Nguyễn Huỳnh Dung
Ngày nay, khi có dịp về thăm xứ dừa Bến Tre, đến vùng đất Giồng Trôm, ta vẫn còn gặp các địa danh như Mỹ Lồng, Sơn Đốc, cầu Ba Lạc, chợ Cái Mít, chợ Hương Điểm, Tân Hào, cồn Đất, Hưng Lễ, Hiệp Hưng…. là những nơi đã ghi dấu bước chân buổi thiếu thời.của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu.
Trương Tấn Bửu là một võ tướng nhà Nguyễn, hai lần cùng với Lê Văn Duyệt chính thức lãnh chức Tổng trấn và Phó Tổng trấn thành Gia Định, lần thứ nhứt, cả hai nhận lịnh cùng lúc, tháng 7, năm Gia Long thứ 11[1812][1], lần thứ hai, Lê Văn Duyệt nhận lịnh tháng 5 năm Minh Mạng thứ nhứt [1820][2], Trương Tấn Bửu nhận lịnh tháng 3 năm Minh Mạng thứ 2 [1821][3], ông xin nghỉ hưu ở tuổi 74 [1825][4], đến tháng 6 năm Đinh hợi [1827] thì mất tại làng Phú Nhuận, thành Gia Định. Chính Tả quân Lê Văn Duyệt đã coi lo chôn cất cho Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, lo cả việc xin cấp tự điền và tìm mộ phu [5]. Ngôi mộ do chính Tổng Trấn Lê Văn Duyệt coi xây cất cho Trương Tấn Bửu nay vẫn còn, có địa chỉ ở 41 Nguyễn Thị Huỳnh, phường 8, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.
Thân thế – nơi đầu quân.
Sưu khảo gia phả, Trương Tấn Bửu là con ông Trương Tấn Khương và bà Trần thị Nghĩa, nhà ở ngọn rạch Cái Da, xưa thuộc làng Hưng Lễ [6], trong gia đình có bảy anh em, ông là người thứ ba[7]. Ông sinh năm Nhâm Thân (1752)[8]. Ông Trương Tấn Khương còn có tên thường gọi là Diễn. Thập niên 40 thế kỷ 20, thời gian viết “Tiểu sử Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu”, ông Lê Thọ Xuân vẫn còn tra cứu được địa bạ làng Hưng Lễ hồi mới lập, có một sở đất ghi tên ông Diễn là người khai khẩn. Hưng Lễ, Mỹ Lồng, Tân Hào, Sơn Đốc,…thời Ông Khương khẩn đất đều thuộc trấn Vĩnh Thanh, năm Minh Mạng thứ 4 [1823] thì thuộc huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long[9].
Về nhân cách, triều đình nhà Nguyễn ghi nhận Trương Tấn Bửu là người trọng hậu, giản dị, trầm tĩnh, có dũng lược[10]. Khi ông dâng biểu tự trình vì già yếu xin về hưu, vua Minh Mạng đã chuẩn cho giữ nguyên hàm và hưởng nguyên bổng lộc (ông được trật Chánh nhất phẩm năm Nhâm Ngọ [1822][11])
Theo Đại Nam Nhất thống chí tập 5, quyển 29, tỉnh Vĩnh Long, mục nhân vật, ta sẽ thấy ghi chép “ Trương Tiến Bửu: người huyện Bảo An, đầu đời trung hưng, theo đi đánh giặc, lập nhiều công lao, làm đến Phó tổng trấn thành Gia Định”.[12]
Theo Liệt truyện thì Trương Tấn Bửu đầu quân với Nguyễn Vương ở Vàm Nao (Hồi Oa): “…đầu năm Đinh Mùi nghe vua từ nước Xiêm về, Bảo tụ họp nghĩa dũng hưởng ứng, vua đến Hồi Oa, Bảo đến yết kiến, vua cho chức Khâm sai đốc chiến cai cơ,…”[13].
Nhưng có lẻ duyên gặp gỡ Quân – Tướng giữa Nguyễn Vương và Trương Tấn Bửu thật sự diễn ra vào khoảng thời gian giữa trận đánh ở sông Ba Lai giữa quân Nguyễn Vương và Tây Sơn vào tháng 10 năm Đinh Mùi [1787] – theo kế sách ẩn quân, chờ thuyền lương của Tây Sơn rút đi, đối phương bị giảm binh lực rồi phản công của Nguyễn Vương
Năm 1780 Nguyễn Ánh xưng vương.
