
Hồ Bạch Thảo
Tháng sáu năm Tân Dậu [11/7-8/8/1801], phía Nguyễn sau khi chiếm Quảng Bình, bèn đặt nhà trạm dọc đường cái quan từ cửa Hải Vân [Đà Nẵng] đến sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], lấy Cai đội đội trưởng cũ của Tây Sơn coi phu chạy trạm.
Nguyễn Vương nghe tin Võ Tánh và Ngô Tòng Chu chết, đau buồn thương tiếc, khóc mãi không thôi, bảo bầy tôi rằng:
“Bọn Tánh chết như thế là vẹn tiết, tuy bực trung liệt đời xưa như Trương Tuần, Hứa Viễn (1) cũng không hơn được.”
Bèn sắc cho Lưu trấn Gia Định hậu đãi chu cấp gia đình hai người.
Lại thấy Nguyễn Tiến Huyên cùng tuẫn tiết, bèn sai dinh thần Quảng Ngãi thăm hỏi mẹ và vợ con và hậu cấp tiền gạo.
Tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đã chiếm thành Bình Định, mưu đắp một cái lũy ngang Vân Thê để ngăn đường vận lương từ Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định] . Nguyễn Văn Thành biết tin, liền sai Đô thống chế Hoàng Viết Toản đốc quân chặn đánh, địch bèn rút lui. Tây Sơn lại sai Tham đốc Phạm Văn Điềm giữ Phú Yên để ngăn cắt quân Nguyễn; Thành lấy làm lo, dâng sớ xin phái ủy Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Đức Xuyên đem quân và voi đánh phá Phú Yên để thông với ba đèo Đại Lãnh [huyện Tuy Hòa, Tuy Hòa], Sầm Dương và Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], chọn chỗ hiểm đóng giữ, rồi rút hết bộ binh do đường thủy về tập hợp ở kinh đô Phú Xuân. Vương ra lệnh rằng:
“Sự tình thế ấy là lúc thế rất nguy cấp, vạn bất đắc dĩ mới phải làm. Nay số quân của Dũng Diệu không hơn 2 vạn mà quân thủy bộ của ta đã sắp sát địa đầu, chúng tất thế chia lực kém, làm sao chuyên đánh được một mặt mà mình phải làm kế rút lui như thế. Khanh nên khuyến khích tướng sĩ, bền giữ đồn lũy, đợi một hai ngày sẽ giáp công trong ngoài để thu toàn thắng. Còn như bọn giặc ở Phú Yên, ta sẽ phái quân hội tiễu, không đáng phải lo”.
Bèn sai Tống Phước Lương quản suất vệ Phấn Dực , đáp thuyền chiến vượt biển vào Ba Đèo hội với Tiên phong Nguyễn Văn Tánh đánh địch.
Quân bọn Tống Viết Phước, Lê Văn Duyệt và Lê Chất đến Quảng Ngãi, đánh bắt được bọn Nguyễn Văn Khôn, Hồ Văn Tự ở đồn Trà Khúc,cùng quân địch hơn 3.000 người, thu được lương tiền khí giới rất nhiều. Tin thắng trận báo lên, Vương sai mang cho 200 chiếc áo chiến bằng sa đoạn để chia cấp cho các tướng tá, cho giải bọn tướng giặc là Khôn và Tự về Kinh; còn binh lính bị bắt thì chia cho lệ vào các vệ để thêm quân số; bảo rằng:
“Gần đây quân ta đánh luôn thắng luôn, những tướng hùng quân mạnh của giặc đều bị ta bắt. Nay chúng chỉ còn trông cậy vào bọn Chiêu Điểm mà thôi. Vả chúng như con thú cùng còn hăng, tất cầu đánh lấy chết, mà ta thì địa thế đã rộng, lợi ở giữ bền. Bọn khanh nên tiến đến Thanh Hảo trở về trong, nhằm những nơi hiểm yếu mà đóng đồn liên tiếp để làm thế không thể lay chuyển được, nhiên hậu sẽ thừa cơ chiến thắng. Thủy binh thì tiến đến Sa Huỳnh [huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi], Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định], cũng đóng đồn trại cho vững để xem tình thế, chớ có thấy thắng mà kiêu. Nếu chúng kéo hết quân đến thì quân ta đã có phòng trước. Lại phi báo cho Nguyễn Văn Thành đánh úp phía sau, để chúng tiến thì không có chỗ đánh, lui thì không có chỗ giữ, thì có chậm chừng tuần nhật, nhưng chước ấy có thể vạn toàn được. Bọn khanh là những người lão luyện việc quân, nên tính cho kỹ”.
