Lược sử Y Học (Bài 3)

STEVE PARKER

Trần Quang Nghĩa dịch

Thời kỳ Đen tối ở Châu Âu

VÀO NĂM 476 SCN, MỘT LIÊN MINH của các bộ tộc German và các bộ tộc khác, do thủ lĩnh Flavius ​​Odoacer lãnh đạo, đã hành quân qua Ý, chiếm đoạt đất đai và thâu tóm quyền lực. Tại Ravenna, hoàng đế La Mã Romulus Augustus bị phế truất và lưu đày. Sự kiện này thường được coi là sự kiện đánh dấu sự kết thúc của Đế chế La Mã phương Tây, vốn đã suy tàn trong ba thế kỷ. Nó cũng báo hiệu sự trôi dạt của châu Âu trong gần một nghìn năm lịch sử mơ hồ, hỗn loạn được gọi là thời Trung Cổ, kết thúc bằng sự nở rộ của thời kỳ Phục Hưng vào thế kỷ 14. Trong giai đoạn đầu của thời Trung Cổ, cho đến khoảng năm 1000, xã hội và văn hóa châu Âu bị phân mảnh. Pháp quyền suy yếu trước các bộ tộc hiếu chiến, và phần lớn tiến bộ mà Hy Lạp và La Mã cổ đại đạt được đã bị mất hoặc thậm chí bị đảo ngược. Ghi chép lịch sử rất ít ỏi, điều kiện sống của nhiều người giảm sút dưới chế độ phong kiến, và nỗi sợ hãi, nghèo đói và đàn áp lan rộng. Thuật ngữ phổ biến cho thời kỳ này là “Thời kỳ đen tối”.

 

Đó cũng là thời kỳ đen tối của y học. Các thầy thuốc thường không được đào tạo bài bản và không có giấy phép hành nghề, một phần vì có rất ít cơ quan hay hệ thống chuyên môn giám sát hoạt động của họ và kiểm soát những hành vi thái quá. Chẩn đoán thì sai lệch, bị chi phối bởi lợi lộc và hứa hẹn về ảnh hưởng. Một số phương pháp điều trị có hiệu quả, nhưng một số khác lại gây hại và thậm chí tàn nhẫn. Trong những thế kỷ này, y học châu Âu vẫn dựa trên các khái niệm từ Hy Lạp và La Mã cổ đại – đặc biệt là học thuyết về bốn thể dịch. Chăm sóc y tế giờ đây thuộc lĩnh vực của Giáo hội, vốn chủ yếu là Công giáo, và các khu vực y tế được tổ chức một cách sơ sài và các phường hội tự lo liệu. Những bài học của Hippocrates, vốn cho thấy bệnh tật là một quá trình tự nhiên bên trong cơ thể, chứ không phải là kết quả của sự trừng phạt của Chúa hay bị quỷ dữ đoạt hồn, phần lớn đã bị loại bỏ. Kết quả là, sự lừa đảo và bịp bợm lan tràn. Nếu một y sĩ hay thầy lang chữa trị cho một bệnh nhân sau đó hồi phục, thì tất cả công lao đều thuộc về người hành nghề, có thể tự nhận mình có mối liên hệ đặc biệt với Đấng Toàn Năng. Nếu kết quả là bệnh tình trở nặng hơn, hay thậm chí tử vong – thì đó cũng là ý Chúa. Bệnh nhân đã làm Chúa phật lòng đến mức y sĩ phải bó tay, chẳng thể làm gì được.

CÁC BIỆN PHÁP TRUYỀN THỐNG

Một dược sĩ thời trung cổ và trợ lý của ông đang chuẩn bị các bài thuốc thảo dược – phương pháp điều trị thường bị liệt vào trò phù thủy.

 

Những tiến bộ gần nhất trong y học thời trung cổ chỉ dành riêng cho giới quý tộc, người giàu và Giáo hội. Một số quan chức tôn giáo thậm chí còn xa lánh những phương pháp chữa bệnh có từ cổ xưa, chẳng hạn như sử dụng thảo dược, vì cho rằng đó là “trò phù thủy”. Họ cho rằng cách duy nhất để chữa bệnh thực sự là hoàn toàn sùng đạo và vâng lời Chúa, Đấng sẽ ban thưởng bằng cách trục xuất bệnh tật khỏi cơ thể. Hiện tượng “chữa bệnh thần kỳ” cũng nổi lên, với một số thầy thuốc tự xưng là có năng lực thánh thiện. Tuy nhiên, hầu hết nông dân vùng  nông thôn lại không quan tâm đến những vấn đề này, và vẫn tiếp tục sử dụng các công thức thảo dược và các phương pháp điều trị khác từ thời cổ đại.

 

Từ khoảng thế kỷ 12, những phiên bản đầu tiên của bệnh viện bắt đầu xuất hiện. Hầu hết chúng đều gắn liền với các tu viện, nhà dòng và các cơ sở tôn giáo tương tự. Nhìn chung, sạch sẽ, với thực phẩm hợp lý và đội ngũ nhân viên tận tâm, chúng cung cấp sự chăm sóc và thoải mái rất cần thiết cho mọi loại bệnh nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội. Chúng cũng là nơi dừng chân của khách du lịch, nơi tĩnh tâm cho học viên, và là nơi trú ẩn cho người nghèo, người khuyết tật, người già, người “yếu đuối” và những người cơ nhỡ. Việc thờ phụng được kết hợp vào thời khóa hàng ngày được tổ chức chặt chẽ, một phần để cổ vũ sự hồi phục và một phần như một áp lực thể chế hóa, và các y sĩ thăm khám đều đặn. Tuy nhiên, một buổi tư vấn điển hình với y sĩ – đặc biệt là trong thời kỳ đầu Trung Cổ – có thể là một việc khá mạo hiểm. Trên thực tế, bệnh nhân có thể không gặp được một y sĩ, mà là một thảo dược viên, một nữ hộ sinh, một nhà huyền bí học, hoặc thậm chí là một phù thủy bán thời gian. Người hành nghề có thể bắt đầu bằng cách nghiên cứu da, bắt mạch (cho thấy tim “co thắt”, vì lưu thông máu chưa được khám phá), và ghi lại các kiểu thở của bệnh nhân. Có lẽ y sĩ sẽ rạch vài đường tĩnh mạch để đánh giá chất lượng máu – loãng hay đặc, sáng hay tối – rồi ngửi, chọc, gạn, và nhìn chung là xem xét kỹ lưỡng cả phân lỏng và phân rắn. Nếu cần, có thể nếm máu, nước tiểu, và thậm chí cả phân, cũng như khuấy chúng với  nhiều chất phản ứng hóa học khác nhau. Tất cả những quan sát này sẽ giúp xác định sự cân bằng của các thể dịch  và liệu đờm, mật vàng, hay một thể dịch khác có phải là nguyên nhân gây ra vấn đề hay không. Lời kể của chính bệnh nhân về bệnh trạng của mình cũng có thể cung cấp manh mối. Ví dụ, người bệnh – vì tin vào khả năng trừng phạt của Chúa – có thể thừa nhận một số hành vi vi phạm hoặc vô đạo đức gần đây. Nếu y sĩ địa phương không có mặt để khám trực tiếp, tất cả kết quả sẽ được thông báo cho y sĩ, và sau đó y sĩ sẽ chẩn đoán từ xa và chuyển đơn thuốc lại cho bệnh nhân và người chăm sóc.

 

Phương pháp chữa bách bệnh vĩ đại nhất thời bấy giờ chắc chắn là trích máu (chích lể). Cách này có từ thời Hippocrates và Galen, người sau tin rằng trong bốn thể dịch, máu chiếm ưu thế. Nhiều bệnh tật liên quan đến tình trạng dư thừa máu, và việc loại bỏ một số máu dư thừa sẽ làm giảm lượng máu dư thừa và thanh lọc cơ thể. Do không có kiến ​​thức về hệ tuần hoàn, người ta nghĩ rằng máu được tạo ra ở gan và được tiêu thụ ở các mô. Nếu quá trình chuyển hóa này mất cân bằng, máu có thể tích tụ và ứ đọng ở các chi. Một lần nữa, trích máu là câu trả lời hiển nhiên.

 

Galen và những người theo ông đã nghĩ ra những cẩm nang hướng dẫn tinh vi về việc trích máu. Cách thức thực hiện phụ thuộc vào các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng của chúng, thông tin chi tiết về bệnh nhân (chẳng hạn như tuổi tác và các bệnh lý nền), thời gian trong ngày, tuần và năm, và thậm chí cả thời tiết. Có những hướng dẫn về việc nên mở động mạch hay tĩnh mạch, và vị trí thực hiện trên cơ thể. Chọc tĩnh mạch để lấy máu từ một tĩnh mạch nông có kích thước lớn, đặc biệt là ở cẳng tay; máu rỉ ra chậm, dễ kiểm soát và dễ đông. Mở động mạch nguy hiểm hơn nhiều vì máu phun ra dưới áp lực, khó định lượng và mất nhiều thời gian hơn để đông lại. Vấn đề tiếp cận mạch máu nào cũng rất phức tạp. Lý thuyết liên kết một số cơ quan nội tạng, chẳng hạn như gan và phổi, với các tĩnh mạch cụ thể, mặc dù chúng không phải lúc nào cũng dễ tiếp cận. Điều này dẫn đến các phương pháp “lấy máu gần” và “lấy máu xa”. Trong lấy máu gần, máu được rút từ vị trí gần với vùng bị ảnh hưởng; lấy máu xa từ một vị trí xa hơn. Vì vậy, đau cổ có thể được điều trị theo phương pháp “lấy máu xa” bằng cách lấy máu từ mắt cá chân, trong khi rối loạn lá lách có thể đòi hỏi phải mở tĩnh mạch ở cổ tay trái. Các bác sĩ thời Trung cổ đã bổ sung thêm chi tiết vào quy trình lấy máu, bao gồm loại dao nào hoặc con đỉa nào cần được sử dụng, và bệnh nhân cần nên làm gì đó trong khi máu chảy – cầu nguyện, đọc thơ, thậm chí chơi nhạc cụ. Một số trường hợp chỉ cần một cốc nước màu đỏ. Những trường hợp khác yêu cầu bệnh nhân phải trích máu cho đến khi bất tỉnh hoặc ngã gục – một dấu hiệu tích cực cho thấy tà khí đã được xua tan và thể dịch đã trở lại trạng thái cân bằng.

Đỉa hút máu hoàng đế

Hình minh họa này từ tác phẩm Decameron của Boccaccio cho thấy hoàng đế La Mã Galerius bị vô số con đỉa hút máu. Theo văn bản, các triệu chứng của ông bao gồm sự thối rữa và bốc mùi kinh khủng.

 

LƯỢNG MÁU HÚT RA BỞI MỘT CON ĐỈA

5-10 MI)

 

Một tài liệu tham khảo y khoa hữu ích cho các y sĩ được gọi “sách đỉa”, có lẽ được gọi như vậy vì các y sĩ còn được gọi là “đỉa”, xuất phát từ thói quen của họ sử dụng những sinh vật giống giun này để hút máu cho hầu hết mọi bệnh tật. Hầu hết các sách đỉa đều chứa đựng những bài thuốc thời đó được thu thập một cách bừa bãi từ rất nhiều nguồn. Một ví dụ nổi tiếng còn sót lại từ thế kỷ thứ 10, có lẽ bắt nguồn từ một phiên bản thế kỷ thứ 9, là Medicinale Anglicum, thường được gọi là Sách Đỉa Bald. Phần đầu tiên của sách đề cập đến gần 90 bệnh lý bên ngoài và nhiễm trùng ảnh hưởng đến tai, mặt, răng, v.v., cho đến tận bàn chân; phần thứ hai đề cập đến các rối loạn bên trong như nôn mửa, đau bụng và tiêu chảy. Đan xen vào danh sách là cách điều trị vết chó cắn, phát ban do côn trùng đốt, rụng tóc, đau đầu, đau lưng, đau gan, các bệnh tà, thiếu sinh lực ở nam giới, và phụ nữ nói quá nhiều.

 

Sách Đỉa Bald thậm chí còn có một phương pháp phẫu thuật (rất hiếm vào thời đó) để chữa bệnh sứt môi: “Nghiền nhuyễn mát-tít, thêm lòng trắng trứng, trộn đều với son, dùng dao cắt mép môi giả, khâu chặt bằng lụa, bôi thuốc mỡ lên khắp nơi trước khi lụa bị thối.” Một phương pháp điều trị nhẹ nhàng hơn (nếu không kể đến số phận con chim) được giới thiệu cho bệnh quá nhiều lông: “Nếu lông quá dày, hãy lấy  một con chim sẻ , đốt thành tro rồi rắc tro lên chỗ đó.” Sách đỉa là một tuyển tập hỗn hợp bao gồm những lời khuyên thực tế, thảo dược và khoáng chất, nghi lễ, thơ ca, thần chú, lời cầu khẩn và suy ngẫm triết học, một số trong đó có thể bắt nguồn từ những lời dạy của người La Mã và Ả Rập cổ đại.

 

Nếu không có sách đỉa, một y sĩ có thể sẽ muốn thử nghiệm một phương pháp chữa trị mới. Một trong những người như vậy là Johannes de Mirfield, một thầy thuốc uy tín của Bệnh viện St. Bartholomew, London, ông đã đề xuất phương pháp tắm thuốc như sau: “Lấy những chú chó con mới sinh bị mù, moi ruột và cắt bỏ chân; sau đó đun sôi trong nước, và cho bệnh nhân tắm trong nước này. Để bệnh nhân ở trong bồn tắm bốn giờ sau khi ăn, và trong khi tắm, bệnh nhân nên trùm kín đầu và quấn kín ngực bằng da dê để không bị cảm lạnh đột ngột.”

