Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh
Tiến sĩ khoa học giáo dục, viện đại học Paris Sorbonne.
Tam Kỳ là ngã ba con sông, một ngã rẽ, từ ngã ba sông đó có địa danh Tam Kỳ tại Quảng Nam. Nhưng trong thơ Hồ Xuân Hương gửi Mai Sơn Phủ: bài Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ. Đên thu nhớ Mai Sơn Phủ có hai câu thơ:
«Bên am Nhất Trụ trông còn đấy
Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu.»
Hồ Xuân Hương nhìn am trong quần thể kiến trúc chùa Một Cột, và nhìn ra xa hơn nơi ba ngã sông bên cạnh là Nghĩa Trụ, Kim Ngưu và Đại Bi. Nguyên là sông Tô Lịch chảy ra sông Nhĩ Hà trước khi đổi dòng thành Hồ Tây còn gọi là Hồ Kim Ngưu do sự tích con trâu vàng. Chuyện đơn giản chỉ có thế mà bà Nghiêm Thị Hằng trong sách Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Nxb Hồng Đức Hà Nội 2021, biến ra thành lắm vấn đề, nào đưa ra giả thuyết Mai Sơn Phủ người Tam Kỳ, Quảng Nam. Và đòi khai quật cả một ngôi mộ tại Tam Kỳ Quảng Nam của ông Huỳnh Hoàn Nhân có danh tánh tên người lập bia rõ ràng, bà cho rằng đó là mộ Hồ Xuân Hương bài. Bà còn gán cho Mai Sơn Phủ là danh hiệu của Trần Phúc Hiển, Tham Hiệp Yên Quảng, người chồng bị Án Thủ Dung vu cáo.
Trần Phúc Hiển không phải là Mai Sơn Phủ, ông có viết cho Xuân Hương một bài thơ, và nhiều bài thơ Hồ Xuân Hương viết cho Trần Phúc Hiển. Hồ Phi Mai có thái độ trân trọng kính cẩn với Trần Phúc Hiển, khác với thơ tình lãng mạn cho Mai Sơn Phủ.
Toàn bộ Thơ Hồ Xuân Hương viết trong gần ba năm với chồng Trần Phúc Hiển được chép lại thành Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Tập thơ này được truyền đến kinh đô Huế, Trương Đăng Quế, Thái Sư đứng đầu triều đình trong suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã sánh Thơ Hồ Xuân Hương với Chiến Cổ Đường của Phạm Lam Anh, từng làm Cung Trung nữ tập dưới thời Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1778). Hai nhà nho Trung Quốc Hoàng Diệu Khuê và Trương Bỉnh Thuyên đọc thơ Hồ Xuân Hương đã so sánh với thơ công chúa Lại Đức tức Mai Am nữ sĩ. Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San đã nâng Hồ Xuân Hương lên hàng các nữ danh sĩ Trung Quốc: Ban Chiêu, Sái Cơ, Tô Muội, Tạ Uẩn.
Với sự long trọng đó, thì không phải thơ truyền khẩu được Antony Landes năm 1892 mướn Lê Quý, Nguyễn Văn Đại đến làng Nghi Tàm ghi chép nơi con cháu Tử Minh, gia đình «không ruột nhưng mà thương quá ruột» để lại cho Viện Viễn Đông Bác Cổ, (Ba bài thơ Hồ Xuân Hương khóc Tử Minh đã chứng minh việc này). Cũng không phải văn bản Lưu Hương Ký, Tốn Phong đề tựa, do một vị trong Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường, tổ tiên cụ Nguyễn Văn Tú còn gìn giữ tại làng Hành Thiện. Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập làng Hành Thiện chỉ còn sót lại 9 bài. 8 bài Vịnh Hạ Long lưu lạc trong kho sách Hán Nôm Thư Viện Quốc Gia Paris chỉ còn 5. và 9 bài Vịnh Cảnh Đồ Sơn được Cao Xuân Dục chép lại trong Phượng Sơn Từ chí lược.
