
Hồ Bạch Thảo
Tháng giêng năm Tân Dậu [13/2-13/3/1801], Nguyễn Vương sai Chưởng tiền quân Nguyễn Văn thành tổng chỉ huy các đạo bộ binh và ban lệnh rằng:
“Mới đây đại binh từ Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định] tiến đánh trèo non vượt biển, đường sá cách trở, sợ khó quản cố được hết, nên đặc biệt hạ chỉ cho Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt kiêm lĩnh hai dinh Tiền và Hữu để cho có thống thuộc. Nay lũy giặc đã san bằng, các đạo đã liên lạc được, nếu quyền chỉ huy không có chuyên trách, hiệu lệnh không thống nhất, thì các quân vâng lệnh ở đâu? Từ nay về sau bốn dinh Trung Tiền Hữu Hậu đến đem quân sở bộ theo quyền tiết chế của khanh, Tống Viết Phước không được kiêm lĩnh như trước nữa. Lại như quân đạo Cù Mông trước là ủy cho Nguyễn Huỳnh Đức một mình cáng đáng một mặt, nay địa thế đã nối liền, cũng cho khanh điều độ cả. Còn như việc phân phái đánh giữ thì nên điều bát tướng sĩ toàn dinh, chớ nên lẻ tẻ. Kẻ nào trái mệnh lệnh thì xử ngay theo quân pháp”.
Lại dụ Nguyễn Huỳnh Đức rằng:
“Khanh là cựu tướng lão thành, triều đình vốn trông cậy. Nhưng nay quyền tiết chế bộ binh đã chuyên ủy cho Nguyễn Văn Thành, vậy từ sau có sự điều khiển thì khanh nên lấy xã tắc làm trọng mà nghe theo, chớ nên để ý đến chỗ kẻ cao người thấp”.
Quân Tây Sơn vây thành Bình Định mấy vòng. Võ Tánh thừa ban đêm mở cửa đông ra ập đánh, đốt trại cháy liên tiếp chừng một dặm. Quân địch sợ lùi, sáng sớm lại họp thêm quân vây thành; thám tử báo tin, Vương dụ Nguyễn Văn Thành rằng :
“Đại binh tiến đánh đã lâu năm, tướng quân đánh luôn được luôn, nhưng sau đó lại dừng quân thì nó có thể được dịp mà đắp thành cao đào hào sâu để tự vệ. Lấy đó mà nghiệm, thì ta không sợ không thắng, chỉ sợ không chịu đánh thôi. Nay trong thành dám xông vây ra đánh là trông cậy có quân ta ngoại viện. Nếu ta cứ dừng quân mãi thì trong ngoài cách hẳn, nhân tâm tất là chờ ngóng. Tướng quân nên nhắm cơ hội mà tiến đánh để giải khổ cho tướng sĩ trong thành, thỏa tấm lòng gần xa quy phụ. Cái công bình định trông cả vào tướng quân. Ta lại chỉnh bị thủy binh để đợi. Nên sớm liệu đi”.
Thủy quân Nguyễn cả phá quân Tây Sơn ở cửa Thị Nại. Trước đó Tư đồ Võ Văn Dũng dùng hai chiếc thuyền đại hiệu Định quốc và hơn trăm chiếc thuyền chiến chặn đóng ngang cửa biển, lại dựng hai đồn ở bãi Nhạn Châu [cửa Thị Nại, Bình Định] bên tả và ở núi Tam Tòa [cửa Thị Nại, Bình Định] bên hữu, đặt nhiều súng lớn, dựa thế cao chẹn chỗ hiểm để phòng ngự. Đến đây các quân làm xong chiến cụ hỏa công, Nguyễn vương mật lệnh đêm 16 [28/2/1801] cất quân đánh úp. Sai Tiền chi Hoàng Văn Khánh đem bộ binh lẻn xuống Vũng Dừa, chờ khi lửa hiệu ở Tiêu Cơ phát ra, thì đánh hãm lũy, đặt mai phục ở sau núi để ngăn địch, lưu Phạm Văn Nhân giữ Cù Mông; Vương bèn thân đem thủy quân tiến phát. Trống canh ba qua Tiêu Cơ bắt được lính đi tuần của địch, biết được mật khẩu, tức thì sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phước Lương dùng thuyền nhỏ lẻn trước vào Hổ Cơ đốt đồn thủy của giặc. Lại sai Võ Di Nguy đi thuyền theo lệnh thẳng tiến, Lê Văn Duyệt đốc quân tiếp theo. Giặc giữ đồn cự chiến, từ giờ dần [4 giờ] đến giờ ngọ [12 giờ], tiếng súng vang trời, đạn bay như mưa, Di Nguy bị bắn chết. Duyệt cứ mặc kệ, càng thúc đánh hăng. Vua thấy sĩ tốt nhiều người tử thương, cho tiểu sai đến ban lệnh tạm lui. Duyệt thề chết, vẫy quân xông lên, đến giờ thân [4 giờ chiều] vào được cửa biển, dùng đuốc hỏa chiến thừa chiều gió phóng đánh thuyền đại hiệu của giặc. Quân Tây Sơn cả vỡ, chết rất nhiều. Dũng thua chạy, thuyền Tây Sơn bị đốt cháy gần hết; quân Nguyễn bèn giữ cửa Thị Nại; người ta khen trận này là võ công lớn nhất.
Nguyễn Văn Thành nghe tin thắng trận, sai bộ binh các đạo chia đánh các đồn ở Vân Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định] và Phú Trung; Nguyễn Đức Xuyên chém Đô đốc địch Nguyễn Hạch, bắt được 2 thớt voi và súng ống khí giới nhiều vô kể.
Vương đóng ở cửa Thị Nại, phi báo tin thắng trận đến các nơi; lại sai Lưu trấn Gia Định viết thư báo tin cho các nước Xiêm La và Chân Lạp.
