
Lâm Hoài Phương
Tháng 5-2026
Gần đây chúng tôi nhận được một bài vị qua một người dân làng Miêu Nha nhờ dịch nội dung. Làng Miêu Nha xưa thuộc xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện nay là thôn Miêu Nha, trực thuộc xã Lộc An, thành phố Huế.
Nội dung trên bài vị:
己未科進士𢒎運将軍 松 江文忠尊神
Kỷ Mùi khoa, Tiến sĩ Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung tôn thần.
Đây là bài vị của Ông Thần Thành hoàng của làng. Thông thường một khi làng nhận được sắc phong thần, làng sẽ làm bài vị Thần dựa theo nội dung trong sắc.
Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung là ai ?
Tóm lược tiểu sử :
Phi Vận tướng quân, tên thật Nguyễn Phục, (1433 – 1471), hiệu là Tùng Giang tiên sinh, người làng Đoạn Tùng, huyện Trường Tân, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương- (sau tháng 7-2025 là xã Nguyễn Lương Bằng, thành phố Hải Phòng). Ông là danh tướng nhà Lê, nổi tiếng với sự trung nghĩa, tài năng chuyển vận lương thảo thời vua Lê Thánh Tông. Ông được tôn phong vì hành động dám trái quân lệnh, chèo thuyền vào tránh bão để bảo vệ lương thảo và tính mạng quân sĩ, sau đó chịu oan chém.
Sự nghiệp:
Năm 20 tuổi Ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Quý Dậu (1453) [1], Khoa này triều đình Lê Nhân Tông (1442-1459) lấy đỗ tất cả 25 người: trong đó có 10 hoàng giáp, 15 tiến sĩ. Ông từng làm thầy dạy vua Lê Thánh Tông khi chưa lên ngôi. Ông giữ chức Chuyển vận sứ, Hành khiển đạo Thanh Hoa, và được giao chức Phi Vận tướng quân đốc thúc binh lương trong cuộc Nam tiến đánh Chiêm Thành (1470).
Sự kiện lịch sử:
Khi thuyền lương gặp bão lớn ở cửa biển Tư Khách [2] ông quyết định chèo thuyền vào cửa sông tránh bão dù quân pháp rất nghiêm. Vì hành động này, ông bị vua Lê Thánh Tông khép tội bất tuân quân lệnh và xử chém ngày 20/10 năm Canh Dần (1470). Ngài được mai táng tại xã Bạch Đường, huyện Nam Đường ( Nay là xã Quảng Tường, Sầm Sơn Thanh Hóa).
Tín ngưỡng thờ phụng:
Qua quá trình khảo cứu tư liệu chúng tôi còn phát hiện thêm: ở Bắc thành dưới triều Lê trung hưng Ông đã được tôn xưng là Đông Hải Đại Vương – Nguyễn Phục.
Dưới triều Vua Cảnh Thống (1498), ông được minh oan và tôn thờ làm Phúc thần được phong tặng là Văn Trung Chính Nghị, gia phong thêm bốn chữ Minh Đạo Hiển Ứng, truy tặng sắc phong làm Thần Đông Hải, dựng một ngôi đền ở xã Bạch Đường để thờ.
Vua cũng hạ chiếu truyền cho thiên hạ, địa phương nơi nào ngày trước có nhà cửa của Ông tại các làng xóm, thì cho dân rước sắc về lập đề thờ.
Dân ở ven biển ở đàng trong đều thờ, gọi là đền Tùng Giang (Đền Tùng Giang ở cửa biển Tư Khách (nay thuộc huyện Phú Vang TT Huế) [3].
Tín ngưỡng thờ Phi Vận tướng quân phổ biến từ miền Trung đến Nam Bộ (đặc biệt là các vùng ven biển, đầm phá), được xem là vị thần che chở cho người đi biển và lưu dân. Hơn 72 đền thờ ông đã được ghi nhận từ Đà Nẵng trở ra. Nhiều nơi thờ ông như đình Hưng Phú (TP.HCM) hay phủ Ông Tướng (Thừa Thiên Huế) coi ông là Thành hoàng hoặc vị thần hộ quốc.