 

Một lĩnh vực đặc biệt thiếu hiểu biết ở châu Âu thời Trung cổ là giải phẫu học. Giáo hội Công giáo, đặc biệt, phản đối việc rạch mổ và xâm lấn cơ thể, trừ khi đó là những vết thương nguy hiểm đến tính mạng, và chỉ dành cho giới quý tộc và thành viên của tầng lớp thống trị. Những y sĩ dũng cảm tìm cách mổ xẻ bệnh nhân đã gặp trở ngại về nhiều phương diện. Kiến thức giải phẫu cơ bản còn hạn chế, nên rất ít y sĩ biết cơ quan nào nằm ở đâu và chúng có chức năng gì. Nếu bệnh nhân còn tỉnh táo, gây mê và giảm đau chỉ có thể thực hiện bằng cách dùng rượu, thuốc phiện hoặc thứ gì đó tương tự, với liều lượng khủng khiếp và thầy thuốc không được trang bị kiến ​​thức nào về vi trùng hoặc thuốc sát trùng, bụi bẩn và mủ trong ruột gần như chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng nhiễm trùng và tử vong.

 

Một trong những căn bệnh phổ biến nhất thời bấy giờ là bệnh phong, gần đây được gọi là bệnh Hansen. Được ghi nhận từ thời cổ đại, đặc biệt là ở tiểu lục địa Ấn Độ, bệnh phong gây ra nỗi sợ hãi lớn, không chỉ vì nó dần dần tấn công các bộ phận của cơ thể cho đến khi chúng bị hủy hoại và rụng đi, mà còn vì người ta cho rằng nó rất dễ lây nhiễm. Hậu quả là, các nạn nhân phong phải chịu sự kỳ thị xã hội nặng nề, và nhiều người bị cách ly hoặc giam giữ trong các trại phong. Một số trại phong không cho bệnh nhân phong bất kỳ quyền nào, vì giáo lý Công giáo quy định rằng người mắc bệnh phong coi như đã chết và thực chất là “người chết sống lại”. Ở thái cực khác, một số người coi bệnh phong là sự trừng phạt của Chúa trước khi chết – một dạng luyện ngục và thanh tẩy tội lỗi để chuẩn bị cho sự thăng thiên lên Thiên Đàng – điều này mang lại cho người phong một địa vị thánh hóa đặc biệt.

 

Bất chấp sắc lệnh chính thức của Giáo hội, thường thì các tu sĩ hoặc linh mục mới là những người tổ chức các trại phong và cung cấp thức ăn, quần áo cho người bệnh. Nếu được phép ra ngoài, người bệnh phong phải mang theo chuông và vừa đi vừa lắc chuông để báo hiệu cho người khác biết họ sắp đến mà tránh xa, vừa để cầu xin lòng hảo tâm. Rất ít y sĩ hoặc người khỏe mạnh khác dám đến gần. Vì những lý do không hoàn toàn rõ ràng, bệnh phong trở nên ít phổ biến hơn nhiều trong thế kỷ 14 và 15 ở châu Âu – có lẽ là nhờ Cái Chết Đen, căn bệnh dịch hạch đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người vốn đã suy yếu vì các loại bệnh khác.

GIÚP ĐỠ NGƯỜI CHẾT SỐNG

Một tu sĩ dòng Augustinô mang thức ăn đến cho một người cùi tại một trại phong. Vào thời điểm đó, giáo lý chính thức của Giáo hội quy định người phong cùi là những người coi như đã chết.

 

Bệnh Dịch Hạch

Là một tai họa đã càn quét châu Âu và châu Á trong nhiều thế kỷ, bệnh dịch hạch đã tấn công dân số một cách nhanh chóng và tàn khốc, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và làm thay đổi bản đồ dân số thế giới một cách không thể đảo ngược. Do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra, được truyền qua bọ chét chuột, các triệu chứng chính của nó bao gồm sưng hạch bạch huyết, co giật và hoại tử. Bệnh thường gây tử vong, giết chết hai phần ba số nạn nhân trong vòng vài ngày và lây lan nhanh chóng: các đại dịch đã xảy ra vào thế kỷ 6-8, 14-18 và 19-20. Trước khi có kháng sinh vào thế kỷ 20, không có phương pháp điều trị đáng tin cậy nào.

Y sĩ chống dịch hạch thế kỷ 18 đeo mặt nạ tẩm thảo dược

 

Khoảng năm 1400, dân số châu Âu giảm hàng chục triệu người khi bệnh dịch lây lan không kiểm soát, trầm trọng hơn do điều kiện sống thấp kém và phương pháp điều trị không hiệu quả.

 

541-542 Bệnh dịch hạch xuất hiện ở Constantinople, gây ra một đợt bùng phát lan rộng từ Ba Tư qua Đế chế La Mã đến Ireland.

 

1346 Dịch bệnh được gọi là Cái Chết Đen bắt đầu, có thể là ở thảo nguyên Nga; sau đó lan đến Crimea vào cuối năm.

 

1348 Chính quyền Venice và Florence thực thi luật vệ sinh nghiêm ngặt bằng cách di dời nạn nhân dịch hạch khỏi đường phố.

 

1351 Bệnh dịch hạch lan đến hầu hết châu Âu và Trung Đông, giết chết hàng triệu người.

 

1377 Ragusa (Dubrovnik) áp dụng lệnh cách ly 30 ngày đối với du khách đến thành phố.

 

1439, Quốc hội Anh tuyên bố rằng “các y sĩ cao quý” khuyên nên tránh tiếp xúc với nạn nhân bệnh dịch hạch.

 

1647 Đại dịch hạch Seville đã giết chết khoảng 150.000 người ở Seville và khoảng 350.000 người ở các vùng khác của Tây Ban Nha.

 

1655-1670 Rất nhiều người chết trong một khoảng thời gian ngắn trên khắp châu Âu đến nỗi họ phải được chôn tập thể trong các hố chôn tập thể xây bằng gạch.

 

1665-1666 Đại dịch hạch ở London đã khiến khoảng 100.000 người thiệt mạng; nhiều người khác phải chạy trốn khỏi thành phố.

 

1679 Dịch hạch Vienna là một phần của đợt bùng phát dịch bệnh lớn hơn ở Áo, Đức và Bohemia (nay là một phần của Cộng hòa Séc).

 

1707 Một vành đai phong tỏa được thiết lập xung quanh Phổ, tất cả du khách đều phải bị cách ly.

 

1710-1711 Một nửa dân số Riga, Latvia, bị xóa sổ vì bệnh dịch hạch.

 

1720 Đại dịch hạch Marseille là đợt bùng phát dịch hạch lớn cuối cùng ở châu Âu.

 

1855 Đại dịch hạch thứ ba bắt đầu ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

 

1896 Đại dịch hạch lan tới Ấn Độ và Pakistan.

 

1899 Tàu thuyền mang bệnh dịch hạch đến những vùng lãnh thổ mới như Ai Cập và Hawaii.

 

TỶ LỆ DÂN SỐ THẾ GIỚI BỊ CHẾT BỞI CÁI CHẾT ĐEN TRONG THẾ KỶ 14  LÀ 20 %

1894 Các nhà khoa học Kitasato Shibasaburo và Alexandre Yersin tại Hồng Kông đã phân lập được trực khuẩn gây bệnh dịch hạch và đặt tên là Yersinia pestis.

1898, bác sĩ người Pháp Paul-Louis Simond chứng minh rằng bọ chét Xenopsylla cheopis (bọ chét chuột phương Đông) là tác nhân truyền bệnh dịch hạch.

 

1945 Các nhà khoa học tiến hành thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về thuốc kháng sinh streptomycin chống lại bệnh dịch hạch.

 

Nhà Giả Kim

 

Thật khó để xác định thuật giả kim. Nó có truyền thống lâu đời và đa dạng trên khắp châu Á và châu Âu, nổi bật vào thời Trung cổ, nhưng nguồn gốc của nó đã có từ hàng ngàn năm trước. Nó kết hợp các triết lý và tín ngưỡng liên quan đến ma thuật, linh hồn và siêu nhiên, với các kỹ thuật phân tích và phòng thí nghiệm thực tiễn cao độ, bao gồm các nguyên tố, khoáng chất và các chất khác vốn quen thuộc trong các trung tâm nghiên cứu hóa học ngày nay. Mục tiêu của các nhà giả kim thay đổi theo thời gian và địa điểm. Một số nhiệm vụ nổi tiếng nhất của họ bao gồm: biến đổi kim loại “cơ bản” (thông thường hoặc rẻ tiền) như chì thành kim loại quý, đặc biệt là vàng, bằng cách sử dụng một vật thể hoặc công thức được gọi là Đá Triết Gia; tạo ra một chất có thể hòa tan bất kỳ chất nào khác – Dung môi Phổ quát hay Alkahest; sáng chế ra một loại thuốc mang lại tuổi trẻ vĩnh cửu cho ai uống nó – Thần dược Trường sinh; tạo ra một chất có thể chữa khỏi mọi bệnh tật – Phương thuốc Vạn năng. Những mục tiêu đáng ca ngợi này đã mang lại những kết quả hữu ích và thiết thực, nhưng lĩnh vực kỳ lạ của giả kim thuật còn có tính đa tầng hơn thế nữa. Về cơ bản, nó liên quan đến việc chuyển hóa vật chất từ ​​dạng này sang dạng khác, hoặc cải tạo một sinh vật này thành một sinh vật khác. Về mặt vật lý, điều này có nghĩa là tạo ra vật chất quý giá nhất hiện hữu hoặc đạt được sự bất tử. Về mặt tâm linh, nó liên quan đến việc theo đuổi sự viên mãn, hoàn thiện hoặc toàn mỹ.

 

Thuật giả kim thực tiễn hoặc chức năng phát triển từ các quá trình hóa học như lên men bia, thuộc da, nấu chảy quặng để chiết xuất kim loại và khoáng chất quý, pha chế thuốc và dầu thơm, và chưng cất chiết xuất từ ​​thực vật và đất. Các quy trình này bao gồm xử lý và tinh chế các chất cơ bản thông thường để thu được sản phẩm cuối cùng tinh khiết, mong muốn. Ví dụ, trong luyện kim, đá thông thường được nấu chảy và xử lý, cuối cùng tạo ra các kim loại quý như vàng lấp lánh hoặc kim loại lỏng màu bạc tuyệt vời là thủy ngân. Trong một số hình thức giả kim, các quá trình thực tiễn này có sự tương đồng về mặt tâm linh liên quan đến việc thanh lọc tâm hồn để đạt được sự hoàn hảo và mở khóa bản thể bên trong để tiếp cận cốt lõi của sự tồn tại của một con người. Thật vậy, để thuốc giả kim có tác dụng chống lại bệnh tật, người ta cho rằng, các tác dụng vật lý như giảm các triệu chứng chỉ có thể xảy ra nếu đi kèm với các chuyển đổi tâm linh như vậy.

HY VỌNG CÓ PHƯƠNG PHÁP CHỮA KHỎI

Một nhà giả kim nhóm bếp để đun một trong những loại thuốc của mình. Những khách hàng đầy hy vọng đang nếm thử thuốc của ông ở phía sau.

 

Các khía cạnh tâm linh, huyền bí và biểu tượng của thuật giả kim có thể được coi là “bí truyền” – tức là chỉ giới hạn trong một hoặc một vài cá nhân sở hữu nhận thức và đặc quyền. Điều này gắn kết thuật giả kim với truyền thống Hermeticism, dựa trên những lời tuyên bố của Hermes Trismegistus, một nhân vật bán thần thoại của Ai Cập cổ đại. Theo truyền thuyết, ngài đã nhận được kiến ​​thức và sự thấu hiểu thần thánh, sau đó truyền lại qua nhiều thời đại – kiến ​​thức có thể cho phép các lực lượng tâm linh hoặc ma thuật tác động đến thế giới vật chất. Văn bản Tabula Smaragdina (Phiến Ngọc Lục Bảo) được cho là ghi chép lời dạy của Hermes Trismegistus đã có ảnh hưởng lâu dài đến các nhà giả kim trong nhiều thế kỷ.

 

“Những gì ở trên là từ những gì ở dưới lên”

Phiến Ngọc Lục Bảo

 

Trong thời kỳ Hậu Trung Cổ và Phục Hưng, truyền thống Hermeticism coi thuật giả kim là một trong ba thành phần chính, cùng với thần số học và “ma thuật của mẫu tử” – mật mã. Mặt khác, những khía cạnh hữu ích và thiết thực của thuật giả kim không phải là bí truyền mà là “công khai”, hay dễ tiếp cận với bất kỳ ai. Theo quan điểm hiện đại, ý tưởng theo đuổi những mục tiêu kỳ diệu phi thực tế như Thuốc Trường Sinh hay Phương Thuốc Vạn Năng dường như đã thất bại ngay từ đầu, nhưng trên đường đi, các nhà giả kim đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của các ngành khoa học chính thống, đặc biệt là hóa học, khoa học vật liệu và y học.

 

Thuật giả kim và các ứng dụng của nó trong y học có lịch sử lâu đời và lừng lẫy ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Ở châu Âu, nó có thể bắt nguồn từ thời Ai Cập cổ đại, Hy Lạp và La Mã. Một trong những văn bản sớm nhất về thuật giả kim được viết hoặc biên soạn bởi Zosimos xứ Panopolis, có lẽ là một người Ai Cập sống ở Alexandria vào thời La Mã cai trị, khoảng 1.700 năm trước. Zosimos đã trình bày chi tiết về các khía cạnh triết học và huyền bí của thuật giả kim, ví dụ như việc biến đổi kim loại chỉ có thể xảy ra khi có sự chuyển hóa tâm linh tương tự của linh hồn và sự thăng thiên của nó lên cõi thần thánh.

