Trần Thanh Ái
Kỷ niệm 150 năm ngày đô thị hóa Cần Thơ 1876-2026
Kể từ khi các chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh đuổi phải bỏ kinh thành Phú Xuân chạy về Gia Định, vùng đất Cần Thơ cũng đã hứng chịu nhiều cuộc binh đao và dẫn đến không ít xáo trộn trên nhiều phương diện. Trong bài viết này chúng tôi sẽ điểm lại một số sự kiện lịch sử xảy ra trong vùng đất Cần Thơ; có chuyện được biên niên sử của triều Nguyễn ghi lại, nhưng cũng có những chuyện chỉ được nhắc tới trong những nguồn tài liệu khác, trong đó có những ghi chép của các nhà truyền giáo phương Tây.
- Cần Thơ trong cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn
Như J. Moura viết (1883), để trả ơn chúa Nguyễn đã giúp đỡ trong cuộc tranh giành quyền lực, năm 1758 Prea-outey đã nhượng cho chúa Nguyễn hai vùng Trà Vinh và Sóc Trăng(1). Kể từ đó, trên danh nghĩa, đất Gia Định đã liền lạc cho đến tận Hà Tiên, nhưng trên thực tế vẫn còn có nơi người Đàng Trong không được phép đi lại, như nhà truyền giáo Levavasseur đã ghi nhận trong nhật ký của ông viết vào năm 1768 khi ông đến cảng Bãi Xàu (Levavasseur 1821, tr. 213). Tình hình đó đã biến Cần Thơ thành cửa ngỏ dẫn vào hành lang thoát hiểm khá ổn định cho chúa Nguyễn nối liền Bến Nghé với vịnh Xiêm La vào những thập niên cuối thế kỷ XVIII.
1.1. Dấu chân các chúa Nguyễn trên vùng đất Cần Thơ
Trên đường về phương Nam lánh nạn, Gia Định là địa điểm dừng chân đầu tiên của các chúa Nguyễn để tập hợp và củng cố lực lượng chờ ngày khôi phục vương quyền. Để biết được hành trạng của Nguyễn Ánh trong khoảng thời gian bôn ba này, chúng ta chủ yếu chỉ có thể dựa vào ghi chép của Quốc Sử Quán và của các quan triều Nguyễn như Trịnh Hoài Đức, Vũ Thế Dinh mà thôi. Tuy nhiên, thư từ của một số nhà truyền giáo cũng cung cấp cho chúng ta một số chi tiết góp phần làm rõ con đường bôn ba ấy.
Theo Quốc Sử Quán, chẳng bao lâu sau khi đến Bến Nghé, các chúa Nguyễn phải chạy về miệt Hậu giang. Lần thứ nhất vào tháng 4 năm Đinh dậu (tháng 5-6 năm 1777), Nguyễn Ánh cùng với Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần chạy về Trấn Giang – Cần Thơ là để nương nhờ Mạc Thiên Tứ (xem chi tiết bên dưới). Nhưng vì quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết nên đến tháng 9 Mạc Thiên Tứ và con là Mạc Tử Duyên phải hộ tống đoàn đi về Long Xuyên đạo (Cà Mau), ở đó Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn bắt được, còn Nguyễn Ánh chạy thoát, và được linh mục Hồ Văn Nghị nuôi chứa hơn một tháng(2).
Tháng 10 năm Đinh Dậu (khoảng tháng 11 năm 1777), khi được tin quân Tây Sơn rút về miền Trung, Nguyễn Ánh cùng các tướng tá tập hợp quân sĩ ở Long Xuyên đạo rồi tiến về Sa Đéc. Tháng 11 đánh úp dinh Long Hồ, tháng 12 tiến về Sài Gòn. Sau trận đánh này, Nguyễn Ánh được tôn vinh thành Đại Nguyên soái (1778). Quốc Sử Quán không ghi rõ lộ trình của cuộc trở về này, nhưng có lẽ con đường ngắn nhất, kín đáo nhất và an toàn nhất là đi theo con đường cũ, nghĩa là theo các nhánh sông Cái Lớn và Cái Bé rồi về Trấn Giang – Cần Thơ.
Tháng 4 Nhâm Dần (khoảng tháng 5 năm 1782), sau khi Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đánh tan thuyền của Mạn Hòe, Nguyễn Ánh, lúc bấy giờ đã lên ngôi vương, phải rút về Lật giang. Lưu thủ Thăng từ dinh Vĩnh Trấn đón xa giá về miền Hậu Giang, sau đó Nguyễn Ánh đi Phú Quốc. Quốc Sử Quán cũng không cho biết lộ trình của lần rút lui này, nhưng thiết tưởng con đường qua ngã Cần Thơ vẫn là lý tưởng nhất, đặc biệt là lúc ấy vua Campuchia đã cộng tác với quân Tây Sơn chống lại nhà Nguyễn (Nguyễn Hữu Thụy và Trần Xuân Trạch bị Campuchia bắt và giết trên đường đi Xiêm cầu viện). Tháng 8 cùng năm, Châu Văn Tiếp lấy lại được Gia Định, và Nguyễn Ánh được rước về đất liền, có lẽ cũng bằng con đường cũ.
Về hoạt động của Nguyễn Ánh trong giai đoạn này cũng cần phải nhắc đến ghi chép của Biên niên sử triều đại Bangkok: các sử thần Xiêm cho rằng Nguyễn Ánh đã chạy sang Bangkok sống lưu vong vào tháng tư năm Dần, năm 1144 triều đại Chula, tức 1782 (Flood T. & Flood C. 1978, tr. 35). Ghi chép này đã dấy lên mối ngờ vực về mức độ chính xác của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, chẳng những trong giới học thuật ở nước ngoài (Wenk K. 1968, tr. 111) mà còn cả dư luận trong nước. Tuy nhiên, nhiều thư từ của các nhà truyền giáo dường như đã gián tiếp phủ nhận thông tin trong Biên Niên sử triều đại Bangkok. Chúng tôi sẽ khảo sát kỹ hơn về sự kiện này trong một bài viết khác.
