Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 7)

Nhà Nguyễn: Gia Long [7/2/1807-13/2/1809]

Hồ Bạch Thảo

Ngày 13 tháng giêng năm Gia Long thứ 6 [19/2/1807], làm lễ xuất quân. Sai chỉ huy quân Thần sách Phạm Văn Nhân thao diễn bộ binh, Thị trung đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm thao diễn thủy binh, chỉ huy Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên thao diễn quân voi ngựa. Quan Khâm mạng mặc nhung phục, trước cho xuất bộ binh; đánh ba hồi trống, bộ binh đánh thanh la tung cờ, đội Trung hầu theo lệ bắn đại bác, các quân bắn súng tay. Trống đánh ba tiếng, các quân tiến bước, hoan hô ba tiếng, rồi đánh chuông thu quân. Tiếp đến thao diễn thủy binh và binh tượng mã. Đánh ba hồi trống, Trung hầu bắn đại bác; trống đánh ba tiếng, đội Tiểu hầu cử nhạc. Thủy binh dong thuyền múa chèo, binh tượng mã tung cờ tiến, sau đó khua chuông thu quân.

Người nước Xiêm là bọn Hoàng Bảo Hưng và Ma Liệt sang nước Thanh nộp cống, thuyền gặp bão phải đậu vào hải phận Bình Định. Họ xin đến kinh đô chiêm cận; Vua y cho, cấp cho 7.000 quan tiền và 1.000 phương gạo, lại sai thợ sửa chữa giúp thuyền, rồi cho về.

Lương Mang [Mường Luổng, Luang Prabang] thuộc Lào, sai Sứ đến cống. Sứ đến Nghệ An, trấn thần dịch thư dâng lên. Vua cho rằng Lương Mang ở xa mà đến thần phục, thực dối chưa rõ; sai trả lại đồ cống, cấp cho hậu rồi bảo về.

Lập hai  lò gạch ngói, lấy 300 người dân Quảng Bình và 600 người dân Quảng Nam làm việc, hằng tháng cấp tiền gạo.

Định năm bực công thần Vọng Các chết trận và chết bệnh. Về hàng võ; bậc nhất 6 người gồm: Ngoại tả chưởng dinh Chu Văn Tiếp, Tiền quân Tôn Thất Hội, Cai cơ quản thuyền Nội thủy Trung thủy Võ Di Nguy, Trung dinh đô thống chế Tống Viết Phước, Hậu quân đô thống chế Mai Đức Nghị, quản đội Tiểu sai Đỗ Văn Hựu, 6 người. Bậc hai, 35 người ; bậc ba, 39 người ; bậc bốn, 53 người ; bậc năm, 11 người. Hàng văn: bậc nhì, 4 người; bậc ba, 3 người; bậc bốn, 1 người; bậc năm, 2 người.

Tháng 2 [9/3-7/4/1807], sai đóng thêm hơn trăm chiếc thuyền chiến; Vua từng nói với bọn Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng :

Trong nước tuy đã yên ổn nhưng không thể quên được việc chiến tranh. Quân ta rất giỏi thủy chiến mà số thuyền ghe hiện không có mấy, nên đóng sẵn trước để phòng khi dùng đến”.

Bèn sai Gia Định lấy gỗ nộp về Kinh, hạ lệnh cho các quân theo mẫu mà đóng.

Xiêm La sai sứ sang cống phương vật và báo tang vua thứ ba mất. Vua bảo bầy tôi rằng :

 “Nước Xiêm đem việc tang vua thứ ba đến cáo, thật không có ý nghĩa gì. Song nước ta với nước Xiêm tình nghĩa giao hiếu không nên dứt, nên bàn sai sứ sang viếng”.

 Sai bọn Cai cơ Đỗ Phước Thịnh, Tham luận Trần Đán sung Chánh, Phó sứ sang Xiêm. Tặng Phật vương : 2 cân kỳ nam, 23 cân quế, 300 tấm the, 100 tấm lụa, vải nhỏ trắng và vải thâm mỗi thứ đều 50 tấm ; tặng vua thứ hai 200 tấm the, lụa và vải điều 50 tấm ; phúng vua thứ ba : 100 cân sáp ong, 1.000 cân đường cát, đường phổi và đường phèn đều 200 cân, vải vàng 100 tấm. Khi sứ trở về, người Xiêm gửi thư tạ ơn.

Vua thấy nước Xiêm cùng ta giao hảo nồng hậu, hành trình đi lại, đường sá thông nhau, bèn sai quan bộ Lễ bộ bàn định thể thức hành trình sứ bộ qua Xiêm. Sứ ta sang Xiêm, nếu đi đường thủy thì 50 người, đường bộ thì 12 người; văn thư đưa qua nước Chân Lạp chuyển đạt. Sứ Xiêm nếu đi đường thủy thì 50 người, đường bộ thì 14 người.

Định phép thi Hương và thi Hội, ban chiếu rằng :

 “Nhà nước cầu nhân tài, tất do đường khoa mục. Tiên triều ta chế độ khoa cử đời nào cũng có cử hành. Từ khi Tây Sơn nổi loạn, phép cũ hủy bỏ, sĩ khí vì đó mà bế tắc. Nay thiên hạ cả định, Nam Bắc một nhà, cầu hiền chính là việc cần kíp. Đã từng xuống sắc bàn định phép thi : kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa, kỳ đệ nhị thi chiếu, chế biểu ; kỳ đệ tam thi thơ, phú ; kỳ đệ tứ thi văn sách. Lấy tháng 10 năm nay [31/10-28/11/1807] mở khoa thi Hương, sang năm Mậu Thìn [28/1/1808-13/2/1809] mở khoa thi Hội. Bọn học trò các ngươi đều nên dùi mài việc học, để đáp lại cái ơn tôn chuộng nghề văn”.

Sau vì thấy mới bắt đầu bình định, văn học còn ít, nên đình chỉ việc thi Hội.