Nhân dân Bình Định nghe tin Thị Nại đã vỡ, sợ hãi chạy trốn; Vương ban dụ rằng:
“Một năm nay bọn giặc tàn ngược, dân bị lầm than. Ta sở dĩ dấy quân là vì trăm họ, không phải là thích dụng binh mà cốt là để yên dân. Các ngươi cứ yên đừng sợ. Nếu quan quân có quấy nhiễu cướp bóc, cho các ngươi đến tố cáo, sẽ theo quân pháp trị tội ngay”.
Tướng Võ Văn Dũng đã thua, thu nhặt tàn quân hợp lại với Trần Quang Diệu, rồi sai Tư khấu Định giữ Thạch Tân [Bến Đá, chỗ tiếp giáp huyện Hoài Nhơn và Quảng Ngãi], đô đốc Nguyễn Văn Ngũ giữ Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định], đô đốc Võ Văn Sự giữ Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định], để đề phòng quân Nguyễn đánh tập hậu, lại dương ngôn thề họp quân hết sức đánh thành.
Vương được tin, sai người lẻn vào trong thành bảo Võ Tánh và Ngô Tòng Chu rằng:
“Quân ta đánh úp được Thị Nại, bao nhiêu thuyền ghe của giặc đã thành tro tàn. Nay thế nó đã cùng, tất sẽ cắn lại. Bọn khanh nên khuyến khích quân lính, phòng bị nghiêm nhặt thêm, chớ vì thắng mà kiêu, chớ thấy lâu mà nản, chờ ta thừa cơ tính liệu, quyết một trận để thông với thành. Nên cố gắng lên”.
Ghi công và cấp tuất các tướng sĩ trận vong ở Thị Nại; tặng gia đình Võ Di Nguy 2 cây gấm Tống, 2 trăm quan tiền, đưa tang về Gia Định; cho phát tiền công để lo hậu táng.
Nguyễn Văn Thành sai Tống Viết Phước đóng đồn ở Càn Dương [huyện Phù Cát, Bình Định]; địch chia đường đánh úp. Vệ úy vệ Trung võ là Trần Văn Xung đánh nhau với địch, chết ở chợ Chính Lộc [huyện Phù Cát, Bình Định]. Phước thúc quân tiếp ứng, địch hơi lùi, đuổi đến Thạch Cốc, gặp quân mai phục của tướng Từ Văn Chiêu nổi dậy, quân Nguyễn vỡ chạy. Phó đô thống chế Phan Văn Kỳ và Vệ úy vệ Tín uy Nguyễn Văn Trí bị địch bắt; Vệ úy Hoàng Phước Bảo và Vệ úy Hoàng Văn Tứ đều chết trận. Phước bèn bỏ bảo Càn Dương, đến hành tại xin chịu tội; Vương tha cho, sai đem quân giữ đồn Hàm Thủy.
Tháng hai [14/3-12/4/1801], dân thiểu số Bàn Hàn ở Phú Yên tụ tập đánh đồn La Thai [huyện Đồng Xuân, Phú Yên], Lưu thủ Phạm Tiến Tuấn đánh đuổi; việc tâu lên Vương sai tướng quân thượng đạo Nguyễn Long đến phủ dụ.
Nước Vạn Tượng sai sứ sang cống chiêng đồng, sừng tê trắng, dâng địa đồ Nghệ An và Phú Xuân và dâng biểu xin định kỳ hội quân đánh giặc. Sứ giả tới Gia Định, đưa đến hành tại bái yết; Vương sai viết thư trả lời, hậu đãi sứ giả rồi cho về, tặng quốc trưởng 4 lạng kỳ nam, 2 cây súng tay, chì và thiếc mỗi thứ 100 cân.
Sai Nguyễn Văn Trương điều bát thủy quân tiến ra Quảng Ngãi, Quảng Nam; Vệ úy vệ Tuyển phong hữu Tả dinh quân Thần sách là Phan Văn Đức, Vệ úy vệ Phấn dực Trung quân là Tống Phước Lương, Chánh vệ vệ Thuận võ là Vương Văn Học và các chúa tàu hiệu Long phi, Phượng phi, Bằng phi là bọn Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Thắng, Lê Văn Lăng, đều thuộc quyền. Vương ban lệnh rằng:
“Hai xứ ấy chịu khổ dưới ngọn lửa tàn bạo của giặc Tây Sơn đã lâu, dân không sống được. Khanh phụng mệnh đi đánh phải nêu rõ quân chính, cấm ngăn cướp bóc, để thu phục lòng dân. Nếu tướng lệnh không nghiêm, thì trách nhiệm điều bát sẽ có công nghị của triều đình”.
Ngày Quý sửu [20/3/1801], Đông cung nguyên súy quận công Cảnh mất. Trước kia Đông cung từ Tây Dương về, từng theo đánh giặc, đến nay làm Lưu trấn Gia Định, bị bệnh đậu mùa mất lúc 22 tuổi. Vương nghe tin rất thương xót; sai Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Tử Châu hiệp cùng bộ Lễ lo việc tang.
Triệu chú ruột Vương Chưởng cơ Tôn Thất Thăng đến hành tại và mật dụ Lưu trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân rằng:
“Tránh chỗ thực đánh chỗ hư, đó là mưu cao của binh gia. Nay giặc đem hết quân vây thành Bình Định, Phú Xuân đơn nhược, mà lương thực trong thành Bình Định thì còn đủ chi dùng 5,6 tháng nữa, tướng sĩ đồng lòng cố giữ, có thể không lo. Ta chính đương sắp thừa cơ tiến đánh để khôi phục đất cũ, nên đặc mệnh vời quốc thúc [chú ruột] tới quân thứ để nghe lệnh. Bọn khanh nên thôi thúc kén thêm quân cho cùng đi với thuyền lương lại điều thêm 800 người cục tượng [thợ] 300 người ở các đội Hùng Diêm, An Công, đến tháng 3 thì tề tập ở quân thứ. Nếu Bình Định chưa giải được vây, ta cũng thẳng tới Phú Xuân để diệt trừ bọn nghịch. Giả sử mấy vạn quân bại tàn các Diệu, Dũng có được cái thành không ấy cũng chả làm gì. ý ta đã định, nên cho khanh biết”.