 

Sau khi Đế chế La Mã sụp đổ, nền y học chính thống tương tự như thuật giả kim thời bấy giờ đã mờ nhạt dần khỏi tầm nhìn lịch sử ở Tây Âu. Tuy nhiên, cùng với các hoạt động học thuật và hàn lâm khác, sự lan rộng của Hồi giáo ở Đông Âu, Bắc Phi và Tây Á đã mang lại những bước phát triển thú vị. Một trong số đó là sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào các xét nghiệm và thí nghiệm sử dụng một hình thức sơ khai của phương pháp luận khoa học. Jabir ibn Hayyan (khoảng 721-815), được biết đến ở châu Âu với tên gọi Geber, sống tại Kufa, gần Baghdad (nay thuộc Iraq). Các tác phẩm được cho là của ông rất đồ sộ và đa dạng, trải dài từ triết học và chiêm tinh học đến “hành vi của vật chất khi chịu sự thay đổi cưỡng bức”. Những ghi chép này ghi lại các thí nghiệm và phân tích cách sử dụng các chất khác nhau, từ axit axetic nhẹ (giấm) đến axit sulfuric cực kỳ ăn mòn, cũng như lưu huỳnh và thủy ngân. Công việc thực tế của Jabir bao gồm chưng cất, kết tinh, kết tủa và các quy trình khác được sử dụng rộng rãi ngày nay, sử dụng bình, lò đốt, bộ lọc, bình ngưng tụ và các thiết bị phòng thí nghiệm quen thuộc khác. Các y sĩ, nhà thảo dược học, thầy lang và dược sĩ đã áp dụng những phương pháp này để điều chế một thế hệ thuốc mới. Jabir cũng đã sửa đổi các “nguyên tố” cổ điển của thời cổ đại. Ông đề xuất ba loại nguyên tố – “linh hồn” như thủy ngân hoặc lưu huỳnh, sẽ bốc hơi khi đun nóng; kim loại, chẳng hạn như vàng hoặc bạc; và các chất không thể uốn nắn như đá, có thể nghiền thành bột. Các hệ thống nguyên tố này đã tồn tại trong thuật giả kim trong nhiều thế kỷ, cũng như việc sử dụng các hợp chất chứa thủy ngân và lưu huỳnh trong y học.

 

Thủy ngân có một lịch sử y học lâu đời và phức tạp. Vào thời Jabir, các loại dầu dưỡng và thuốc mỡ chứa thủy ngân, thường được điều chế từ quặng chính của kim loại này, chu sa (thủy ngân sunfua), được sử dụng phổ biến để điều trị các vấn đề về da. Sau đó, calomel (thủy ngân clorua) được kê đơn như một loại thuốc nhuận tràng, thuốc xổ, thuốc lợi tiểu và thuốc điều trị bệnh giang mai. Các hợp chất lưu huỳnh cũng phổ biến trên bàn làm việc của các nhà giả kim và trong các lọ thuốc của dược sĩ. Nước giàu lưu huỳnh được cho là có thể làm giảm các bệnh về da, các vấn đề về khớp và nhiễm ký sinh trùng. Các hỗn hợp lưu huỳnh hoạt động như chất khử trùng và xông hơi. Trước khi nhóm kháng sinh penicillin ra đời, sulfonamid hay “thuốc sulfa” được kê đơn rộng rãi để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn.

 

Trong thời kỳ Thập tự Chinh, vào cuối thế kỷ 11 và 12, các tác phẩm tiếng Ả Rập về thuật giả kim đã được mang về châu Âu và dịch sang tiếng Latinh, ngôn ngữ của các học giả. Tác phẩm then chốt là Kitab al-Kimya (Sách Biên soạn Thuật Giả kim) của Jabir, được Robert xứ Chester dịch và xuất bản vào năm 1144. Bên cạnh chủ nghĩa thần bí Ai Cập cổ đại và triết học Aristotle, các y sĩ Ả Rập như Jabir đã bổ sung rất nhiều thông tin thực tế về việc bào chế thuốc theo phương pháp giả kim. Đổi lại, người châu Âu đã lồng ghép các tín ngưỡng Kitô giáo như thanh tẩy tôn giáo, xưng tội để thanh lọc tâm hồn, và sự thăng thiên lên cõi vĩnh hằng vào các bản dịch mới. Thuật giả kim ở châu Âu ngày càng phát triển và nhiều chức sắc tôn giáo nổi tiếng, từ các tu sĩ khiêm nhường đến các giáo sĩ cao cấp nhất, đã bắt đầu thực hành nó.

BẶC THẦY GIẢ KIM

Nhà hóa học, y sĩ và kỹ sư người Ả Rập Jabir ibn Hayyan đã viết nhiều tác phẩm tiên phong về thuật giả kim và luyện kim.

CÓC, RẮN, ĐẠI BÀNG

Trong biểu tượng thuật giả kim, con cóc và con rắn tượng trưng cho sự ổn định và biến động, trong khi đại bàng tượng trưng cho sự thăng hoa.

 

Trong số những người hành nghề như vậy có Albertus Magnus và Roger Bacon. Albertus Magnus (khoảng 1193-1280) là một giáo sĩ người Đức có kiến ​​thức sâu rộng về thế giới tự nhiên theo truyền thống của Aristotle. Ông cũng là một nhà thực nghiệm thực sự, và vào khoảng năm 1250, có thể đã phân lập được nguyên tố hóa học asen. Giống như thủy ngân và lưu huỳnh, asen trở thành trụ cột của thuật giả kim, các hợp chất chiết xuất từ ​​khoáng chất hoặc thực vật của nó là chất kích thích với lượng rất nhỏ, nhưng có thể gây tàn tật hoặc tử vong ở liều cao hơn một chút. Các ghi chép, có lẽ được viết và thêu dệt sau khi Albertus qua đời, mô tả cách ông phát hiện ra Hòn đá Phù thủy và truyền lại công thức của nó cho học trò của mình, Thomas Aquinas, người sau đó đã phá hủy nó vì sợ rằng nó đến từ Satan.

 

Roger Bacon (khoảng 1214-1294) cũng là một giáo sĩ, thuộc dòng Phanxicô. Vừa là học trò vừa là thầy, ông theo đuổi phương pháp nghiên cứu và thử nghiệm của Dòng: “Trong ba cách mà con người nghĩ rằng họ có thể tiếp thu kiến ​​thức về sự vật: thẩm quyền, lý luận và kinh nghiệm; chỉ có cách cuối cùng mới hiệu quả và có thể mang lại sự bình an cho trí tuệ.” Bacon đã cố gắng biến đổi kim loại thường thành vàng và tiên đoán thuốc trường sinh. Ông coi đây là những nỗ lực liên quan: “Loại thuốc có thể loại bỏ mọi tạp chất và tính hư hỏng khỏi các kim loại thấp kém hơn, theo quan điểm của những người thông thái, cũng sẽ loại bỏ phần lớn tính hư hỏng của cơ thể để con người có thể kéo dài tuổi thọ trong nhiều thế kỷ.” Nhiều văn bản của Bacon bác bỏ các câu thần chú và bùa chú nhưng củng cố ảnh hưởng của Giáo hội và thẩm quyền của Kinh Thánh. Các tác phẩm của ông được lưu hành rộng rãi và truyền cảm hứng cho nhiều người khám phá sâu hơn về thuật giả kim, đặc biệt là ứng dụng trong y học. Bacon cũng nghiên cứu quang học, kỹ thuật, thiên văn học và chiêm tinh học, và quan trọng nhất đối với ông là toán học. Năm 1267, ông xuất bản Opus Majus (Tác phẩm Vĩ đại) dày 840 trang, một trong những bách khoa toàn thư hàng đầu thời bấy giờ.

 

Thuật giả kim ở châu Âu tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Phục Hưng. Một người ủng hộ nổi tiếng vào đầu những năm 1500 là Paracelsus. Người cùng thời và cũng là người du hành khắp châu Âu với ông là Heinrich Cornelius Agrippa von Nettesheim, thường được gọi là Cornelius Agrippa. Sinh ra ở Đức, ông đã viết rất nhiều về các vấn đề ma thuật, tôn giáo, huyền bí và y học, bao gồm cả thuật giả kim. Tác phẩm chính của ông là De Occulta Philosophia Libri Tres (Ba bộ về Triết học Huyền bí). Trong các ý kiến ​​và đơn thuốc y khoa của mình, Agrippa thường pha trộn giữa phán đoán thực tế đứng đắn với ma thuật và mê tín dị đoan. Ông khuyên dùng thảo dược ngũ diệp (Potentilla reptans) để hạ sốt, nhưng ông cho rằng khả năng này là do số năm, phù hợp với học thuyết thần số học – ngũ diệp có nghĩa là “năm lá”. Ông viết: “Nó kháng độc nhờ số năm; cũng xua đuổi tà ma…”. Cuối thế kỷ này, y sĩ người Đức Andreas Libavius ​​đã biên soạn một cuốn cẩm nang hóa học, Alchemia (1597). Giống như Paracelsus và Agrippa, ông quan tâm đến việc sử dụng khoáng chất và chiết xuất làm thuốc, nhưng lại ít hứng thú với chủ nghĩa thần bí và truyền thống Hermeticism của thuật giả kim. Về mặt này, Libavius ​​đang tiến gần hơn đến việc sử dụng các phương thuốc giả kim một cách thực tế và dựa trên thực nghiệm.

 

Đến những năm 1700, thuật giả kim ở châu Âu dần lụi tàn trước sự trỗi dậy của ngành kế thừa, hóa học. Ngành này áp dụng một phương pháp tiếp cận nghiêm ngặt, khắt khe và thực tế hơn nhiều, tránh xa những quan niệm như sự can thiệp của thần thánh, các truyền thống huyền bí cổ xưa và sự thanh tẩy tâm hồn bí truyền. Tuy nhiên, liên quan đến y học, hóa học vẫn tiếp tục là một trong những chức năng thiết thực của thuật giả kim là cung cấp nguyên liệu thô, các nguyên tố, hợp chất và thành phần mà từ đó các y sĩ, dược sĩ, và người pha chế thuốc có thể tạo ra thuốc chữa bệnh.

BÌNH MINH CỦA HÓA HỌC

Đến thế kỷ 19, thuật giả kim đã nhường chỗ cho hóa học, một môn học hoàn toàn dựa trên các nguyên lý thực nghiệm. Những cuộc tìm kiếm sự bất tử và phương thuốc vạn năng đã nhường chỗ cho việc nghiên cứu vi mô về xác thịt dưới mọi hình thức.

 

Y Học Cổ Truyền Phương Đông

 

Y HỌC TRUNG HOA CÓ LỊCH SỬ lâu đời và nổi tiếng không kém bất kỳ nền y học nào ở phương Tây. Trong khi Hippocrates thuyết giảng ở Hy Lạp cổ đại, các lương y Trung Quốc đã biên soạn các y văn cũng sẽ tồn tại hàng thiên niên kỷ, dưới dạng các tác phẩm như Hoàng đế Nội kinh. Và khi Claudius Galen nắm quyền ở La Mã, thần y hàng đầu Trung Quốc Trương Trọng Cảnh đã thành lập các tổ chức y tế tồn tại qua nhiều thế kỷ, trong một số trường hợp cho đến tận ngày nay. Giống như bộ sách Hippocrates Corpus và vô số tác phẩm của Galen, Hoàng đế Nội kinh đã được hiệu đính và phiên dịch nhiều lần, khiến tính xác thực và nội dung gốc của nó khó có thể xác định được. Nhìn chung, sách kể lại các cuộc thảo luận giữa Hoàng đế, và các cận thần và cố vấn của ngài, bao gồm cả Thừa tướng Ch’i Po. Nhân vật bán thần thoại Hoàng Đế được cho là đã thiết lập nên một nền văn minh vĩ đại ở Trung Quốc hơn 4.500 năm trước. Trong văn bản Hoàng Đế Nội Kinh, được biên soạn khoảng 2.000 năm trước, những người biên soạn đã trình bày dưới dạng vấn đáp, và trong quá trình đó đã thiết lập nên một kho tàng bách khoa về kiến ​​thức và thực hành y học Trung Quốc thời bấy giờ. Tác phẩm này đề cập sâu rộng đến những kiến ​​thức cơ bản như bắt mạch, kiểm tra các sản phẩm đường ruột, quan sát lưỡi, châm cứu, ngải cứu, và các khái niệm như khí mạch (năng lượng), âm dương, tạng phủ và ngũ hành.

 

Việc bắt mạch đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán và đưa ra phương pháp điều trị. Đôi khi việc này mất hơn một giờ, và tốt nhất nên thực hiện ngay sau khi thức dậy. Trọng tâm là cổ tay, nơi có sáu mạch máu, mỗi mạch đều có vị trí riẻng biệt. Bản chất hay đặc tính của mạch có nhiều khía cạnh, được mô tả trong Hoàng Đế Nội Kinh bằng những từ ngữ đầy chất thơ: “như nước nhỏ giọt qua mái nhà”, “nhẹ nhàng như dòng suối chảy”, hay đáng lo ngại hơn là “chết lặng như đá”. Nước tiểu và phân được nghiên cứu chuyên sâu, không chỉ bởi các thầy thuốc mà còn bởi người thân, thầy bói, đồng nghiệp, và thậm chí cả cố vấn tài chính. Tần suất, thể tích, mật độ, màu sắc, độ đặc, mùi, các chất chưa tiêu hóa và các đặc điểm khác đã được phân tích để tìm ra nguyên nhân gây bệnh và cách điều trị. Lưỡi là một chỉ số quan trọng khác về sức khỏe và chẩn đoán: kích thước, hình dạng, màu sắc, lớp phủ và độ mềm dẻo đều được coi là dấu hiệu cho thấy cơ thể khỏe mạnh. Ví dụ, một hệ tiêu hóa khỏe mạnh được cho là mang lại cho lưỡi một màu đỏ tươi hấp dẫn. Điều này đặc biệt đúng với phần giữa lưỡi, nơi có liên quan mật thiết đến dạ dày, ruột và lá lách. Đầu lưỡi liên quan đến tim, phổi và vùng ngực, trong khi mặt sau của lưỡi liên quan đến thận và bàng quang.