Tổ chức đại lễ Nam Giao tại lễ đài 3 tầng. Trước đó 3 ngày giữ trai giới, trước 2 ngày làm lễ tế cáo miếu Triệu tổ Nguyễn Kim, ngày 19 Tân mão [27/3/1807], chánh lễ tế Trời Đất tại đàn Nam giao; rước Thái tổ Gia dụ hoàng đế [Nguyễn Hoàng] cùng phối hưởng. Vua đội mũ cửu long, mặc áo bào vàng, đai ngọc, xiêm vàng, lên đàn làm lễ; các quan dự tế đều mặc triều phục. Lễ xong, vua trở về Trai cung, cùng các quan làm lễ khánh thành.

Người Thuận Thành tên là Khoa Nộn tụ họp dân thiểu số hơn 300 người đến cướp đồn Thị Linh [huyện Tánh Linh, Bình Thuận]. Trưởng đồn Phan Vân đánh chém được Khoa Nộn, đồ đảng còn lại đều trốn hết.

Tháng 3 [8/4-7/5/1807], định lệ phát phối những tù tội đồ [đày], tội lưu [đày suốt đời]. Phàm người bị tội đồ tội lưu, đều phải xiềng chân; tội lưu đeo thêm cái bài sắt khắc tên họ và tội danh. Tù tội đồ làm việc mỗi tháng cấp lương 1 phương gạo [1 phương khoảng 30 lít], hằng năm cấp một bộ quần áo vải ; mãn hạn thì về làng chịu sai dịch. Tù tội lưu đi tới chỗ bị đày, quan địa phương cấp cho ruộng đất hoang và thóc giống, trâu bò, cùng đồ làm ruộng, khiến cày cấy; số thóc giống hạn một năm thời thu lại ; trâu cày và đồ làm ruộng cứ ba năm chiếu giá thu tiền ; hằng tháng cấp gạo lương, hằng năm cấp quần áo, cũng theo như lệ tù tội đồ ; trong một năm không phạm tội gì khác thì tha xiềng chân ; ba năm thành sản nghiệp thì bỏ cả bài sắt. Người tội lưu chung thân không được về làng; duy vợ con, người tình nguyện đi theo thì được tự do đi lại.

Giặc biển tỉnh Phúc Kiến nhà Thanh là Thái Khiên và Chu Phần bị quan quân  đuổi bắt, chạy trốn ra ngoài biển, Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi thư cho Bắc Thành nói thuyền giặc đều mũi xanh cột buồm đỏ, nếu có chạy đến hải phận ta thì đón bắt cho. Quan Bắc Thành  đem sự việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho các quan địa phương duyên hải từ Quảng Đức [Thừa Thiên]  trở ra Bắc đều phái binh thuyền tuần xét.

Tháng 4 [8/5-5/6/1807] Quảng Ngãi bị hạn hán; Lê Văn Duyệt bấy giờ đang lo đánh dẹp giặc Đá Vách, cướp phá vùng giáp giới đầu nguồn Quảng Ngãi.Vua thấy trời hè nồng nực, lam chướng nhiều, nếu tiến đánh gấp thì tướng sĩ trèo non vượt hiểm dễ sinh tật bệnh; nên khuyên tìm cách chiêu dụ. Lê Văn Duyệt liền dâng sớ rằng:

 “Thần từ khi vâng mệnh tới nay, ngày đêm lo sợ. Nhờ được uy đức của Triều đình, nên khi quân đến Đồng Dương [huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi] thì tù trưởng Man ra quy phục. Thần lại sai chúng chiêu dụ bọn Man hoang, đều cho yên nghiệp làm ăn, nay đã được yên, không còn lo nữa”.

Sớ đến nơi, thưởng cho quân sĩ 2.000 quan, cho tù trưởng dân thiểu số 300 quan.

Tướng giặc ở Sơn Tây tên La tụ đảng, cướp bóc vùng Sơn Tây và Kinh Bắc [Bắc Giang, Bắc Ninh]. Người Kinh Bắc là bọn Nguyễn Đức Chiêu, Nguyễn Đình Sâm, Nguyễn Đình Thắng lập mưu dụ tên La đến nhà, rồi sai người đi mật báo. Quan Trấn sai Chánh thống Tiền đồn Nguyễn Văn Hưng và Phó thống Nguyễn Xuân đem quân vây bắt, chém được tên La, bắt đồ đảng hơn 20 người, thu được súng ống khí giới. Quan Bắc Thành đem sự việc tâu lên; ban thưởng biền binh 200 quan tiền, cho Đức Chiêu làm Cai đội, Đình Sâm làm Đội trưởng.

Tại Nghệ An giặc nổi lên, đường thông thương bị nghẽn. Quan Trấn điều binh đánh dẹp không được; sự việc tâu lên, Vua thấy đất Diễn Châu nhiều rừng rậm là nơi giặc cướp ẩn  hiện, bèn sai thêm quân để chặn bắt.

Tháng 5 [6/6-4/7/1807], sai quan bộ Lễ Đặng Đức Siêu biên phép thế hệ triều Nguyễn; sách xong đặt tên là Thiên Nam Thế Hệ. Sách chép bắt đầu từ Triệu tổ Tĩnh hoàng đế [Nguyễn Kim] đến Duệ tông Hiếu định hoàng đế [1765-1777]. Trên lại chép lên đến Hoành quốc công và Trừng quốc công [Nguyễn Hoằng Dụ] để tỏ rõ dòng dõi của Triệu tổ từ đâu mà ra; sau chép đến Hiếu khang hoàng đế [cha Vua Gia Long] để tỏ rõ bản thân Vua từ đâu mà ra, trên dưới gần hơn 200 năm. Phàm công nghiệp các đời, cho đến ngày sinh năm giỗ, phương hướng các lăng tẩm, đều ghi chép đủ.

Ngày Nhâm Tý 11 [16/6/1807], cháu đích tôn của nhà Vua tức Hiến tổ Chương Hoàng đế [Thiệu Trị] sinh ở ấp Xuân Lộc phía đông Kinh thành, sau dựng chùa Diệu Đế tại nơi này. Mẹ là cung phi họ Hồ mới 17 tuổi, vừa mới sinh được 13 ngày thì mất.

