Quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc qua hai nghìn năm

Bình An

Vào năm 1 SCN, GDP đầu người của Trung Quốc đạt 450 USD tính theo thời giá năm 1990 – thấp hơn Đế chế La Mã với 570 USD, nhưng vượt trội so với phần lớn phần còn lại của thế giới. Tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc khi đó chiếm tới 25,45% GDP toàn cầu. Hai thực thể chính trị nổi bật nhất thời điểm này là Trung Quốc thời nhà Hán và Đế chế La Mã, và các học giả thường xem đây là hai siêu cường song hành của thế giới cổ đại.

Khi Tây La Mã sụp đổ vào năm 476, văn minh phương Tây bước vào hơn một thiên niên kỷ thụt lùi. Trong khoảng trống đó, Trung Quốc không chỉ duy trì mà còn đẩy mạnh đà phát triển. Nhà Đường (618–907) được xem là siêu cường toàn diện của thời đại – về quy mô lãnh thổ, tầm ảnh hưởng văn hóa, mạng lưới thương mại lẫn trình độ kỹ thuật. Đối trọng duy nhất xứng tầm là thế giới Ả Rập với các triều đại Umayyad và Abbasid ở Tây Á. Khi thực quyền của đế quốc Ả Rập tan rã vào đầu thế kỷ 10 – các caliphate địa phương như Fatimid, Buyid và Samanid đã thực chất phân liệt đế quốc trước khi triều Abbasid bị Mông Cổ kết liễu hoàn toàn vào năm 1258 – Trung Quốc bước vào chuỗi triều đại nhà Tống (960–1279), nhà Nguyên (1271–1368) và nhà Minh (1368–1644). Giai đoạn này không phải không có đứt gãy. Nhà Tống liên tục bị áp lực từ các chính quyền phía Bắc – nhà Liêu (907–1125) rồi nhà Kim (1115–1234) – và từ năm 1127 chỉ còn kiểm soát miền Nam dưới danh hiệu Nam Tống, trước khi bị nhà Nguyên Mông Cổ thôn tính vào năm 1279. Dù vậy, xét trên quy mô văn minh – tích lũy tri thức, kỹ thuật, thương mại và dân số – quỹ đạo của Trung Quốc trong giai đoạn này vẫn duy trì đà phát triển so với phần còn lại của thế giới.

Nhiều nhà sử học thế giới xem giai đoạn từ khoảng năm 600 đến năm 1500 là “thiên niên kỷ Trung Quốc” – thời kỳ mà Trung Quốc là nền văn minh lớn nhất, hùng mạnh nhất và đông dân nhất trên lục địa Á-Âu. Giáo sư Craig Lockard của Đại học Wisconsin gọi đây là “thời kỳ thành công kéo dài nhất của một quốc gia trong lịch sử thế giới”.

Cách các nhà kinh tế học đo GDP của những thế kỷ đã qua

Toàn bộ các con số GDP xuất hiện trong bài – từ năm 1 SCN đến năm 1600 – đều đến từ một nhánh nghiên cứu gọi là kinh tế học lịch sử định lượng, mà công trình nền tảng là bộ cơ sở dữ liệu Maddison Project, được xây dựng bởi nhà kinh tế học người Hà Lan Angus Maddison và tiếp tục được cập nhật sau khi ông mất năm 2010. Maddison và các cộng sự của ông dùng đơn vị “đô la Geary-Khamis năm 1990” – một thước đo sức mua tương đương (PPP) được neo vào thời giá năm 1990 – để quy đổi sản lượng kinh tế của các nền văn minh khác nhau về một mặt bằng so sánh duy nhất. Việc neo vào một năm cố định triệt tiêu sai số do lạm phát giữa các thời kỳ; việc dùng PPP thay vì tỷ giá danh nghĩa loại bỏ méo mó do chính sách tiền tệ – vốn không tồn tại hoặc không có ý nghĩa ở các nền kinh tế tiền công nghiệp.

Nguồn dữ liệu đầu vào của phương pháp này là hồ sơ thuế, sổ sách thương mại, hợp đồng lao động, giá lương thực và tiền công được khai quật từ văn khố. Với các nền kinh tế tiền công nghiệp, nông nghiệp thường chiếm 70–80% tổng sản lượng, nên sản lượng ngũ cốc, diện tích canh tác và mức địa tô là ba chỉ số trụ cột. Đối với Trung Quốc, kho tàng thư tịch hành chính của các triều đại – từ sổ đinh, sổ điền đến hồ sơ thuế thương mại của các ty thị bạc – cung cấp nguồn dữ liệu dày đặc hơn so với hầu hết các nền văn minh đồng thời ở Âu-Á. Nghiên cứu của Broadberry, Guan và Li (2018) đã tái lập chuỗi GDP Trung Quốc từ đầu, độc lập hoàn toàn với Maddison, và kết quả hội tụ với nhau – dấu hiệu mạnh nhất cho thấy các ước tính không phải sản phẩm của một phương pháp hay một nhóm tác giả duy nhất.