 

Khái niệm âm dương, vốn đã phổ biến trong triết học và văn hóa Trung Hoa hàng ngàn năm, đại diện cho tính hai mặt bổ sung vốn có trong mọi khía cạnh của vũ trụ. Bắt nguồn từ “nơi râm mát” và “nơi nắng ấm” (ám chỉ một ngọn đồi), cái này không thể tồn tại nếu thiếu cái kia. Âm thường tối tăm, ướt át, mát mẻ, thụ động và mang tính nữ, trong khi dương thì sáng sủa, khô ráo, nóng bức, năng động và mang tính nam. Sự phân biệt tương ứng của tạng-phủ xếp phổi, tim, gan, lá lách và thận là tạng, hay âm, còn dạ dày, ruột, túi mật và bàng quang là phủ, hay dương. Đổi lại, âm dương và tạng phủ được kết hợp vào khái niệm ngũ hành, tức là kim loại, gỗ, nước, lửa  đất (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Các hành là các trạng thái năng lượng, chứ không phải là các nguyên tố, và luôn ở trong trạng thái biến đổi. Như Hoàng Đế Nội Kinh đã viết: “Năm loại năng lượng cơ bản bao gồm tất cả vạn vật hiện tượng trong tự nhiên. Đây cũng là một mô hình áp dụng đối với con người.” Vì vậy, gan được mô tả là cơ quan âm, tạng và mộc, trong khi dạ dày là cơ quan dương, phủ và thổ, v.v.

THUYẾT ÂM-DƯƠNG

Sự căng thẳng giữa hai mặt đối lập (âm và dương) là trọng tâm của triết học Trung Hoa. Âm và dương ở đây được biểu trưng lần lượt bằng rùa và rồng.

 

Ngoài ra, khái niệm ngũ hành bao hàm bốn cách thức hoặc chu kỳ chính mà các năng lượng này tương tác. Trong chu kỳ sinh (sinh), mỗi hành thực chất là một “người mẹ” nuôi dưỡng sự phát triển của hành “con” tiếp theo. Vì vậy, hành hỏa cung cấp một lực sinh, hay nền tảng, cho hành thổ (tức hỏa sinh thổ), từ đó sinh ra và phát triển hành kim (thổ sinh kim), v.v. Chu kỳ khắc chế cho rằng mỗi hành ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi hành khác, ví dụ, nước kiểm soát lửa (thủy khắc hỏa), nhưng bản thân nó lại bị đất kiềm chế (thổ khắc thủy)  để duy trì trạng thái cân bằng. Chu kỳ cheng (động) liên quan đến việc một hành trở nên quá năng động và kiểm soát quá mức các hành phụ thuộc liên quan, dẫn đến mất cân bằng và bệnh tật. Trong chu kỳ wu (mâu thuẫn), sự đảo ngược của các lực liên quan đến việc một hành phụ thuộc kiểm soát hành vốn thường chi phối nó. Ví dụ, nước, thay vì dập tắt lửa một cách cân bằng, lại kiểm soát và thiêu rụi lửa. Một lần nữa, sự mất cân bằng này dẫn đến bệnh tật.

 

Quyển Suwen (Tố vấn), phần đầu tiên của Hoàng Đế Nội Kinh, đề cập đến tất cả những khía cạnh này và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe và thể trạng của cơ thể, giải thích vai trò của chúng trong sự rối loạn năng lượng khí, nguyên nhân gây ra bệnh tật. Ví dụ, mạch nên được bắt vào lúc bình minh: “Dương khí chưa động, âm khí chưa tán.” Quyển Ling Shu (Linh khu), phần thứ hai của Hoàng Đế Nội Kinh, chứa đựng một số mô tả sớm nhất về châm cứu. Hệ thống trị liệu này có lẽ đã phát triển từ 4.000 năm trước, và thậm chí có thể có nguồn gốc hoặc tương đồng với châu Âu cổ đại.

 

Châm cứu nhằm mục đích điều chỉnh các vấn đề về dòng chảy năng lượng khí xung quanh cơ thể. Thuật ngữ “khí” có nhiều cách hiểu theo nghĩa đen khác nhau, chẳng hạn như khí, hơi, hoặc hơi thở. Bốn hoặc năm dạng khí được ví như “năng lượng sống” hoặc “sinh lực” và di chuyển dọc theo các kênh được gọi là “kinh lạc” xung quanh và bên trong cơ thể, bao gồm khoảng 20 mạch chính với các nhánh phụ. Khí mạch khỏe mạnh, hài hòa có thể bị gián đoạn bởi các cơ quan hoạt động không bình thường hoặc ngược lại, với các cơ quan âm hoặc tạng có tác động khác với các cơ quan dương hoặc phủ. Để giải quyết sự mất cân bằng, các thầy châm cứu Trung Quốc cổ đại đã tham khảo ý kiến ​​bệnh nhân và tiến hành khám bệnh, đặc biệt là xem mạch và lưỡi, như đã đề cập ở trên. Sau đó, những cây kim rất mỏng, sắc nhọn được châm qua da tại các vị trí cụ thể được gọi là huyệt đạo, để kích thích và chuyển hướng khí. Hầu hết các huyệt đạo đều nằm trên kinh lạc và được lựa chọn dựa trên các liên kết năng lượng của chúng với các cơ quan trong cơ thể. Hoàng Đế Nội Kinh xác định hoặc ngụ ý sự hiện diện của gần 300 huyệt đạo. (Một số chuyên gia châm cứu hiện đại nhận ra con số này nhiều hơn gấp đôi.) Kim có thể được giữ nguyên tại một vị trí trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc được xoay, rung hoặc thao tác theo cách khác.

KINH MẠCH CỦA CƠ THỂ

Y học cổ truyền Trung Quốc coi bệnh tật là sự rối loạn dòng chảy của khí (năng lượng) trong cơ thể. Năng lượng này di chuyển theo các kinh mạch có thể được kích thích bằng châm cứu.

 

“Thầy thuốc giỏi thì phòng bệnh; thầy thuốc trung bình chăm lo bệnh sắp xảy ra; thầy thuốc kém chữa bệnh đang phát”

 

Tục ngữ Trung Quốc

 

Y học cổ truyền Trung Hoa cũng kết hợp nhiều phương pháp khác để tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Chúng bao gồm việc sử dụng rộng rãi các loại dược thảo, chế độ ăn uống đặc biệt, tắm rửa, mát-xa, thiền định và tập khí công, võ thuật công phu.

 

Trong bốn thế kỷ, cho đến năm 220 CN, nhà Hán cai trị Trung Quốc cổ đại. Thầy thuốc lỗi lạc nhất của triều đại này là Trương Trọng Cảnh (khoảng 150-219 CN), vào thời điểm đó y học đã phát triển từ Hoàng đế Nội kinh, mặc dù vẫn dựa trên các khái niệm trung tâm như tạng phủ và ngũ hành. Trương hành nghề vào cuối thời kỳ nhà Hán, khi xung đột giữa lực lượng nổi loạn và quan quân nhà Hán gây ra cảnh nghèo đói và hỗn loạn. Tình hình tuyệt vọng dẫn đến suy dinh dưỡng và dịch bệnh, mang lại cho Trương và những thầy thuốc đương thời rất nhiều bệnh nhân. Trương đã cho ra đời nhiều tác phẩm giới thiệu nhiều loại dược phẩm vào nền y học cổ truyền Trung Quốc. Tên gọi chung của tác phẩm này là Thương Hàn Tạp Bệnh  Luận, thường được dịch là Luận về các bệnh Sốt do Cảm Lạnh và các nguyên nhân khác gây ra. Như thường lệ, kiến ​​thức ban đầu đã được các biên tập viên sau này sửa đổi và làm cho khó hiểu hơn. Phần đầu tiên, “Thương Hàn Luận” (Về Tổn thương do Hàn), đề cập đến các bệnh truyền nhiễm phổ biến thời bấy giờ, gây ra các triệu chứng như sốt dương và rét run âm. Sách mô tả hơn 100 bài thuốc từ thảo dược. Ví dụ, một số loại sốt có thể được hạ sốt bằng các chế phẩm có chứa ma hoàng, quế chi, cam thảo và hạnh nhân. Trong phần thứ hai, “Kim Quỹ Yếu Lược”. Trương nói rằng có hàng ngàn bệnh, nhưng người ta chết vì ba nguyên nhân chính: nguyên nhân bên ngoài, nghĩa là các lực bên ngoài (cô hồn hoặc “nhân” bệnh tật) xâm nhập qua da và xâm chiếm bên trong cơ thể; nguyên nhân bên trong, nghĩa là các lực hoặc hạt có hại lan truyền dọc theo kinh mạch khí đến các bộ phận cơ thể tạng và phủ; hoặc không thuộc các nguyên nhân trên – một phạm trù đa dạng bao gồm vết côn trùng đốt, vết cắn của động vật, vết thương do vũ khí và lạm dụng tình dục.

“Kim Quỹ Yếu Lược” tập trung chủ yếu vào các chứng bệnh nội khoa và liệt kê hơn 250 công thức và bài thuốc chủ yếu sử dụng thảo dược. Thận dương hư có thể gây đau lưng và chuột rút chân, vì vậy bài thuốc được khuyên dùng là jingui shen qi’wan (Kim Quỳ Thần Khí Hoàn), một bài thuốc bổ thận khí, bao gồm các loại thảo dược như Phụ Tử, Mẫu Đơn, Phục Linh, và Địa Hoàng.

 

Các sản phẩm động vật cũng được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc. Chúng bao gồm thịt rắn chữa các vấn đề về mắt, cá ngựa nghiền nát chữa bướu cổ (sưng tuyến giáp), và siro da voi chữa loét da.

 

Thông tin về phẫu thuật ở Trung Quốc cổ đại rất ít ỏi. Một trong số ít lương y phẫu thuật được nhắc đến tên là Hoa Đà (khoảng 143-208 SCN), người cũng thành thạo châm cứu và các phương pháp chữa bệnh khác. Dường như ông đã phát minh ra một loại thuốc gây mê đa năng, được gọi là ma phí tán, làm từ rượu với các thành phần bí mật được thêm vào – chiết xuất cần sa, cây anh túc, cà độc dược, cây độc cần, và thậm chí cả hỗn hợp của chúng. [Độc giả Việt Nam biết đến Hoa Đà khi đọc Tam Quốc Chí, với giai thoại đã rạch da và nạo xương cánh tay của Quan Vũ để lấy chất độc do tên bắn mà không cần thuốc mê gì hết, trong khi Quan Vũ điềm nhiên ngồi đánh cờ, không một tiếng rên la. Vận số của vị thần y sớm kết thúc khi đề nghị mổ sọ Tào Tháo vốn đa nghi để chữa bệnh nhức đầu hành hạ ông ta.]

 

Ngải cứu thuộc chi Artemisia đã từng là – và, giống như nhiều phương pháp cổ xưa của phương Đông – vẫn còn là cây chủ yếu được sử dụng trong liệu pháp đốt ngải cứu. Phương pháp này thường được kết hợp với châm cứu. Có một số loài ngải cứu với nhiều tên gọi khác nhau, chẳng hạn như yomogegaiyou ở Nhật Bản, ssuk ở Hàn Quốc, và mogusa, ai-ye, và huang hua’ai ở Trung Quốc. Ngải cứu khô có thể được xếp lớp lên một huyệt trên da và để cháy âm ỉ tại đó, sau đó được lấy ra trước khi nó làm bỏng da – hoặc, theo ý  các thầy đông y khuyên, có thể để cháy da (có thể gây phồng rộp và sẹo). Đây là phương pháp cứu ngải trực tiếp. Trong phương pháp gián tiếp, thảo dược đã qua chế biến được ấn vào que cứu ngải, châm lửa và giữ gần da để làm nóng và bốc hơi lên vị trí bị đau. Một cách khác, sau khi châm kim vào huyệt đạo, xếp chất ngải cứu xung quanh hoặc trên đầu kim châm rồi châm lửa đốt ngải, và cứ để như thế cho đến khi thầy thuốc cho rằng nó đã có tác dụng. Cứu ngải chủ yếu được sử dụng cho các bệnh đặc trưng bởi ẩm ướt, lạnh, uể oải và trì trệ. Nó nhằm mục đích xua tan lạnh, làm ấm kinh mạch và kích thích năng lượng khí lưu thông trở lại. Đau cơ, cứng khớp, đau đầu, các vấn đề về dạ dày và ruột, đau bụng kinh hoặc kinh nguyệt không đều, và thậm chí cả vô sinh đều được điều trị theo cách này.

 

CÁI ĐAU CỦA LIỆU PHÁP CỨU NGẢI

Bức tượng nhỏ thế kỷ 19 này mô tả một bệnh nhân đang đau đớn trong quá trình chữa bệnh bằng đốt ngải cứu. Có thể nhìn thấy vết bỏng trên ống chân của anh ta.