Tháng 6 [5/7-3/8/1807], định phép thi Hương. Nghệ An, Thanh Hoa, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam thượng [Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên], Hải Dương, cả thảy sáu trường. Học trò đi thi thì trước đó Lý trưởng sở tại phải xét rồi ghi vào sổ; những người có trọng tang, bất hiếu, bất mục loạn luân, điêu toa và sau năm Gia Long thứ 1 [1802] phạm án cướp hay phản nghịch, thì không được vào thi. Thi: kỳ đệ nhất, kinh nghĩa năm đề, bài làm chuyên một kinh hay kiêm năm kinh cũng được, truyện nghĩa một đề; kỳ đệ nhị, chiếu, chế, biểu mỗi thứ một đạo; kỳ đệ tam, một bài thơ đường luật, một bài phú thể tám vần; kỳ đệ tứ một đạo văn sách. Học trò làm bài, lấy một ngày làm hạn. Chữ viết lối chân hay lối thảo đều chấp nhận. Người trúng tứ trường là Hương cống, tam trường là Sinh đồ, đều được miễn phu dịch. Hương cống thì được ban mũ áo và cho ăn yến, gọi là yến Lộc Minh (1).

Tháng 7 [4/8-1/9/1807], triệu Lê Văn Duyệt về, để Phan Tiến Hoàng ở lại Quảng Ngãi. Vua nghĩ công việc dẹp giặc Đá Vách trải năm tháng vất vả, thưởng cho Lê Văn Duyệt 3.000 quan tiền, cho Tiến Hoàng và quân dưới quyền 1.000 quan.

Ngày 19 [22/8/1807], tiết Thánh thọ Thất tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, vua thân đem bầy tôi đến cung Trường Thọ làm lễ chúc mừng. Sai nhạc công múa Bát Dật (2) , hát các khúc Vạn Niên Hoan, Thiên Hạ LạcThái Bình Lạc. Lễ xong, vua ngự ở điện Cần Chánh, ban yến và thưởng cho các quan văn võ từ tam phẩm trở lên, theo thứ bậc khác nhau.

Tháng 8 [2/9-30/9/1807], sai trấn thủ Hà Tiên là Mạc Tử Thiêm trở về trấn, ban cho 100 quan tiền. Tử Thiêm nhân tâu :

Trong hạt ruộng ít, gạo ăn của dân gian đều phải nhờ hai đạo Long Xuyên [Cà Mâu] và Kiên Giang [Rạch Giá]. Từ khi nghiêm cấm thông thương, dân thường thiếu ăn. Xin mỗi năm được sai quân dân tới hai đạo ấy đong một vạn phương gạo hoặc một vạn hộc thóc”.

Vua y cho.

Cấp thuyền ô sai cho Gia Định 33 chiếc, cho Bắc Thành 25 chiếc, cho Bình Định 10 chiếc, cho Bình Hòa [Ninh Hòa, Khánh Hòa] và Thanh Hoa mỗi nơi 5 chiếc.

Thanh Hoa sửa Văn miếu, bổ cho các quan quyên góp hơn 4.000 quan tiền. Vua nghe tin quở trách rằng:

Việc bổ góp không đúng chính thể, sao không tâu xin chỉ, mà tự tiện làm?”.

Nhân đó thông dụ cho các dinh trấn rằng từ nay xây dựng việc gì, động đến công của dân, đều phải trù tính trước mà tâu rõ, không được tự tiện bổ góp.

Tháng 9 [1/10-30/10/1807] Vua Chân Lạp là Nặc Chăn sai bầy tôi là Ốc Nha Vị Bôn Rạch đến xin phong, Vua y cho. Sai Tham tri Binh bộ là Ngô Nhân Tĩnh làm Chánh sứ, Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Công Đàn làm Phó sứ, mang sắc ấn phong Nặc Chăn làm quốc vương Cao Mên. Định ba năm một lần cống. Cống phẩm là 2 thớt voi đực, 2 tòa sừng tê, 2 chiếc ngà voi, 2 bình sơn đen; đậu khấu, sa nhân, sáp ong, cánh kiến, mỗi thứ đều 50 cân. Sứ bộ gồm một Chánh sứ một Phó sứ, cứ tháng 4 tới Gia Định, quan Gia Định thành ủy người đưa đến Kinh. Số người đi theo, đường bộ 10 người, đường biển 20 người.

Thuyền buôn của người Hồng Mao [nước Anh] Kê Lê Mân đậu ở Đà Nẵng. Vua sai Tham tri Hộ bộ Lê Viết Nghĩa và Giám thành sứ Trần Văn Học đến dò ý và dụ rằng:

Người Hồng Mao không hiểu lễ phép luật lệ, bọn ngươi đi chuyến này nên đối đãi rộng rãi”.

Rồi đưa [Kê Lê Mân] về Kinh, sai bọn Nguyễn Văn Chấn [Vannier], Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] và Lê Văn Lăng [Forcant], đều người Pháp tiếp chuyện. Kê Lê Mân bày tỏ rằng chủ tàu là Áp Bột Miệt Lăng trước đây buôn bán ở Gia Định, bán nhiều súng ống cho nhà nước, nay túng tiền, xin tăng giá trả cho. Vua nói:

Bọn lái buôn giảo quyệt nước ngoài đã lấy có túng thiếu mà kêu xin thì triều đình ta giàu có bốn biển, há đáng so kè với chúng”.

Bèn sai cấp cho 24.000 đồng bạc Tây Phương, rồi bảo đi.

Định điều lệ thuyền vận tải. Đo thuyền chiều dài, chiều rộng, bề sâu; thuyền chiều rộng 5 thước [1 thước = 0.4 mét] trở lên được cấp bài chỉ ghi rõ bề dài, bề ngang, bề sâu; căn cứ kích thước thuyền qui định trọng tải.

