Trần Văn Mãnh
Tiểu sử nhà giáo, nhà báo, nhà thơ và nhà nghiên cứu Đông Hồ Lâm Tấn Phác
A/ Gia tộc họ Lâm ở Hà Tiên :
Tuy không có tư liệu nói rõ hơn nhưng theo nữ sĩ Mộng Tuyết (tức bà Thái Thị Sửu, người vợ cuối của ông Đông Hồ) và học giả Nguyễn Hiến Lê thì hai người đều có nêu ra nguồn gốc của tổ tiên nhà họ Lâm: Tổ tiên họ Lâm từ tỉnh Phúc Kiến (1) có lẽ di cư sang Hà Tiên cùng thời kỳ với Mạc Cửu (Mạc Cửu có dùng một quan kí lục họ Lâm), và có chi tiết nói Đông Hồ là người con trai đời thứ bảy và cuối cùng của dòng họ Lâm vì đến đây thì không còn con trai, nếu tính tiếp qua đời thứ tám thì là hai người con gái của ông Đông Hồ (2).
Rất tiếc là chúng ta không tìm thấy các nguồn nào khác nói về hai điểm trên. Mong rằng các nhà « Hà Tiên Học » sẽ tìm hiểu và nghiên cứu thêm về chủ đề nầy.
Trở lại với gia đình họ Lâm:
Trong gia đình họ Lâm, được biết đến bậc cao nhất là tiền bối Lâm Vĩnh Thành, tiền bối sinh ra ông Lâm Trường Thọ vốn là một nhà kinh doanh ngành hàng hải, có tàu lớn đi buôn khắp vùng vịnh Xiêm (Thái Lan) và Hạ Châu (Singapour), tiếp đến sinh ra cụ ông Lâm Quang Huy. Cụ ông Lâm Quang Huy và cụ bà họ Giang (phần mộ ghi là Giang Thục Nhân, không có ghi rõ tên mà chỉ chú trọng họ Giang) có ba người con: hai người con trai và một người con gái:
Lâm Tấn Đức (nam)
Lâm Thị Đào Hoa (nữ) (3)
Lâm Tấn Thoại (nam)
A1/ Lâm Tấn Đức: Ông Lâm Tấn Đức tự là Hữu Lân, sinh năm 1866 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Ông có dáng oai nghiêm, bệ vệ, thông minh và hoạt bát, ngoài ra ông giỏi chữ Hán, thảo chữ trên giấy rất đẹp và được mọi người trong làng Mỹ Đức kính trọng và tin tưởng, ông được cử làm Hương Chủ trong làng.
Ông Lâm Tấn Đức có kết giao hữu với một số nhân sĩ ở Hà Tiên thời 1920, nhóm bạn nầy thường hay cầu Tiên ở nhà ông tại bờ đầm Đông Hồ. Đó là quý ông Cao Văn Sự (Đốc Phủ Sự), Nguyễn Thành Diêu, Nguyễn Văn Ngàn (thơ toán, viên chức Ngân Khố, gọi là ông Phán Ngàn). Chính ông Ngô Văn Chiêu (4) lúc đó từ Tân An chuyển xuống Hà Tiên làm việc ở tòa Hành Chánh vào năm 1920 và đã gặp quý nhân sĩ nhà Nho nầy nhân đó quý ông thường lên Thạch Động để cầu Tiên. Trong một cuộc cầu Tiên ngay tại nhà ông Lâm Tấn Đức, ông Ngô Văn Chiêu đã được thừa tiếp hồng danh hai chữ Cao Đài qua một bài thơ do ơn trên giáng cơ có nêu tên họ đầy đủ của ông và tên của quý thân hữu có mặt (Quan, Diệu, Sự, Đức)
Về thân thế, ông Lâm Tấn Đức có người vợ tên là Phan Thị Cạo, hai ông bà không có con, nhưng có nuôi một người con gái tên là Lâm Thị Việt. Bà Phan Thị Cạo mất năm 1921 và ông Lâm Tấn Đức mất năm 1934.
A2/ Lâm Thị Đào Hoa: là em gái của ông Lâm Tấn Đức và chị gái của ông Lâm Tấn Thoại. Bà là người thứ thất của ông Huỳnh Đăng Khoa (pháp danh là Huỳnh Kim Chung tu theo Đạo Minh Sư Phật Đường), người Hà Tiên, hai người có một người con gái tên Huỳnh Thị Cang (tự Kính) sinh năm 1901, sau đó thì bà Lâm Thị Đào Hoa qua đời trong năm.
A3/ Lâm Tấn Thoại: Không rõ năm sinh, nhưng chắc chắn là ông được sinh ra ở làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Ông và người vợ tên Trần Kim Phụng có ba người con: hai người con gái và một người con trai:
Lâm Quế Thanh (nữ)
Lâm Ngọc Anh (nữ)
Lâm Tấn Phác (nam, tức là nhà giáo, nhà thơ Đông Hồ).
a/ Không rõ năm sanh của bà Lâm Quế Thanh, chỉ biết bà lấy người chồng họ Mông ở Hòn Chông, lúc đó là quận thuộc tỉnh Hà Tiên, bà không may mất sớm, bà mất vào tháng 4 năm 1927, hai vợ chồng không có con.
b/ Bà Lâm Ngọc Anh sinh năm 1901, lập gia đình với ông Lý Văn Nhơn, một nhân sĩ và nhà giáo kính trọng ở Hà Tiên, người Hà Tiên thường gọi ông là ông Đốc Nhơn, ông sinh năm 1900 và mất năm 1967. Mười năm sau bà Lâm Ngọc Anh mất (1977). Hai người có 5 người con: 2 người con trai và 3 người con gái.
c/ Ông Lâm Tấn Phác tức nhà giáo, nhà báo, nhà thơ Đông Hồ. Ông Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1906 (theo dương lịch) tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên (nhằm ngày 16 tháng 2 năm Bính Ngọ theo âm lịch) (5).
Có một sự kiện quan trọng ảnh hưởng hoàn toàn đến cuộc sống của ba chị em ông Lâm Tấn Phác, đó là lúc khoảng song thân là ông Lâm Tấn Thoại và bà Trần Kim Phụng trạc độ trên dưới 30 tuổi, khoảng năm 1909, ông Lâm Tấn Thoại đột nhiên qua đời, hai tháng sau đến phiên bà vợ Trần Kim Phụng cũng lìa đời trong cùng năm. Ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác lúc đó khoảng 3 hoặc 4 tuổi cùng hai chị gái trở thành mồ côi cha mẹ, bác ông là Lâm Tấn Đức cùng với vợ là Phan Thị Cạo phải bảo bọc nuôi 3 chị em của ông Đông Hồ, xem như là con ruột trong nhà. Dưới sự giáo dục nghiêm khắc và đúng đắn của một nhà Nho như người bác, ông Đông Hồ hấp thụ được một nền văn hóa cổ truyền, trang nghiêm, học chữ Hán, biết đọc sách xưa và học cách viết chữ bằng bút lông tài hoa của người bác, từ đó đã tạo cho ông Đông Hồ một phong cách sống và viết văn thơ rất thanh tao, trang nhã.
Chân dung cụ Hữu Lân Lâm Tấn Đức, chụp trước nhà của ông tại bờ Đông Hồ, Hà Tiên. Nguồn: Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ, Hà Tiên, do Hà Tấn Tài chia sẻ.
Ông bà Lâm Tấn Đức, Phan Thị Cạo không có con, nhưng có nuôi một người con gái tên là Lâm Thị Việt. Bà Lâm Thị Việt có chồng tên là ông Trần Văn Tân. Hai ông bà có nhiều con, người con trai đầu tên là Trần Thiêm Thới, một người con trai khác tên là Trần Văn Quyện. Trần Thiêm Thới tức là nhà báo Trúc Hà và em trai của ông tên Trần Văn Quyện tức là nhà văn Trúc Phong. Vậy Trúc Hà và Trúc Phong là hai anh em ruột, cả hai người cùng với ông Đông Hồ sống trong cùng một căn nhà của người bác Lâm Tấn Đức và được ông bà người bác nuôi dưỡng từ khi còn nhỏ tuổi. Trúc Hà và Trúc Phong gọi Đông Hồ bằng cậu vì thân mẫu của Trúc Hà, Trúc Phong là bà Lâm Thị Việt và Đông Hồ có vai vế như là chị em trong nhà.
Ngoài ra còn có ông Trần Phước Phận cũng là con nuôi của ông Lâm Tấn Đức (người bác của Đông Hồ). Trần Phước Phận người gốc Chợ Lớn, làm việc ở Ty Quan Thuế tại Hà Tiên, vì cảm kích phong cách của ông Lâm Tấn Đức nên xin được làm con nuôi của ông.
B/ Thời niên thiếu, học tập tại Hà Tiên :
Nguồn gốc ngôi trường Sơ Đẳng Tiểu Học Pháp Việt :
Khi người Pháp chiếm Hà Tiên vào năm 1867, hai năm sau, năm 1869 họ vẽ một bản đồ với tiêu đề « Dựng theo mắt thấy xứ Hà Tiên, Nam Kỳ và những vùng phụ cận nằm trong vòng bờ đồn thứ 2 » (6).
Trên bản đồ nầy ta còn thấy có ghi chữ Ecole tức là Trường Học, tọa lạc ở hướng Đông Nam so với trung tâm Hà Tiên (7) và ngó ra đường Bưu Điện (tức đường Tô Châu). Ta không biết ngôi trường nầy có từ bao giờ nhưng đã xuất hiện trên bản đồ năm 1869 nói trên, cũng không biết rõ trường do nhà Nguyễn hay người Pháp thiết lập. Tuy nhiên sau đó, tức là từ năm 1869 trở đi, người Pháp có thiết kế lại một vài nơi, do đó chợ, trường học, nhà bưu điện đều thay đổi vị trí. Trường học được dời về phía Tây Bắc so với trung tâm Hà Tiên, trường nhìn ra đường Đống Đa. Ngôi trường nầy gồm 3 cụm kiến trúc, có một dãy 5 lớp học dọc theo đường Mạc Tử Hoàng, có một nhà Hiệu Trưởng và một dãy phố 5 căn cho gia đình giáo viên theo đường Hàng Dương (đường Mạc Công Du). Ngôi trường nầy chỉ tồn tại từ đó cho đến năm 1946 thì bị phá hủy vì chiến dịch tiêu thổ kháng chiến chống Pháp. Rồi đến năm 1947 người ta tái thiết lại trường học mới gọi là trường Tiểu Học, không có nhà riêng của Hiệu Trưởng như trước, chỉ có một văn phòng làm việc của ban Giám Hiệu, cửa trước trường nhìn ra đường Mạc Công Du, cửa sau nhìn ra đường Đống Đa, đó chính là ngôi trường mang tên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên trong những thập niên 60 – 70 cho đến nay (8).
Trở lại ngôi trường trước năm 1947, đó là ngôi trường do chánh quyền Pháp lập ra, mang tên Trường Sơ Đẳng Tiểu Học Pháp Việt (9), dạy tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng là như vậy nhưng giờ Việt Văn rất ít so với giờ Pháp Văn. Lúc ban đầu, vào các thập niên đầu thế kỷ thứ 20, khoảng những năm 1910 trở đi, trường chỉ có 2 lớp, dạy sơ đẳng chỉ tới lớp ba, học sinh muốn lên bậc cao hơn thì có ông thầy Trần Minh Đạo đưa đường cho học sinh lên tận Gia Định học để có thể thi vào Trung Học. Quý vị giáo viên ở trường gồm có: Ông Nguyễn Văn Tình (vốn là quan Đốc Học), ông Huỳnh Thoại Bang chuyên về khoa Hán Học và Luân Lý, ông Lư Sanh Nho (10)…….
Lúc bấy giờ, có hai người học trò còn rất trẻ tuổi, Lâm Tấn Phác và người cháu kêu bằng cậu, tên là Trần Thiêm Thới đều có theo học các lớp sơ đẳng của ngôi trường Pháp Việt Hà Tiên nầy. Theo ông Trọng Toàn (11) viết trong bài “Một người có công với Quốc Văn – Ông Đông Hồ” đăng trên Nam Phong tạp chí số 173 xuất bản năm 1932, hai người học trò Lâm Tấn Phác và Trần Thiêm Thới đều học rất giỏi, sau đó học trò Lâm Tấn Phác lên Cần Thơ tiếp tục học trường tư Võ Văn Học Đường, tiếp đến vì hoàn cảnh việc nhà nên thôi học trở về Hà Tiên, theo lời bác phải cưới vợ và một hai năm sau trở thành thầy giáo cũng dạy lại chính ở ngôi trường Sơ Đẳng Tiểu Học ở Hà Tiên, đó là ông giáo có tên hiệu Đông Hồ, tiếp đó nổi tiếng là thi sĩ, nhà viết báo…Còn học trò Trần Thiêm Thới thì thi đậu vào học bậc Thành Chung trường Trung Học Cần Thơ, nhưng vì tham gia viết báo tường mang nội dung ái quốc nên bị nhà trường cho thôi học phải trở về Hà Tiên tự rèn luyện Quốc Văn với ông Đông Hồ, rồi Trần Thiêm Thới cũng trở thành nhà thơ, viết báo,…với tên hiệu Trúc Hà rất có tiếng (12).
