Lược sử Y Học (Bài 5)

STEVE PARKER
Trần Quang Nghĩa dịch

Y HỌC TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHIỆP : 1820-1920

Y học phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 19. Cách mạng Công nghiệp diễn ra nhanh chóng ở những thành phố bẩn thỉu, nơi tình trạng quá tải dân số, suy dinh dưỡng và điều kiện vệ sinh kém đã tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm phát triển. Công trình nghiên cứu về bệnh tả của bác sĩ người Anh John Snow vào những năm 1850 là một cột mốc cho ngành dịch tễ học, mặc dù vào thời điểm đó, nó chỉ được công nhận một cách miễn cưỡng.

 

Các ngành khoa học khác đã được đưa vào y học. Lấy cảm hứng từ hóa học, các bác sĩ Hoa Kỳ vào những năm 1840 đã nghiên cứu các chất giúp bệnh nhân không còn cảm thấy đau trong khi phẫu thuật. Hai thập kỷ sau tại Scotland, bác sĩ phẫu thuật Joseph Lister đã tiến hành nghiên cứu về các chất hóa học vì khả năng ngăn ngừa nhiễm trùng của chúng. Trong vòng 40 năm, hai tiến bộ trong phẫu thuật này, gây mê và sát trùng, đã làm cho phẫu thuật an toàn hơn rất nhiều. Trong khi đó, tại Pháp, Louis Pasteur đã ứng dụng vi sinh vật học vào y học với một loạt thành công, bao gồm tiệt trùng sữa và rượu vang, và vắc-xin cho một số bệnh ở động vật cũng như bệnh dại ở người. Nhà vi sinh vật học người Đức Robert Koch – ông và Pasteur thường là đối thủ của nhau, đôi khi cạnh tranh rất  gay gắt – đã nhận diện được các vi khuẩn gây bệnh than, bệnh lao và bệnh tả. Cuối cùng, những ý tưởng lỗi thời về khí độc và sự sinh sản tự phát đã bị chận đứng và thay thế bằng lý thuyết mầm bệnh.

 

Thế kỷ 19 chứng kiến ​​những tiến bộ đáng hoan nghênh khác. Elizabeth Blackwell ở Mỹ và Elizabeth Garrett Anderson ở Anh đã vận động thành công cho quyền bình đẳng của phụ nữ trong đào tạo và cấp bằng y khoa. Cả hai đều thành lập các trường y cho phụ nữ. Mặc dù những  công trạng của nữ y tá người Anh Florence Nightingale ở Crimea vào những năm 1850 gần đây còn được tranh cãi, nhưng việc bà thành lập ngành điều dưỡng hiện đại thì không. Và khi thế kỷ 19 kết thúc, các phương pháp tiếp cận tâm thần học của nhà thần kinh học người Áo Sigmund Freud đã khơi mào những cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay.

 

Phụ nữ trong Y học

 

Phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, đặc biệt là với tư cách y tá, nữ hộ sinh, và thầy thuốc thảo dược, nhưng trong suốt lịch sử, nam giới vẫn thống trị ngành y. Ở châu Âu thời Phục Hưng, phụ nữ thực sự bị ngăn cản trở thành bác sĩ khi bằng cấp đại học trở thành một yêu cầu bắt buộc, điều mà phụ nữ không thể đạt được vì họ bị cấm vào đại học. Chỉ đến những năm 1900, phụ nữ mới giành được quyền học tập và hành nghề y, và chỉ sau đó vào thế kỷ 20, họ mới bắt đầu được đối xử bình đẳng với nam giới.

 

Một trong những nữ y sĩ đầu tiên được nhắc đến là Merit-Ptah, khoảng 4.700 năm trước, vào thời vị thần y Imhotep của Ai Cập cổ đại. Có rất ít manh mối về năng lực của bà, ngoại trừ việc con trai bà, Thượng tế, đã khắc dòng chữ “Y sĩ Trưởng” lên lăng mộ của bà gần Saqqara. Trong lịch sử lâu dài của Ai Cập cổ đại – nó đã tồn tại hơn thiên niên kỷ từ khi sụp đổ cho đến ngày nay – quyền lực của phụ nữ trong y học tăng lên rồi suy yếu. Phụ nữ chủ yếu đảm nhận vai trò chăm sóc, mặc dù 3.500 năm trước, sinh viên nữ có thể theo học trường y tại Heliopolis. Ở Hy Lạp cổ đại, hơn 2.600 năm trước, sử thi Iliad của Homer có nhắc đến Agamede, con gái của Augeas, Vua của người Epeia: “Agamede tóc vàng, người am hiểu tất cả các loại cây thuốc được trồng trên khắp trái đất.” Cũng như ở Ai Cập, vị trí của phụ nữ trong y học thay đổi theo thời gian và địa điểm, vì các thành phố tự đặt ra luật lệ riêng qua nhiều thế kỷ. Cuốn “Bệnh tật và Phương pháp Chữa trị cho Phụ nữ” của Metrodora, được viết khoảng 2.300 năm trước, là một trong những cuốn sách y khoa đầu tiên do một phụ nữ viết. Metrodora đề cập đến phụ khoa với sự kết hợp giữa kinh nghiệm cá nhân và kiến ​​thức Hippocrates. Các nữ thầy thuốc Hy Lạp thường chỉ giới hạn trong việc điều trị các bệnh lý ở phụ nữ. Để có thể điều trị nhiều đối tượng, một nhân vật nữ người Hy Lạp, hình như thuộc huyền thoại, Agnodice, đã cải trang thành nam giới để theo học và hành nghề y.  Mánh khóe này đã xuất hiện nhiều lần trong suốt chiều dài lịch sử. Mãi đến năm 1865, khi khám nghiệm tử thi bác sĩ phẫu thuật Quân đội Anh, Tiến sĩ James Barry, mới phát hiện “ông ấy”, một bác sĩ tốt nghiệp trường y khoa Edinburgh, từng phục vụ ở Ấn Độ, Nam Phi, Địa Trung Hải và Caribe, trở thành Tổng Thanh tra các bệnh viện quân y và có hơn 40 năm kinh nghiệm trong việc thúc đẩy chế độ ăn uống, vệ sinh và sức khỏe cộng đồng, thực chất là một phụ nữ.

 

Trong thế giới Hồi giáo, các nữ y sĩ được nhắc đến khi điều trị các bệnh lý của phụ nữ ngay từ thế kỷ thứ 8, và đến thế kỷ 15, các phẫu thuật viên nữ được mô tả trong cuốn sổ tay phẫu thuật Cerrahiyyetu’l-Haniyye (Phẫu thuật Hoàng gia), do Sabuncuoglu Serefeddin biên soạn. Tại các vùng Germanic, nữ tu viện trưởng, nhà thơ, nhà soạn nhạc và nhà tự nhiên học Hildegard xứ Bingen vào thế kỷ 12 là một trong những y sĩ vĩ đại nhất thời bấy giờ. Tác phẩm Liber Simplicis Medicinae (Sách về Y học Đơn giản) của bà, sau này được gọi là Physica, ca ngợi giá trị y học của hàng trăm loại thảo mộc, cây cối, bộ phận động vật và khoáng chất. Tác phẩm Liber Compositae Medicinae (Sách về Y học Tổng hợp) của bà, sau này trở thành Causae et Curae (Nguyên nhân và Cách chữa trị), cũng được biên soạn vào những năm 1150, thảo luận về các triệu chứng và phương pháp điều trị các bệnh lý về thể chất và tinh thần một cách toàn diện như một sự tương tác giữa cơ thể và tâm hồn. Trong cơn sốt mất cân bằng dịch thể, chẳng hạn: “… linh hồn nằm ủ rũ trong cơ thể và chờ đợi. . . Cứ thế nó tiếp tục cho đến ngày thứ bảy vì nó vẫn chưa thể thoát khỏi các thể dịch rối loạn của mình Tuy nhiên, nếu nó nhận thấy rằng cường độ của những thể dịch này, nhờ ân sủng của Chúa, đang bắt đầu giảm bớt phần nào linh hồn sẽ tập hợp lại sức mạnh của mình và bằng cách đổ mồ hôi, nó sẽ đẩy những thể dịch gây rối này ra khỏi cơ thể.”

HILDEGARDE XỨ BINGEN

Nhà soạn nhạc, triết gia và nữ tu viện trưởng dòng Benedictine Hildegarde xứ Bingen vào thế kỷ 12 là một trong những y sĩ vĩ đại nhất thời bấy giờ.