Tháng 10 [31/10-28/11/1807], bắt đầu mở khoa thi Hương từ Nghệ An trở ra Bắc; lấy đỗ Hương cống [Cử nhân] 62 người. Trường Nghệ An: Hồ Sỹ Đề, Trần Ngọc, Dương Doãn Nguyên, Đinh Miễn, Nguyễn Trung Mậu, Hồ Sĩ Trinh, Nguyễn Đình Diễm, Trần Lễ, 8 người. Trường Thanh Hoa: Lê Văn Luyện, Nguyễn Hữu Bình, 2 người. Trường Kinh Bắc: Cao Huy Diệu, Nguyễn Văn Sưu, Nguyễn Ngọc Trác, Nguyễn án, Đàm Thận Hưu, Lê Gia Thắng, Nguyễn Huy Trinh, 7 người. Trường Sơn Tây: Trần Bá Kiên, Nguyễn Đình Lương, Hoàng Bình, Dương Huy Kiều, Khuất Duy Cử, Trần Duy Trác, Nguyễn Đình Thẩm, Nguyễn Tiến Trị, Phạm Gia Tứ, Nguyễn Quốc Đống, Hạ Văn Đạt, Nguyễn Danh Quế, Phạm Quang Nguyên, Nguyễn Thiều, Nguyễn Tư Trực, Vũ Viết Trường, Lê Duy Thanh, Vũ Đình Tín, Nguyễn Duy Thanh, Ngô Cao Lãng, 20 người. Trường Sơn Nam thượng: Vũ Huy Đạt, Hoàng Quốc Bảo, Dương Duy Hinh, Phạm Đình Đồ, Lê Sỹ Nguyên, Lê Đình Dư, Phạm Vũ Phác, Nguyễn Văn Hán, Lê Thừa, Lê Trọng Phú, Nguyễn Khắc Gia, Nguyễn Hiếu Đức, Nguyễn Giản, Nguyễn Chí, Nguyễn Tú, Phạm Điển, Trần Liêu, Hồ Sỹ Diệm, Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Đình Niên, 20 người. Trường Hải Dương: Lê Huy Triện, Phạm Văn Huyên, Nguyễn Chiểu, Đặng Huy Dư, Vũ Trọng Đĩnh, cộng 5 người

Tháng 11 [29/11-28/12/1807], thóc kho Bình Định bị hao hụt nhiều, quan trấn bắt dân đền bù. Vua hay tin, nói rằng:

Thóc ở kho hao là lỗi tại quan, sao lại trách đòi ở dân?”.

 Sai bộ Lại bộ truyền chỉ nghiêm trách và cho dân xã nào đã trót nộp rồi sẽ được trừ vào thóc tô sang năm.

Người xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Ngàn [Bắc Ninh], là Nguyễn Thị Trúc tự xưng là công chúa nhà Lê, làm giả ấn tín mưu lãnh tiền kho Bắc Thành, việc phát giác bị xử tử.

Tháng chạp [29/12/1807-27/1/1808] Ma Văn Tư và Nguyễn Bảo người Sơn Tây làm giả ấn tín, tự xưng là quan đi bắt giặc, lẻn tới mỏ đồng ở châu Mai Sơn [Hòa Bình]  giết cướp hộ khai mỏ; bắt được bèn đem giết.

Đắp mười đoạn đê mới tại Bắc Thành: Sơn Nam Thượng, một đoạn đê dài hơn 700 trượng [1 trượng = 4 mét] ở xã Nga Khê huyện Nam Xang [huyện Lý Nhân, Hà Nam], một đoạn 49 trượng ở xã Xâm Thị huyện Thanh Trì [Hà Nội], một đoạn hơn 100 trượng ở xã Văn La huyện Chương Đức [huyện Chương Mỹ, Hà Tây], một đoạn hơn 140 trượng ở xã Hồi Trung huyện Kim Bảng [Hà Nam], một đoạn hơn 230 trượng ở xã Lạc Trường huyện Kim Bảng [Hà Nam], một đoạn 33 trượng từ xã Mễ Trường huyện Thanh Liêm đến xã Châu Cầu [Phủ Lý, Hà Nam]. Ở Sơn Nam hạ, một đoạn hơn 70 trượng ở xã Đường Xâm huyện Chân Định [huyện Kiến Xương, Thái Bình], một đoạn hơn 300 trượng ở xã Sơ Lâm huyện Thượng Nguyên [huyện Xuân Trường, Nam Định]. Ở Kinh Bắc, một đoạn hơn 86 trượng ở xã Phụng Công huyện Văn Giang [Hưng Yên].

Dời dinh lỵ Quảng Nam đến xã Thanh Chiêm huyện Diên Phước [huyện Điện Bàn]. Dinh Quảng Nam cũ ở xã Hội An chật hẹp, Vua sai đình thần tìm nơi địa thế cao ráo sáng sủa, vẽ đồ dâng lên; bèn hạ lệnh dời đến Thanh Chiêm.

Bọn giặc thiểu số Đá Vách lại tụ họp hơn 300 người, đốt đồn Tượng Đầu tại Quảng Ngãi. Sai Lưu thủ Nguyễn Văn Toản cùng Đô thống chế lãnh Tả quân phó tướng Phan Tiến Hoàng đem quân đi dẹp.

 Đề phòng giặc, triều đình cho xây lũy Tĩnh Man dài 177 dặm [1 dặm khoảng =0.5 km.], cách tỉnh thành 25 dặm; phía bắc đến huyện Hà Đông [huyện Tam Kỳ] Quảng Nam; phía nam đến huyện Bồng Sơn, Bình Định. Lập 5 cơ để phòng thủ: Cơ nhất có 22 đồn, cơ nhì 21 đồn, cơ tam 22 đồn, cơ tứ 25 đồn, cơ ngũ 24 đồn.

Tháng giêng [28/1-25/2/1808] Vua thấy địa thế Gia Định rộng lớn, bèn đổi trấn Gia Định làm Gia Định thành, dinh Phiên Trấn làm trấn Phiên An, dinh Trấn Biên làm trấn Biên Hòa, dinh Vĩnh Trấn làm trấn Vĩnh Thanh, dinh Trấn Định làm trấn Định Tường.

Thuyền bị nạn của các quan sai phái nhà Thanh là bọn Diệp Phương, Hoàng Phước trôi dạt đến cửa biển Sa Kỳ [huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi]. Quảng Ngãi đem sự việc tâu lên, Vua sai cấp cho bạc, quần áo rồi theo đường bộ về nước; chủ thuyền là bọn Trần Hoan 8 người, cũng cấp cho lương ăn, cho đáp thuyền buôn trở về.