Năm Đinh Mùi (1787) là năm liên tiếp diễn ra các cuộc giao tranh giữa quân Nguyễn vương và quân Tây Sơn ở vùng đất Gia Định. Bên tiến, bên thối. Bên thắng thì cố giữ lấy đất, bên thối tìm mưu giành lại hoặc củng cố giữ lấy nơi trọng yếu khác.
Đinh Mùi, 1787, tháng 9,
Nguyễn Vương tiến đánh Sài Gòn qua cửa Cần Giờ. Lúc ấy Sài Gòn do Thái bảo Phạm Văn Tham của Tây Sơn trấn giữ. Nguyễn Vương không hạ được thành, lui về Hổ Châu.
Lê Văn Quân đánh, phá Tây Sơn ở Ba Lai, Ngự Úy Nguyễn Văn của Tây Sơn bày chiến thuyền chặn cửa sông để ngăn chận. Đang đêm Văn Quân cho lính lẻn vào đốt trại. Quân Tây Sơn rối loạn. Nguyễn Văn bị chém (trong trận này quân Nguyễn Vương chỉ đánh phá đồn ở Ba Lai chớ chưa chiếm được đồn). Quân Lê Văn Quân thu được nhiều ghe thuyền và khí giới rồi thừa thắng tiến đánh Mỹ Tho. Nghe tin Lê Văn Quân đánh Mỹ Tho, Phạm Văn Tham từ Sài Gòn đem quân ứng cứu Mỹ Tho. Lê Văn Quân không chống nổi, lui quân. Nguyễn Vương đi Vọng Các rồi về Hổ Châu.
Đinh Mùi, 1787, tháng 10,
Nguyễn Vương sai Hồ Văn Lân đánh quân Tây Sơn ở sông Lương Phú. Đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Mân thua, bỏ chạy qua Thán Lung. Chưởng cơ Châu và Hữu hiệu Huấn của Tây Sơn đem binh thuyền, sở bộ đến đầu hàng Nguyễn Vương. Nguyễn Vương cho làm tiên phong đi đánh lại chính quân của Tây Sơn ở sông Mỹ Lồng, đồng thời cử Nguyễn văn Trương và Đỗ Văn Hựu theo tập hậu. Chưởng Cơ tên Trì của Tây Sơn trấn giữ Mỹ Lồng bị thua, bỏ trại chạy. Nguyễn Vương tiến đóng Mỹ Lồng, sai Tôn Thất Huy và Lê văn Quân đắp đồn phòng thủ, sai Tôn Thất Hội dẫn quân đóng ở Ba Giồng để tiếp ứng. Phạm Văn Tham của Tây Sơn nghe tin quân của Trì ở Mỹ Lồng bị thua, liền đem hết quân từ Sài Gòn xuống tiếp cứu Mỹ Lồng. Quân Nguyễn Vương cố thủ, Phạm Văn Tham phá không được lui về Ba Lai, cùng lúc Nguyễn Văn Hưng của Tây Sơn đem 30 thuyền vận tải từ Quy Nhơn vào, trong lúc chờ đủ lương thì góp sức, lấy thuyền lương giúp Phạm Văn Tham chống giữ Ba Lai. Nguyễn Vương phán đoán thuyền của Hưng chỉ lo việc vận lương chớ không dự chiến, khi thuyền lương đầy thì sẽ lui quân. Nguyễn Vương lệnh cho các đội cứ đóng quân cố thủ. Và đúng như Nguyễn Vương phán đoán, khi thuyền gom đủ lương, Văn Hưng đem thuyền và quân đi. Quân Phạm Văn Tham bị giảm binh lực, yếu thế, quân Nguyễn Vương phản công, đánh Ba Lai, Phạm Văn Tham thua, rút về Mỹ Tho, lại thua nên lui về Sài Gòn. Từ Mỹ Lồng, Ba lai, Nguyễn Vương tiến đóng Vàm nao[14].