Năm đỗ tiến sĩ:
Trong sách Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục, NXB Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1963, ghi Ông đỗ tiến sĩ khoa thi Quý Dậu – niên hiệu Thái Hòa thứ 2 (năm 1453), cùng với 24 vị khác. Nội dung “ người hạt Trường Tân làng Đoạn Tùng, làm đến Hàn Lâm kiêm Vương Phó. Khi Vua đánh Chiêm Thành, giữ chức đốc lương, gặp gió ngược, thuyền lương trễ, bị luận tội theo pháp luật, sau phong làm Phước Thần, thân phụ của Ông Đạm, cha con đều đăng khoa” [4]. Con trai ông là Nguyễn Đạm, đỗ Tiến sĩ vào năm Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận (1514), từng làm quan tới các chức như Hiến Sát Sứ đạo Thuận Hóa và Thừa Tuyên Sứ.
Các tư liệu chánh về Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục ở Bắc Thành
– Tại Thành hoàng làng Đặng Xá, Hà Nam có bản sao “Ngọc phả Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục”. Bản chính do Nguyễn Bính – Đông Các Đại Học Sĩ, biên soạn dưới triều vua Lê Anh Tông – Hồng Phúc nguyên niên (Nhâm Thìn 1572), Bộ Lễ biên soạn và ban phát cho xã để thờ. Bản sao do Nguyễn Hiền vâng mệnh vua Lê Ý Tông Vĩnh Hựu thứ 12 (Bính Thìn 1736) sao chép lại, rồi ban xuống cho xã. [5]
- Tại thư viện quốc gia hiện còn bản sao chép tay “ Sự tích Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục” mã số lưu R.465 NLVNPF. Bản sao ghi ngày 17-7 năm Đức Long nguyên niên (Lê Thần Hưng -1629) tại xã Lỗ Tự, tổng Phùng Cầu (về sau đổi tên là Phùng Thịnh), huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Trong cả hai ngọc phả và sự tích vẫn ghi Ông thi đỗ khoa Quý Dậu năm Thái Hòa thứ 10 (1453). Trong suốt thời gian đó có lẽ còn các sắc phong khác cấp cho Ông mà chúng ta chưa tìm thấy.
Sau khi thống nhất đất nước và lên ngôi, dưới triều Gia Long vì nghe theo Thanh Nghệ và Bắc Thành tâu sự tích bách thần, đã xã xảy ra việc man trá trong việc phong sắc phong. Sắc phong của vua là thật nhưng thần giả, không đáng làm thần. Liên quan đến vụ này có Hữu tham tri Bộ Lại Đặng Trần Thường, Tham tri Bộ Lễ Nguyễn Gia Cát và Thiêm sự Vũ Quý Dĩnh [6] .“ Năm Gia Long thứ 10, chuẩn lời nghị: lần này cấp tặng sắc cho thần kỳ ở Bắc Thành, xét ra lẫn lộn và sai lầm có đến hơn 560 đạo, và các tỉnh lệ làm ra sắc như giả. Vậy thì các đạo tặng sắc khâm ban năm trước, do thành trấn ấy thông sức cho các xã dân phải thu nộp tất cả, để chờ chỉ cho đốt đi”.[7]
Dưới triều Nguyễn sắc phong sớm nhất được ghi nhận còn lại cho đến nay cấp cho Trung đẳng Thần Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung, là của Vua Minh Mệnh vào ngày 25 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), trong đó viết “TIẾN SĨ KHOA KỲ MÙI”. Các sắc này cấp cho làng Hòa An Huyện Hương Trà và các làng Lại Ân, Phò Vang, Nam Phổ, Dương Nổ, Lê Thượng, Bao Vinh Hạ, Vĩnh Lại, Phổ Trì [8] thuộc Huyện Phú Vang. Theo sách “Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ” là do ” Năm Minh Mệnh thứ 7, chuẩn lời nghi , thần kỳ ở các hạt Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam , Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên” [9] .
Chúng tôi nhận thấy trong thởi gian sinh thời của Ông (1433–1470) không có khoa thi Kỷ Mùi. Ông đỗ tiến sĩ năm Quý Dậu (1453) nên khả năng cao nhất là trong SẮC PHONG VÀ BÀI VỊ GHI SAI NĂM QUÝ DẬU THÀNH KỶ MÙI.
