
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
HAI MƯƠI CHÍN : Không có người thì không có đất nước
Trong một đất nước đổ nát, cả đất đai lẫn con người đều không thể sống trong hòa bình. Dưới mái nhà của một đất nước đổ nát, ngay cả những kẻ phản bội sống trong xa hoa như một phần thưởng cho việc phản bội đất nước mình cũng không thể sống yên ổn.
Đất nước sẽ không thể ngủ yên giấc. Dù còn sống, người dân còn tệ hơn cả chó hoang, và dù núi sông có giữ nguyên vẻ đẹp vốn có, chúng cũng sẽ không còn như xưa.
KIM IL-SUNG
Khi viết những lời đó trong cuốn hồi ký mà ông bắt đầu xuất bản vào năm 1992, Kim Il-sung muốn làm nổi bật những nỗi kinh hoàng của ách cai trị thuộc địa của Nhật Bản với những kỳ tích đạt được trong thời gian ông trị vì gần nửa thế kỷ. Theo ông, sự tàn phá chính mà chủ nghĩa thực dân gây ra là đối với phẩm giá dân tộc. Nhưng vào thời điểm ông qua đời năm 1994, hầu như bất kỳ độc giả nào đọc những lời ông viết đều hiểu rằng sự mô tả khắc nghiệt đó áp dụng, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần dân tộc, cho Triều Tiên mà ông đã tạo ra.
Thực tế, dường như chính Kim Il-sung đã bắt đầu suy ngẫm về một số phương pháp mới để giải quyết những vấn đề to lớn của đất nước mình trong ba năm cuối đời. Yoshimi Tanaka là một trong chín phần tử khủng bố thuộc Hồng quân Nhật Bản đã cướp một chiếc máy bay phản lực khổng lồ của Japan Airlines vào tháng 3 năm 1970 và bay đến Triều Tiên. Tanaka lại phạm tội vào năm 1996. Hắn bị bắt giữ tại biên giới Campuchia-Việt Nam và bị đưa đến Thái Lan để đối mặt với cáo buộc tham gia vào một âm mưu đổi tiền giả mệnh giá 100 đô la, loại tiền giả “Super-K” khó phát hiện do đảng cầm quyền Triều Tiên sản xuất nhằm mục đích thu ngoại tệ. Hắn đã phải ngồi tù gần ba năm rưỡi ở Thái Lan, và sau đó, vào năm 1999, hắn sắp bị dẫn độ về Nhật Bản, nơi hắn có thể phải ngồi tù thêm. Vào thời điểm đó, hắn đã nói chuyện với một phóng viên của tuần báo Gendai của Nhật Bản, cho biết: “Giờ đây tôi nhớ lại cuộc sống của mình ở Bình Nhưỡng với một trái tim ấm áp.” Tanaka kể rằng hắn đã sống giữa khung cảnh xanh tươi trong một khu vực yên tĩnh ở Bình Nhưỡng, dọc theo sông Taedong. Khoảng 20 lao động Triều Tiên đã được nhà nước cử đến phụ giúp việc nhà cho các thành viên Hồng quân Nhật Bản và một số du kích Ecuador sống cạnh đó. Những người giúp việc “ở đó trông coi việc nước nôi và lò hơi, vận chuyển than và khí propan, đảm bảo nguồn cung thực phẩm và nhu yếu phẩm hàng ngày, và sửa chữa xe Mercedes Benz của chúng tôi.”
Người phỏng vấn đã nắm lấy cơ hội để đưa ra nhận xét: “Ông dường như đã được hưởng một mức sống cao hơn so với người dân bình thường.” Tanaka thừa nhận rằng một số người đã đả kích “cuộc sống trong cung điện” của bọn khủng bố. Nhưng bản thân hắn không có gì phàn nàn về điều đó. “Tôi nghĩ rằng chủ tịch” – Kim Il-sung – “chỉ đơn giản là muốn đối xử với chúng tôi như người nước ngoài.” Tại thời điểm đó, Tanaka thừa nhận rằng, sống trong một khu dân cư giàu có, giống như trong một cái kén, tách biệt với phần lớn người dân Triều Tiên, hắn “không biết cuộc sống bình thường trong nước cộng hoà này như thế nào. Vì vậy, tôi không thể nói liệu mình có sống một cuộc sống xa hoa hay không.” Hắn nói thêm, “Về vấn đề nạn đói, tôi thực sự không biết gì về nó.” Những bình luận của Tanaka nghe có vẻ quen thuộc. Có bằng chứng cho thấy cuộc sống biệt lập của Kim Il-sung trong những cung điện thực sự còn xa hoa hơn nhiều – kết hợp với nỗ lực của thuộc hạ chỉ báo cáo những tin tốt lành và cho ông tiếp xúc với những ngôi làng Potemkin tràn ngập sự thịnh vượng giả tạo – nhằm khiến Lãnh tụ Vĩ đại không nhận thức hết mức độ nghiêm trọng của hoàn cảnh khốn cùng của người dân mình.
Tuy nhiên, có những bằng chứng khác cho thấy ngay cả trong một số trường hợp khi Kim biết chuyện gì đang thực sự xảy ra, ông ta vẫn đang tận hưởng cuộc sống với tư cách là Lãnh tụ Vĩ đại đến mức không buồn vướng phiền phức để giải quyết những vấn đề tầm thường như vậy. Cựu trưởng ban tư tưởng Hwang Jang-yop kể về “một sự việc xảy ra vào thời điểm nguồn cung cấp điện rất kém, dẫn đến tình trạng mất điện thường xuyên ngay cả ở Bình Nhưỡng.” Hwang không nêu rõ ngày tháng của sự việc, nhưng tình trạng mất điện ở Bình Nhưỡng đã được ghi nhận từ những năm 1980. “Trong một cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Kim Il-sung chủ trì, ông đã yêu cầu Bộ trưởng Bộ Điện lực giải trình về sự bất tiện mà ông gặp phải gần đây khi xem phim do lưới điện sụt áp. Vị bộ trưởng tận tâm đứng lên trả lời: ‘Hiện nay không đủ điện để đáp ứng nhu cầu của các nhà máy. Do tải trọng truyền tải đến các nhà máy quá lớn, điện áp cung cấp cho Bình Nhưỡng có xu hướng giảm.’ Kim Il-sung đáp lại rằng vậy tại sao đồng chí không thể điều chỉnh nguồn cung cấp điện cho các nhà máy và phân bổ nhiều hơn cho Bình Nhưỡng?” Khi vị Bộ trưởng giải thích, “Điều đó sẽ khiến nhiều nhà máy phải ngừng hoạt động,” Kim Il-sung đã ngắt lời ông ta và ra lệnh, “Ta không quan tâm nếu tất cả các nhà máy trong nước đều ngừng sản xuất. Chỉ cần cung cấp đủ điện cho Bình Nhưỡng là được.” Có lẽ không cần thiết phải lựa chọn giữa hình ảnh một Kim không biết gì và bức chân dung khắc nghiệt của Hwang về một Kim biết rõ nhưng thờ ơ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi đôi lúc ông ta cư xử giống như một bạo chúa thực thụ. Quyền lực tuyệt đối, xét cho cùng, sẽ tha hóa tuyệt đối. Nhưng dường như kiến thức của ông ta thực sự không hoàn hảo trong một thời gian khá dài cho đến đầu những năm 1990.