Đến tháng 4 năm Quý Mão (tháng 5 năm 1783), sau khi bị Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ phá tan đội thuyền của Tôn Thất Mân, Quốc Sử quán chép rằng Nguyễn Ánh đã từ Mỹ Tho thoát ra biển Đông rồi đi Phú Quốc trong đoạn văn sau đây:
“Đến sông Đăng Giang, sông có nhiều cá sấu, không thể lội được. Nhân có con trâu nằm bên sông, vua cưỡi để sang sông; giữa dòng nước thủy triều lên mạnh, trâu chìm mất, cá sấu đến giúp. Vào đến bờ, vua đi Mỹ Tho, lấy thuyền đem quốc mẫu và cung quyến trú ở đảo Phú Quốc” (Quốc Sử Quán 2002, tr. 217).
Tuy nhiên, thư từ của các nhà truyền giáo Pháp cho phép chúng ta kết luận rằng Nguyễn Ánh đã len lỏi qua hệ thống sông ngòi từ Mỹ Tho để xuống sông Hậu rồi ra biển bằng một trong ba cửa sông Định An, Ba Thắc và Trần Đề mà không dừng chân lại Cần Thơ, bởi vì lúc ấy Hà Tiên đang bị quân Xiêm chiếm giữ, còn Mạc Thiên Tứ và Tham tướng Mạc Tử Duyên đã bị vua Xiêm Taksin sát hại ở Vọng Các năm 1780. Thật vậy, trong thư viết từ Bangkok đề ngày 5 tháng 12 năm 1783 gửi linh mục Descourvières ở Macao, giám mục Bá Đa Lộc cung cấp thêm một số chi tiết bổ sung giúp chúng ta tái hiện lộ trình di chuyển của Nguyễn Ánh và gia quyến:
“Hôm sau ngày lễ Thánh Joseph [ngày 19 tháng 3] năm 1783, thêm một lần nữa phải rời xa các con chiên […]. Vì không còn có thể qua Campuchia lánh nạn, và vua nước này cũng đã trốn sang Xiêm, chúng tôi quyết định là đi bằng đường biển. Và để không mất thời gian, chúng tôi đến làm lễ cho một họ đạo khá đông, nằm gần Hà Tiên, đã không được các nhà truyền giáo chăm sóc phần hồn từ sáu năm nay […]. Chúng tôi định ở lại đó ít nhất là đến kỳ lễ Phục Sinh, thì vua Đàng Trong chạy đến, khiến chúng tôi phải lên đường ngay. Chúng tôi chắc chắn rằng quân Tây Sơn sẽ đuổi theo sát gót nhà vua mà họ đang lùng kiếm” (Launay A. 1925, tr. 78).
Đoạn thư trên cho chúng ta biết là vào ngày 20 tháng 3 năm 1783, Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc kẻ trước người sau chạy ra biển để lánh nạn. Tuy nhiên trong thư này Bá Đa Lộc không nói rõ ông đã cùng với bốn nhà truyền giáo khác đến họ đạo nào, chỉ cho biết là nó “nằm gần Hà Tiên”. Thế nhưng trong thư viết từ Pondichéry đề ngày 20 tháng 3 năm 1785 gởi các giám đốc Chủng viện Hội Truyền giáo Hải ngoại, Bá Đa Lộc cho biết thêm là khi ông đang ở một họ đạo đông giáo dân cách cảng nửa ngày đường, thì được tin quân Tây Sơn tiến đến (Launay A. 1925, tr. 86-87). Những thông tin đó giúp ta nhận ra rằng cảng đang nói chính là cảng Ba Thắc (tức Bãi Xàu), và họ đạo ấy chính là Mặc Bắc nằm bên bờ tả ngạn sông Hậu, đúng như J. Cadière đã xác định (Cadière L. 1926, tr. 16).
Dự đoán của Bá Đa Lộc không hề sai: Nguyễn Huệ đã cho quân truy đuổi Nguyễn Ánh. Trong thư viết từ Sa Đéc đề ngày 30 tháng 6 năm 1784 gửi LM. Descourvières, linh mục Langenois cho biết vụ rượt đuổi diễn ra trên cung đường đến cảng Ba Thắc, cách Mặc Bắc không xa, nghĩa là trên sông Hậu thuộc địa phận Thành phố Cần Thơ ngày nay:
“Ông Doc Lanh, người đã giết linh mục Ferdinand Olmedilla năm trước, năm nay là người đầu tiên đến đây truy đuổi nhà vua bằng đường Ba Thắc; ông ta đã cướp bóc và tàn sát nhiều người, nhất là các thuyền buôn người Hoa [ra vào cảng]. Ông Long Nhương ra lịnh gọi ông ta về Sài Gòn, rồi nhốt trong một cái chuồng trong ba ngày, và cho voi dày đến chết.” (Launay A. 1925, tr. 78)
Sau đó, vào tháng 7 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Ánh từ Bangkok trở về cùng với đội quân Xiêm đánh chiếm lại nhiều điểm sung yếu dọc theo sông Hậu, trong đó có Cần Thơ (Quốc Sử Quán 2002, tr. 221). Nhưng chỉ mấy tháng sau, sau khi Chiêu Tăng và Chiêu Sương bị Nguyễn Huệ đánh tan tác bỏ chạy (tháng 12 Giáp Thìn, tức tháng 1 năm 1785), thì Nguyễn Ánh lại phải quay về tá túc ở đất Cần Thơ trước khi ra đảo và trở lại Xiêm (Quốc Sử Quán 2002, tr. 233).
Lần cuối cùng Nguyễn Ánh đi ngang qua Cần Thơ mà không dừng lại, để rồi nhanh chóng phát triển lực lượng ra miền Trung, đó là lúc ông bí mật rời Vọng Các năm 1787 vào “mùa thu, tháng 7, ngày Bính dần” [năm Đinh mùi], chỉ để lại thư cáo lỗi cho Xiêm vương rồi lặng lẽ rời Xiêm trở về trú ở Hòn Tre (Rạch Giá). Theo L. Cadière thì hôm ấy nhằm ngày 13 tháng 8 năm 1787 (Cadière L. 1926, tr. 40).
