
Hồ Bạch Thảo
Tháng giêng năm Canh Thân [25/1-24/2/1800] bộ binh của Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu đánh chiếm Thạch Tân [Bến Đá, chỗ tiếp giáp huyện Hoài Nhơn và Quảng Ngãi], thủy binh của Tư đồ Võ Văn Dũng vào cửa Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định], thế quân rất mạnh. Phó tướng Hậu quân Nguyễn Văn Biện từ đồn Thạch Tân phải rút quân vào thành Bình Định. Quân Tây Sơn tiến sát dưới thành; Lưu trấn Võ Tánh chia quân giữ chặt, tuy bên địch nhiều lần khiêu chiến, Tánh vẫn đóng chặt cửa thành không động quân. Diệu bảo Dũng rằng:
“Tánh không ra đánh là muốn làm mỏi mệt quân ta”.
Bèn đắp lũy dài vây bọc cả bốn mặt ngoài thành, làm kế đóng giữ lâu dài.
Bấy giờ hàng tướng là Phó trưởng chi chi Tiền du Trung quân Phạm Văn Điềm làm phản, chiếm giữ Phú Yên. Khi quân Tây Sơn đến Bình Định, Võ Tánh truyền hịch triệu hết quan quân ở Phú Yên về thành. Trưởng chi Nguyễn Văn Nguyện đã chở tiền lương đi trước. Lưu thủ Hồ Đức Vạn bèn sai Điềm cùng Trưởng chi Thái Văn Long đem quân chi Tiền du tiến theo, còn tự mình mang thuộc hạ đi sau, ban đêm vượt đèo Cù Mông [thành phố Qui Nhơn, giáp Phú Yên]. Điềm cùng với bè đảng là bọn Đô úy Đỗ Văn Nguyệt, Ngô Văn Huyền, Đô ty Nguyễn Văn Súy, Hoàng Văn Trang mưu phản, nhân lúc Vạn không ngờ đánh úp; Long chạy về Bình Định, còn Vạn không biết số phận ra sao. Cai bạ Trần Minh Đức, Ký lục Võ Đức Thông và Trưởng chi Hữu chi Phan Văn Tự đều ở sau, nghe có biến bèn lui chạy về thành Diên Khánh. Điềm bèn giữ Phú Yên; Diệu, Dũng sai làm án ngự, bắt dân làm binh, chia đặt đồn sở để chống viện binh của quân Nguyễn.
Lưu trấn Diên Khánh là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Tánh và Đặng Trần Thường đem tình hình địch báo lên, Vương phán:
“Phú Yên là chỗ thế nào giặc cũng đánh, được không mừng, mất cũng không lo. Nếu đem trọng binh đến đánh, thì sự phòng bị Diên Khánh ắt đến sơ hở, sợ có sự lo ở đằng sau. Đã sai Phó trưởng chi chi Tiền du Thắng võ là Trần Văn Duyên hiệp cùng bọn Mai Tiến Vạn, Nguyễn Văn Quế đóng giữ cẩn thận ba đèo [Đại Lãnh, Sầm Dương và Gian Nan đều tại ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], dặn chớ khinh động”.
Nguyễn Văn Trương lại xin tự đem quân dưới quyền đến đóng ở cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa] để phòng thủy binh Tây Sơn vào đánh; Nguyễn Vương y cho. Nhân bảo các tướng rằng:
“Thành Bình Định là nơi căn bản của giặc, bị ta lấy được, thế tất giặc phải tranh lại. Nếu nó không đến thì ta cũng đánh trước để thu toàn cõi. Nay trong thành quân tinh lương đủ, có Võ Tánh ở đó, có thể giữ được không lo. Duy đương mùa gió bấc thổi mạnh, hoặc thủy binh của nó nhân thuận gió vào cướp cũng chưa biết chừng, không thể không phòng bị”.
Bèn sai Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêm quản Tả đồn quân Ngự lâm đóng giữ Trấn Biên [Biên Hòa], Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức kiêm quản Hữu đồn quân Ngự lâm đóng giữ Mỹ Tho, Phó thống Tả đồn quân Thần sách Hoàng Viết Toàn đem binh thuyền giữ cửa biển Cần Giờ, tuần xét nghiêm. Lại thấy số quân Bình Thuận ít, sắc cho quan chuyển vận hết lương tiền về chứa ở Gia Định, không để cho quân địch xông đến cướp.
Lấy Khâm sai thống binh cai cơ Mạc Tử Thiêm làm Trấn thủ Hà Tiên.
Tháng 2 [24/2-24/3/1800], sai Hoàng tử thứ hai là Hy quản suất Tiền chi và vệ Cung võ dinh Trung quân, Hiệu úy Hoàng Văn Khánh làm phó, đi thuyền tới Vũng Tàu chia phái quân đi tuần biển. Nếu có giặc đến, phải đốt lửa ở trên đài báo hiệu trước và tức khắc chạy báo tin.