 

 

ĐỐT NGẢI CỨU

Hình minh họa từ thế kỷ 10 này cho thấy một vị lương y Trung Quốc đang đốt ngải cứu lên lưng bệnh nhân. Phương pháp điều trị đau đớn này, được gọi là cứu ngải, kích thích các huyệt đạo để tăng cường dòng khí (năng lượng) trong cơ thể.

 

Vào thời cổ đại, cứu ngải đã du nhập từ Trung Quốc đến các vùng lân cận, bao gồm cả TriềuTiên, nơi nó gắn liền với vị vua huyền thoại Đàn Quân (Dangun), người đã sáng lập ra Triều Tiên hơn 4.000 năm trước. Truyền thuyết kể rằng mẹ của Đàn Quân, Ungnyeo, ban đầu là một con gấu, ước ao được trở thành người. Bà được thử thách ở trong hang tránh ánh nắng mặt trời trong 100 ngày, chỉ ăn tỏi và ngải cứu. Ungnyeo đã kiên trì, và ước nguyện của bà đã được chấp thuận, và sau đó bà đã sinh ra Đàn Quân, và từ đó, ngải cứu và tỏi đã trở thành những loại thảo dược quan trọng trong y học cổ truyền Triều Tiên.

 

Truyền thống y học Triều Tiên kế thừa nhiều lý thuyết và thực hành từ Trung Quốc. Tuy nhiên, truyền thống này có xu hướng chú trọng hơn vào nguyên nhân bên trong của bệnh tật, bao gồm thói quen ăn uống, lối sống, tính cách và đặc điểm hành vi. Các khái niệm âm dương và ngũ hành được tuân thủ, cùng với yuk-gi, sáu ảnh hưởng tự nhiên của khí quyển: hàn (han), nhiệt (yeol), hỏa (hwa), phong (pung), khô (jo) và ẩm (seup). Khi những yếu tố này mất cân bằng, con người sẽ mắc bệnh. Vào khoảng năm 1614, dưới triều đại Joseon của Hàn Quốc, danh y nổi tiếng Heo Jun (khoảng 1540-1616) đã biên soạn cuốn Dongui Bogam (Đông y Bảo giám ). Năm phần chính của cuốn sách đề cập đến các rối loạn “nội tại”, đặc biệt là các rối loạn về tim, phổi, gan, tỳ và thận; các rối loạn “ngoại tại”, chẳng hạn như các rối loạn về xương, cơ, huyết và da; các tình trạng bệnh lý đa dạng, từ lo lắng quá mức đến vàng da và các vấn đề phụ khoa; các bài thuốc thảo dược; và châm cứu. Công trình này đã khẳng định nền y học Triều Tiên là riêng biệt và độc lập với bối cảnh chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc.

 ĐẠI LƯƠNG Y TRIỀU TIÊN

Thầy thuốc nổi tiếng Heo Jun đã viết nên bộ sách minh chứng cho nền y học cổ truyền Triều Tiên, Dongui Bogam.

 

Ngay từ thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên, y học cổ truyền Trung Quốc cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của y học Nhật Bản – phần lớn kiến ​​thức đến từ Triều Tiên. Các y sĩ Nhật Bản đã kết hợp các yếu tố của y học Trung Quốc vào hệ thống trị liệu của riêng mình, được gọi là y học Kampo. Kampo bao gồm châm cứu, cứu ngải, xoa bóp và các kỹ thuật khác, đồng thời cũng phát triển các phương pháp chẩn đoán đặc biệt và một thư viện thảo dược phong phú.

 

Một trong những tác phẩm viết sớm nhất về y học Nhật Bản là bộ Dido Rui Ju Ho gồm 100 tập, được biên soạn vào năm 808 theo lệnh của Thiên hoàng Kanmu. Nội dung đồ sộ của bộ sách bao gồm kiến ​​thức y học thời bấy giờ, cũng như các bài thuốc dân gian và các bài thuốc dựa trên tôn giáo và tín ngưỡng. Năm 984, cuốn Ishimpo (Y học Tinh túy và Phương pháp Trị liệu) được xuất bản, do thầy thuốc người Nhật Yasuyori Tamba biên soạn. Một lần nữa, cuốn sách này dựa trên các văn bản cổ của Trung Quốc với sự đóng góp từ Nhật Bản. Vào thế kỷ 15, các truyền thống y học của Nhật Bản, vốn về cơ bản vẫn được tiếp thu từ Trung Quốc, đã được “Nhật Bản hóa” bởi Dosan Manase (khoảng 1507-1594). Được nuôi dưỡng trong một gia đình theo Thiền tông ở Kyoto, ông theo học y khoa tại Trường Ashikaga, một trong những học viện đầu tiên của Nhật Bản, ở Ashikaga, phía bắc Tokyo ngày nay. Đó là thời kỳ giao lưu lớn mạnh giữa Nhật Bản và nhà Minh của Trung Quốc, và cả hai nền văn hóa đều được hưởng lợi từ việc trao đổi ý tưởng và thực hành y học. Dosan đã tích lũy một lượng kiến ​​thức khổng lồ, cả về phương pháp y học cổ truyền Trung Quốc lẫn kiến ​​thức địa phương và học thuật Nhật Bản. Khối kiến ​​thức khá mơ hồ này đã được ông tổng hợp thành tác phẩm vĩ đại Keiteki Shu (Sách giáo khoa Nội khoa). Cuốn sách nhấn mạnh logic điều trị các triệu chứng cụ thể bằng các loại thảo dược cụ thể và trở thành trọng tâm cho sự phát triển và tính tự chủ của y học Nhật Bản sau này.

 

Y học Kampo nhấn mạnh vào các phương pháp điều trị bằng thảo dược và được kiểm soát và quản lý như một phần của hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia Nhật Bản. Giống như nhiều hệ thống y học cổ truyền Đông Á khác, nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay, thích nghi với thế giới hiện đại.

 

Ayurveda

 

Nhiều nền văn minh lớn trên thế giới đều có một vị được gọi là “Cha đẻ của Y học”, một nhân vật có thật hoặc có lẽ là huyền thoại, người đã đặt nền móng cho một hệ thống y học và chữa bệnh trường tồn – và, do bản chất của các xã hội cổ đại, ngài thường là nam giới. Ở Ấn Độ, vị trí này thuộc về Charaka. Khoảng 2.300 năm trước, ông đã biên soạn, viết và hoàn thiện một trong những văn bản kinh điển đã thiết lập nên hình thức y học cổ truyền chính của Ấn Độ – Ayurveda. Đó chính là Charaka Samhita.

 

Samhitas là những tuyển tập hoặc bản tóm tắt, thường được viết dưới dạng thơ, thánh ca hoặc thần chú. Thuật ngữ này ban đầu dùng để chỉ những văn bản tôn giáo hoặc kinh điển cổ xưa nhất của Ấn Độ, bốn bộ kinh Vệ Đà, có niên đại ít nhất 3.000 năm trước và được dựa trên những văn bản thậm chí còn cổ xưa hơn. Truyền thống Vệ Đà đã tạo ra Ayurveda (từ “ayur”, nghĩa là sự sống, và “veda”, nghĩa là kiến ​​thức), một hệ thống y học có sự tương đồng với các hệ thống truyền thống khác, bao gồm Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại. Trọng tâm của khái niệm Ayurveda là năm yếu tố: jala hay ap (nước), tejas hay agni (lửa), privthi hay bhumi (đất), pavana hay vayu (không khí), và akasha (không gian). Các yếu tố này kết hợp hoặc cạnh tranh theo nhiều tỷ lệ khác nhau, và góp phần tạo nên ba dosha chính – tương ứng với các thành phần cơ thể giống như các lưu chất  mà người châu Âu gọi là thể dịch. Ba dosha của Ấn Độ là vata (gió), pitta (mật) và kapha (đờm). Cũng như thuyết bốn thể dịch, sự cân bằng ổn định của dosha dẫn đến sức khỏe tốt, trong khi sự mất cân bằng gây ra bệnh tật. Mỗi dosha có những đặc tính liên quan đến một loại bệnh cụ thể. Nếu vata, được đặt theo tên vị thần gió của Ấn Độ giáo, trở nên quá mức, nó có thể gây ra các vấn đề tiêu hóa như đau bụng, táo bón và đầy hơi. Kapha, liên quan đến đờm và chất nhầy, thì sền sệt và nhớt và có đặc tính bảo vệ – cũng giống như các màng nhầy lót các đường dẫn bên trong cơ thể như đường hô hấp và đường tiêu hóa. Vì kapha kiểm soát các mô ẩm này, sự mất cân bằng có thể dẫn đến cảm lạnh, ho và hen suyễn. Dosha di chuyển và lưu thông khắp cơ thể theo các kênh, hoặc thông qua các lỗ chân lông gọi là srotas. Trong một số trường phái Ayurveda, srotas cũng mang theo chất dinh dưỡng và chất thải, thậm chí cả kiến ​​thức hoặc thông tin.

 

Sách Charaka Samhita đã mô tả 13 srotas này. Ba srotas là giao diện giữa cơ thể và môi trường, tạo thành đường dẫn cho không khí, thức ăn và nước đi vào. Bảy srotas liên quan đến bảy mô cơ thể, hay dhatu (xem bên dưới), và ba srotas cuối cùng mang chất thải đi. Các học giả Ayurveda cổ điển khác đã bổ sung thêm ba srotas nữa – dòng chảy của suy nghĩ trong tâm trí, dòng chảy của máu trong kỳ kinh nguyệt, và dòng chảy của sữa trong thời kỳ cho con bú. 16 srotas này phần lớn được chấp nhận trong Ayurveda ngày nay.

 

Hai khái niệm cốt lõi khác của Ayurveda là dhatuagni. Dhatu là các thành phần cấu trúc, tương tự như các mô. Bảy dhatu là máu, bạch huyết, cơ, xương, tủy xương, mỡ và các sản phẩm sinh sản (tinh dịch và trứng), và mỗi dhatu có các dosha tương ứng. Vì vậy, mamsa hay dhatu cơ bắp đi kèm với mamsavaha srotas mang chất dinh dưỡng và chất thải của cơ; trong khi majja hay dhatu tủy xương tương ứng với majjavaha srotas cung cấp chất dinh dưỡng cho tủy xương – cộng với, trong trường hợp này, chất dinh dưỡng cho thần kinh và các mô thần kinh, bao gồm cả não. Agni, có nghĩa là “lửa tiêu hóa”, là nguyên tắc cuối cùng trong Ayurveda. Agni là vị thần lửa của Ấn Độ giáo, và trong ngữ cảnh này đề cập đến khả năng đồng hóa và xử lý nhiều khía cạnh của sự sống, từ thức ăn đến khối lượng lớn các phản ứng sinh hóa được gọi là trao đổi chất, thậm chí đến trải nghiệm và ký ức, đồng thời đốt cháy hoặc thải bỏ chất thải.

 

Người ta biết rất ít về bản thân Charaka. Ông có lẽ sinh vào khoảng năm 300 đến 200 TCN và có thể từng là một ngự y. Theo một truyền thuyết, kiến ​​thức y học đã được truyền lại bởi Thần Brahma (vị thần sáng tạo của Ấn Độ giáo), người mong muốn xoa dịu nỗi đau khổ của con người, cho một vị thần khác, Dhanvantari. Sau đó, vị này truyền lại cho con người, từ một loạt các đạo sư đến môn đệ của họ, bao gồm Atreya và Agnivesa, và cuối cùng đến Charaka, người đã biến nó thành Charaka Samhita, một tác phẩm kinh điển.

 

Văn bản của ông đã được hiệu đính và biên soạn lại qua nhiều thế kỷ. Tác phẩm bách khoa toàn thư này được viết theo phong cách thơ ca và có 8 phần chính, hơn 120 chương và khoảng 8.400 câu kệ (một phương thức diễn đạt giúp người học ghi nhớ nội dung). Sách chủ yếu đề cập đến lĩnh vực y học Ayurvedic được gọi là kaya-chikitsa, “điều trị cơ thể”, hay nội khoa. Giống như những lời dạy của Hippocrates, Charaka Samhita mô tả những phẩm chất cần có của một lương y, và hướng dẫn cách khám bệnh để tìm ra nguyên nhân gốc rễ của bệnh, cách đưa ra tiên lượng và kê đơn điều trị. Các phương pháp điều trị này ít xâm lấn, bao gồm chế độ ăn uống và tập luyện cụ thể cùng hơn 2.000 bài thuốc từ thảo dược. Trọng tâm xuyên suốt Charaka Samhita là phòng ngừa bệnh tật bằng cách duy trì vệ sinh tốt và chế độ ăn uống lành mạnh.

BRAHMA, VỊ THẦN SÁNG TẠO

Theo truyền thống, Ayurveda được Brahma, vị thần sáng tạo của đạo Hindu, ban tặng cho loài người như một phương pháp giúp giảm bớt đau khổ.

 

Một tác phẩm nền tảng vĩ đại khác của Ayurveda, Susruta Samhita, có lẽ được biên soạn sớm hơn Charaka Samhita vài thế kỷ. Sách chủ yếu đề cập đến lĩnh vực phẫu thuật Ayurveda, shalya-chikitsa, và tác giả được cho Susruta, giống như Charaka, là một nhân vật khá mờ nhạt, có niên đại khoảng 2.500 năm trước. Văn bản này cũng được hiệu đính và mở rộng qua nhiều thế kỷ, và do nội dung liên quan đến chấn thương, một số phần của sách có lẽ được viết trong thời kỳ xung đột và chiến tranh.