Mặt trước và sau bức hình chân dung của Trúc Hà Trần Thiêm Thới. Nguồn hình: Tư liệu từ gia đình Trúc Hà. (Hà Tấn Tài và TS Võ Văn Nhơn chia sẻ).
Lập gia đình lần thứ nhứt rất sớm :
Trong thời gian ông Lâm Tấn Phác đi học ở Cần Thơ, vào năm 1921 người bác gái (vợ của ông Lâm Tấn Đức) tên là Phan Thị Cạo mất, sau đó có lẽ vì muốn trong nhà phải có một người đàn bà để nối dõi tông đường nên ông Lâm Tấn Đức gọi ông về và cưới vợ cho ông. Lúc đó ông Lâm Tấn Phác chỉ vừa 16 tuổi và việc học ở Cần Thơ cũng chưa xong xuôi. Vâng lời người bác, ông thôi học về Hà Tiên và cưới người vợ cùng quê quán, bà tên là Lại Linh Phượng (có nguồn cũng nói là cuộc duyên nợ nầy là do người bác gái tức bà Phan Thị Cạo kết nối cho ông, có lẽ nguyên do cũng bắt đầu từ khi bà còn sống trước đó). Hai người kết hôn với nhau lúc còn rất trẻ tuổi lúc đó ông Đông Hồ mới 16 tuổi còn bà Lại Linh Phượng 18 tuổi. Bà Lại Linh Phượng bị bệnh nên mất sớm vào năm 1928 để lại cho ông Lâm Tấn Phác một người con gái tên Lâm Mỹ Tuyên sinh năm 1923 và hai cháu trai nhỏ nhưng về sau không nuôi được hai cháu trai nầy. Sau đó ông có viết một tập văn tên là « Linh Phượng Lệ Ký » để than khóc người vợ, tập lệ ký nầy rất nổi tiếng và được đăng trên tạp chí Nam Phong số 128, ra tháng 4 năm 1928 và đến năm 1934 được xuất bản thành sách tên « Linh Phượng », nhà xuất bản Edition NamKy, Hà Nội.
C/ Giai đoạn bắt đầu viết báo, làm thơ và dạy học tại Hà Tiên :
Ông Lâm Tấn Phác khi còn nhỏ, tên thực sự là Kỳ Phác nhưng nhân viên hộ tịch chép là Tấn Phát. Ngoài ra người bác còn đặt thêm tiểu tự là Quốc Tỉ, sau đó là Trác Chi. Khi bắt đầu làm thơ, viết báo, ông lấy bút hiệu là Đông Hồ vì tổ tiên nhiều đời đều ở trong căn nhà ven bờ « Đông Hồ » của Hà Tiên, ngoài ra còn có hiệu Hòa Bích. Sau nầy khi lên Sài Gòn hoạt động văn hóa, báo chí ông còn có các bút danh khác như : Thủy Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu Tiên Sinh (vì trước căn nhà ở xóm Nancy, Sài Gòn có trồng hai cây liễu). Từ đây ta có thể gọi ông với bút hiệu là Đông Hồ vì bút hiệu Đông Hồ trở nên rất quen thuộc trong giới văn thơ và luôn gắn liền với ông.
Ông Đông Hồ có nói rõ trong một bài viết là khi ông đọc trong các tạp chí Nam Phong cũ ở nhà, một bài thơ Pháp được dịch ra Quốc Ngữ, ông nhận thấy Quốc Văn vẫn có thể diễn tả sự sâu sắc, nét sáng sủa của thơ Tây và lại cũng diễn được ý tứ thâm trầm cao cả của thơ Tàu, và từ đó ông đã “tỉnh ngộ”; ông quay ra chuyên luyện tập Quốc Ngữ và có cơ duyên đến với báo Nam Phong. Rồi sau đó Đông Hồ truyền cảm hứng yêu chữ Quốc Ngữ và đưa Trúc Hà đến với Nam Phong tạp chí.
Bắt đầu dạy học tại Hà Tiên từ năm 1924
Sau khi cưới vợ xong, một thời gian sau, Đông Hồ được bổ nhiệm dạy học tại tỉnh nhà Hà Tiên, lúc đó là ngôi trường Sơ Đẳng Tiểu Học Pháp Việt ngay tại sở lỵ, tại đây thầy giáo Lâm Tấn Phác dạy lớp Ba, còn có một đồng nghiệp và cũng là bạn thân là thầy giáo Nguyễn Văn Kiêm tức nhà báo Trọng Toàn, dạy lớp nhứt. Chính trong giai đoạn nầy, ông Đông Hồ vì đã bắt đầu đọc Nam Phong tạp chí từ lúc 1922 và cũng đã hưởng ứng phong trào cổ súy cho tiếng Việt nên có tham gia viết bài thường xuyên gởi cho tạp chí nầy vốn là một tờ báo xuất bản ở ngoài Bắc do Phạm Quỳnh làm chủ bút. Ông Đông Hồ nhận thấy học sinh được học rất ít giờ về tiếng Việt, với tinh thần trân trọng yêu quý tiếng Việt, thầy đã cố gắng dạy tận tâm về môn nầy cho các học sinh bằng cách tăng thêm chút ít về thời gian giảng dạy tiếng Việt, tuy vẫn theo đúng chương trình do nhà cầm quyền Pháp đặt ra trong sự giáo dục ở nhà trường.
Đến năm 1926, Đông Hồ nhận thấy những giờ dạy Quốc Văn (tiếng Việt) ở nhà trường của chánh quyền Pháp quả thật quá ít và học trò không thể nào tiến bộ được nên ông quyết định mở ra một ngôi trường riêng, đặt tại nhà ông ở mé Đông Hồ (cũng là nhà của bác của ông là ông Hữu Lân – Lâm Tấn Đức), đầu tiên lấy tên là “Khai Trí Tiến Đức Học Xá” (qua năm sau 1927 thì đổi tên gọn lại là “Trí Đức Học Xá”) và mở rộng cửa cho các học trò và mọi người ai muốn thì cứ đến học, trường tạo trên khu đất rất rộng có cả chỗ cho học sinh ở xa đến ở tại trường (13).

Đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bộ quốc phục áo dài, khăn đóng, hình chụp những năm ông còn là giáo viên ở Hà Tiên. Nguồn: Nguyễn Kiến Thiết.
Ngôi trường nghĩa học Trí Đức Học Xá
Ngôi trường « Trí Đức Học Xá » do thầy giáo Lâm Tấn Phác tức Đông Hồ là trưởng giáo, thầy Nguyễn Văn Kiêm tức Trọng Toàn là giáo viên và Trần Thiêm Thới tức Trúc Hà mặc dù không có dạy trực tiếp ở học xá nhưng ông có viết bài giáo khoa, thơ văn để học trò có tài liệu giáo khoa để học. Về phương pháp dạy học thì Đông Hồ thường tổ chức các buổi học vào buổi tối, ông ra bài giảng và cho các bài tập về viết luận văn theo từng chủ đề để các học sinh tập luyện viết văn bằng chữ Quốc Ngữ. Ngoài những buổi học tối trong nhà, ngày nghỉ lễ hay chủ nhật thầy trưởng giáo thường dắt học trò đi thăm những cảnh đẹp ở Hà Tiên, những nơi có di tích lịch sử, qua đó sống gần với thiên nhiên của quê hương và nhân tiện bàn thảo, dạy học về thi phú, lịch sử cha ông ngày trước.
Về phương pháp dạy, cũng có một yếu tố mới lạ so với thời bấy giờ, có lẽ vì nhu cầu học tiếng Việt và hoàn cảnh của những học trò ở xa, không có điều kiện đến tận nơi để theo học, vả lại cũng không có ngôi trường nào chuyên dạy tiếng Việt ở các tỉnh khác, nên quý thầy ở học xá có dùng lối dạy qua trao đổi thư từ theo cách gọi là học hàm thụ : học trò làm bài văn và gởi đến thầy, thầy xem bài, chỉnh sửa và gởi lại cho trò …Cách dạy học nầy còn phổ biến nhiều luôn cả sau khi học xá đóng cửa. Trong các thư từ do ông Đông Hồ liên lạc với học trò ở các tỉnh xa theo lối học hàm thụ, trên đầu thư luôn có bốn câu thơ gốc tiếng Pháp của nhà thơ Frédéric Mistral (14) do Trúc Hà dịch ra tiếng Việt :
Ríu rít đàn chim kêu
Cha truyền con nối theo
Huống là tiếng mẹ đẻ,
Ta lẽ nào không yêu?
Theo các bài viết được đăng trên tạp chí Nam Phong thì số lượng học sinh có thể là vài chục người gồm phần lớn con em ở Hà Tiên. Ngoài ra điều đặc biệt không thể quên được là nói đến ngôi trường Trí Đức Học Xá và thầy giáo Đông Hồ thì ta không thể không nhắc đến một người học trò nữ có tên là Thái Thị Sửu, người nữ sinh nầy cũng cùng quê ở Hà Tiên như thầy Đông Hồ, biết làm thơ lúc 12 tuổi, đã nhiệt tình ủng hộ và theo học tại ngôi nhà học xá của thầy, cùng với nhiều người khác ở thế hệ ấy, nữ sinh Thái Thị Sửu đã tham gia vào cuộc luyện tập khả năng diễn đạt bằng chữ Quốc Ngữ qua các bài văn, bài thơ mà thầy Đông Hồ đã nhuận sắc trong tập văn « Bông hoa đua nở » và gởi đăng trên báo Nam Phong tạp chí năm 1930. Người nữ sinh tài năng vượt trội so với các bạn học đồng thời đó chính là nữ sĩ Mộng Tuyết với khá nhiều tác phẩm văn thơ làm tỏ rạng gương sáng của một cây bút nữ vốn khá hiếm hoi vào thời đó.
Thời gian hoạt động của ngôi trường Trí Đức Học Xá
Thời gian hoạt động của học xá là khoảng 8 năm (từ 1926 đến 1934) với các mốc thời gian quan trọng như sau :
Trường khai giảng vào ngày 30/10/1926 và đến ngày 19/11/1926, đúng ngày rằm tháng 10 năm Bính Dần tức ngay Tiết Hạ Nguyên, ở học xá có tổ chức một buổi lễ khá long trọng, có tiệc trà, có đủ quan khách, phụ huynh học sinh và học sinh tham dự.
Ngày 25/01/1927 : Ngày học cuối cùng của năm Bính Dần, học trò đọc bài văn cám ơn và mừng tuổi thầy dạy, học xá tạm đóng cửa nghỉ ăn Tết Đinh Mảo. Sau khi nghỉ Tết Đinh Mảo, thầy trò học xá trở lại họp và học lại như bình thường, một mùa xuân trôi qua lớp học có vẻ khả quan lắm.
Ngày 13/07/1927 : Ngày tạm đóng cửa học xá trong mùa hè vì học sinh phải chuẩn bị lo việc thi cử trường nhà nước.
Ngày 26/09/1927 : Ngày thầy trưởng giáo thông báo đợt khai giảng học xá sắp tới sau khi học xá tạm đóng cửa trong mùa hè thi cử.
Ngày 08/11/1927 : Ngày lễ chu niên kỷ niệm ngày khai giảng học xá.
Ngày 07/01/1928 : Ngày nghỉ Tết Nguyên Đán năm Mậu Thìn. Sau buổi lễ nầy thì học trò nghỉ học để ăn Tết Mậu Thìn, qua Tết sẽ họp lại học tiếp (mùng một Tết Mậu Thìn là ngày 23-01-1928).
Ngày 26/01/1930 : Ngày nghỉ Tết Nguyên Đán năm Canh Ngọ.
Trí Đức Học Xá ngừng giảng dạy vào năm 1931 và ngừng hoạt động hẳn việc dạy theo lối hàm thụ vào năm 1934.
Trong vòng 5 năm (1926 – 1931), học xá mở cửa dạy học trò ngay tại lớp học tức là các đêm giảng tập diễn ra ngay tại nhà ông trưởng giáo Đông Hồ, trong thời gian nầy vẫn có các học trò ở xa gởi bài đến học theo lối học hàm thụ.