 

Một cái tên vĩ đại khác của thời đại là Trotula di Ruggiero xứ Salerno, sống vào nửa cuối thế kỷ 11, mặc dù cuộc đời riêng của bà khá mờ mịt và có nhiều ý kiến ​​khác nhau về việc bà là người thật hay chỉ là huyền thoại. Salerno ở tây nam nước Ý tự hào là trường y khoa đầu tiên được công nhận rộng rãi ở châu Âu, và một trong nhiều cải tiến của trường là cho phép phụ nữ đủ điều kiện hành nghề y sĩ. Vào thời điểm đó, phụ nữ thường bị cấm không chỉ tham gia đào tạo y khoa chính quy mà còn bị cấm tham gia hầu hết các chương trình giáo dục đại học. Tên tuổi của Trotula gắn liền với nhiều ấn phẩm đóng vai trò trụ cột của y học trong nhiều thế kỷ; được gọi chung với tên gọi “Trotula”, bao gồm Bệnh Phụ Nữ, Phương Pháp Điều Trị Phụ Nữ,Mỹ Phẩm Phụ Nữ. Văn bản được viết theo văn phong  trực tiếp và thực tế, ít đề cập đến huyền bí. Các văn bản khuyến nghị chẩn đoán bệnh bằng cách đặt câu hỏi cho bệnh nhân và ghi lại nhịp mạch, nhịp thở, biểu hiện da và xét nghiệm nước tiểu, tất cả đều là những thông tin bất thường vào thời điểm đó. Các bài thuốc từ thảo dược và bộ phận động vật được đưa ra, cùng với lời khuyên về việc nghỉ ngơi, căng thẳng, vệ sinh, tập thể dục, chế độ ăn uống – và cách che đi tàn nhang. Nếu Trotula là có thật, thì bà là người tiên phong trong lĩnh vực phụ khoa, sản khoa và sức khỏe phụ nữ. Các văn bản đề cập đến vệ sinh phụ nữ, kinh nguyệt, khả năng sinh sản, thụ thai, mang thai và sinh nở. Một trong những tư tưởng cấp tiến nhất của bà là việc không thụ thai có thể là do lỗi của người đàn ông. Bà cũng ủng hộ việc giảm đau khi sinh con, trái ngược với quan điểm phổ biến của Cơ đốc giáo rằng phụ nữ phải chịu đựng cơn đau do hành vi tội lỗi của Eva trong Vườn Địa Đàng.

TRƯỜNG Y TẾ SALERNO

Công tước Robert II của Normandy được một nữ bác sĩ tiếp đón tại Trường Y Salerno vào thế kỷ 11.

 

NGA CÓ NHIỀU BÁC SĨ NỮ VÀO NĂM 1914 HƠN TOÀN BỘ TÂY ÂU CỘNG LẠI: 1,600 NGƯỜI

 

Đáng buồn thay, truyền thống bao dung của Salerno không tồn tại lâu,  và xu hướng cấm đoán phụ nữ lan rộng khắp châu Âu. Năm 1220, lệnh cấm được áp dụng tại Đại học Paris, và năm 1390, phụ nữ bị loại khỏi các trường y ở London. Có một vài ngoại lệ – năm 1390, Dor Dorotea Bocchi kế vị cha mình để bắt đầu nhiệm kỳ 40 năm với tư cách là Giáo sư Y khoa và Triết học tại Đại học Bologna – nhưng đến thế kỷ 16, lệnh cấm đã có hiệu lực tại hầu hết các trường đại học châu Âu. Năm 1732, Laura Bassi, con gái của một luật sư có nhiều mối quan hệ, trở thành Giáo sư Giải phẫu khi mới 21 tuổi, cũng tại Bologna – và năm 1755, Anna Manzolini kế vị chồng mình ở cùng vị trí.

 

Thành tựu của Bassi đã gây ấn tượng mạnh mẽ với Dorothea Erxleben ở Quedlinburg, Phổ. Khi còn nhỏ, Erxleben quyết định theo đuổi nghề nghiệp của cha mình và học y khoa. Cha bà, vốn nổi tiếng là người hay nổi loạn, thậm chí đã thỉnh cầu Frederick Đại đế cho phép bà theo đuổi việc học, và vua Phổ đã đồng ý. Erxleben đã viết cuốn “Điều tra về Nguyên nhân Ngăn cản Giới tính Nữ Học tập”  và năm 1754, bà tốt nghiệp ngành y tại Đại học Halle với tư cách là nữ bác sĩ đầu tiên của Phổ. Một lần nữa, đây là một trường hợp cá biệt; mãi đến năm 1901, một phụ nữ khác mới đủ điều kiện hành nghề bác sĩ tại Halle.

 

Năm 1847, Elizabeth Blackwell được nhận vào học tại Đại học Y Geneva, bang New York, sau khi đã nộp đơn vào nhiều trường y khác mà không trúng tuyển. Ban giám hiệu nhà trường được cho là đã né tránh giải quyết yêu cầu của bà và giao cho các sinh viên bỏ phiếu quyết định, họ lại nghĩ rằng đó là một trò vô bổ nên nhất trí trả lời “đồng ý”.

 

Sinh ra tại Bristol, Anh, Blackwell cùng gia đình di cư đến New York vào năm 1830 và chuyển đến Cincinnati tám năm sau đó. Công việc kinh doanh đường của gia đình đòi hỏi rất nhiều lao động nô lệ, nhưng ngay từ thời trẻ Blackwell đã có khuynh hướng muốn cải cách xã hội, xóa bỏ chế độ nô lệ và giáo dục cho dân nghèo và những kẻ chịu thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ. Nghề y phù hợp với những người có lý tưởng như vậy, vì vậy Blackwell vừa làm giáo viên để kiếm tiền trang trải vừa học y khoa vào thời gian rảnh rỗi. Tại Geneva, Blackwell tốt nghiệp năm 1849 với tấm bằng y khoa, tấm bằng đầu tiên được trao cho một phụ nữ ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc làm trong bệnh viện rất khó tìm, vì vậy bà đã đến London, rồi đến Paris, nơi bà tìm được việc làm tại một bệnh viện phụ sản. Kỹ năng sản khoa của bà được đánh giá cao, và bà chuyển đến Bệnh viện St. Bartholomew, London. Tuy nhiên, thái độ của người Anh đối với các nữ bác sĩ thậm chí còn bảo thủ hơn, và đến năm 1851, Blackwell trở lại New York, nơi bà thành lập một phòng khám và sau đó là một trạm xá cung cấp thuốc men và phương pháp điều trị miễn phí cho phụ nữ và trẻ em nghèo. Năm 1857, cùng với người chị gái Emily luôn ủng hộ và nhà cải cách cùng chí hướng, đồng thời là cựu sinh viên của Trường Y Cleveland, Maria Zakrzewska, bà đã mở Bệnh viện New York dành cho Phụ nữ và Trẻ em Nghèo. Bệnh viện này thành công đến mức chỉ trong một năm, bệnh viện cần một cơ sở lớn hơn, và cuối cùng trở thành Bệnh viện Trung tâm Đại học New York như ngày nay. Phong trào do Blackwell khởi xướng ngày càng phát triển mạnh mẽ, và chẳng bao lâu sau, các trường y dành cho phụ nữ đã được mở tại Boston, Philadelphia và New York. Sau đó, vào năm 1869, Blackwell rời Hoa Kỳ để trở về Anh, nơi bà đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Trường Y khoa dành cho Phụ nữ London vào năm 1874, cùng với Sophia Jex-Blake và Elizabeth Garrett Anderson. Jex-Blake là một trong những nữ bác sĩ đầu tiên ở Anh, và bà tiếp tục thành lập Trường Y khoa dành cho Phụ nữ Edinburgh vào năm 1886. Elizabeth Garrett Anderson đã gặp Blackwell vào năm 1859 và ngay lập tức được truyền cảm hứng theo đuổi sự nghiệp y khoa. Bà bắt đầu làm y tá tại Bệnh viện Middlesex ở London vào năm 1860, và với sự hậu thuẫn về tài chính và tinh thần của gia đình, bà đã theo đuổi việc học tập về các lĩnh vực liên quan như giải phẫu, sinh lý học và dược liệu, và tham dự các bài giảng về hóa học. Năm sau, bà tốt nghiệp ngành dược liệu và hóa học, và vào năm 1862, bà đăng ký vào Hội Dược sĩ, một lần nữa tham gia học kèm riêng. Ba năm sau, Hội đã chấp thuận cấp giấy phép hành nghề y cho bà, đây là giấy phép đầu tiên dành cho một phụ nữ Anh – mặc dù sau đó Hội đã thay đổi quy định và cấm phụ nữ hành nghề.

ELIZABETH BLACKWELL

Là người phụ nữ đầu tiên nhận bằng y khoa tại Hoa Kỳ, Elizabeth Blackwell đã thành lập Bệnh viện New York dành cho Phụ nữ và Trẻ em nghèo.

ELIZABETH GARRETT ANDERSON

Nhà nữ quyền người Anh Elizabeth Garrett Anderson đã vượt qua kỳ thi lấy bằng Bác sĩ tại Đại học Paris vào năm 1870.

 

Phụ nữ vẫn bị đối xử bất bình đẳng trong các bệnh viện, vì vậy, giống như Blackwell, Garrett Anderson đã mở một phòng khám tư và thành lập Bệnh viện Phụ nữ và Trẻ em St. Mary vào năm 1866. Năm 1872, bệnh viện có thêm giường bệnh nội trú và trở thành Bệnh viện Phụ nữ Mới – đổi tên thành Bệnh viện Elizabeth Garrett Anderson vào năm 1918. Sau đó, Garrett đồng sáng lập Trường Y khoa Phụ nữ London và trở thành nữ thành viên đầu tiên của Hiệp hội Y khoa Anh vào năm 1873. Từ năm 1883 đến khi nghỉ hưu vào năm 1902, bà là nữ hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y khoa Phụ nữ London, và trong nhiều năm, bà đã tích cực vận động cho phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ.