Rồi lại sắc rằng từ nay phàm tình hình công việc trong quân cứ ba ngày phi báo một lần.
Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu nghe tin Trà Khúc thất thủ, thân mang đồ đảng là bọn Lê Danh Phong, Từ Văn Chiêu lùa quân và voi ra Tam Quan, đặt đồn trại dọc núi để chống quân ta. Bộ binh của Lê Văn Duyệt tiến đóng đồn ở Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi], dưới từ cửa biển Mỹ Ý [Đức Phổ, Quảng Ngãi], trên đến đầu nguồn, đắp lũy dài để phòng bị nghiêm cẩn. Thủy binh của Tống Viết Phước vào Sa Huỳnh [huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi] đánh địch ở núi My Sơn và đèo Cung Quăng [chỗ tiếp giới Quảng Ngãi và Quy Nhơn] đều thắng cả. Lại tiến đến Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định], đánh đồn; quân địch phải lùi, hơn 700 quân ra hàng. Phước khinh địch tiến lên trước, vừa đến Bức Cốc [Hang Dơi] gặp phục binh Tây Sơn; Phước bị bắt rồi giết. Sau khi Phước bị thua, binh thuyền của Tiền dinh Trần Công Lại mới đến Tam Quan, bèn đặt thêm đồn trại chống giữ. Nguyễn Văn Thành do thám biết giặc không có phòng bị, liền kén quân tinh nhuệ đánh úp, bảo giặc tự Úc Sơn [thành phố Qui Nhơn, Bình Định] đến sông Dinh phá luôn được. Bọn Phó vệ úy Phạm Văn Lý, Chánh trưởng chi Nguyễn Văn Hiếu, quản Xiêm binh là Nguyễn Văn Tồn tự trong quân giặc đem bộ hạ hơn 800 người trở về với ta. Tin thắng trận báo lên, Vương xuống chỉ khen ngợi, sai mang cho 16 bộ áo chiến bằng gấm, 3.000 đồng bạc Tây và 1.000 lạng bạc để thưởng cho tướng sĩ.
Triệu các chi vệ Hậu quân về kinh, lưu Nguyễn Văn Tồn ở quân thứ theo đánh giặc. Trước kia thành Bình Định bị hãm, Tồn bị giặc bắt. Gặp khi quân ta đánh với quân giặc, Tồn giả cách vì giặc liều chết, quân ta gọi, Tồn làm ngơ, giặc lấy làm tin. Đến đây Tồn thừa cơ quay về. Có người hỏi Tồn rằng:
“Trước kia ở với giặc, tại sao đánh cho giặc dữ thế?”
Tồn nói:
“Lúc đó không đánh giết quân ta, thì giặc không tin, giặc đã không tin, thì làm thế nào mà đem toàn quân trở về được?”
Mọi người đều cho là có mưu trí.
Đặt quan công đường dinh Quảng Ngãi, lấy Cựu đại đô đốc Nguyễn Văn Toản làm Lưu thủ, Cai bạ Chính dinh là Trần Tiến Bửu làm Cai bạ, Tri bạ Chính dinh là Lê Xuân Tàn làm Ký lục.
Thu các thuế điền tô, sai dư và biệt nạp ở các phủ huyện Thuận Hóa, theo ngạch thuế cũ năm Canh Thân [1800]. Các đội biệt nạp mỗi người nộp 2 tấm vải trắng, hạng lão, hạng cùng đinh và hạng vị cập [chưa đến tuổi] mỗi người 1 tấm. Duy sắt, than, dầu, chiếu và lĩnh thâm thì theo lệ cũ. Vương ban sắc rằng:
“Trăm họ ở Thuận Hóa đều là dân cũ của tiên vương, được nhờ ơn trạch thấm thía từ lâu. Từ khi gặp giặc Tây Sơn nổi loạn, thuế má nhiều, sai dịch nặng, mười nhà thì chín nhà nghèo túng. Nay đất cũ mới khôi phục, chính nên lấy khoan hồng thay bạo ngược cho dân sống lại. Nhưng vì dư đảng giặc chưa trừ hết, binh cách chưa yên, mỗi ngày tiêu phí kể có nghìn vàng, cho nên bất đắc dĩ phải tạm theo ngạch cũ mà thu thuế để dùng vào việc binh. Đợi sau khi thanh bình sẽ một phen bàn định để làm lệ thường mãi mãi”.
Lưu trấn thần Gia Định dâng sớ nói:
“Nay quân nhà vua đã khôi phục toàn cõi Phú Xuân, chính là cơ hội tiến đánh Bắc Hà. Trộm thấy có viên đốc học người Bắc Hà là Nguyễn Gia Cát văn học vốn giỏi, ngôn hạnh đáng dùng, xin cho cùng với bọn Hàn lâm viện Mai Huy Đường về kinh chờ lệnh điều dụng”. Vương y cho.