Những bài thơ này chứng tỏ Hồ Xuân Hương học rộng và uyên bác cả Phật, Khổng, Lão.
Bà Nghiêm thị Hằng còn cho rằng Chiêu Hổ là Tổng Cóc. bất chấp những nghiên cứu rõ ràng các người đi trước về Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa.
Chuyện tranh chấp phe phái giữa phe Tổng Trấn Lê Chất, Lê Văn Duyệt và phe Trung Quân Nguyễn Văn Thành thời Gia Long. Từ một bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên con Nguyễn Văn Thành mời bạn Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận từ Thanh Hoa vào chơi, có câu «Giúp nhau thay đổi hội cơ này»(Tác ngã kinh luân chuyển hóa ky), bị triều thần bàn luận Nguyễn Văn Thành toan làm phản, đã dẫn đến nhiều bản án tử hình, án giảo và lưu đày.
Tham Tri Bộ Hình Vũ Trinh anh rễ Nguyễn Du, người viết tựa Truyện Kiều đầu tiên, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên bị đày vào Quảng Nam từ năm 1816, 12 năm sau mới được ân xá. Thượng Thư Bộ Binh ĐặngTrần Thường từng làm quan Tào Binh Bắc thành dưới quyền Nguyễn Văn Thành, cũng bị Lê Chất kết án giảo, thắt cổ, vu cáo tội ẩn lậu công điền. Trung Quân Nguyễn Văn Thành chỉ huy toàn quân đội triều Nguyễn uống thuốc độc tự vẫn, con Nguyễn Văn Thuyên bị án chém, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán Thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường người thường tiếp đãi Nguyễn Văn Thuyên khi ra Bắc chết bất ngờ năm 1818, có lẽ tự tử vì Lê Chất truy bức.. Ngoài ra còn có Nguyễn Gia Cát Tham Tri Bộ Lễ, Vũ Quý Đỉnh Thiêm sự Bộ Lễ. Điều này cắt nghĩa vì sao Lưu Hương Ký, các tác phẩm Hồ Xuân Hương bị cất dấu phân tán chỉ còn lại những bài truyền tụng.
Để giải quyết nghi ngờ và những bàn luận xiên quàng đó, tôi xin tóm lược những nghiên cứu của tôi về Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ, Phạm Đình Hổ, và Trần Phúc Hiển tôi đã viết từ năm 2000.
Bài thơ Nôm của Mai Sơn Phủ như sau
THU NGUYỆT HỮU ỨC MAI SƠN PHỦ
Lá ngọc chiều thu giận hẵn du,
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu.
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau,
Trăm năm có biết duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ, cũng trắng đầu.
Bài thơ Xuân Hương Hồ Phi Mai viết trong một đêm thu trăng sáng, nhớ buổi chiều thu cùng đi dạo với Mai Sơn Phủ. Đêm trăng thu hôm nay nhìn am Nhất Trụ chùa Một Cột vẫn còn đấy lòng nàng vẫn mênh mang như nước sông Tô Lịch chảy ra sông Nhĩ Hà, qua ngã ba Nghĩa Trụ, Kim Ngưu và Đại Bi, Hồ Phi Mai lòng phân vân, dòng nước mênh mông về đâu? Em gặp chàng rồi sẽ về đâu? Phận gái mừng thầm duyên nợ với chàng, đừng như bèo mây hợp tan mà tủi phận về sau! Trăm năm dù là vợ cả hay thứ thiếp của chàng, ông tơ bà nguyệt xe đỏ dây tơ cho đến khi đầu bạc. Ngày xưa khi chia tay người ta thường cột dây tơ đỏ vào cổ tay. người Lào, người Mường vẫn còn giữ phong tục này.