 

Năm 1876, Quốc hội Anh cuối cùng đã thông qua dự luật cho phép phụ nữ được chính thức tham gia vào ngành y. Các quốc gia khác cũng làm tương tự. Năm 1875, Madeleine Brès trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận được giấy phép hành nghề y của Pháp, và năm 1900, bác sĩ người Nhật Bản và nhà hoạt động nữ quyền Yoshioka Yayoi đã thành lập Đại học Y khoa Phụ nữ Tokyo. Hai năm sau, Trường Cao đẳng Y khoa Hackett dành cho Phụ nữ được mở tại Quảng Châu, Trung Quốc. Cuối cùng, phụ nữ cũng có cơ hội – nhưng phải đến tận thế kỷ 20, bình đẳng giới thực sự mới được thiết lập.

Y TÁ VÀ NỮ HỘ SINH

Một nhóm y tá và nữ hộ sinh thực tập tạo dáng trước ống kính tại một trường đào tạo ở London vào năm 1908. Tại Anh, phụ nữ cuối cùng đã được phép theo đuổi nghề y vào năm 1876, sau những chiến dịch không mệt mỏi của Elizabeth Blackwell và những người khác.

 

Gây Mê

 

Ngày nay không một người nào có tâm trí lành mạnh lại chọn được phẫu thuật trong điều kiện bẩn thỉu, đầy vi khuẩn và không có thuốc giảm đau. Nhưng trước giữa thế kỷ 19, thời điểm báo trước những tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật gây mê và thuốc sát trùng diệt khuẩn, đây chính là thực tế mà bệnh nhân phải đối mặt. Gây mê toàn thân khiến cơ thể tạm thời bất tỉnh và không phản ứng với các kích thích, ngay cả khi rất đau đớn; nó cho phép bác sĩ phẫu thuật làm việc trên cơ thể đã được gây mê mà không khiến bệnh nhân la hét và quằn quại trong đau đớn. Buổi trình diễn gây mê công khai thành công đầu tiên, trong đó nha sĩ William Morton sử dụng khí ether, diễn ra vào ngày 16 tháng 10 năm 1846. Kỷ nguyên gây mê hiện đại bắt đầu vào ngày này và được kỷ niệm hàng năm gọi là Ngày Gây mê Thế giới. Tuy nhiên, giống như hầu hết các hoạt động y tế khác, gây mê có một lịch sử lâu đời và đầy màu sắc.

SỬ DỤNG ETHER LẦN ĐẦU TIÊN

Buổi trình diễn gây mê của nha sĩ William Morton đã diễn ra tại giảng đường phẫu thuật của Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Giảng đường này hiện được gọi là Ether Dome và là một di tích lịch sử được công nhận của Hoa Kỳ.

 

Loại thuốc gây mê đầu tiên được các nhà sản xuất rượu vang ở Đông Âu và Tây Á tình cờ phát hiện ra cách đây 6.000 năm. Chắc hẳn khi say sưa tận hưởng thành quả lao động của mình, họ nhận ra rằng việc lạm dụng rượu sẽ làm giảm độ nhạy cảm, và rượu sẽ che lấp các kích thích như đau đớn.

 

Một lựa chọn cổ xưa khác là thuốc phiện, được chế biến từ nhựa cây anh túc. Đặc tính gây ảo giác và gây ngủ của nó đã được ghi chép trên các tấm bia từ thời Sumer cổ đại, và thuốc phiện đã trở thành một phần của cuộc sống ở nhiều nền văn hóa châu Á. Từ thế kỷ 16, thuốc phiện cũng trở nên phổ biến ở châu Âu. Những người nổi tiếng như Paracelsus và, vào thế kỷ 17, Thomas Sydenham, đã kết hợp thuốc phiện, cồn và các thành phần khác để sản xuất laudanum (cồn thuốc phiện). Các loại thuốc được cấp bằng sáng chế dựa trên thuốc phiện đạt được một mức độ giảm đau và gây mê nhất định, nhưng cũng có các tác dụng phụ khác, đáng chú ý là gây nghiện.

 

Các loại cây khác từ lâu đã được sử dụng vì đặc tính gây mê của chúng – có tác dụng gây mê, giảm đau và gây mất ý thức – bao gồm cần sa, các loại cà độc dược, cây mandrake, cây bryony, cây độc cần, cây metel, cây táo gai, cây cưa, và rau diếp dại hoặc rau diếp thuốc phiện. Ở châu Mỹ, cây coca được khai thác để làm thuốc giảm đau và các đặc tính khác. Các phương pháp giảm đau của người Ai Cập cổ đại đã được mô tả trong cuốn “Incantations of Analgesia” (Bùa chú Giảm Đau) từ giấy cói Ebers, và bác sĩ người Hy Lạp Dioscorides đã liệt kê các đặc tính của chiết xuất cây mandrake. Ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 2, thần y Hoa Đà đã thực hiện các ca phẫu thuật sử dụng một chất bí ẩn được gọi là ma phi tán (mafeisan). [Theo Tam Quốc Chí, khi Hoa Đà nạo xương rút chất độc do tên bắn cho Quan Vân Trường, vị thần tướng này từ chối uống thuốc giảm đau, mà chỉ thản nhiên ngồi đánh cờ trong khi Hoa Đà xẻ thịt, nạo xương rột rột, người ngoài nghe thấy còn ê răng, toát mồ hôi, duy Quan Vân Trường vẫn tỉnh bơ tiếp tục đánh cờ !!!] Rất lâu sau đó, vào đầu những năm 1800, y sĩ phẫu thuật người Nhật Hanaoka Seishu đã xem xét lại ý tưởng về ma phi táng để tạo ra tsusensan, sử dụng chiết xuất từ ​​cây cà độc dược. Bệnh nhân của Hanaoka được cho là đã uống tsusensan, và bất tỉnh trước khi phẫu thuật viên bắt đầu làm việc.

 

Vào thời Trung Cổ, các loại thuốc gây mê lan tràn không kiểm soát. Các phương pháp sử dụng bao gồm “miếng bọt biển gây ngủ”, trong đó các chế phẩm được ngâm vào giẻ hoặc bọt biển và áp lên mũi và miệng bệnh nhân. Bằng cách này, nếu có vấn đề gì xảy ra, miếng bọt biển có thể được lấy ra nhanh chóng. Bác sĩ Ả Rập Ibn Sina đã đề cập đến miếng bọt biển trong tác phẩm Al-Qanun fi al-Tibb của ông. Khuyết điểm lớn nhất trong việc sử dụng những loại thuốc như vậy là do số lượng và chất lượng hoạt chất không thể đoán trước. Không có cách nào đảm bảo liều lượng chuẩn, hiệu quả của chúng đi từ gần như không có gì đến gây mê hữu ích đến đột tử. Kết quả là, các phương pháp gây mê phi hóa chất đã được thử nghiệm. Chúng bao gồm từ việc ướp lạnh thân thể, giáng một đòn chí mạng vào đầu, cho đến siết cổ bệnh nhân đến mức ngất xỉu. Với cách tiếp cận ít bạo lực hơn, gây mê thôi miên và làm giảm đau đã trở nên phổ biến ở châu Âu vào thế kỷ 19, nhờ Franz Anton Mesmer. Các thầy thuốc đã báo cáo một số thành công với “thuật thôi miên”, nhưng các quy trình này không đáng tin cậy.

 

Tất cả những phương pháp này đã bị lu mờ trước các sự kiện của thập niên 1840, đã thay đổi hoàn toàn tiến trình gây mê. Một số khám phá, bắt đầu từ châu Âu thế kỷ 16, đã dẫn đến điểm mốc này. Khoảng năm 1540, nhà khoa học người Đức Valerius Cordus đã khám phá ra cách tạo ra ether từ ethanolaxit sulfuric, và do đó, chất lỏng dễ bay hơi này trở nên phổ biến hơn. Bác sĩ lang thang Paracelsus, người trước đó đã tạo ra cồn thuốc phiện, lưu ý rằng việc thêm dầu ngọt vitriol (ether) vào thức ăn “… làm dịu mọi đau đớn mà không gây hại, làm giảm mọi cơn đau, hạ sốt và ngăn ngừa biến chứng của mọi bệnh tật.” Nhưng ông đã thực hiện những quan sát này trên gà. Vào cuối thế kỷ 18, hơi ether đã được hít vào để giảm đau và sau đó, trong các “cuộc vui chơi ether”. Tại những buổi tụ tập này, những người tham gia hít khí và mua vui cho khán giả bằng những trò hề quay cuồng  chóng mặt, của họ. Nitơ Oxit (N2O) là một loại thuốc hít thời thượng khác vào thời điểm đó. Hợp chất khí này lần đầu tiên được nhà hóa học-thần học người Anh Joseph Priestley tạo ra vào năm 1772, ông cũng là người tiên phong trong việc cô lập oxy. Năm 1800, một nhà khoa học người Anh lỗi lạc khác, Humphry Davy, đã báo cáo rằng việc hít khí nitơ oxit không chỉ gây ra tiếng cười không kiểm soát được nên ông gọi là “khí cười” mà còn giúp làm dịu cơn đau như đau răng. Một ngày nào đó, ông tự hỏi, liệu loại khí này có thể được sử dụng để giảm đau trong các ca phẫu thuật không?

 

Ở Mỹ, các trò chơi ether và tiệc vui khí cười trở nên phổ biến vào đầu thế kỷ 19, đặc biệt là với sinh viên hóa học và y khoa. Một số sinh viên nhận thấy rằng những chấn thương mà người tham gia vô ý gặp phải trong các cuộc vui này không hề gây ra đau đớn cho họ, đến nỗi họ chỉ nhận biết sự hiện diện của các chấn thương này sau khi tiệc vui tàn. Sau khi tốt nghiệp ngành y và nha khoa, và nhớ lại tác dụng giảm đau rõ ràng của hai loại khí này, họ lập luận rằng một liều lượng lớn hơn có thể có tác dụng gây mê trong phẫu thuật.