 

Susruta Samhita có phạm vi rộng lớn và mô tả nhiều kỹ thuật phẫu thuật tinh vi và táo bạo, cả về lý thuyết lẫn thực hành, cùng với thiết bị và thuốc men. Chi tiết có thể khác nhau giữa các phiên bản sau, nhưng các quy trình bao gồm nhổ răng, dẫn lưu dịch bằng trocar (một loại ống tiêm), chỉnh sửa thoát vị và xương gãy, trích máu tĩnh mạch, phẫu thuật mắt (bao gồm đục bỏ thủy tinh thể), nong các đường ống như thực quản hoặc niệu đạo có chỗ hẹp, đốt trĩ bằng axit mạnh, kiềm mạnh hoặc bàn là nóng, và mổ lấy thai. Đào tạo phẫu thuật được mô tả, bao gồm thực hành dao trên động vật chết và rau củ, và có lời khuyên về cách xử lý các biến chứng như xuất huyết đột ngột, tiêu chảy, nôn mửa, ho, rối loạn cương dương và vô sinh. Hơn 1.000 bệnh lý và 800 bài thuốc, chủ yếu là thảo dược, đã được mô tả tổng thể. Susruta Samhita khác biệt với Ayurveda, ngoài ba dosha chính thống, còn đề xuất một dosha thứ tư – rakta, hay máu – vốn là một dhatu hay mô trong hệ thống tiêu chuẩn. Điều này sẽ giúp y học Ayurveda phù hợp hơn với thuyết dịch thể Hy Lạp, nhưng khái niệm dosha thứ tư không được chấp nhận rộng rãi.

 

“Người có vata không bị cản trở sẽ sống 100 năm mà không bị bệnh”

CHARAKA SAMHITA

 

NHÀ THUỐC AYURVEDIC

Bức tranh thế kỷ 19 này mô tả một dược sĩ Ấn Độ đang bào chế các bài thuốc Ayurveda. Các nguyên tắc của Ayurveda được đặt ra từ năm 500 đến năm 300 trước Công nguyên và vẫn còn giá trị đến thế kỷ 21.

 

Sau Susruta SamhitaCharaka Samhita, và có lẽ được viết vào khoảng thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6, là Ashtanga HridayamAshtanga Sangraha. Đây có lẽ là tác phẩm của Vagbhata, một thầy lang Phật giáo và là chuyên gia y tế có thể đã sống ở nơi ngày nay là Pakistan. Vagbhata sắp xếp nội dung Ashtanga Hridayam thành tám phẩm (ashta): nội khoa; phụ khoa và nhi khoa; các vấn đề về tâm trí và tinh thần (những gì chúng ta có thể gọi là tâm thần học); các bệnh về đầu, mắt, tai và mũi; phẫu thuật tổng quát; độc chất học (chẳng hạn như điều trị ngộ độc và nọc rắn); trẻ hóa; và y học tình dục, bao gồm liệu pháp kích thích tình dục. Tác giả trích dẫn hoặc lấy tài liệu từ hai tác phẩm trước đó nhưng tập trung nhiều hơn vào giải phẫu và sinh lý của cơ thể và bổ sung kiến ​​thức cập nhật về phẫu thuật và thuốc.

 

Nguồn tài liệu đáng kính thứ tư về Ayurveda là Bản thảo Bower, được đặt theo tên của sĩ quan tình báo quân đội Anh Sir Hamilton Bower, người đã phát hiện được nó khi làm việc ở tây bắc Trung Quốc vào năm 1890.

 

Có niên đại từ thế kỷ thứ 6, hoặc thậm chí là thế kỷ thứ 4 – gần cùng thời với Ashtanga Hridayam, bản thảo này chứa đựng rất nhiều thông tin về y học, đặc biệt là y học Ayurvedic, và bao gồm nhiều công thức chữa bệnh. Một trong những loại thảo mộc được trích dẫn chi tiết ở phần đầu của Bản thảo Bower là tỏi, Allium sativum (được gọi là lahsun trong tiếng Hindi, hoặc lasuna trong tiếng Phạn). Loại cây được tôn sùng nhất này có nguồn gốc từ Trung Á, có lẽ là dãy núi Hindu Kush ở Tây Himalaya. Công dụng y học của tỏi đã được ghi nhận ít nhất 5.000 năm trước, và nó vẫn là một trong những bài thuốc thảo dược được khuyên dùng phổ biến nhất trong Ayurveda. Một chuyên luận sáng lập khác của y học Ayurveda, Kashyap Samhita, giải thích: “Hạt tỏi có vị cay nồng, thân cây mặn và đắng, lá có vị chát và vipaka [thuật ngữ Ayurvedic chỉ tác dụng ngọt hậu.” Vagbhata cho rằng tỏi có tác dụng trẻ hóa, “làm dịu” hệ tiêu hóa, và như một chất kích thích tổng quát, mặc dù nó cũng được khuyên dùng như một chất thông mũi và long đờm cho ho và cảm lạnh, và để giảm các vấn đề nhiễm trùng ngoài da (ngày nay chúng ta gọi là đặc tính kháng khuẩn). Các vấn đề này bao gồm từ vết loét do dịch hạch, loét tràng nhạc (một dạng bệnh lao), phát ban do đậu mùa, tổn thương do phong, cho đến vết chó dại cắn, và bệnh tưa miệng và nấm ở.âm đạo.

NHÀ HIỀN TRIẾT ẤN ĐỘ Susruta, tác giả của tác phẩm kinh điển Ayurvedic Susruta Samhita, sống ở Varanasi, Ấn Độ, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên.

 

Hai loại gia vị phổ biến trong y học Ayurvedic là quế và bạch đậu khấu. Vỏ quế, từ cây Cinnamomum verum và các loài cây họ hàng, được cho là có tác dụng mạnh mẽ lên dosha kapha (đờm), giúp điều trị các rối loạn hô hấp như cảm lạnh, ho, nghẹt mũi, đau họng và nhiễm trùng ngực, cũng như các vấn đề tiêu hóa như ợ nóng, khó tiêu, đau bụng và tiêu chảy. Bạch đậu khấu, từ các loại thảo mộc ElletariaAmomum, được coi là “ấm” và cân bằng dosha vata và kapha. Một lần nữa, nó thường được sử dụng cho các vấn đề về dạ dày và ruột, chẳng hạn như buồn nôn, đau bụng và đầy hơi, cũng như các vấn đề về phổi và đường hô hấp, bao gồm dị ứng như viêm mũi. Nó cũng được cho là có tác dụng kích thích sự thèm ăn và cải thiện thể chất nói chung.

 

Giống như nhiều loại thuốc truyền thống khác, các hình thức Ayurveda khác nhau vẫn được thực hành rộng rãi tại quê hương của nó. Gần đây, nó cũng đã lan rộng ra các vùng đất khác, trở thành một hình thức của thực phẩm chức năng thông dụng.

 

 

CHẨN ĐOÁN MẠCH

Theo Ayurveda, bệnh tật là kết quả của sự mất cân bằng trong các dosha của một người. Vì lý do này, một y sĩ Ayurveda dành nhiều thời gian để bắt mạch cho bệnh nhân – một hoạt động dẫn đến chẩn đoán và điều trị.

 

Y Học của Người Mỹ Bản Địa

 

KHI NGƯỜI CHÂU ÂU ĐẦU TIÊN KHÁM PHÁ CHÂU MỸ, từ những năm 1490, họ đã tìm thấy vô số các dân tộc bản địa với nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, trang phục, nghi lễ và hệ thống y học riêng biệt. Số lượng các bộ lạc chính ở Bắc Mỹ chắc chắn đã vượt quá 500, và nếu tính cả các nhóm nhỏ hơn, tổng cộng có lẽ lên tới hơn 1.000. Mỗi bộ lạc đều có tín ngưỡng và cách riêng để đối phó với bệnh tật và chữa lành người bệnh, nhưng tất cả đều có nhiều điểm chung. Nhiều người bản địa Bắc Mỹ coi sức khỏe là sự cân bằng giữa tâm trí, cơ thể và tinh thần, và chữa bệnh liên quan đến việc giải quyết sự mất cân bằng trong cuộc sống của một người, bằng cách dâng lễ vật cho các linh hồn, chữa lành những suy nghĩ và cảm xúc cá nhân, hoặc nhận được sự chăm sóc thiết thực như mát-xa hoặc thảo dược. Những nhân vật chủ chốt trong quá trình này, được biết đến với tên gọi khác nhau là thầy lang bộ lạc, thầy mo nam và nữ, hay pháp sư, được coi là những người trung gian giữa thế giới loài người và cõi vô hình của các linh hồn và thần linh. Hầu hết những người hành nghề y đều trải qua quá trình đào tạo bài bản, bao gồm cả việc học nghề với một thành viên cao cấp. Họ tích lũy kiến ​​thức và kinh nghiệm để đánh giá không chỉ các triệu chứng của vấn đề sức khỏe mà còn cả những vấn đề phức tạp của bệnh nhân. Những người hành nghề này học cách lựa chọn và chuẩn bị thảo dược; thực hiện các nghi lễ; sử dụng các vật phẩm, bùa chú và lễ vật; tiếp xúc mật thiết với thiên nhiên; và đọc các dấu hiệu và biểu tượng từ các linh hồn. Phần lớn những điều này được giữ bí mật vì việc thảo luận vấn đề với người khác có thể khiến các linh hồn nổi giận.

 

Nhiều thầy lang có những bọc hay túi đựng các vật phẩm quý giá và dụng cụ y học. Chúng thường là những vật phẩm tự nhiên như xương, lông vũ, pha lê và lông thú. Một món thường có trong túi là một chiếc tẩu hút lá thuốc. Hút là thuốc và các chất tự nhiên khác là một phần quan trọng của các nghi thức chữa bệnh. Loại cây linh thiêng nhất là thuốc lá. Khói thuốc tỏa ra cho thấy hơi thở của cơ thể, được coi là thành phần thiết yếu nhất của sự sống.  Thuốc lá cũng là một món quà được dâng lên các linh hồn khi cầu xin họ giúp đỡ. Trong quá trình điều trị, thầy lang có thể thổi khói thuốc lá vào bệnh nhân để xua đuổi tà ma và khói sau đó bay lên mang theo thông điệp đến các linh hồn trên cao. Trống và tụng kinh cũng rất quan trọng để triệu hồi các linh hồn để hỏi họ những gì cần thiết. Thầy lang hiếm khi được trả công cho công lao của mình, nhưng họ chấp nhận những món quà – thuốc lá đặc biệt được coi trọng. Mỗi bệnh nhân là duy nhất, vì vậy hành động và phương pháp điều trị của thầy lang phải được điều chỉnh cẩn thận. Tuy nhiên, không có quyền tự động nào cho phép người bệnh yêu cầu giúp đỡ. Thầy lang nam hay nữ có thể chọn người để điều trị, cách thức và thời gian điều trị.

 

Bức ảnh này, có niên đại khoảng năm 1899, chụp  một thầy lang người Arapaho, trong trang phục truyền thống.

 

TRỐNG CỦA PHÁP SƯ

Các pháp sư trên khắp thế giới sử dụng nhiều loại nhạc cụ như trống của người Mỹ bản địa này để triệu hồi linh hồn nhằm chữa bệnh.

.

Người dân Bắc Mỹ đã sử dụng rất nhiều loại thảo mộc và thực vật để làm thuốc, một số trong đó đã được các bác sĩ hiện đại áp dụng. Vỏ hoặc lá cây liễu được nhai, hoặc có thể đun sôi để pha trà, có tác dụng chữa đủ loại đau nhức, từ đau đầu đến cứng khớp. Vỏ cây liễu chứa axit acetylsalicylic (ASA) hoặc salicylate, một thành phần hoạt chất giảm đau, chống viêm, hạ sốt, một trong những loại thuốc phổ biến và hữu ích nhất thế giới hiện nay, aspirin. Cây liễu đặc biệt hiệu quả trong việc giảm đau do sâu răng và áp xe, nên còn được gọi là “cây đau răng”.

 

Loại thảo dược phổ biến và được tôn sùng nhất đối với nhiều người Mỹ bản địa là cây xô thơm. Được coi là một chất thanh lọc mạnh mẽ cho cơ thể và tâm hồn, nó được cho là có thể chuyển lời cầu nguyện đến các linh hồn và thanh lọc không khí. Công dụng y học truyền thống của nó rất đa dạng, từ việc chữa các vấn đề nội tạng như dạ dày, ruột, phổi và gan, làm thuốc mỡ sát trùng cho vết thương, vết bỏng và phát ban, cho đến việc làm thuốc thư giãn, có thể hít dưới dạng khói hoặc uống dưới dạng trà. Cây xô thơm là một trong những loại thảo mộc chính được đốt trong lều xông hơi – một cấu trúc mái vòm hình túp lều truyền thống. Thiết kế và vật liệu xây dựng của một lều xông hơi rất đa dạng, nhưng thường được làm từ những cây non mềm dẻo và phủ da động vật. Nó tạo ra một không gian nhỏ, tối và yên tĩnh, nơi nước đổ lên những tảng đá nóng tạo ra hơi nước hòa quyện với khói từ các loại thảo mộc đang cháy âm ỉ. Đá thường được đốt nóng bằng lửa gần nhà nghỉ, được đưa vào bên trong (dùng gạc hươu làm vật mang), và được xếp vào một cái hố bên trong. Thầy lang có thể dùng hơi nước hoặc thổi khói vào người bệnh như một phần của nghi thức chữa bệnh.