Tham đốc Tây Sơn Phạm Văn Điềm đem 500 quân xâm phạm Phú Yên. Trước đó bộ binh phía Nguyễn tiến đóng tại Vân Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định], từ Phú Yên trở vào nam đồn trại bỏ không. Điềm nhân sơ hở đột kích đồn Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên]; Lưu thủ Phạm Tiến Tuấn, lui giữ cửa biển Xuân Đài. Vương hạ lệnh cho Nguyễn Đức Xuyên và Tống Viết Phước đem quân thủy bộ chia đường tiến đánh, quân Tây Sơn rút lui.
Nguyễn Văn Trương đem thủy binh tiến vào cửa biển Cổ Lũy ở Quảng Ngãi, đánh phá kho Trà Khúc, đốt hết tài vặt, đô đốc Tây Sơn là Tuấn bỏ đồn tháo chạy.
Tháng 3 [13/4-12/5/1801], quân Nguyễn lấy lại Quảng Nam. Sau khi Nguyễn Văn Trương đánh được Trà Khúc, bèn thừa thắng tiến vào cửa biển Đại Chiêm [Hội An, Quảng Nam], đánh các xứ Hội An và Phú Triêm [huyện Điện Bàn, Quảng Nam], phá được cả. Đô đốc Hoàng Văn Tự đem binh ứng nghĩa đuổi bắt được 24 thớt voi; Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân cùng với Trấn thủ thiếu úy Văn Tiến Thể giữ ải La Qua [huyện Điện Bàn, Quảng Nam]; Văn Trương đốc quân đánh úp, bọn Xuân thua chạy, thu được hơn 80 cỗ đại bác và khí giới lương tiền vô kể; bèn đóng đồn án giữ đất này.
Tin thắng trận báo lên, Vương ban chỉ khen ngợi. Tức thì sai Tống Viết Phước đưa hơn 30 chiếc thuyền và hơn 1.000 quân đến giúp; sai Phạm Văn Nhân chỉ huy 3 chiếc hiệu thuyền [tàu lớn] tiến vào Đà Nẵng và kiêm quản tướng sĩ các hiệu thuyền Long phi, Phượng phi, Bằng phi để cùng sách ứng. Lại cho rằng tham quân Tượng dinh Lê Nguyễn quê ở Quảng Nam, biết rõ dân tình địa thế đất ấy, nên sai đem binh dưới quyền theo Nguyễn Văn Trương điều khiển, cùng dụ Trương rằng:
“Người giỏi dùng quân, phải trước hết lập thế không ai thắng được để đối phó với thế có thể thắng của địch. Nay Quảng Nam mới thu phục, tất tự ta phải phòng bị, mới khỏi người ta nhòm ngó. Khanh nên chọn nơi hiểm yếu, đặt ba đồn theo hình chữ phẩm [品], sau đồn lại có Trường Giang [huyện Điện Bàn, Quảng Nam] khiến cho thủy bộ tiếp nhau. Hình thế bố trí, ta đã dặn bảo Lê Nguyễn rồi. Hoặc có thừa cơ chiếm đất thì cứ hào sâu lũy cao mà giữ cho vững là hơn. Phải cẩn thận. Từ nay, trong quân bất luận có việc hay không, cứ năm ngày phải báo một lần, nếu có chuyện gấp thì báo lập tức.”
Lưu thủ Phú Yên là Phạm Tiến Tuấn ốm; sai Lưu thủ Bình Khang là Lưu Tiến Hòa đem quân bản dinh đến giữ bảo Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên], kiêm quản công việc binh dân ở Phú Yên.
Tướng quân thượng đạo Nguyễn Văn Thụy từ nước Vạn Tượng về Gia Định. Vương cho là không đợi lệnh triệu mà về, nghiêm trách và giao cho quan lưu trấn nghị tội, rồi sai Tham quân Lê Văn Xuân thay lĩnh quân dưới quyền hơn 200 người, hội với Vạn Tượng để đánh Tây Sơn. Thụy bị giáng làm Cai đội quản đạo Thanh Châu.
Tướng Trần Quang Diệu là Võ Văn Dũng sai thuộc hạ đặt đồn liên tiếp ở Phú Hòa, cầu Đông Giang, cầu Tân Hội [huyện Tuy Phước, Bình Định] để chống cự. Vương sai Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Khiêm đem quân đánh, một ngày đánh bốn đợt đều thắng, quân địch tán loạn, bắt được Đô đốc là Nguyễn Bá Phong và nhiều binh sĩ.
Vương đến cầu Tân Hội thị sát, hạ lệnh cho các quân chia đắp đồn bảo, đối lũy với địch; hễ có báo động, nếu ban ngày thì treo cờ hiệu ở trên núi, ban đêm thì đốt đài lửa hiệu, để biết mà tiếp ứng nhau.
Địch nhiều lần phạm đồn Vân Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định], Nguyễn Văn Thành sai Lê Chất đón đánh, đuổi chạy.