Mười năm sau mối tình ba năm với Nguyễn Du (1790-1793), Xuân Hương mới gặp Mai Sơn Phủ. Mối tình ghi dấu khoảng thời gian 1799 đến 1801. Mai Sơn là bút hiệu. Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt Tự Điển, Phủ là tiếng sang trọng chỉ người đàn ông, ví dụ Khỗng Tử được gọi là Trọng Ni Phủ, Phạm Đình Hổ bút hiệu là Tùng Niên (Cây tùng lâu năm sinh ngọc hổ phách) được gọi là Tùng Niên Phủ. Nguyễn Kính là Kính Phủ. Hồ Xuân Hương không gọi Tốn Phong là Tốn Phong Phủ, mà chỉ gọi Mai Sơn Phủ cho ta thấy tấm lòng Xuân Hương đối với Mai Sơn.
Mai Sơn Phủ chỉ là một thư sinh có tài thơ văn nhưng không đổ đạt gì, nên không thấy lưu danh tên tuổi trong các khoa thi, danh tước trong sử sách. Dựa vào thơ Hồ Xuân Hương, Phạm Đình Hổ ta biết quê chàng ở làng Liên Cừ, Vịnh Phố (Vinh ngày nay) xưa thuộc Hoan Châu.
Bài thơ Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng của Phạm Đình Hổ (Tiễn ông họ Mai người làng Liên Cừ đi Vị Hoàng.
Buổi tiễn đưa tại sông Hoàng Giang, Nam Định, nơi Thạch Đình, đưa Mai Sơn Phủ về làng Liên Cừ, Vịnh Phố (Vinh ngày nay), vào mùa hè (Gậy trúc ngày hè xa cố đô). Phạm Đình Hổ trêu chọc nàng, Hồ Phi Mai khóc sướt mướt (Hoàng giang mưa điểm hương mai nở), mùa hè làm gì có mai nở, chỉ có Phi Mai khóc thương người tình.
TỐNG MAI CÔNG, LÀNG LIÊN CỪ PHÓ VỊ HOÀNG
Gậy trúc ngày hè xa cố đô,
Giang Nam thương nhớ bóng xa mờ.
Hoàng giang, mưa điểm hương mai nở
Vịnh phố rực vàng hương lúa thu.
Vời ngắm non cao cây lớp lớp,
Hứng về biển thẳm cánh buồm mơ.
Người đi hẹn ước ngày quay lại.
Tay áo thung thăng gió Kiếm Hồ.
Nhất Uyên dịch thơ
Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Hạ nhật huề cùng xuất cố đô,
Giang Nam* nam hạ tứ du du.
Sơ mai hương đậu Hoàng giang vũ,
Dã mạch tình thâm Vịnh phố thu.
Vọng nhập tiền sơn khan võng thụ,
Hứng tùy thương hải phiếm hư chu.
Lân kỳ ước lược quy lai nhật,
Mãn thụ thanh phong phản Kiếm hồ.
Chú thích: Giang Nam: tích Dữu Tín đời Tống Nam Bắc triều làm quan xa lâu ngày không về làm bài Ai Giang Nam phú, từ đó Giang Nam có nghĩa là lòng nhớ quê hương.
Phạm Đình Hổ là bạn thân Mai Sơn Phủ, từng học trường cụ Hồ Phi Diễn, bên cạnh chùa Kim Liên. Ông con quan Tham tri Phạm Đình Dư, chánh quán xã Đan Loan huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương, mồ côi cha lúc 10 tuổi, năm 1785 ông mới ra Thăng Long, xin được vào trường Quốc Tử Giám dự buổi bình văn hàng tháng, ông cư trú phường Hà Khẩu, phố Hàng Buồm ông tham dự các khoa thi 1807,1813 nhưng không đổ đạt gì, ông dạy học thôn Khánh Vân hạ lưu sông Tô Lịch. Ông được gọi là Chiêu Hổ, chữ Chiêu nguyên thời vua Lê Thánh Tông, chỉ con quan Tiến sĩ, được học ở Chiêu Văn Quán, và cấp thấp hơn học tại Tú Lâm Cục, thời Phạm Đình Hổ, Chiêu Văn Quán và Tú Lâm Cục về sau không còn nữa, nhưng người đời vẫn quen miệng gọi cậu Chiêu, cậu Tú. Năm 1821 vua Minh Mạng ra Bắc khuyến khích việc viết sách, Phạm Đình Hổ nhân dịp ấy dâng sách được ban thưởng, vua vời ông ra bổ làm Hành Tẩu Viện Hàn Lâm. chẳng bao lâu ông từ chức lấy cớ bị bệnh. Năm 1826 lại triệu ông làm Thừa Chỉ Viện Hàn Lâm và Tế Tửu Quốc Tử Giám, ông được thăng Thị giảng học sĩ, năm 1832 ông về hưu luôn và mất năm 1839 thọ 71 tuổi.