Các đời vua kế tiếp như :
Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 8-11 (1842),
Tự Đức năm thứ 3, ngày 6-8 (1850),
Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1-7 (1887),
Thành Thái năm thứ 2, ngày 20-2 (1890),
Duy Tân năm thứ 3, ngày 11-8 (1909),
Khải Định năm thứ 9, ngày 25-7 (1924): tứ tuần đại khánh
đều y theo sắc Minh Mệnh mà ghi.
Dưới đây là hình sắc phong do Vua Thiệu Trị phong cho Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung

Hình (tr. 21) và phiên âm dịch nghĩa (tr. 143) [10]
Phiên âm:
Sắc. Hiển Văn Chiêu tiết Kỷ Mùi Khoa Tiến Sĩ Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung Trung đẳng thần, hộ quốc tí dân nẫm trử linh ứng. Minh Mệnh nhị thập nhất niên, trị ngã Thánh tổ Nhân Hoàng Đế ngũ tuần đại khánh tiết khâm phụng bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, miễn niệm thần hưu. Khả gia tặng Hiển Văn Chiêu tiết Phương du trung đẳng thần, nhưng chuẩn Hương Thủy huyện, Thần Phù xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai!
Thiệu Trị ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập nhất nhật.
Dịch nghĩa:
Hoàng đế ban sắc rằng Hiển Văn Chiêu tiết Kỷ Mùi Khoa Tiến Sĩ Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung Trung đẳng thần giúp nước che dân, hiển rõ linh ứng. Năm Minh Mạng thứ 21(1840), gặp dịp Thánh tổ Nhân Hoàng Đế ta mừng đại lễ ngũ tuần, kính ban chiếu báo ơn sâu, lễ trọng thêm bậc. Nay Trẩm gánh vác mệnh lớn, nhớ nghĩ ơn Thần. Vậy đáng gia tặng Hiển Văn Chiêu tiết Phương du trung đẳng thần, vẫn chuẩn cho xã
Thần Phù huyện Hương Thủy phụng thờ như trước. Thần hãy giúp đở, che chở dân ta.
Kính thay
Ngày 21 năm Thiệu Trị năm thứ 5 (1845)
SẮC MỆNH CHI BẢO
Các dụ, chiếu liên quan đến sắc phong triều Nguyễn
“Minh Mệnh năm đầu xuống chiếu : Thần kỳ trong cả nước, chuẩn cho Bộ Lễ tra xét rõ ràng , xin xuống chỉ phong tặng có khác nhau.
Lại dụ: Nay cử bộ Lễ để tâu bàn tờ tấu các thần kỳ ở dinh Trực Lệ (Quảng Nam, Quảng Ngãi và Đà Nẵng ), Quảng Đức ( Bình Trị Thiên) đã giao xuống cho đình nghị rồi, lại tâu lên đặc chuẩn đều gia 1 đạo sắc phong lưu ở miếu hội đồng ,và chuẩn mỗi vị 1 đạo sắc phong vho các xã dân vẫn linh thờ để phụng thờ.
Năm Minh Mệnh thứ 2, chuẩn lời tâu …các nhân thần vốn là tướng văn tướng võ các đời Đinh, Lê, Lý, Trần trở về trước ; hoặc lúc sinh thời giữ lòng trung làm việc nghĩa, có công đức rõ rệt; hoặc sau khi mất đi, trừ tai ngăn nạn với nổi tiếng thiêng liêng , đã có tặng sắc củ triều Lê, thì ban tặng mỹ tự các hạng thượng , trung, hạ có khác nhau, cấp cho sắc phong đều 1 đạo” [11] .
Như vậy, dưới triều Nguyễn, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc soạn thảo sắc phong (văn bản phong chức, ban thưởng, phong thần) là Nội các phối hợp với các cơ quan chuyên môn như Bộ Lễ (đối với thần kỳ) và Viện Hàn lâm (soạn văn tế, sắc phong).
Các điểm chính về việc viết sắc phong thời Nguyễn.Cơ quan soạn thảo:
Nội các (bộ Lễ) là nơi lưu trữ và soạn thảo văn bản, trong khi các quan Hàn lâm trực tiếp viết văn sắc phong theo mẫu của nhà vua.