Tham đốc Phạm Văn Điềm lại đánh Phú Yên. Sai Nguyễn Long làm Chánh thống suất, Lưu Tiến Hòa làm Phó thống suất, quản lĩnh 2 chi Chấn võ, An võ và quân hai dinh Bình Thuận, Phú Yên, chia đóng đồn để giữ. Nguyễn Long tiến đóng đồn ở La Thai [La Hai, huyện Đồng Xuân], lưu Lưu Tiến Hòa giữ bảo Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên]. Quân địch lẻn xuống Vũng Lấm [huyện Sông Cầu, Phú Yên] đốt phá đài lửa hiệu. Hòa ngày đêm đem quân chống đánh, gặp mai phục nên thua, bị giết. Long nghe tin báo, đem quân trở về Hội An. Quân địch ập đến, Long chống không nổi, lui chạy về sông Đà Diễn, khí giới lương thực bị lấy hết. Việc báo lên, Vương sai thu thập các quân, rút về đóng giữ 3 đèo Đại Lãnh [huyện Tuy Hòa, Tuy Hòa], Sầm Dương và Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa] để đợi lệnh. Rồi sai Hoàng Văn Khánh thay giữ quân, đóng gông Long đưa về hành tại trị tội; bọn Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Tánh đều xin, bèn tha.
Vương sai Lưu thủ Vĩnh Trấn Nguyễn Văn Thiện và Tham tri bộ Công Nguyễn Khắc Thiệu sang Xiêm báo tin thắng trận. Tặng Phật vương 2 cây hoa vàng hoa bạc, 10 lạng kỳ nam, sáp ong, đường cát mỗi thứ 500 cân, tặng Vua thứ hai 2 cây hoa vàng hoa bạc, sáp ong, đường cát, mỗi thứ 500 cân.
Sai Tham tri bộ Hình Trần Văn Trạc cùng Thiêm sự Nguyễn Văn Phương đến Quảng Nam hiệp cùng Nguyễn Văn Trương để trông coi công việc quân dân và lương tiền; dặn rằng:
“Xứ này lòng dân mới quy phụ, cần vỗ về trước hết. Phàm các sở đồn điền, quan trại, công điền biệt thự được miễn thuế của giặc, đều phải theo lệ mà đánh thuế; còn như sai dư thuế ruộng, thuế nguồn, thuế đầm, nhất thiết lệ thuế thì hãy tạm để đó. Bọn quan quân của giặc nếu có vợ con họ mạc ở đấy thì cũng mặc không hỏi đến. Răn cấm quân lính không được lấn cướp hung bạo, làm trái thì xử theo quân pháp, như thế để yên lòng kẻ phản trắc”.
Thế rồi có viên Cai đội mật sai quấy cướp nhân dân, Nguyễn Văn Trương đã bắt rồi lại tha; Vương được tin nói rằng:
“Lệnh không thi hành thì lấy gì mà răn người”.
Bèn sai chém bêu đầu tên Cai đội ấy, để làm gương cho kẻ khác.
Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể đem đồ đảng phạm bảo La Qua [huyện Điện Bàn, Quảng Nam]. Nguyễn Văn Trương và Tống Viết Phước tung quân ập đánh, đuổi đến Thi Hồ và La Đới đều phá được. Xuân chạy đến Phố Hoa [thị xã Hội An, Quảng Nam], Thể chạy đến Phường Tráng [thị xã Hội An, Quảng Nam]. Bọn Trương bèn đóng quân ở Phú Triêm [huyện Điện Bàn, Quảng Nam], Kim Bồng, dựa Trường Giang làm thế hiểm, rồi phi báo cho Phạm Văn Nhân phái quân thăm dò Hải Vân Quan và chặn đường về của địch.
Tin thắng trận báo lên. Vua sai truyền dụ rằng:
“Bọn người đánh luôn được luôn, triều đình nghe tin xiết bao khen ngợi vui mừng. Duy Quảng Nam là đường quân giặc đi lại, thế tất nó phải tranh, mà quân ta vào sâu trọng địa lại không có sách ứng. Nay nên giữ nơi hiểm mà chứa nhiều lương thực làm thế giữ lâu, lại chiêu an nhân dân và chiêu nạp hàng binh. Nếu chúng đem trọng binh đến thì ra sức giữ vững, cốt sao được vạn toàn, đó là lấy giữ được làm thắng”.
Sai Phó trưởng chi Tượng dinh là Nguyễn Văn Dương đến Quảng Nam, quản lĩnh số voi trận bắt được để theo quân đánh địch.
Tham đốc Tây Sơn là Phạm Văn Điềm giữ đồn Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên]. Sai Lê Chất đem quân đến đánh; lại giục Hoàng Văn Khánh tiến lên hội tiễu. Chất đến, đánh nhau với địch ở Mễ Tân, bắt được Đô ty Nguyễn Nhiễu; Điềm thua chạy, Chất bèn đóng quân ở Hội An.
Tháng tư [13/5-10/6/1801], bọn Nguyễn Văn Trương, Tống Viết Phước, Trần Văn Trạc dâng sớ xin tạm thu ruộng ở Quảng Nam mỗi mẫu 5 thăng gạo để sung lương quân. Vương y cho, lại ban lệnh rằng:
“Việc trị nước chính cần phải mở rộng đường tìm kiếm nhân tài để thoả lòng nguyện vọng mọi người. Vả Quảng Nam là đất cựu đô, nhân tài đông đúc, đặc biệt ban cho 100 tờ sắc lưu thông, hễ có ai quy thuận đầu hàng mà tài năng có thể dùng được thì điền viết quan hàm vào mà cấp cho”.
Nước Hồng Mao sai người đem thư đến dâng phương vật mà xin miễn thuế cảng cho thuyền buôn; Vương hạ lệnh cho Lưu trấn Gia Định viết thư trả lời, đánh thuế theo như thể lệ thuyền buôn Quảng Đông.
Thuyền thuộc phe Tây Sơn là bọn giặc biển Tề Ngôi bị gió dạt đến ngoài biển Thị Nại. Sai hai vệ Nội trực và Túc trực đuổi theo, bắt được Đông Hải vương Mạc Quan Phù, Thống binh là Lương Văn Canh và Phan Văn Tài cùng thuộc hạ rất nhiều.