Vương cho là người Hồng Mao quen thủy chiến, sắc cho thuyền trưởng là Khâm sai cai đội Ba La Di tập họp các thuyền buôn lại, khiến dự bị quân nhu và chiến cụ để đợi điều khiển. Sai Khâm sai thuộc nội cai đội Nguyễn Văn Chấn [Vannier] quản tàu đại hiệu Phương phi, Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] quản tàu đại hiệu Long phi, Lê Văn Lăng quản tàu đại hiệu Bằng phi, theo Trung quân sai phái đánh giặc; bọn Chấn đều là người Pháp.
Bấy giờ có nhiều giặc biển từ nước ta đến đầu thuận nhà Thanh, Vua Gia Khánh chủ trương nếu là người Trung Quốc thì giao cho Tổng đốc Lưỡng Quảng Cát Khánh lo việc định cư; nếu là người nước ta thì cho trả về nguyên quán:
“Ngày 26 tháng giêng năm Gia Khánh thứ 5 [19/2/1800]. Dụ các Quân cơ đại thần:
Cát Khánh dâng tấu triệp về việc giặc cướp hối tội, xin đầu thú. Ðầu sỏ đảng cướp Phùng Thắng nghe rằng các giặc cướp ra đầu thú đều được tha tội; nhân mang người nhà cùng đồng bọn 41 người xin đầu thuận. Bọn Cát Khánh phân loại an sáp, và nghiêm cách ước thúc, việc liệu biện rất tốt. Lại thông sức các Ủy viên cùng quan lại địa phương, chiêu phủ một cách ỗn thỏa trong vùng biển nội địa; không được tự tiện vào đất Di hoặc biển Di. Việc làm này cũng đúng. Bọn cướp này cướp bóc trên biển đã lâu ngày, tất có tích trử được tài sản, nay lệnh địa phương an sáp; sợ bọn lại dịch thấy được bọn này từng là giặc cướp, nên tìm cách hạch sách, rồi sinh nên chuyện, không thể không tìm cách nghiêm cấm. Còn bọn cướp An Nam gốc Nông Nại [Ðồng Nai] nếu nghe tin đến xin đầu thuận, thì nên đưa về bản xứ. Không riêng người Nông Nại cần phải cự tuyệt, người An Nam [phe Tây Sơn] cũng không thể thu lưu. Lần này bọn cướp ra đầu thú nhiều, lệnh viên Tổng đốc lưu tâm tra xét, nếu trong đó có người An Nam, Nông Nại, thì ước lượng cấp phí tổn cho trở về. Ðem dụ này truyền để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 58, trang 14-15)
Tổng đốc Lưỡng Quảng lại tâu số giặc biển trở về đầu thú càng nhiều, Vua Gia Khánh căn dặn viên Tổng đốc tìm các nơi xa biển cho định cư và không cho đăng lính tại quận huyện:
“Ngày 27 Canh Tuất tháng 2 năm Gia Khánh thứ 5 [22/3/1800]. Lại dụ:
Bọn Cát Khánh dâng tấu triệp về việc cướp biển nối gót đầu thú. Bọn cướp biển nối gót đầu thú, vốn do nhất thời cải hối; nhưng bọn này trải qua nhiều năm làm giặc cướp, ương ngạnh khó thuần; gần đây ra đầu thú quá nhiều, khó mà chắc vĩnh viễn giữ pháp luật. Viên Tổng đốc nên lưu tâm phòng bị; bọn phỉ đã chuẩn cho đổi mới, đáng phải thông qua phủ, châu, huyện an trí. Nhưng dân số quá nhiều, làm sao có thể cách ly từng người; nếu cho chúng tụ tập tại gần biển, thì tập quán cũ nỗi lên , thực là quan hệ. Viên Tổng đốc tâu rằng, hiện tại tra rõ, cho vào đất Sa Ðiền (1) [沙田] ước lượng phân cấp, như vậy cũng có thể thi hành. Nếu ra lệnh quan địa phương cho sung vào dân tráng, thì quyết không được; bọn cướp biển này cho sung vào dân tráng, thân cận với quan địa phương thì ngược ngạo thành tính, rồi ỷ thị phục dịch quan, tàn ngược nhân dân, rất có hại cho địa phương. Nay lệnh cho Cát Khánh đưa các phạm nhân đã ra đầu thú, phân tán bố trí, đến các châu huyện tương đối xa biển để an sáp. Trù tính cách yên ỗn, lệnh cho mỗi người tự mưu sinh, dần dần trở thành người lương thiện. Các khi giới, khẩu pháo cần kiểm nghiệm thu trử; các tàu thuyền giao nạp, tức cho sung công, để làm phương tiện bắt cướp. Còn các bọn cướp người An Nam, nếu tự nguyện đầu thuận, nhất định không được thu nạp, nên tùy lúc [thuận tiện] gửi về nguyên xứ, để miễn gây chuyện.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 60, trang 28-29)
Tháng 3 [25/3/23/4/1800] người thiểu số tại các sách Băng Lỗ và Nha Dạ đánh đốt đồn Phố Châm ở Thuận Thành [Ninh Thuận]; Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn cho quân tuần tiễu, bắt được hơn 10 người đem giết.