1.2. Dấu ấn của gia đình Mạc Thiên Tứ
Ngày nay, nhiều tài liệu khi nhắc đến lịch sử Trấn Giang – Cần Thơ khi quân Tây Sơn truy đuổi các chúa Nguyễn thì chỉ nói về công trạng của Tham tướng Mạc Tử Sanh, như thể đó là nhân vật lịch sử có nhiều dấu ấn trên vùng đất này. Cũng chính vì thế mà họ gán luôn tên gọi Rạch Tham tướng cho ông. Vậy thực hư câu chuyện này như thế nào? Nếu năm bảy thập niên trước có người nhầm lẫn thì còn dễ thông cảm, nhưng ngày nay nguồn tài liệu khá phong phú không cho phép chúng ta mơ hồ về một giai đoạn lịch sử sôi động của vùng đất này.
1.2.1. Hai vị Tham tướng nhà họ Mạc
Trong một phim tư liệu tên là “Gạo chợ nước sông hay Cần Thơ từ Trấn Giang đến Tây Đô”, do Xưởng phim Trường Điện ảnh TP. HCM sản xuất năm 1995, ở phút 9’25 có câu: “Mạc Tử Sanh tử trận khi giao tranh với quân khởi nghĩa Tây Sơn tại Rạch Tham tướng phường Xuân Khánh ngày nay”(3). Chi tiết này giống với quyển Cần Thơ Xưa và Nay, một tài liệu được rất nhiều người biết đến của Huỳnh Minh xuất bản tại Sài Gòn năm 1966. Thật vậy, ngay từ những dòng đầu trong Phần Hai: Danh Nhân của sách này, tác giả đã đưa thông tin không có tài liệu đối chứng, khiến đến ngày nay nhiều người vẫn còn lầm tưởng: “Chính huyện Trấn-giang có duyên nợ với Mạc-thiên-Tứ và con là Mạc-tử-Sanh nhiều nhất, nên…”. Khi đọc danh sách tài liệu sưu khảo của sách này, chúng ta biết rằng tác giả đã không có được những tài liệu liên quan trực tiếp đến giai đoạn này. Tuy nhiên, giá như Huỳnh Minh đọc được hai bài báo của Đông Hồ Lâm Tấn Phác nói về Hà Tiên Mạc thị sử, đăng trên Nam Phong Tạp chí các số 107 (tháng 7 năm 1926) và 143 (tháng 10 năm 1929) thì ông đã biết: “Ông Thiên-Tích đem các con đến yết kiến vua. Vua Hiếu-Định mới phong cho Tử-Hoàng làm chức Chưởng-dinh; Tử-Dung làm chức Tham-sai tham-tướng cai-cơ; Tử-Thượng làm chức Thắng-thủy-lĩnh-sai cai-cơ, đều cho về ở giữ Trấn-giang (Cần-thơ)” (Đông Hồ Lâm Tấn Phác 1926, tr. 40). Những thông tin này đã được Quốc Sử Quán xác nhận trong bộ Đại Nam Liệt truyện.
Như vậy vị Tham tướng họ Mạc đầu tiên được chúa Nguyễn phong chức năm 1775 là Mạc Tử Dung, còn gọi là Mạc Tử Duyên, và cả ba anh em được vua phân về trấn giữ đất Cần Thơ. Còn Mạc Tử Sanh thì sao? Trong bài viết thứ hai sau đó, Đông Hồ bổ sung thêm nhiều chi tiết, sau khi phát hiện thêm bản chép tay Mạc thị Gia phả của Vũ Thế Dinh: “Mạc-phu-nhân Nguyễn thị đã sinh hạ được con trai là: Tử-Hoàng 子潢, Tử-Thượng 子淌, Tử-Dung 子溶; con gái là Thị-Long 氏隆, Thị-Hai 氏𠄩 và Thị-Giác 氏覺. Sau các bà thiếp sinh: Tử-Sanh 子泩, Tử-Tuấn 子浚 và Tử-Thiêm 子添” (1929, tr. 333). Tài liệu nói trên còn cung cấp thêm nhiều thông tin khác, chẳng hạn Mạc Thiên Tích có 8 người vợ, và Mạc Tử Sanh sinh năm 1769, là con của bà thứ tư, nghĩa là lúc Mạc Thiên Tứ chạy về Cần Thơ thì ông mới khoảng 3 tuổi. Mãi sau này khi ở Vọng Các, vào năm Giáp Thìn (1784) Mạc Tử Sanh mới được Nguyễn Ánh phong chức Tham tướng lúc 15 tuổi để theo hầu vua (Quốc Sử Quán 1993, tr. 182).
Vì không tiếp cận được những nguồn tài liệu này nên sách Cần Thơ Xưa và Nay đã viết như sau: “Đọc tiểu sử Mạc-thiên-Tứ chúng ta đã thấy Thiên-Tứ từng hoạt động ở Trấn-giang (Cần-thơ) mà con ông là Mạc-tử-Sanh càng phục vụ nhân dân Trấn-giang nhiều hơn nữa. Thậm chí Mạc Tử Sanh đã bỏ mình nơi Trấn giang, mà vùng rạch Tham tướng ngày nay là nơi lưu dấu vết Ông” (Huỳnh Minh 1966, tr. 59-60). Có phải Mạc Tử Sanh đã bỏ mình trên đất Cần Thơ không? Dưới đây chúng tôi sẽ nhắc lại vắn tắt những thông tin cơ bản liên quan đến họ Mạc ở Hà Tiên để độc giả tiện việc suy xét.