Bối cảnh trận đánh ở Ba Lai và sưu khảo của Lê Thọ Xuân tường thuật câu chuyện gặp gỡ giữa Nguyễn Vương – Trương Tấn Bửu cho thấy trong thời gian thực hiện kế sách đánh chiếm Ba Lai, Nguyễn Vương đã bị lạc quân và lạc đường, chỉ với hai quân hộ giá, đi ghe nhỏ, đêm khuya, lại đi nhằm vào một ngọn rạch cùn[15], phải lên bộ càn rừng nhắm hướng trở lại quân cơ, giữa đêm đói mệt, đã gỏ cửa một căn nhà còn đèn, gần bờ sông cái Mít[16], xin cho tá túc vào một khuya tháng 10 năm Đinh Mùi 1787. Nhà Nguyễn Vương xin tá túc là nhà ông Trương Tấn Khương.
Duyên gặp gỡ Quân – Tướng đã khởi đầu từ đây.
Ông Khương cho tá túc và cho nấu cơm đãi khách. Lúc chờ cơm, ông han hỏi nguyên lai. Khách chỉ thưa là người Trung kỳ vô mua bán ở Mỹ Lồng, gặp quân Nguyễn Vương đánh quân Tây Sơn ở đó, thuyền buôn bị đốt, ba người định chạy ra Tân Hào rồi lần dò ra biển Ba Tri để chờ cơ hội quá giang về xứ.
Có thể, do thấy cái may đã ở được nhà người hiền và cũng cần hồi phục sức lực sau trận đánh và cũng nán lại dò la tình hình Tây Sơn ở sông Hàm Luông, sáng ngày, nhóm ba người của Nguyễn Vương đã xin cho ở lại giúp việc. Ông Khương cho ra ở chòi ruộng cách nhà chừng cây số, ở với con trai là Trương Tấn Bửu.
Lúc ấy Bửu đã là một tráng niên giỏi võ, sức mạnh, vóc to, tánh tình trầm tĩnh, cử chỉ đoan trang. Khách dáng người nho nhả mà võ nghệ cũng có vẻ tinh thông. Khách và con trai chủ nhà đều đem lòng mến phục nhau.
Đôi ba ngày (thời gian lưu lại đây không thể lâu dài vì trong tháng 10 diễn ra ít nhất là ba trận đánh), trước khi rời đi, khách tỏ thật người trẻ tuổi nhất là vương Nguyễn Phúc Ánh, Bửu thưa với cha mẹ, xin theo phò Nguyễn Vương. Năm đó Trương Tấn Bửu 36 tuổi.
Bốn người đi ghe ra Hàm Luông, quân của Tây Sơn vẫn còn chặn ở cửa sông, xuống lên tuần tiễu, Trương Tấn Bửu lủi ghe vào một xẻo nhỏ, là một ụ ghe, ụ ghe nhà ông Cai việc Trần Văn Hạc.
Trương Tấn Bửu và ông Hạc cùng làng, quen biết nhau. Biết việc Nguyễn Vương, ông mau mau dấu bốn người bên cái cồn đất trên sông hàm Luông, ngang nhà, cồn mới nổi, chỉ có bần rậm như rừng, bùn non quá gối, không người vãng lai. Nguyễn Vương chỉ lội bùn được một đoạn rồi không lội nổi nữa, ông Hạc đã cỏng Nguyễn Vương trên vai, vô sâu vào giữa cồn cho kín, khuất. Ngày ngày ông Hạc sáng đưa ghe qua cồn ẩn trốn, chiều tối đón về nhà[17].
Thời gian này Trương đi khắp trong vùng chiêu mộ nghĩa dõng theo phò Nguyễn Vương.
Sự nghiệp.
Duyên vừa mới gặp, Trương đã hai lần giúp vương thoát hiểm, lại chiêu mộ người theo, nghĩa tình thấm đậm. Cuối tháng 10 năm 1787, vừa đến Vàm Nao, Nguyễn Vương liền ban chức Khâm sai đốc chiến Cai cơ, lệ thuộc Hậu quân Tôn Thất Hội điều khiển[18].
Đến tháng 10 năm Kỷ dậu [1789], ông được thăng làm Chánh trưởng chi Hậu Chi [19]. Trong thời gian này, Trương Tấn Bửu được phong tước hầu, sách Quốc sử quán triều Nguyễn không thấy ghi, nhưng có một bằng cấp đã ghi “ Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu “ [20] đề ngày 13 tháng 6 năm Cảnh Hưng 51 (1790) – Long có thể là tên riêng thường dùng, như thân phụ ông là Trương Tấn Khương có tên riêng là Diễn và tước hầu đã được ban trước tháng 6 năm 1790.