Các chính khách cận kề cái chết – ngay cả những bạo chúa tàn ác nhất – đều hướng đến tiếng tăm, vị thế của mình trong lịch sử. Kim Il-sung cũng không ngoại lệ. “Cũng như trước đây, ngày nay tôi vẫn cảm thấy niềm tự hào và hạnh phúc lớn lao nhất khi được hưởng tình yêu thương của nhân dân,” ông viết trong hồi ký. “Tôi coi đây là ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Chỉ những người hiểu được ý nghĩa thực sự này mới có thể là người con đích thực và tôi tớ trung thành của nhân dân.”
Kim viết – như thể những dòng viết ra này có thể biến thành sự thật – rằng ông sẽ để lại một “cuộc cách mạng đang tiến triển thắng lợi và đất nước chúng ta thịnh vượng, được tất cả mọi người ca ngợi nó.” Quả thực, người dân không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ca ngợi cuộc cách mạng và Kim. Nhưng tình hình đã đến mức không ai có thể phớt lờ bằng chứng rõ ràng rằng đất nước đang ngày càng chìm sâu vào bần cùng và đói kém.
Tình hình kinh tế chỉ ngày càng xấu đi vào đầu những năm 1990. Việc phân phối lương thực ngày càng trở nên bất thường, với số lượng nhỏ hơn các loại ngũ cốc kém chất lượng như kê được thay thế cho khẩu phần gạo thông thường. Người dân sống sót bằng cách sử dụng tiền tiết kiệm của mình để mua ngũ cốc từ khu vực tư nhân – đặc biệt là thị trường chợ đen buôn bán ngũ cốc được giữ lại bất hợp pháp từ các vụ thu hoạch nông trường tập thể. (Hình thức tham nhũng này đã lan rộng vào giữa những năm 1980.) Thịt bò, loại thịt được ưa chuộng ở Triều Tiên, đã trở thành món ăn hiếm hoi chỉ được ăn một lần một năm đối với hầu hết người dân Triều Tiên. Hơn 50% các nhà máy sản xuất đã phải ngừng hoạt động do thiếu hụt nguyên liệu, và những công nhân đến làm việc cũng chẳng có việc gì làm ngoài việc dọn dẹp các cơ sở. Ngay cả những nhà máy mới xây dựng vào cuối những năm 1980 cũng không hoạt động. Một lực lượng lao động chủ yếu là quân đội đã xây dựng một khu phức hợp nhà máy khổng lồ ở Sunchon để sản xuất vải tổng hợp vinalon; lễ khánh thành diễn ra vào năm 1991, nhưng nhà máy không thể đi vào sản xuất. Cung cấp quần áo cho người dân từng là một trong những niềm tự hào của chế độ Kim Il-sung, nhưng giờ đây quần áo của người dân ngày càng trở nên tồi tàn.
Lời rầm rì ắt hẳn đã đến tai một số không ít người Triều Tiên, từ người thân và những người đã đi du lịch hoặc sinh sống ở nước ngoài, cho họ biết rằng cuộc sống ở Hàn Quốc và phương Tây – thậm chí cả ở Trung Quốc – đều phong phú hơn. Nếu bị bắt quả tang nói như vậy, họ sẽ phải ngồi tù một tháng trong trại cải tạo. Nền kinh tế khó có thể cải thiện nếu canh bạc hạt nhân của chế độ khiến bất kỳ ai cân nhắc đầu tư đáng kể từ bên ngoài đều chùn bước. Không nghi ngờ gì nữa, chính quyền đã phải nỗ lực vá víu ngay cả những lỗ hổng nhỏ nhất trong bức màn thông tin dày đặc mà họ bịt kín với thế giới bên ngoài. Các báo cáo cho biết có một cuộc đàn áp ngay cả với việc liên lạc với người Trung Quốc.
Nếu không có sự nhận thức ngày càng tăng về sự chia rẽ lợi ích giữa cặp đôi cha con cầm quyền và các phe cánh khác ở Triều Tiên thì cần gì đến những chiến dịch đoàn kết và biểu tình rầm rộ tuyên thệ trung thành với Kim Jong-il? Đặc biệt, giờ đây chúng ta biết rằng, một số người trong giới tinh hoa – cả dân sự và quân sự – mong muốn được phép cải cách hệ thống đủ để bảo toàn vị thế của họ. Điều đó không có nghĩa là đã có những phe phái hoàn toàn phát triển ở những vị trí cao cấp trong Triều Tiên. Các phe phái không thể phát triển mạnh vì thiếu những người lãnh đạo mạnh mẽ chưa bị thanh trừng. Tuy nhiên, một số thành viên có ảnh hưởng trong giới tinh hoa sở hữu kỹ năng sinh tồn và dễ thích nghi với sự thay đổi hơn một số đồng nghiệp khác, và họ đã tham gia vào các cuộc đấu tranh quyền lực.
Những gì đã diễn ra trong thời kỳ “thay đổi” dưới triều đại nhà Kim chỉ khiến những người như vậy thất vọng: Vào những năm 1970, Triều Tiên bắt đầu tụt hậu so với Hàn Quốc, nhưng lại khước từ những thay đổi lớn. Vào những năm 1980, nền kinh tế vẫn trì trệ và hệ tư tưởng về chủ nghĩa bình đẳng và vị tha bắt đầu trở nên sáo rỗng đối với người Triều Tiên. Cải cách từng là khẩu hiệu ở các nước cộng sản khác, nhưng Bình Nhưỡng đã tăng cường gắn kết với hệ tư tưởng cứng rắn của mình. Giờ là những năm 1990 và chủ nghĩa cộng sản châu Âu đã sụp đổ, trong khi ở Triều Tiên, mùi vị thất bại đã trở nên gần như không thể chịu nổi.