TIỆC CƯỜI

Nitơ oxit được sử dụng như một loại thuốc giải trí vào thế kỷ 19. Khách khứa hít “khí cười” tại các bữa tiệc và tận hưởng cảm giác hưng phấn, giảm đau của nó.

 

Vào tháng 1 năm 1842, tại Burlington, Vermont, William Clarke đã cho một bệnh nhân nha khoa hít ether từ khăn trong khi nhổ răng. Hai tháng sau, tại Jefferson, Georgia, một bác sĩ khác, Crawford Long, đã cho bệnh nhân hít ether trong khi cắt bỏ khối u ở cổ. Tuy nhiên, cả Clarke lẫn Long đều không báo cáo việc làm của họ vào thời điểm đó.

 

Vào tháng 12 năm 1844, nha sĩ Horace Wells đã tham gia một buổi tiệc vui với khí nitơ oxit tại Hartford, Connecticut. Ông rất ngạc nhiên khi thấy một người tham gia bị thương nhưng dường như không hay biết. Ngày hôm sau, Wells nhờ một nha sĩ khác, John Riggs, nhổ chiếc răng khôn đau đớn của mình, trong khi người tổ chức xô diễn, Gardner Quincy Colton, “nốc ao” Wells bằng khí nitơ oxit. Thí nghiệm thành công, và Wells bắt đầu sử dụng khí nitơ oxit trên bệnh nhân của mình. Mong muốn chứng minh thành công, ông đã sắp xếp một buổi trình diễn công khai kỹ thuật mới của mình tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts ở Boston vào tháng 1 năm 1845. Đáng buồn thay, kế hoạch đã phản tác dụng, và bệnh nhân đã rên rỉ trong suốt ca phẫu thuật. Wells vô cùng khổ sở: “Túi khí đã bị rút ra quá sớm do nhầm lẫn. Nhiều người cho rằng đó là một trò bịp bợm.” Danh tiếng của ông đã sụt giảm nghiêm trọng. Mặc dù liên tục nỗ lực bảo vệ phương pháp này, ông vẫn không thể lấy lại được uy tín và đã tự tử ba năm sau đó.

 

Năm sau, vào tháng 9 năm 1846, đối tác cũ và đồng nghiệp của Wells, William Morton, được khích lệ bởi những thành công ban đầu, cũng đã tổ chức một buổi trình diễn dàn dựng tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Vào ngày 16 tháng 10, Morton đã  cho bệnh nhân Edward Abbott hít ether trong khi bác sĩ phẫu thuật chính John Collins Warren cắt bỏ một phần khối u hàm dưới. Ether đã có hiệu quả – Abbott không hề kêu la hay phản ứng gì với ca phẫu thuật. Warren nhận thấy bệnh nhân rơi vào trạng thái vô cảm… không hề cảm thấy đau đớn vào thời điểm đó, mặc dù biết rằng ca phẫu thuật đang được tiến hành….” Các nhà quan sát y khoa đã rất ấn tượng, và tin tức lan truyền nhanh chóng: kỷ nguyên gây mê toàn thân có kiểm soát đã bắt đầu.

 

Trong khi đó, bên kia Đại Tây Dương, người châu Âu đã phản ứng với tin tức này bằng cách tự tạo ra thuốc gây mê của riêng họ. Loại khí họ lựa chọn là chloroform. Vào tháng 3 năm 1847, nhà sinh lý học người Pháp Marie-Jean-Pierre Flourens đã chứng minh rằng động vật hít phải chloroform sẽ trải qua trạng thái bất tỉnh tạm thời. Tám tháng sau, bác sĩ người Scotland James Young Simpson đã giới thiệu phương pháp gây mê bằng chloroform cho con người, sử dụng nó cho phụ nữ đang sinh nở để giảm cơn đau đẻ. Simpson đã tự mình thử nghiệm phương pháp này lần đầu tiên với bạn bè – một thử thách đầy rủi ro mà ông may mắn sống sót. Nhà dịch tễ học và bác sĩ gây mê tiên phong John Snow đã giúp xác định lượng chloroform an toàn, và sau đó là ether, cho các mức độ giảm đau và bất tỉnh khác nhau. Năm 1853, dưới sự giám sát của Snow, Nữ hoàng Victoria của Anh đã dùng chloroform khi sinh con trai Leopold và bốn năm sau đó, cho con gái Beatrice. Bà viết: “Bác sĩ Snow đã cho dùng loại chloroform thần thánh đó và hiệu quả thật nhẹ nhàng, êm dịu và tuyệt vời không gì sánh bằng.” Được khuyến khích bởi sự chứng thực của hoàng gia, công chúng nhanh chóng chấp nhận ý tưởng gây mê.

 

Trở lại Hoa Kỳ, thuốc gây mê bằng ether dần nhường chỗ cho khi chloroform đang trở thành loại thuốc được ưa chuộng. Tuy nhiên, chloroform có những tác dụng phụ nguy hiểm, đôi khi gây tử vong, nên đến đầu thế kỷ 20, nó đã bị thay thế. Kể từ đó, các nghiên cứu chuyên sâu đã mang lại những loại thuốc gây mê toàn thân an toàn và hiệu quả hơn, bao gồm ethyl chloride (1903), ethylene (những năm 1920), halothane (những năm 1950), methoxyflurane và enflurane (những năm 1960), isoflurane (những năm 1970), desflurane (1987), và sevoflurane (những năm 1990).

CLOVER VÀ CHLOROFORM

Joseph Thomas Clover đã phát minh ra một thiết bị có thể cung cấp chloroform qua mặt nạ.

 

TỶ LỆ TỬ VONG XẤP XỈ SAU CÁC PHẪU THUẬT TRƯỚC THẾ KỶ 19:

80%

 

Khi các loại khí được sử dụng để gây mê được cải thiện, cách thức sử dụng chúng cũng được cải tiến. Sau khi xuất hiện bọt biển và khăn tay, các thiết kế bình xịt khí dung với bình, ống và bơm đã ra đời. Vào cuối thế kỷ 18, bác sĩ người Anh Thomas Beddoes đã nghĩ ra một số thiết kế sáng tạo, với sự hỗ trợ của chuyên gia động cơ hơi nước James Watt và Humphry Davy, nổi tiếng với khí cười. Vào những năm 1860, mặt nạ dây được phát triển, trên đó chất lỏng gây mê được nhỏ giọt, sau đó hóa hơi. Joseph Thomas Clover, một bác sĩ người Anh, đã thêm bộ điều chỉnh và túi vào mặt nạ. Năm 1917, Henry Boyle, tại Bệnh viện St. Bartholomew, London, đã giới thiệu một “máy gây mê” – một xe đẩy có bánh với nguồn cung cấp khí, bơm, bình chứa, van, đồng hồ đo lưu lượng và áp suất, mặt nạ và các thiết bị khác cần thiết để cung cấp khí gây mê liên tục và theo dõi tình trạng bệnh nhân. Vào thời điểm này, ống dẫn khí đã được đặt vào khí quản, cho phép kiểm soát chính xác hơn, và vào những năm 1930, barbiturat natri thiopental trở thành thuốc gây mê toàn thân đầu tiên được tiêm tĩnh mạch (trực tiếp vào tuần hoàn máu).

 

Ngoài gây mê toàn thân “kiểu nốc ao”, các loại gây tê khác cũng đã được phát triển. Vào những năm 1870, thuốc gây tê cục bộ đầu tiên – loại thuốc làm mất cảm giác trên một vùng nhỏ – là cocaine. Chất này đã được Albert Niemann tinh chế từ cây coca vào năm 1860 tại Đại học Göttingen, Đức. Việc phát hiện ra độc tính của cocaine sau đó đã dẫn đến sự ra đời của các loại thuốc “gây tê tại chỗ” an toàn hơn, chẳng hạn như procaine vào năm 1905 và lidocaine  vào những năm 1940. Gây tê vùng làm tê một phần lớn hơn hoặc sâu hơn của cơ thể, chẳng hạn như bụng. Vào những năm 1890, bác sĩ phẫu thuật người Đức August Bier đã giới thiệu phương pháp gây tê tủy sống để loại bỏ cảm giác từ cơ thể bên dưới vị trí tiêm; và vào những năm 1940, một phương pháp cải tiến, gây tê ngoài màng cứng, đã được đưa vào thực hành chính thống.

 

Kỳ vọng của chúng ta về y học đã được định hình bởi những tiến bộ của gây mê. Hãy tưởng tượng một ca phẫu thuật lớn hoặc thậm chí một lần đi khám nha sĩ mà không được gây mê hay gây tê. Cuộc tìm kiếm một phương pháp gây mê an toàn và hiệu quả hơn vẫn đang tiếp diễn. Ước tính rất khác nhau, nhưng với những tiến bộ mới nhất, nguy cơ tử vong liên quan trực tiếp đến gây mê toàn thân dao động từ 1 trên 7.000 đến 1 trên 200.000.