- Dấu ấn:
Sắc phong thường đóng dấu ấn “Sắc mệnh chi bảo” (đúc từ thời Minh Mạng) hoặc “Phong tặng chi bảo”.
- Nội dung:
Thường phong tặng thần linh, sắc phong quan lại, quý tộc. Sắc phong được xem là loại hình hành chính cấp cao của vương quyền nhà Nguyễn, thể hiện uy quyền của hoàng đế.
Kết luận:
Cũng vào năm 1811 Vua Gia Long xuống chiếu tìm điển tích. Chiếu rằng: “Mới đây từ khi giặc Tây Sơn lấn cướp, sách vở tan tác mất cả. Tuy sau binh biến, kho sách không còn bằng chứng, nhưng những nhà học giả uẩn súc, chắc còn ghi chép. Nay đất nước đã thống nhất, cần phải tìm xét rộng rãi. Phàm dân chúng các ngươi như có điển xưa việc cũ, hoặc do ở kho nhà nước còn để lại, hoặc được ở nhà riêng ghi chép, hết thảy điển chương điều lệ, cho phép do quan địa phương sở tại dâng lên. ”. [12]
Qua phân tích trên đến cuối triều Lê vẫn ghi đúng năm thi đỗ, việc viết sắc sai lầm và lẫn lộn chỉ xãy ra dưới triều Nguyễn. Như vậy Bộ Lễ và Hàn Lâm Viện dưới trọn triều Nguyễn không xem xét kỷ hoặc không có đủ thông tin về khoa thi đỗ Tiến Sĩ của Ông Nguyễn Phục, người được phong là Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung tôn Thần, cứ theo triều trước mà viết sắc phong.
Tài liệu tham khảo :
- Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục, NXB Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1963
- Ô Châu Cận Lục –Dương Văn An – Quốc sử Quán , NXB Giáo Dục VN – Nguyễn Khắc Thuần 2009
- Đại Nam Thực lục -Viện Sử học –Quốc sử quán triều Nguyện- NXB Giáo Dục 2001 .
- Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa 2018
- Sắc phong, chế phong, chiếu Thời Nguyễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế : tuyển chọn, NXB Thanh Niên 2020
- Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ -Viện Sử Học – NXB Thuận Hóa 1993
[1] Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục, NXB Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1963 trang 40 quyển 1
[2] Cửa Tư Khách : còn gọi là Cửa Tư Hiền nằm giữa hai xã Vinh Hiền và Lộc Bình, huyện Phú Lộc, thành phố Huế. Cửa biển này từ thời Nhà Lý sử Việt Nam đã nhắc đến dưới tên “cửa Ô Long”. Đời vua Trần Nhân Tông Nhà Trần thì đổi thành “cửa Tư Dung. Sang thời Nhà Mạc vì kiêng tên vua Mạc Thái Tổ nên gọi là “cửa Tư Khách”. Nhà Lê vẫn dùng tên “Tư Dung”. Địa danh “Tư Hiền” thì mãi đến triều Thiệu Trị mới đặt.
[3] Ô Châu Cận Lục –Dương Văn An – Quốc sử Quán , NXb Giáo DụcVN – Nguyễn Khắc Thuần 2009 tr.95.
[4] Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục, NXB Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1963 trang 40 quyển 1
[5] https://vanxahanam.blogspot.com/2014/12/ong-hai-ai-vuong-nguyen-phuc-ngoc-pha.html
[6] Đại Nam Thực lục NXB Giáo Dục 2001 Q. 1 tr.745
[7] Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ -Viện Sử Học – NXB Thuận Hóa – tập 8 tr. 174
[8] Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa 2018 tr. 44-59
[9] Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ -Viện Sử Học – NXB Thuận Hóa 1993 tập 8 tr. 177
[10] Sắc phong, chế phong, chiếu Thời Nguyễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế : tuyển chọn, NXB Thanh Niên 2020
[11] Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ -Viện Sử Học – NXB Thuận Hóa – tập 8 tr. 174
[12] Đại Nam Thực lục NXB Giáo Dục 2001 Q. 1 tr.746