Phan Tiến Hoàng tiến đánh giặc thiểu số Đá Vách, xin cho dân ở ven núi sắm đồ binh khí, phụ lực với quân đồn trú. Vua y cho, lại sai Lê Văn Duyệt đem binh đến đôn đốc đánh dẹp, bảo rằng:

Bọn ác man quấy rối, không thể không đánh, nhưng đường lối hiểm dốc chưa dễ phá ngay được. Ngươi nên tùy liệu xử trí, để thu phục lòng chúng; không đánh mà khuất phục được người lại là thượng sách đó”.

Khi Văn Duyệt đến nơi mật sai Vệ úy Lê Văn Từ và Phó vệ úy Lê Kim Nhượng giả làm dư đảng Tây Sơn, lẻn vào sách dân thiểu số ở với chúng, nhân dò hỏi tình hình. Người thiểu số nói với Từ rằng họ không có ý làm phản, nhưng khổ vì Phó quản cơ Lê Quốc Huy hà khắc sách nhiễu mãi, nên phải họp nhau mưu phản thôi. Từ về báo, Văn Duyệt liền bắt Quốc Huy xử theo quân pháp, tâu xin chém;  từ đó bọn Đá Vách về hàng nhiều.

Đặt thêm phu miếu người thôn Kiều Đại tại miếu nhà Lê; nhân Diên Tự công Lê Duy Hoán tâu tâu:

Ba thôn xã Bố Vệ [huyện Đông Sơn, Thanh Hóa] thì Kiều Đại là một, thế mà trước đây chuẩn định 100 miếu phu toàn lấy ở hai thôn Mật Sơn và Tạnh Xá, thôn Kiều Đại không dự. Nay xin cho 48 người dân thôn ấy cũng sung miếu phu, miễn trừ dao dịch, để đều được ơn”.

Vua bèn y cho.

Tướng giặc ở Kinh Bắc là Hoàng Hữu Nhân họp đảng hơn bảy trăm người mưu làm loạn. Hành quân đánh bắt; viên lại Lạng Giang [Bắc Giang] là Hoàng Thúc Đạt đem quân đi trước dẫn đường bắt được Hữu Nhân. Quan quân theo sau, chém được hơn mười thủ cấp, bắt được giặc mười mấy người, còn thì vỡ chạy cả; tịch thu khí giới rất nhiều. Việc tâu lên; thưởng cho quân binh 300 quan tiền, cho Thúc Đạt chức Đề lại và thưởng 100 quan tiền.

Tướng giặc Sơn Nam hạ là Vũ Đình Khanh họp đảng ở khoảng Thiên Trường và Nghĩa Hưng [Nam Định]. Quan quân đánh đuổi đến Nghĩa Hưng, bắt được Đình Khanh, chém được một trăm đầu. Số còn lại họp thuyền đậu ở ngã ba sông huyện Giao Thủy [Nam Định]; quân thủy bộ xông tới đánh; quân giặc nhảy xuống nước chết nhiều, bắt được cờ ấn, súng ống khí giới và hơn ba chục chiếc thuyền.

Tại Yên Quảng [Quảng Ninh] giặc nổi lên; Án thủ Vạn Ninh là Phan Phương Khách đánh đuổi, bắt được tướng và đồ đảng giặc hơn hai chục người, cho Phương Khách làm Tuyên úy sứ và thưởng 300 quan tiền.

Tháng 2 [26/2-26/3/1808] trùng tu chùa Hàm Long, tức chùa Báo Quốc tại đồi Hàm Long, Phường Đúc, Huế.

Đảng giặc ở Sơn Nam hạ lại họp quân vây phủ Kiến Xương [Thái Bình]. Bọn Ngô Văn Tham, Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Xuân đem quân thủy bộ đánh, cả phá giặc, giải được vây cho phủ Kiến Xương.

Ngày 18 [14/3/1808], tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

Nước Diến Điện đánh thành Xoang Mai [Chiang Mai. Thailand], tướng Xiêm là Phi Nhã Mai đầu hàng Diến Điện. Người Xiêm phát quân đi đánh; quân đến Lục Khôn [Nakhon?] bị quân Diến Điện đánh bại. Tin báo lên, vua sai trấn thủ Hà Tiên là Mạc Tử Thiêm mang thư của bộ Lễ gửi đến, mượn cớ để dò xem tình hình động tĩnh. Tử Thiêm sợ không dám đi. Lưu trấn Gia Định tâu lên; Vua tha tội, lại cho 3.000 đồng bạc phiên, rồi dụ rằng:

Ngươi ở lâu nơi biên trấn hiểu rõ tính tình người Man, việc này ngươi không đi thì không xong. Người Xiêm tất không hại ngươi đâu, đừng sợ!”

Tử Thiêm bèn vâng mệnh đi.

Tháng 3 [27/3-25/4/1808], hơn 80 chiếc thuyền giặc Tề Ngôi bị người Thanh đuổi bắt, trốn chạy đến ngoài biển Yên Quảng [Quảng Ninh]. Quan Bắc Thành  sai Chánh thống Hữu đồn Tiền quân là Bùi Văn Thái, Phó thống Tả đồn là Nguyễn Văn Trị đem binh thuyền tiến đánh, Chánh quản thập cơ quân Thần võ là Trần Văn Thìn đem quân bộ đến Hải Dương tiếp ứng, Chưởng dinh Trương Tấn Bửu làm Điều bát nhung vụ. Bọn giặc xâm phạm sông Bạch Đằng, áp đánh trấn lỵ Yên Quảng. Trấn thủ Lê Văn Vịnh cùng với Nguyễn Văn Trị đánh lui được, chém được hơn mười đầu giặc và bắt được già trẻ hơn sáu chục người. Giặc bèn đem thuyền chia đậu ở các hải phận Hải Dương, Thanh Hoa và Nghệ An. Vua lo thổ phỉ liên lạc cấu kết với nhau, bèn sai Tống Phước Lương quản lãnh binh thuyền tiến đánh,

Thuyền trưởng Hồng Mao [Anh] là Tô Lô Xuy La Môn chở hơn năm trăm khách buôn người Thanh, bị nạn bão đến đậu ở cửa Đà Nẵng; Dinh Quảng Nam tâu lên. Sai cấp tiền gạo cho khách buôn bị nạn, rồi cho đưa theo đường bộ trở về Trung Quốc. Lại thấy Tô Lô Xuy La Môn cứu giúp nạn nhân, thưởng cho 300 phương gạo rồi bảo đi.