Đến trước tháng 5 năm 1931, học xá ngưng hoạt động giảng tập tại nhà, tức là học xá đã đóng cửa, học trò không còn đến học trực tiếp như trước nữa, vì lý do gì ? Các tài liệu bài viết nghiên cứu đều đưa ra lý do là vì nhà cầm quyền Pháp luôn dòm ngó, làm áp lực thậm chí bắt buộc ông Đông Hồ phải đóng cửa học xá, tức không cho phép hoạt động mở trường lớp như vậy. Tuy nhiên không có tài liệu hay thông tin cụ thể có nguồn chính xác nào được đưa ra cho các lý giải đó, ta có thể hiểu đó là cách suy đoán hợp lý của thời cuộc là như vậy.
Tuy học xá ngưng giảng dạy trực tiếp tại nhà, nhưng thầy giáo Đông Hồ vẫn còn dạy qua lối hàm thụ cho các học trò ở các tỉnh xa qua lối gởi thư, và cách hoạt động nầy kéo dài thêm được 3 năm nữa rồi mọi hoạt động dạy chữ Quốc Ngữ do thầy Đông Hồ chủ xướng tại nhà ông mới chấm dứt thật sự, đó là một giai đoạn quan trọng và có nhiều ý nghĩa của cuộc đời ông trong vòng 8 năm (1926 – 1934).
Trong giai đoạn từ năm 1923 đến năm 1933, song song với việc dạy học cả ở trường công và ở ngôi trường Trí Đức Học xá, ông Đông Hồ bắt đầu viết báo, sáng tác thơ, văn. Ông cộng tác thường xuyên với Nam Phong tạp chí với các thể loại : biên soạn, khảo cứu, ký sự, tùy bút. Tên tuổi ông bắt đầu được giới văn học biết đến với phong trào dạy tiếng Việt ở ngôi trường Trí Đức Học Xá, ngoài ra có nhiều bài nổi tiếng như : Thăm đảo Phú Quốc, Hà Tiên Mạc Thị Sử, Linh Phượng tức Trác Chi lệ ký tập và một bài cổ văn là bài Phú Đông Hồ. Tuy là một người gốc gác ở miền cực Tây và tờ báo Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ trương lại xuất bản ở ngoài miền Bắc, nhưng vì có mười năm cộng tác báo Nam Phong do đó mà các nhà làm Văn Học Sử Việt Nam xếp Đông Hồ vào văn phái nhóm Nam Phong.
Bà Lại Linh Phượng, người vợ đầu tiên của Đông Hồ mất vì bệnh năm 1928, do biến cố nầy ông Đông Hồ rất đau khổ và có viết một bài văn khóc vợ rất nổi tiếng tên là “Linh Phượng Lệ Ký”.

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ, Hà Tiên Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm).
Lập gia đình lần thứ hai
Trong thời gian nầy vào năm 1930, bác của ông Đông Hồ cưới thêm người vợ thứ hai cho ông Đông Hồ, nhiều tài liệu ghi tên bà là Thái Nhàn Liên nhưng tên thật là Thái Thị Thân (15), chính là người chị thứ năm của Mộng Tuyết Thái Thị Sửu, (bà Thái Thị Sửu là người em thứ bảy), hai người có một người con gái tên là Lâm Mỹ Diễm, sau đó cũng có thêm một người con trai nhưng cũng không nuôi được, rốt cuộc họ Lâm đến đây là hết người con trai nối dõi dòng họ. Bà Thái Nhàn Liên mất vì bệnh vào năm 1946.
Đến năm 1934, bác của Đông Hồ là Lâm Tấn Đức qua đời, tiếp theo đó ông Đông Hồ cũng ngưng việc dạy học ở trường công sở lỵ Hà Tiên và bắt đầu cùng nhóm bạn Trí Đức làm báo.
D/ Giai đoạn làm tuần báo Sống cùng với nhóm Trí Đức :
Sau khi nghỉ dạy học cả trường công lẫn trường tư tại Hà Tiên, từ năm 1935 trở đi, Đông Hồ bắt đầu cộng tác cùng với nhóm bạn gồm các nhân tài văn học của Hà Tiên trước đó cùng góp sức trong công cuộc hoạt động của ngôi trường Trí Đức Học Xá (gọi là nhóm Trí Đức), cả nhóm cùng chung tay cho ra đời một tờ tuần báo mang tên Sống chuyên về văn học. Lúc nầy tờ Nam Phong tạp chí đã không còn xuất bản nữa.
Đây là một tờ báo hoàn toàn do nhóm nhân tài ở Hà Tiên sáng lập và họp lực viết bài. Nhóm nầy gồm có 8 người : Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Trúc Hà (Trần Thiêm Thới), Trúc Phong (Trần Văn Quyện), Lư Khê (Trương Văn Em), Trọng Toàn (Nguyễn Văn Kiêm), Quang Đẩu (Nguyễn Văn Tượng), Bạch Như (Lê Quang Phấn), Mộng Tuyết (Thái Thị Sửu). Công việc ra báo nầy cũng là sự tiếp tục cho việc cổ động việc học Quốc Ngữ dưới một hình thức khác. Vì thế mục đích của tờ báo Sống là dùng văn chương để cải tạo xã hội nhân sinh và phát triển văn chương tiến đến giá trị thẩm mỹ, tiến đến sự viết văn trong sáng, giản dị, lạc quan.
Vào lúc nầy chỉ có Trúc Hà hiện ở Sài Gòn nên ông chuyên lo các việc hành chánh, xin phép ra báo. Vì chọn tên báo là Sống nên lúc đầu gây hiểu lầm và tạo khó khăn cho việc xin cấp giấy phép vì chánh quyền nghĩ là một tờ báo đấu tranh về chánh trị… ! Sau cùng báo cũng được ra đời dưới hình thức tuần báo, số đầu tiên ra ngày 22/1/1935 với các tên tuổi : Trần Phước Phận là người sáng lập báo, Trần Thiêm Thới là chủ nhiệm và tòa soạn đặt tại Sài Gòn. Lúc nầy có Trúc Phong lên Sài Gòn tiếp việc. Đông Hồ và các bạn khác trong nhóm vẫn còn ở Hà Tiên viết bài gởi lên và cũng gởi thư mời các nhà văn tên tuổi miền Bắc : Trần Tuấn khải, Tản Đà, giúp thêm bài vở cho báo.
Khi báo ra đến số 8 ngày 19/3/1935 thì có ghi tên Đông Hồ thực sự là chủ bút và cũng chính ông lên Sài Gòn coi sóc tờ báo, quản lý nhiều mặt từ biên tập đến việc in ấn, và nhất là kiểm soát kỹ lưỡng việc viết đúng chánh tả các từ ngữ, đúng dấu hỏi ngã..v…v…Đây chính là đặc điểm quan trọng của báo Sống khi mà ở miền Nam thời đó báo chí rất ít chú ý đến việc viết đúng chánh tả, chỉ theo khuynh hướng viết theo như nói, không câu nệ …Trong thời gian nầy Đông Hồ cũng cộng tác viết bài cho các báo : Trung Bắc Tân Văn, Tri Tân, Văn Học tạp chí, Khai Trí Tiến Đức tập san ở Hà Nội và Đông Pháp Thời Báo, Phụ Nữ Tân văn, Mai , Văn, Việt Dân ở trong Nam.
Tuy nhiên mặc dù tờ báo Sống được xem như là thành công về mặc văn chương, báo chí nhưng báo lại không sống lâu, tổng cộng báo chỉ ra được 30 số thì phải tự đình bản vào ngày 18/9/1935 vì gặp khó khăn về kinh tế, tài chánh.
Sau khi báo Sống đình bản, Trúc Hà tiếp tục ở lại Sài Gòn dạy học ở các trường tư thục và lại tiếp tục cộng tác với Đại Việt Tập Chí và Nam Kỳ Tuần Báo do Hồ Văn Trung sáng lập (tên thật của nhà văn Hồ Biểu Chánh). Đó là những tờ báo văn hoá, văn học viết về lịch sử, triết học, giáo dục … Trong khi đó thì Đông Hồ trở về Hà Tiên sinh sống và nghiên cứu văn học. Đây là thời gian Đông Hồ ẩn cư trong 10 năm tại Hà Tiên.
E/ Thời gian ẩn cư từ 1936 đến 1945 tại quê nhà Hà Tiên :
Trong giai đoạn nầy, chúng ta có rất ít thông tin về đời sống của Đông Hồ, các tài liệu chỉ viết vắn tắt là « ông về ẩn cư 10 năm tại Hà Tiên… ». Tuy nhiên có vài sự kiện được nhắc lại như sau :
Năm 1936 Đông Hồ cùng với Trúc Hà viết chung và cho xuất bản một quyển sách « Những lỗi thường lầm trong sự học Quốc Văn », (Trí Đức Học Xá, Hà Tiên) giúp phần gìn giữ trong sáng tiếng Việt.
Trong thập niên 40, người vợ thứ hai của Đông Hồ là bà Thái Nhàn Liên (Thái Thị Thân) bắt đầu mang bệnh nên có một thời gian phải đưa lên Sài Gòn chửa trị, rồi sau đó cũng phải đưa về nhà ở Hà Tiên, em của bà là Mộng Tuyết thường lui tới nhà Đông Hồ để thay mặt chị lo cho các con của ông. Mặc dù Mộng Tuyết đã rất mến mộ tài năng của Đông Hồ từ lâu, và đặc biệt cũng có một tình cảm sâu đậm đối với ông, nhưng ở cương vị người em vợ, bà vẫn giữ nề nếp trong đối xử hàng ngày với Đông Hồ tuy trong bài thơ « Vì anh Thọ Xuân » (1939) của Mộng Tuyết viết khi tặng Đông Hồ một quyển tự điển, bà cũng tỏ ra tình cảm một cách khá rõ :
Vì ai đề tặng sách cho ai
Rồi lại vì ai cảm tạ người
Bởi sợ nhà thơ nghèo đến chữ,
Yêu nhau đưa tặng mấy muôn lời
(Mộng Tuyết – Vì anh Thọ xuân, 1939)
Từ khi tham gia viết tạp chí Nam Phong và sau đó là với nhiều tờ báo Bắc, Nam, Đông Hồ và ngay cả Mộng Tuyết đã giao lưu với nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ ngoài Bắc. Năm 1939, nhân khi có lời khen của nhóm Tự Lực Văn Đoàn về tập thơ Phấn Hương Rừng của Mộng Tuyết, hai nhà thơ đất Hà Tiên có ra ngoài Bắc để gặp bạn văn trong giới văn học quen thuộc từng giao lưu nhưng chưa từng gặp mặt : Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Trọng Thuật, Trần Tuấn Khải, … ngoài ra cũng để tham quan các phong cảnh đẹp ngoài Bắc, trong lúc nầy hai người vẫn giữ liên hệ anh rể và em vợ chứ chưa phải là vợ chồng.
Từ năm 1940, Đông Hồ có lập ra một tiệm buôn và một nhà sách ngay tại chợ Hà Tiên xưa, tiệm buôn được đặt tên là Yiễm Yiễm Thương Điếm và nhà sách tên là Yiễm Yiễm Thư Trang. Do đó trong những năm 1942 – 1944 thỉnh thoảng Đông Hồ có lên Sài Gòn để mua hàng hóa về bán (16).
Chân dung Mộng Tuyết Thái Thị Sửu trong những năm 1930 – 1940. Hình tư liệu sưu tầm.
Nguyễn Bính về Hà Tiên gặp Đông Hồ và Mộng Tuyết
Năm 1944 có một sự kiện khác thường được các nhà nghiên cứu nhắc lại khi nói về sự liên hệ của Đông Hồ, Mộng Tuyết với nhà thơ chân quê Nguyễn Bính : Vì Đông Hồ có viết thơ mời nhà thơ Nguyễn Bính đi Hà Tiên một chuyến để bạn thơ văn được gặp nhau nên trên bước đường lãng du vào Nam, Nguyễn Bính có xuống tận Hà Tiên để gặp hai nhà thơ đất Hà Tiên. Thời gian ông lưu lại cũng khá lâu, Mộng Tuyết đã chăm sóc Nguyễn Bính rất chu đáo như là một chú em trong nhà, nữ sĩ đã may cho ông một bộ quần áo bà ba bằng lụa Hà Đông, còn Đông Hồ thì dành cho ông cái gác Nam Phong với những ngọn nến hồng lạp quý giá để đêm đêm ông chong đèn làm thơ trên gác.
Trong thời gian nầy, Nguyễn Bính thường cùng với Đông Hồ đến nhà Mộng Tuyết mỗi buổi chiều trong xóm rẫy Hà Tiên, tại đây ông đã gặp người cháu gái của Mộng Tuyết và đã chú ý đến cô một cách đặc biệt để rồi cuối cùng sau khi rời Hà Tiên với sự tiếc nuối của hai nhà thơ, Nguyễn Bính đã gởi về Mộng Tuyết một bài thơ tựa là « Bài thơ vần Rẫy » để bài tỏ nỗi lòng của mình… (Cô cháu gái của Mộng Tuyết tên là Hồng Tú Ngọc. Bà Hồng Tú Ngọc không có gia đình, mất khoảng hơn 70 tuổi, thân mẫu của bà là người chị thứ hai của Mộng Tuyết).