Kinh nghiệm cho thấy việc thay đổi ở Triều Tiên khó khăn đến mức nào khi nhà Kim còn nắm quyền. Kim Il-sung, tuổi thọ cao, sự gắn bó với hệ thống và những lời dối trá mà ông dùng để xây dựng nên sự sùng bái cá nhân dường như cản trở ngay cả những cải cách theo kiểu Trung Quốc. Chế độ lo sợ rằng việc cải cách hệ thống sẽ đồng nghĩa với việc chỉ trích Kim Il-sung. Mở cửa đất nước cho các ý tưởng và thông tin nước ngoài sẽ chấp nhận những quan điểm chỉ trích Kim Il-sung. Nhưng rõ ràng, không thể để cho Lãnh tụ Vĩ đại bị coi là kẻ nói dối hoặc dung túng cho những lời dối trá, đối xử tàn bạo với thần dân hoặc phạm sai lầm. Do đó, chế độ coi việc mở cửa và cải cách căn bản là điều không thể. Bị giới hạn ở những biện pháp nửa vời, tầng lớp cầm quyền đã bất lực trong việc thực hiện những bước đi nghiêm túc mà nhiều người tin là cần thiết để kéo dài thời gian cầm quyền – ví dụ như các nhà cải cách kinh tế Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình đã có thể kéo dài thời gian cầm quyền của Đảng Cộng sản. Với Kim Il-sung và con trai nắm giữ vị thế hoàng gia vĩnh viễn, những cấp dưới dễ bị thay thế hơn của họ trong bộ máy quan liêu cảm thấy áp lực từ trên xuống phải hoàn thành nhiệm vụ – hoặc, nếu không, phải tìm người khác để đổ lỗi cho những thất bại của hệ thống.
Nếu như từng có một lối thoát khả thi nào ra khỏi cơn phiền toái lịch sử cho Kim Il-sung kể từ khi hệ thống của ông ta rõ ràng đang thua cuộc đua, có lẽ là cách ông tự tái tạo bản thân. Liệu ông ta có thể tạo dựng lại hình ảnh của mình thông qua các chiến thuật tích cực như thay thế sự thật bằng những lời dối trá, hay thông qua các chiến thuật phá hoại như đổ lỗi cho cấp dưới và các cố vấn tồi tệ về những sai lầm trong hệ thống của mình? Nếu ông ta có thể làm được điều đó, thì có lẽ, chỉ có lẽ thôi, ông ta có thể cho phép các chuyên gia kỹ thuật của mình tiến hành một cuộc cải cách kinh tế kiểu Trung Quốc – trong khi vẫn giữ nguyên hệ thống chính trị và lãnh đạo tương đối như hiện tại. Thế thì như Mao Trạch Đông, ông ta có thể giữ vững vị trí của mình trong lịch sử như một nhân vật yêu nước vĩ đại và là cha đẻ của nền cộng hòa. Bằng chứng cho thấy điều gì đó tương tự đã thực sự xảy ra với Kim và ông đã bắt đầu đi theo hướng đó.
Hồi ký của Kim là một dấu hiệu cho thấy quá trình thay đổi hình ảnh đang diễn ra. Hai tập đầu tiên, bao gồm giai đoạn từ khi ông sinh năm 1912 đến đầu năm 1933, gần 21 năm, đã được bày bán tại Bình Nhưỡng trong lễ kỷ niệm sinh nhật của ông năm 1992. Những tác phẩm đó hóa ra chỉ là việc xét lại một phần, chứa đựng một số nỗ lực nhằm tách Kim khỏi những lời bịa đặt, tô điểm và dối trá trước đó, cả bằng hành động và sự che giấu, cũng như khỏi một số khía cạnh bị lên án rộng rãi nhất trong hệ thống của ông.
Một ví dụ về việc tự tách mình khỏi những lời dối trá cũ: Kim từng là một anh hùng đích thực của cuộc đấu tranh chống Nhật Bản những năm 1930 – nhưng chỉ là một trong số nhiều anh hùng. Tuy nhiên, để biện minh cho sự sùng bái cá nhân, ông ta phải vượt trội hơn hẳn những người khác. Vì vinh quang lớn hơn của mình, Bình Nhưỡng trong nhiều thập kỷ đã hạ thấp hoặc xóa bỏ vai trò của những người khác tham gia vào cuộc đấu tranh – không chỉ người Triều Tiên đồng hương mà còn cả người Trung Quốc và các điệp viên của Liên Xô. Tuy nhiên, giờ đây trong hồi ký mới, Kim thừa nhận rằng ông từng là cán bộ trong một tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc và đã chiến đấu trong một “cuộc đấu tranh chung” với lực lượng Trung Quốc. Ông nhắc đến tên nhiều đồng chí trước đây bị bỏ qua, bao gồm các lãnh đạo du kích Triều Tiên và Trung Quốc. Và ông tiết lộ rằng mình đã chấp nhận sự bổ nhiệm từ các đại diện của Quốc tế Cộng sản Moscow làm người tổ chức thanh niên ở Đông Mãn Châu Tỉnh Cát Lâm năm 1930.
Bên cạnh những nỗ lực khiêm tốn nhằm đáp trả những thách thức từ bên ngoài liên quan đến hồ sơ lịch sử của mình, Kim còn cố gắng bóp méo hồ sơ đó hơn nữa. Trong hình ảnh mới được tiết lộ trong hồi ký, ông ta đột nhiên xuất hiện như một người cả đời chống đối sự phân biệt đối xử vì nền tảng giai cấp hoặc tư tưởng. Khó có thể không khỏi nghi ngờ rằng việc Kim tự khắc họa mình là hiện thân của lòng khoan dung được thiết kế để đổ lỗi cho chế độ cảnh sát trị của ông ta. Một số tuyên bố của ông ta bày tỏ quan điểm ủng hộ sự khoan dung có thể được lý giải gần như là lời khẩn cầu các thế hệ sau của Triều Tiên hãy tôn vinh ông và các chiến sĩ du kích chống Nhật của ông, và đối xử tốt với con cháu của họ, ngay cả khi hệ thống cộng sản nên bị vứt vào đống rác của lịch sử. Vì vậy, ông phàn nàn rằng, sau khi giải phóng, một số người cộng sản đã bác bỏ những người có hệ tư tưởng khác, bao gồm cả những chiến sĩ độc lập dân tộc chủ nghĩa không phải cộng sản. Kim nói rằng ông đã khiển trách những kẻ “thiếu suy nghĩ” như vậy:
“Ngay cả khi chúng ta nắm quyền, những người cộng sản chúng ta cũng không được phép quên trân trọng những bậc tiền bối yêu nước. Tư tưởng khác nhau tùy từng thời đại; vậy tại sao các ông lại xa lánh, đề phòng và tránh né họ? Phải chăng họ có tội vì đã liều mạng chiến đấu vì độc lập của Triều Tiên trong khi những người khác đang sống hạnh phúc bên gia đình trong những ngôi nhà ấm áp, ăn cơm nóng hổi?”
