Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 27)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

HAI MƯƠI BẢY : Cơn gió cám dỗ có thể thổi qua

Rõ ràng là có điều gì đó đang xảy ra vào mùa xuân năm 1992, khi Bộ Quan hệ Kinh tế Đối ngoại Triều Tiên tài trợ một chuyến tham quan kéo dài một tuần cho hơn một trăm giám đốc điều hành doanh nghiệp, học giả và quan chức. Hầu hết đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng một đoàn đại biểu nhỏ đến từ Trung Quốc, Nga và Hoa Kỳ. Các vị khách sẽ đi qua những vùng xa xôi mà ít người phương Tây từng thấy trong nhiều thập kỷ. Sự sắp xếp bất thường này báo hiệu những nỗ lực nghiêm túc chưa từng có để thu hút đầu tư nước ngoài và điều đó hoàn toàn có lý. Mặc dù Kim Il-sung luôn hô hào về chủ nghĩa Juche, sự tự lực dân tộc, nhưng trong bốn thập kỷ qua, đất nước ông đã nhận được không ít sự giúp đỡ từ những người bạn xã hội chủ nghĩa ở nước ngoài. Giờ đây, phần còn lại của khối cộng sản đã thu hẹp lại chỉ còn Trung Quốc, Cuba và không nhiều nước khác, và dòng viện trợ và thương mại được bao cấp đó cũng bị vắt kiệt. Một dấu hiệu rõ ràng cho thấy các mối quan hệ đối ngoại của Bình Nhưỡng đang tan vỡ đã xuất hiện vào mùa hè năm 1990, khi “chính sách phương Bắc” của Tổng thống Hàn Quốc Roh Tae-woo nhằm ve vãn Liên Xô và các đồng minh cộng sản khác của Bình Nhưỡng đã mang lại kết quả ngoạn mục: Ông Roh đã bay đến San Francisco (tôi là phóng viên nước ngoài duy nhất trên máy bay của ông) để có cuộc gặp lịch sử với lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev. Quan hệ ngoại giao được thiết lập sau đó – và đến cuối năm 1992, Trung Quốc, quốc gia cộng sản lớn cuối cùng còn lại, đã trao đổi đại sứ với Seoul.

Với 21 triệu người cần được đáp ứng nhu cầu tương đối ổn định, chế độ này hầu như không có lựa chọn nào khác ngoài việc hướng tới nền kinh tế thị trường tự do toàn cầu. Muộn màng theo sau Trung Quốc, Bình Nhưỡng đã quyết định thành lập các khu kinh tế tự do đầu tiên của mình. Người Triều Tiên chào đón các vị khách đến từ các nước tư bản với hy vọng họ sẽ đầu tư vào cơ sở hạ tầng và sản xuất. Mục tiêu rất đơn giản, theo lời giải thích của Kim Song-sik, Phó Chủ tịch Ủy ban Xúc tiến Quan hệ Kinh tế Đối ngoại: “Hãy đưa vào sử dụng thêm các nhà máy hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế và tạo ra nhiều ngoại hối hơn.” (Tôi để ý thấy Kim Song-sik đang mặc trang phục của giai cấp vô sản: mũ Lenin, áo khoác Mao. Nhưng ông ấy lại phối chúng với một phụ kiện hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, mà ai đó đã bỏ tiền ngoại tệ ra mua: khóa thắt lưng của ông ấy, có hình thỏ Playboy.)

Bên cạnh nhận thức rằng họ đang bị đổ lỗi cho tình cảnh khốn khổ của đồng bào mình, một yếu tố khác cũng đã giúp lôi kéo các quan chức Bình Nhưỡng ra khỏi lớp vỏ của họ. Đó là một kế hoạch quốc tế nhằm phát triển sản xuất, thương mại và vận tải biển giữa các quốc gia giáp Biển Nhật Bản, với sự hỗ trợ từ Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Các cuộc họp tại nhiều thành phố trong khu vực đã thảo luận về sự phát triển đa quốc gia của khu vực tam giác giữa Nga, Trung Quốc và Triều Tiên xung quanh cửa sông Tumen, con sông tạo thành biên giới giữa ba nước. Việc Bình Nhưỡng đăng cai tổ chức hội nghị về đề xuất này là dịp cho chuyến tham quan Triều Tiên của chúng tôi.