Năm 1944 cũng là năm Trúc Hà (Trần Thiêm Thới) mất tại Bà Chiểu, Gia Định. Theo nhà văn Nguyễn Phước Thị Liên có kể lại khi Trúc Hà mất, người ta đưa ông về Hà Tiên chôn cất vội với một nấm mộ đất. Sau đó là thời kỳ bất ổn ở Hà Tiên, không ai lập mộ bia (17).

Nguyễn Bính (đứng bìa trái) chụp hình chung với gia đình Đông Hồ (đứng thứ nhì từ bên trái) vào khoảng năm 1944 tại Hà Tiên. Mộng Tuyết và bà Thái Nhàn Liên (che dù) đứng bìa phải. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên. Hà Thị Mỹ Oanh và cô Nguyễn Thị Thanh Hoa chia sẻ.

Nguyễn Bính (đứng bìa trái) chụp hình chung với gia đình Đông Hồ (đứng thứ nhì từ bên trái) vào khoảng năm 1944 tại Hà Tiên, bà Thái Nhàn Liên đứng bìa phải. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên. Hà Thị Mỹ Oanh và cô Nguyễn Thị Thanh Hoa chia sẻ
Tham gia phong trào cách mạng ở địa phương
Từ năm 1939 trở đi, đây là thời kỳ rất phức tạp và bất ổn dưới ảnh hưởng của thế chiến thứ hai (1939 – 1945), toàn nước nói chung và tỉnh Hà Tiên nói riêng cũng chịu nhiều ảnh hưởng to lớn. Đầu tiên Nhật lật đổ chánh quyền Pháp ở Đông Dương, các quan chức đầu tỉnh người Pháp ở Hà Tiên đều bị bắt, trong khi đó Việt Nam trở thành một nhà nước thân Nhật. Đồng thời phong trào Việt Minh nổi dậy khắp nơi, đến tháng 8 năm 1945, phong trào dành được chánh quyền, công việc hành chánh ở tỉnh Hà Tiên được giao cho một ủy ban đãm nhiệm, trong đó có những người tên tuổi như : Lê Văn Đằng (chủ tịch), Phạm Văn Học, Tạ Trung Cang, Lâm Tấn Phác (tức nhà thơ Đông Hồ, phụ trách về kinh tế và ngoại giao), Nguyễn Ngọc Lầu (giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên, sau đó thay thế Lê Văn Đằng)…Như vậy trong giai đoạn nầy, Đông Hồ đã tham gia vào phong trào cách mạng ở địa phương.
Trong thời gian nầy, có xảy ra nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc ; Mộng Tuyết viết một tập thơ gồm 10 bài thơ tựa « Mười khúc đoạn trường » kêu gọi cứu đói cho đồng bào miền Bắc. Đông Hồ cũng tham gia bằng cách viết và vẽ bằng bút lông ra 10 bài thơ trên giấy bạch ngọc để hoàn thành một tập thơ và rao bán để động viên tinh thần ái quốc, yêu đồng bào trong giới văn nhân và tầng lớp thượng lưu, ông còn ghi chú thêm bốn câu thơ :
Mười khúc đoạn trường thơ cứu đói
Bốn phương tri kỷ gió đưa duyên
Non sông cố quốc lòng đang rộn
Son phấn tài hoa nợ chửa đền
Trong thời gian Đông Hồ tham gia chánh quyền mới ở Hà Tiên, lúc đó là thời kỳ chưa được ổn định, phần thì con người ông vốn cốt cách ốm yếu, thường hay đau yếu, kém sức khỏe, phần thì thời cuộc có dấu hiệu người Pháp sẽ trở lại giành chánh quyền ở khắp nơi nên có lẽ ông biết là mình sẽ không thích ứng với một cuộc kháng chiến cam khổ nên ông tìm cách rời khỏi Hà Tiên, một cách lánh nạn và tham gia cuộc đấu tranh dưới một hình thức khác, trên lãnh vực văn hóa.
Một mình tản cư lên Sài Gòn
Khoảng gần cuối năm 1945, Đông Hồ tản cư lên Sài Gòn, tuy nhiên Mộng Tuyết và các con vẫn còn ở Hà Tiên. Theo ông Nguyễn Hiến Lê trong bài viết « Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên – Tưởng niệm Đông Hồ », ngày 1/3/1970 đăng trên tạp chí Bách Khoa số 317 (1970) có một đoạn nói về việc sau khi báo Sống đóng cửa như sau :
« Thất bại, năm sau ông về Hà Tiên ẩn cư non mười năm. Sau quốc biến 1945 một mình ông chèo một chiếc xuồng ba lá lênh đênh trên các sông rạch miền Tây, sau cùng trôi giạt tới Sài Gòn, lập nhà xuất bản Bốn Phương, nhà sách Yiễm Yiễm, và ra tờ Nhân Loại (1953) ».
Trong bài thuyết trình của giáo sư Trương Minh Hiển nhân buổi lễ kỷ niệm húy nhật đệ nhị chu niên cố thi sĩ Đông Hồ ngày 28/2/1971 tại Rạch Giá, thầy Hiển có nhắc lại chuyến đi tản cư của Đông Hồ theo đường sông rạch rất gay go như sau :
« Từ 1945 trở đi, đất nước đã chuyển mình dữ dội :
Đất lệch, trời nghiêng, sông cuộn cuộn..
Trăng cuồng mưa loạn gió đau thương.
………
Ôi đến bao giờ chinh chiến hết
Hỏi làm chi nhỉ ? Chuyện hoang đường.
(Đông Hồ – Chinh chiến, 1947)
Thi nhân bị xô ra khỏi vùng thanh tịnh để lao mình vào miền khói lửa điêu linh:
Tây yên, nước sớm mờ sương khói
Viễn mộng trôi theo cánh lục bình
Nước chảy ngẩn ngơ niềm nguyện ước
Bèo trôi man mác ý phiêu linh.
(Đông Hồ – Bội Lan Hành, 1946)
Giãi nắng, dầm mưa, lênh đênh trên dòng vô định, tấm thân nho nhã cũng lăn lóc với cát bụi giang hồ trên một chiếc thuyền con. Tác giả than :
Kinh cạn sông cùng chèo lúng túng
Đường lầy ngỏ tắt bước loanh quanh
Chim bằng cánh mỏi trời thu hẹp
Ngựa ký chân sa đất gập ghềnh
Cá chậu chim lồng chưa thoát khỏi
Miệng hùm nọc rắn sẵn bên mình.
(Đông Hồ – Bội Lan Hành, 1946)
Thuở đó chúng tôi mới 10 tuổi đã được hân hạnh làm tên hướng đạo tí hon lăng quăng chạy trước bước chân người cùng chân bà Mộng Tuyết hiện có mặt ở đây hôm nay. Chúng tôi đi từ xóm Lưới Lư Khê vào xóm Ngã Tư kinh Xáng, xuyên qua truông núi Nhọn và len lỏi giữa rừng tràm sinh lầy : đi chạy loạn. Sau đó người xuống thuyền dấn thân trôi nổi lên đến kinh thành, náu mình ở xóm Nancy. Ngôi nhà trọ được phong cho mỹ danh là Am Đại Ẩn.
Khách ly hương đã ra đi không hẹn ngày trở lại và dường như linh cảm cái ngày ấy không bao giờ có :
Chèo mất may còn duyên thấy lại
Thuyền chìm thôi hết kiếp thông minh
(Đông Hồ – Bội Lan Hành, 1946) »
Như vậy rõ ràng là khoảng gần cuối năm 1945 Đông Hồ vì nhiều lý do cá nhân (mong các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu thêm về giai đoạn nầy) đã tản cư lên Sài Gòn, nhưng không phải bằng phương tiện bình thường như xe đò, tàu thuyền vì lúc bấy giờ đất nước đang loạn lạc, giao thông rất hạn chế, ông phải chạy loạn với một thân một mình bằng một chiếc ghe và tự chèo lái trên các nẻo kênh rạch để lên đến Sài Gòn, thời gian ông đi từ Hà Tiên cho tới Sài Gòn ắt hẳn phải tốn rất nhiều ngày…
F/ Giai đoạn hoạt dộng văn hóa ở Sài Gòn :
Giai đoạn đầu ở xóm Lan Chi (Nancy), Sài Gòn
Đến năm 1946 khi Pháp trở lại với ý đồ đánh chiếm lại nước ta, trung tâm Hà Tiên bị phá hủy khá nhiều dưới biện pháp tiêu thổ kháng chiến, các công thự, nhà cửa, trường học, chợ búa, nhà thương đều bị đốt cháy, phần nhiều dân cư tản cư đi nơi khác. Thời gian nầy Đông Hồ đã tản cư lên Sài Gòn, tuy nhiên Mộng Tuyết và các con vẫn còn ở Hà Tiên.
Năm 1946 cũng là năm người vợ thứ hai của Đông Hồ là bà Thái Nhàn Liên mất vì bệnh tại quê nhà Hà Tiên, lúc nầy Đông Hồ ở Sài Gòn và vì tình hình rất khó khăn nên không về quê Hà Tiên được, ông đành khóc vợ lần thứ hai với mấy câu:
Mười sáu năm một gánh gian nan
Đau yếu ngót mười năm
Chết không chôn cất
Tuyền đài mẹ Yiễm hữu tâm tri
Từ lúc rời Hà Tiên tản cư lên Sài Gòn năm 1945 trong thời gian đầu, cuộc sống của Đông Hồ rất khó khăn, chúng ta có rất ít thông tin về ông trong khoảng thời gian nầy, qua một vài bài viết của giới văn học ta biết vài chi tiết như sau :
Đông Hồ buổi ban đầu khi lên đến Sài Gòn, trú ngụ tại một căn nhà thuê ở xóm Nancy mà giới nghệ sĩ đặt tên mới là xóm Lan Chi (18), đó là khu xóm nằm dọc theo đoạn đường Phan Văn Trị gần khu dân cư chợ Nancy cũ ở Quận 5, áp sát đường Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ). Đông Hồ đặt tên cho căn nhà ông ở là Đại Ẩn Am và cũng lấy tên nầy làm bút hiệu, dần dà ông trồng thêm hai cây liễu trước mặt căn nhà nầy để nhớ về căn nhà của ông ở bờ Đông Hồ, Hà Tiên, vì thế ông cũng tự cho mình một bút hiệu khác nữa là Nhị Liễu Tiên Sinh. Bà Mộng Tuyết trong bài « Hậu Úc Viên ký » đăng trên báo Bách Khoa số 366 năm 1972 có nói rõ về việc nầy :
« Tôi liên tưởng đến ngày chúng tôi mới thiên cư từ Hà Tiên lên ở xóm Lan Chi, chúng tôi cũng đã gây được một góc Đông ly vàng rực dưới hai bóng liễu gầy »
Nhà phê bình văn học Thiếu Sơn có kể là sau khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Đông Hồ có tới kiếm Thiếu Sơn và ở nhà Thiếu Sơn tại Sài Gòn mấy ngày để hàn huyên tâm sự (Tạp chí Văn, số 186, năm 1971, bài « Suy nghĩ về Đông Hồ », Thiếu Sơn).
Giai đoạn về ở đường Kitchener và mở tiệm sách, nhà xuất bản
Từ năm 1945 đến năm 1949, ta không biết nhiều về hoạt động của Đông Hồ, theo nhà báo Bùi Vị Xuyên (Văn số 145, năm 1970) Đông Hồ hoàn toàn giữ một thái độ kín đáo của một người ở ẩn tuy thỉnh thoảng cũng có tiếp xúc với anh em trong văn giới, nhưng sự giao tiếp nầy rất mực thước, không thân thiết, không liên kết. Do đó, ít ai có được nhiều kỷ niệm để viết về ông trong giai đoạn nầy.
Tấm thẻ nhà báo
Theo một tấm thẻ nhà báo của ông Đông Hồ được cấp ngày 9 tháng 7 năm 1949, chúng ta có được một vài chi tiết như sau : Tên Lâm Tấn Phác, bút danh : Đông Hồ, sinh ngày 8 tháng ba, năm 1906 (19), địa chỉ số 113-115 đường Kitchener, nghề nghiệp : Kế toán.