Hoàng tử thứ hai là Hy mất. Hy trước được bổ chức Cai đội, năm Kỷ Mùi [1799] làm Lưu trấn Gia Định, đến nay theo đánh giặc, bị bệnh mất ở trong quân, 20 tuổi, tặng Thiếu úy, thuỵ là Đôn Mẫn. Sai đưa tang về táng ở Gia Định.
Triệu Lê Chất và Hoàng Văn Khánh đến hành tại; sai Nguyễn Văn Tánh thay thế, quản lĩnh quân thuỷ bộ các chi, dưới quyền tiết chế của Nguyễn Văn Thành.
Hoãn khoa thi và việc duyệt tuyển năm nay ở Gia Định; Vương thấy liền năm đánh dẹp, những việc ấy chưa rỗi để làm.
Thành Bình Định lương thực gần hết; nhưng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bao vây càng chặt. Vương liệu thế chưa có thể giải vây ngay được, bảo các tướng rằng: “Thà mất thành chứ không để mất tướng giỏi của ta”.
Bèn sai người mang thư lặn nước lẻn vào trong thành, bảo Võ Tánh bỏ thành tìm đường ra hội với đại quân. Nhưng Tánh dâng biểu trả lời xin liều chết giữ tới cùng, mà khuyên Vương nhân sơ hở đánh úp Phú Xuân, Tánh nói:
“Lấy thành Phú Xuân thay một mạng thần, thần thỏa nguyện rồi”.
Vua xem biểu, than thở hồi lâu, gọi bày tôi tới bàn rồi dụ rằng:
“Giặc sợ Võ Tánh cho nên dốc lực lượng cả nước đến vây thành Bình Định, vững như thùng sắt. Nay muốn đánh gấp cũng chưa dễ đâu. Chi bằng đánh thẳng vào Phú Xuân, chỗ xót xa của chúng, thế tất chúng phải triệt vây về cứu căn bản. Đó là cái kế đánh Ngụy để cứu Hàn (1); tuy không giải mà hóa giải vây vậy”.
Bèn định ngày khởi quân; lưu Nguyễn Văn Thành ở lại điều bát bộ binh các đạo cầm cự với Diệu, Dũng; Nguyễn Huỳnh Đức quản lĩnh binh thuyền đóng giữ Thị Nại. Sai chạy báo việc ấy cho Gia Định, lại triệu Nguyễn Đức Xuyên đến hành tại bảo rằng:
“Nguyễn Văn Thành mưu việc cẩn thận kín đáo, có thể đương được một mặt. Nhưng hay kiêu ngạo, phần nhiều làm mất lòng tỳ tướng, nên lưu khanh ở đây để uốn nắn chỗ sai mà giúp việc nước”.
Bèn đưa cho uống một chén rượu ngự, lại cho một chiếc quân phục ngự dụng, Đức Xuyên rập đầu tạ.
Ngày Canh Ngọ [5/6/1801], Vương thân đốc thủy quân ra cửa biển Thị Nại. Đêm ấy cho đốt lửa hiệu tại núi Hưng Thịnh [huyện Tuy Phước, Bình Định] cho quân thứ Vân Sơn của Nguyễn Văn Thành và trong thành Bình Định biết. Ngày Nhâm Thân [7/6/1801], thuyền Vương tới Chiêm Dữ [Cù Lao Chàm, Quảng Nam]. Lệnh cho Nguyễn Văn Trương quản lĩnh các chi vệ và hơn 1.000 binh mới tuyển ở Quảng Nam tới Đà Nẵng chờ lệnh, Tống Viết Phước và Trần Văn Trạc thì lưu thủ Quảng Nam. Ngày Qúy Dậu [8/6/1801], Vương dừng ở Đà Nẵng, vời các tướng đến bàn bạc. Đô đốc Hoàng Văn Tự vào bái yết, nhân bàn đến trận đánh tại Đại Chiêm mới đây, bèn thưởng cho 2 tấm nhiễu, 1 cái áo chiến và 200 quan tiền. Ngày Giáp Tuất [9/6/1801] phân công các tướng, trước hết sai Nguyễn Văn Trương và Phạm Văn Nhân đem binh thuyền tiến ra cửa Eo [cửa Thuận An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên], Hoàng Văn Tự cùng Chánh Tả chi Tả quân Bạch Văn Đoài đem binh và voi tiến theo đường bộ Cu Đê [Đà Nẵng], thuyền Vương tiến đóng tại vụng Chu Mãi [huyện Phú Lộc, Thừa Thiên]. Trong trận đánh này có các các người Âu như Basisy, Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau], Nguyễn Văn Chấn [Vannier], Lê Văn Lăng [Forcant] tham gia.
Ngày Bính Tý mồng 1 tháng 5 [11/6/1801], đại binh vào cửa biển Tư Dung [cửa Tư Hiền, Thừa Thiên]. Trước đó Nguyễn Quang Toản sai Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đại đô đốc Trần Văn Tạ giữ núi Linh Thái [huyện Phú Lộc, Thừa Thiên], cho đóng cọc gỗ ở đường lạch để ngăn quân Nguyễn. Vương sai Lê Văn Duyệt và Lê Chất đốc suất binh thuyền đến đánh; quân Tây Sơn dựa thế cao bắn đại bác xuống, quân ta nhiều người chết và bị thương, đánh suốt ngày không được. Đến đêm bèn ngầm khiêng mấy chục chiếc thuyền chiến vượt bãi cát vào phá Hà Trung phía sau lưng, lại chia quân theo đường lạch nhổ cọc gỗ mà tiến; quân địch sợ bỏ chạy.
Ngày Đinh Sửu [12/6/1801], Vương thân đốc các quân tiến đến bến đò Trừng Hà, Lê Văn Duyệt bắt được Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách. Tây Sơn hàng hơn 500 người, quân Nguyễn bèn tiến đến cửa Eo [cửa Thuận An].