Thuở trẻ, ông thường đến chơi chùa Kim Liên và thăm Hồ Phi Mai (Từ thuở làm thân khách cố kinh, Kim Liên qua lại đã bao lần). Có ba bài thơ ông tả cô gái mới lớn, nhỏ hơn ông mười tuổi, biết làm thơ, «Ôm đàn cười chẳng gảy, Sợ làm ai chạnh lòng.» chính là Xuân Hương Hồ Phi Mai.(xem bài Hình bóng Hồ Xuân Hương qua thơ Phạm Đình Hổ. cùng tác giả)
Người đương thời thường dùng điển tích để nói lên tâm sự mình, nhưng Hồ Xuân Hương thành thật, ngay thẳng nước mắt đầm đìa cả trang thơ.
«Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương trên nệm cả đêm thâu.»
Câu thơ của một thiếu nữ viết đầu thế kỷ hai mươi chăng? Không đó là thơ Hồ Phi Mai viết từ cuối thế kỳ mười tám.
Mai Sơn Phủ yêu nàng, ngõ ý cưới nàng hai người cắt tóc ăn thề, trích máu hòa lẫn vào chung rượu cuông uống dưới trăng và thề nguyền nếu phụ tình nhau sẽ bị thần linh trừng phạt «dao búa nguyền xin lụy đến mình.» Hồ Xuân Hương đã trao cả tâm hồn cho Mai Sơn Phủ.
«Tiếng đã tương đồng
Khí đã tương đồng,
Tương tư không dứt suốt năm canh,
Tâm ở Vu Phong
Hồn ở Vu Phong
Ân ái cuộc tao phùng
Nhàn tựa gió đông
Mỏi tựa gió đông
Một vườn hồng hạnh biếc xanh xanh.»
Chú thích: Vu Phong : tích vua Sở nằm mộng thấy mình ân ái cùng thần nữ núi Vu Sơn.
Năm 1801, Mai Sơn Phủ rời Thăng Long, về quê để xin cha mẹ hỏi cưới nàng, nhưng trong cơn tao loạn triều Tây Sơn sụp đổ, Mai Sơn Phủ không trở về Thăng Long nữa. Chàng đã mất trong cơn loạn lạc chiến tranh, một cơn bạo bệnh. Mai Sơn Phủ chỉ còn để lại dấu vết trên đời qua những vần thơ yêu đương lai láng của Hồ Xuân Hương, và hai bài thơ Mai Sơn Phủ viết cho Hồ Xuân Hương, nàng trân trọng chép lại trong Lưu Hương Ký.
Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ tuy ngắn ngủi, nhưng đây là lần đầu tiên nàng thực sự yêu đương, và hồn thơ lai láng.