Tháng 4 [26/4-24/5/1808], bọn giặc ở Sơn Nam thượng vây phủ Ứng Thiên [ huyện Ứng Hòa, Hà Tây]. Quan Bắc Thành, sai bọn Án phủ Hoài Đức [Hà Tây]  Nguyễn Văn Xuyến, Vệ úy vệ Giản võ Nguyễn Văn Thiện đem quân đánh bắt. Giặc chạy sang Thượng Phước [huyện Thường Tín, Hà Tây]; Quản thủ Thường Tín Vũ Văn Thân đánh phá được. Được vài ngày giặc lại vây phủ Khoái Châu [Hưng Yên], Cai vệ đội Tiền bảo Nguyễn Văn Trượng gặp giặc, tung quân đánh dữ, quân giặc sợ tan chạy. Quan quân thừa thắng đuổi đánh, giải được vây cho phủ Khoái Châu.

Thổ tù Sơn Âm ở Thanh Bình [Ninh Bình] là Quách Tất Thúc làm phản, họp đảng hơn 3 nghìn người vây đồn Gián Khẩu. Quản đạo Lương Văn Vân báo cho trấn Thanh Hoa. Đốc trấn Tôn Thất Chương sai Vệ úy Mai Gia Cương đem quân đóng giữ Thanh Bình và sai Văn Vân đem quân đi đánh dẹp. Bọn giặc lui giữ Yên Trị [huyện Nho Quan, Ninh Bình], chia làm ba đạo vây phủ Thiên Quan [Ninh Bình]. Quản phủ Đào Văn Thành chống giữ để đợi viện binh. Tôn Thất Chương lại sai Vệ úy Lê Văn Sách, Phó vệ úy Phạm Văn Xuân đem binh đến họp; Văn Vân tự đem binh của đạo tiến lên. Đào Văn Thành thấy có viện binh đến, xuất binh giáp chiến, chém được hơn hai chục giặc. Giặc thua to, bỏ cả khí giới, tranh nhau sang sông, chạy đến Yên Trị [huyện Nho Quan, Ninh Bình], dựa thế núi cố thủ. Quan quân đánh không được. Việc báo lên. Sai Chưởng hậu quân Lê Chất quản lãnh đại binh đi đánh. Thị trung Lý Gia Du làm Tham tán quân vụ, Phó tướng Trần Quang Thái đem 50 chiếc binh thuyền đi theo.

Tháng 5 [25/5-23/6/1808] đảng giặc ở Sơn Nam Thượng lại nổi lên ở Ứng Thiên và Khoái Châu, thế rất dữ. Quan Bắc Thành  lại sai Nguyễn Văn Xuyến cùng bọn Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Xuân chia đường đi đánh bắt. Văn Xuyến dẫn quân đến Kim Bảng [Hà Nam], đánh giặc ở Phù Đề , chém được tướng và đồ đảng mười mấy tên, giặc thua chạy. Hưng và Xuân đến Khoái Châu, đánh nhau với giặc cũng thắng. Giặc chạy đến Sơn Nam hạ, tụ tập nhau ở huyện Ý Yên [Nam Định ]. Quan quân do thám được tình hình của giặc, báo cho Thanh Hoa phát binh họp đánh, bèn dẹp yên.

Lê Chất đến Thanh Hoa, trước hết sai Quản phủ Thiên Quan Đào Văn Thành và Tri phủ Nguyễn Kim Giám chiêu tập các thổ tù, lấy uy đức của triều đình mà dụ khiến họ quy thuận. Khi Chất tới Thanh Bình [Ninh Bình] thì bọn thổ tù 35 người đều đến quân thứ đầu hàng. Chất khoản đãi rất hậu, ý muốn để chiêu dụ đầu đảng Quách Tất Thúc, nhưng Tất Thúc không chịu ra. Chất bèn chia quân làm ba đạo tiến đánh. Tất Thúc chạy trốn, bèn đuổi đến Sơn Âm, đốt trại rồi trở về. Chất xin dùng bọn thổ tù, Vua chỉ chấp nhận trao cho chức hàm làm phiên thuộc mà thôi.

Thổ phỉ ở Kinh Bắc cướp phủ Thuận An [huyện Thuận Thành, Bắc Ninh], Trấn thủ là Phạm Tiến Tuấn đem quân giao chiến ở xã Thanh Hoài [huyện Thuận Thành, Bắc Ninh] thắng trận, đuổi chúng đến xã Bình Ngô [huyện Thuận Thành, Bắc Ninh]. Vệ úy vệ Giản võ là Nguyễn Văn Thiện do Bắc Thành phái đem quân vừa tới, cùng hợp đánh, giặc bỏ hết khí giới mà chạy.

Giặc biển Tề Ngôi đến cướp ở vùng sông Giá huyện Tiên Minh [huyện Tiên Lãng, Hải Phòng]. Chưởng dinh Trương Tấn Bửu sai Chánh thống Thập cơ Trần Văn Thìn đem quân đi đánh; Thìn khinh suất tiến quân, bị giặc đánh úp. Tấn Bửu lại sai Chánh thống Hữu đồn là Bùi Văn Thái đến cứu viện, cùng giặc giao chiến phá được; giặc mang thuyền chạy.

Thổ phỉ ở Mỹ Lương [huyện Quốc Oai, Hà Tây] trấn Sơn Tây đánh úp đồn Cao Bộ; Phó đội giữ đồn là Nguyễn Danh Gia chống đánh, bị giết. Quan Bắc Thành sai Quản vệ Nguyễn Văn Trượng đem quân đánh dẹp. Giặc nghe tin quân đến, chạy sang Lâm Thao [Phú Thọ]; Trượng đuổi theo kịp, bắt và chém được giặc rất nhiều.