Tháng 2 năm Đinh Tỵ [1797], Trương đương chức Khâm sai đốc chiến cai cơ chánh trưởng chi Hậu chi Tiền quân được thăng làm Phó tướng Tiền quân cùng lúc với Khâm sai tổng nhung cai cơ chánh trưởng chi Tả chi là Phan Tiến Hoàng[21]
Năm Kỷ mùi [1799], Nguyễn Vương tiến đánh Quy Nhơn. Tháng 5 quân Phó tướng Trương Tấn Bửu và các chi dinh Tiên phong được lịnh tiến đánh Tây Sơn ở An Giá và Ngạc Đàm, quân Tây Sơn thua, bỏ bảo chạy. Tháng 6 quân Nguyễn Vương lấy được thành[22], quy phục 1 vạn 300 người, đổi tên thành Quy Nhơn là thành Bình Định.
Qua năm Canh thân [1800] tháng 4, Tây Sơn trở lại vây thành Bình Định. Nguyễn Vương cử đại binh từ Gia Định ra tiếp viện. Phó tướng Trương Tấn Bửu tham gia 2 trận đánh, trận đầu ở Xuân Đài (Phú Yên), trận kế là ở Hà Nha. Tháng 5, khi quân của Nguyễn Văn Thành đến Xuân Đài (Phú Yên) thì điều phái Đô thống chế Lê Chất, Phó tướng Nguyễn Đình Đắc và Trương Tiến Bảo, ba đạo quân trực tiếp cùng tiến đánh Tây Sơn ở Xích Thổ và Thanh Kỳ (cùng ở vùng Xuân Đài – Phú Yên). Trận Xuân Đài thắng lớn. Tướng sĩ được thưởng 3.000 quan tiền Quân Nguyễn Vương lấy được bảo Hội An.[23]
Năm Nhâm tuất, Gia Long 1 [1802], tháng 5, Nguyễn Vương lập đàn ở đồng An Ninh tế Trời Đất, tuyên cáo lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long. Tháng 7, Trương Tấn Bửu nhận chức Chưởng dinh, vẫn lãnh Phó tướng Tiền quân[24], đóng ở Bắc Thành.
Khi vừa lên ngôi, vua Gia Long đã sai người sang nhà Thanh cầu phong.
Tháng 10 năm Quý hợi, Gia Long 1 [1803], để chuẩn bị cho việc nghinh đón sứ thần, vua Gia Long sai Chưởng dinh Trương Tấn Bửu và Tham tri Nguyễn Văn Lễ đo đạc chiều dài đoạn đường từ thành Thăng Long đến cửa Nam Quan [25],
Qua tháng giêng năm Giáp tý, Gia Long năm thứ 3 [1804] sứ nhà Thanh là Án sát Quảng Tây là Tề Bố Sâm đến cửa Nam Quan. Vua ra Bắc thành đón tiếp. Chưởng dinh Trương Tấn Bửu, Binh bộ Đặng Trần Thường, Tham tri Binh bộ Nguyễn Văn Lễ nhận nhiệm vụ đưa quân ra cửa ải dàn quân lễ đón chào[26]
Năm Bính dần, Gia Long thứ 5 [1806],
Tháng 2, có 30 chiến thuyền của giặc biển Tề Ngôi lẫn vào Hoa Phong đốt cướp bảo Phượng Hoàng. Phó tướng Trương Tấn Bửu nhận lịnh đi đánh đuổi, xong được lịnh cùng các quan ở Bắc Thành và quan ở các dinh trấn từ Bình Thuận trở ra, mỗi dinh một người về chầu ở kinh đô Huế [27] .
Tháng 11, Gia Long triệu Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành về kinh, giao Phó tướng Trương Tấn Bửu quyền lãnh công việc Bắc Thành [28].
Mậu thìn, Gia Long 7 [1808], tháng 3, 80 thuyền giặc biển Tề Ngôi lại quấy rối biển Quảng Yên, xâm phạm sông Bạch Đằng, cướp phá trấn lỵ Quảng Yên, Phó tướng Trương Tấn Bửu nhận quyền điều bát nhung vụ, điều Hữu đồn Tiền quân Bùi Văn Thái, Phó thống Tả đồn Nguyễn văn Trị đem binh đến đánh, chánh quan thập cơ quân thần võ Trần Văn Thìn đem quân bộ tiếp ứng[29], đuổi giặc tan tác ở Tiên Minh.