 

Thuốc Gây Mê Ban Đầu

 

Vào những năm 1840, việc sử dụng thuốc gây mê – những chất gây mất cảm giác hoặc ý thức tạm thời – đã phát triển nhanh chóng. Bệnh nhân hít các chất như chloroform, ether hoặc nitơ oxit dưới dạng hơi, khiến họ mất cảm giác đau. Khi việc sử dụng thuốc gây mê trong phẫu thuật trở nên phổ biến hơn, cả bác sĩ và nhà sản xuất đều phát minh ra các thiết bị cải tiến để có thể sử dụng hóa chất an toàn hơn.

Ống hít clo của Snow (khoảng năm 1848)

James Simpson phát hiện ra chloroform là một chất gây mê vào năm 1847. John Snow, bác sĩ gây mê chuyên khoa đầu tiên của Anh, sau đó đã phát minh ra ống hít này. Đầu ống được gắn vào mặt nạ chì mà bệnh nhân đeo.

Ống hít cloroform loại Murphy (1850-1900)

Ống hít này, chứa một miếng bọt biển thấm chloroform, được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc gây mê cho phụ nữ khi sinh con vào nửa sau thế kỷ 19.

MẶT NẠ GÂY MÊ CẢI TIẾN CỦA SKINNER (1862-1901)

Bác sĩ phụ khoa Thomas Skinner đã thiết kế chiếc mặt nạ này sao cho dễ mang theo và dễ sử dụng. Chloroform hoặc ether lỏng được nhỏ lên một miếng vải mỏng, bệnh nhân giữ hoặc kẹp vào mũi trước khi hít thuốc gây mê.

XI LANH NITƠ OXIT (1840-1868)

Năm 1868, người ta đã tìm ra cách biến khí nitơ oxit (còn được gọi là “khí cười”) thành dạng lỏng để có thể lưu trữ trong các bình. Khi được bán dưới dạng này, loại khí này trở nên phổ biến như một loại thuốc gây mê, đặc biệt là trong nha khoa.

BỘ HÍT ETHER KIỂU MORGAN (1881-1890)

Bác sĩ phẫu thuật người Anh John H. Morgan đã phát minh ra ống hít này. Một miếng bọt biển thấm ether được đặt vào đầu hẹp của hình nón, và bệnh nhân hít vào qua đầu rộng.

Ống tiêm dưới da (1885-1900)

Ống tiêm dưới da như mẫu của Mỹ này ngày càng phổ biến vào thế kỷ 19, đặc biệt là trong gây mê nha khoa.

BỘ ỐNG TIÊM DƯỚI DA (1885-1910)

Được đóng gói trong hộp nhôm nhỏ gọn, ống tiêm này có hai kim và một lượng thuốc gây mê dự trữ. Bác sĩ phẫu thuật nghiền nát và pha loãng chúng trước khi tiêm.

TRÁI: ETHER (1891-1930) Việc sử dụng ether làm thuốc gây mê đã nhanh chóng được chấp nhận sau khi được chứng minh trước công chúng tại Hoa Kỳ vào những năm 1840. Nó được sử dụng trong nhiều thủ thuật khác nhau, từ nhổ răng đến cắt bỏ khối u.

 

PHẢI: TRICHLOROETHYLENE (1940-1960)

Được tiếp thị với tên gọi Trilene, loại hóa chất lỏng dễ bay hơi này được hít qua ống ngậm để giảm đau trong quá trình chuyển dạ. Mặc dù phổ biến trong nhiều thập kỷ, nhưng sau đó đã được thay thế bằng nitơ oxit.

THIẾT BỊ CHLOROFORM “ESO” (1945)

Được thiết kế để cung cấp hơi chloroform qua ống ngậm, thiết bị này được phát triển trong Thế chiến thứ II và được chế tạo đủ chắc chắn để chịu được lực rơi từ dù và sử dụng trên chiến trường.

 

John Snow và Dịch tễ học

 

Dịch tễ học là ngành nghiên cứu về các mô hình, nguyên nhân và ảnh hưởng của bệnh tật (và sức khỏe) trong quần thể. Nó điều tra và phân tích các mô hình bệnh tật và tìm kiếm các phương pháp kiểm soát cũng như ngăn ngừa sự tái phát. Tuy nhiên, việc xác định bệnh tật với bất kỳ độ chính xác nào chỉ có thể thực hiện được kể từ khi phát hiện ra vi khuẩn vào cuối thế kỷ 19. Trước đó, người ta thường cho rằng dịch bệnh là do “không khí độc hại” hay “miasma”, được cho là phát ra, cùng với những thứ khác, từ chất hữu cơ thối rữa. Một trong những người đầu tiên phản bác ý tưởng này là bác sĩ người Anh John Snow, ông đã đưa ra giả thuyết rằng có mối liên hệ giữa bệnh tật và nguồn cung cấp nước trong một đợt bùng phát dịch tả ở London, Anh, năm 1854. Nhờ những công trình tiên phong trong lĩnh vực này, ông được biết đến như một trong những cha đẻ của dịch tễ học hiện đại.

 

Lịch sử lâu đời của bệnh tả thường bị nhầm lẫn bởi thực tế là có rất nhiều bệnh lý có các triệu chứng tương tự. Các triệu chứng này được mô tả trong Susruta Samhita của Ấn Độ cổ đại, Hippocrates Corpus  và các tác phẩm của các thầy thuốc người Ả Rập thế kỷ 11 Ibn Sina. Ngày nay, chúng ta biết rằng bệnh tả do một loại vi khuẩn có tên là Vibrio cholerae gây ra, ảnh hưởng đến ruột, gây nôn mửa và tiêu chảy nhiều lần. Điều này có thể làm mất cân bằng dịch và muối trong cơ thể, dẫn đến mất nước và thậm chí tử vong.

 

Một nhóm ca tử vong do bệnh tả ở London năm 1854 xảy ra ở khu vực phía tây-trung tâm Soho. John Snow sống cách đó chỉ vài con phố và biết rõ khu vực này. Ông cũng đã từng tiếp xúc với bệnh tả trong một trận dịch năm 1831-1832, và nhớ lại một cách sống động những đau khổ mà nó gây ra ở các khu vực khai thác mỏ đông đúc, thuộc tầng lớp lao động. Sau thời thơ ấu ở York, Snow đã học việc với bác sĩ phẫu thuật William Hardcastle ở Newcastle. Đến năm 1830, Snow đã đến London, và năm 1836, ông mở phòng khám ở Soho. Năm sau, ông đến Bệnh viện Westminster, nơi ông trở thành thành viên của cả Học viện Phẫu thuật Hoàng gia (năm 1838) và Học viện Y khoa Hoàng gia (năm 1850). Cuối năm 1846, Snow bắt đầu quan tâm đến những phát triển trong lĩnh vực gây mê đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Ông đã theo đuổi chuyên ngành mới này, thiết kế thiết bị mới và xuất bản cuốn Về Việc Hít Hơi Ether vào năm 1847. Đến năm 1853, danh tiếng của ông với tư cách là một bác sĩ gây mê tốt đến mức ông được yêu cầu sử dụng chloroform cho Nữ hoàng Victoria trong quá trình sinh con trai bà là Leopold.

 

Snow vẫn quan tâm đến các bệnh dịch, đặc biệt là bệnh tả, và cân nhắc các mô hình bùng phát mà ông đã trải qua ở vùng đông bắc nước Anh, London và các khu vực khác, cũng như các yếu tố như tình trạng quá tải dân số, nhận thức về vệ sinh, chất lượng thực phẩm và đồ uống, và điều kiện sống nói chung. Theo quan điểm của Snow, bằng chứng không chỉ ra “không khí nhiễm độc”, mà là thứ gì đó trong nước, một phần vì các triệu chứng ban đầu của bệnh tả nằm ở ruột, chứ không phải ở phổi hoặc máu. Năm 1849, cùng năm xảy ra một đợt bùng phát dịch tả khác, Snow xuất bản cuốn “Về Phương thức Truyền nhiễm của Bệnh Tả“, trong đó ông lập luận rằng bệnh tả “chứa trong chất bài tiết, và lây lan bệnh bằng cách nuốt phải”, chủ yếu qua nước uống – nhưng công trình của ông phần lớn bị giới y khoa bỏ qua.

 

Vào mùa hè năm 1854, dịch tả bùng phát khắp London. Dịch bùng phát ở khu Soho diễn ra đột ngột và dữ dội, bắt đầu từ ngày 31 tháng 8. Ba ngày sau, hơn 100 người đã chết, và sau hai tuần, số người chết đã vượt quá 500. Với hy vọng chứng minh nguyên nhân là do nước bị ô nhiễm, Snow đã xác định những ngôi nhà có người chết và điều tra các máy bơm nước địa phương lấy nước từ giếng. Phần lớn số ca tử vong tập trung quanh phố Broad, và khi hỏi thăm người dân địa phương, với sự giúp đỡ của Mục sư Henry Whitehead, Snow được biết rằng nước từ máy bơm nước phố Broad đã bị đục và có mùi lạ trong nhiều ngày. Để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, Snow đề xuất tháo bỏ tay cầm của máy bơm để ngăn người dân sử dụng nước. Đề xuất này đã được thực hiện, và các ca bệnh tả đã giảm ngay lập tức. Snow thừa nhận rằng số ca tử vong đã giảm, có thể chỉ vì quá nhiều người dân đã bỏ chạy khỏi khu vực hoặc chết, nhưng ông đánh dấu vị trí người chết trên bản đồ, minh họa trực quan mối liên hệ giữa những cái chết và máy bơm nước.