Ngoài nỗ lực PR thuần túy mà cuốn hồi ký của ông thể hiện, còn có bằng chứng cho thấy Kim cũng kết luận rằng ông có thể mạo hiểm – và di sản của ông có thể được hưởng lợi từ – một số thay đổi chính sách quan trọng. Xét cho cùng, sự kiểm soát của chế độ quá chặt chẽ đến nỗi hầu như không ai nghĩ rằng nó sẽ sụp đổ khi Kim Il-sung còn sống. Hầu hết các học giả nước ngoài và Hàn Quốc đều loại trừ kịch bản Ceaucescu đối với Kim. Một phần do bị tẩy não nhưng cũng vì ông được coi là một anh hùng dân tộc thực sự, lòng trung thành cá nhân của thần dân đối với Lãnh tụ Vĩ đại Đáng kính và Yêu quý của họ vẫn “quá lớn đến nỗi họ không thể giết ông như giết một con lợn”, một giáo sư người Mỹ nhận xét. Thật vậy, vì họ yêu mến Kim Il-sung đến nỗi dường như ông ấy có thể nói với họ rằng ông khẳng định thế giới chưa sẵn sàng cho phiên bản chủ nghĩa xã hội cao cả của Triều Tiên. (Hãy nhớ rằng chính Richard Nixon, một người cuồng tín chống cộng và lâu năm chỉ trích Trung Quốc, đã thiết lập quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đại lục.) Chẳng lẽ người Triều Tiên không chấp nhận với lòng biết ơn bất cứ hệ thống tạm thời nào mà Kim Il-sung đề xuất, dù chưa hoàn hảo?
Cuối cùng, dù không đề xuất một hệ thống mới, ông vẫn tìm cách thay đổi trọng tâm trong hệ thống cũ. Theo người đào thoát Kang Myong-do, sự kiện dẫn đến việc Kim nỗ lực thay đổi chính sách muộn màng xảy ra vào tháng 4 năm 1992 – thật trùng hợp, cũng là tháng tôi ở trong nước dự hội nghị sông Tumen. “Mỗi buổi sáng khi Kim Il-sung tỉnh dậy, ông ta thích nhìn vào đường chân trời của Bình Nhưỡng để ngắm nhìn những ống khói của nhà máy năng lượng,” Kang nói với các phóng viên báo JoongAng Ilbo của Seoul. “Trong tháng 4 năm 1992, Kim Il-sung đã thực sự tức giận vì chỉ còn hai ống còn phun khói. Lý do, sau khi ông cho người thanh tra, là các mỏ ở Anju không cung cấp đủ than. Vì vậy, Kim Il-sung thực sự tò mò. Các báo cáo cho thấy sản lượng vượt kế hoạch 120%. Kim bí mật cử người đến các mỏ và phát hiện ra rằng các thợ mỏ không có gì để ăn. “Chúng tôi làm sao có thể làm việc được?” họ hỏi. Theo quy định, mỗi ngày họ được nhận 1.100 gram gạo, 200 gram thịt, 100 gram dầu ngô. Nhưng trong một tuần nay, họ chỉ ăn canh nêm muối. Điều này cho thấy Kim Il-sung biết rất ít. Đó là lần đầu tiên ông nhận ra người dân không được nhận đủ khẩu phần. Ông đã rất ngạc nhiên.”
Kim theo đuổi vấn đề và nhận được một báo cáo chính xác về điều kiện sống vô cùng khắc nghiệt ở tỉnh Bắc Hamgyong miền núi, giáp biên giới Trung Quốc và Nga ở phía đông bắc đất nước. Trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế của Triều Tiên, Bắc Hamgyong chịu nhiều thiệt hại hơn hầu hết các tỉnh khác. (Tôi ngờ rằng cuộc điều tra dân số dân tị nạn tuyệt vọng đến mức phải chạy trốn sang Trung Quốc sẽ cho thấy phần lớn trong số họ đến từ Bắc Hamgyong.) Kang Myong-do nói với một người phỏng vấn rằng cha vợ ông, Kang Song-san, khi đó là thống đốc của tỉnh đó, đã thẳng thắn với chủ tịch. Bị sốc phải hành động, Kim lúc đó gần như nghỉ hưu, lại lao vào các vấn đề trong nước, tác giả Don Oberdorfer kể lại. Kang Song-san, người từng giữ chức thủ tướng trước đó, được bổ nhiệm lại vào vị trí tương tự trong năm đó. Các cuộc họp về chính sách kinh tế năm sau đã dẫn đến một sự thừa nhận đầy kịch tính vào cuối năm 1993 rằng đất nước đang gặp khó khăn về kinh tế. Chính quyền sẽ chuyển sang các chính sách mới, giảm bớt tầm quan trọng của công nghiệp nặng để ưu tiên các hoạt động trực tiếp cải thiện đời sống người dân.
Trong khi đó, cuộc đối đầu với Hoa Kỳ vẫn tiếp diễn. Kim Jong-il bận rộn củng cố vị thế của mình trong quân đội – thường là bằng cách hy sinh nền kinh tế dân sự. Cuối cùng, Kim Dal-hyon, có lẽ là nhà cải cách triển vọng nhất của chính phủ, đã vướng vào vòng xoáy quyền lực của quân đội. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, điều đó có nghĩa là ông ta phải ra đi. “Ngay cả trong đảng cũng có mâu thuẫn,” Kang Myong-do nói. “Họ không có một định hướng cụ thể nào cho việc mở cửa và cải cách.” Điều đó đã tạo tiền đề cho cuộc xung đột, một cuộc xung đột cá nhân giữa Kim Guk-tae và Kim Dal-hyun. Kim Guk-tae, một nhà cách mạng thế hệ thứ hai, con trai cả của tướng Kim Chaek, một chiến sĩ du kích và tướng lĩnh tử trận trong Chiến tranh Triều Tiên, và là cựu sinh viên của Trường Cách mạng Mangyongdae, được cho từng là cấp trên của Kim Jong-il khi người con trai này mới bắt đầu sự nghiệp. (Xem chương 13.) Kang mô tả ông ta “không thông minh lắm – ông ta không biết ‘khai mạc’ nghĩa là gì.” Kim Dal-hyun cũng là một nhà cách mạng thế hệ thứ hai, Kang mô tả ông là cháu rể của Kim Il-sung. “Ông ấy rất thông minh,” Kang nói. “Ông ấy là một nhân vật quyền lực và dũng cảm.”
Theo lời kể của Kang, mâu thuẫn giữa hai người bắt đầu vào năm 1992 khi chính quyền đang lựa chọn chủ tịch Ủy ban Kinh tế Đối ngoại. “Kim Dal-hyon từng là chủ tịch. Sau khi được thăng chức, ông muốn Yi Song-dae kế nhiệm. Yi là phó trưởng phòng thương mại của chính phủ. Kim Guk-tae muốn Choe Jong-keun. Kim Guk-tae là bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng phụ trách nhân sự.”