Mùa xuân năm Canh ngọ [1810], nhận chiếu đi phát chẩn cho dân đói ở Bắc thành cùng với Phạm Như Đăng, Nguyễn Đình Đức.
Xảy đến việc Nguyễn Văn Thành có tang mẹ, vua thuận cho đưa quan tài về an táng ở quê. Lấy Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng Trấn Bắc thành, Lê Chất làm Hiệp Tổng Trấn, Phạm Như Đăng làm Tham hiệp Tổng Trấn. Và lệnh cho Phó tướng Trương Tấn Bửu và Nguyễn Đình Đắc đều cùng đem theo bộ thuộc theo Nguyễn Văn Thành về Kinh[30]
Đến tháng 11, lại gặp lúc Tổng Trấn thành Gia Định Nguyễn Văn Nhân đi kinh lược Nam Vang, thu xếp việc Xiêm la muốn uy hiếp Chân Lạp; vua sai Trương Tấn Bửu thụ lý Tổng Trấn ấn vụ Gia Định thành[31].
Tháng 7 năm Nhâm thân, Gia Long năm thứ 11 [1812], Trương Tấn Bửu chính thức lãnh chức Phó Tổng Trấn thành Gia Định cùng lúc với Tả quân Lê Văn Duyệt làm Tổng Trấn, vua cấp cho 3.000 quân thuộc quân Thần sách ở Thanh Nghệ cùng Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành đi theo vào Gia Định.
Vào tháng 2 năm Đinh Mão [1807], Gia Long có lệnh cho phép dân Bắc thành được mộ dân ngoại tịch làm lính, Trương Tấn Bửu mộ được hơn 170 người, xin biên làm các đội Trung nghĩa của Trung quân, nay vua cũng cho theo Bửu vào Gia Định để sai khiến[32]
Đến năm Quý dậu [1813], tháng 4, Trương Tấn Bửu tạm thay việc thành trong lúc Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt và Hiệp tổng trấn là Ngô Nhân Tĩnh đại phát thủy binh hơn 13.000 người đưa quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn về nước[33].
Sang tháng 6 năm Ất Hợi [1815] Phó Tổng Trấn Trương Tấn Bửu nhận quyền Tổng Trấn Gia Định trong lúc Tổng Trấn Lê Văn Duyệt được triệu về Kinh[34].
Năm Bính Tý [1816], tháng 4, Nguyễn Văn Thành bị thu ấn Chưởng Trung quân[35]. Tháng 9, đương chức Phó tổng trấn Gia Định khâm sai chưởng dinh lãnh Phó tướng Trung quân là Trương Tấn Bửu được triệu về Kinh, giao quyền giữ ấn vụ Trung quân[36].
Kỷ mão, Gia Long năm thứ 18 [1819], tháng 2 Trương Tấn Bửu, Nguyễn Văn Vân, Nguyễn Khoa Minh nhận lịnh trông coi việc sửa Thái Miếu. Việc xong, lính và thợ được thưởng 5.000 quan tiền. Quan thì thưởng tiền bổng 1 tháng.
Ngày mùng 1 tháng giêng năm Canh Thìn [1820], Minh Mạng lên ngôi ở điện Thái Hòa
Tháng 4, Canh thìn, Minh Mạng 1 [1820], ở Sơn Lăng có việc, vua điều Bửu làm Đề đốc tả biên Bộ binh [37]
Tháng 5, Chưởng dinh Trương Tấn Bửu nhận lịnh trông coi đúc ấn hai ấn vàng, một khắc chữ “Thế tổ Cao hoàng đế bảo” và một khắc chữ “Cao hoàng hậu bảo” [38]
Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821],
Phó Tổng Trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý bị tội.
Tháng 3, vua sai Khâm sai chưởng dinh lĩnh Trung quân phó tướng thự lý ấn vụ là Trương Tiến Bửu lĩnh chức Phó tổng trấn thành Gia Định và khiến hơn 200 người các đội thuộc vệ Tín trực đi theo. Lúc này Trương Tấn Bửu tuổi đã xấp xỉ 70, được triều đình ghi nhận là người trọng hậu, giản dị và trầm tĩnh[39].