 

Hàng trăm loại thảo mộc và thực vật khác đã được các thầy lang bản địa Mỹ sử dụng: lá đun sôi của bụi cây creosote pha thành trà để làm dịu các vấn đề về hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi và lao; một loại trà cỏ đuôi chồn được kê đơn để giúp phụ nữ trong khi sinh nở; rễ cây pleurisy được dùng để chữa nhiều loại bệnh về hô hấp và đặc biệt tốt như một loại thuốc long đờm; chiết xuất đun sôi và làm mát từ vỏ bên trong của cây sơn thù du được dùng để hỗ trợ thụt rửa đại tràng; bạc hà ong  được sử dụng theo nhiều cách khác nhau như một loại trà ấm hoặc lạnh để chữa đau lưng và đau đầu, như một loại thuốc mỡ để chống nhiễm trùng và như một loại nước súc miệng cho chứng đau răng và đau nướu; chiết xuất đun sôi và cô đặc của hoa cây kế gai vàng được bôi lên da để chữa bỏng, bỏng nước sôi, vết loét và các tổn thương khác; nụ và lá của cây tuyết tùng được đun sôi và nhấm nháp để làm dịu cổ họng và giảm ho.

XÔ THƠM CHỮA LÀNH

Cây xô thơm là loại thảo mộc phổ biến nhất trong y học của người Mỹ bản địa, có tác dụng chữa nhiều bệnh và là phương tiện để giao tiếp với các linh hồn.

 

Từ thế kỷ 14, người Aztec đã lên nắm quyền ở vùng đất ngày nay là miền Trung-Nam Mexico. Họ cũng sở hữu một kho thuốc thảo dược khổng lồ, và tin rằng nhiều loại bệnh tật được truyền lại từ các vị thần và linh hồn. Bệnh tật còn có nguồn gốc từ thiên tai như dịch hạch, động đất, lũ lụt và núi lửa phun trào. Các thầy tế Aztec cũng tin rằng bệnh tật đôi khi giáng xuống con người chỉ để các vị thần vui đùa hoặc giải trí, chứ không phải là hình phạt vì con người quên thờ phụng các ngài hoặc vì một tội lỗi nào khác. Để xoa dịu các vị thần và mong bệnh tật được chữa lành, bệnh nhân có thể bị khiển trách bằng roi vọt hoặc bị đâm gai nhọn vào da thịt, có thể kèm theo việc hiến tế động vật hoặc thậm chí là người. Một trong những “phương thuốc” phổ biến nhất của người Aztec là pulque hay octli, một dạng bia có cồn lên men từ một loài cây thùa được gọi là maguey (lô hội Mỹ). Loại bia này thường được các nhà cai trị hoặc thầy tế uống nhưng có thể được dùng cho bất kỳ người bệnh nào, đặc biệt là khi được thêm gia vị với các loại thảo mộc, vỏ cây và rễ cây khác để giúp giảm đau và giảm các triệu chứng của tất cả các loại bệnh. Một đặc sản khác của người Aztec là đá núi lửa đen bóng như thủy tinh, được các thầy lang nghiền thành bột và xoa lên da để điều trị loét, phát ban và chấn thương. Đặc biệt hơn nhiều là hỗn hợp cây bí, thịt cây ayonel-huatl và phân đại bàng, được dùng để kích thích chuyển dạ ở những phụ nữ mang thai đến kỳ sinh nở.

 

Trong thiên niên kỷ thứ nhất, tại Bán đảo Yucatan và miền bắc Trung Mỹ, trước thời kỳ hoàng kim của Đế chế Aztec, người Maya đã phát triển một nền văn minh tinh vi với hệ thống y học phức tạp. Họ cũng coi cơ thể, tâm trí và tinh thần đều chịu trách nhiệm như nhau đối với bệnh tật. Cụ thể, họ cho rằng bệnh tật là do hành vi sai trái hoặc tội lỗi của người bệnh. Việc chữa trị đòi hỏi sự kết hợp giữa nghi lễ, nghi thức, thờ cúng thần tượng và dâng vật tế lễ cho các vị thần đang nổi giận để xoa dịu và hóa giải tội lỗi. Chữ viết của người Maya ghi lại một phần lịch sử và tập tục của họ. Các phương pháp điều trị của họ rất đa dạng: thuốc gây nôn thảo dược và thuốc nhuận tràng làm sạch bên trong cơ thể; mát-xa; và các buổi xông hơi trong phòng tắm hơi tương tự như các nhà xông ở Bắc Mỹ. Ngoài ra, giống như các nền văn hóa Bắc Mỹ, người Maya có những thầy lang chuyên khoa hay thầy mo, được gọi là ah’men – tương đương với y sĩ, nhà thảo dược, nhà tâm lý trị liệu và nhà tư vấn ngày nay. Một ah’man dành thời gian với bệnh nhân, hỏi chi tiết về cuộc sống, thói quen và hành vi của họ, và dần dần tập trung vào những vấn đề quan tâm, chẳng hạn như mối quan hệ không hạnh phúc, trầm cảm hoặc ngờ vực bản thân, điều này có thể góp phần gây ra bệnh tật. Ah’men sử dụng các loại cây như turbina, cây xương rồng, và nấm, tất cả đều được biết đến với đặc tính gây ảo giác để tạo ra trạng thái xuất thần mà các thầy mo tin rằng sẽ đưa họ đến gần hơn với các vị thần. Một trong những loại cây chính của họ là loài cây trinh nữ được gọi là tepezcohuite, jurema preta, hay vinho de jurema (Mimosa tenuiflora). Lá, hạt và đặc biệt là vỏ rễ được ngâm, luộc, rang hoặc lên men để làm thuốc chữa nhiều loại bệnh, từ phát ban da đến ho và đau lưng. Chiết xuất thực vật thường được trộn với các bộ phận cơ thể động vật (đặc biệt là từ loài bò sát), trứng chim và phân chim.

 

“Trước khi ăn, hãy luôn dành thời gian để cảm ơn thực phẩm”

CÂU NÓI CỦA ARAPAHO

Hũ thảo mộc Maya

Chiếc bình gốm này có niên đại khoảng năm 700, được một ah’man người Maya sử dụng để đựng các loại thảo mộc làm thuốc, bao gồm cả thuốc lá.

 

Rừng mưa nhiệt đới ở vùng Amazon của Nam Mỹ được ca ngợi trên toàn thế giới là kho báu của các loại cây thuốc. Các chế phẩm từ rễ và thân rễ của cây thuốc Carapichea ipecacuanha có tác dụng gây nôn, đặc biệt là để làm sạch dạ dày sau khi ăn một số loại thực phẩm khó tiêu hoặc để điều trị ngộ độc. Để săn giết động vật làm thức ăn, những thợ săn bản địa ở Amazon đã bắn phi tiêu và mũi tên có đầu tẩm curare hoặc ampi – chiết xuất từ ​​các loại cây như cây dây leo Chondrodendron tomentosum. Thành phần hoạt chất, một loại ancaloit gọi là D-tubocurarine, có tác dụng làm giãn cơ, vẫn có thể hữu ích khi dùng kèm với gây mê trong phẫu thuật. Người Nam Mỹ bản địa cũng sử dụng rộng rãi bụi cây coca (Erythroxylum coca hoặc E. novogranatense). Họ nhai lá những cây này như một chất kích thích để xua tan mệt mỏi, khát nước và đói. Hoạt chất của nó, cocaine, một chất kích thích mạnh, đã được sử dụng trong y học phương Tây chủ yếu như một loại thuốc gây tê tại chỗ, trước khi được thay thế bằng các hợp chất an toàn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng bất hợp pháp cocaine như một chất kích thích gây nghiện cao –  “coke” và dạng tự do “crack-cocaine” – vẫn tiếp tục gây ra những vấn đề nghiêm trọng trên toàn thế giới.

 

Pháp Sư

 

Pháp sư, hay “thầy mo”, là sự kết hợp giữa thầy tu, thầy thuốc và thày dạy, thường thấy trong nhiều xã hội truyền thống hoặc bộ lạc. Người ta tin rằng các pháp sư có thể giao tiếp với thế giới tâm linh, sử dụng các nghi lễ và bùa hộ mệnh được cho là có thể chữa lành và ngăn ngừa bệnh tật.

MẶT NẠ (1497)

Các pháp sư Iroquois đeo mặt nạ với chiếc mũi gãy, tượng trưng cho một thầy mo huyền thoại tên là Hado’ih. Hado’ih đã bị thương ở mũi trên một ngọn núi trong một lần thể hiện sức mạnh tâm linh giữa ngài và vị thần sáng tạo.

HŨ THUỐC (khoảng năm 100-1550)

Chiếc bình gốm Mexico có hình ảnh một vị thần này có thể thuộc về một pháp sư và có thể chứa thuốc gây ảo giác được dùng trong nghi lễ chữa bệnh.

MÃO CỦA PHÁP SƯ (THẾ KỶ 19)

Chiếc mão này được một pháp sư người Tsimshian ở Alaska đội. Được làm từ sừng dê núi, nó thể hiện niềm tin của pháp sư rằng mình có thể biến thành linh hồn của loài vật hùng mạnh này.

VÒNG CỔ (1801-1900)

Người ta tin rằng răng người và hạt thủy tinh xâu vào chiếc vòng cổ của thầy mo Apache này có thể bảo vệ người đeo khỏi tà ma hoặc bệnh tật.

VÒNG KHUYÊN CỦA THẦY MO (1880-1920)

Chiếc vòng này được một thầy mo Tây Phi đeo, được trang trí bằng vỏ ốc và hạt cườm. Được sử dụng làm tiền ở châu Phi, vỏ ốc không chỉ có giá trị mà còn mang ý nghĩa tâm linh.

BÙA HỘ MỆNH (khoảng thế kỷ 19)

Các pháp sư tin rằng linh hồn của một người có thể bị rút khỏi cơ thể, dẫn đến bệnh tật. Những lá bùa hộ mệnh như thế này được sử dụng để phục hồi linh hồn, và trừ tà ma.

LÚC LẮC (1884)

Các pháp sư người Haida ở British Columbia thường ê a hát đi kèm tiếng lục lạc như thế này. Kiến thức về các bài hát và câu chuyện là một phần thiết yếu tạo nên vị thế của một thầy thuốc mo  trong bộ tộc.

XƯƠNG BÓI TOÁN (1880-1930)

Một trong những nhiệm vụ của pháp sư là thực hiện những chuyến hành trình tâm linh để tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi quan trọng. Một pháp sư châu Phi sử dụng các công cụ như đốt sống động vật, đá cuội và các vật thể tương tự trong các nghi lễ bói toán này.

TRỐNG TAY (khoảng thế kỷ 19)

Các pháp sư sử dụng nhạc cụ gõ, đặc biệt là trống, để tạo ra nhịp điệu. Hiệu ứng của tiếng trống liên tục giúp các pháp sư bước vào trạng thái ý thức biến đổi, cho phép họ kết nối với thế giới tâm linh.

 

 

Truyền Thống Châu Phi và Tây Á

 

HỆ THỐNG Y HỌC TRUYỀN THỐNG ở Châu Phi có một số điểm tương đồng với hệ thống của người Mỹ bản địa. Nhìn chung, nguyên nhân gốc rễ của bệnh tật chủ yếu được xem là tâm linh hoặc siêu nhiên, bắt nguồn từ các vị thần và thế giới tâm linh, thay vì có nguồn gốc tự nhiên trong cơ thể hoặc môi trường xung quanh. Lý do thông thường khiến một người mắc bệnh là do một số hành vi sai trái hoặc tội lỗi với các vị thần, với ký ức về tổ tiên hoặc cộng đồng địa phương, hoặc có thể là sự phá vỡ sự hài hòa trong thế giới tự nhiên của thực vật, động vật, đất, đá và nước. Để chữa lành, các linh hồn được xoa dịu bằng các lễ vật, tụng kinh, nghi lễ và hiến tế , trong khi bệnh nhân tỏ ra hối hận và ăn năn. Các linh hồn cũng có thể tư vấn về các phương pháp điều trị thực tế, thường là dựa trên thảo dược, nhưng có thể cũng bao gồm cả mát-xa, chế độ ăn uống đặc biệt, nhịn ăn, thanh lọc cơ thể và các phương pháp điều trị khác. Họ làm điều đó thông qua các thầy lang cổ truyền với kiến ​​thức và năng lực đặc biệt, những người đóng vai trò trung gian giữa thế giới con người và thế giới thần linh. Những cá nhân này được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như thầy mo, thầy lang, thầy phù thủy, thầy bói, pháp sư và hàng trăm tên gọi địa phương khác.

 

Nhiều thầy mo truyền thống châu Phi không xác định bệnh theo cách mà y học hiện đại dựa trên khoa học thực nghiệm, tức là chọn ra tình trạng có khả năng xảy ra nhất từ ​​một loạt các lựa chọn liên quan, chẳng hạn như phân biệt giữa viêm màng phổi, viêm phế quản và viêm phổi. Thay vào đó, thầy mo truyền thống tìm kiếm nguyên nhân sâu xa nhất, lý do ban đầu khiến các linh hồn tức giận hoặc  các vị thần phật lòng. Việc tìm ra nguyên nhân sau đó sẽ quyết định các khía cạnh tâm linh của phương pháp điều trị, chẳng hạn như nên sử dụng thần chú và lễ vật nào. Đồng thời, các phương pháp điều trị thực tế như thảo mộc cũng được khuyến nghị, và chúng có thể được lựa chọn dựa trên biểu tượng gắn liền với mỗi phương pháp cũng như tác dụng đã biết của nó đối với các triệu chứng.