1.2.2. Rạch Tham Tướng lưu lại dấu tích của ai?
Rạch Tham tướng có dấu tích gì đặc biệt của Mạc Tử Sanh không? Hẳn là độc giả cũng đoán ra câu trả lời là “Không”! Để chứng minh cho câu trả lời ấy, chúng ta sẽ cùng điểm lại các mốc lịch sử có liên quan đến nhân vật này. Trong cuộc tấn công Hà Tiên của quân Xiêm, trong cảnh hỗn loạn Mạc Thiên Tứ được cận thần bày kế lừa ông xuống thuyền chạy về Châu Đốc vì họ không muốn ông cùng chết theo thành, để lại “con trai con gái cùng tỳ thiếp của Công tất cả hơn mười người đều bị giặc bắt” như Mạc Thị Gia phả đã ghi (Vũ Thế Dinh 2002, tr. 36-37). Về sự kiện này, nhà truyền giáo Corre cho biết thêm một số chi tiết cụ thể như sau trong thư gửi về Paris đề ngày 26 tháng 1 năm 1772:
“Ngày 3 tháng 11 năm vừa qua, vua Xiêm lên đường đi đánh Hà Tiên. Sau ba ngày đánh nhau, ông đã chiếm được thành phố. Tất cả dân Đàng Trong đều bị tàn sát, ngoại trừ các tín đồ Thiên Chúa giáo tập trung trong giáo đường. Lính Xiêm đã phá hủy toàn bộ. Nhà vua cho phép cướp bóc trong ba ngày; thế là họ chiếm đoạt tất cả, và phóng hỏa những gì mà họ không mang đi được. […] Viên Tổng trấn đã trốn thoát cùng với con trai, người thì bằng đường bộ, kẻ bằng đường biển” (Launay A. 1920, tr. 273).
Năm ấy Mạc Tử Sanh mới 3 tuổi, vì thế người con trai trốn thoát bằng đường bộ hay đường biển mà nhà truyền giáo đã nói chỉ có thể là một đứa con lớn nào đó, chứ không thể nào là cậu bé 3 tuổi được, và có lẽ Mạc Tử Sanh đã nằm trong số bị giặc bắt mang về Xiêm. Giả sử rằng Mạc Tử Sanh thoát khỏi tay giặc và theo cha về được Trấn Giang, thì đến năm 1777, lúc lên 8 tuổi, đã lại phải rời nơi này để tránh các cuộc truy đuổi của quân Tây Sơn, thì dấu chân của cậu bé này chẳng có gì đáng để nói.
Bảy năm sau, vào cuối năm Giáp Thìn (1784-1785) Mạc Tử Sanh được phân công đóng quân tại Cần Thơ để án ngữ tuyến đường rút quân, và sau đó có dịp hộ tống Nguyễn Ánh chạy ra đảo khi bại trận ở Rạch Gầm – Xoài Mút. Trong tình thế ấy, vị Tham tướng 15 tuổi có để lại dấu ấn gì trên đất Cần Thơ không? Chắc hẳn là không, bởi vì chỉ trong thời gian trấn giữ ngắn ngủi thì không đủ để làm gì cho Cần Thơ. Mạc Tử Sanh có bỏ mình nơi Trấn Giang không? Cũng không! Sau khi liên quân Xiêm – Việt bị Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh ra đảo Thổ Châu trú ẩn, và phái Mạc Tử Sanh đi Xiêm báo tin bại trận. Năm 1785, Nguyễn Ánh cùng với quần thần trở lại Vọng Các tá túc. Năm 1787, vua tôi nhà Nguyễn lặng lẽ rời Vọng Các về nước. Mạc Tử Sanh được cử làm lưu thủ tại Hà Tiên, và chết ở đó vào năm 1788, lúc ấy mới 19 tuổi: Mạc thị Gia phả cho biết là ông mất vì bệnh (Vũ Thế Dinh 2002, tr. 78). Tóm lại, những thông tin trên đây cho thấy rằng địa danh Rạch Tham tướng không liên quan đến Tham tướng Mạc Tử Sanh.
Như đã nói bên trên, Mạc Thiên Tứ có hai người con đều được phong chức Tham tướng, và có lẽ đây là duyên cớ gây ra sự nhầm lẫn cho nhiều người(4): Tham tướng Mạc Tử Duyên mới là người đã cùng cha và anh mình có thời gian sống ở Trấn Giang đủ lâu để có thể lưu lại dấu ấn trên đất Cần Thơ (1771-1777), và nhất là đã từng xông pha trận mạc từ Đông Khẩu đạo đến hộ giá chúa Nguyễn về Cà Mau. Rạch Tham tướng là nơi ông đã bố trí lực lượng bảo vệ vòng ngoài của lỵ sở nơi Mạc Thiên Tứ đóng quân và đến năm 1777 có dịp nghênh tiếp và bảo vệ Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và vương tử Nguyễn Ánh. Trong khi Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn bắt thì Mạc Thiên Tứ, Mạc Tử Dung và hoàng tử Xuân chạy thoát về các đảo trong vịnh Xiêm La, rồi lưu lạc sang Xiêm quốc. Ở đó họ lần lượt bị vua Xiêm lúc bấy giờ là Trịnh Tân, mà tài liệu nước ngoài gọi là Taksin, bức tử năm 1780 cùng với 53 quần thần chúa Nguyễn. Mạc Tử Sanh cùng với hai em là Tử Tuấn và Tử Thiêm lúc ấy còn nhỏ, được một quan người Xiêm xin nuôi dưỡng nên còn sống sót.
1.3. Dấu chân quân Xiêm trên đất Cần Thơ
Giữa hai nước Đại Việt (và sau đó là Đại Nam) và Xiêm đã từng có nhiều cuộc đụng độ với nhau trên đất Campuchia, tuy nhiên trận chiến năm 1784-1785 là trận gây ra nhiều thiệt hại trực tiếp cho người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có vùng đất Cần Thơ.
1.3.1. Trận năm 1784-1785
Tháng 6 năm Giáp Thìn (1784), vào ngày Nhâm Thìn, Nguyễn Ánh cùng với cùng với quân cứu viện của vua Xiêm “xuất phát từ thành Vọng Các, đi ra cửa biển Bắc Nôm” để về chiếm lại Gia Định. Ngày Nhâm Thìn trong tháng 6 năm Giáp Thìn tức là ngày 9 tháng 6 âm lịch, nhằm ngày 25 tháng 7 năm 1784. Theo Đại Nam Thực lục, vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng cùng với Chiêu Sương đem 2 vạn thủy quân và 300 chiến thuyền để giúp(5). Tháng 7 cùng năm, liên quân đánh chiếm được đạo Kiên Giang, và tiến về Trấn Giang phá được quân của Đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Hóa, sau đó đánh chiếm các vị trí lân cận như Bãi Xàu, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc (Quốc Sử Quán 2002, tr. 221).