Tướng quân thượng đạo Nguyễn Văn Thụy từ nước Vạn Tượng trở về, mật bày việc binh; Vương sai sang hội với Quốc trưởng nước Vạn Tượng để đánh lấy Nghệ An. Thụy xin phái thêm Khâm sai cai cơ Phan Văn Ký đem 150 người lính theo để sai sử và Tham luận Trần Thái Tín theo đi làm việc giấy tờ; Vương y cho.
Đại duyệt các quân tại đồng Tập Trận [Gia Định], Vương dụ các tướng sĩ:
“Binh cách không phải việc thánh nhân muốn đâu, chỉ là để cứu dân khỏi vòng nước lửa mà thôi. Từ thuở Tây Sơn nổi loạn, vận nước suy vi, ta ngày đêm nhọc mệt, chỉ lo trả thù và yên dân. Kinh dinh trăm trận đã 13 năm nay, căm giận xông pha đều nhờ sức của tướng sĩ cả. Mới đây ta lấy lại được Bình Định, cũng muốn xếp giáp nghỉ quân. Nhưng vì giặc lại đến vây thành không thể không đánh tan ngay đi. Ta sắp thân đem sáu quân, tiễu trừ đảng giặc, tướng sĩ đều nên cùng lòng gắng sức, đánh giặc lập công, để trên thì thỏa hồn tổ tiên, dưới thì hả giận dân chúng. Sau khi công việc yên rồi, sẽ định công phong thưởng, đã có lệ thường. Nếu lòng còn do dự, nhát sợ không dám tiến thì có quân pháp ở đó”.
Tháng 4 [24/4-23/5/1800], bọn hàng tướng ở thành Bình Định là Trưởng chi Trung chi Võ Văn Sự và Trưởng chi Hữu chi Nguyễn Bá Phong đem đồ đảng làm phản, giết quân Nguyễn, mở cửa thành phía bắc. Võ Tánh sai Vệ úy vệ Nhuệ Phong là Ngô Văn Sở chiếm giữ cửa, bọn quân phản đã ra trước ngoài thành hơn 400 người, số còn lại thì không dám ra; Tánh liền xét bọn đồng mưu đem giết hết, phòng giữ nghiêm mật hơn. Lưu trấn thần Diên Khánh được tin thám tử báo, cáo cấp trình lên. Vương bèn cử đại binh cứu viện, lưu Đông cung Cảnh trấn giữ Gia Định, lấy Chưởng cơ quản Trường đà Nguyễn Văn Nhân và Hình bộ Nguyễn Tử Châu giúp việc.
Đảng giặc là giặc biển Tề Ngôi đem 12 chiếc thuyền lấn vào vũng Hòn Khói [vịnh Vân Phong, Khánh Hòa]. Phó trưởng chi Trần Văn Duyên đem quân đón đánh, giặc không lên bờ được, lại đem thuyền ra biển.
Vương thấy đại quân đi đánh nên quân giữ Gia Định còn ít, bèn ra lệnh cho các dinh sở tại đặt thêm điếm canh để phòng kẻ gian. Lại thấy quân lính đi đánh giặc có nhiều người trốn, sai đạo Hưng Phước [Bà Rịa] chia đi tuần các đường trọng yếu để xét hỏi. Vương thân đem thủy quân ra Vũng Tàu, cho Hoàng tử thứ tư đi theo; sai Nguyễn Đức Xuyên quản binh và voi tiến theo đường bộ.
Tháng 4 nhuần [24/5-21/6/1800] quân Nguyễn Đức Xuyên đến Diên Khánh, nghe tin thám tử báo quân địch từ Phú Yên trở ra đắp đồn hơn chín chục nơi, thế quân rất lớn. Xuyên thấy quân giặc nhiều chưa thể vội tiến, bèn đóng quân ở đất Màn Màn và dâng sớ xin lui về Phan Rí để chờ thủy quân đến. Vương truyền dụ cho lưu quân ở Diên Khánh chờ lệnh.
Thuyền Vương tiến đến cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa]; sai Hoàng tử thứ hai là Hy, lưu trấn Diên Khánh, có Tả tham tri Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế phụ tá; sai Nguyễn Đức Xuyên cùng Nguyễn Văn Tánh, Đặng Trần Thường đem quân và voi thẳng đến lấy Phú Yên, Nguyễn Văn Trương đem thủy quân tiến trước.
Lại dụ tướng sĩ các dinh thủy bộ rằng:
“Trong khi ra trận, thành bại quyết định trong giây phút, được thua phân nhau trong chốt lát, điều ấy quan hệ không phải nhỏ. Ta nay thân cầm sáu quân, tiễu trừ nghịch tặc là ở một trận này. Các người phải nên cố gắng. Ai có thể bắt hay chém được chủ tướng giặc là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, thì chánh quản được phong tước công, phó quản trở xuống gia cho một hàm và thưởng tiền một vạn quan; còn bắt hay chém được thuộc tướng thì thưởng theo như lệ”.
Tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu nghe tin đại binh đến Diên Khánh, sai bọn Đại đô đốc Đào Công Giản và Đô đốc Tuấn đem quân vào Phú Yên, hợp với Phạm Văn Điểm đóng giữ các đồn Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên] và La Thai [La Hai, huyện Đồng Xuân].
Thuyền vua tiến đến Tích áo [Vũng Tích, thuộc tỉnh Phú Yên], sai Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành điều bát quân bản bộ và tướng sĩ vệ Ngũ thần và Tả đồn đến cửa biển Xuân Đài [huyện Sông Cầu, Phú Yên] theo đường bộ đánh giặc, bộ binh của bọn Nguyễn Đức Xuyên đều theo Thành tiết chế, Hộ bộ Trần Đức Khoan thì theo làm việc quân lương.
Dưới thời Vua Càn Long, bọn Lê Quýnh di thần nhà Lê tại Trung Quốc, không chịu cạo đầu dóc tóc theo phong tục Mãn Thanh nên bị giam cấm; nay Vua Gia Khánh ra lệnh tha, nhưng bị quản chế tại doanh Hỏa Khí:
“Ngày 4 tháng 4 Nhuần năm Gia Khánh thứ 5 [27/5/1800], dụ:
Tha những người An Nam bị giam cấm tại bộ Hình, gồm: Lê Quýnh, Trịnh Hiến, Lê Trị, Lý Bỉnh Đạo; an trí tại doanh Hỏa Khí; thưởng tiền lương như quân lính Bát Kỳ.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 84 trang 869)
Tháng 5 [22/6-21/7/1800], viên quan nước Chân Lạp là Cao La Hâm Sâm đem 5.000 quân và hơn 10 thớt voi đến Gia Định; Đông cung Cảnh ủy cho Lưu thủ Phiên Trấn Tống Phước Ngoạn đưa đến quân thứ.
Nguyễn Văn Thành điều quân đến Xuân Đài [huyện Sông Cầu, Phú Yên], sai Đô thống chế Lê Chất, Phó tướng Nguyễn Đình Đắc và Trương Tiến Bảo, ba đạo đều tiến, cùng quân Tây Sơn đánh nhau ở Xích Thổ và Thanh Kỳ đều thắng to, lấy được đồn Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên]. Đô đốc Tây Sơn là Tuấn và Phạm Văn Điềm chạy ra gò Ái Thạch, dựa thế núi để giữ. Thành lại thân đốc các quân tiến đánh; Đức Xuyên giục quân và voi tiếp ứng, các quân thừa thế đánh theo; quân địch thua to, lùi về đồn La Thai [La Hai, huyện Đồng Xuân, Phú Yên]. Thành bèn để viên quản dinh Tiên phong Nguyễn Văn Tánh ở lại đóng đồn ở Chi Phụ, rồi chia quân làm hai đạo, theo đường tắt vượt đèo mà tiến, đánh úp sau lưng. Quân Tây Sơn sợ hãi tan vỡ, Đại đô đốc là Đào Công Giản bỏ đồn chạy, Tánh đón đánh bắt sống được, còn Tuấn và Điềm thì chạy thoát. Quân Nguyễn bắt sống và thu được cờ trống súng ống khí giới địch không xiết kể. Tin thắng trận báo lên, thưởng cho tướng sĩ 3.000 quan tiền. Tù binh là tướng Đào Công Giản thì giam ở trong quân nhưng không giết; rồi Giản bị bệnh chết, sai đem xác gửi cho địch.
Vương sai truyền dụ Nguyễn Văn Thành rằng:
“Quân ta cùng giặc đánh nhau, đánh ba trận thắng ba trận, bọn giặc chạy tan, ta lấy được La Thai. Tuy chưa bắt được hết bọn hung đồ, nhưng cũng là toàn thắng. Đó thực là do đại tướng giỏi cầm quân và các quân vui theo mệnh lệnh. Ta rất khen. Nhưng phàm thắng trận luôn, trước phải dè sự tướng sinh kiêu, quân sinh lười. Nay quân giặc bị ta đánh thua, thế tất phải thêm quân tinh nhuệ để báo thù. Khanh nên cùng các tướng cùng lòng cùng đức, cẩn thận giữ gìn, tùy cơ mà chế biến để lập công to, đó là lòng ta mong mỏi”.
Cho Nguyễn Văn Thành năm thẻ ngự bài, hễ có sai người báo việc quân thì cấm thẻ này làm tin; tình trạng trong quân cứ ba ngày một lần báo, việc khẩn cấp thì báo lập tức.
Thuyền vua tiến đến vũng Phủ áo [Vũng Đuối], sai Chánh đội trưởng đội Nội hầu Trương Phước Đặng chia người đi các đạo bộ binh xem việc tác chiến thế nào, thì ghi chép chuyển đệ về.
Sai Thống chế Hữu đồn quân Ngự lâm là Từ Văn Chiêu và Phó thống chế Nguyễn Văn Điểm đem quân vượt núi Cù Mông [Qui Nhơn, giáp Phú Yên] đánh địch.