Thổ phỉ ở trấn Sơn Nam hạ họp thuyền lẻn vào cửa biển Trà Lý, mưu cướp đồn Diêm Hộ huyện Thanh Quan [huyện Thái Thụy, Thái Bình]. Cai cơ giữ đồn là Nguyễn Bá Huề đem quân đánh, bắt được tướng giặc là Ninh và hơn bốn chục đồ đảng.

Trước đây giặc giã ở Bắc Thành mượn tiếng tôn nhà Lê, nên dân nhiều người bị mê hoặc. Nguyễn Văn Thành sai Trần Hựu làm bài hát “Điểm Mê” (3), dùng lời quốc âm để hiểu thị; khi ấy trong hạt lại có người làm bài hát “Tố Khuất” (3) kết án bọn  quan lại tham nhũng nên sinh giặc.

Giặc biển Tề Ngôi lại đến cướp các ấp Hoàng Châu, An Phong thuộc huyện Nghiêu Phong [huyện Cát Hải, Hải Phòng]. Sai quản cơ Vũ Văn Kế đem binh đi đánh, chém được vài tên giặc, bắt mười mấy người, giặc tan chạy. Tống Phước Lương sai binh thuyền đi tuần xét, đánh bại quân giặc ở cửa Liêu [Nam Định], bắt được bọn giặc 7 người và 4 chiếc thuyền; thế giặc cùng quẫn. Đồ đảng là bọn Lương Kim Ngọc, Trần Thế Dịch đem 2 chiếc thuyền và hơn 70 người thủy thủ vào đầu thú ở Nghệ An. Quan tại trấn tâu lên; Vua sai tha tội và cho an sáp ở Thanh Hà [Hải Dương].

Tháng 6 [24/6-22/7/1808] ở Quảng Nam giặc nổi lên, cướp bóc dân cư và thuyền buôn. Sai Cai đội Cao Văn Tiềm dò bắt được đầu đảng là tên Hội và bè lũ rất nhiều; dân các xã Ngọc Sơn, Tiên Mỹ cũng bắt được bọn giặc đem nộp. Thưởng cho Văn Tiềm 150 quan tiền và dân các xã 100 quan.

Tên giặc trốn ở trấn Tuyên Quang là Hoàng Phong Bút họp đảng ở tổng Tụ Long [ đất hiện nay giáp với tỉnh Hà Giang, đã cắt cho nhà Thanh bởi Hiệp ước Pháp Thanh năm 1887] lại mưu nổi loạn. Quan trấn dò biết tin, sai Vệ úy Lê Văn Thái đem binh cùng với thổ tù là Ma Sĩ Trạch vây bắt, chém được quân sư giặc là Cam, tiên phong là Thiều, bắt được đồ đảng rất nhiều. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên, bèn ban mũ áo cho Văn Thái và Sĩ Trạch, lại cho Sĩ Trạch làm Tuyên úy đại sứ và thưởng cho quân lính tiền.

Tháng 6 nhuần [23/7-21/8/1808], thổ phỉ Thái Nguyên vây đồn Bắc Cạn. Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển phát binh đánh dẹp, chém được hơn sáu chục tên giặc. Việc tâu lên, thưởng cho 2.000 quan tiền.

Vét sông Dương Xuân [ sông An Cựu], Vua tới xem, thưởng tiền cho quân binh theo thứ bậc khác nhau. Vào tháng 7 [22/8-19/9/1808] Vua rước Hoàng thái hậu đi xem đánh cá tại sông này.

Vào năm ngoái, Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi thư cho Bắc Thành cho biết thuyền giặc đều mũi xanh cột buồm đỏ, nếu chạy đến hải phận Việt Nam thì đón bắt dùm. Phía ta bắt được bọn giặc biển Trương Á Nhị, Mông Kiến Sinh 37 tên; vào tháng 7 giải giao cho nhà Thanh.

Nước Chân Lạp sai sứ đến dâng sản vật địa phương và dâng biểu xin cho thuyền buôn các nước thông thương tới Nam Vang. Vua ban sắc rằng phàm thuyền buôn của người Thanh hay người Chà Và muốn đi Nam Vang để đổi chác hàng hóa đều cho, duy người Gia Định thì phải có bằng cấp  của thành [Gia Định] mới được đến buôn.

Đắp đập tại phường Hà Trữ thuộc huyện Phú Lộc [Thừa Thiên]. Vua thấy đất ấy gần biển, thường bị nước mặn thấm vào, sai Giám thành phó sứ Nguyễn Đức Sĩ cùng với dinh thần Quảng Đức [Thừa Thiên] đi xem xét đo đạc, đắp đập để ngăn nước mặn, nông dân lấy làm tiện lợi.

Khai mỏ bạc ba động Lò Thượng, Lò Hạ, An Khương thuộc châu Lang Chánh, Thanh Hóa. Bọn người nước Thanh [Trung Quốc] là Cao Hoành Đức, Hoàng Quế Thành xin khai, mỗi năm nộp thuế 100 lạng bạc.

Tháng 8 [20/9-19/10/1808], thổ phỉ ở Kinh Bắc hơn 500 người cướp bóc ở ba xã Tiên Lục, Mỹ Lộc, Hoàng Hà thuộc phủ Lạng Giang [Bắc Giang]. Bọn thổ hào Trần Thế Hanh, Trần Bá Liêu, Nguyễn Bá Điều tự đem đinh tráng đón đánh, bắt được 4 đồ đảng và chém được hơn năm chục thủ cấp. Quan Bắc Thành tâu công trạng; thưởng cho 500 quan tiền và 15 tấm nhiễu.

Tướng giặc ở Sơn Nam Hạ [Nam Định] là Phạm Duật ra thú. Hạ lệnh tha tội, thả cho về. Nhân hạ lệnh cho Bắc Thành từ nay có giặc giã ra thú đều cho khoan tha; do đó đảng giặc ra đầu thú rất nhiều.