Cái giá phải trả cho việc nhờ cậy vào quân đội nước ngoài gần như giống nhau trong mọi thời đại: Vũ Thế Dinh là người trực tiếp tham chiến trong đội liên quân Xiêm – Việt kể lại rằng “Chiêu-tăng và Chiêu-sương đánh phá Ba Thắc, giết hại nhân dân và cướp bóc của cải không sao kể xiết” (Vũ Thế Dinh 2002, tr. 65). Sách Sử ký Đại Nam Việt cung cấp thêm vài chi tiết bổ sung: “Còn quan đại tướng quân Xiêm, là ông Triều-cẩn, cùng là cháu vua thì đi qua xứ Ba-thắc ở nước Cao-mên [sic!]. Xứ ấy rất giàu có, nhiều quân Ngô quen sang buôn bán ở đó; thì ông Triều-cẩn ở lại với quân cơ đặng ba tháng, những chơi bời ăn uống, ăn cướp của nguời ta mà thôi” (Khuyết danh 1885, tr. 47-48). Chính Nguyễn Ánh cũng đã phải thốt lên những lời oán trách về hành động bạo ngược của quân Xiêm ở những nơi họ đi qua: trong thư bằng chữ Nôm viết cho nhà truyền giáo J. Liot, được Tạ Chí Đại Trường phiên sang chữ quốc ngữ, Nguyễn Ánh cũng đã viết:
“Nay thời Xiêm binh đại tứ lỗ lược, dâm nhơn phụ nữ, lược nhơn tài vật túng sát bất dung lão thiếu (7). Vậy nên Tây tặc binh thể nhựt thạnh, Xiêm binh thế nhựt suy, cớ ấy qua tháng chạp ngày mùng 8 [năm Giáp Thìn, nhằm ngày 18 tháng 1 năm 1785] vừa thất lợi, các giai hội tản” (Tạ Chí Đại Trường 1968, tr. 109).
| Thư Nguyễn Ánh gửi J. Liot ngày 15 tháng Chạp Cảnh Hưng 45 | Rạch Tham tướng ngày nay không còn thông thương với Rạch Cái Khế |
Về ghi chép của người Xiêm, điều dễ hiểu là hiếm có tài liệu nào nói đến hành vi bạo ngược của quân Xiêm, tuy nhiên, độc giả cũng có thể đọc được bài viết của Parichart Pawichai được dịch ra tiếng Việt năm 2022, trong đó có đoạn kể lại thái độ của Xiêm vương như sau: “Hôm trước, ta thấy những kẻ này cho nô lệ khiêng đồ về, có những phụ nữ trẻ với của cải và vàng bạc. Ta đã nghĩ rằng quân ta sẽ gặp thất bại. Thắng thua là chuyện thường tình của binh gia nhưng các ngươi đã bị đánh bại chẳng vì lý do gì cả” (Parichart Pawichai 2022). Ông cho tra hỏi những binh lính còn sống, và thấy rằng thất bại là vì Chiêu Tăng, Chiêu Sương tự cao tự đại và tàn ác. Họ đã tự cho mình thái độ kẻ ban ơn và liều lĩnh không nghe theo lời khuyên của Nguyễn Ánh.
1.3.2. Trận năm 1833-1834
Khi tường thuật việc quân Xiêm tấn công Đại Nam năm 1833-1834, cả Quốc Sử Quán lẫn sử thần Xiêm La chỉ ghi là hai bên đánh nhau tại Thuận Cảng, tức Vàm Nao (Quốc Sử Quán 2007, tr. 962). Tuy nhiên, Minh Mệnh chính yếu thì nói chi tiết hơn một chút: “một bọn noi theo đường bộ xâm lấn Cao-man, […] thẳng tới tỉnh An-giang, một bọn noi theo đường thủy xâm lấn tỉnh Hà-tiên, hai tỉnh ấy đều bị thất thủ, việc tâu lên. […] nay chúng đã đi sâu vào nội địa, ắt hẳn buông lòng cướp bóc” (Quốc Sử Quán 1974, tr. 151).
Sách Sử ký người An Nam cũ ở nước Xiêm (1930) cung cấp cho người đọc một loại sử truyền miệng trong giới Việt kiều định cư ở Xiêm cho biết thêm nhiều chi tiết mà không có tài liệu chính thống nào nói đến:
“Đạo binh Xiêm do hai quan Cao-mên dẫn đàng đi, […] nên thuyền bè của họ đi tới bến Nam-kỳ rồi thời cứ sông Cửu-Long do cữa Hậu-giang mà thẳng lên Trà-vinh, Cần-thơ, Mỹ-Tho, Vĩnh-long, Châu-đốc riết tới Nam vang. Các nơi khác như là Réam, Rạch-giá, Hà-tiên, Sóc-trăng và Cà-mau thời họ cũng có cho người đi chiêu mộ nghĩa binh đề phục quốc cho nước Cao-mên” (Hoàng-Phủ Hoa-Huệ 1930, tr. 31).
Có thể độ tin cậy của chương lịch sử truyền miệng này không cao, nhưng khi Giáo đoàn truyền giáo Campuchia cũng nhắc đến một tình cảnh quân Xiêm khuấy động vùng đất Hậu Giang thì người viết sử có thêm đầu mối để dần tái hiện sự kiện. A. Launay cho biết vào năm 1834, sau khi đã phá hủy phần lớn Châu Đốc vào năm 1834, quân Xiêm đã bắt đi một số giáo dân ở các họ đạo Cái Đôi [Chợ Mới?], Chà Và [Mỹ Luông] Tam buong [?]. Các con chiên của giáo xứ Bò Ót [Cần Thơ] phải chạy trốn và đến lánh nạn tại giáo xứ Mặc-Bắt [sic!]” (Launay A. 1898).