Chuyến tham quan này đã tạo cơ hội cho Triều Tiên dàn dựng điều mà một người Mỹ gọi là “một bữa tiệc di động khắp vùng nông thôn” và việc quảng bá các kế hoạch đầy tham vọng nhằm mở rộng du lịch. Kim Do-jun, giám đốc Cục Xúc tiến Du lịch, cho biết khoảng 100.000 du khách nước ngoài đến mỗi năm, mang lại tổng cộng khoảng 100 triệu đô la. Hồng Kông, Thái Lan và Úc đang được xem xét là điểm xuất phát của các chuyến bay du lịch mới. Bình Nhưỡng muốn tăng tổng số du khách nước ngoài lên 500.000 người, ngoài người Hàn Quốc và kiều bào ở nước ngoài. Và Kim Do-jun đã nói về những kế hoạch dài hạn cho những phát triển, chẳng hạn như Disney World trong tỉnh Kangwon, gần biên giới Hàn Quốc trong vùng phía đông nhiều núi. Tuy nhiên, trước mắt còn một chặng đường dài trước khi cơ sở hạ tầng có thể đáp ứng được lượng khách đổ về lớn như vậy. Tính cả chúng tôi trong giới báo chí, số lượng thành viên đoàn quá đông đến nỗi các khách sạn bên ngoài thủ đô không thể chứa nổi cả nhóm, hoặc phải ngủ chung giường trong những toa tàu chật chội, nóng bức của một chuyến tàu chạy chậm.

Những đại biểu duy nhất từ ​​Hoa Kỳ được mời tham dự sự kiện năm 1992 là hai nhà nghiên cứu tại Trung tâm Đông Tây ở Honolulu. Tôi tình cờ đang làm việc tại trung tâm với tư cách là nhà báo thường trú (bắt đầu một dự án mà cuối cùng đã trở thành cuốn sách này) và tôi đã đăng ký tham gia chuyến đi cùng họ. Tôi hy vọng rằng trong những năm từ 1989 trở đi, chính quyền Bình Nhưỡng bằng cách nào đó đã xóa tên tôi khỏi danh sách những nhà báo không được chào đón – hoặc, nếu không, tôi sẽ phải xoay sở để không bị nhận ra là một nhà báo.

Tôi bị đưa vào danh sách đen với tư cách là một phóng viên do vai trò tác giả nghiên cứu mới của mình. Có lẽ, tôi hy vọng, có những cơ quan hành chính riêng biệt tham gia vào việc sàng lọc học giả và nhà báo tham dự. Xét cho cùng, các nhà bình luận về hệ thống chính trị từ trên xuống của Triều Tiên đã lưu ý rằng có rất ít sự giao tiếp ngang hàng giữa các đơn vị song song trong chính phủ – rõ ràng họ cần dành hơi sức và giấy tờ cho việc giao tiếp theo chiều dọc với cấp trên và cấp dưới của mình.

Dù nguyên nhân dẫn đến vận may của tôi là gì đi nữa, tôi không chỉ được chấp nhận tham gia chuyến đi nhưng được đối đãi như khách VIP, bao gồm cả ghế hạng nhất trên máy bay Air Koryo đưa phái đoàn chúng tôi và những người khác từ Bắc Kinh đến Bình Nhưỡng. Khi đến sân bay, hóa ra hai quan chức trẻ thuộc Bộ Ngoại giao, được giao nhiệm vụ tiếp đón các phóng viên nước ngoài dự kiến ​​đến, biết tôi là ai. “Ông Martin, ông thực sự đã rời Newsweek rồi sao?” một người hỏi. “Ồ, vâng,” tôi trả lời thành thật. (Tôi rất vui vì họ không hỏi liệu tôi đã bỏ nghề báo hay không.)

Liệu họ có coi tôi là kẻ giả mạo và đưa tôi lên chuyến bay tiếp theo trở về Bắc Kinh hay không nếu tôi tiết lộ ở sân bay rằng tôi sẽ quay lại làm nghề báo toàn thời gian sau khi hết hạn học bổng – và rằng tôi dự định kiếm tiền cho chuyến đi này bằng cách viết một bài báo cho một tạp chí?)

Trước đây, thông thường, chính các quan chức Triều Tiên mới là người hạn chế khách nước ngoài khi khách nước ngoài yêu cầu được tự do đi lại nhiều hơn – nhưng ngay từ đầu chuyến thăm này, tình thế đã đảo ngược phần nào. Các nhà tổ chức tour người Nhật của chúng tôi đã yêu cầu các phóng viên đi cùng đoàn du khách nước ngoài phải ở lại hội trường để đưa tin về hội nghị Tumen kéo dài hai ngày. Nhưng bỗng hai viên chức phụ trách báo chí Triều Tiên, trẻ tuổi đều tên là Kim, đã bất ngờ đột phá vào quyền tự do báo chí. Họ hăng hải thuyết phục các nhà báo nên bỏ bớt các phiên họp hội nghị để dành thời gian tham quan thêm Bình Nhưỡng. Vào thời điểm đó, giới báo chí đã dành tình cảm đáng kể cho hai viên chức này, đến mức đặt cho họ biệt danh. Kim, người có vóc dáng khá cao ráo và điển trai, làm việc cho Bộ Ngoại giao, được gọi là  Slick Kim (Kim Bảnh bao) vì anh ta luôn mặc bộ vest kẻ sọc được may đo cẩn thận. (Tôi để ý thấy anh luôn mặc cùng một bộ vest ngày này qua ngày khác; có lẽ anh không đủ tiền mua bộ dự phòng.) Người đồng nghiệp thấp hơn, hơi mập hơn của Kim Slick – người có vẻ ngoài giống Kim Jong-il và các thành viên gia tộc Kim cầm quyền – được gọi là Kim Béo. Kim Béo, làm việc cho Hiệp hội Quan hệ Văn hóa với Nước ngoài, nói với chúng tôi rằng “Kim Bảnh bao” đang trên đà thăng tiến nhanh chóng đến một vị trí trong nội các.