Phản bác phổ biến nhất với loại số liệu này là câu hỏi: làm sao có thể đo GDP của một xã hội không dùng tiền mặt hoặc dùng tiền mặt rất ít? Câu trả lời nằm ở chỗ GDP lịch sử không được đo trực tiếp mà được suy diễn từ khối lượng sản xuất vật chất – tấn thóc, thước vải, tấn sắt – rồi quy đổi sang giá trị thông qua các mức giá được tái lập từ hồ sơ thị trường. Phương pháp này không đòi hỏi một nền kinh tế tiền tệ đầy đủ; nó chỉ đòi hỏi rằng hàng hóa và dịch vụ có giá trị trao đổi có thể quan sát được – điều đúng với mọi nền văn minh nông nghiệp phức tạp.

Một phản bác khác là GDP đầu người có thể che khuất bất bình đẳng nghiêm trọng: một xã hội có GDP đầu người cao nhưng tập trung vào tay thiểu số quý tộc không thể xem là “giàu hơn” theo nghĩa thực chất. Đây là giới hạn thật sự của thước đo này, và các nhà kinh tế học lịch sử thừa nhận điều đó. Tuy nhiên, với mục tiêu so sánh tương đối giữa các nền kinh tế – điều mà bài viết này thực sự làm – giới hạn đó không làm mất giá trị luận điểm, vì bất bình đẳng là đặc điểm chung của mọi xã hội tiền công nghiệp, không phải ngoại lệ của riêng Trung Quốc hay riêng châu Âu. Khi cùng một sai số xuất hiện ở cả hai vế so sánh, nó không làm lệch chiều hướng của sự chênh lệch.

Điều quan trọng hơn là các xu hướng rộng được xác nhận bởi bằng chứng vật chất độc lập. Số liệu sản xuất sắt thép thời Tống mà Robert Hartwell công bố dựa trên hồ sơ khai thác mỏ và lò luyện – không phải GDP. Quy mô mạng lưới thương mại hàng hải với 58 quốc gia được xác nhận qua hồ sơ hải quan và khảo cổ học hàng hải. Khi các chỉ số vật chất và chỉ số tiền tệ đều chỉ về cùng một hướng, khả năng tất cả cùng sai theo cùng một chiều là rất thấp.

Đỉnh cao thời nhà Tống

Vào năm 1000, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc dưới triều Tống đạt 466 USD theo thời giá 1990. Con số này nhỉnh hơn phần lớn các nước Tây Âu: Anh, Áo, Bỉ cùng ở mức 425 USD; Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển đạt 400 USD; Ấn Độ là 450 USD. Khu vực duy nhất vượt Trung Quốc đáng kể là Tây Á với 621 USD – khi đó đang dưới sự cai quản của người Ả Rập, cao hơn Trung Quốc khoảng 30%. Tổng đóng góp của Trung Quốc vào GDP thế giới năm 1000 được Maddison ước tính vào khoảng 22,1%.

Sự vượt trội về kinh tế đi kèm với năng lực sản xuất ở quy mô vượt thời đại. Nhà sử học Robert Hartwell chứng minh rằng quy mô các xưởng luyện kim thời Tống đã lớn hơn toàn bộ châu Âu trước khi châu lục này bước vào thế kỷ 18. Sản lượng sắt của Trung Quốc năm 1078 đạt khoảng 150.000 tấn mỗi năm – con số này vượt toàn bộ sản lượng sắt thép của châu Âu vào năm 1700. Từ năm 850 đến năm 1050, tốc độ tăng trưởng sản xuất sắt thép của Trung Quốc tăng gấp 12 lần, khẳng định vị thế của nước khai mỏ phát triển nhất thế giới thời trung cổ.

Thương mại hàng hải thời Tống cũng đạt những bước đột phá ngoạn mục. Ngành đóng thuyền và hàng hải phát triển mạnh, mậu dịch hải ngoại mở rộng ra 58 quốc gia trải dài từ Nam Dương, Nam Á, Tây Á đến châu Phi và châu Âu.

Phân kỳ và tụt hậu

Từ thế kỷ 16, một sự phân kỳ lịch sử bắt đầu hình thành. Tây Âu bước vào thời đại Phục Hưng, mở rộng thuộc địa sang châu Mỹ và dần khởi động Cách mạng công nghiệp. Trong khi đó, cấu trúc kinh tế và xã hội Trung Quốc về cơ bản không thay đổi – và chính sự đứng yên đó đã khiến khoảng cách ngày càng nới rộng.