Kang kể rằng, vào tháng 12 năm 1992, có một cuộc họp của Hội đồng Nhân dân Tối cao. “Trong giờ giải lao, Kim Jong-il gọi Kim Dal-hyon ra nói chuyện riêng và bảo ông ấy: ‘Chúng ta đã quyết định chọn Choe rồi.’ Mặt Kim Dal-hyon nhăn lại và ông ấy nói rằng nếu Choe trở thành chủ tịch tiếp theo, ông ấy sẽ từ chức phó thủ tướng. Kim Jong-il hỏi ông ấy muốn ai. ‘Yi Song-dae,’ Kim Dal-hyon trả lời. Kim Jong-il không biết ông ta, nhưng vì Kim Dal-hyon kiên quyết như vậy nên ông ấy đã đồng ý bổ nhiệm Yi. Khi họ trở lại hội nghị, Choe rất ngạc nhiên khi biết mình đã mất vị thế đó.”
Vào thời điểm đó, “Kim Guk-tae bắt đầu tìm cách lật đổ Kim Dal-hyon.” Chiến lược của ông ta là cho thấy đối thủ của mình là người phản đối chính sách ưu tiên quân sự. Kim Dal-hyon, khi đang giữ chức thủ tướng lâm thời, “muốn cứu vãn nền kinh tế Triều Tiên, vì vậy ông ta đã chuyển hướng 30% năng lượng lẽ ra dành cho các nhà máy sản xuất thiết bị quân sự sang ngành khai thác mỏ,” Kang nói. “Ông ta có quan hệ không tốt với Kim Chol-man và Chon Byon-ho, các quan chức cấp cao phụ trách vũ khí. Họ đã tham gia vào một cuộc tranh giành quyền lực.
Mọi chuyện trở nên phức tạp hơn do bản thân họ không ưa nhau. Trong một cuộc họp, Kim Jong-il hỏi tại sao không có sự đổi mới nào trong lĩnh vực vũ khí. Họ trả lời: “Vì Kim Dal-hyon đã nắm quyền kiểm soát nguồn cung cấp năng lượng của chúng tôi.” Kim Jong-il rất thông minh. Ông ấy biết mọi việc vận hành như thế nào, biết những gì đang xảy ra trên thế giới. Nhưng ông ấy rất hấp tấp. Nếu ai đó dưới quyền ông ấy phạm sai lầm, ông ấy sẽ vội vàng quyết định loại bỏ người đó. Ông ấy cũng không thích bất cứ ai có quá nhiều quyền lực. Ông ấy sẽ loại bỏ người như vậy.” Kim Dal-hyon bị giáng chức, trở thành quản lý của một nhà máy sản xuất vải tổng hợp. Việc ông vắng mặt ở Bình Nhưỡng có lẽ đã làm chậm lại động lực thay đổi. “Kim Dal-hyon ủng hộ sự cởi mở,” Kang nói. “Có những người thông minh trong giới tinh hoa, nhưng không ai can đảm như Kim Dal-hyon. Khi ở nước ngoài, ông ấy thậm chí còn đủ táo bạo để nói những điều trái ngược với quan điểm của Kim Jong-il.”
Ở mức độ nào đó, nếu Kim Jong-il có quan tâm đến cải cách kinh tế trong giai đoạn đó, thì dường như sự quan tâm đó chỉ thoáng qua, không sâu sắc và phần lớn bị lấn át bởi những khuynh hướng bảo thủ và quyết tâm củng cố sự ủng hộ của quân đội đối với việc ông kế vị. Vào tháng 3 năm 1993, có lẽ để củng cố tuyên bố của mình về việc là người đứng đầu hệ tư tưởng của cha, ông đã cảnh báo trong một luận văn dài 22 trang chống lại quyền sở hữu tư nhân và các “lạm dụng chủ nghĩa xã hội” khác. Ông đổ lỗi cho những điều đó là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của các hệ thống xã hội chủ nghĩa ở nước ngoài. Ngay cả vào thời điểm muộn như vậy, rõ ràng ông vẫn chưa sẵn sàng thực hiện những thay đổi lớn trong hệ thống.
Có ít lý do để tin rằng ngay cả nhiệt tình mới mẻ của Kim cha đối với việc thay đổi vượt quá lĩnh vực thực phẩm, hàng tiêu dùng phát triển nhiều hơn, công nghiệp nặng phát triển ít hơn. Nhưng có tin đồn rằng sự bất đồng giữa cha con đã góp phần dẫn đến cái chết của người cha.
Tôi đã nói chuyện với Oh Young-nam, một cựu đại úy thuộc Cơ quan An ninh Nhà nước, người đã đào thoát sang Hàn Quốc. Nhà của gia đình anh ở Bình Nhưỡng nằm đối diện với trung tâm giao lưu của giới thượng lưu, khách sạn Koryo, một vị trí cho thấy tầm ảnh hưởng đáng kể của gia đình anh. Anh đề cập, không gọi tên, một thân nhân có quyền lực, đã chết. (Tôi đã nghe nói một người thân của Thống chế O Jin-u đã đào thoát, nhưng Oh Young-nam từ chối trả lời khi tôi hỏi liệu anh có liên hệ hay không.) Oh Young-nam đã kể cho tôi nghe về những ngày cuối đời của Kim, anh nói rằng câu chuyện được chắp vá từ những gì anh nghe được từ các thành viên khác trong giới thượng lưu – đặc biệt là con trai và con gái của các quan chức cấp cao, những người mà anh đã nêu tên cho tôi.
“Kim Jong-il càng nắm quyền, Kim Il-sung càng hối tiếc,” Oh nói. “Kim Jong-il rất độc đoán. Ông ta chia lực lượng cận vệ thành hai đội riêng biệt. Đội Một dành cho Kim Il-sung và Đội Hai dành cho Kim Il-sung. Đó là mối đe dọa; Kim Il-sung đã rất ân hận. Nhưng khi gặp Jimmy Carter, ông ta vô cùng vui mừng. Ông ta tin rằng Triều Tiên sẽ thống nhất theo [kế hoạch liên bang cho phép] hai chế độ. Ông ta nói với Lee Yong-u, người đứng đầu ngành vận tải và cựu lãnh đạo cơ quan giám sát, rằng họ nên nối lại tuyến đường sắt Bắc-Nam ở Bình Nhưỡng để ông ta có thể tiến hành đàm phán.