Năm Quý mùi, năm Minh Mạng thứ 4 [1823]
Tháng 2, đào kinh Vĩnh Tế (đợt 2). Duyệt xin cấp 35.000 binh dân ở thành Gia Định và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, đồn Uy Viễn, cùng hơn 10.000 binh dân Chân Lạp ra làm, mỗi tháng đều cấp tiền gạo như lệ năm Gia Long. Làm chưa bao lâu thì Duyệt bệnh, vua sai Phó Tổng Trấn Bửu làm thay. Đến tháng 4, công việc đào sông chỉ còn hơn 1.700 trượng, vua sai dừng việc. Lê Văn Duyệt được thưởng lên một cấp, và hai tấm đoạn (một đoạn mãng, một đoạn hoa). Trương Tấn Bửu và các giám tu chuyên biệt được thưởng kỷ lục và bạc, lụa theo thứ bậc[40].
Tháng 8, Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt dâng biểu xin về triều. Vua chuẩn cho hơn 1.000 người biền binh bộ hạ đi theo. Sai Phó tổng trấn Trương Tiến Bửu quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn, vừa Tiến Bửu ốm, bèn sai thự Tiền quân Trần Văn Năng làm thay[41]
Tháng 11 Ất dậu, Minh Mạng 6 [1825], Trương Tấn Bửu dâng biểu tự trình xin hưu. Đương chức Chưởng dinh ấn vụ Trung quân. Minh Mạng bảo với bộ Hộ rằng: “Tiến Bửu ra sức đã lâu năm, công lao rõ rệt. Nay già lại yếu, phải nên thể tất mà cấp dưỡng” cho giữ nguyên hàm và cấp cho toàn bổng, cấp tập ấm cho cháu là Trương Tiến Lượng do các con đều đã mất[42]
Thực lục ghi: “ Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], Tháng 6, Chưởng dinh lĩnh Phó tướng Trung quân hưu trí là Trương Tiến Bửu chết. Bửu là người lão thành, thực thà trung hậu, trải theo chiến trận có công. Vua thương lắm, cho 2.000 quan tiền, 5 cây gấm Tống, cấp 3 người phu mộ” [43]
Tự Đức năm thứ 5[1852], được thờ vào miếu Trung hưng công thần[44].
Đến Tự Đức năm thứ 11 [1858], lại được thờ trong Hiền Lương từ[45] .
Đôi dòng về Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu thay lời kết.
Người xưa hay có câu nói “ tam thập nhi lập”, nhưng đến 36 tuổi (bối cảnh của nửa sau thế kỷ 18) mà ông Trương Tấn Bửu vẫn ở nhà, yên phận với công việc khẩn đất, ruộng cày. Xảy đến có nhân duyên Nguyễn Ánh lạc bước đến nhà, ở lại đôi ngày, cả hai, Quân – Tướng đều mến phục nhau, Trương Tấn Bửu mới theo phò Nguyễn Vương, lập được công danh.
Đường sự nghiệp của ông gần như không có trắc trở, làm đâu được đó, không thấy ghi chép nào ông bị giáng chức hay khiển trách, làm quan đến trật chánh nhất phẩm, về hưu lại được hưởng nguyên bổng lộc. Khi mất, vua tiếc thương.
Trải hai triều Gia Long và Minh Mạng, vua tôi kính hiếu.
Ông đã một lần quyền Tổng Trấn Bắc thành, tháng 11 Bính Dần [1806] thay cho Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành về Kinh.
Bốn lần nhận lịnh quyền Tổng Trấn thành Gia Định. Lần 1: thụ lý Tổng Trấn ấn vụ, tháng 11 năm Canh Ngọ [1810], thay Tổng Trấn Nguyễn Văn Nhân đi kinh lược Chân Lạp. Lần 2: làm thay việc thành, tháng 4 năm quý Dậu [1813], thay Tổng Trấn Lê Văn Duyệt hộ tống vua Chân Lạp Nặc Chân về nước. Lần 3: quyền Tổng Trấn Gia Định, tháng 6 năm Ất Hợi [1815], thay Tổng Trấn Lê Văn Duyệt được triệu về Kinh. Lần 4: Phó tổng trấn Trương Tiến Bửu quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn, tháng 8 Quý Mùi [1823] thay Tổng Trấn Lê Văn Duyệt xin về triều chầu vua. Vừa lúc đó ông lâm bịnh nên cử Trần văn Năng làm thay.
Ở tuổi đã hơn 70 (tháng 4 năm1823), ông đã thay Lê Văn Duyệt lúc đó bị bệnh mà điều động 45.000 binh dân (35.000 của Gia Định và 10.000 của Chân Lạp) đào kinh Vĩnh Tế.