Đây là tấm thẻ nhà báo khi Đông Hồ cộng tác với tờ nhật báo Ánh Sáng do nhà báo Lư Khê (một trong Hà Tiên Tứ Tuyệt, tên thật là Trương Văn Em) làm giám đốc. Trên tấm thẻ nầy có chữ ký của ông Trương Văn Em và được chánh quyền Sài Gòn chứng nhận với chữ ký của ông phó tỉnh trưởng Tran Van Truc. Kitchener là tên một đại lộ ở Sài Gòn thời Pháp từ năm 1917, đến khoảng năm 1955 đổi tên là Nguyễn Thái Học và được giữ đến hiện nay. Về nghề nghiệp là kế toán thì có lẽ đó là việc làm lúc ban đầu còn khó khăn khi Đông Hồ mới lên Sài Gòn tản cư hoặc cũng có thể là ông tự khai như vậy để có một nghề nghiệp chánh thức trên giấy tờ, theo Thiếu Sơn thì đó là giai đoạn Đông Hồ làm quản lý cho báo Ánh Sáng, nên ông khai là làm kế toán trên tấm thẻ nhà báo. Tờ báo Ánh Sáng của Lư Khê hoạt động trong khoảng thời gian 1947 – 1950, cũng trong năm 1950 Lư Khê bị ám sát chết tại nhà riêng ở Sài Gòn.

Tấm thẻ nhà báo của ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác năm 1949. Nguồn: Hình tư liệu ở « Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường » do Hà Tấn Tài chia sẻ.
Nhà xuất bản Bốn Phương
Trong năm 1950, các tài liệu ghi là Đông Hồ lập ra nhà sách mang tên con gái của ông Yiễm Yiễm Thư trang (viết Yiễm Yiễm nhưng đọc là Diễm Diễm) và nhà xuất bản Bốn Phương chuyên hoạt động về văn hóa với chủ trương: “Gom lại từ bốn phương, tung ra khắp bốn phương”, để in những tác phẩm có giá trị về văn hóa nước nhà.
Một số tác phẩm tiêu biểu do nhà xuất bản Bốn Phương phát hành :
Việt Nam văn hóa sử cương (1951): Công trình văn hóa học kinh điển của học giả Đào Duy Anh được NXB Bốn Phương tái bản có sửa chữa.
Quang Trung anh hùng dân tộc (1951): Tác phẩm khảo cứu lịch sử nổi tiếng của nhà nghiên cứu Hoa Bằng.
Tục ngữ phong dao tinh hoa (1952): Tập sách sưu tầm văn học dân gian của tác giả Nguyễn Văn Ngọc được NXB Bốn Phương ấn hành lần thứ hai.
Hà Tiên thập cảnh & Đường vào Hà Tiên (1960): Tập sách biên khảo, tùy bút viết chung của Đông Hồ và Mộng Tuyết.
Trinh Trắng (1961): Tập thơ tuyển chọn của thi sĩ Đông Hồ.
Nàng Ái Cơ trong chậu úp (1961): Tiểu thuyết lịch sử (Hà Tiên ngoại sử ký sự tiểu thuyết) của nữ sĩ Mộng Tuyết.
Truyện Song Tinh (1962): Công trình sao lục và khảo cứu tác phẩm cổ Song Tinh bất dạ truyện diễn ca của Nguyễn Hữu Hào do Đông Hồ thực hiện.
Nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang
Nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang thực sự là một tiệm phát hành, phân phối và bán sách, vẫn ở số 113-115 đường Kitchener, Sài Gòn là nơi Đông Hồ ở, (lúc nầy ông không còn ở xóm Lan Chi nữa) phía trước là nơi có các quầy sách trình bày để bán, khách hàng vào ra thường xuyên, còn qua một vách ngăn thì đến một căn phòng nơi Đông Hồ ở và làm việc viết lách, không khí hai nơi trước và sau vách ngăn hoàn toàn thay đổi, trong phòng yên lặng, trình bày rất thanh nhã với các tranh vẽ, giò lan,các đôi liễn viết chữ thật đẹp, trên bàn thì có thoi trầm hương trong một đỉa sứ tỏa khói thơm…, quang cảnh êm ả xứng với cái tên Đại Ẩn Am mà ông vẫn giữ để đặt tên cho căn nhà ông ở từ lúc còn ở xóm Lan Chi, ngoài ra ông còn lấy thêm tên Thủy Cổ Nguyệt làm bút hiệu.
Về nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang, chúng ta có một thông tin rất hay từ bài viết « Sống và viết với Đông Hồ » của Nguiễn Ngu Í đăng trên tạp chí Bách Khoa số 193, năm 1965, đoạn văn như sau :
« Thế là thư trang có cái tên viết khác lối thông thường đã không còn, sau mười năm tô điểm non nước Hà Tiên cùng tịch và mười…bốn năm hoạt động ở chốn kinh kì huyên náo »
Đây là đoạn tác giả đang nói về năm 1964 lúc Đông Hồ ngưng hoạt động nhà sách và nhà xuất bản, gia đình ông dời về xã Phú Nhuận, quận Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định, tạm ở nhà con gái lớn (sẽ nói ở đoạn sau nầy). Chúng ta nhớ lại là hồi năm 1940 Đông Hồ có lập ra một nhà sách tên là Yiễm Yiễm Thư Trang tại chợ Hà Tiên, rõ ràng là nhà sách ở Hà Tiên nầy hoạt động được trong 10 năm thì đóng cửa vì tình hình chiến tranh, loạn lạc, khi tản cư lên Sài Gòn Đông Hồ có mở ra nhà sách cũng giữ tên Yiễm Yiễm Thư Trang vào năm 1950 và hoạt động được 14 năm, đến năm 1964 thì ông ngưng quản lý nhà sách nầy để về nghỉ ngơi ở Phú Nhuận.
Rồi trong đoạn cuối của bài viết, tác giả Nguiễn Ngu Í có băn khoăn tự hỏi khi nghĩ về Đông Hồ và có suy nghĩ :
« Anh (tức là Đông Hồ – TVM) xuất thân từ nhà mô phạm, anh đã dám giã từ trường « nhà nước » để mở trường dạy học theo ý mình ; anh yêu văn chương, thì anh đã mở tiệm sách, ở tỉnh nhà, rồi ở kinh đô… »
Rõ ràng là điều nầy chứng tỏ Đông Hồ đã có lập ra nhà sách từ khi ông còn ở Hà Tiên, trước khi tiếp tục mở lại tiệm sách cùng tên ở Sài Gòn khi ông di cư về kinh đô.
Trong sách “Sài Gòn ngoảnh lại trăm năm” xuất bản 2021 của nhà văn Phạm Công Luận, có phần viết về những nhà sách xưa, tác giả đăng một bức ảnh về quảng cáo nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang, bức ảnh có nguồn gốc từ tuần báo Thế Giới số 6 ra trong tuần lễ từ 26/11/1949 đến 2/12/1949 và được giữ quảng cáo qua mấy số liên tiếp sau đó. Trên hình quảng cáo nhà sách, có ghi hàng chữ :
« Trong hạ tuần tháng Novembre nầy dời về số 113 – 115 đại lộ Kitchener Sài Gòn. Các Đại Lý Sách Báo, Các nơi giao thiệp với Yiễm Yiễm Thư Trang, xin lưu ý địa chỉ mới nầy ».
Như vậy nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang của Đông Hồ được mở lại ở Sài Gòn vào cuối năm 1949 sau khi hoạt động ở Hà Tiên 10 năm, chúng ta thường thấy các tài liệu ghi là vào năm 1950 Đông Hồ mở nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang ở Sài Gòn, tuy nhiên thực sự thời điểm mở nhà sách là vào cuối năm 1949.
Phần quảng cáo nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang đăng trong tuần báo Thế Giới số 6 ra trong tuần lễ từ 26/11/1949 đến 2/12/1949. Nguồn: Phạm Công Luận.
Nhà văn, nhà báo Lê Văn Siêu cũng có bài viết ghi rõ là lúc ông cùng với bạn Triều Sơn, đến Đại Ẩn Am đường Kitchener (từ năm 1955 đổi tên là Nguyễn Thái Học) thăm Đông Hồ vào khoảng năm 1949 thì thấy ngoài cửa đề bảng hiệu của nhà sách bằng câu thơ :
Viết Yiễm Yiễm thư trang
Đọc Diễm Diễm thư trang
Như vậy một lần nữa, nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang đã có từ cuối năm 1949 ở Sài Gòn (20).
Trong tạp chí Văn số 60, năm 1966, có bài « Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên » do Mộng Tuyết viết, trong đoạn cuối có viết :
« Rồi thì, phong yên nổi dậy. Cuộc kháng chiến bắt đầu. Chúng tôi cũng « trôi nổi » người một phương. « Trôi nổi » là tiếng của Nguyễn Bính nói với chúng tôi khi từ giả lên Sài Gòn và đã nhắc lại trong câu thơ :
Chị ơi trôi nổi là thân tôi
Yiễm Yiễm thương điếm đã tan tành hết. Còn Yiễm Yiễm thư trang mở lại ở phố Nguyễn Thái Học Sài Gòn. Tôi lại bận bịu chuyện buôn bán, bận bịu chuyện phát hành, để anh Đông Hồ thung dung làm nhà đại ẩn ».
Rõ ràng là Yiễm Yiễm Thư Trang ở Sài Gòn chính là tiếp nối của nhà sách nguyên thủy đã từng được Đông Hồ sáng lập từ lúc còn ở Hà Tiên trong những năm 40. (Về việc Mộng Tuyết viết tên đường là Nguyễn Thái Học là vì khi viết bài trên, thời gian là đã sau năm 1955 khá lâu nên bà không dùng tên cũ là Kitchener).
Tấm thẻ thành viên hội thể thao
Trong năm 1950, theo tư liệu còn lưu lại, Đông Hồ có gia nhập vào Câu lạc bộ Thể Thao « Ngôi Sao Gia Định » (đây là một hội bóng đá được thành lập vào năm 1922 do sự sát nhập của hai hội bóng đá Giadinh Sports và Etoile Bleue, đến năm 1954 thì hội bóng đá nầy giải tán). Trên tấm thẻ thành viên của ông, có ghi tên hội : « Association Sportive Etoile de Giadinh », có trụ sở tại số 34 đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi), Saigon, trên thẻ còn ghi rõ tên Lâm Tấn Phác, thành viên tích cực và được chủ tịch hội là người Pháp, ký tên ngày 1 tháng 10 năm 1950.
Tấm thẻ thành viên hội thể thao của ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác năm 1950. Nguồn: Hình tư liệu ở « Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường » do Hà Tấn Tài chia sẻ.
Gia đình của Đông Hồ chuyển từ Hà Tiên lên Sài Gòn
Chúng ta không biết rõ từ năm nào bà Mộng Tuyết cùng hai người con gái ông Đông Hồ cũng dời lên Sài Gòn cùng ở chung với ông, chỉ biết theo Mộng Tuyết có kể lại thì cho đến năm 1946, năm chị của bà và cũng là người vợ thứ hai của Đông Hồ là bà Thái Nhàn Liên mất vì bệnh thì Mộng Tuyết và các con vẫn còn ở Hà Tiên. Vào khoảng năm 1950 theo nhiều bài viết về Đông Hồ, Mộng Tuyết, có lẽ đó là lúc Mộng Tuyết và hai con gái của Đông Hồ dời lên Sài Gòn chung sống với ông vẫn tại đường Kitchener (từ năm 1955 đổi tên là Nguyễn Thái Học), trong thời điểm nầy Mộng Tuyết và Đông Hồ trở thành bạn đời với nhau một cách chính thức (21).
Đến năm 1952, lúc Mộng Tuyết đã lên Sài Gòn sống chung với Đông Hồ thì hai người có ra ngoài Bắc lần thứ hai sau lần thứ nhất vào năm 1939. Lần thứ nhì đến thăm Hà Nội, đôi thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết có gặp nhà thơ Vũ Hoàng Chương và ông bà cũng có đến thăm đền thờ hai Bà Trưng cùng với ông Hoàng Thúc Trâm là con của ông Hoàng Thúc Hội. Nơi đây Đông Hồ đọc được bài thơ khắc trên bia đá trước đền, bài thơ của ông Hoàng Thúc Hội, trúng tuyển cuộc thi thơ « Đề đền thờ hai Bà Trung ». bài thơ như sau (22) :
Non Sóc ngựa lên không
Rừng Thanh voi chửa lồng
Một chồi hoa nụ lạc
Muôn dặm nước non Hồng
Trăng tỏ gương hồ Bạc
Mây tan dấu cột đồng
Nén hương lòng cố quốc
Xin khấn một lời chung
(Hoàng Thúc Hội – Đề Vịnh Trưng Vương, 1932)
Giám đốc tập san Nhân Loại
Đến năm 1953, Đông Hồ lập ra tập san « Nhân Loại », chuyên viết về văn hóa, lúc đầu là bán nguyệt san, nửa tháng ra một lần sau đó chuyển thành tuần báo. Tờ báo dần dần nổi tiếng với mục « Chữ và nghĩa » do chính Đông Hồ phụ trách với bút hiệu là « Đồ Mọt Sách », các bài viết trong mục nầy bàn về những điều lý thú của tiếng Việt. Tờ báo ra được trong vòng 22 số thì ngưng hoạt động vì thời cuộc và ý muốn của Đông Hồ muốn dành thời gian chuyên về nghiên cứu.