Tháng 9 [20/10-17/11/1808], bắt đầu đặt chức Tổng trấn thành Gia Định. Triệu Nguyễn Văn Trương về, lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn Gia Định, Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn. Ban ấn Tổng trấn thành Gia Định ấn bạc núm hình sư tử.

Vào tháng 7 [22/8-19/9/1808] quan Bắc Thành cho giải giao giặc biển cho nhà Thanh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang tâu lên, Vua Gia Khánh hài lòng, căn dặn viên Tổng đốc gửi thư khen lao:

Ngày 21 tháng 9 năm Gia Khánh thứ 13 [9/11/1808]. Dụ các Quân cơ đại thần:

 Ngô Hùng Quang dâng tấu triệp về việc tiếp nhận phúc trình của Quốc vương Việt Nam, cùng duyên do việc trói giải giặc phỉ. Trước đây bọn giặc họ Thái trốn tránh tại biển Di Việt Nam, viên Quốc vương tiếp nhận chỉ dụ, bèn cho ngăn chặn tại biển và đánh bắt tội phạm giải tống quan ải. Duyệt qua bản sao lục thấy tấm lòng và lời lẽ cung thuận đáng khen. Ngô Hùng Quang hãy đợi khi phạm nhân được giải đến, hãy đích thân tra hỏi, như bọn chúng là những tên giặc, thuộc loại chỉ huy nỗi tiếng, thì tâu rõ để xét mà thêm ân thưởng. Nếu như trong đó không có bọn chỉ huy giặc thì cũng nên ban tưởng lệ , cùng báo cho viên Quốc vương biết rằng lần này bắt được bọn phỉ, giải tống đến Thiên triều, đại Hoàng đế thấy được tấm lòng thành khen lao. Từ nay trở về sau đáng dốc lòng trung gấp bội, hợp sức ngăn cấm, không kể loại giặc nào trốn sang đó, đều đáng mang thêm binh thuyền đánh bắt. Nếu bắt được bọn cướp biển nỗi tiếng, đáng tâu lên để được đại Hoàng đế tưởng thưởng thêm. Ðể đáp ơn đặc biệt, viên Quốc vương đáng cảm khích phấn chấn, ra sức đánh bắt. Ðem dụ này truyền để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 201, trang 23-24)

Tháng 10 [18/11-16/12/1808], lấy Hương cống [Cử nhân] bổ chức Tri huyện ở các huyện. Tri huyện ở Bắc Thành khuyết, quan Bắc Thành dâng sớ xin cử những người có học để bổ sung; Vua không cho, bảo các quan rằng :

Chức huyện lệnh là bực thầy bực tướng của dân, có thể dùng những người tẹp nhẹp được ư? Nay những người mới đỗ Hương cống còn chưa bổ quan, cho họ thử việc hành chính trị dân, cứ chọn ở đấy”.

Bèn hạ chiếu cho Bắc Thành và Thanh Nghệ đều lấy Hương cống mà bổ tri huyện.

Sai Đô thống chế Thủy quân Tống Phước Lương điều 50 chiếc thuyền ô đi Gia Định rước quan tài Duệ tông Hiếu định Hoàng đế và quan tài Mục vương Anh duệ Hoàng thái tử [Đông cung Cảnh]. Sai  quan thành Gia Định tiễn đưa tới bến; các dinh trấn từ Bình Thuận đến Quảng Đức [Thừa Thiên] đều đặt hương án ở cửa biển bái tống.

Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đi kinh lược các trấn, thấy sông Nông Giang [sông Luộc] thuộc huyện Duyên Hà [huyện Hưng Hà, Thái Bình] là nơi giáp giới Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ và Hải Dương, xin dời đồn thủy ở Hàm Giang đến đấy. Lại đặt đồn Thụy Anh [huyện Thái Thụy, Thái Bình] ở Sơn Nam hạ, đồn Xuân Cát [huyện Nam Sách] ở Hải Dương  để giữ những nơi trọng yếu.

Tháng 11 [17/12/1808-15/1/1809], sai Lưu thủ Tống Phước Ngoạn và Thượng bảo thiếu khanh Phạm Nhữ Phong sung chức Chánh, Phó sứ sang Xiêm. Tặng Phật vương 2 cân kỳ nam, 3 cân quế 100 tấm lụa, 300 tấm the, 100 tấm vải đen; tặng Vua thứ hai 1 cân kỳ nam, 2 cân quế, 50 tấm lụa, 200 tấm the, vải đen và vải trắng đều 50 tấm.

Tháng chạp [16/1-13/2/1809] Tham tri Lại bộ kiêm quản Trường đà là Phạm Đăng Hưng dâng sổ tổng kê về các hạng thuyền ghe năm nay của các dinh trấn. Tổng số thuyền 3.460 chiếc, được ơn miễn thuế 78 chiếc, ứng việc vận tải 425 chiếc, được miễn vận tải 2.957 chiếc [78+425+2.957=3.460 chiếc]. Tiền nộp thay vận tải và tiền thuế bến hơn 17.700 quan; từ nay lấy việc dâng sổ tổng kê làm thường lệ.

Lễ bộ tâu rằng:

Từ trước, đầu năm khai ấn duyệt binh, cuối năm yết lăng, tế chạp và khóa ấn, đều để tới kỳ mới chọn ngày lành. Nay xin lấy ngày nhất định”.

Vua nghe lời tâu, chuẩn định mỗi năm vào ngày 13 tháng chạp yết lăng, 14 tế Chạp, 25 khóa ấn; ngày mồng 7 tháng giêng thì khai ấn, sai quan xuất binh; qui định sang năm là năm Kỷ Tỵ [1809-1810] bắt đầu.

 

Chú thích:

  1. Lộc minh: Tên một bài thơ trong thiên Tiểu nhã, Kinh Thi tả bữa yến của vua ban cho quần thần.
  2. Bát Dật: Theo Chu Lễ, múa Bát Dật trong lễ dành riêng cho Vua, có 8 hàng.
  3. Điểm Mê: Chỉ điểm những điều mê muội; Tố Khuất: Kêu oan.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này