Vương sai Trần Công Lại làm Đô thống chế Trung dinh, Đô thống chế Phan Văn Triệu quản tướng sĩ Tiền dinh chia chiến thuyền thẳng vào Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định] xem xét địa thế để đặt đồn. Rồi ban sắc dụ Lê Văn Duyệt và Lê Chất rằng:
“Bộ binh của bọn khanh đã đóng giữ từ Thanh Hảo trở ra thì thủy binh ở Tân Quan là vô dụng. Cho nên đặc sai Trung dinh và Tiền dinh đóng ở Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định], để xuyên vào bụng giặc. Trong thì có Tiền quần chẹn đằng đuôi, ngoài thì có bọn khanh chống đằng đầu, bọn Diệu Dũng ở một chỗ đất nhỏ bằng viên đạn, đường lương đã nghẽn, ta có thể hẹn ngày mà bắt được.”
Rồi thấy ở Đạm Thủy quân địch có phòng bị, bèn sắc cho Phan Văn Triệu về Cổ Lũy [huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi], Trần Công Lại về Thanh Hảo, đều theo Lê Văn Duyệt điều động.
Cho Khâm sai chưởng cơ giám quân Trung quân là Nguyễn Văn Trương làm Khâm sai chưởng Trung quân bình Tây đại tướng quân quận công. Trương là người tính trọng hậu, không ưa giết người. Trước kia quân Nguyễn đánh nhau với Tây Sơn, bị thua lội qua sông chạy. Trương bấy giờ là tướng Tây Sơn, thấy quân dưới quyền xúm lại đâm, liền ngăn lại rằng:
“Thừa lúc người ta nguy mà hại là bất nhân!”.
Nhờ đó quân Nguyễn thoát chết. Vương từng khen rằng:
“Làm tướng mà có lòng nhân như Trương, thiệt là ít có”.
Sau quy thuận nhiều lần lập công lớn; người ta khen là phước tướng.
Đổng lý Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận đem quân đóng giữ dinh Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh]. Nguyễn Văn Trương dùng do thám biết quân giặc dẫu nhiều nhưng lòng chiến đấu thì ít, bèn dâng sớ xin chỉnh bị thuyền ghe để thừa cơ tiến đánh. Vương sai đem tặng một thanh đao vàng và bảo rằng:
“Tướng quân là bực lão thần cột tảng, nhà nước rất trông cậy. Ngày nào khởi quân, nên chia hai đường thủy bộ đều tiến vào Thanh Nghệ, hội với quân thượng đạo để quét hết bọn giặc kia. Sớm muộn Diệu Dũng sẽ bị bắt. Ta cũng chia sai các tướng tiến đánh Thăng Long để bình định đất Bắc Hà”.
Lại thấy chức Tham tán nhung vụ cần có quan văn, thông thuộc dân tình địa thế Bắc Hà; bèn cho người vời Tán lý quân thứ Bình Định là Đặng Trần Thường và Tham quân Hậu dinh là Nguyễn Trí Hòa đến kinh đô giao việc.
Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân đem quân đến quân thứ Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi] đầu hàng. Sai tập hợp quân theo Lê Văn Duyệt đánh giặc; riêng mật dụ Lê Văn Duyệt rằng:
“Lòng người thật khó lường, khó hơn lường việc trời. Từ khi ta dấy quân khôi phục đến nay, những hàng tướng giặc ta đều suy lòng đặt dạ, lấy thành tín đãi họ, nhưng bọn họ ít người lấy thành thực để thờ. Nay Nguyễn Văn Xuân theo quân thứ của khanh, nên cẩn thận để phòng xem xét ý tứ. Phàm đối với bọn hàng tướng đều phải như thế, chẳng những một người này mà thôi. Nên cẩn thận”.
Nguyễn Văn Thành ở Bình Định chống nhau với Tây Sơn, địa thế đồn trại quá rộng, lại ở Phú Yên địch còn giành giữ, bèn đem tình hình phi báo và xin thêm quân.
Vương bèn sai hai vệ, cùng 12 đội quân ở Thuận Hóa và 4 vệ quân quân mới hàng ở Thanh Hảo đều đáp chiến thuyền đến ngay, lại tuyển lính khoẻ ở Gia Định tăng cường.
Nguyễn Văn Thành sai Hoàng Viết Toản đem quân đánh phá được quân Phạm Văn Điềm ở Mễ Tân [Bến Gạo]. Binh thuyền của Tống Phước Lương vừa tới, hợp cùng quân Nguyễn Văn Tánh tiến đánh các đồn địch, đuổi đến La Thai [La Hai, huyện Đồng Xuân, Phú Yên], thu được ấn đồng, cờ trống, khí giới rất nhiều. Điềm trốn chạy, Tánh đóng giữ nơi này.