Hơn nữa, tài liệu của người Thái cho thấy rằng những ghi chép trên đây có cơ sở để tin. Eiland M. D. đã trích dịch hồ sơ Ruam Ryang Kieo Kap Yuan lae Khamen nai Samai Ratanakosin như sau: “Trong khi rút chạy, Chaophraya Phrakhlang đã bắt đi một số lượng lớn người Việt ở Hà Tiên và đưa họ Chantaburi. Từ đó họ được đưa về Bangkok, và cho định cư ở Sam Sen. Những người này được dự kiến sẽ sung vào một đơn vị pháo binh của quân đội Xiêm” (Eiland M. D. 1989, tr. 134).
- Cần Thơ trong những thập niên đầu dưới chế độ thực dân Pháp
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, trước sự uy hiếp của lực lượng hải quân hùng hậu của thực dân Pháp, Phan Thanh Giản đã hạ vũ khí đầu hàng để tránh đổ máu cho binh sĩ và dân lành. Sau đó vào ngày 22 và 24 An Giang và Hà Tiên lần lượt rơi vào tay quân Pháp mà không gặp nhiều sự kháng cự.
Như đã trình bày trong bài viết trước, sau một số lần thay đổi, ngày 23 tháng 2 năm 1876, toàn quyền Pháp thành lập Hạt Tham biện Cần Thơ đặt tại làng Tân An, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển thành một đô thị sầm uất như ngày nay. Việc đầu tiên là họ tổ chức bộ máy cai trị theo lề lối phương Tây; nhiều nhà làm việc và cơ sở hạ tầng được xây dựng (ngày nay chỉ còn lại nhà việc Tân An ở đường Phan Đình Phùng), nhiều đường xá bắt đầu xuất hiện, dần hình thành mạn lưới đường xá đô thị: con đường đầu tiên là Rue du Quai (đường Bến Sông) chạy dọc theo bờ sông Cần Thơ, tức bến Ninh Kiều ngày nay, sau đó dần dần vươn dài đến Cái Răng. Kế đến là đại lộ Delanoue (bây giờ là đường Phan Đình Phùng) đi từ dinh chủ tỉnh đến bờ sông, gặp Rue du Quai ở ngã ba Cầu Xéo, là nơi tàu thuyền vận chuyển hàng hóa neo đậu. Con đường Cần Thơ – Cái Răng (7 km), đoạn từ dinh chủ tỉnh đến Rạch Tham tướng được đặt tên là đại lộ Colonel Dessert, là tiền thân của Đại lộ Hòa Bình, và một đoạn 30 tháng Tư ngày nay (nó còn được gọi là đường Hàng Xoài vì băng qua một vườn xoài). Kế đến là tuyến Cần Thơ – Bình Thủy (6 km), Cần Thơ – Cái Khế (4 km), “tất cả đều được xây dựng theo chỉ đạo của viên tham biện Nicolai” (Baurac J. -C., 1894, tr. 343). Sau đó họ làm nhiều con đường ngắn nối ba tuyến đường chính Rue du Quai, Đại lộ Delanoue và Colonel Dessert tạo thành những khu phố vuông vắn: đường Lamarre (bây giờ là Ngô Gia Tự), đường Saintenoy (Ngô Quyền), Galliénie (Nguyễn Thái Học), Van Volenhoven (Nam kỳ Khởi nghĩa), Paul Bert (Nguyễn An Ninh),… lần lượt ra đời. Năm 1904, người ta thấy có thêm tuyến Tham Tướng – Bình Thủy (6 km), nhưng chưa có tuyến đường thuộc địa và tỉnh lộ nào đi ngang qua (Société des Etudes indo-chinoises 1904, tr. 7).
- Dấu xưa còn lại
Ngày nay không có tài liệu nào hay di chỉ nào cho biết chính xác nơi đóng quân của Mạc Thiên Tứ ở Cần Thơ. Tuy nhiên, dựa vào địa thế của Tân An xưa, dựa vào vị trí của con rạch mà ngày nay dân chúng vẫn còn gọi là Rạch Tham Tướng, cũng như dựa vào công năng của các cơ sở tọa lạc xung quanh khu vực này qua nhiều thời kỳ, chúng tôi nghĩ rằng:
– rất có thể Mạc Thiên Tứ đã từng đóng bản doanh ở ven sông Cần Thơ, đoạn từ rạch Tham Tướng đến gần Ngã ba Dưỡng Lão, một vị trí vừa tiện cho việc điều quân bằng đường thủy, có thể tiến ra sông Hậu, lại vừa có thể rút sâu vào những phụ lưu các con sông Cái Lớn, Cái Bé và sông Ông Đốc để đi về Vịnh Xiêm La. Tại vị trí này người Pháp đã từng lấy làm căn cứ quân sự, rồi từ 1954 đến 1975 là nơi đóng quân của binh chủng vận tải và Trung tâm Nhập ngũ IV, và sau 1975 là doanh trại của Thành đội TP. Cần Thơ (nay là khu Vincom Plaza Xuân Khánh). Nếu phán đoán này không sai thì nơi đây Mạc Thiên Tứ đã từng nghênh đón Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Ánh trong vài tháng, từ ngày 21 tháng 7 năm 1777 hoặc sớm hơn chút ít như thư của nhà truyền giáo Jean de Jésus gửi cha tỉnh dòng đã hé lộ (Pérez L. 1944, tr. 86), đến mùa thu năm Đinh Dậu, tức khoảng tháng 10-11 năm 1777. Đối diện với khu đất này trước đây là các khu nghĩa trang của người Hoa và người Việt (đã di dời khoảng 20 năm nay). Và không phải vô cớ khi mà điểm khởi đầu của con đường chạy qua nơi này được người dân gọi là cầu Tham Tướng bắc ngang qua rạch Tham Tướng, bên cạnh là chợ Tham Tướng, và trước năm 1975 con đường đó được đặt tên dựa theo kiến thức lịch sử chưa đúng thời bấy giờ là Mạc Tử Sanh, sau này đổi thành đường 30 tháng 4.