Ông được người dân yêu kính. Câu cửa miệng “ Chánh tướng Duyệt , Phó tướng Luông” đã một thời lan truyền trong dân chúng ở Gia Định với lòng yêu kính người hiền tài, uy quyền và trọng hậu.
Cần Thơ, ngày 23 tháng 9 năm 2022
1 Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 843, về nhận lịnh với 3000 người thuộc quân Thần sách ở thanh Nghệ, cùng Ngủ quân và Tượng quân ở Bắc Thành theo đi thú ở Gia định
[2] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr.62
[3] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 122
[4] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007 , tr.460
[5] Lê Thọ Xuân, Tiểu sử Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, nhà in An Ninh, S ài Gòn, 1959,
[6] Lê Thọ Xuân , “ Địa bộ làng Hưng Lễ hồi mới lập thấy chép sở đất trước hết được 41 mẫu 6 cao 11 thước 7 tấc, vốn của “ Nguyên danh Diễn Trương Văn Khương”
[7] 7 anh em là 1. Trương Tấn Lợi.2. Trương Tấn Sĩ, 3. Trương Tấn Bửu , 4.mất nhỏ, 5. Trương Tấn Tịnh 6. Trương Tấn Toán 7. Trương Thị Thọ. Người em út của ông, bà Trương Thị Thọ, cho đến năm 1959, mộ phần vẫn còn ở tại Sơn đốc.
[8] Về hưu lúc 74 tuổi, năm Ất Dậu, 1825, xưa xài tuổi theo can chi, 74 là tuổi ta là sinh năm Nhâm thân
[9] Đại Nam Nhất thống chí tập 5, nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, q.29, tỉnh Vĩnh Long.
[10] Đại Nam liệt truyện 2, nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, truyện Trương Tiến Bảo
[11] Đại Nam thực lục tập 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr.188, trong dịp lễ rước thần chủ của Thế tổ Cao hoàng đế (Gia Long ) thăng phối tại đàn Nam Giao, Minh Mạng ban 8 ân điển, trong đó có “văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở lên, ở Kinh và ở ngoài, cấp một lần kỷ lục”. Bửu được thăng trật trong dịp này.
[12] Trương Tấn Bửu 張進寶 , chữ Hán 進 có hai âm Tấn, Tiến, cùng nghĩa, chữ 寶 có hai âm Bửu, Bảo, cùng nghĩa. Quốc sử quán triều Nguyễn, các bản dịch đôi chổ phiên âm Trương Tấn Bửu, đôi chổ ghi Trương Tiến Bảo, Trương Tiến Bửu. Khi trích dẫn chứng vẫn giữ nguyên văn.
[13] Liệt truyện tập 2, sđd
[14] Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr.229-230.
[15] Lê Thọ Xuân, ngọn rạch cùn này từ đó có danh là Ngã ba lạc, cũng kêu tắt là Ba lạc, theo lời kể của ông Chánh tổng tổng Bảo Phước hồi hưu Huỳnh Đại Hội
[16] Cái Mít là tên Nôm của sông Ba la trong Gia Định thành thông chí, nay là rạch Cái Mít, nằm trên địa bàn xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.[Phạm Hoàng Quân]
[17] Ông Hạc không theo đánh trận, khi Nguyễn Vương lên ngôi vua, phong quan tước, ông không nhận, vua ban cho một tám kim bài đề 4 chữ “miễn tử lưu linh” và cho hưởng huê lợi tất cả các cù lao trên sông Hàm luông – từ đồn Hàm Luông ra cửa biển.
[18] Liệt truyện tập 2 , sđd
[19] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr.252
[20] Lê Thọ Xuân , sđd.
[21] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 349
[22] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr. 386
[23] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr. 411, 413,419
[24] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, trang 516
[25] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 573
[26] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 581
[27] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr 654
[28] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 684
[29] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 ,tr. 723
[30] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 780
[31] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr.802
[32] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr.843
[33] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr. 860
[34] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr.902
[35]Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007 , tr924
[36] Đại Nam thực lục 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 935
[37] Liệt truyện, sđd
[38] Đại Nam liệt truyện 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr 61
[39] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr 122
[40] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr 259 và 280
[41] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr 301
[42] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 460
[43] Đại Nam thực lục 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr 641
[44] Lê Thọ Xuân , sđd.
[45] Lê Thọ Xuân , sđd