Vương lại truyền lệnh cho Lưu trấn Gia Định rằng:
“Bọn giặc Diệu Dũng nay đã cùng đường, đợi khi chúng quân mỏi lương hết, đánh một trận là bắt được, bất tất phải lo. Điều cần cấp phải lo là ở quân nhu. Quân ta từ Thạch Tân [Bến Đá, chỗ tiếp giáp huyện Hoài Nhơn và Quảng Ngãi] trở ra đến sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] không dưới 4 vạn người, lấy lương tiền ở Quảng Ngãi, Quảng Nam và Thuận Hóa cũng đủ chi cấp. Duy có Tiền quân, Hữu quân, Hậu dinh, Tượng dinh, Tiên phong ở Quy Nhơn, số quân tới hơn 3 vạn, lương thực tất phải trông ở Gia Định. Bọn khanh nên nghĩ thế nào cho quân đủ ăn thì cho tuỳ tiện mà làm”.
Sai Giám thành cai đội Nguyễn Văn Yên đến Động Hải [Đồng Hới, Quảng Bình] ngắm đo lũy Trấn Ninh tức trường lũy Đồng Hới, xem khắp hình thế, trên từ núi Đâu Mâu, dưới tới cửa biển Nhật Lệ, vẽ thành đồ bản để dâng, lũy dài 5.120 trượng [1 trượng=4 mét].
Quân địch đánh vào đồn Chợ Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình]. Tin báo đến Động Hải, Nguyễn Văn Trương sai Phó điều bát Nguyễn Kế Nhuận quản đem hơn 7.000 quân các vệ, chia hai đường thủy bộ đều tiến đánh, Trương dặn rằng:
“Hễ gặp giặc chớ vội đánh, nên đợi thủy bộ tiếp nhau rồi hãy tiến công”.
Nhuận đem quân bộ đến trước, Tây Sơn rút lui, tức thì đuổi theo. Đến núi Thần Đầu [nam huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh], Tây Sơn phục binh nơi hiểm đón đánh. Nhuận thua to chạy. Vệ úy Nhuệ phong là Tôn Thất Hoảng, Phó vệ úy Quang uy là Ngô Văn Sự đều chết trận, quân lính bị mất quá nửa. Trương nghe tin, bèn thân đem binh thuyền thẳng đến sông Gianh chia đồn đóng giữ. Việc tâu lên, Vương cho rằng Nhuận không theo tướng lệnh để bị thua, giết đi. Bảo Nguyễn Văn Trương lượng để binh lại ủy cho Hoàng Văn Điểm giữ đồn Thanh Hà [phía nam sông Gianh], còn rút hết về Đồng Hới , sửa chữa trường lũy làm kế phòng giữ.
Quân và dân Thuận Hóa có nhiều người gửi thư tố cáo nhau, Vương bèn ban dụ rằng:
“Chính sách vương giả cốt lấy việc ngăn gian trừ tệ làm đầu. Duy lúc mới bình định, lệ nhà Tần nhà Hán còn theo (2), chưa sửa đổi được. Những kẻ tiêm nhiễm thói cũ đã lâu, hoặc tạ sự nhiễu dân, hoặc nhân cơ báo oán, lòng người đều ghét, phép vua cũng chẳng dung. Tuy những kẻ bị giết theo phép thường đành là kẻ ác, nhưng những kẻ mưu mô thầm kín vốn chẳng phải là loài hay. Từ nay phàm thấy đích xác kẻ nào ngang trái, quấy nhiễu việc gì, nên chỉ rõ tên tuổi quê quán mà tố cáo quan trên xét trị, ai vu cáo thì bị phản tọa. Nếu vì những oán nhỏ nhặt mà đảo điên phải trái, nặc danh bỏ thư, thì thực là khinh nhờn lừa dối, việc phát giác cũng y luật trị tội. Lại như việc chuyển đệ văn thư là việc quan trọng, đơn kêu tờ kiện sao lại được giao bậy đệ bậy? Nhưng mới là sai lầm một lần, hãy tạm tha thứ. Nếu còn giữ mãi thói cũ, ắt phải chiếu phép nghiêm trị để chặn cửa tà vạy mà mở đường rộng bằng. Đó cũng là một điều lớn để giữ yên dân vậy. Phải kính tuân theo”.