Cho thuyền trưởng người Hồng Mao [Âu Tây] là Ba La Di về nước, cấp cho một chiếc chiến thuyền.
Võ Tánh thân đem tướng sĩ trong thành mở cửa Nam, đánh lớn ở núi Tam Tháp, đốt phá lũy địch, đến chiều tối lại thu quân vào thành; quân Tây Sơn từ đó vây giữ càng chắc.
Sai Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức đem quân đến Cù Mông kiêm quản tướng sĩ quân Ngự lâm, chia phái đánh địch. Sai Hữu tham tri Hộ bộ Trịnh Hoài Đức đốc chở thuyền lương ở Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa] đến cửa biển Xuân Đài [huyện Sông Cầu, Phú Yên] để tiếp tế cho quân.
Nguyễn Văn Thành tiến quân đến Hà Nha [huyện Vân Canh, Bình Định]; quân địch giữ núi Lão Hương chống cự. Thành sai Nguyễn Đình Đắc và Lê Chất chia làm hai cánh tả hữu ; Trương Tiến Bảo làm trung quân, Thành và Nguyễn Đức Xuyên đem quân và voi tiếp ứng. Bảo thúc quân đánh trước mặt giặc, hai cánh tả hữu đánh giáp hai bên, quân địch thua chạy đến đồn Chủ Sơn, rồi tăng thêm quân đóng giữ. Thành đóng ở Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định], bày trận đối lũy với địch, các quân do sáu đường cùng tiến. Trong đồn bắn ra, tiếng súng không ngớt, quân Nguyễn hết sức đánh, nhưng không phá được. Vệ úy vệ Thần võ là Nguyễn Văn Sử chết trận, quân lính bị thương và chết cũng nhiều; Phó trưởng chi Hữu chi Tả đồn là Lương Văn Cương và Trưởng hiệu Nguyễn Văn Vân đem hơn 200 quân chạy sang hàng địch. Thành thấy binh cơ đã tiết lộ mà sức quân cũng mỏi mệt, bèn kéo quân về Thị Dã, đặt thêm đồn bảo ở Lão Hương, Hà Nha để chống giữ.
Triệu Hoàng tử thứ hai là Hy đem quân dưới quyền đóng đồn Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên]; ủy cho quan công đường dinh Bình Khang là bọn Lưu Tiến Hòa giữ thành Diên Khánh.
Tháng 6 [22/7-19/8/1800] Tướng quân thượng đạo Nguyễn Văn Thụy và Điển quân Lưu Phước Tường đem quân dưới quyền và quân Vạn Tượng theo đường núi đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An, đánh bại Đô đốc Nguyễn Doanh Nhạc ở Bố Đồn, lại đánh Phò mã Nguyễn Văn Trị ở Lam Đồn; Trị thua chạy. Bấy giờ phiên thần Thanh Hóa Hà Công Thái, thổ ty Hưng Hóa là Phan Bá Phụng đều nổi nghĩa binh hưởng ứng; tại Bắc Hà khắp nơi đều náo động.
Tướng quân thượng đạo Nguyễn Long khỏi bệnh, sai quản quân chi An Võ giữ đồn La Thai [huyện Đồng Xuân, Phú Yên], chiêu dụ người Đê ở Hà Di; tù trưởng các sách đem nhau đến hàng phục. Long sai đem cho cồng, thau và rượu thịt, muối gạo; rồi sai phòng giữ những đường xung yếu ở thượng đạo.
Sai Đô thống chế Lê Văn Duyệt đem quân theo đường Cù Mông [Qui Nhơn, giáp Phú Yên], kiêm quản phó tướng Hữu quân là Mạc Văn Tô và Nguyễn Đức Thành cùng tướng sĩ Hữu đồn quân Ngự lâm, thẳng tiến đến Phú Trung đánh địch. Sai Đô thống chế Tôn Thất Chương đem quân dưới quyền theo Lê Văn Duyệt.
Thuyền Vương tiến đóng ở cửa biển Cù Mông. Quân của Cao La Hâm Sâm nước Chân Lạp đến bảo Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên]; Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức tuyên dụ ủy lạo, ban cho quần áo và tiền, giục tiến đến Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định] theo Nguyễn Văn Thành điều khiển.
Thuyền chiến của Phó giám thành sứ Nguyễn Văn Yên chở thuốc đạn và vật tư từ Cù Huân ra, trên đường gặp bọn giặc biển Tề Ngôi cướp; thuyền sai Bình Thuận chở cá mắm cũng phần nhiều bị đón cướp. Nghe tin báo, Vương sai Nguyễn Văn Trương đem 50 chiếc thuyền ra đảo Thổ Dữ [Hòn Đất] dò bắt.
Nguyễn Văn Thành lại tiến công đồn Chủ Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định]. Trước sai đào hầm cạnh đồn đặt ngầm thuốc súng làm kế đánh địa lôi, khi hai quân dàn trận đối nhau thì phóng lửa. Tiếng nổ vang như sấm, đồn bị đổ hơn hai trượng. Địch đem hết quân liều giữ; quân Nguyễn đánh mãi không hạ được, Vệ úy Nguyễn Công Trọng bị súng địch bắn chết tại trận.