– Rạch Tham Tướng ngày nay chỉ còn là con rạch thoát nước bẩn, ghe xuồng không còn lưu thông được nữa. Thế nhưng, từ thập niên 1960 trở về trước, dòng chảy của con rạch này vẫn còn thông thương từ sông Cần Thơ đến Rạch Cái Khế nối với sông Hậu. Và hai trăm năm trước, khi Mạc Thiên Tứ về đóng quân ở Trấn Giang, chắc chắn nó vẫn còn là tuyến đường thủy có thể chuyển quân dễ dàng nên Tham Tướng Mạc Tử Duyên mới được giao trấn giữ con rạch này làm vành đai bảo vệ đồn lũy tạm thời của Tổng binh ở gần đó. Một bằng chứng khác khá thuyết phục làm cơ sở cho suy đoán trên đây, đó là báo cáo của nhà truyền giáo dòng Phan Sinh người Tây Ban Nha Juan Salguero gửi về tỉnh dòng Philippines đề ngày 28 tháng 2 năm 1774. Trong báo cáo này ông cho biết tháng 8 năm 1773 ông đã cử linh mục Julian [Virgen del Pilar] đến Cần Thơ để chăm sóc việc đạo cho quan quân dưới trướng Mạc Thiên Tứ(6) và cho cả những người tháp tùng (theo Launay A. 1925, tr. 527, trước 1771, vùng Hà Tiên và Hòn Đất có nhiều giáo dân và 4 nhà thờ Thiên Chúa giáo). Báo cáo trên còn cho biết vị linh mục này đã cho xây một nhà thờ nhỏ và một ngôi nhà cho các tu sĩ trú ngụ. Nhà thờ ấy chắc là phải được dựng lên gần với nơi trú đóng của quân sĩ. Sau khi đoàn quân của Mạc Thiên Tứ rút đi thì không thấy tài liệu nào nhắc đến nhà thờ ấy nữa, có lẽ vì không còn con chiên nên nó không hoạt động nữa và đã hoang phế. Thật vậy, theo ghi chép của giám mục Bouchut, mãi đến năm 1845 Cần Thơ mới lập được một xóm đạo đầu tiên (Mgr. Bouchut 1913, tr. 307), và hiện nay, bên bờ con rạch này tọa lạc một ngôi nhà thờ khác, là nhà thờ Tham Tướng. Chúng tôi nghĩ rằng trên chính nền đất của nhà thờ Tham Tướng hiện nay đã từng là nhà thờ của linh mục Julian Virgen del Pilar dựng năm 1773. Ngoài ra, cạnh bản doanh của Mạc Thiên Tứ còn có một khu đất nằm dọc bờ sông Cần Thơ, nay là Nhà Hưu Dưỡng Linh mục Giáo phận Cần Thơ. Có lẽ đây là nơi mà nhà truyền giáo Julian [Virgen del Pilar] đã đặt chân đến địa phương này, vì thời ấy phương tiện di chuyển chỉ có ghe thuyền.
Tại sao các nhà truyền giáo dòng Phan Sinh được Mạc Thiên Tứ ưu ái như thế? Tuy không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo, nhưng Mạc Thiên Tứ có nhiều thiện cảm với các nhà truyền giáo phương Tây, một phần vì muốn thu hút giới doanh nhân đến mua bán tại Hà Tiên, nhưng nhất là vì ông mang ơn linh mục Pierre Salazar đã cứu mạng trong cơn bạo bệnh năm 1762. Vì lẽ đó mà ông đã cho phép các nhà truyền giáo xây dựng nhà thờ, đúc chuông và tổ chức rước thánh lễ công khai trên đường phố giống như ở Manille, thậm chí khi linh mục Pierre Salazar qua đời vì bạo bệnh, vị Tổng trấn đã chủ động đề nghị chôn ông ngay trong nhà thờ Hà Tiên (Launay A. 1925, tr. 527-533).
Qua thời gian mọi vật đều thay đổi: khi san lấp mặt bằng làm khu Cái Khế của Viện Đại học Cần Thơ rộng hơn 80 mẫu (ngày nay là Khu 2 Đại Học Cần Thơ) vào khoảng năm 1967, một phần rạch Tham Tướng đổ ra Rạch Cái Khế đã bị bồi lấp nên nó chỉ còn là một lạch nước nhỏ, và ngày nay không còn chút dấu vết nào. Phần còn lại từ đường 3 tháng 2 trở về sông Cần Thơ thì thành con rạch cụt dùng để thoát nước mưa và nước sinh hoạt của khu dân cư xung quanh. Gần đây, sau khi nạo vét, làm bờ kè rạch Tham Tướng, chính quyền cho đắp hai con đường nhỏ dọc theo con rạch, và đặt tên là đường Mạc Thiên Tích(7).
- Tạm kết
Trên đây chỉ là vài ký ức lịch sử của đất Cần Thơ, nhưng là những ký ức gắn liền với những khúc quanh lịch sử quan trọng của vùng đất mới mở trong cuộc Nam tiến. Về trường hợp Nguyễn Ánh cùng với quần thần lưu lạc đến Cần Thơ, dù cách nhìn nhận về ông như thế nào đi chăng nữa, thiết nghĩ cũng nên lưu lại những dấu vết của người xưa còn sót lại trên đất này. Việc đó không chỉ là nhiệm vụ của những nhà nghiên cứu lịch sử, mà còn là trách nhiệm công dân đối với thế hệ mai sau, mà trước hết là của ngành bảo tồn, bảo tàng địa phương.
Hiện đại hóa đô thị thể hiện sự phát triển của đất nước, nhưng nó cũng đặt ra nhiều thách thức, trong đó có việc lưu giữ những dấu ấn lịch sử cho đời sau: khi ký ức về quê hương không được trân trọng thì quê hương cũng mất đi không ít ý nghĩa trong tâm thức của người dân. Chỉ sau hơn hai mươi năm hiện đại hóa đô thị mà những dấu xưa của Cần Thơ đã nhanh chóng phai mờ; và với tốc độ thay đổi như hiện nay thì đến một lúc nào đó, có nguy cơ rất lớn là vết tích của quá khứ sẽ chẳng còn lại bao nhiêu, nếu không có biện pháp lưu giữ hồn xưa.