Vua từng cùng các quan bàn tới phong tục, bảo rằng:
“Từ lúc giặc Tây Sơn làm điều bạo ngược, phong tục đồi bại, ta rất lo buồn. Nay nên bảo cho dân biết đường yêu ghét, dạy lễ nghĩa, nhiên hậu dân phong mới chính lại được”.
Ban cho các hệ tôn thất 2.000 quan tiền và 2.000 phương gạo, khuyên dụ rằng:
“Từ xưa các đế vương đều lấy hòa gia tộc hậu luân thường làm trọng. Nhưng cũng nên có lễ phép để ràng buộc mới có thể giữ vẹn được tình huyết mạch mà chung hưởng giàu sang. Từ khi vận nước sa sút, các thần tộc phải nếm đủ mùi cay đắng. Nay ta nhờ phước trạch tổ tiên lấy lại được non sông, thực muốn cho người thân tộc tuân theo phép tắc mà cùng hưởng phước chung. Gần đây nghe nói có kẻ chiếm đoạt nhà đất của dân, có kẻ say rượu dọa người, làm bậy những điều phi pháp, thực rất đáng ghét. Phàm trị quốc trước phải tề gia. Tức như họ hàng giặc Tây Sơn cậy thế lăng ngược, người đều ta oán, mà đến suy bại, gương ấy không xa. Nay nên tập họp mà dạy bảo từ nay không được kiêu ngạo ngang trái như trước mà mắc vào tội. Vả pháp luật thi hành phải tự gần trước. Phải coi chừng thận trọng”.
Ghi danh con cháu công thần ở Tống Sơn [huyện Hà Trung, Thanh Hóa], ban dụ rằng:
“Người Tống Sơn đều là chỗ thân thích quê hương, theo đức Thái tổ ta vào trấn phương Nam, lập nhiều công lao, con cháu đời đời cùng nước hưởng Phước. Nhưng vì vận nước suy sút, phải tản cư trong dân gian. Nay lấy lại đô cũ thì người ta ai cũng tìm người cũ. Vậy đặc dụ cho những người Tống Sơn hiện ở trong quân hay trong dân, đều trình bày về thế hệ và công lao của ông cha mà tâu lên, để lượng ghi dùng”.
Rồi sai Tham tri bộ Binh là Ngô Nhân Tĩnh liệt kê những người thuộc họ nhà chúa, cùng con cháu các bề tôi gồm 469 người, đều cho quan chức tập ấm và cho miễn dao dịch.
Thu thuế ruộng đất và thuế biệt nạp ở Quảng Ngãi, thuế biệt nạp ở Quảng Nam, đều y theo lệ Thuận Hóa mà làm.
Sai Thiêm sự bộ Hộ là Hồ Thế Học trông coi việc chở thuyền lương từ Đà Nẵng mang số gạo hơn 31.000 phương, đến Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi], hiệp với Tham tri Trịnh Hoài Đức để chi cấp cho quân.
Tháng bảy [9/8-7/9/180], Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên cùng Phó đô thống chế Hữu dinh là Trần Văn Tín đánh giặc ở các bảo Hoa An [huyện Tuy Phước, Bình Định] và Sơn Trà [huyện An Nhơn, Bình Định], đều thắng.
Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh địch ở xã Mân Trường, phá luôn được 8 đồn, bắt được tướng sĩ và khí giới voi ngựa rất nhiều; tin thắng trận báo lên, cho các quân 1.000 lạng bạc.
Vương đem việc Nguyễn Kế Nhuận bị phục kích thua trận tại núi Thần Đầu [nam huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh] cho bọn Duyệt biết, và dặn rằng:
“Hiện nay giặc mạnh ở trước mặt, quân ta lợi ở sự bền giữ. Bọn khanh nên thận trọng hơn lên, phải tính mười phần thắng thế, nhiên hậu mới hợp sức đánh úp, để được vạn toàn. Nếu còn một phần may rủi thì chớ nên khinh tiến”.
Đại tổng quản Tây Sơn Lê Văn Thanh lại trở về hàng; Lê Văn Duyệt cho đóng gông giải về Kinh. Vương cho gọi đến hỏi rằng: “Ngươi tự đem thành để hàng, ta đối đãi không bạc, cớ sao ngươi lại phản?”. Thanh lạy rạp xuống đất khóc kêu, Vương không nỡ giết, sai tha ra.
Sai Khâm sai thuộc nội cai đội Ba La Di [người Âu châu] đi Hạ Châu [Singapore] tìm mua súng đạn.