Với Nguyễn Du,qua ba năm lưu lạc Trung Quốc sau cuộc khởi nghĩa Tư Nông, Thái Nguyên. Nguyễn Đăng Tiến quyền trấn Thủ Thái Nguyên thay Thượng Thư Nguyễn Khản, cùng Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du bị Chỉ huy Giáo Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm . Nguyễn Đăng Tiến tức Nguyễn Đại Lang trong Thanh Hiên thi tập, Nguyễn Đăng Tiến lớn tuổi hơn cả anh Nguyễn Khản hơn Nguyễn Du 32 tuổi, nên Nguyễn Du gọi là Đại Lang, anh cả. Đăng Tiến có kết nghĩa sinh tử với Nguyễn Du, họ cùng bị bắt và cùng được tha «Sinh tử giao tình tại. Tồn vong cùng có khi.» Bài Biệt Nguyễn Đại Lang) Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí gọi Tiến là Cai Gia tay giặc già, trong đoạn Nguyễn Khản lên Sơn Tây bàn luận cùng Nguyễn Điều đêm quân về dẹp kiêu binh. Sách Lịch Triều Tạp Kỷ gọi là Cai Già. Sách Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu trang 100 chép rõ các đoạn đối thoại: Nhậm trân trọng khí khái tha chết cho muốn đi đâu thì đi. Họ lên đường sang Vân Nam, đến Liễu Châu họ chia tay, Nguyễn Đăng Tiến về thăm quê cũ, vùng cao sơn lưu thủy Việt Đông. Nguyễn Quýnh tức Nguyễn Sĩ Hữu quay về Hồng Lĩnh khởi nghĩa chống Tây Sơn, còn Nguyễn Du thành nhà sư «Giang Bắc, Giang Nam một túi không», mang danh hiệu nhà sư Chí Hiên, trong túi có bản Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quý Đôn, ngày chu du thắng cảnh, đêm tìm một ngôi chùa tá túc, «Đọc kinh Kim Cương nghìn lượt», tức ba năm và đi ngao du vạn dậm trong chiếc mũ nhà sư «vạn dậm mũ vàng chiều nắng xế.») gần 5000 km. Nguyễn Du đến Hàng Châu cư ngụ tại chùa Hổ Pháo, đối diện Miếu Nhạc Phi con đê Tô, nơi Từ Hải tức Minh Sơn hòa thượng từng tu hành, nơi đây chuyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân đang được in ấn và nổi tiếng, Nguyễn Du đọc và quyết chí diễn ngâm ra thơ Nôm. Miếu Nhạc Phi là điểm hẹn gặp lại Trung Châu với Nguyễn Đại Lang trong bài Biệt Nguyễn Đại Lang, nơi đây trong lúc chờ đợi Nguyễn Du làm 5 bài thơ, các nơi khác Nguyễn Du chỉ viết một bài.
Cuối cuộc phiêu lưu, Nguyễn Du lại gặp Đoàn Nguyễn Tuấn trong sứ đoàn Tây Sơn Phan Huy Ích tại Hoàng Châu. Đoàn Nguyễn Tuấn trong hai bài thơ gặp văn nhân họ Nguyễn chép trong Hải Ông Thi Tập, «Sách vở văn chương mãi luận bàn», hai người bàn chuyện «Hồng nhan đa truân» do Nguyễn Du ảnh hưởng chuyện Kim Vân Kiều mới đọc, Đoàn Nguyễn Tuấn cho biết anh Nguyễn Nễ đã ra làm quan Tây Sơn và họ hẹn gặp lại nước nhà khi xuân sang, Nguyễn Du về đến Long Châu, xóm Nam Đài, sông Long Thủy chờ đợi cùng về Thăng Long.
Mùa xuân năm 1790 Nguyễn Du trở về cư ngụ tại Gác Tía nơi nhà câu cá cũ của anh Nguyễn Khản bên cạnh đài Khán Xuân, nay khu đình làng Nghi Tàm, vì dinh thự nơi Bích Câu bị loạn kiêu binh đốt phá, Nguyễn Nễ làm quan Tây Sơn có cho xây dựng lại một phần cơ ngơi, nhưng nơi đây thường là nơi hội họp ca hát các quan Tây Sơn. Nguyễn Du chỉ đứng trong bóng tối nhìn Cô Cầm ca hát. Nguyễn Du ra ở nơi Gác Tía và yêu cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai, lúc đó nàng mới lớn, còn ngây thơ hồn nhiên «Nàng đến tự bao giờ, Cách hoa nghe cười nói» (Bài Đắc mộng thái liên). Mối tình ba năm « Chữ tình chốc đã ba năm vẹn» (Bài Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu, Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân), Năm 1794 Nguyễn Du được lệnh anh Nguyễn Nễ, mang món tiền thưởng vua Tây Sơn sau khi đi sứ, trở về làng Tiên Điền cùng em Nguyễn Ức xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền, chùa đình làng, cầu Tiên bị tướng Lê Văn Du Tây Sơn đốt sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh. (Xem bài Mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, cùng tác giả)
Hồ Xuân Hương, xuất thân từ gia đình vọng tộc, con cụ Hồ Phi Diễn(1703-1786), bà mẹ họ Hà. Hồ Xuân Hương là em họ quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống, người giữ chức Tham Tụng thay Nguyễn Khản anh Nguyễn Du bị kiêu binh truy bức, và Hồ Sĩ Đống có công dẹp yên được kiêu binh.