Mặc dù đã chứng tỏ thành công cho đến thời điểm đó, việc thay đổi nhân dạng của tôi đã bắt đầu đe dọa nhiệm vụ của tôi. Khi chúng tôi đến hội trường nơi các đại biểu chính thức sẽ họp, tôi phát hiện ra rằng học giả Martin đã được xếp vào hàng đại biểu chính thức. Không chỉ vậy, tôi còn được xếp ngồi hàng đầu, đối diện bục phát biểu, tên tôi được viết bằng chữ rất lớn trên một tấm bảng đặt trên bàn trước mặt. Tôi không thể chuồn đi mà không bị chú ý. Lo sợ rằng mình sẽ lãng phí những ngày quý báu chỉ để ngồi lì trong phòng hội nghị đó, tôi đã đến gặp Kim Béo và Kim Bảnh bao  và nhận được sự cho phép tử tế của họ để từ bỏ vị thế VIP của mình và tham gia cùng những thành viên còn lại trong đoàn phóng viên nước ngoài đi tham quan Bình Nhưỡng và vùng phụ cận.

 

Ngoại trừ Kim Jong-su, người mà tôi không gặp trong chuyến thăm này, các quan chức Triều Tiên nổi tiếng với những câu trả lời nhạt nhẽo, dài dòng và quanh co khi được phỏng vấn; họ có thể nói hàng giờ nhưng lại cung cấp rất ít thông tin hữu ích. Tuy nhiên, khi nói chuyện với các phóng viên nước ngoài đang đưa tin về chuyến đi này, người chủ trì chính của chúng tôi, Phó Thủ tướng Kim Dal-hyon, lại là một ngoại lệ đáng mừng. Kim Dal-hyon thẳng thắn thừa nhận rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô và Đông Âu đã giáng một đòn nặng nề vào đất nước ông. Ông than thở: “Do sự phá hủy nhanh chóng của thị trường xã hội chủ nghĩa thế giới, chúng tôi không thể xuất khẩu hàng hóa sang các nước xã hội chủ nghĩa và đổi lại nhập khẩu dầu mỏ.”

Đặc biệt, Moscow, đối tác trao đổi hàng hóa lâu năm, đã bắt đầu yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, loại tiền tệ đang rất khan hiếm ở Triều Tiên. Thương mại với các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ chiếm 38% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu của Bình Nhưỡng năm 1990, đã giảm xuống dưới 14% vào năm 1991 theo số liệu của Hàn Quốc. Không chỉ nhập khẩu ít hơn từ đồng minh cũ, xuất khẩu của Triều Tiên còn giảm mạnh hơn nữa, vì các sản phẩm của nước này nhìn chung không cạnh tranh được với các sản phẩm thị trường tự do của đối thủ. Các nhà phân tích cho rằng nền kinh tế Triều Tiên thực sự đã thu hẹp lại mỗi năm kể từ năm 1990 (bao gồm, theo một ước tính, mức giảm đáng báo động lên tới 30% chỉ riêng trong năm 1992). Trung Quốc được cho là đã cùng với Nga yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, càng làm trầm trọng thêm xu hướng đáng báo động này. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Bình Nhưỡng dường như quyết tâm vắt kiệt từng đồng đô la hoặc yên từ du khách nước ngoài: Một doanh nhân châu Âu sống tại khách sạn Koryo 35 tầng ở Bình Nhưỡng cho biết giá phòng hàng ngày của ông đã tăng gấp đôi lên 200 đô la không lâu trước khi chúng tôi đến.

Tuy nhiên, việc bòn rút từng đồng nhỏ sẽ không giải quyết được vấn đề. Bằng chứng về nghèo đói và kinh tế trì trệ quá rõ ràng đến nỗi chính quyền không thể che giấu khi chúng tôi đi tàu và xe buýt từ Bình Nhưỡng băng qua dãy núi trung tâm đến bờ biển phía đông và về phía bắc đến biên giới Nga và Trung Quốc. Những năm trước, tôi đã thấy sự tiến bộ trong nông nghiệp cơ giới hóa ở các vùng khác của đất nước, nhưng nó dường như không xảy ra trong khu vực này – hoặc nếu đã xảy ra, tình trạng đã bị đảo ngược, có lẽ vì tình trạng thiếu dầu. Nông dân cày xới với máy kéo hiệu quả ít thường xuyên hơn so với trâu bò, một trong số ít gia súc trang trại có thể nhìn thấy được. Những hàng rào trồng dây leo đậu trước mặt tiền của hầu hết mọi ngôi nhà dọc theo tuyến đường là nguồn chất đạm duy nhất có thể nhìn thấy được – giúp giải thích một chiến dịch tuyên truyền gần đây đã thúc đẩy khẩu hiệu: “Hãy ăn ngày  hai bữa thay vì ba.”