JOHN SNOW

Bác sĩ người Anh John Snow đã suy luận đúng rằng bệnh tả lây truyền qua chất lỏng, bao gồm cả nước uống.

SÚP QUÁI VẬT

Bản khắc châm biếm năm 1828 này mô tả một người phụ nữ đang xem dòng nước sông đầy bệnh tật, nhưng phải nhiều năm sau, mọi người mới tin rằng có mối liên hệ trực tiếp giữa nước ô nhiễm và các bệnh như bệnh tả.

 

Các cuộc điều tra cuối cùng đã chỉ ra rằng giếng nước trên phố Broad, sâu 9 mét, nằm rất gần một hố xí cũ và việc rò rỉ phân nhiễm khuẩn từ hố xí này đã làm ô nhiễm nước giếng. Người ta cũng phát hiện ra rằng những người sống sót sau căn bệnh này đã sử dụng nước giếng của chính họ, và một gia đình qua đời cách đó khá xa đã phải sinh hoạt dựa vào nước giếng trên phố Broad. Tuy nhiên, sau khi dịch bệnh lắng xuống, tình hình ở Soho hầu như không có gì thay đổi. Tay bơm đã được lắp trở lại, và một báo cáo của Hội đồng Y tế ghi nhận: “Trong việc sử dụng chung một giếng nước cụ thể… tại phố Broad …. (người ta cho rằng) có nguồn nước ô nhiễm… Sau khi điều tra kỹ lưỡng, chúng tôi không  thấy có lý do gì để tin vào điều này.” Không có thay đổi đáng chú ý nào về sức khỏe cộng đồng.

 

Năm 1855, Snow đã xuất bản một phiên bản mở rộng và sửa đổi rất nhiều của ấn phẩm Phương thức Truyền nhiễm của Bệnh Tả, trong đó ông lưu ý: “Trong vòng 250 thước Anh tính từ vị trí đó, có hơn 500 đợt bùng phát dịch tả gây tử vong trong 10 ngày… Tôi nghi ngờ nguồn nước từ máy bơm đường phố rất đông đúc trên phố Broad bị ô nhiễm.” Tuy nhiên, những ý tưởng của ông vẫn tiếp tục bị phớt lờ, và dịch tả vẫn tiếp tục gieo rắc chết chóc. Thuyết miasma vẫn chiếm ưu thế và chỉ bị nghi ngờ sau khi các thí nghiệm của Louis Pasteur thách thức nó vào những năm 1860. Thật không may, Snow đã qua đời vào thời điểm đó, vì một cơn đột quỵ ở tuổi 45, ngay trước khi xuất bản cuốn sách “Về Chloroform và các Loại thuốc Gây mê Khác cùng Tác dụng và cách Sử dụng“.

 

Công trình của Snow, do đó, không lật đổ được quan điểm chuẩn mực thời bấy giờ – mặc dù có bằng chứng ngược lại – và như vậy Snow cũng không được coi là “phát minh” ra dịch tễ học. Những nhân vật tiên phong khác bao gồm Peter Anton Scleisner người Đan Mạch, đã làm giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong vì uốn ván ở Iceland bằng cách áp dụng các biện pháp vệ sinh, và Ignaz Semmelweis người Hungary, cũng đã làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, lần này là ở Vienna, bằng cách đưa ra các phương pháp khử trùng. Trở lại Anh, Snow là thành viên sáng lập của Hội Dịch tễ học London, việc thành lập hội này lần đầu tiên được đề xuất sau một trận dịch trước đó. Mục tiêu của hội bao gồm “kiểm tra nghiêm ngặt các nguyên nhân và điều kiện ảnh hưởng đến nguồn gốc, sự lây lan, giảm thiểu và phòng ngừa các bệnh dịch”. Hội được thành lập vào năm 1850 và được sáp nhập vào Hội Y học Hoàng gia vào năm 1907. Một trong những công cụ chính của hội là nghiên cứu giấy chứng tử và các hồ sơ dân sự tương tự, việc sử dụng chúng cho mục đích y tế đã được nhà khoa học nghiệp dư John Graunt tiên phong vào thế kỷ 17. Theo truyền thống, mỗi giáo xứ chịu trách nhiệm về hồ sơ sinh, tử và kết hôn của mình, nhưng Anh và xứ Wales đã thành lập một ngân hàng thông tin toàn quốc vào năm 1837, nhờ đó các nhà khoa học có thể theo dõi tỷ lệ tử vong và xu hướng bệnh tật hiệu quả hơn. Vào thế kỷ 19, nhiều quốc gia khác đã thiết lập các hệ thống tương tự để hỗ trợ các cuộc khảo sát xã hội, nhu cầu y tế công cộng và hoạch định kinh tế. Những thay đổi này đã giúp ích rất nhiều khi các nhà dịch tễ học bắt đầu nghiên cứu các xu hướng quốc tế về sự lây lan của dịch bệnh. Khi Hiệp hội Dịch tễ học Quốc tế tổ chức cuộc họp đầu tiên tại Noordwijk, Hà Lan, vào năm 1957, có đại diện của 20 quốc gia tham dự; ngày nay, hiệp hội có thành viên tại hơn 100 quốc gia. Năm 1983, Hiệp hội tuyên bố: “Mục tiêu và mục đích cuối cùng của dịch tễ học là thúc đẩy, bảo vệ và phục hồi sức khỏe tốt.”

“Theo tôi, ông là một ân nhân vĩ đại đối với nhân loại trong thế kỷ hiện tại”

 

MỤC SƯ HENRY WHITEHEAD, NÓI VỀ JOHN SNOW

 

Công việc chính của nhà dịch tễ học là so sánh dữ liệu liên quan đến sức khỏe giữa các nhóm người nhất định, sử dụng các biểu thức số như “XXXX trên YYYY người” để thể hiện tỷ lệ mắc một số căn bệnh nhất định. Những số liệu “thô” này có thể được tinh chỉnh bằng cách điều chỉnh các yếu tố như giới tính, độ tuổi, mùa, nghề nghiệp, các yếu tố lối sống như hút thuốc, v.v. Hai hiện tượng chính được đo lường bằng các phép so sánh như vậy là tỷ lệ mắc mới (incidence) — số ca mới của một bệnh hoặc triệu chứng xuất hiện trong một nhóm dân số trong một khoảng thời gian xác định — và tỷ lệ hiện mắc (prevalence) — tổng số ca bệnh tại một thời điểm cụ thể. Vì vậy, nếu mỗi năm có 2 người trên 100.000 người mắc một bệnh, thì tỷ lệ mắc mới của bệnh đó là 2 trên 100.000 người mỗi năm. Nếu bệnh chỉ kéo dài một năm, thì tỷ lệ hiện mắc của nó cũng là 2 trên 100.000 người. Nhưng nếu bệnh kéo dài mười năm (và không gây tử vong trong khoảng thời gian này), thì tỷ lệ hiện mắc cuối cùng sẽ là 20 trên 100.000 người.

 

Việc phân tích dữ liệu như vậy đã dẫn đến một trong những tiến bộ y học vĩ đại nhất của thế kỷ 20, tiết lộ mối liên hệ giữa hút thuốc lá, ung thư phổi và các bệnh nghiêm trọng khác. Vào những năm 1920, các bác sĩ lâm sàng người Đức, nhận thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư phổi, đã nghiên cứu các yếu tố như ô nhiễm không khí công nghiệp, giao thông đường bộ, việc rải nhựa đường, tiếp xúc với nhiên liệu do sự lan tràn của xe cơ giới, đại dịch cúm năm 1918, và thậm chí cả việc tiếp xúc với chiến tranh khí độc trong Thế chiến thứ nhất. Năm 1929, bác sĩ Đức Fritz Lickint, người phát minh ra thuật ngữ “hút thuốc thụ động”, đã công bố bằng chứng dịch tễ học cho thấy bệnh nhân ung thư phổi đặc biệt có khả năng là người hút thuốc, và tuyên truyền các biện pháp chống thuốc lá. Năm 1939, một cuộc khảo sát của Đức do Franz Müller thực hiện đã báo cáo: “sự gia tăng bất thường trong việc sử dụng thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tỷ lệ mắc ung thư phổi ngày càng tăng”. Đến năm 1950, bất chấp những nỗ lực nhằm đánh lạc hướng dư luận của ngành công nghiệp thuốc lá, ngày càng có nhiều bằng chứng thống kê hơn, và một nhóm nghiên cứu người Anh do Richard Doll và Austin Bradford Hill dẫn đầu đã công bố kết quả cho thấy yếu tố chung ở bệnh nhân ung thư phổi là hít phải khói thuốc lá. Doll đã làm việc không mệt mỏi để nâng cao vị thế của dịch tễ học, biến nó từ một trong những lĩnh vực lạc hậu của y học thành một trong những nhánh quan trọng nhất của y học.

 

Đến năm 1955, một nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn tại Hoa Kỳ với gần 200.000 nam giới, do E. Cuyler Hammond và Daniel Horn dẫn đầu, đã kết luận rằng hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ tử vong nói chung, tỷ lệ ung thư phổi tăng gấp mười lần và tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành cũng tăng theo một hệ số tương tự. Những nguy cơ của việc hút thuốc đã được phơi bày, một thành tựu đã cứu sống hàng triệu người khỏi đau khổ và tử vong sớm.