Với anh Thầy Lang trẻ chưa cưới đã bị bệnh mất, nàng chỉ đùa bởn «Thương chàng nên khóc tỉ tì ti» Nhưng với Mai Sơn Phủ thì đây là những trang nhật ký tình yêu thật sự. Dựa vào tình cảm trong thơ tôi xếp thứ tự:
Kể ý mình trình bạn Mai Sơn Phủ
Điệu ca xuân Đình Lan
Cảm nghĩ khi thề
Đêm trăng thu nhớ Mai Sơn Phủ
Biệt ly họa thơ Mai Sơn Phủ
Nguyệt dạ ca
và cuối cùng là hai bài Tự Thán, lo lắng cho tình yêu tan vỡ trước thế sự chiến tranh tiếp diễn, chàng bặt tin tức, và «Một đời riêng mấy tiếng chua cay» lời người bàn tán, mỉa mai nói xấu nàng.(Xem bài Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ, cùng tác giả)
Hơn mười năm sau mối tình Mai Sơn Phủ, Hồ Xuân Hương mới gặp Trần Phúc Hiển. Do đó Mai Sơn Phủ không thể là Trần Phúc Hiển, thơ Hồ Xuân Hương viết cho Trần Phúc Hiển hoàn toàn khác biệt với thơ Mai Sơn Phủ.
Trong cơn loạn lạc cuối thờ Tây Sơn, Hồ Xuân Hương phải lánh nạn lên Vĩnh Phú. Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà (1801-1804), từng là học trò cụ Đồ Diễn rước nàng về, Hồ Xuân Xương từ bỏ Tổng Cóc dù đã mang thai 6 tháng. «Dù anh có cho tôi ngàn vàng tôi cũng như cóc bị bôi vôi, không bao giờ tôi trở lại với anh» (Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi. bài Giả từ Tổng Cóc).
Nguyễn Du năm 1804 làm tri phủ Thường Tín trở về thăm Cổ Nguyệt Đường, nghe tin xót thương Hồ Phi Mai như thân phận nàng Tiểu Thanh viết bài Độc Tiểu Thanh Ký. «Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp tố như». Không biết rồi đây ba trăm năm lẻ nữa, Ai khóc người phụ nữ phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. (Tố:tự điển Thiều Chửu là người phụ nữ phẩm hạnh cao quý, như: là như thế như vậy)
Hồ Phi Mai nhận được bài thơ Nguyễn Du, viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời, thì Nguyễn Du đã vào Nam, nàng trở về làng Nghi Tàm và ra mở cửa hàng bán sách bên cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích, với sự giúp đỡ của người bạn thân của Nguyễn Du, và Phạm Đình Hổ.
Hồ Xuân Hương sinh con nhưng không nuôi được (Chốn dời Mai đã nẩy thêm cành. Thơ Tốn Phong). Tốn Phong gặp gỡ Hồ Xuân Hương năm 1807-1808 và 1814. Tốn Phong đã đến hiệu sách và đến Cổ Nguyệt Đường làng Nghi Tàm nguyên là một ngôi nhà lớn do các học trò cụ Đồ Diễn xây dựng mừng thọ thầy 80 tuổi theo phong tục ngày xưa. Tốn Phong gọi đó là Mai Đình hay Viện.