“Kim Il-sung đang ở núi Myohyang còn Kim Jong-il thì ở hồ Samjiyon, một khu nghỉ dưỡng dành cho những người có địa vị cao như Lee Jong-ok, Pak Song-chol và Choe Gwang. Kim Il-sung rất vui mừng về việc thống nhất đất nước. Trong các cuộc họp với các bộ trưởng, ông nói rằng sẽ giảm bớt tầm quan trọng của quốc phòng và tập trung vào việc cải thiện đời sống của dân thường. Ông ra lệnh cung cấp thêm điện cho người dân. Nhưng [trong một cuộc họp] ông đã có cuộc điện thoại với Kim Jong-il, và người con nói: “Bố hãy nghỉ ngơi, tận hưởng tuổi già của mình. Chúng tôi sẽ lo liệu.” Kim Il-sung thực sự tức giận. Ông không thể tiếp tục cuộc họp. Ông trở về văn phòng và bảo với Chong Il-shim, nữ nhân viên giúp ông ấy viết hồi ký: “Lúc này tôi rất tức giận. Tôi muốn nâng cao mức sống người dân. Với các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ, tôi hy vọng viện trợ sẽ được chuyển đến Bắc Hamgyong.” Ông ấy quá tức tối. Ông ấy yêu cầu thư ký trưởng của mình rời đi một giờ.
“Sau hai giờ, thư ký trưởng bước vào văn phòng. Kim Il-sung đã ngã khỏi giường, úp mặt xuống sàn. Thư ký trưởng đỡ ông dậy, lấy đờm ra khỏi miệng và gọi bác sĩ trưởng. Nhưng Kim Jong-il đã loại bỏ vị bác sĩ đó, nói rằng ông ta quá già rồi. Chỉ có một bác sĩ trẻ ở đó. Họ đã bố trí hai trực thăng đến, nhưng chiếc chở thiết bị cấp cứu đã bị rơi. Đội ngũ y tế không thể cứu được Kim Il-sung và ông ấy đã qua đời. Khi Kim Jong-il nghe tin, ông ta nói: “Đừng tiết lộ chuyện này cho bất cứ ai khác. Hạn chế hoạt động của Lực lượng An ninh Nhà nước, Lực lượng An ninh Công cộng và Quân đội Nhân dân.” [Ở đây Oh đã nêu tên nguồn tin của mình về chi tiết này, nhưng tôi chọn cách bỏ qua những cái tên đó.] Vì Kim Il-sung chết theo cách như vậy, thư ký trưởng của ông ta, người mà tôi không nhớ tên, đã tự bắn vào đầu.
“Truyền thông đã cho thấy người dân Băc Triều Tiên khóc than trước tượng Kim Il-sung. Việc đó chỉ kéo dài ba ngày. Kim Jong-il kinh ngạc khi người dân chỉ khóc có ba ngày. Kim Il-sung đã nắm quyền quá lâu. Kim Jong-il nhận ra rằng ông sẽ là người lãnh đạo và người dân sẽ tôn thờ ông. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi ông suy yếu? Vì vậy, ông đã ra lệnh cho mỗi tổ chức cử một số lượng người nhất định đến khóc trước tượng Kim Il-sung mỗi ngày. Họ không được phép uống rượu trong thời gian tang lễ. Tất cả những người có mặt trong dinh thự trên núi Myohyang khi Kim Il-sung qua đời đều bị soi mói kỹ lưỡng. Những người có mặt bao gồm Kang Jong-hyon, chắt của mẹ Kim Il-sung; Kang Jong-ho, thuộc gia tộc Kang; con trai của Choe Jung-nam, người đứng đầu văn phòng thương mại Triều Tiên tại Quảng Châu. Tất cả con trai và con gái quan trọng đều cho rằng Kim Jong-il có lỗi. Vào ngày thi hài Kim Il-sung được chuyển từ núi Myohyang, tất cả binh lính đều bị cấm trại hoặc bị triệu hồi. Họ không muốn có bất kỳ việc chuyển quân nào. Ngày hôm sau, O Jin-u đến phủ chủ tịch ở Bình Nhưỡng và thất vọng khi thấy tay nắm cửa bị gỉ sét và bóng đèn chùm bị hỏng. Công tác bảo trì kém. Sao Kim Jong-il lại có thể đối xử với cha mình như vậy?
“Hầu hết những thông tin này đều đến từ con trai và con gái của các quan chức cấp cao. Chuyện này hiện đang được biết đến rộng rãi ở Bình Nhưỡng.”
Ngày 8 tháng 7 năm 1994, Đài phát thanh Bình Nhưỡng đưa ra một thông báo nghiêm trọng: “Trái tim vĩ đại đã ngừng đập.” Kim Il-sung là “một anh hùng dân tộc vĩ đại, người đã giành lại chủ quyền và phẩm giá cho đất nước,” báo Nodong Shinmun viết trong bài xã luận. Kim đã “lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh cách mạng chống Nhật kéo dài 20 năm đầy gian khổ, chấm dứt lịch sử đau thương của dân tộc và mang đến một mùa xuân giải phóng mới cho nhân dân ta. Đây là một chiến công bất diệt đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử dân tộc ta kéo dài 5.000 năm.”
Nhà phân tích người Nhật Katsumi Sato theo dõi danh sách thay đổi của ủy ban tang lễ để tìm manh mối có thể liên quan đến những tin đồn – vốn đã lan rộng – rằng Kim Il-sung đã tranh cãi với con trai mình khi ông qua đời. Thứ tự tên ở Triều Tiên, theo truyền thống, được dùng để chỉ địa vị. Đệ nhất phu nhân Kim Song-ae ban đầu đứng thứ 104 trong ủy ban. Cuối cùng, bà trở thành người thứ 7. Kim Song-ae đã nói chuyện với Carter trong chuyến thăm của ông. Ngoài ra, Sato cho biết, Kim Il-sung đã nói với góa phụ của một cựu thủ tướng Nhật Bản khi bà dừng chân ở Bình Nhưỡng rằng sức khỏe tốt của ông là nhờ con trai Pyong-il của Song-ae: “Gần đây cậu ấy đã giúp đỡ tôi.” Sato cho rằng một cuộc đấu tranh quyền lực thực sự đã diễn ra vào phút cuối. Ông đã xem buổi lễ tang được truyền hình trực tiếp khi Kim Jong-il thì thầm vào tai của Jin-u. O phớt lờ ông ta “như thể ông ta là một đứa trẻ,” Sato nói, đang ngờ vực vị nguyên soái già đang tức giận vì Kim Jong-il đã “gây ra” cái chết cho cha mình.
Cũng như tại đại hội đảng mười bốn năm trước đó, nơi việc kế vị ông được chính thức hóa, Kim Jong-il xuất hiện với vẻ mặt xanh xao và ốm yếu khi tham dự lễ tang được truyền hình trực tiếp. Với khuôn mặt đờ đẫn và vẻ mặt ngơ ngác, ông ta trông như một xác chết. Có thông tin cho rằng ông ta đã nhịn ăn bốn ngày. Vẻ ngoài của ông cũng làm dấy lên nhiều đồn đoán về tình trạng sức khỏe của ông.