Tài liệu tham khảo
Baurac J. -C. 1894. La Cochinchine et ses habitants (Provinces de l’Ouest). Saigon: Imprimerie Commerciale Rey, Curiol & Cie.
Bouchut Mgr., 1913. Mission du Cambodge historique et Division des Districts. Tạp chí Annales de la Société des Missions Etrangeres, số 96, Nov-Dec. 1913.
Đông Hồ Lâm Tấn Phác, 1926. Hà Tiên Mạc thị sử. Trong Nam Phong tạp chí, số 107, tháng 7 năm 1926.
Đông Hồ Lâm Tấn Phác, 1929. Hà Tiên Mạc thị sử. Trong Nam Phong tạp chí, số 143, tháng 10 năm 1929.
Eiland M. D. 1989. Dragon and Elephant: Relations between Viet Nam and Siam, 1782-1847. Luận án tiến sĩ sử học, bảo vệ tại Đại học George Washington University.
Flood T. & Flood C. 1978. The Dynastic Chronicles, Bangkok Era, the First Reign, Volume One. Tokyo: The Centre for East Asian Cultural Studies.
Hoàng-Phủ Hoa-Huệ 1930. Sử ký người An Nam cũ ở nước Xiêm. Quinhon: Imprimerie de Quinhon.
Launay A. 1890. Atlas des missions de la société des Missions-étrangères. Lille: Imprimé par la Société de Saint-Augustin DESCLÉE, DE BROUWER et Cie.
Launay A. 1920. Histoire de la Mission de Siam 1662-1811, Documents historiques II. Paris: Anciennes Maisons Charles Douniol et Retaux.
Launay A. 1925. Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques III 1771-1823. Paris: Anciennes Maisons Charles Douniol et Retaux.
Parichart Pawichai 2022. Trận Thủy Chiến Rạch Rầm- Xoài Mút, Trận Chiến đại bại của Xiêm… Tại trang https://nghiencuulichsu.com/2022/08/23/tran-thuy-chien-rach-ram-xoai-mut-tran-chien-dai-bai-cua-xiem-ma-hau-nhu-khong-bao-gio-duoc-de-cap/
Levavasseur 1821. Abrégé du journal de M. Levavasseur. Trong Nouvelles Lettres Edifiantes des Missions de Chine et des Indes Orientales Tome VI. Paris: Chez Ad. Le Clere, Imprimeur de S. Em. Mgr. le Cardinal Archevêque de Paris.
Pérez L. 1940. La révolte et la guerre des Tayson d’après les Franciscains Espagnols. Tạp chí Bulletin de la Société des Études Indochinoises, 1940, tome xv.
Pianet J. 1929. Histoire de la Mission du Cambodge. Tạp chí Bulletin de la Société des Missions étrangères de Paris, N° 92 – Août 1929.
Quốc Sử Quán 1974. Minh Mệnh chính yếu, Tập V. Sài Gòn: Ủy Ban Dịch thuật.
Quốc Sử Quán 1993. Đại Nam Liệt truyện tiền biên (Viện Sử học dịch). Huế: Nxb Thuận Hóa.
Quốc Sử Quán 1995. Đại Nam Liệt truyện tiền biên (Cao Tự Thanh dịch). Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội.
Quốc Sử Quán 2002. Đại Nam Thực lục, tập 1. Hà Nội: Nxb Giáo dục.
Quốc Sử Quán 2007. Đại Nam Thực lục, tập 3. Hà Nội: Nxb Giáo dục.
Société des Etudes indo-chinoises 1904. Monographie de la Province de Cân-tho. Saigon: Imprimerie Ménard & Rey.
Tạ Chí Đại Trường 1968. Những bức thư chữ Nôm của Nguyễn Ánh. Trong Tập san Sử Địa, số 11(1968).
Vũ Thế Dinh 2002. Hà Tiên trấn – Hiệp trấn Mạc thị gia phả (bản dịch của Nguyễn Khắc Thuần). Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin.
Vũ Thế Dinh 2006. Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả (bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên). Hà Nội: Nxb Thế Giới.
Wenk K. 1968. The Restoration of Thailand Under Rama I, 1782-1809. Tucson: The University of Arizona Press.
(1) Xem chi tiết trong bài “Một thoáng Cần Thơ xưa” trong số này.
(2) Xem chi tiết trong bài “Những người Pháp đầu tiên cộng tác với Nguyễn Ánh”, trong tạp chí Xưa & Nay, số tháng 2 năm 2025.
(3) Xem tại: https://www.youtube.com/watch?v=DXeMG50hjkU
(4) Năm 1943, Lê Văn Ngôn có bài “Tây Đô lịch sử” đăng trên tập Kỷ Yếu Xuân Tây Đô, với những thông tin tương tự. Kế đến, khi Việt hóa tên đường phố sau năm 1954, người ta đã lấy tên Mạc Tử Sanh để gọi đoạn từ cầu Tham Tướng đến cầu Đầu Sấu, trước đây thuộc Route Coloniale 16 (đường thuộc địa số 16).
(5) Biên niên sử triều đại Bangkok ghi số lượng ít hơn nhiều. Xem Flood T. & Flood C. 1978, tr. 60-61.
(6) Xem chi tiết trong bài “Một thoáng Cần Thơ xưa” của cùng tác giả trong số báo này.
(7) Cách đặt tên đường này cũng còn bất cập: lẽ ra con đường nhỏ chạy dọc theo rạch Tham Tướng phải mang tên Tham Tướng Mạc Tử Duyên, còn tên của Quốc lão Đô Đốc quận công Mạc Thiên Tích (hay Tứ) nên được dùng để đặt tên cho con đường chạy dọc theo điểm đóng quân ngày xưa, tức một đoạn của đường 30 tháng 4.