Ngày Mậu Dần [12/6/1801], lấy lại được kinh đô cũ. Trước đó Nguyễn Quang Toản nghe tin đại binh kéo đến, liền đem hết quân ra cửa Eo chống giữ. Quân Nguyễn thừa thắng tiến lên, hai quân chưa giao chiến, Quang Toản và bè đảng nghe tin tan hàng bỏ chạy, một số quay giáo xin hàng. Quân Nguyễn lấy hết cả thuyền ghe súng ống khí giới, đại binh thẳng tới Phú Xuân. Quang Toản đã mang đồ báu bỏ thành chạy trước ra Bắc. Nguyễn vương mang quân vào thành, lục khắp các nơi cung điện, thu được 13 quả ấn và 33 bản sách; bèn niêm phong kho tàng, tịch biên của cải, cấm cướp bóc quấy nhiễu, cho dân cư được yên.
Sai Lê Chất đem bộ binh đuổi Nguyễn Quang Toản. Nguyễn Văn Trương đem thủy binh tiến đến sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] chặn đường chạy của giặc, Phạm Văn Nhân giữ cửa Eo, Phan Văn Triệu và Tống Phước Châu giữ Tả Trạch Nguyên [huyện Nam Đông, Thừa Thiên] và ba cửa ải.
Vương trú tại Long Các; thần dân xa gần tiếp nhau đến lạy mừng, ai dâng biếu gì đều trả lại cả.
Ra lệnh cho hai phủ Triệu Phong [Quảng Trị] và Quảng Bình rằng phàm bọn giặc có lẩn trốn trong dân gian, ai bắt được đem nộp thì trọng thưởng, nếu che giấu bị xử tử. Quan dân liền bắt được em trai Nguyễn Quang Toản là Quang Cương, Quang Tự, Quang Điện và hơn 30 người đàn bà con gái của Tây Sơn đem nộp, chiếu theo lệ thưởng cấp tiền bạc theo thứ bực khác nhau.
Cho đội Tiểu sai mang biểu về Gia Định tâu lên thân mẫu Vương và truyền dụ cho các quân thứ Quảng Nam, Bình Định biết.
Thiếu phó Trần Quang Diệu, sai thuộc hạ đem hơn 7.000 quân và 40 thớt voi xâm phạm Quảng Nam. Tống Viết Phước dâng biểu xin thêm quân và nói rằng quân địch hiện nay đóng giữ vùng thượng du, thế sắp lấn cướp huyện Điện Bàn để cản đường tiếp ứng của ta, nếu không kịp thêm quân tiến đánh, thì Quảng Nam lại sẽ là nơi chúng tranh dành. Vương bảo rằng:
“Quân ta sau khi đã lấy lại được Phú Xuân phải chia phái đi nhiều ngả, chính đương chiêu tập những quân tàn để bổ vào đội ngũ cho đủ điều khiển. Khanh nên vững thành bền giữ, chớ nên đánh. Nếu chúng tiến đến Điện Bàn, thì khanh cứ theo phía sau, trong tuần nhật ta sẽ phái quân đến, trong ngoài giáp đánh thì giặc tất phải vỡ”.
Triệu Lê Chất về, trước đò Lê Chất được lệnh đem quân đuổi Nguyễn Quang Toản, khua trống mà đi thong thả; khi quân đến châu Nam Bố Chính [nam Quảng Bình] thì Quang Toản đã qua sông đi rồi. Đến đây bị gọi về, đem dâng hai quả ấn ngụy. Các quan bàn về việc đánh Tây Sơn, có ý ngờ Lê Chất cố ý thả địch, nên nói rằng:
“Quang Toản được thoát là tự người, chứ không phải tự trời”.
Thủy binh của Nguyễn Văn Trương đến Linh Giang [sông Gianh] thu được lương thực thuyền ghe súng đạn địch bỏ lại rất nhiều; tàn quân quy hàng hơn 2.000 người. Vương sai Trương về giữ đồn Động Hải [Đồng Hới, Quảng Bình], hiệp cùng Tham tri bộ Lại Phạm Như Đăng trông coi công việc binh dân lương tiền phủ Quảng Bình, lưu Phó trưởng chi Hoàng Văn Điểm quản binh thuyền giữ Linh Giang [sông Gianh], mật sai Thuộc nội cai đội Nguyễn Khả Bằng đóng giữ chợ Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], Cựu đô ty Lê Văn Hợp giữ Hoành Sơn [biên giới Hà Tĩnh, Quảng Bình], đặt đồn để ngăn chặn, mộ thêm dân làm lính.
Ghi chiến công ở Tư Dung [cửa Tư Hiền, Thừa Thiên]; thưởng cho tướng sĩ Tả dinh 1.000 lạng bạc, sai Lê Văn Duyệt chia cấp.
Đổng lý Tây Sơn Nguyễn Văn Thận trấn giữ Nghệ An, đưa thư chiêu dụ người Lào tại Trấn Ninh [Xiêng Khoáng, Lào]. Quốc trưởng Vạn Tượng là Chiêu Ấn bắt được thư, sai Cai đội thượng đạo Tống Phước Uyển đem về dâng.
Vương sai Điển quân Lưu Phước Tường đem quân bản bộ theo đường Cam Lộ [Quảng Trị] đưa thư cho Vạn Tượng, yêu cầu chẹn giữ những đường hiểm yếu, ngăn phòng quân địch chạy trốn. Tường đến, gặp lúc Tham quân Lê Văn Xuân vừa ốm chết, bèn kiêm lĩnh quân của Xuân, đặt làm sáu chi, cùng với Chiêu Ấn định kỳ thẳng xuống Nghệ An đánh giặc.
Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái sai người dâng mật biểu về việc quân. Vua dụ rằng:
“Ta nay đã thu phục kinh đô cũ, giặc Nguyễn Quang Toản đã chạy về Bắc. Đã ủy cho Điển quân thượng đạo Lưu Phước Tường hội với nước Vạn Tượng đánh Nghệ An. Ngươi nên đem quân bản bộ đánh Thanh Hoa, đợi ta xếp đặt tạm xong sẽ tiến đánh Bắc Hà để nhất thống đất nước. Ngươi nên cố gắng”.
Sai người Bắc Hà là Trương Công Vỹ đem mật chỉ đi chiêu dụ hào kiệt; Phó vệ Nguyễn Đình Hoằng cũng xin đi Thanh Hoa, Nghệ An để chiêu tập nghĩa binh, Vương y cho.
Nội hầu Tây Sơn là Lê Văn Lợi, Thiếu úy Văn Tiến Thể, Trung thư Trần Văn Kỷ, Thượng thư Lại bộ Hồ Công Diệu đem nhau đến quy thuận. Vương thấy đại thể mới định, sử dụng còn thiếu người, bèn dùng để sai phái. Tại quân thứ Bình Định, bọn Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Chương, Nguyễn Đức Xuyên, Hoàng Viết Toản, Trương Tiến Bảo, Nguyễn Công Thái, Đặng Trần Thường nghe tin, bèn mật dâng biểu rằng:
“Ngày nay Thần kinh mới khôi phục, nhân dân mừng được sống lại, vương thượng mở lượng rộng như biển, nhuần như xuân, đối với người một lòng nhân, bực anh quân đời xưa cũng chẳng hơn được. Duy bọn hàng tướng đô đốc quận công, từ khi Tây Sơn khởi loạn giữ vị trí phú quý mà những người trung nghĩa ở Thuận Hóa, Bắc Hà phần nhiều phải khuất mình nơi quân ngũ, bị chúng sai khiến, hằng ngày ngóng trông quân nhà vua đến để thay vết xe cũ, thế mà nay lại cho chúng được cầm quân như cũ, nghệu nghễn ở trên người, chúng tôi e rất phụ lòng mong mỏi của mọi người, dù người ta có muốn tỏ lòng trung tiết cũng không tỏ vào đâu được. Huống chi bọn kia đối với Tây Sơn, rễ sâu gốc chặt không phải một ngày, nay đường cùng mới chạy về ta, có phải thực lòng đâu. Nếu cho dư đảng của chúng còn nhiều, vội khép vào pháp luật sẽ khiến lòng người ngờ sợ thì cho họ khỏi chết là được rồi, chứ không nên giao cho binh quyền. Việc cũ Cù Mông là một tấm gương lớn đó”.
Vương đáp rằng:
“Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tuỳ nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”.
Thả xử sĩ (2) ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo, huyện La Sơn [huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh], đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương [Nghệ An], bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua dụ rằng:
“Khanh là người tuổi tác đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta”.
Bèn sai quan quân đưa về.
Sai Lê Văn Duyệt thống lĩnh bộ binh vào Quảng Nam cùng Tống Viết Phước thống lĩnh thủy binh, chia đường tiến đánh để cứu thành Bình Định; cho Lê Chất đem quân theo, dưới quyền Duyệt tiết chế. Duyệt trước vốn thân với Nguyễn Văn Thành. Thành hơn tuổi và làm tướng sớm, mỗi khi ra trận, tính trì trọng không vội tiến. Duyệt xuất thân là tỳ tướng dũng cảm đánh giỏi, hằng lập công lớn, từng nói khích Thành, Thành không chịu nổi, hai người do đó sinh bất hòa. Vua hiểu rõ chuyện ấy nên khi Duyệt đi thì dụ rằng :
“ Quân mà thắng trận là do ở hòa thuận chứ không phải do nhiều người. Ngươi đi lần này nên bình tâm với Nguyễn Văn Thành. Gặp việc phải báo trước cho nhau, trong ngoài cùng ứng để sớm trừ đảng giặc mà mau thành công lớn. Ta ngày đêm không lúc nào không lo nghĩ đến Bình Định. Ngươi nên lưu tâm”.
Duyệt lạy vâng mệnh. Quân đi rồi, vua sai truyền dụ cho Nguyễn Văn Thành chỉnh bị binh mã để chờ.
Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh thắng viện binh Tây Sơn ở Cao Đôi [huyện Phú Lộc, Thừa Thiên]. Trước đó tướng Trần Quang Diệu sợ đại binh tiến thẳng đến Phú Xuân, sai Đại đô đốc Trương Phước Phượng đem 1.000 quân, Tư khấu Định, Đại đô đốc Lê Văn An, Đô đốc Lê Quốc Cầu, Lê Văn Từ, Tham lĩnh Ngoạn, Tham lĩnh Tuân đem 4.000 tinh binh Quy Nhơn và 1.000 binh Thuận Hóa và Bắc Hà, đều theo đường núi về cứu viện. Chúng bị người thiểu số dẫn đường đánh lừa, đi quanh co hết lương. Phượng đến Tả Trạch Nguyên [huyện Nam Đông, Thừa Thiên], quân đã mệt, bèn đến chỗ Phan Văn Triệu đầu hàng. Bọn Định theo đường núi xuống Cao Đôi [huyện Phú Lộc, Thừa Thiên], chợt gặp quân của Duyệt và Chất. Định đánh thua, chạy vào chết ở trong rừng, bọn Lê Văn An bị quân Nguyễn bắt hết, số còn lại đều hàng. Tin thắng trận báo lên, Vương ban thư khen ngợi, thưởng cho các quân 2.000 lạng bạc. Sai đưa các tướng sĩ bị bắt về kinh; duy những binh Thuận Hóa và Bắc Hà đầu hàng thì cho phân lệ vào quân ngũ, thẳng tiến đi Quảng Nam đánh địch.