Xuân Hương viết năm bài thơ tặng Tốn Phong:
Ngụ ý Tốn Phong I, II
Tốn Phong đắc mộng,
Họa thơ Tốn Phong 1814.
Tốn Phong viết 11 bài tặng Xuân Hương năm 1807
Tốn Phong viết tựa Lưu Hương Ký và 20 bài thơ tặng Xuân Hương năm 1814.
Quán sách không lời vì khách hàng là các quan thị, nay không còn cung điện đến quán sách chỉ tán gẫu. Các học trò bé bỏng như Nguyễn Văn Siêu mới lên tám chỉ đến ngắm bà chị «Gái một con trông mòn con mắt» nhan sắc lộng lẫy và bị bà chi mắng «Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.»
Hồ Phi Mai theo các chị em đi buôn, mang sách giấy bút đến bán cho các quan các trấn, nhờ đó nàng gặp gỡ Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh ở Nam Định từng xướng hoạ với nàng và ngõ ý yêu nàng, Trần Quang Tĩnh được đổi vào Nam, rồi trở ra làm quan Tào Binh năm 1816. Khi chồng Hồ Xuân Hương bị tội, nàng đến cầu cứu, nhưng Quan Tào Binh trốn mất, sai lính đuổi: «Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng. Tình ma không sức đuổi sầu binh.»(Bài Bán chẩm thư hoài)
Tình hình hai trấn Sơn Nam bị loạn Đặng Trần Siêu và Võ Đình Lục bất an từ 1810, khiến Hồ Xuân Hương không thể đi buôn, lúc ấy lớp học làng Nghi Tàm do trưởng tràng Tử Minh dạy, Tử Minh mất, năm 40 tuổi để lại vợ dại và hai con thơ. Hồ Xuân Hương trở về đảm nhận lớp học Cổ Nguyệt Đường.
Trần Ngọc Quán Hiệp trấn Sơn Nam thượng mới đến nghe danh tiếng nàng đến thăm: «Tài cao nhã phượng thế gian kinh. Nay đến Long Thành được thấy danh»(Thổ phượng tài cao nhất thế kinh. Long thành hà hạnh thỉnh huyền linh), Hồ Xuân Hương đã đáp lại:« Quỷ vô tài điệu sử nhân kinh. Thập tải phong trần quán nhỉ linh. Hồ Xuân Hương đã đáp lại lời ca tụng: «Tiếng danh vang như chuông» bằng «Quán nhỉ linh» có nghĩa là ăn trộm bịt tai đi trộm chuông, thật là dí dỏm và tài tình. Tài tôi thẹn kém có ai kinh đâu. Mười năm tôi lưu lạc phong trần như ăn trộm bị tai đi trộm chuông,
Trần Ngọc Quán và cùng Hồ Xuân Hương thành lập Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường, có khoảng 28 người, Trần Ngọc Quán được bầu làm Thi Tướng. Lưu Hương Ký và thơ Hồ Xuân Hương và các thơ văn xướng họa tìm được nơi nhà cụ Nguyễn Văn Tú làng Hành Thiện là do một nhân vật trong tao đàn cất giữ.
Hồ Phi Mai gặp gỡ năm 1813 Trần Phúc Hiển quan tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường. Hồ Xuân Hương viết hai bài Cảm cựu tống xuân chi tác I, II mừng cho mối tình này
Trần Phúc Hiển được đổi ra làm Tham Hiệp trấn Yên Quảng Vịnh Hạ Long.
Từ Tam Đái, Trần Phúc Hiển dòng thuyền qua làng Nghi Tàm rước nàng, đến Bạch Đằng Giang sợ dư luận dị nghị, và Hồ Xuân Hương cũng đang cư tang mẹ năm 1814, hai người tạm biệt, Hồ Xuân Hương trở về và hẹn sau khi thu xếp xong công việc trấn nhậm sẽ rước nàng ra Yên Quảng.