Mặc dù một số nhà phân tích nghi ngờ rằng ông ta chỉ đang cố tỏ ra tồi tệ nhất có thể để thể hiện nỗi đau buồn sâu sắc. (Giờ đây chúng ta đã biết về vụ ông ngã vào mùa thu năm trước. Có thể ông ta vẫn còn bị ảnh hưởng từ tai nạn đó.) Trong một cuốn sách xuất bản năm 2003, một người Nhật tuyên bố từng làm đầu bếp cho Kim Jong-il cho biết sau khi cha ông qua đời, Lãnh tụ Kính yêu đã tự nhốt mình trong phòng trong thời gian dài. Một trong những bà vợ của Kim, Ko Yong-hui, đã từng thấy ông ta để một khẩu súng lục bên cạnh và hỏi ông ta đang nghĩ gì, người đầu bếp viết.
Bài xã luận năm mới 1995 đăng trên các tờ báo của đảng, quân đội và Liên đoàn Thanh niên Công nhân Xã hội chủ nghĩa đã gọi Kim Jong-il là “Lãnh đạo vĩ đại của đảng và nhân dân ta”, “Lãnh đạo kính yêu” và “Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng của chúng ta”. Nếu Kim Jong-il từng có ý định làm điều gì đó quyết liệt, thì có lẽ đây là thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, cuối cùng, ông đã đưa cha mình lên làm chủ tịch vĩnh viễn và để quốc tang trong ba năm.
Như Hwang Jang-yop nhớ lại: “Cả nước chìm trong biển nước mắt. Hầu hết những người thương tiếc khóc vì họ đã bị tẩy não bởi sự sùng bái cá nhân Kim Il-sung, nhưng cũng có một thực tế là bất cứ điều gì khác ngoài việc thương tiếc đều không được phép. Đảng đã tiến hành các cuộc khảo sát để xem ai thể hiện sự đau buồn nhiều nhất, và coi đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá lòng trung thành của đảng viên. Những bệnh nhân vẫn ở lại bệnh viện và những kẻ uống rượu và vui chơi ngay cả khi nghe tin lãnh đạo của họ qua đời đều bị chọn ra để trừng phạt.” Tại Viện Khoa học Juche, nơi tôi đang giám sát, Giáo sư Hong Seung-hoon, giám đốc nghiên cứu kinh tế, đã bị giáng chức vì vẫn giữ vẻ mặt bình tĩnh và bận rộn sửa xe đạp. Sự việc này cuối cùng đã ảnh hưởng đến sức khỏe của Tiến sĩ Hong và dẫn đến cái chết của ông.”
Sau khi Kim qua đời, Hwang nói, “đã có một cuộc tranh luận về việc liệu đảng có nên tiếp tục xuất bản hồi ký của ông ấy hay không. Tôi đã kiên quyết bày tỏ quan điểm của mình rằng đảng nên ngừng xuất bản hồi ký. Tôi đã chỉ ra rằng khá nhiều người đã đặt câu hỏi về tính xác thực của những cuốn hồi ký đã được xuất bản cho đến nay vì chúng quá hấp dẫn đến mức khó tin. Vì vậy, nếu hồi ký tiếp tục được xuất bản ngay cả sau khi Kim Il-sung qua đời, người ta sẽ mất niềm tin ngay cả vào những tập đã được xuất bản khi ông còn sống. Tôi cũng có một lý do khác trong đầu. Việc phóng đại sự thật về cuộc đấu tranh du kích trước khi giải phóng là điều chấp nhận được, vì sẽ không ai phản đối điều đó. Nhưng việc phóng đại về thời kỳ hậu giải phóng, một điều mà ai cũng biết, lại là chuyện khác. Tôi e rằng điều đó sẽ gây rắc rối cho quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
“Cuộc chiến tranh du kích của Kim Il-sung được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng cuộc đấu tranh ở Đông Bắc Trung Quốc [Mãn Châu] không phải là một phần quan trọng của cuộc đấu tranh cộng sản trên toàn Trung Quốc. Hơn nữa, cuộc chiến tranh du kích của Kim Il-sung chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đấu tranh ở Đông Bắc Trung Quốc. Vì vậy, người Trung Quốc có thể làm ngơ trước sự phóng đại chiến công của Kim Il-sung từ phía các nhà lãnh đạo Triều Tiên, vì cuộc đấu tranh của ông ta chỉ là một giọt nước trong một xô nước so với những cuộc đấu tranh của Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao. Tuy nhiên, người dân Trung Quốc sẽ phản ứng khác nếu những sự kiện lịch sử bị xuyên tạc xảy ra sau khi giải phóng. Đó là điều tôi lo sợ. Các quan chức quá khích đã phớt lờ lời khuyên của tôi và đệ trình phần tiếp theo của hồi ký Kim Il-sung để Kim Jong-il phê duyệt. Hồi ký vẫn đang được xuất bản, rất lâu sau khi Kim Il-sung qua đời.”
“Bằng việc trao quyền cho con trai mình, Kim Il-sung đã phạm phải một sai lầm to lớn và không thể cứu vãn,” Hwang Jang-yop viết. “Và sai lầm cuối cùng của ông ta là vẫn cố bám víu vào quyền lực mà con trai mình giành được, do đó đánh mất tất cả những gì ông ta từng có. Nếu Kim Il-sung chỉ cai trị đến cuối những năm 1960 và qua đời vào thời điểm đó, ông ta đã đi vào lịch sử như một anh hùng của cuộc đấu tranh vũ trang chống thực dân Nhật Bản và một nhà lãnh đạo tài ba của Triều Tiên. Nhưng bằng cách giao chính quyền cho con trai mình, ông ta đã đi theo con đường ô nhục giống như Kim Jong-il, làm hoen ố nửa đầu sự nghiệp chính trị đáng kính của mình. Mớ hỗn độn trong cuộc đời của Kim Il-sung không phải do chính ông tạo nên mà chủ yếu là do Kim Jong-il. Khuyết điểm nghiêm trọng nhất trong cuộc đời của hai cha con Kim là việc truyền thừa quyền lực theo kiểu cha truyền con nối. Ai là người có lỗi nhiều hơn trong vấn đề này? Hầu hết mọi người nói rằng đó là Kim Il-sung, nhưng tôi tin rằng hơn một nửa lỗi thuộc về Kim Jong-il.”