Công trình đặt nền tảng định lượng cho luận điểm này là nghiên cứu “China, Europe and the Great Divergence: A Study in Historical National Accounting, 980–1850” của Stephen Broadberry (Đại học Oxford), Hanhui Guan (Đại học Bắc Kinh) và David Daokui Li (Đại học Thanh Hoa), công bố năm 2018 trên Journal of Economic History. Điểm khác biệt căn bản so với các ước tính trước là nhóm tác giả không dùng lại số liệu của Maddison mà tái lập chuỗi GDP Trung Quốc từ đầu, dựa trên hồ sơ sản lượng nông nghiệp, giá lương thực, dữ liệu dân số và hồ sơ thuế của từng triều đại trong suốt gần chín thế kỷ từ năm 980 đến năm 1850.

Kết quả của nghiên cứu vẽ ra một bức tranh phức tạp hơn so với quan niệm phổ biến về sự tụt hậu của Trung Quốc. Trung Quốc thời Bắc Tống dẫn đầu thế giới về mức sống, nhưng đã tụt sau Ý vào khoảng năm 1300 – tức là trước khi Tây Âu bước vào thời Phục Hưng và trước cả Cách mạng công nghiệp. GDP đầu người Trung Quốc sau đó dao động quanh ngưỡng đạt được thời Tống trong suốt thời Minh, rồi bắt đầu suy giảm rõ rệt dưới thời nhà Thanh – nghĩa là Trung Quốc không sụt giảm thảm hại về tuyệt đối, mà bị bỏ lại phía sau bởi tốc độ tăng trưởng vượt bậc của châu Âu. Để so sánh chính xác hơn, nhóm tác giả còn ước tính riêng cho khu vực “Trung Quốc cao” – vùng đồng bằng sông Dương Tử được thương mại hóa và đô thị hóa cao nhất, tương đương với vai trò của Bắc/Trung Ý so với toàn bộ châu Âu. GDP đầu người của vùng này được ước tính bằng 1,75 lần mức trung bình toàn quốc. Ngay cả với điều chỉnh đó, đến năm 1750 khoảng cách giữa khu vực phát triển nhất của Trung Quốc và Tây Âu đã quá lớn để có thể lấp đầy bằng sự chênh lệch nội vùng – nghĩa là sự phân kỳ lớn đã hoàn tất trước cả Cách mạng công nghiệp. Nghiên cứu xác định GDP đầu người của Ý và Hà Lan đã vượt qua vùng đồng bằng sông Dương Tử vào khoảng năm 1700; còn tính theo mức trung bình toàn quốc, toàn bộ các nước Tây Âu đã vượt Trung Quốc từ những năm 1500.

Các số liệu năm 1600 phản ánh rõ mức độ chênh lệch. GDP bình quân đầu người của Trung Quốc khi đó là 600 USD tính theo thời giá 1990 – tăng khoảng 29% so với năm 1000, nhưng trải ra trên sáu thế kỷ, tốc độ tăng trưởng bình quân chưa đến 0,05% mỗi năm, gần như không đáng kể về mặt động lực phát triển. Trong cùng thời điểm, Ý đạt 1.100 USD, Anh 974 USD, Tây Ban Nha 853 USD, Pháp 841 USD, Đức 791 USD, Na Uy 664 USD. Ngay cả Ireland, nền kinh tế yếu nhất trong số các nước Tây Âu thời đó, cũng đạt 615 USD – vẫn cao hơn Trung Quốc.

Đến thế kỷ 19, khoảng cách đã trở thành vực thẳm. Sự lạc hậu hiển nhiên so với Tây Âu làm nảy sinh một thế hệ trí thức Trung Quốc lên tiếng đòi cải cách xã hội và bãi bỏ chế độ quân chủ chuyên chế. Những phong trào này tích tụ dần, cuối cùng hội tụ thành cuộc cách mạng lật đổ nhà Thanh và chấm dứt thời kỳ phong kiến tại Trung Quốc.

Nguồn:

Maddison Project Database (Angus Maddison và các cập nhật sau 2010)

Nghiên cứu Broadberry, Guan và Li (2018), “China, Europe and the Great Divergence: A Study in Historical National Accounting, 980–1850”, Journal of Economic History

Công trình của Robert Hartwell về sản xuất sắt thép thời Tống

Craig Lockard, Đại học Wisconsin (mô tả “thiên niên kỷ Trung Quốc” và thời kỳ thành công kéo dài nhất)

Ảnh: Biểu đồ tỷ trọng GDP thế giới theo thời gian, dựa trên dữ liệu Maddison; Bản đồ thương mại tơ lụa và hàng hoá thời Tống.

Bình luận về bài viết này