Hồ Xuân Hương trở thành thứ thiếp vợ ba Trần Phúc Hiển cùng chồng cai trị Yên Quảng. Theo phong tục ngày xưa: Vợ Cả do cha mẹ cưới hỏi, cai quản gia trang. Vợ hai thường do bà Cả cưới em gái hay thân thuộc làm bạn mình. Vợ ba mới là người do người chồng tự chọn lựa, và theo chồng đi trấn nhậm khắp nơi. Trường hợp gia đình Nguyễn Du và Trần Thị Tần vợ ba, theo cụ Nguyễn Nghiễm đi khắp nơi nên có 5 người con đông nhất, 7 bà khác chỉ có một hay hai người.
Trong thơ Hồ Xuân Hương rất trân trọng Trần Phúc Hiển «Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng, Được tiếp dung nghi Nhật Chính Đông» Bấy lâu ngưỡng mộ nay gặp nhau, được tiếp chàng đường đường chính chính như mặt trời mọc hướng chính đông. Chỉ hai câu này thôi cũng đủ thấy Trần Phúc Hiển không thể là Mai Sơn Phủ. Trần Phúc Hiển dòng dõi con Trần Phúc Nhàn nguyên giữ chức tham mưu trong quân đội, trước khi Chúa Nguyễn khôi phục được Phú Xuân. Năm Gia Long thứ hai, để đền công Phúc Hiển được bổ chức Hàn Lâm thị thư (Theo Đại Nam thực Lục Chính Biên 22.1b sau đó được thăng dần đến Tri phủ Tam Đái (Vĩnh Tường), rồi Tham Hiệp Yên Quảng. Các trấn lớn quan đầu tỉnh được gọi là Hiệp Trấn, tỉnh nhỏ được gọi là Tham Hiệp.
Tóm lại, bà Nghiêm thị Hằng khi nghiên cứu về Hồ Xuân Hương đã không đọc các công trình nghiên cứu người đi trước của Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn và tôi, Phạm Trọng Chánh còn lưu giữ trong sách và trên mạng, nên vội vả nhập nhằng chuyện này qua chuyện khác, nhân vật này qua nhân vật khác, từ Tam Kỳ Thăng Long biến thành Tam Kỳ Quảng Nam. Từ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà biến thành Phạm Đình Hổ.
Hồ Xuân Hương mất khoảng năm 1822, không con cái. Hai con và vợ Tử Minh (Cả Tân) là người thân thích duy nhất và Nguyễn Thị Hinh học trò Hồ Xuân Hương về sau học với Tiến sĩ Phạm Quý Thích trở thành Bà Huyện Thanh Quang.
Mộ Hồ Xuân Hương nằm ở nghĩa địa Đồng Táo cùng bên mộ thân sinh, «Kìa nấm thâm ân nọ nấm tình»(bài Thanh Minh). Tùng Thiện Vương khi ra Thăng Long thăm chùa từng dặn cô hầu gái hái sen cúng chùa Kim Liên «Chớ trèo qua mộ Xuân Hương. Suối vàng còn hận tơ duyên bẽ bàng» .
Đầu thế kỷ 20 do việc đắp đê Cổ Ngư làm mực nước Hồ Tây dâng cao hơn một thước, nghĩa trang Đồng Táo trước chùa Kim Liên chìm trong lòng nước. Các người câu cá Hồ Tây ngày nay còn đứng trên các ngôi mộ đá vôi. Khoảng năm 1970, Cuba xây Khách Sạn Thắng Lợi tại nơi này, dưới và chung quanh khách sạn còn ngỗn ngang đầy mồ mã. Mộ Hồ Xuân Hương chưa hề bị di dời, ngày nay muốn tìm chỉ có thể hạ thấp lại mực nước Hồ Tây và tìm đọc văn bia mộ, điều này không phải là khó, nếu thành phố Hà Nội có quyết tâm xây dựng lại Cổ Nguyệt Đường và di tích Hồ Xuân Hương và ngôi Gác Tía của Nguyễn Du làm nơi chứng tích văn học Việt Nam.
Paris 20-6-2026.