Đông Hồ và Mộng Tuyết trên đường phố Sài Gòn trong những năm 50-60. Hình tư liệu sưu tầm.
Thư ký Hàn Lâm Viên Ấn Độ tiếp xúc với Đông Hồ
Khoảng tháng 3 năm 1959, Đông Hồ được ông Thái Văn Kiểm ở Nha Văn Hóa báo tin là sẽ có một vị đại diện cho Hàn Lâm Viện nước Ấn Độ qua thăm Việt Nam với mục đích sưu tầm tài liệu, kỷ niệm về thi hào Rabindranath Tagore để chuẩn bị làm lễ 100 năm ngày sinh của thi hào vào năm 1961.
Đông Hồ trả lời ít điều về việc nầy, đại khái ông có biết năm 1924, thi hào Tagore có dự định viếng thăm Việt Nam mà lúc đó ông còn ở Hà Tiên và theo thông tin báo chí thời đó thì vì thi hào Tagore không được đón tiếp một cách thân hữu ở Trung Hoa nên cuối cùng trong chuyến về Ấn Độ, ông Tagore không ghé lại thăm Việt Nam. Cho đến năm 1929 thi hào Tagore mới ghé qua thăm Sài Gòn nhân dịp đi trên một chuyến tàu từ Nhật về nước, chuyến thăm nầy được giới trí thức tiếp đón long trọng (ngày 21/6/1929), trong dịp nầy người ta cũng may tặng cho thi hào Tagore một bộ Quốc phục, áo dài khăn đóng Việt Nam vì ông tỏ ra rất thích.
Đến ngày 8/4/1959, ông Thái Văn Kiểm lại báo tin cho Đông Hồ là người thư ký Viện Hàn Lâm sẽ đến Sài Gòn ngày 9/4/1959, ngoài việc tiếp xúc chánh thức với các hội, đoàn, thư viện, bảo tàng viện, các viện Đại Học và bộ Giáo Dục, ông nầy còn muốn thăm riêng một nhà thơ Việt Nam để nói chuyện thân mật hơn và ông Thái Văn Kiểm đề nghị nhờ Đông Hồ lãnh vai trò nhà thơ đó. Ban đầu Đông Hồ từ chối lấy cớ là đang bệnh hoạn và nhà cửa buôn bán luộm thuộm không trang nhã nhưng vì thấy ông Thái Văn Kiểm thẳng thắn và chân thành nên đành phải nhận lời.
Tiếp đến gia đình ông Đông Hồ phải dọn dẹp, chuẩn bị trang trí căn nhà Đại Ẩn Am để tiếp ông thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ tên là K. E. Kripalani đến. Cuộc nói chuyện bằng tiếng Anh, vài quan khách theo phái đoàn nói thẳng tiếng Anh với ông thư ký còn Đông Hồ thì có người dịch để trao đổi với khách. Trong dịp nầy ông Đông Hồ cũng có trả lời câu hỏi vì sao ông thích thi hào Tagore, đó là vì ông chịu ảnh hưởng trong lối giáo dục với thiên nhiên và lòng yêu tiếng mẹ đẻ theo câu nói của Tagore « Có học bằng tiếng mẹ đẻ thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được », do đó ông đã mở ra một học xá để chuyên dạy tiếng Việt ở quê nhà Hà Tiên.
Nhân dịp gặp gở, ông Đông Hồ có trao quà tặng cho ông K. E. Kripalani và chiều hôm đó có ông lãnh sự quán Ấn Độ mời cả nhóm dùng buổi cơm tối, sau cùng Đông Hồ có ngâm hai bài thơ được thu âm để đem về Ấn Độ, hai bài thơ gốc do thi hào Tagore viết trong sách Gitanjali và do Đông Hồ dịch sang tiếng Việt : Quê hương nhân loại và Lời cầu nguyện (23)

Thầy Đông Hồ (bên trái áo dài đen) tiếp ông thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ và phái đoàn tại nhà riêng Đại Ẩn Am, đường Nguyễn Thái Học, Sài Gòn. Nguồn hình: Bách Khoa số 56 và 57, năm 1959.
Mở thêm chi nhánh Yiễm Yiễm Thư Quán tại Tân Định
Trong khoảng thập niên 50 và kéo dài cho tới 1964, Mộng Tuyết tham gia quản lý các công việc in ấn, phát hành, phân phối sách vở, ấn phẩm dưới sự điều hành của Đông Hồ. Công việc làm ăn trở nên ngày càng phát triển, một trong các dấu hiệu sung túc của gia đình Đông Hồ được nhắc lại trong các bài viết về kỷ niệm giao lưu của Đông Hồ với giới văn hữu thời đó là ông đã có xe hơi và tài xế riêng trong những cuộc di chuyển ở Sài Gòn (24). Trong khoảng thời gian 1958-1959, khi thương hiệu hoạt động khá mạnh, Đông Hồ mở thêm một chi nhánh bán lẻ lấy tên là Yiễm Yiễm Thư Quán tại số 72 đường Trần Văn Thạch, Tân Định (ngay cạnh rạp hát Moderne) để tiếp cận giới học sinh, gia đình trung lưu quanh vùng Đa Kao – Tân Định (25).
Trong bài viết « Nhớ Đông Hồ tiên sinh », tác giả Nguyễn Văn Hầu, đăng trên tạp chí bách Khoa, số 343, năm 1971, ở đoạn cuối có câu :
« Mùa hè năm nay, tôi có dịp về Sài Gòn trong công tác thì vụ. Khi bách bộ qua chợ Tân Định, nhìn thấy bảng hiệu Yiễm Yiễm Thư Quán, tôi tự nhiên ghé vào. Tôi chưa biết ghé để làm gì thì những quyển « Văn Học Hà Tiên » của Đông Hồ treo lủng lẳng trong hàng sách đã đập vào mắt tôi ».
Đó là chi nhánh Yiễm Yiễm Thư Quán tại số 72 đường Trần Văn Thạch, Tân Định.
Nhận lời giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn
Trước năm 1963, Đông Hồ có tham gia vào các hoạt động văn hóa tại Sài Gòn như : Hội trưởng hội nhà văn, cố vấn cho Trung tâm Văn Bút Việt Nam. Sau giai đoạn 1963, chánh quyền Sài Gòn thay đổi, ông được mời gia nhập vào Hội Đồng Nhân Sĩ vì trong Hội Đồng nầy có phần hoạt động về văn hóa, tuy nhiên ông đã từ chối (theo Nguiễn Ngu Í trong Bách Khoa số 193, năm 1965 và Ngê Bá Lí trong Bách Khoa số 294, năm 1969).
Kể từ năm 1964, Đông Hồ quyết định dừng toàn bộ các hoạt động báo chí, in ấn, xuất bản thương mại, ông đóng cửa trụ sở chính Yiễm Yiễm Thư Trang ở đường Nguyễn Thái Học, nhà xuất bản Bốn Phương ngưng hoạt động, toàn bộ lượng sách bán lẻ còn lại được dồn về một đầu mối duy nhất là chi nhánh Yiễm Yiễm Thư Quán (72 Trần Văn Thạch, Tân Định), tại chi nhánh nầy Đông Hồ và Mộng Tuyết giao lại cho người cháu trong gia đình quản lý.
Ngoài ra Đông Hồ và Mộng Tuyết cũng dời nhà về ở địa chỉ số 14 đường Lam Sơn, thời đó thuộc xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định (gần hồ tắm Chi Lăng) để ẩn cư, nơi đây là nhà của người con gái lớn Lâm Mỹ Tuyên và hai người con nhỏ của bà tên Thư Lâm và Quỳnh Lâm. Đông Hồ đặt tên nơi đây là Quình Lâm Thư Thất (theo cách viết của ông).
Đất Gia Định am dời Đại Ẩn
Nẻo Lam Sơn lối dẫn Tị Tần
Đầu năm Ất Tỵ đang xuân
Ngày mừng sinh nhật lục tuần thung dung
Vườn Úc đóa hồng nhung hé nở
Nhà Quình pho kinh sử chất cao
Trầm bay hương tỏa ngạt ngào
Năm ba bạn trẻ tìm vào đến chơi.
(Đông Hồ – Xuân phong ngâm như tọa xuân phong trung, 1965)
Giáo sư Thanh Lãng lúc bấy giờ làm trưởng ban văn chương Quốc Âm của trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, đã mời Đông Hồ dạy tại trường nầy, ông nhận lời dạy với bộ môn « Văn Chương Quốc Âm miền Nam », ông nhận lời dạy, mỗi tuần có 2 giờ lên lớp, từ niên khóa 1964 – 1965 và liên tục những niên khóa kế tiếp. Tuy bộ môn luận về văn chương tiếng Việt ở miền Nam nhưng ông dạy chủ yếu là văn chương Chiêu Anh Các, thời Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên. Công việc nầy khiến ông nối lại được cái « tình duyên lở làng » với ngôi trường Trí Đức Học Xá ba mươi năm trước và tạo cho ông niềm cảm hứng và niềm vui hạnh phúc trong lúc ông đã gần đến ngưởng cửa lục tuần, sức khỏe có phần sút kém :
Đây thế hệ anh hoa tuấn tú.
Đêm ngày đang vui thú sách đèn.
Say sưa nghĩa lý thánh hiền.
Đông Tây kim cổ triền miên mộng vàng.
Đang đợi những huy hoàng cao cả.
Đang bắt tay luyện đá vá trời.
Một trời mực đậm sơn tươi.
Một trời Đại học, một trời Vân Khoa.
(Đông Hồ – Xuân phong ngâm như tọa xuân phong trung, 1965)
Khi dạy ở trường Đại Học Văn Khoa, Sài Gòn, sinh viên thuộc nhiều lớp tuổi trong đó cũng có nhiều người học hàm thụ, chỉ đến lớp vài lần vì họ là những người đã ra đời đang làm việc như công chức, quân nhân nên trái với nhiều nhận xét trong một số bài viết, thầy Đông Hồ không thích nhận hai tiếng là Giáo Sư mà chỉ xưng là thầy (ông cho là tiếng thầy biểu hiện sự thân mật hơn), và thường gọi sinh viên là « các anh chị » hoặc « các bạn », chỉ trừ những lúc tại nhà riêng hay nói chuyện riêng thì Đông Hồ có lúc cũng gọi đùa bằng « con trai, con gái của thầy »… (26).

Chân dung thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bộ Âu phục, chụp trong thời gian dạy trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Nguồn: Nguyễn Kiến Thiết.
Ngoài ra vài năm sau khi Đông Hồ dạy ở Đại Học Văn Khoa, Sài Gòn, giáo sư Lâm Ngọc Huỳnh, khoa trưởng Văn Khoa Huế, cũng ngõ ý mời ông dạy ở Huế, tuy nhiên vì tuổi cao, sức yếu, Sài Gòn – Huế thì đường đi xa xôi nên Đông Hồ từ chối, ông từ chối một cách thanh tao, tế nhị và độc đáo bằng một bài thơ gởi đi bằng điện tín ;
Đại Học xa đưa hương ngự uyển
Tràng An không tiện bước vân trình
Huệ lan ơn tạ lòng tri kỷ
Lở hẹn sông Hương, núi Ngự Bình !
Trong thời gian Đông Hồ và Mộng Tuyết sinh sống ở Sài Gòn, ông bà có lệ vào mỗi năm, khoảng thời gian trước sau khi đưa Ông Táo, đều mời các bạn văn thơ khoảng 7, 8 người, thường là quý ông : Nguyễn Hiến Lê, Nguiễn Ngu Í, Đông Xuyên, Giản Chi, Thiên Giang, Hư Chu, Vân Trang…v…v…., đến họp mặt cuối năm ở Yiễm Yiễm Thư Trang và ngay cả lúc về ở Quình Lâm Thư Thất. Buổi họp mặt thân mật, thanh nhã thường từ 9 giờ sáng đến 2 giờ chiều.
Ngoài ra một tính cách quen thuộc có thông lệ của Đông Hồ là mỗi lần vào dịp Tết đến, ông đều tự tay làm những chiếc thiệp xinh xắn kèm theo những bài thơ xuân do chính ông sáng tác và viết tay để in ra gởi tặng bạn bè. Nhà văn Nhất Linh khi còn thời bôn ba hải ngoại, đã có lần nhìn được một tấm thiệp Tết ở nhà một người bạn, nhìn những dòng chữ in đẹp, nhất là trong dịp đầu năm xa nhà đã làm cho Nhất Linh có một niềm hoài vọng quê hương và luôn có ấn tượng thân yêu, êm đẹp, vì thế mỗi lần gần Tết Nhất Linh đến thăm Đông Hồ để xem chừng đã có thiệp năm mới in xong chưa để ông tự tay cầm về (27).