Sai Phó vệ úy Lê Văn Cư đem binh thuyền đóng cũi Nguyễn Quang Cương, Tham lĩnh Ngoạn, Tham lĩnh Tuân, giải về quân thứ Bình Định để cho Tây Sơn biết; Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Điện, Phò mã Nguyễn Văn Trị thì giải về Gia Định để cho thần dân trong hạt biết, rồi sai giết đi.
Vương nghe tin ở các dinh quân nhiều người hống hách, làm cho dân không được ở yên, bèn ban sắc rằng:
“Phàm quan quân giặc đã quy thuận, hoặc còn ở Quy Nhơn hay Bắc Thành, thì nhà cửa vườn tược của họ phải để cho vợ con họ hàng họ ở, không được lấn cướp. Ruộng vườn cây cối của dân thì không được đẵn chặt. Làm trái thì xử theo quân pháp”.
Tạm đặt tri phủ tri huyện cho hai phủ Triệu Phong, Quảng Bình gồm 8 huyện 1 châu. Phủ Triệu Phong 5 huyện: Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang, Đăng Xương và Hải Lăng; phủ Quảng Bình 3 huyện: Minh Linh, Lệ Thủy, Phong Lộc và châu Nam Bố Chính.
Ngoài kinh thành thường xảy ra hỏa tai; sắc cho ấp trưởng sở tại khiến các nhà phải làm bếp riêng, trên dưới trát bùn; lại để sẵn đồ cứu hỏa ở điếm canh, khi thấy có phát hỏa phải đem dân đến cứu.
Thành Bình Định bị vây lâu hết lương, Đại tướng quân quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tòng Chu đều chết. Trước là quân giặc vây thành, Tánh tùy phương chống đỡ, quân lệnh nghiêm minh, xếp đặt chỉnh đốn, được tướng sĩ liều chết để đánh, lớn nhỏ hơn chục trận, chưa từng bị nhụt. Có người khuyên Tánh phá vòng vây mà ra; Tánh không nghe, nói rằng :
“Ta vâng mệnh giữ thành, phải cùng còn mất với thành, nay bỏ thành mà cầu lấy sống thì còn mặt mũi nào nhìn thấy Chúa thượng nữa !”.
Đến đây lương hết, phải giết voi ngựa để ăn mà người ta vẫn không có lòng phản. Tánh lo thành bị hãm quân lính không khỏi tổn thương nhiều. Bèn sai các quân lấy củi khô chất quanh dưới lầu bát giác; một buổi sớm Tòng Chu đến hỏi kế thì Tánh trỏ vào lầu bát giác mà nói rằng :
“Đây là kế của tôi !”.
Nhân bảo Tòng Chu rằng :
“Tôi làm chủ tướng, nghĩa không thể cùng sống với giặc. Ông là văn thần, quân địch tất không hại đâu, nên tính cách tự toàn”.
Tòng Chu cười nói rằng :
“Cứ gì văn hay võ, lòng trung cũng là một thôi. Tướng quân biết chết theo nạn nước, Chu này không biết làm tôi chết trung sao ?”.
Thế rồi trở về mặc mũ áo, hướng về cửa khuyết bái vọng rồi uống thuốc độc mà chết. Tánh ngậm ngùi than rằng :
“Ngô quân đã hơn ta một nước rồi !”.
Tức thì tới thăm và khâm liệm tống táng. Xong rồi kíp gửi thư cho Diệu nói :
“Tướng quân nghĩa phải chết là việc của ta, quân sĩ không có tội gì, không nên giết hại”.
Bèn lấy thuốc súng bỏ vào lầu bát giác, mặc triều phục lên trên lầu, gọi các tướng bảo rằng :
“Ta từ khi phụng mệnh giữ thành này, giặc Tây Sơn đem lực lượng cả nước vây đánh bốn mặt, đã hai năm nay, thực nhờ tướng sĩ đồng tâm nên giữ vững được thành mà chống giặc. Nay lương hết sức kiệt, giữ không thể được nữa mà đánh cũng vô ích, nên ta chết, kẻo để tướng sĩ khổ mãi”.
Các tướng và quân lính đều rạp xuống đất kêu khóc. Tánh vẫy lùi ra, rồi phóng lửa tự đốt. Cai cơ quản đạo ứng nghĩa là Nguyễn Tiến Huyên cũng gieo mình vào lửa để chết. Sau khi Tánh và Tòng Chu đã tử tiết, Diệu đem quân vào thành, dùng lễ chôn cất. Nền cũ lầu bát giác ở trong thành, sau khi bình định bèn lập đền thờ ở đó.
Bộ binh của Lê Văn Duyệt và Lê Chất đến Quảng Nam; Quân Tây Sơn là bọn Nguyễn Văn Giáp đã lui chạy trước rồi. Tống Viết Phước bèn đem thủy binh tiến đến Bản Tân [huyện Núi Thành, Quảng Nam] đánh giặc, lưu Trần Văn Trạc ở lại đóng giữ các đồn Kim Bồng và Phú Triêm [huyện Điện Bàn, Quảng Nam].
Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc, đổi niên hiệu là Bảo Hưng, Đại Nam Thực Lục chép rằng Quang Toản sai người sang nhà Thanh xin quân, nhưng Vua Gia Khánh không cho; riêng Thanh Thực Lục không chép việc này.
Chú thích:
1.Đánh Ngụy để cứu Hàn: Ngụy sai Bàng Quyên đánh Hàn; Hàn cầu cứu nước Tề. Tề sai Tôn Tẫn đi cứu Hàn. Tôn Tẫn đem quân đến đánh thẳng vào kinh đô Ngụy, làm cho Bàng Quyên phải rút quân ở Hàn về cứu Ngụy; Quyên về giữa đường bị phục binh của Tôn Tẫn giết chết.
2.Xử sĩ: Học giả ở ẩn không ra làm quan.
+