ANH CHÀNG MARLBORO

Hình ảnh anh chàng “Marlboro” được sử dụng để quảng cáo thuốc lá Marlboro từ năm 1954 đến năm 1999. Ba người từng  làm mẫu cho hình ảnh này trong những năm sau đó đã chết vì ung thư phổi.

 

John Snow rất tâm huyết với vệ sinh, vệ sinh môi trường và các biện pháp y tế công cộng, những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học. Ông đã mở đường cho công trình của các nhà vi khuẩn học gốc Nga như Waldemar Haffkine, người đã giới thiệu vắc-xin phòng bệnh tả đến Ấn Độ. Ngày nay, Snow hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc trước sự dễ dàng trong việc thu thập dữ liệu, sức mạnh phân tích mạnh mẽ của máy tính, khả năng truyền thông toàn cầu tức thời và các lĩnh vực như y học dựa trên bằng chứng. Phố Broad ở Soho, nơi ông luôn gắn bó, được đổi tên Phố Broadwick vào năm 1936, và vào năm 1992, một máy bơm tưởng niệm đã được lắp đặt gần địa điểm ban đầu, có thể nói là nơi ra đời của ngành dịch tễ học.

TIÊM CHỦNG CHỐNG DỊCH TẢ

Waldemar Mordecai Wolff Haffkine tiêm chủng cho một cộng đồng chống lại bệnh tả ở Calcutta, Ấn Độ, vào năm 1894. Một trong những bệnh nhiễm trùng đầu tiên được nghiên cứu trong dịch tễ học là bệnh tả, và Haffkine là người tiên phong trong việc phát triển vắc-xin chống lại cả bệnh tả và bệnh dịch hạch.

 

Florence Nightengale

 

Ngày nay, nghề điều dưỡng là nghề chăm sóc nền tảng, nhưng cho đến thế kỷ 19, nghề điều dưỡng không đòi hỏi kỹ năng hay đào tạo. Thay vào đó, động lực của họ dao động từ sở thích trào lưu hoặc nghĩa vụ gia đình đến cảm giác chuộc lỗi hoặc một thiên chức tôn giáo. Các công việc điều dưỡng – chẳng hạn như làm vệ sinh hoặc cho bệnh nhân ăn – được coi là vai trò của người hầu và theo truyền thống diễn ra tại nhà. Khi việc điều trị tại bệnh viện trở nên phổ biến hơn, nhu cầu về điều kiện vệ sinh tốt hơn và mức độ chăm sóc và đào tạo cao hơn trở nên rõ ràng. Florence Nightingale đã đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại những cải cách này.

 

Có rất nhiều tài liệu cổ xưa về điều dưỡng. Giấy cói Ai Cập đề cập đến những người hầu trong đền thờ, làm vệ sinh cho bệnh nhân và dạy họ thực hiện chế độ ăn uống và tập thể dục. Người Hy Lạp và La Mã sử ​​dụng các thuật ngữ như “người trợ lý”, “người chăm sóc” và “người giúp đỡ”. Vị thần chữa bệnh của Hy Lạp là Asclepius, có hai con gái là Hygieia (nghĩa là “sức khỏe”) và Panacea (nghĩa là “chữa bách bệnh”) được tôn thờ vì thái độ chăm sóc chu đáo của họ đối với người bệnh. Điều dưỡng và tôn giáo gắn bó chặt chẽ với nhau, và những bệnh viện đầu tiên được thành lập bởi các tổ chức tôn giáo. Vào cuối thế kỷ thứ 4, nữ quản lý La Mã Fabiola đã cải đạo sang Cơ đốc giáo và sử dụng tài sản của gia đình để thành lập một bệnh viện cho tất cả mọi người ở Rome. Tại đây, bà chăm sóc bệnh nhân, làm việc cùng với các thầy thuốc nam giới. Tương tự, tại Hôtel Dieu (bệnh viện) ở Lyon, Pháp, được thành lập vào khoảng năm 542, cả điều dưỡng nam và nữ đều chăm sóc nhu cầu hàng ngày của bệnh nhân. Bệnh viện Hôtel Dieu ở Paris được thành lập khoảng một thế kỷ sau đó, được điều hành bởi một trong những dòng tu Cơ đốc giáo đầu tiên được thành lập đặc biệt để cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế – các Nữ tu dòng Augustin. Nhưng chính các ông, đặc biệt là các tu sĩ dòng Benedict, đã thống trị ngành điều dưỡng ở châu Âu thời Trung Cổ. Thập Tự Chinh chứng kiến ​​sự xuất hiện của sơ cứu và chăm sóc điều dưỡng hậu cấp cứu cho những người bị thương trong chiến trận.

 

Ở những nơi khác trên thế giới, kỹ năng điều dưỡng đã phát triển rực rỡ. Có niên đại từ khoảng 2.500 năm trước, văn bản tiếng Phạn Susruta Samhita kể lại: “… Thầy thuốc, bệnh nhân, thuốc men và y tá là bốn cột trụ của y học, mà việc chữa bệnh phụ thuộc vào.” Tại các bệnh viện Hồi giáo thế kỷ thứ 7, được gọi là bimaristan, các nhóm nhân viên bao gồm bác sĩ, y tá, nhân viên khuân vác và nhân viên vệ sinh. Bệnh nhân được chăm sóc tại các khoa khác nhau, chuyên về phẫu thuật, gãy xương, sốt, bệnh về mắt, các vấn đề về ruột và các bệnh khác. Một trong những nữ y tá đầu tiên của thời đại này là Rofaidah, con gái của một y sĩ, người được ca ngợi vì sự đồng cảm, kỹ năng lâm sàng, lòng tốt và khả năng tổ chức và truyền cảm hứng cho người khác. Trở lại châu Âu, cuộc Cải cách Tin lành vào thế kỷ 16 đã chứng kiến ​​nhiều quốc gia châu Âu ly khai khỏi Giáo hội Công giáo La Mã. Qua những xung đột sau đó, các dòng tu Công giáo đã suy tàn. Đặc biệt ở Anh, điều kiện tại các bệnh viện – nhiều bệnh viện nằm trong các tu viện và nhà dòng hiện đã đóng cửa – ngày càng tồi tệ. Tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn giảm sút, và kỹ năng điều dưỡng cũng mai một. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn vào giữa và cuối thế kỷ 18, khi Cách mạng Công nghiệp tạo ra tình trạng quá tải ở các thành phố vốn đã mất vệ sinh.

FLORENCE NIGHTINGALE

Y Tá FLORENCE

Florence Nightingale đã từ bỏ việc lập gia đình và có con cái để toàn tâm toàn ý  cống hiến cả cuộc đời cho ngành điều dưỡng. Bà đã sáng lập trường đào tạo điều dưỡng chính quy đầu tiên.

 

Trong bối cảnh bụi bặm công nghiệp và bệnh tật, Florence Nightingale sinh ra trong một gia đình giàu có người Anh vào năm 1820 và được đặt tên theo thành phố Ý nơi bà sinh ra. Gia đình Nightingale trở về Anh vào năm sau. Được thuận lợi với tiền bạc và các mối quan hệ, Florence lớn lên thành một phụ nữ trẻ độc lập, sùng đạo mạnh mẽ. Bà thích học và đặc biệt giỏi toán; bà cũng là một nhà văn tài năng. Năm 1837, Nightingale có trải nghiệm tôn giáo đầu tiên trong số nhiều trải nghiệm sẽ định hướng cuộc sống và công việc của bà. Bà bắt đầu thể hiện sự quan tâm đến nghề điều dưỡng, noi gương các nữ tu Công giáo đã giúp đỡ những người khác trong bệnh viện. Vài năm sau, mặc dù có nhiều người theo đuổi đủ điều kiện, bà tuyên bố quyết định không kết hôn và sinh con. Thay vào đó, bà theo đuổi sở thích mới của mình, đọc nhiều về bệnh viện, điều dưỡng, y học, vệ sinh và vệ sinh môi trường. Bà đã tích lũy được một số kinh nghiệm thực tế tại các bệnh viện và viện dưỡng lão, và thậm chí đã đi đến Ai Cập để dành thời gian với các Nữ tu Bác ái của Thánh Vincent de Paul ở Alexandria, một nhánh của cộng đồng Nữ tu Bác ái nguyên gốc, được thành lập tại Paris vào năm 1633. Thay vì ở lại các tu viện, các nữ tu đã đến thăm người bệnh tại nhà của họ. Nightingale ấn tượng trước công việc điều dưỡng và tiêu chuẩn chăm sóc cao của họ, so với những người Anh đồng cấp nhếch nhác và ít học. Năm 1851, bà đăng ký khóa đào tạo điều dưỡng ba tháng tại một giáo khu Tin Lành ở Kaiserwerth, gần Düsseldorf, Đức. Được thành lập bởi Mục sư Theodor Fliedner, khóa học do các nữ phó tế điều hành và tuân theo truyền thống Công giáo là giúp đỡ người bệnh, người nghèo và trẻ em, cũng như tù nhân và cựu tù nhân. Các nữ phó tế đã tồn tại trong nhiều thế kỷ; Kinh thánh mô tả Phoebe, người đã cung cấp dịch vụ chăm sóc, thực phẩm và thuốc men như một y tá thăm khám đầu tiên. Cùng với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc, các nữ phó tế của Kaiserworth khuyến khích sự tự lập và giải phóng phụ nữ thông qua việc giảng dạy và cố vấn. Vô cùng ấn tượng bởi trải nghiệm của mình ở Đức, Nightingale trở về Anh và, vào năm 1853, đảm nhận chức vụ đầu tiên của mình là giám đốc Cơ sở dành cho Quý bà Dưỡng bệnh trên Phố Harley, London. Đến lúc này, bà đã trở thành một chuyên gia được công nhận về bệnh viện và điều dưỡng.