Sai Nguyễn Huỳnh Đức, Phạm Văn Nhân cùng với Đô thống chế Tống Viết Phước, Đô thống chế Mai Đức Nghị quản các hạng thuyền ghe giữ cảng Cù Mông, sai Quản dinh Ngũ thủy là Võ Di Nguy đóng giữ đồn Thước Áo, Quản dinh Tiền thủy Nguyễn Hữu Chính, giữ đồn hữu ngạn Cù Mông.
Sai Lê Văn Duyệt đốc suất các quân đánh Tư khấu địch là Định ở các vùng núi Hoa An [huyện Tuy Phước, Bình Định], Hoa Lộc [huyện Tuy Phước, Bình Định], đại phá, quân Nguyễn bèn chia đặt đồn trại đối lũy với địch.
Tháng 7 [20/8-18/9/1800] hàng tướng là Thống chế Hữu đồn Từ Văn Chiêu làm phản. Chiêu trước là tướng của Tây Sơn, nhân tư thông với vợ lẽ của Nguyễn Nhạc, sợ tội trốn đi, lẻn vào Gia Định theo nhà Nguyễn. Đến đây cùng với Phó thống chế Nguyễn Văn Điểm đem 500 quân trở về với Tây Sơn. Vương mật dụ bọn Nguyễn Văn Thành rằng:
“Bọn tiểu nhân giở giói, dù có hay không cũng chẳng đủ gì. Duy nghĩ binh cơ của ta bị chúng tiết lộ, nếu ta không đề phòng trước tất khó chống chế. Bọn khanh nên cẩn thận”.
Vương trở về Cù Mông, triệu Hoàng tử thứ hai là Hy đến hành tại, sai cùng quan công đường Phú Yên giữ đồn Hội An [huyện Đồng Xuân, Phú Yên].
Thu tô ruộng ở Phú Yên, sai quan công đường cứ số ruộng năm Mậu Ngọ [1798] theo lệ mà thu, đem chứa ở kho tại các đồn La Thai, Hội An.
Phó trưởng chi Trung chi Tả đồn quân Ngự lâm là Đỗ Văn Pháp cùng với hơn 150 người lính ốm thuộc đồn ở lại bảo Hội An, nhân ban đêm trốn đi. Vương nghe tin, hạ lệnh hết thảy những lính ốm thuộc Tả đồn, Hữu đồn đều thả cho về thăm nhà và dụ rằng:
“Thương nhớ quê hương, ai không như thế. Bọn các ngươi từ năm ngoái về thành Gia Định, năm nay lại theo đại binh đi đánh giặc, trải từ Hội An đến Thị Dã, từ Lữ Quán đến Hoa Lộc, gian khổ chẳng từ, hoặc vì tên đạn mà bị thương, hoặc nhiễm gió sương mà mắc bệnh, thiếu người nuôi nấng, lòng về lại càng thiết tha, cho nên triều đình nghĩ thương, đặc biệt thả cho về. Nên về nói chuyện với những người đã trốn trước, cũng vì nóng về, trên đã soi xét, nên bảo ban nhau, chớ nên ngờ sợ, sớm muộn ta cũng lấy lại được Quy Nhơn, không bắt tội đâu”.
Phó thống lãnh Tây Sơn là Thụy đem 150 thuyền lương từ Thuận Hóa, Quảng Nam đến đóng ở cửa biển Đề Di [huyện Phù Cát, Bình Định]. Quân đi tuần dò biết, Vương sai Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền chặn đánh. Thụy bỏ thuyền lên bờ chạy; bắt được quân địch hơn 40 người, thu 30.000 phương gạo; lương và thuốc đạn khí giới không kể xiết. Trương bèn chọn lấy 70 chiếc thuyền tốt để dùng, số còn lại đều đốt hết.
Hà Tiên đói, Mạc Tử Thiêm sai dân đong thóc ở Kiên Giang [Rạch Giá], viên quan địa phương không cho, Tử Thiêm bèn xin ở Gia Định. Đông cung Cảnh nói:
“Buôn thóc ra ngoài biển thì có lệnh cấm. Nhưng dân ở Hà Tiên cũng là con đỏ của triều đình, sao nỡ thấy đói kém mà không cứu?”.
Bèn hạ lệnh cho đạo Long Xuyên bán cho 10 xe thóc; Vương nghe tin, khen là phải.
Tháng 8 [19/9-17/10/1800], Quốc trưởng nước Vạn Tượng cùng với Nguyễn Văn Thụy đem tình hình đánh Tây Sơn ở Nghệ An, sai người dâng biểu đến hành tại để báo, Vương gửi thư khen ngợi.
Sai Cai cơ quân Thần sách Nguyễn Văn Yển đi chở 16.000 quan tiền từ Diên Khánh đến quân thứ Cù Mông.
Sai Lưu thủ Lưu Tiến Hòa đem quân dưới quyền đến Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định], theo sự điều động của Nguyễn Văn Thành.