Cho Khâm sai chưởng Tiền quân bình Tây tiền tướng quân Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng Tiền quân bình Tây đại tướng quân. Thành dâng biểu xin từ, nói thân làm chủ tướng, vâng mệnh dẹp giặc, nay giặc chưa trừ, không dám vội nhận thưởng lớn, Vương đáp:
“Khanh nhũn nhặn như thế ta rất khen, song tước thưởng là để khuyên đời, khanh nên kính vâng mệnh đã định, mau lập võ công để xứng đáng sự ủy thác, chớ nên từ chối”.
Lại bảo các tướng rằng:
“Một viên tướng giữ mệnh của quân, trách nhiệm không phải là nhẹ, nếu không phân biệt danh vị thì khi lâm sự khó sai khiến, cho nên đặc gia phong Nguyễn Văn Thành tước Quận công. Nhưng Thành khiêm tốn, dâng biểu cố từ, ý là không dám nhận công riêng mà muốn cùng với các khanh đều hưởng ơn chung. Ta xem bài biểu từng thấu tỏ. Nhưng một vùng Quy Nhơn chưa dẹp yên hết, các khanh nên hết lòng hết sức sớm lập công lớn, đợi bình định xong sẽ gia thăng tước trật, đều hưởng tôn vinh. Các khanh nên hiểu rõ ý ta”.
Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu và Tư đồ Võ Văn Dũng loại ra hơn 600 tù binh ốm ở thành Bình Định, thả về quân thứ nhà Nguyễn. Nguyễn Văn Thành tâu lên, Vương sai lấy thuyền chở về an dưỡng ở Gia Định.
Vương nghe tin trong dân gian có nhiều côn đồ tụ tập cướp bóc, bèn sắc cho các phủ huyện thuộc Thuận Hóa phải xem xét sự động tĩnh trong hạt, cứ 15 ngày báo lên một lần.
Phạm Như Đăng dâng sớ nói rằng ở quân thứ Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] và Động Hải [Đồng Hới, Quảng Bình], số quân một ngày một thêm, lương dùng càng ngày càng rộng, xin lấy thuế sai dư và ruộng đất. Các châu huyện thì hạt Minh Linh [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị] nộp ở kho An Trạch, các hạt Khang Lộc [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình], Lệ Thủy [Quảng Bình] nộp ở kho Động Hải, Nam Bắc Bố Chính [bắc Quảng Bình] thì nộp ở kho Thanh Hà, để tiện việc chi phát; Vương y cho.
Vương lại nghĩ quân lương ở Bình Định không được tiếp tế đầy đủ, lệnh cho Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Huỳnh Đức lưu tâm dè sẻn, rồi ủy cho Tham tri Hộ bộ Trần Hữu Thiện kiểm soát các nhà trong cửa biển Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định], ai có gạo riêng thì theo đúng giá công mà vét mua, một phương gạo trị giá 2 quan.
Đại đô đốc Tây Sơn là Lê Danh Phong đem hơn 300 quân đến quân thứ Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi] đầu hàng. Phong là thuộc tướng của Trần Quang Diệu, Diệu coi là tâm phúc, đóng giữ Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định]. Vương mật sai người lấy lẽ thuận nghịch khuyến dụ, Phong bèn đem quân theo về; Vương sai dẫn về kinh bái yết. Lê Chất từng nói với Lê Văn Duyệt về tài năng của Phong; Duyệt tin, dâng sớ tiến cử Phong là người đáng dùng. Nguyễn Đức Xuyên được tin, mật dâng sớ nói:
“Phong đối với giặc rất thân tín, cũng như thần cùng Nguyễn Văn Thành đối với nước vậy. Thành với thần không phản thì Phong về với ta chưa chắc đã thành thực. Duyệt không xét chỗ đó mà tiến cử Phong là tự Chất xui. Chất về ta đã lâu mà ngày nọ đuổi giặc không kịp người ngoài còn dị nghị, huống là Phong. Vương thượng bao năm khó nhọc mới khôi phục được nghiệp cũ, việc dùng người không phải là nhỏ, xin chú ý cho”.
Vương trả lời rằng:
“Lòng trung ái của ngươi, ta đã rõ rồi. Phong không đủ tin, ta đã riêng có cách ngăn ngừa. Hãy tạm để đó. Còn như việc Chất đi đuổi giặc, sao lại có thể bàn một cách khinh suất? Khi quân ta đến, Quang Toản gấp đường chạy ra Bắc, chưa đầy hai ngày mà đã vượt qua sông Gianh. Thủy quân của Nguyễn Văn Trương được gió no buồm đuổi còn chẳng kịp, huống bộ binh của Chất ngày đêm mỏi mệt ư? Mọi người yêu cũng phải xét, mọi người ghét cũng phải xét, chớ lấy việc đó mà ngờ Chất”.