 

…yêu cầu đầu tiên trong bệnh viện là không được gây hại cho người bệnh”

Florence Nightingale

 

Khi Nightingale ổn định trong vai trò mới của mình, Chiến tranh Crimea bắt đầu bùng nổ. Nga đe dọa Thổ Nhĩ Kỳ, và Pháp và Anh đã gửi quân đội đến hỗ trợ người Thổ Nhĩ Kỳ. Các trận chiến chính diễn ra trên Bán đảo Crimea (nay là một phần của Ukraine). Các báo cáo về diễn biến của cuộc chiến đã đến trong thời gian kỷ lục thông qua điện báo tương đối mới; nhiếp ảnh chiến tranh là một tính năng khác mới phát minh cho phép công chúng kết nối chặt chẽ với chiến tình đang diễn ra. Nightingale đã đọc về điều kiện khủng khiếp trong các bệnh viện dành cho thương binh  và mong muốn làm điều gì đó để giúp đỡ. Bộ trưởng Bộ Chiến tranh và là người bạn thân Sidney Herbert đã yêu cầu bà chuẩn bị một nhóm y tá. Vào tháng 11 năm 1854, Nightingale và 38 nữ y tá thuộc quyền của bà đã đến Bệnh viện Doanh trại Selimiye của Scutari (ngày nay là một phần của Istanbul) ở Thổ Nhĩ Kỳ. Điều kiện ở đó thậm chí còn khủng khiếp hơn dự đoán. Ngoài bệnh nhân, hầu như mọi thứ đều thiếu thốn: “Không có bình đựng nước hay bất kỳ đồ dùng nào; không có xà phòng, khăn tắm hay quần áo, không có quần áo bệnh viện; những thương binh nằm trong bộ đồng phục, cứng khô vì máu và phủ đầy bụi bẩn đến mức không ai có thể diễn tả; người họ đầy sâu bọ…” Nightingale bắt tay vào việc tái cấu trúc cơ sở vật chất và cải thiện nguồn cung cấp thực phẩm và nước uống. Bà tái tổ chức đội ngũ y tá (trợ lý) và yêu cầu nhiều thiết bị hơn, tốt hơn. Sử dụng các mối quan hệ của mình ở Anh, bà triệu tập Ủy ban Vệ sinh, họ đã đến vào mùa xuân năm sau để thông cống và nâng cao vệ sinh chung. Bà cũng vận động cải thiện dinh dưỡng, nhận thức được tầm quan trọng của chế độ ăn uống lành mạnh. Tỷ lệ tử vong tại Scutari đã giảm. Mức độ, tốc độ và lý do sụt giảm kể từ đó vẫn còn nhiều tranh cãi; bản thân Nightingale chưa bao giờ nhận bất kỳ trách nhiệm đặc biệt nào. Tuy nhiên, trở lại Anh, công chúng đã theo dõi các bài báo của tờ The Times về sự cống hiến không mệt mỏi của bà: “Khi tất cả các nhân viên y tế đã nghỉ ngơi vào ban đêm và sự im lặng cùng bóng tối đã bao trùm… người ta có thể thấy bà một mình, với một chiếc đèn nhỏ trên tay, đi thăm khám một mình.” Vì vậy, bà được mệnh danh là “Quý bà với chiếc đèn”.

QUÝ BÀ VỚI CHIẾC ĐÈN

Florence Nightingale tại bệnh viện quân y ở Scutari, nơi bà có được danh tiếng gần như thánh thiện vì những nỗ lực vô song nhằm cải thiện việc chăm sóc.

Khi Chiến tranh Crimea kết thúc vào năm 1856, Nightingale trở về nhà và ngay sau đó đã kiến ​​nghị Nữ hoàng Victoria ưu tiên cải cách các bệnh viện quân y. Quyết tâm ngăn chặn sự trở lại của những điều kiện kinh hoàng như trước đây, bà đã sử dụng kỹ năng thống kê của mình để thuyết phục chính quyền về tầm quan trọng của việc gìn giữ vệ sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng. Bà đã phát minh ra một biểu đồ toán học, tương tự như biểu đồ hình tròn hiện đại, để so sánh cách binh lính tử vong – do vết thương, bệnh tật có thể phòng ngừa hay các nguyên nhân khác. Nightingale sống lặng lẽ và viết rất nhiều, và những ghi chép của bà về Crimea trong cuốn Ghi chú về các Vấn đề Ảnh hưởng đến Sức khỏe, Hiệu quả và Quản lý Bệnh viện của Quân đội Anh (1858) đã góp phần quan trọng trong việc mang lại điều kiện vệ sinh tốt hơn, chế độ dinh dưỡng được cập nhật và dịch vụ chăm sóc được cải thiện tổng thể tại các bệnh viện quân y. Tài năng của bà cũng được áp dụng ở nhiều nơi khác: tin tức về Cuộc nổi loạn ở Ấn Độ đã thu hút sự chú ý của bà đến điều kiện của quân đội Anh ở đó và tình trạng nghèo đói và suy dinh dưỡng mà người dân địa phương phải gánh chịu. Nightingale đã có thể sử dụng ảnh hưởng của mình để thuyết phục chính phủ Ấn Độ thành lập một bộ phận vệ sinh. Năm 1859, bà xuất bản tác phẩm nổi tiếng “Ghi chú về Điều dưỡng”: “Điều dưỡng được công nhận là kiến ​​thức mà mọi người nên có, khác biệt với kiến ​​thức y khoa, thứ mà chỉ một người trong nghề mới có được.” Năm sau, bà thành lập Trường Đào tạo Điều dưỡng Nightingale  tại Bệnh viện St. Thomas, London. Trường đã đưa điều dưỡng trở thành một nghề chính thức, với chương trình đào tạo bài bản, có cấp chứng nhận, thăng tiến nghề nghiệp và lương bổng xứng đáng. Phương pháp giảng dạy vừa lý thuyết vừa thực hành, hồ sơ ghi chép quá trình học tập của học viên được lưu giữ, và những học viên được tuyển chọn kỹ lưỡng sẽ sống trong các nhà điều dưỡng được thiết kế để “khuyến khích tính kỷ luật” và “hình thành nhân cách”.

 

Nightingale đã vận động không biết mệt mỏi, viết hàng ngàn lá thư trong nhiều năm bất chấp sức khỏe yếu kém. Năm 1855, trong một chuyến thăm Crimea, bà mắc phải một căn bệnh kéo dài 12 ngày, được gọi là sốt Crimea, khiến bà phải nằm liệt giường suốt quãng đời còn lại.

 

Nhưng Nightingale không đơn độc trong nỗ lực cải thiện mức độ chăm sóc và vệ sinh. Mary Seacole là một người cùng thời trong Chiến tranh Crimea, bà đã đến Crimea vào năm 1855. Tại đây, bà đã thành lập Khách sạn Anh gần Balaklava, cung cấp dịch vụ chăm sóc, thực phẩm và phòng nghỉ cho những người lính Đồng minh châu Âu bị thương, mặc dù trên cơ sở thương mại. Mặc dù không có ảnh hưởng như Nightingale về mặt hệ thống điều dưỡng chính thức, bà vẫn nổi tiếng với năng lực điều dưỡng và lòng dũng cảm khi đến thăm chiến trường, cùng với biệt danh “Mẹ” Seacole.

 

Đồng hành với nền y học đương thời, thái độ của Nightingale đối với tiến bộ y học khá bảo thủ. Bà cảnh giác với thuyết vi trùng gây bệnh, nhưng dù vậy, trong Từ điển Y khoa Quain năm 1882, bà vẫn khuyên: “Luôn có sẵn soda clo để y tá rửa tay, đặc biệt là sau khi thay băng hoặc xử lý ca bệnh đáng ngờ. Nó có thể tiêu diệt vi khuẩn nhưng lại làm mất lớp biểu bì, nhưng nếu nó làm mất lớp biểu bì, thì chắc chắn là nó có hại  cho vi khuẩn.”

 

Sự nghiệp không ngừng nghỉ của Florence Nightingale đã đặt nền móng cho các nguyên tắc và thực hành điều dưỡng ngày nay. Sự nghiệp lâu dài của bà đã truyền cảm hứng cho nhiều người khác thành lập các trường điều dưỡng chuyên nghiệp, và bà là người phụ nữ đầu tiên được trao tặng Huân chương Công trạng vào năm 1907. Tên tuổi của bà vẫn còn mãi trong nhiều trường cao đẳng và tổ chức điều dưỡng Nightingale, cũng như trong nhiều giải thưởng khác nhau. Hàng năm, Ngày Điều dưỡng Quốc tế được kỷ niệm vào ngày sinh nhật của bà, 12 tháng 5. Tuy nhiên, khi còn sống, Nightingale luôn ngần ngại tìm kiếm sự công nhận hay xuất hiện trước công chúng, và lễ tang của bà được tổ chức lặng lẽ tại Hampshire.

 

MARY SEACOLE

Y tá Mary Seacole mang dòng máu Jamaica cũng có ảnh hưởng lớn trong việc cải thiện điều kiện sống cho những thương binh.

 

 

Bình luận về bài viết này