Ít nhìn thấy hoạt động phi nông nghiệp nhỏ. Ví dụ, tại cảng Rajin, chúng tôi được thông báo rằng các công nhân bến tàu đang “nghỉ lễ”. Tại Bình Nhưỡng, rất nhiều người vẫn đi lại tấp nập vào giữa buổi chiều, một sự thay đổi rõ rệt so với những con phố gần như vắng vẻ mà chúng tôi đã ghi nhận trong hầu hết các giờ ban ngày ở những lần ghé thăm trước. Hướng dẫn viên của tôi giải thích rằng giờ làm việc mới cho phép mọi người bắt đầu sớm và kết thúc sớm – nhưng suy nghĩ kỹ hơn cho thấy có những lý do khác ngoài lý do nhân đạo khiến họ không thể đến nơi làm việc.

Tất cả những điều này càng củng cố thêm các báo cáo cho rằng có tới một nửa số nhà máy và sô công nhân đã bị đình trệ do thiếu hụt năng lượng và các vật liệu khác, hậu quả của nền kinh tế trao đổi hàng hóa xã hội chủ nghĩa quốc tế đang sụp đổ.

Dù có hoạt động hay không, các nhà máy trông đều cũ kỹ và kém hiệu quả – và sản phẩm của chúng phản ánh điều đó. Tất nhiên, cũng có những điểm sáng hiếm hoi. Tại một cửa hàng bách hóa ở trung tâm Bình Nhưỡng, một gian hàng mới trưng bày những bộ đồ thể thao thời trang. Nhưng ai ở Triều Tiên có thể mua nổi một bộ đồ thể thao với giá 148 won, tương đương khoảng 67 đô la Mỹ theo tỷ giá chính thức và cao hơn mức lương tháng của một công nhân bình thường? Còn về những loại hàng mà người dân các tỉnh có thể lựa chọn, chúng tôi vẫn không có cơ hội tìm hiểu. Chuyến tàu chúng tôi đi không dừng lại qua đêm tại các thành phố và thị trấn mà thay vào đó lại đi lẩn quẩn vùng nông thôn và đậu ở các đường tàu tránh ở vùng quê. Chúng tôi nghi ngờ việc này nhằm mục đích ngăn cản chúng tôi khám phá các thị trấn và thành phố tỉnh lẻ, và mối ngờ vực đó đã trở thành sự thật khi chúng tôi đến thăm cảng Chongjin. Một số nhà báo đã cố gắng ra khỏi cổng cảng đến một cửa hàng bách hóa gần đó, nhưng một lính gác cảng đã cầm súng chặn họ lại.

Cảnh tượng gây sốc nhất đập vào mắt tôi khi tôi ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ tàu hỏa. Qua cửa sổ, tôi thấy một đoàn tàu chở đầy người Triều Tiên đang chạy ngược chiều. Cảnh tượng thật kinh khủng. Quần áo của họ rách rưới và bẩn thỉu, khuôn mặt sạm đen, có lẽ là do bùn hoặc do bệnh pellagra gây ra. Cửa sổ tàu của họ không có kính. Lúc đó, tôi nghĩ mình chắc hẳn đã vô tình nhìn thấy những gì mà chính quyền, với lịch trình và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của mình, đã cố gắng hết sức để ngăn cản du khách nhìn thấy. Một trải nghiệm siêu thực khác về lòng hiếu khách xa hoa ở một vùng đất đang đói khổ, giống như tôi đã từng trải qua tại buổi dã ngoại của Kim Jong-su năm 1989 đã củng cố thêm hình ảnh đó sau này trong chuyến đi khi chúng tôi được chiêu đãi một bữa tiệc cua khổng lồ tuyệt vời trên một bãi biển ở khu vực Rajin-Sonbong.

Trong khi hầu như không có điều gì tích cực diễn ra trong nền kinh tế trong nước, người ta có thể nhận thấy một dấu hiệu thay đổi trong cách tiếp cận của Bắc Triều Tiên đối với thế giới bên ngoài. Các đề xuất liên quan đến sông Tumen (Đồ Môn) rõ ràng đã khơi dậy sự quan tâm lớn tại Bình Nhưỡng. Trung Quốc là bên khởi xướng các cuộc thảo luận này, với mục tiêu tìm kiếm lối ra Biển Nhật Bản cho tỉnh Cát Lâm, một tỉnh không có đường bờ biển. Thành phố Hồn Xuân của Trung Quốc, nằm cách cửa sông Tumen khoảng mười dặm về phía thượng nguồn, trước đây từng là một cảng nhỏ nhộn nhịp với quyền hàng hải được bảo đảm bởi một hiệp ước khu vực. Tuy nhiên, vào năm 1938, quân đội Nhật Bản đã đóng các cọc chắn tại cửa sông Tumen để cắt đứt hoạt động vận tải đường thủy.