Nhất Linh (bên phải) thưởng thức trà và đàm đạo với Đông Hồ (bên trái) tại nhà Đông Hồ, Đại Ẩn Am. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên. Hà Thị Mỹ Oanh và cô Nguyễn Thị Thanh Hoa chia sẻ
Đến năm 1969 Đông Hồ đã có ý muốn nghỉ dạy vì sức đã yếu và thường hay đau ốm, giáo sư Thanh Lãng khuyên ông nên cố gắng trở lại với học trò vì học trò rất quý Đông Hồ, ông còn nói thêm là nếu lở Đông Hồ có ra đi giữa đám học trò thì âu cũng là do nghiệp dĩ, cuối cùng Đông Hồ nghe theo lời khuyên và sự việc đã xảy ra…
Thẻ Hội viên tiếp tế do trường Đại Học Văn Khoa cấp
Trong thời gian dạy tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, gia đình ông Đông Hồ được cấp một thẻ hội viên tiếp tế trong đó có ghi rõ nhân sự trong gia đình, gồm có ông là gia trưởng, vợ là bà Thái Thị Sửu (tức Mộng Tuyết) và hai người con cháu trên 18 tháng. Có lẽ đây là thẻ để được tiếp tế về lương thực, thực phẩm. Tấm thẻ nầy thuộc niên khóa 1967 – 1968.
Mặt trước và sau của tấm thẻ Hội viên tiếp tế của thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác. Hình tư liệu ở « Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường » do Hà Tấn Tài chia sẻ.
“Chiến sĩ tử ư sa trường; học giả tử ư giảng tọa” (28)
Có rất nhiều bài báo, tự thuật viết về cái chết của thầy Đông Hồ, đa số đều dưới hình thức là thông tin, lập lại vài chi tiết chính, ngoài ra cũng có nhiều bài do chính học trò ông kể lại.
Theo một cựu học sinh từng học qua với Đông Hồ (Nguyễn Kiến Thiết, học chứng chỉ văn chương Quốc Âm), hôm xảy ra sự việc là ngày 25 tháng ba năm 1969, trong giờ dạy của thầy Đông Hồ, ông đang giảng bài theo chương trình dự định là nói về tác phẩm « Kim Thạch Kỳ Duyên » của Bùi Hữu Nghĩa, tuy nhiên lúc đó nhân dịp lễ Hai Bà Trưng vào ngày 23 tháng 3 năm 1969 trước đó, sau khi giảng bài chính xong , còn chút ít thời giờ Đông Hồ lại nhắc qua đề tài Hai Bà Trưng và kể với học trò việc ông có dịp đi ra Hà Nội đọc được bài thơ trúng giải cuộc thi thơ « Đề đền thờ hai Bà Trung » của ông Hoàng Thúc Hội. Sau khi đọc và giảng bài thơ trên, Đông Hồ nhớ lại một bài thơ thời đầu thập niên 40 đã làm giới văn nghệ sĩ ngạc nhiên, đó là bài thơ vịnh Hai Bà Trưng tên là « Trưng Nữ Vương », do nữ sĩ Ngân Giang viết năm 1939, bài thơ khá dài, thầy chỉ ngâm bốn câu cuối :
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá
Chênh chếch trăng tà bóng lẻ soi !
(Ngân Giang – Trưng Nữ Vương, 1939)
Khi đến câu thơ cuối thì thầy bị xúc động mạnh và gần như bất tỉnh. Các sinh viên đều lo đở thầy và sau cùng phải đưa thầy đến bệnh viện Grall rồi chuyển qua bệnh viện St Paul để cấp cứu, đến khi đưa thầy về nhà thì chiều cùng ngày thầy đã ra đi vĩnh viễn. Thầy được gia đình mai táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn ngày 28 tháng 3 năm 1969. Đông Hồ ra đi để lại biết bao câu chuyện văn thơ, giai thoại, mối tình định mệnh với nữ sĩ Mộng Tuyết và với bao nhiêu niềm thương tiếc của giới văn hữu, sinh viên và những người ái mộ ông.
Thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác mất ngày 25/3/1969, nhằm ngày mùng 8 tháng hai năm Kỷ Dậu.
Phần Cáo Phó về thầy Đông Hồ mất được gia đình cho đăng trên nhật báo Chính Luận, số ra ngày thứ sáu 28/03/1969
Tâm tình những năm cuối đời
Theo ông Nguyễn Hiến Lê, Đông Hồ có phàn nàn những năm cuối đời sao thấy buồn quá (Bách Khoa số 317, năm 1970) :
« Gần đây tôi cứ thấy lòng buồn mà rộn, không biết buồn về điều gì và rộn vì điều gì » (1967)
« Mấy hôm nay tâm hồn tôi như có chút gì bất thường »
Ông thường nói nhờ có bạn văn đến chơi mỗi tháng một lần đó là niềm vui của ông. Tuy nhiên theo Nguyễn Hiến Lê, ít nhất mỗi tuần Đông Hồ cũng có niềm vui với các môn sinh của ông ở Đại Học Văn Khoa và có lẽ niềm vui lớn nhất trong đời ông là một ngày gần Tết năm nào đó có nhóm sinh viên cả trai lẫn gái quây quần chung quanh ông ở Quình Lâm Thư Thất nghe ông kể chuyện hay nhìn ông viết chữ bằng bút lông.
Chúng ta không hề ngờ và cũng không thể biết được lý do vì sao mà Đông Hồ từ lúc di cư thời tao loạn 1945 lên Sài Gòn, « vùng đất trích » như ông nói từ những năm thập niên 50 và cho đến lúc ra đi năm 1969, đã không lần nào trở lại thăm quê hương Hà Tiên. Đọc kỹ lại một số bài viết của các văn hữu với Đông Hồ, ta nhận ra điều nầy :
Nguiễn Ngu Í viết trong bài “Sống và viết với Đông Hồ » (1965):
« Anh im lặng hơi lâu. Chẳng hiểu anh nhớ lại non nước Hà Tiên xa cách quá lâu hay thân thế những người xây Phương Thành , dựng Chiêu Anh Các? » (Bách Khoa số 193, năm 1967).
Học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong bài « Khóc bác Đông Hồ » (1969):
« Bác chưa kịp về thăm núi Cô Tô (có lẽ là núi Tô Châu – TVM) và hồ Đông ư ? Nhưng trong cơn binh lửa này, những bạn đã khuất của bác như Nhất Linh, Đinh Hùng, ai đã được về thăm quê nhà, và những bạn còn sống của bác như chúng tôi đây, ai dám chắc sẽ được về thăm quê nhà ? » (Bách Khoa số 294, năm 1969).
Trong bài thuyết trình của giáo sư Trương Minh Hiển ngày 28/3/1971 tại Rạch Giá, đoạn nói về lúc Đông Hồ tản cử lên Sài Gòn :
« Khách ly hương đã ra đi không hẹn ngày trở lại và dường như linh cảm cái ngày ấy không bao giờ có :
Chèo mất may còn duyên thấy lại
Thuyền chìm thôi hết kiếp thông minh
(Đông Hồ – Bội Lan Hành, 1946) »
……..
« Trong khi đó, Quê Hương nhỏ là đất Hà Tiên sinh trưởng của tác giả cũng mịt mù. Từ ngày chạy loạn, loạn cứ kéo dài, không lần nào trở về thăm được mái nhà xưa. Nhớ thôi là nhớ núi Bình San với những kỳ Thanh Minh tảo mộ. Cảnh Đông Hồ mỗi buổi sáng sương tan :
Thương xanh nhớ biếc lòng sông núi
Biển bạc hồ lam ôi bóng quê
(Đông Hồ – Đợi mùa xuân lớn, 1949)
……..
Giao Thừa Kinh khủng qua Bi thiết
Hồn lạc bơ vơ nẻo Trúc Thành.
……..
Bạn bè thăm hỏi trong ly tán
Ngóng gió ngàn phương chẳng mối manh
Dằng dặc sông dài sầu cuồn cuộn
Bâng khuâng trời rộng nhớ mông mênh
Nơi đó có gia đình và bằng hữu ».
……..
« Có người còn ở lại thấy khách ra đi, đi mãi không về, lại bàn tán phê bình nhiều lời cay đắng :
Trời Ngô rớt lại lời tiêu oán
Gieo rắc thương lòng giọt ớt chanh
…….
Máu rơi nức nở thiên ai oán
Thổn thức nghìn thu tiếng phẩm bình.
(Đông Hồ – Bội Lan Hành, 1946) »
Nhà báo Đoàn Thêm, trong bài viết « Vài nét về Đông Hồ », Bách Khoa số 294, năm 1969 :
« Rồi ông hứa một ngày kia, sẽ cố đưa tôi đi viếng Hà Tiên thập cảnh, để được thích thú như khi ông nhàn du trên sông Nhuệ trước làng tôi.
Từ hôm qua, tôi đành nhận là mình vô duyên đối với non nước của nhà thơ, và chỉ còn gặp ông trên những vần điệu mà ông đã cho, hoặc ở bức liễn treo nơi phòng khách ».
G/ Cảm nghĩ và kết luận :
Rất nhiều người bạn trong giới văn học thường có cùng một nhận xét về Đông Hồ : Con người ông mảnh khảnh, ốm yếu, thanh nhã, nói chuyện và đối xử lịch thiệp, lễ độ. Ông là hiện thân của một quá khứ êm đẹp, thanh bình, tuy ông làm thơ rất trang nhã, có phần kiểu cách nhưng là nhà thơ không trốn mộng mà là nhà thơ đem mộng vào thực, mang vào cuộc sống hằng ngày những vần thơ trang trọng có bóng dáng của thời xa xưa.
Những tác phẩm trong sự nghiệp văn chương thơ phú của Đông Hồ thường được các bài viết nhắc lại một cách vắn tắt, tuy nhiên số lượng thì rất nhiều, sẽ có một bài tổng hợp riêng về sự nghiệp văn học của ông để lưu lại một dấu tích về ông, góp phần nhỏ cho công việc tìm hiểu về ông.
Sau khi Đông Hồ mất năm 1969, về sau người ta thường tổ chức những buổi nói chuyện kỷ niệm về ông nhân ngày ông mất. Bà Mộng Tuyết và gia đình cũng đã thu thập nhiều tư liệu và tiếp tục xuất bản một số tác phẩm do ông đã viết và chuẩn bị từ trước.
Đến ngày 30/6/1983 thầy Đông Hồ được gia đình đưa về Hà Tiên an nghỉ trong khuôn viên những ngôi mộ của gia tộc họ Lâm trên sườn núi Tô Châu, Hà Tiên, âu đó cũng là một sự trở về cố quận. Đến năm 1995 bà Mộng Tuyết cũng từ Sài Gòn dời về Hà Tiên sống tại nơi có căn nhà xưa của gia tộc Đông hồ.
Hiện nay ở Hà Tiên, bên mé đầm Đông Hồ với ít nhiều thay đổi về cảnh quang, từ năm 1995, chúng ta đã có một ngôi nhà mang tên « Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường » và từ năm 2026, một ngôi trường (tân) « Trí Đức Học xá » với mọi vẻ xinh đẹp, màu sắc và khang trang, bên trong chứa đựng hàng ngàn quyển sách, hàng trăm tranh ảnh, với nhiều cánh thiệp viết tay xinh đẹp và rất nhiều tờ báo, tạp chí xưa do đôi thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết còn giữ lại được. Riêng trong sâu thẩm tâm hồn của một người vốn sinh ra ngay tại Hà Tiên, dưới mái ngói tân thời mới mẻ ngày nay, mong rằng tinh thần và phong cách của những người năm xưa cũ : Lâm Tấn Đức, Lâm Tấn Phác,… vẫn còn hiển hiện đâu đó góp phần cho ký ức nơi nầy mãi trường tồn và có ý nghĩa, trong điều kiện vì hoàn cảnh không thể còn giữ được căn nhà và ngôi trường gốc ngày xưa của gia tộc họ Lâm…
Chú thích :
(1): Phúc Kiến: (Fujian, Fukien) là một tỉnh của nước Trung Hoa, giáp với các tỉnh Chiết Giang, Giang Tây và Quảng Đông, nhìn ra phía Đông là biển và xa hơn là đảo Đài Loan. Thủ phủ của tỉnh Phúc Kiến là thành phố Phúc Châu.
(2): Theo Nguyễn Hiến Lê trong bài “Đất Hà Tiên với họ Mạc và họ Lâm” vào năm 1971 và đăng thành hai kỳ trên tạp chí Bách Khoa số 340 và 341 (1 và 15 tháng ba năm 1971).