Mệnh cho Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Duyệt làm Đô thống chế quận công chưởng Tả dinh quân Thần sách, Đô thống chế Tả đồn quân Ngự lâm là Lê Chất làm Đô thống chế Tả đồn. Vương dụ Chất rằng:
“Từ khi khanh cùng Duyệt cầm quân dẹp giặc, giữ trọng trách một phương, ta được thư lòng. Duy Duyệt tính vốn khắc khổ, không được hả lòng tướng sĩ, khanh nên lấy nghĩa giao du với nhau, lấy lòng thành mà cảm nhau, đứng lấy khí thế cao thấp tài danh hơn kém, phải đồng lòng lo toan để xuôi công việc, thế mới là bề tôi của xã tắc, vật báu của nước nhà. Khanh nên lưu tâm”.
Dùng Tham quân Tả dinh quân Thần sách là Ngô Đức Tuấn làm Bắc Hà chiêu phủ sứ. Tuấn cho rằng Bắc Hà có cơ đánh được, dâng sớ tâu bày, xin đi dụ hào mục các nơi đánh giặc lập công. Vương khen ngợi, trao chức, sai đem quân dưới quyền cùng với Chánh vệ Nguyễn Đình Hiệu vượt biển cùng đi. Tuấn đến Biện Sơn [huyện Tĩnh Gia, thuộc tỉnh Thanh Hóa]. Phó vệ Nguyễn Đình Hoằng, Thống binh Hoàng Văn Quý và hào mục sở tại nhiều người hưởng ứng, bèn đóng quân ở đó, tập hợp nghĩa binh, chiêu nạp đồ đảng Tề Ngôi, có hơn 400 quân và hơn 20 chiếc thuyền. Chợt gặp thuyền lương của Tây Sơn từ miền bắc đến, Tuấn đem quân đón đánh được; tịch thu 23 chiếc thuyền, 15.000 phương gạo, súng lớn 25 cỗ, thuốc súng 7.000 cân, đạn 5.000 viên, bắt được Tham đốc địch tên Tính và Lãnh cùng hơn 300 quân. Tuấn đem tin thắng trận báo về, và xin phái thêm quân thủy bộ tiến lấy Thanh Nghệ. Vương gửi lời khen, sai giải tù binh về kinh và cứ vững đóng đồn trại để chờ đại quân.
Đổng lý giặc là Nguyễn Văn Thận lại sai đồ đảng 3.000 người xâm phạm đồn Chợ Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình] gần Hoành Sơn. Nguyễn Văn Trương được tin báo, tức thì sai Cai cơ Nguyễn Văn Đạo đem 20 thuyền chiến đến sông Gianh tiếp ứng; Tây Sơn thấy thủy binh đến bèn rút đi. Thận nhiều lần xin với Nguyễn Quang Toản thêm quân để đánh Động Hải, Quang Toản không cho, Thận bèn trở về Vĩnh Dinh [Vinh, Nghệ An].
Trần Quang Diệu thường sai người theo đường biển đi Bắc Thành truyền đệ thư tín; Vương sai Lê Văn Duyệt phái binh mai phục ở đảo Lý Sơn [ Quảng Ngãi] đón bắt.
Ngày Bính Thân [30/8/1801], Vương đi thị sát Quảng Bình, lưu Quốc thúc Tôn Thất Thăng ở lại giữ kinh thành. Thuyền ngự khởi hành từ sông Hương, ngày Mậu Tuất [1/9/1801] đến xã Hồ Xá [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị], lên đường bộ, đi đến đò Cừ Hà rồi lại theo đường thủy đi. Ngày Kỷ Hợi [2/9/1801] đến Đồng Hới [Quảng Bình]. Xa giá đi đến đâu nhân dân đều vui mừng chiêm bái, tranh nhau đem trâu rượu đến dâng, Vương yên ủi cho về. Bèn xem khắp hình thế lũy Trấn Ninh, chia đồn đặt súng, cùng bầy tôi bàn định việc quân; ngày Quý Mão [6/9/1801] trở về kinh.
Đổi châu Nam Bố Chính làm châu Bố Chính nội, châu Bắc Bố Chính làm châu Bố Chính ngoại; hợp với Khang Lộc [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình], Lệ Thủy thành dinh Quảng Bình.
Vương sai Triệu Đại Nhiệm [Đại Nam Thực Lục kỵ húy tên Tự Đức, nên chép là Sĩ] đi Quảng Đông. Đại Nhiệm là người Trung Quốc sang buôn, bị quân giặc biển Tề Ngôi cướp bắt, quân Nguyễn đánh phá giặc nên bắt được. Vua thấy kinh đô cũ đã khôi phục, bèn đem tình hình trong nước gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng; nhân tiện cho Đại Nhiệm mang đi.