Các đại biểu tham dự hội nghị đã đến thăm Cầu Hữu Nghị, tuyến đường sắt băng qua biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Nga, nằm ngay phía nam lãnh thổ Trung Quốc. Chỉ cần nhìn qua một lần cũng đủ để thuyết phục hầu hết mọi người rằng đề xuất của Trung Quốc về việc nạo vét sông Tumen để cho tàu biển cỡ lớn đi lại là không thực tế. Con sông đã bị bồi lắng nghiêm trọng đến mức việc nạo vét chắc chắn sẽ phải được tiến hành liên tục với chi phí rất tốn kém.

Một đề xuất thỏa hiệp được các quan chức của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc đưa ra tại Bình Nhưỡng đã gợi ý rằng các nỗ lực phát triển nên tập trung vào hai cảng ven biển Rajin và Sonbong của Bắc Triều Tiên. Trung Quốc có thể kết nối với các cảng này bằng đường sắt và đường bộ, đồng thời sử dụng chúng như các cảng của riêng mình mà không phải thực hiện các thủ tục hải quan hay thị thực. Trung Quốc đang nghiên cứu đề xuất đó.

Tuy nhiên, tôi được nghe từ đồng nghiệp của mình tại Trung tâm Đông-Tây, ông Mark Valencia, một chuyên gia về các vấn đề hàng hải, rằng: “Trung Quốc muốn có quyền lưu thông trên sông Tumen, dù chỉ là cho một chiếc thuyền chèo. Họ đang suy tính cho nhiều thế hệ về sau.”

Ngoài cuộc tranh cãi giữa phương án phát triển cảng sông và cảng biển ven bờ, các quốc gia liên quan còn bất đồng về việc các khu vực cụ thể nên được quản lý theo mô hình đa quốc gia hay quản lý bởi từng quốc gia riêng lẻ. Trung Quốc chủ trương quản lý đa quốc gia, và các đại biểu của họ đã nêu Hong Kong và Macao—khi đó vẫn chưa được Trung Quốc tiếp quản—làm hình mẫu cho việc đặt một vùng lãnh thổ dưới sự quản lý của một thực thể khác với quốc gia có chủ quyền.

Phía Trung Quốc khẳng định rằng chủ quyền không phải là vấn đề được đặt ra, mà chỉ là vấn đề quản lý. Những câu hỏi này dự kiến sẽ được thảo luận tiếp tại các hội nghị quốc tế tổ chức vào cuối năm đó ở Bắc Kinh và Vladivostok.

Tuy nhiên, các quan chức Bắc Triều Tiên đã tỏ ra hoài nghi ngay từ đầu đối với phần đề xuất kêu gọi quản lý đa quốc gia khu vực này—điều đồng nghĩa với việc phải chia sẻ quyền lực trên chính lãnh thổ của họ. Vì vậy, Bình Nhưỡng đồng thời theo đuổi một hướng đi riêng độc lập.

Trên danh nghĩa, Bắc Triều Tiên đã thành lập khu kinh tế đặc biệt đầu tiên của mình tại Rajin và Sonbong, nằm trong khu vực sẽ trở thành một phần của vùng đa quốc gia đồng bằng sông Tumen nếu đề xuất của Trung Quốc và các nước khác được chấp nhận. Việc cố gắng thu hút các nhà đầu tư đến đây—bất kể kết quả của các cuộc đàm phán đa quốc gia ra sao—rõ ràng là một trong những mục tiêu quan trọng của chính phủ khi cho phép đoàn khách của chúng tôi tới thăm.

Các quan chức cảng Rajin và Sonbong dự định mở rộng công suất hàng hóa từ 6 triệu tấn lên 50 triệu tấn mỗi năm theo hai giai đoạn. Họ cũng có kế hoạch xây dựng một cảng hoàn toàn mới trong khu vực với công suất hàng năm thêm 50 triệu tấn nữa.

Họ tự hào tuyên bố rằng, không giống như một số cảng lân cận của Nga, các cảng của Bắc Triều Tiên không bị đóng băng vào mùa đông. Một tập tài liệu quảng bá được thiết kế công phu, kèm theo các bản đồ màu, dự báo rằng dân số khoảng 131.000 người Bắc Triều Tiên đang sinh sống quanh hai cảng này sẽ tăng lên thành một thành phố công nghiệp hiện đại với một triệu dân.

Về lý thuyết, một khu kinh tế hoàn toàn do Bắc Triều Tiên quản lý có thể hoạt động được nếu các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc các nhà đầu tư nước ngoài khác bỏ vốn xây dựng nhà máy tại đó. Tuy nhiên, ông Yasuhiro Kawashima, Phó Tổng giám đốc Cục Phát triển Cảng và Sân bay thuộc tỉnh Niigata Prefecture của Nhật Bản, cảnh báo rằng các kế hoạch mở rộng cơ sở cảng tại Rajin, Sonbong và thành phố Chongjin lân cận có thể sẽ không đi đến đâu nếu Bình Nhưỡng không thuyết phục được các nước láng giềng trung chuyển hàng hóa qua các cảng của Bắc Triều Tiên.