 

Một số bệnh nhân có thể cần đến sự giúp đỡ của thầy bói. Phổ biến khắp châu Phi, bói toán có nhiều hình thức, và tìm cách giải thích quá khứ cũng như dự đoán tương lai. Bói toán bằng lửa có thể bao gồm việc đọc các dấu hiệu trong ngọn lửa hoặc tia lửa, hoặc ném các vật thể vào đám cháy để xem chúng cháy như thế nào. Trong bói toán dựa trên nước, thầy bói nghiên cứu các gợn sóng, tia nước bắn tung tóe hoặc phản chiếu trong nước, hoặc quan sát hành vi của các vật thể như cành cây hoặc lá cây trôi nổi. Điều này cung cấp manh mối về nguyên nhân gây bệnh và cách giải quyết. Bói toán bằng cách gieo quẻ gắn kết sức mạnh huyền bí vào các vật thể đặc biệt, được ném xuống đất. Sau đó, một ý kiến ​​y khoa được đưa ra dựa trên cách sắp xếp hoặc hình dạng mà chúng rơi xuống. Các vật thể được bói theo cách này bao gồm từ đá, hạt và cành cây đến các bộ phận động vật, chẳng hạn như xương, răng, vỏ sò, da, nhãn cầu khô và ruột tươi. Mỗi thầy bói có nhóm vật thể thiêng liêng của riêng mình và chọn những vật phù hợp với từng tình huống. Bói đất là một kỹ thuật liên quan, trong đó các vật thể được gieo xuống các họa tiết được vẽ trên mặt đất.

ĐỌC Ý THẦN LINH

Bói toán là một hình thức sử dụng đá hoặc vỏ sò được ném xuống đất để tạo thành các kiểu dạng. Những kiểu dạng này tiết lộ thông tin về quá khứ, hiện tại và tương lai của một người.

 

Vì mục đích y học, một số thầy bói làm việc trong im lặng, trong khi những người khác đọc thần chú, thơ hoặc bùa chú. Họ có thể trò chuyện với bệnh nhân và đặt những câu hỏi thăm dò, giúp xác định phương hướng hành động. Một số thầy bói không sử dụng vật thể  mà nhập định và nhận thức về thế giới tâm linh một cách trực giác, từ bên trong chính họ.

 

Trạng thái xuất thần có thể tự gây ra, kết hợp với việc tụng chú và nhảy múa, hoặc nhờ thảo mộc hoặc các chất khác trợ lực.

 

Trong cộng đồng người Lobi ở Burkina Faso và Côte d’Ivoire, các thầy bói, được gọi là buor, sử dụng các thần tượng hoặc bức tượng gọi là batebas, trên đó khắc họa tiết liên kết họ với thế giới tâm linh. Một thầy bói ngồi trước bức tượng tương ứng và nắm tay bệnh nhân. Khi thầy bói hỏi các linh hồn, ông cũng cảm nhận được chuyển động của bàn tay bệnh nhân, có thể là siết chặt hay nới lỏng. Những thay đổi này cho biết nguyên nhân gốc rễ của bệnh tật và gợi ý phương pháp điều trị.

TƯỢNG LOBI

Người dân Lobi ở Burkina Faso và Côte d’Ivoire sử dụng tượng nhỏ để cầu xin sự hộ trì tinh thần từ các vị thần.

 

Để chữa bệnh, y học cổ truyền châu Phi thường điều trị cả thế giới tâm linh hoặc tôn giáo lẫn thể xác của bệnh nhân. Một số phương pháp chữa bệnh tập trung vào việc khôi phục sự hòa hợp giữa bệnh nhân và các vị thần. Điều này có thể bao gồm các phép thuật và nghi lễ cúng tế như tiền bạc, thức ăn, đồ uống, quần áo hoặc trang sức. Thông qua thầy mo, một vị thần có thể yêu cầu hiến tế động vật, có thể là một loài động vật hoang dã như khỉ hoặc rắn, hoặc các loài gia súc như gà, dê, hoặc thậm chí là gia súc. Trước đó, nghi lễ có thể được thực hiện bằng cách lấy máu của con vật và uống máu của nó.

 

Nhiều người hành nghề thảo dược ở Châu Phi là chuyên gia thảo dược và có kiến ​​thức bách khoa về các loại cây, nấm, nấm độc và các loại nấm khác trong khu vực của họ. Cây hoa violet Securidaca longepedunculata được biết đến với những tên gọi địa phương như uwar maganigunar, ezeogwu, mpesu, chipvufana, mufufu, umfufu và maba. Các bộ phận dùng làm thuốc chính là rễ và vỏ cây, giống như nhiều chất thuốc khác có hại nếu dùng với số lượng lớn. Với số lượng nhỏ hơn, thường được uống dưới dạng thuốc sắc hoặc súp, chúng có tác dụng chữa rất nhiều bệnh, từ đau đầu và đau răng đến ho và nhiễm trùng ngực, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và táo bón. Nước sắc rễ hoặc lá của cây hoa violet luộc cũng có thể được dùng tại chỗ (trên bề mặt cơ thể), chẳng hạn như xoa lên da đầu (để chữa đau đầu), băng vào các khớp bị sưng (để chữa viêm khớp) hoặc làm nước rửa sạch (để chữa vết loét da, vết côn trùng đốt, vết rắn cắn và vết loét). Người dân Venda ở Nam Phi uống một loại nước uống làm từ rễ cây nghiền thành bột với cao lương và ngô để chữa những người đàn ông “bị thiếu chất”.

 

Bí ngô châu Phi hay lê balsam (Momordica balsamina, còn gọi là mohodu, nkaka, intshungu) là một loại cây thuốc phổ biến khác. Vỏ cây, lá, quả và hạt đều đã được sử dụng. Ở vùng Okavango thuộc Tây Nam châu Phi, nước ép quả của cây này hoặc dầu thực vật được dùng để đắp, làm thuốc mỡ và thuốc xoa bóp trị các vết loét, vết cắt, nhọt, vết bầm tím, vết bỏng, mụn nước và cả bệnh trĩ.

 

Một loại cây truyền thống khác được sử dụng rộng rãi là cây Prunus africana, một loại cây có hoa trong họ Trĩ Châu Phi. Nó cũng có nhiều tên gọi địa phương, chẳng hạn như Entasesa ở Uganda, Tikuur-Inchet ở Ethiopia, M’konde-Konde ở Tanzania, Mu’iri ở Kenya, và Inja’zangoma-ilimn’ama ở miền Nam Châu Phi.

 

Các thầy lang truyền thống khuyên nên sử dụng vỏ cây để chữa đau dạ dày, các bệnh về đường ruột, sốt, vết cắt và trầy xước, khả năng sinh sản thấp ở nam giới và khó tiểu.

 

Về các vấn đề tiết niệu, các khu rừng mưa nhiệt đới ở Tây và Trung Phi đang bận rộn với những nhà nghiên cứu sinh học hiện đại tìm kiếm các loại thuốc bản địa để biến chúng thành những “thần dược” mới nhất. Chiết xuất vỏ cây Prunus africana được chế biến với số lượng lớn để làm thuốc Pygeum. Nó được bán trên toàn thế giới để điều trị các vấn đề tiết niệu ở nam giới bị phì đại tuyến tiền liệt (phì đại tuyến tiền liệt lành tính). Việc thu hoạch vỏ cây đã khiến cây dại trở nên hiếm gặp ở nhiều khu vực, và để việc thu hoạch bền vững hơn, các đồn điền đang được thành lập.

 

Các hình thức y học truyền thống ở Bắc và Đông Phi từ lâu đã giao thoa với các hình thức y học từ Đông Địa Trung Hải và Tây Á. Các đoàn lữ hành lạc đà và tàu biển vận chuyển các sản phẩm thảo dược cũng như chính các loại cây trồng này  để buôn bán. Một ví dụ là cây nhũ hương Boswellia sacra, sản sinh ra hương thơm huyền thoại cho nước hoa, liệu pháp hương thơm  và thuốc thảo dược. Loài cây nhỏ này mọc ở các vùng đất khô cằn, nhiều đá ở Tây Bắc Phi và Ả Rập. Nhựa cây được khai thác và thu hoạch để làm nhũ hương. Hương thơm của nó được cho là có khả năng thanh lọc “không khí tù đọng” vốn bị cho là nguyên nhân gây ra các bệnh nhiễm trùng như sốt rét và Cái Chết Đen đáng sợ. Là một loại thuốc, nhũ hương đã được sử dụng trên khắp Bắc Phi và Châu Á cho một số bệnh. Khi uống, nó được cho là làm giảm các triệu chứng tiêu hóa, từ đau dạ dày đến viêm loét đại tràng. Các thầy lang địa phương khuyên nên hít nó dưới dạng hơi hoặc  xông để điều trị nhiễm trùng ngực và thở khò khè, khó thở. Để điều trị các tình trạng về da như phát ban, chàm và vết cắt, nó được đưa vào thuốc mỡ và kem bôi.

 

Nhũ hương đã được biết đến từ thời cổ đại. Trong Kinh Thánh, nó được Ba Nhà Thông Thái dâng lên Jesus lúc mới ra đời. Nó cũng được Hippocrates người Hy Lạp và Galen người La Mã, và vị thầy thuốc Hồi giáo lỗi lạc của Thời Trung Cổ, Ibn Sina, đánh giá cao tác dụng kiểm soát sốt, nôn mửa và tiêu chảy: “Nếu bạn uống một ly hoa trắng pha rượu, nó sẽ giúp phục hồi bệnh kiết lỵ… Nếu bạn làm miếng dán thuốc từ hoa tươi, nó sẽ ngăn ngừa thụ thai.”

 

NHŨ HƯƠNG

Được làm từ nhựa cây Boswellia, nhũ hương từ lâu đã được sử dụng để điều trị nhiễm trùng ngực, bệnh dạ dày và các bệnh về da.

 

“Cách một người chết được quyết định bởi nghề nghiệp của anh ta”

Tục ngữ Châu Phi

 

Một sản phẩm từ cây khác nổi tiếng hàng ngàn năm và vẫn còn tồn tại đến ngày nay là nhựa mastic hay nhựa arabic, từ cây Pistacia lentiscus. Nó được nhai như một loại thuốc trị hôi miệng, đau răng, viêm nướu và loét miệng, và được nuốt để chống lại các rối loạn tiêu hóa như loét dạ dày hoặc hội chứng ruột kích thích. Trộn với các loại dầu thực vật như dầu ô liu, nó có thể được ngâm vào một miếng rêu và đắp lên vết rắn cắn và vết côn trùng đốt.

 

Không nên nhầm lẫn với cao su arabic (meskar, awerwar, hoặc chaar-gund), một loại cao su có nguồn gốc từ một số loại cây keo, đặc biệt là Acacia senegal. Bên cạnh nhiều ứng dụng công nghiệp như chất kết dính và tạo độ kết dính trong các sản phẩm từ bánh kẹo đến sơn, cao su arabic còn có lịch sử lâu đời trong y học cổ truyền châu Phi và châu Á. Các đặc tính vật lý làm dịu của nó được cho là giúp giảm kích ứng, giảm viêm và thúc đẩy quá trình chữa lành màng và bề mặt cơ thể. Dùng ngoài da, nó được khuyên sử dụng cho các vùng, đặc biệt núm vú, bị sưng đau.

 

Một loại nhựa cây hoặc gôm khác được các thầy lang truyền thống châu Á đánh giá cao là asafetida, chiết xuất từ ​​loài cây thì là Ferula khổng lồ. Có nguồn gốc từ Iran và Afghanistan, asafetida được đặt tên theo mùi hôi thối và vị đắng của nó. Các chế phẩm thuốc của nó chủ yếu đến từ thân hoặc rễ chính. Phổ biến qua nhiều thời đại trong thế giới Ả Rập, asafetida được dùng để điều trị rối loạn tiêu hóa, giảm đau, cảm lạnh và ho, và tùy theo tâm trạng như một chất làm dịu và kích thích tình dục. Nó cũng thể hiện niềm tin phổ biến trên toàn thế giới rằng nếu một loại thuốc có mùi và vị khó chịu, thì nó chắc chắn là tốt.

 

Asafetida còn được sử dụng theo một cách khác trong cả y học cổ truyền châu Phi và Tây Á – như một phương pháp hỗ trợ trừ tà. Kết hợp với tỏi để tăng thêm hiệu quả, nó được đeo quanh cổ trong các nghi lễ để xua đuổi tà ma khỏi cơ thể và tâm trí người bệnh. Hơn 3.000 năm trước, tại Babylon, ngự y Esagil-kin-apli đã biên soạn những tài liệu được biết đến với tên gọi Cẩm nang Trừ tà. Cuốn sách hướng dẫn về  việc huấn luyện và thực hành trừ tà, với chi tiết về các nghi lễ, bùa chú, điềm báo và biểu tượng. Esagil-kin-apli cũng biên soạn Sakikku (thường được dịch là Cẩm nang Chẩn đoán). Đây là một tuyển tập khổng lồ về các triệu chứng và tình trạng bệnh lý tiềm ẩn, bao gồm nhiều phương pháp để đoán biết vị thần chịu trách nhiệm cho từng loại bệnh.

BÓI LỬA

Thuật bói lửa là nghệ thuật cổ xưa đọc ngọn lửa để tìm kiếm những dấu hiệu soi sáng quá khứ và tương lai. Thầy mo có thể sử dụng thuật này để hiểu rõ tình trạng của bệnh nhân.

THẦY MO CHÂU PHI

Một nhóm phụ nữ Bonda đứng cùng thầy mo và trợ lý của ông ở Freetown, Sierra Leone, vào năm 1900. Một chiếc mặt nạ giúp che giấu thân phận của thầy mo trong các nghi lễ chữa bệnh mà ông phải cầu khẩn các vị thần.

Bình luận về bài viết này