(3) : Có nguồn viết là Lâm Tố Hoa, chúng ta chưa xác định được tên nào là chánh thức và cũng chưa xác định được bà là chị hay em của ông Lâm Tấn Phác.
(4): Ông Ngô Văn Chiêu (1878 – 1932) là người đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài Tiên Ông. Trong thời gian làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh Hà Tiên (tháng 3 năm 1920 đến tháng 10 năm 1920), ông giao du với quý nhân sĩ địa phương và thường tổ chức cầu Tiên. Sau đó ông thuyên chuyển ra quận Phúc Quốc (tháng 10 năm 1920 đến tháng 7 năm 1924) và cũng thường cầu Tiên ở ngôi chùa Quan Âm Phật Đường của Đạo Minh Sư. Chính tại Phú Quốc ông được Cao Đài Tiên Ông nhận làm đệ tử đầu tiên và dạy Đạo cho ông qua những buổi Tiên Ông giáng cơ. Ông có đạo hiệu là Minh Chiêu nên thường được biết với tên Ngô Minh Chiêu. Sau khi rời Phú Quốc về Sài Gòn làm việc, ông tiếp tục âm thầm học Đạo. Khi quý đệ tử họp lại khai đạo năm 1926, Đạo Cao Đài bắt đầu phát triển mạnh, tuy nhiên vì không cùng phương pháp tu tập, một bên là ra đời truyền đạo gọi là Công truyền, một bên là Tâm truyền, ông theo phương pháp Tâm truyền rất kín đáo, thu nhận chọn lọc đệ tử, từ chối chức Giáo Tông. Về sau pháp môn tu của ông trở thành một nhánh Đạo và có tên là Cao Đài Chiếu Minh.
(5) : Về ngày sinh của ông Đông Hồ, các tài liệu viết theo dương lịch khi thì ngày 8 tháng 3 năm 1906 (tức ngày 14 tháng 2 âm lịch năm Bính Ngọ), khi thì viết ngày 10 tháng 3 năm 1906 (tức ngày 16 tháng 2 âm lịch năm Bính Ngọ). Tuy nhiên theo ông Nguyễn Nhựt Quang, tổng thơ ký ban Truy Niệm cố thi sĩ Đông Hồ, tổ chức trong năm 1973, có một tài liệu về tiểu sử Đông Hồ kèm theo, có ghi rõ « Đông Hồ sinh ngày 16 tháng Hai năm Bính Ngọ, nhằm ngày 10.3.1906, (nhưng hộ tịch ghi ngày 8.3.1906) ».
(6): Vòng Bờ Đồn thứ hai nầy người Hà Tiên gọi là Bờ Đồn nhỏ, tức lũy Phù Dung hay lũy Phù Anh. Lũy nầy ôm sát trấn lỵ Hà Tiên, bắt đầu từ đồi Kim Dự (đồi Pháo Đài), bao vòng 2 ngọn núi Bình San và Phù Dung (tức núi Đề Liêm) đến bờ sông Thủy Trường (tức Rạch Ụ chỗ gặp đầm Đông Hồ). Lũy nầy có chiều dài trên dưới 3 cây số.
(7): Trung tâm Hà Tiên thời đó được xem như phần giới hạn trong các con đường Mạc Tử Hoàng, Mạc Công Du, Bạch Đằng và Trần Hầu.
(8): Theo tài liệu “Nghiên cứu Hà Tiên – Họ Mạc với Hà Tiên”, tác giả Trương Minh Đạt, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2017.
(9): Theo bài viết “Chuyện giáo dục ở Phương Thành”, tác giả Đông Hồ đăng trong Nam Phong Tạp Chí số 144 xuất bản năm 1929.
(10): Theo bài viết “Cảnh vật Hà Tiên IV” do Nguyễn Văn Kiêm biên tập, đăng trên Nam Phong tạp chí số 153, xuất bản năm 1930.
(11) Trọng Toàn là nhà văn, nhà báo, tên là Nguyễn Văn Kiêm (1902-1976), sinh ra tại Long An. ông có một thời gian dạy học ở ngôi trường Sơ Đẳng Tiểu Học Hà Tiên nói trên. Ông có nhiều bài viết đăng trên các báo từ những năm 1920, nội dung chủ yếu nói về ca dao tục ngữ miền Nam, sưu tầm ca dao tục ngữ đăng trên các báo. Sau 25 năm nghiên cứu và sưu tầm, công trình của ông đã được in thành sách mang tên « Hương hoa đất nước » (sách gồm hai tập). (Theo site Văn Nghệ Long An).
(12): Đầu nửa trước thế kỷ 20, giới văn học gọi danh xưng “Hà Tiên Tứ Tuyệt” để chỉ nhóm gồm 4 người thi sĩ, nhà văn, nhà báo rất nổi tiếng cùng quê quán ở Hà Tiên, xếp theo thứ tự tuổi tác đó là: Đông Hồ – Lâm Tấn Phác (1906-1969), Trúc Hà – Trần Thiêm Thới (1909 – 1944), Mộng Tuyết – Thái Thị Sửu (1914 – 2007) và Lư Khê – Trương Văn Em (1916 – 1950). Ngoài ra Trúc Hà còn có liên hệ gia đình với ông Đông Hồ, Trúc Hà là cháu gọi Đông Hồ là cậu. Cả hai người đều được người bác Lâm Tấn Đức nuôi khi còn nhỏ tuổi.
(13): Theo bài viết “Đông Hồ ký sự” của nhóm TAG:
(14): Frédéric Mistral (1830 – 1914) là nhà văn, nhà thơ, nhà Tự Điển học người Pháp vùng Provence. Ông đoạt giải Nobel Văn Học năm 1904. Bản dịch bài thơ gốc của Frédéric Mistral do Trúc Hà dịch còn có thêm 4 câu:
Ríu rít đàn chim kêu
Cha truyền con nối theo
Huống là tiếng mẹ đẻ,
Ta lẽ nào không yêu?
Chim không quên tiếng gọi
Người sao quên tiếng nói?
Nghe chim dạ bàng hoàng
Nước non, tình khắc khoải.
(15) : Theo bài viết « Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội với tùy bút “Dưới Mái Trăng Non” » của Hồ Trường An (2014).
(16) : Ngôi chợ Hà Tiên trong thời điểm nầy có thể không phải là ngôi chợ ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng Sanh như ở thời điểm những năm 50, 60, 70. Ngôi chợ trong bài viết nầy có thể tọa lạc ngay phía trước khách sạn Đại Tân (sau 1975 đổi tên là khách sạn Đông Hồ), sát ngay bến đò qua xóm Tô Châu. Đến những năm cuối thập niên 40 người ta mới bắt đầu cất ngôi chợ mới ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng Sanh, bây giờ ngôi chợ mới nầy cũng đã bị phá hủy và nơi đây trở thành một công viên rộng lớn.
Về thông tin Đông Hồ có mở tiệm buôn và tiệm sách ở chợ Hà Tiên, theo nguồn : Tạp chí Văn, số 186, năm 1971, bài « Suy nghĩ về Đông Hồ », Thiếu Sơn.
(17) : Theo Nguyễn Phước Thị Liên, « Chuyện ít người biết ». Tạp chí Chiêu Anh Các, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm lập trấn Hà Tiên.
Hiện nay, ngôi mộ của Trúc Hà Trần Thiêm Thới nằm ở trong khu mộ của gia đình Đông Hồ ở núi Tô Châu, Hà Tiên. Theo thông tin của tiến sĩ Võ Văn Nhơn, mộ bia do ông và tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thuý đặt làm, cháu của Mộng Tuyết là cô Nguyễn Thị Thanh Hoa nhờ thợ ở Hà Tiên thực hiện, bia đã được dựng trước mộ với ghi chú « Hậu bối lập mộ, thanh minh năm Nhâm Thìn 2012 ».
(18) Theo nhà nghiên cứu Phạm Công Luận, khoảng năm 1943 nhà văn Hoàng Tấn có mướn một căn nhà ngói ở xóm Nancy cùng với hai người bạn, và ông cũng mời Nguyễn Bính về ở chung. Nguyễn Bính rất thích căn nhà nầy và đặt tên là « Lan Chi Viên », từ đó giới nghệ sĩ đặt tên cho xóm Nancy nầy là xóm Lan Chi.
(19) : Xem chú thích 5.
(20) : Theo bài viết « Nhớ bác Đông Hồ », tác giả Lê Văn Siêu, đăng trên tạp chí Văn số 145, tưởng niệm Đông Hồ, năm 1970.
(21) : Theo nhà báo Hà Đình Nguyên, năm 2003, Mộng Tuyết có kể lại : « Sau khi mãn tang vợ, Đông Hồ tục huyền với chị Năm của tôi tên là Thái Nhàn Liên (nên tôi còn có bút danh Thất Tiểu Muội). Anh chị sinh được một cháu gái tên là Lâm Mỹ Diễm (tức Yiễm Yiễm). Chị năm tôi bị bệnh qua đời năm 1946… Sau đó là một khoảng thời gian dài tôi vừa là học trò, vừa là bạn thơ, vừa là “bảo mẫu” cho 2 đứa con của Đông Hồ. Mãi tới những năm đầu thập niên 1950, khi chúng tôi chuyển lên Sài gòn (anh ấy làm Giám độc Tập san Nhân Loại, còn tôi trông coi Yiễm Yiễm thư trang) chúng tôi mới chính thức trở thành… bạn đời của nhau ».
(22) : Theo bài viết « Giờ học cuối cùng với thầy Đông Hồ », tác giả Trần Đình Lập (8.4.1969), trong tạp chí Văn số 145 tưởng niệm Đông Hồ, 1970.
(23) : Theo bài viết « Thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ K. E. Kripalani tiếp xúc với thi sĩ Đông Hồ để hỏi về kỷ niệm thi hào R. Tagore », Bách Khoa số 56 và 57, năm 1959.
(24) : Theo bài viết « Nhớ bác Đông Hồ », tác giả Lê Văn Siêu, đăng trên tạp chí Văn số 145, tưởng niệm Đông Hồ, năm 1970 và theo bài viết « Nhớ Đông Hồ tiên sinh », tác giả Nguyễn Văn Hầu, đăng trên tạp chí bách Khoa, số 343, năm 1971.
(25) : Hãy phân biệt hai tên gọi Yiễm Yiễm Thư Trang và Yiễm Yiễm Thư Quán, cả hai cơ sở đều thuộc sở hữu của Đông Hồ (và Mộng Tuyết) :
*/ Yiễm Yiễm Thư Trang ở địa chỉ 113-115 đường Kitchener (sau đó đổi tên là Nguyễn Thái Học, Sài Gòn, là nơi đặt văn phòng quản lý và là trụ sở trực tiếp của Nhà xuất bản Bốn Phương, là nơi lưu trữ sách vở gốc quý hiếm, và bán sách vở, cũng là nơi gia đình Đông Hồ ở phía nhà sau và nơi gặp gở giới văn học nghệ thuật đàm đạo văn chương.
*/ Yiễm Yiễm Thư Quán ở địa chỉ 72 đường Trần Văn Thạch, Tân Định, là nơi cửa hàng bán lẽ và đại lý phân phối sách, nơi giới bình dân, học sinh, sinh viên đến tìm mua sách thuận tiện.
(26) : Theo bài viết « Ngày Tết, nhớ về thầy Đông Hồ », tác giả Nguyễn Kiến Thiết, (2023), một môn sinh cũ theo học chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm với Đông Hồ.
(27) : Theo bài viết « Tôi đã biết gì về Nhất Linh » , Đông Hồ, Bách Khoa số 180, năm 1964.
(28) : “Chiến sĩ tử ư sa trường; học giả tử ư giảng tọa”, đây là câu nói của Lương Khải Siêu (1873 – 1929), nhà tư tưởng Trung Hoa. Ý ca ngợi lý tưởng sống và cống hiến hết mình cho bổn phận, nơi người chiến sĩ hy sinh trên chiến trường và người trí thức, nhà giáo tận tụy gắn bó với bục giảng cho đến cuối đời.
Paris, viết xong ngày 02/08/2026, Trần Văn Mãnh.

Chân dung thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác qua các giai đoạn thời gian. Hình sưu tầm.

Thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bộ Quốc phục áo dài khăn đóng cùng quan khách. Nguồn hình: TuanVo.

Thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bộ Quốc phục áo dài khăn đóng cùng nam nữ sinh viên, mừng sinh nhật thầy. Nguồn hình: TuanVo.

Thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bộ Quốc phục áo dài khăn đóng cùng với phu nhân là nữ sĩ Mộng Tuyết, chụp hình với các sinh viên. Nguồn hình: TuanVo.