Trong thời gian gần đây, xu hướng lại diễn ra theo chiều ngược lại. Vài năm trước, Trung Quốc đã từng thử tiến hành xuất khẩu quy mô lớn thông qua cảng Chongjin của Bắc Triều Tiên, nhưng sau đó rút lui khi các toa xe chở hàng của họ không phải lúc nào cũng được hoàn trả sau khi dỡ hàng.

Ông Chong Chiryong, giám đốc cảng Chongjin, cho biết tổng khối lượng hàng hóa quá cảnh được xử lý thay mặt cho Trung Quốc và các quốc gia khác chỉ vào khoảng từ 100.000 đến 150.000 tấn mỗi năm.

Việc khôi phục vai trò của Trung Quốc như một khách hàng lớn sử dụng các cảng của Bắc Triều Tiên có thể đòi hỏi Bình Nhưỡng phải nhượng bộ Bắc Kinh trong các vấn đề liên quan đến quản lý đa quốc gia và quyền tiếp cận Biển Nhật Bản. Các hội nghị trong tương lai sẽ cố gắng giải quyết những bất đồng này.

Tuy nhiên, theo ông Lee-Jay Cho, Phó Chủ tịch kiêm nhà nghiên cứu cao cấp của Trung Tâm Đông-Tây, bất kể kết quả cuối cùng ra sao, điều có ý nghĩa là Bắc Triều Tiên ít nhất đã sẵn sàng thảo luận về các đề xuất khác nhau.

Đất nước, ít nhất một phần nhờ Trung Quốc thúc đẩy Kim Jong-il, đã lên tiếng về chủ trương  chào đón đầu tư nước ngoài từ năm 1984. Nhưng chỉ có khoảng một trăm doanh nghiệp ra đời từ luật liên doanh được ban hành năm đó. Những doanh nghiệp này đã mang vào quỹ nước ngoài, theo ước tính của Hội đồng Thống nhất Hàn Quốc, chỉ khoảng 150 triệu đô la – phần lớn số tiền đến từ cư dân Triều Tiên ủng hộ Bình Nhưỡng sống tại Nhật Bản. Trong các liên doanh đó, chính phủ cho phép – nhưng có điều không chính thức – một số hình thức động viên theo kiểu tư bản – chẳng hạn như “quà tặng” hàng hóa để thưởng cho các công nhân đạt năng suất cao. Từ góc nhìn của nhà đầu tư, các điểm quan trọng vẫn chưa được làm rõ trong các quy định về liên doanh và ngoại hối. Sự thiếu tin tưởng từ bên ngoài kết hợp với sự trì trệ nội bộ đã khiến những cải tiến thực sự ở mức tối thiểu.

Nếu năm 1992 có những lý do để tin rằng nhiều nhà đầu tư hơn có thể hưởng ứng các sáng kiến ​​mới, thì yếu tố hấp dẫn nhất đứng đầu danh sách là: Bắc Triều Tiên đã thực hiện được một sự chuyển giao thế hệ. Theo một mô hình điển hình của Triều Tiên, cũng được tìm thấy ở Hàn Quốc, Kim Jong-il đã xây dựng mạng lưới ủng hộ mình một phần từ các cựu học sinh của những trường ông từng theo học: Trường Trung học cấp 2-3 Namsan, Trường Cách mạng Mangyongdae và Đại học Kim Il-sung. Đến năm 1987, các cựu học sinh của trường Mangyongdae chiếm 20% trong Ủy ban Trung ương Đảng, 30% trong Bộ Chính trị và 32% trong Quân Ủy Trung ương. Ngôi trường sản sinh “những chiến binh cách mạng tiếp nối, thế hệ này đến thế hệ khác”, theo bài phát biểu năm 1982 của O Guk-ryol, khi đó là tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang và là bạn cùng lớp với Kim Jong-il, theo một số nguồn tin, ông từng ở cùng Kim Jong-il khi còn nhỏ tại trại Lữ đoàn 88.

Mangyongdae cung cấp huấn luyện quân sự song song với chương trình trung học cơ sở và trung học phổ thông thông thường. Học sinh tốt nghiệp sẽ nhập ngũ ba năm và có thể trở thành đảng viên trong thời gian đó. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, họ có thể ghi danh vào Đại học Kim Il-sung hoặc học viện quân sự. Những học sinh tốt nghiệp – khoảng 120 người mỗi năm – tạo thành một tầng lớp tinh nhuệ. “Họ rất trung thành,” một người đào thoát cấp cao nói với tôi: “Hầu hết những người xung quanh Kim Jong-il đều tốt nghiệp Học viện Mangyongdae.” Theo Kang Myong-do, con rể của một thủ tướng, những người đủ điều kiện ghi danh vào Mangyongdae, nếu cha mẹ vẫn còn sống, phải là con của các quan chức ít nhất ở cấp trưởng ban đảng”. “Được nhận vào học là một đặc ân lớn,” ông nói. Con cái của tầng lớp tinh hoa trước đây sẽ đến Namsan giờ đây lại đến Mangyongdaae, ông cho biết.

