 5 ngày, vua thân đến thăm sức khỏe, chưa từng bỏ thiếu.

Tháng 11 [2/12-31/12/1804] lại dịch nhà Thanh là bọn Lâm Quý, Lâm Bảo đáp thuyền buôn qua Bành Hồ [Đài Loan], gặp gió trôi dạt đến cửa Đại Chiêm [Hội An, Quảng Nam] . Trấn quan Quảng Nam đem sự việc tâu lên; Vua sai cấp cho bọn Quý và thủy thủ tiền, gạo. Sau lại cho bọn Quý phương tiện, sai đưa theo đường bộ về trở nước.

Người Lạc Hoàn [Lạc Hòn, Savannakhet] là Pha Na Khi đến hiến sản vật địa phương 3 thớt voi đực, 2 cặp ngà voi, 2 tòa sừng tê, 25 cân sáp ong. Pha Na Khi và cha là Ất Thăng, nối đời làm tù trưởng Lạc Hoàn. Khi Ất Thăng chết, con rể là Xí Xương Mã đuổi Pha Na Khi mà tự lập. Pha Na Khi trốn ở rừng rú, nhờ Điển quân thượng đạo Lưu Phước Tường dẫn cho quy phụ triều đình. Khi vua đã lấy lại được kinh thành, dụ cho trở về, đến nay đem lễ vật do đạo Cam Lộ [Quảng Trị]vào hiến. Vua vời vào chầu, hỏi thăm yên ủi, trả lại lễ vật.

Tháng chạp [1/1-30/1/1805], quản tàu Long Phi là Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] dâng sách Thái tây toán pháp (4) và sách Thiên chỉ minh yếu luận (5), mỗi thứ một quyển.

Giặc biển Tề Ngôi tên Trạc, họp hơn 60 chiếc thuyền, lại quấy phá châu Vạn Ninh [Quảng Ninh]. Trấn thủ Lê Văn Vịnh suất binh dân đánh dẹp; Cai châu Phan Phương Khách, Phó châu Phan Đình Trung, cựu Tri châu Vi Quảng Vỹ tiến đánh, chém được Trạc và đồ đảng 4 người, giặc tan vỡ. Quan Bắc Thành đem sự việc tâu lên, bèn cho Phương Khách làm Phòng ngự sứ kiêm Cai châu, cho Đình Trung làm Phòng ngự đồng tri kiêm Phó châu và Quang Vỹ làm Phòng ngự thiêm sự, thưởng tiền 500 quan, thưởng cho binh dân 1.000 quan.

Tại Kinh Bắc giặc nổi lên cướp đồn Đèo Vang trấn Thái Nguyên; viên Cai đội giữ đồn là Nguyễn Hữu Thành chống đánh bị chết. Quan Bắc Thành đem quân đánh bắt. Phó thống Nguyễn Xuân, Phó quản thập cơ Ngô Văn Tham tiến đến Phượng Nhãn [huyện Lạng Giang, Bắc Giang], Trấn thủ Kinh Bắc là Phạm Tiến Tuấn đem quân hợp đánh, bắt được tướng giặc là Lương Văn Truyền và hơn 30 đồ đảng, thu được khí giới rất nhiều. Hạ lệnh thưởng khắp cho quan binh và dân phu hơn 2.000 quan tiền; người bắt được tướng giặc thì thưởng thêm 300 quan, quan binh thì thăng chức một cấp.

Ngày 26 [26/1/1805], vua đến Thái miếu dâng lịch Vạn Toàn năm Ất Sửu; lễ xong ban lịch mới cho các nơi.

 

Chú thích

1.Tá lãnh: Đơn vị phụ thuộc vào một cơ quan.

2.Kỳ: Quân đội nhà Thanh được chia thành 8 kỳ, tức 8 màu cờ; vậy biên chế vào kỳ tức biên chế vào quân đội.

3.Hoàng Công Toản là hậu duệ họ Mạc: Điều này không đúng, Hoàng Công Toản là con Hoàng Công Chất, nỗi dậy tại vùng Sơn Nam [Nam Định, Thái Bình] vào năm 1737, không liên quan đến nhà Mạc.

4.Thái tây toán pháp : Sách toán của Tây phương.

5.Thiên chỉ minh yếu luận : Sách thiên văn học.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này