Mấy tháng sau, Đại Nhiệm đến Quảng Đông trình thư. Viên Tổng đốc Lưỡng Quảng tâu về triều, Vua Gia Khánh chủ trương không ủng hộ phe nào, nên bảo viên Tổng đốc viện cớ đừng can thiệp; lại nhân nhà Thanh nhận tin sai rằng phe Tây Sơn đã chiếm lại được kinh thành Phú Xuân, nên càng tỏ ra chần chừ:
“Ngày 12 tháng 10 năm Gia Khánh thứ 6 [17/11/1801]. Dụ các Quân Cơ Đại thần:
Cát Khánh tâu:
‘ Một người dân tại huyện Thuận Đức, tên là Triệu Đại Nhiệm đi thuyền bị gió bão trôi dạt đến Nông Nại [Đồng Nai] Quốc trưởng nước này là Nguyễn Phúc Ánh sai người đưa tới Phú Xuân giúp sửa chữa lại thuyền, cấp lương thực; rồi mang tờ bẩm của viên Quốc trưởng về nước, nội dung: Năm ngoái nước này có viên quan bị tai nạn gió bão (3), được Thiên triều chẩn cấp; nay dâng tờ bẩm để tỏ lòng cảm khích v.v..’
Ý của viên Quốc trưởng Nguyễn Phúc Ánh đệ bẩm, chẳng qua muốn chứng tỏ thêm lòng cung thuận; hoặc có thể xin Thiên triều gia ân trợ giúp. Nhưng Nông Nại và An Nam [nhà Tây Sơn] hiện nay tranh đoạt chưa chấm dứt, Cát Khánh đã tâu rằng không thiên vị phe nào, ý đó rất đúng; lần này đáp lời viên Quốc trưởng chỉ nên dụ như sau:
‘ Năm ngoái chẩn cấp cho viên quan nước ngươi bị tai nạn, thuộc lệ thường của Thiên triều phủ tuất các nước ngoại Di, nên không dâng tấu triệp lên đại Hoàng đế duyệt. Nay người dân trong nước bị tai nạn trôi dạt đến nước ngươi, được giúp đỡ để trở về nước, lại mang theo tờ bẩm; Bản Bộ đường biết rõ tấm lòng cảm tạ của nước ngươi. Nhưng việc năm ngoái chẩn cấp cho viên quan nước ngươi, đã không tâu trình lên đại Hoàng đế; nên lời bẩm lần này cũng không tiện giúp tấu trình thay.’
Nếu như cứ tiếp tục gửi văn thư hoặc xin binh trợ giúp, thì hãy bác với lý do không thiên vị bên nào. Gần đây Cát Khánh căn cứ vào lời tâu của Khải Côn, trước sau đều xưng rằng sau khi thành Phú Xuân của An Nam bị Nông Nại chiếm [12/6/1801], rồi An Nam thu phục lại (4). Nay cung từ của Triệu Đại Nhiệm xưng vào tháng 7 ở trong thành Phú Xuân, diện kiến Quốc trưởng Nguyễn Phúc Ánh. Như vậy phải chăng tên dân từ Phú Xuân trở về Lưỡng Quảng trước khi An Nam lấy được thành Phú Xuân; hay sau khi An Nam thu phục xong lại bị Nông Nại chiếm lại? Cát Khánh hãy điều tra rõ, tiện dịp phúc tấu.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 88, trang168)
Chú thích:
1.Trương Tuần, Hứa Viễn: Hai người làm quan đời Vua Huyền tông và Túc tông nhà Đường, đi đánh An Lộc Sơn và Sử Tư Minh, hai người kết hợp với nhau, trước sau đánh 400 trận, giết giặc 12 vạn người. Sau hết lương, thành bị hãm, hai người đều bị giặc bắt, mắng giặc rồi bị giết.
2.Nhà Tần nhà Hán còn theo: Ý nói nhà Hán mới dành chính quyền từ Tần; cũng như nhà Nguyễn mới dành quyền từ Tây Sơn, tệ trạng của chế độ cũ chưa kịp thay đổi.
- Cai đội Nguyễn Hữu Định thuộc phe Nguyễn bị gió bão trôi dạt đến Quảng Đông; Nguyễn Hữu Định xưng tên là Nguyễn Tiến Định xin giúp đỡ. Ngày 29 tháng 9 năm Gia Khánh thứ 4 [27/10/1799], được nhà Thanh giải quyết cho trở về nước.
4.Tin này không đúng; theo sử Việt, sau khi quân của Nguyễn Vương chiếm thành Phú Xuân vào tháng 5 năm Tân Dậu [12/6/1801], không có việc nhà Tây Sơn chiếm lại.