Gia Định được mùa, trong cõi yên ổn. Đông cung Cảnh dâng sớ tâu và nói: “Nhân nay mùa rỗi, xin bắt 10.000 dân phu và số người đồn điền lấy ba phần mười, ủy cho Công bộ Trần Văn Thái đem đi Quang Hóa [Tây Ninh] lấy gỗ ván chở về, đóng thêm 50 chiếc thuyền đi biển, để sẵn cho quân dùng”. Vương cho là phải.
Tháng 9 [18/10-16/11/1800], giặc biển Tề Ngôi đem 11 chiếc thuyền đậu ở cửa biển Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định], gặp bão, cột buồm gẫy hết, lênh đênh ngoài biển, có một chiếc dạt vào Phủ áo [Vũng Đuối], quân tuần biển của bắt được. Vương sắc cho các nơi trấn giữ cửa biển đều sửa soạn binh thuyền để đón bắt.
Vương nghĩ đến các tướng sĩ ở Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định] nhọc mệt lâu ngày, sai Tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh đem các thức chè Tàu, thuốc lá Xiêm, cá khô tôm khô chia cấp cho. Lại phát 2 tấm nhiễu đỏ, 10 cái áo gấm, gửi cho Nguyễn Văn Thành xét cho những tướng hiệu có công.
Thủy sư của Tây Sơn đậu trong cửa biển Thị Nại, nghiêm cách phòng giữ. Vương thường đi thuyền ngoài biển, sai kỳ binh nhử ra để đánh, nhưng chúng không dám ra. Đến bấy giờ được tin thám tử báo rằng địch lấy một nửa thủy binh hợp với bộ binh. Vương bèn đem thủy binh định ban đêm đánh úp. Mới đến nửa đường, bị ngược gió, lại phải trở về; hàng tướng là Đại tổng quản Lê Văn Thanh lợi dụng sơ hở, bèn lên một chiếc thuyền trốn đi.
Nguyễn Văn Thành đánh vây bảo Chủ Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định]; Phó vệ úy vệ Phấn uy là Hồ Văn Huệ bị súng bắn chết tại trận.
Tháng 10 [17/11-15/12/1800] Võ Tánh mật sai người thân tín mang tờ biểu từ thành Bình Định đến hành tại; Vương lại sai thám từ lẻn vào trong thành thăm hỏi tướng sĩ; mọi người đều cảm động phấn khởi, nguyện xin ra sức liều chết.
Bình Thuận bị bão. Phó tướng Hữu quân Nguyễn Văn Lợi chở tiền gạo từ Gia Định đi qua thì thuyền bị úp đắm hết, mất hơn 1 vạn quan tiền và hơn 4 vạn phương gạo. Quân binh chết đuối hơn 100 người; Lợi dâng sớ xin chịu tội, Vương cho là sức người không thể ngăn nổi, nên đặc cách tha cho.
Vương thấy quân ta cầm cự với địch, quân nhu khẩn cấp, bèn sai Lưu thủ Lưu Tiến Hòa đến dinh Bình Thuận thu thuế và gạo chở nộp. Dụ rằng làm thế nào cho có thêm lương thì cứ tiện nghi mà làm, không bó buộc theo lệ. Hòa đến Bình Thuận, dâng sớ xin quyền thu gạo thị nạp ở các nhà giàu và dân biệt nạp, dinh thần Bình Khang cũng xin như thế. Vương đều y cho, số gạo thị nạp ở Bình Thuận hơn 6.700 phương, ở Bình Khang hơn 6.500 phương.
Tháng 11 [16/12/1800-14/1/1801], Nguyễn Văn Thành đánh đồn Chủ Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định], mãi không phá được, sai người thiểu số dẫn đường, dò được đường tắt ở phía tây nam có thể đánh úp vào lưng địch, bèn vẽ địa hình rồi dâng biểu xin thêm quân để họp đánh. Vua xem biểu, mừng nói:
“Quân giặc ở trong mắt ta rồi”.
Tức thì sai Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt đều đem quân tiến đến Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định] theo tiết chế của Thành; dụ cho Nguyễn Huỳnh Đức và Mai Đức Nghị ở đạo Cù Mông sắp quân để chờ. Lại sai Lê Chất, Nguyễn Văn Tánh đem quân dưới quyền đến quân thứ Thị Dã đánh giặc.