Ngoài các bạn học cũ được ông ưu ái, một số người từng làm việc cho Kim Jong-il trong các đội Ba Cuộc Cách mạng đã trở nên nổi bật trong phe cánh cực đoan của ông. Sự nổi lên của giới trẻ là một điềm báo tích cực trong mắt nhiều nhà phân tích bên ngoài. “Có sự trỗi dậy của tầng lớp tinh hoa trẻ hơn, thực dụng hơn… những người thuộc thế hệ của Kim Jong-il,” học giả kiêm nhà ngoại giao người Hàn Quốc Han Sung-joo nói với các phóng viên ở Tokyo năm 1992. “Họ nói rằng đất nước của mình phải mở cửa một chút nếu không họ sẽ tụt hậu một cách tuyệt vọng so với Hàn Quốc và nền chính trị sẽ sụp đổ.”

Kim Jong-il, người tròn 50 tuổi vào ngày 16 tháng 2 năm 1992, vẫn là một nhân vật bí ẩn, hầu như không bao giờ gặp gỡ người nước ngoài – nhưng với tư cách là người đứng đầu chính phủ và đảng, ông đã bổ nhiệm nhiều tay chân thân tín vào các vị trí kinh tế và ngoại giao quan trọng. Một số người, như Kim Dal-hyon, phó thủ tướng kiêm chủ nhà của chúng tôi, là họ hàng. Tuy nhiên, họ đại diện cho sự chuyển giao thế hệ,” như Kim Duk-choong, cựu giám đốc điều hành Tập đoàn Daewoo Hàn Quốc, đã nói trong chuyến đi. “Tất cả đều thuộc thế hệ trẻ – khoảng 50 và 40 tuổi,” ông nhận xét. “Họ cởi mở hơn nhiều so với trước đây.”

Đúng là, việc Kim Dal-hyon thừa nhận những khó khăn kinh tế nghiêm trọng vẫn chưa trở thành đường lối của đảng; các cấp dưới như Kim Song-sik vẫn tiếp tục khẳng định mọi việc đều ổn và đất nước ít bị ảnh hưởng bởi những thay đổi ở các quốc gia cộng sản khác. Thậm chí Kim Dal-hyon còn khăng khăng rằng người dân nước ông “không phải lo lắng về lương thực, quần áo và nhà ở”. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là ông thẳng thắn thừa nhận rằng “thế giới đang thay đổi” và việc tạo ra các đặc khu kinh tế “là để chúng tôi tồn tại”, trong một thế giới mà “chỉ có một vài quốc gia đi theo mô hình xã hội chủ nghĩa”.

Một ví dụ nhỏ khác về cách tiếp cận mới, tiến bộ hơn: Các quan chức Triều Tiên dường như đã nhận ra rằng người ngoài không mấy mặn mà với những lời tán dương sùng bái dành cho sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Kim Il-sung và con trai ông, Kim Jong-il. Trong chuyến thăm của chúng tôi năm 1992, trừ khi được hỏi cụ thể, họ đã rất tử tế khi không lặp đi lặp lại những lời sáo rỗng về việc Lãnh đạo Vĩ đại hay Lãnh đạo Kính yêu đã xây dựng nhà máy này hay trường học nọ vì tình yêu thương nhân dân, vân vân và vân vân.

Một số quan chức trẻ tuổi cũng thể hiện một đáp ứng thú vị cho một câu hỏi rất thực tế: Ở một quốc gia không giảng dạy cũng không hiểu về kinh tế thị trường tự do, người ta có thể tìm đâu ra những nhà quản lý có năng lực để thúc đẩy việc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu? Hóa ra, một số ngôi sao kinh tế đang lên đã được đào tạo trong các ngành khoa học – một trong số ít lĩnh vực mà người Triều Tiên có thể được giáo dục với một thành phần tương đối nhỏ những bài dạy rỗng tuếch ý thức hệ. Kim Jong-u, Thứ trưởng Ngoại thương kiêm chủ tịch Ủy ban  Xúc tiến Hợp tác Kinh tế Đối ngoại, từng là một nhà khoa học hạt nhân. Bản thân Phó Thủ tướng Kim Dal-hyon từng là một nhà hóa học và người đứng đầu Viện Hàn lâm Khoa học Triều Tiên.