Nhà cựu ngoại giao Triều Tiên Ko Young-hwan cho biết ông rất ngạc nhiên khi đến Hàn Quốc vì “nhiều chuyên gia cho rằng sẽ có biến động chính trị và Kim Jong-il không thể thành công. Tôi không nghĩ như vậy. Uy tín của ông ta là một vấn đề lớn, nhưng tôi vẫn nghĩ ông ta sẽ cai trị trong một thời gian. Những người ủng hộ ông ta đang chiếm giữ các vị trí cao nhất trong chính quyền, cả quân sự và dân sự, bao gồm cả các quan chức kinh tế. Nhưng dù sao ông ta cũng sẽ sụp đổ vì các quan chức chính phủ tin rằng ông ta chỉ bằng một nửa cha mình. Điều đó sẽ kéo ông ta xuống. Những người xung quanh ông ta nghĩ rằng Kim Jong-il có tính cách xấu xa và sống một cuộc sống xa hoa. Ông ta dường như quá chú trọng đến những vấn đề không quan trọng. Ông ta không mấy quan tâm đến những gì đang xảy ra bên trong Triều Tiên. Ông ta không mấy để ý đến khủng hoảng kinh tế, phúc lợi của người dân hay sự thay đổi giáo dục. Ông ta chỉ quan tâm đến những vấn đề có thể nhìn thấy được, hoặc những vấn đề mà ông ta có thể được ca ngợi. Ông ta không quan tâm đến bức tranh toàn cảnh. Ông ta quan tâm đến việc làm phim, opera, những hành động nhỏ nhặt như gửi xe buýt đến trường học hoặc xây dựng cơ sở cho trường học.”
Vậy nên, tôi hỏi Ko, về cơ bản Kim Jong-il có phải là một kẻ ngốc không? Anh ấy đồng ý với nhận định đó nhưng tôi muốn có một đánh giá chi tiết hơn từ anh ấy nên tôi hỏi liệu Kim có là một tên ngu ngốc theo một cách nào đó không. “Theo như tôi thấy, tôi không đồng ý,” Ko đáp. “Ông ta có chút tài năng về văn hóa và nghệ thuật. Ông ta có thể nhận ra khi một vĩ cầm thủ đánh sai nốt. Nhưng về kinh tế và chính trị thì ông ta là một kẻ ngốc. Giới chuyên gia kỹ thuật không kỳ vọng nhiều ở ông ta trong những lĩnh vực đó, nhưng ít nhất họ cũng mong ông ta thể hiện được sự nhiệt huyết mà ông ta dành cho nghệ thuật và văn hóa trong lĩnh vực công nghệ. Nếu ông ta làm được điều đó, có lẽ ông ta sẽ được coi là một nhà lãnh đạo tốt hơn, nhưng hiện tại thì không có cơ hội nào cả.”
Cựu Tổng thống Carter đã sắp xếp cho Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Kim Young-sam gặp gỡ Kim Il-sung. Các kế hoạch cho hội nghị thượng đỉnh đang được tiến hành thì Kim Il-sung qua đời. Bình Nhưỡng hy vọng Kim Young-sam sẽ tham dự tang lễ. Nhưng chủ nghĩa cộng sản là vấn đề cá nhân đối với Kim Young-sam. Như chúng ta đã thấy trong chương 6, các đặc vụ Triều Tiên đã giết mẹ ông tại nhà riêng trên đảo Koje vào năm 1960. Sau khi đắc cử năm 1992, ông đã đến đảo và báo cáo với người mẹ đã khuất về thành tích của mình, trình giấy chứng nhận đắc cử trước mộ bà. Khi Triều Tiên chìm trong tang tóc, Kim Young-sam đã nhượng bộ trước áp lực trong nước, xúc phạm con trai kế vị của nhà lãnh đạo quá cố bằng cách từ chối cử phái đoàn đến viếng “tên tội phạm chiến tranh”.Trong một đoạn băng ghi âm cuộc trò chuyện ngày 25 tháng 4 năm 1998 tại Bình Nhưỡng với các quan chức Nhật Bản-Hàn Quốc đến thăm, Kim Jong-il đã nhắc đến vụ việc và gọi Kim Young-sam là “một đống rác bẩn thỉu”.
“Điều khiến tôi thấy tiếc cho ông ấy,” nhà lãnh đạo Triều Tiên nói với các vị khách của mình, “là ông ấy đã bao quanh mình bằng bọn cố vấn tồi. Khi nhà lãnh đạo Kim Il-sung qua đời, Kim Young-sam đã không thể tham dự tang lễ vì nghe lời các cố vấn của ông ấy. Tôi nghe nói chính Kim cũng hối tiếc vì có bọn trợ lý tồi. Khi lãnh đạo Kim Il-sung qua đời, tôi đã thảo luận với Bí thư Kim Yong-sun về việc phải làm gì nếu Kim Young-sam muốn tham dự tang lễ, và đã lập một kế hoạch chi tiết để đón tiếp ông ta. Nhưng ông ta đã không đến, và chúng tôi rất thất vọng về ông ta. Nếu ông ta có chút khôn ngoan, ông ta đã đến dự tang lễ. Nếu ông ta đến, có lẽ ông ta đã tiếp quản quyền kiểm soát Triều Tiên và trở thành tổng thống của một nước Triều Tiên thống nhất. Thật là một kẻ ngốc!”
Các cuộc đàm phán hạt nhân do Carter dàn xếp vẫn tiếp tục diễn ra bất chấp việc Kim Il-sung qua đời. Trong các thỏa thuận đạt được vào tháng 10 năm 1994 và tháng 6 năm 1995, Bình Nhưỡng hứa sẽ không khởi động lại lò phản ứng bị nghi ngờ của mình cũng như không tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng. Một liên minh các quốc gia có lợi ích trong khu vực đã đồng ý cung cấp các lò phản ứng nước nhẹ để thay thế công nghệ điều tiết bằng than chì hiện có.
Tuy nhiên, trong các tuyên truyền của chế độ, một chủ đề đáng ngại ngày càng trở nên rõ ràng: một số phận bi quan đang chờ đợi người dân Triều Tiên và họ phải chấp nhận nó. “Chúng ta phải sẵn sàng chết vì lãnh tụ.” “Mạng sống không có giá trị nếu không có những cái chết đáng giá.” “Cuộc sống của bạn vô nghĩa nếu không nằm trong bối cảnh của đảng.” “Chúng ta phải chuẩn bị để chia sẻ số phận của người lãnh đạo, dù tốt hay xấu.” Một nhà ngoại giao ở Seoul nhận thấy có sự tương đồng với bầu không khí ở Đức Quốc xã trong những ngày cuối cùng của Đệ Tam Đế chế. Phe Đồng minh đã cố gắng khuất phục đất nước này bằng cách bỏ đói, nhưng người Đức thay vào đó đã thể hiện sự kiên cường và – khi mọi hy vọng đã tan biến – sẵn sàng cho thảm họa, nhà ngoại giao nhận xét.