Quân bọn Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt đến Thị Dã. Nguyễn Văn Thành sai Duyệt giữ bảo làm chính binh, tự mình đem các đạo quân làm kỳ binh đêm theo đường tắt vượt núi Bọt Khê, nhân mưa dầm xuyên qua Đăng Trại [Trại Đèn], quanh ra phía sau đồn, phóng lửa đốt trại sách. Địch thảng thốt quay đánh, Duyệt huy động quân tiến sát trước đồn. Đầu và đuôi giáp đánh, địch vỡ chạy. Các quân thừa thắng đều tiến, đánh chém được đô đốc là Hoan, đuổi đến Tuần Dã [Đồng Tuần]. Quân Nguyễn thu bắt được voi ngựa súng ống khí giới, giết và đánh bị thương nhiều không xiết kể. Tin thắng trận báo lên. Vương rất khen ngợi, tuyên dụ để ủy lạo, thưởng cho các quân 5.000 quan tiền, 200 đồng bạc tây, thưởng người thiểu số dẫn đường 5 cái áo gấm, 3 tấm nhiễu, 5 tấm vải màu, và mắm muối các vật. Trong trận này Thành và Duyệt đều cắm cờ tướng trên bành voi mà chỉ huy các quân. Thành vốn thích rượu, sắp ra trận thì đem bầu ra tự rót uống, rót một chén đưa cho Duyệt. Duyệt không chịu uống, Thành cố ép nói:
“Nay trời lạnh, uống một chén cho mạnh thêm lên!”.
Duyệt nói:
“Ai yếu nhát mới phải mượn rượu. Còn tôi thì trước mắt không thấy có giặc nào mạnh, cần gì đến rượu”.
Thành có vẻ xấu hổ, do đó căm giận Duyệt.
Nguyễn Văn Thành tiến quân đến Trường Dã, sai Tống Viết Phước đánh địch ở núi Yên Tượng [huyện Vân Canh, Bình Định] , lấy luôn được bốn đồn. Do đó từ núi Lệ Thạch đến Hoa An [huyện Tuy Phước, Bình Định], Hoa Lộc [huyện Tuy Phước, Bình Định], quân địch đều bỏ đồn, ban đêm trốn đi. Bộ binh phe Nguyễn hai đường liên lạc với nhau, bèn chia đặt đồn trại ở Lạp Quán và Vân Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định].
Vương thấy bọn hàng tướng nhiều người trốn làm phản, duy Lê Chất bền lòng quy thuận, không như bọn kia, bèn sai quan đến quân thứ để thăm hỏi ; mẹ già và vợ con Chất ở Gia Định thì dụ cho quan lưu trấn đến thăm và cấp tiền lương nuôi nấng.
Ra lệnh cấm các quân không được tự tiện giết người, dụ các tướng rằng :
“Phép binh cốt ở uy nghiêm, trị nước cốt ở nhân thứ, cho nên vương giả dụng binh chỉ cần dẹp yên giặc cho dân yên nghiệp làm ăn, ra trận phải chém giết là bất đắc dĩ. Nay quân và dân trong hạt Quy Nhơn không biết lẽ thuận nghịch mà chống cự quân ta, chẳng qua chỉ vì một hai đứa đầu sỏ làm mê hoặc mà đến thế thôi. Bọn khanh nên thể lòng ta, nghiêm răn tướng sĩ, phàm đối trận đánh nhau mới được chém giết, còn sau trận bắt được thì không được giết bậy một người nào. Còn như quân đến đâu hoặc phóng lửa hiệu để cho trong thành ứng theo thì cũng đốt ở nơi rừng rú vắng người, không được đốt phá nhà dân, để cho quan dân đều được yên lành. Làm trái thì lấy quân pháp trừng trị.”
Tháng 12 [ 15/1-12/2/1801], Vương cho rằng thuyền đánh cá đi biển nhanh và tiện, bèn ra lệnh cho Gia Định và Bình Thuận phàm những thuyền đánh cá trong hạt chở được 70 phương gạo trở lên, thì cho xếp gạo lương đợi khi tiện gió thì chở đến quân thứ; thuyền nào đến trước thì được thưởng công, từ đó lương quân không thiếu.
Bấy giờ thành Bình Định bị vây lâu chưa giải tỏa được, mà cửa biển Thị Nại thì địch đóng giữ thêm vững. Vua thường buồn bực không vui, than rằng :
“Trời chưa muốn diệt giặc Tây Sơn chăng! Sao để cho tướng giỏi của ta bị khốn mãi ở đây!”.
Bàn định dùng kế hỏa công: Sai các quân lấy nhựa trám rưới vào củi và chứa vào hơn 20 chiếc thuyền con, đầu thuyền đều đóng đinh sắt, để chờ tiến đánh ; trước tiên đi thuyền vào giữa giặc, lấy móc câu móc thuyền của chúng rồi phóng lửa đốt. Hỏi các tướng, ai có thể làm việc này, Tống Viết Phước xin đi. Vương sắp y cho, nhưng bấy giờ Vệ úy Nguyễn Đức Xuyên bị ốm, viên quản đội Tiểu sai là Nguyễn Cửu Kỷ đem cho nhân sâm Vương ban cho, Xuyên bảo Kỷ rằng:
“Ta nghe chúa thượng muốn dùng hỏa công, Tống Viết Phước xin đi. Theo ý kiến của Xuyên, thì Phước dẫu dũng nhưng phải cái vội tiến, Lê Văn Duyệt thì dũng mà có mưu, nếu sai Duyệt đi thì việc chắc thành công”.
Kỷ về tâu, Vương bèn triệu Duyệt đến hành tại giao trọng trách.
Chú thích:
1.Sa điền: nằm trong lãnh thổ Hương Cảng hiện nay.