Tôi đã có cái nhìn thoáng qua về chất lượng đầu óc của Kim Dal-hyon trong một buổi họp báo. Ông công bố ngay từ đầu rằng trước tiên ông sẽ đón nhận tất cả câu hỏi và sau đó sẽ trả lời chúng cùng một lúc. Các phóng viên càu nhàu, lo sợ rằng đây là mánh khóe của ông ta nhằm tránh trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà ông ta cho là thách thức. Tuy nhiên, ông ta vẫn khăng khăng, vì vậy các phóng viên lần lượt đứng lên đặt câu hỏi, nêu ra những câu hỏi hóc búa nhất cho Kim. Kim lắng nghe từng câu hỏi một, nhưng không ghi chép lại – điều này càng làm chúng tôi thêm lo ngại rằng mình sắp bị lừa một cách trắng trợn. Nhưng khi tất cả các câu hỏi đã được đặt ra, ông ta đã đưa ra một câu trả lời dài dòng, thực sự đáp lại hầu hết các câu hỏi, chỉ trừ một vài câu. Khi các phóng viên nhắc nhở ông ta đã bỏ sót một vài câu hỏi, ông cũng liền đáp lại những câu hỏi bỏ sót đó. Ông ấy đã tạo ra một ấn tượng với màn trình diễn xuất sắc đầy cuốn hút. Chỉ cần nghe ông ấy nói thôi cũng đã nâng cao mức độ lạc quan của tôi về nền kinh tế Triều Tiên lên vài bậc.

Than ôi, ngay cả các nhà khoa học chuyển sang làm kinh tế cũng không thể chữa khỏi chứng “dị ứng” kinh niên của Triều Tiên với việc sử dụng số liệu thống kê chính xác. “Nhược điểm chính của chủ nghĩa xã hội là chúng ta không quen với các con số,” Kim Dal-hyon giải thích một cách mỉa mai, khi ông từ chối cung cấp số liệu chi phí cho lễ kỷ niệm ngày 15 tháng 4 xa hoa đến mức sinh nhật lần thứ 80 của Kim Il-Sung có thể được coi là màn dạo đầu cho sự kiện Tái Giá Lâm của Chúa Giê-su. Nhưng ít nhất phó thủ tướng cũng thể hiện sự thấu hiểu đối với nhu cầu của các nhà đầu tư tiềm năng, muốn biết rõ vị trí của họ trong nước. “Các sắc luật và quy định chi tiết về ưu đãi cho nhà đầu tư, tự do đi lại, miễn thị thực và thuế sẽ được ban hành trong năm nay,” ông Kim hứa. Trong tương lai, đất nước có thể mở thêm các khu thương mại tự do tại các thành phố như Wonsan và Nampo, “và cũng có thể tạo ra các khu du lịch tự do.” Triều Tiên đã gia nhập Liên Hiệp Quốc cùng lúc với Hàn Quốc vào năm 1991, và Kim Dal-hyon hy vọng nhận được sự giúp đỡ từ các tổ chức quốc tế trong việc tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng. Ông nói: “Phần lớn chi phí sẽ do đất nước chúng tôi, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các ngân hàng, doanh nghiệp của các nước khác gánh chịu. Chúng tôi sẽ sớm được kết nạp vào ADB.”

Chính quyền biết rằng họ vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi có nhiều người ngoài sẵn sàng bỏ tiền ra đầu tư. “Chúng tôi muốn sửa đổi luật và ban hành những luật mới đặc biệt chỉ dành riêng cho các khu vực này, để đáp ứng yêu cầu của các bạn,” Kim Dal-hyon nói. “Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra một khu vực tốt hơn cả Thâm Quyến của Trung Quốc.” (Quả thực, các quy định mới đã được ban hành vào ngày 5 tháng 10 năm 1992. Chúng mang lại cho các nhà đầu tư nước ngoài ưu đãi thuế, đảm bảo quyền sở hữu tài sản và cho phép chuyển một phần lợi nhuận về nước. Không chỉ liên doanh như trước đây, mà cả các liên doanh hoàn toàn thuộc sở hữu nước ngoài cũng được phép. Người Hàn Quốc, bị cấm theo luật năm 1984, có thể đầu tư vào Triều Tiên theo phiên bản luật mới. Mức thuế suất, được công bố ngày 6 tháng 2 năm 1993, thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hơn lãi suất của Trung Quốc).

Mặc dù hầu như không ai ở Triều Tiên có nhiều kinh nghiệm về kinh tế thị trường, nhưng Yoo Jang-hee, chủ tịch Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Hàn Quốc (KIEP), một viện nghiên cứu ở Seoul, và là trưởng đoàn đại biểu Hàn Quốc, rất phấn khởi khi thấy các quan chức thế hệ mới này ít nhất cũng hiểu được “kiểu kinh tế của họ”. Tuy nhiên, dù các phương pháp tiếp cận này rất thú vị, chúng không đại diện cho một quyết định ủng hộ sự thay đổi cơ bản. Chính quyền Triều Tiên vẫn mắc kẹt giữa hai lựa chọn khó khăn cũ: Mặc dù việc không mở cửa đầu tư cho các nhà tư bản có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Bình Nhưỡng, nhưng nếu mở cửa, chính thái độ, kiến ​​thức và ý tưởng mới sẽ du nhập vào đất nước cùng với sự thay đổi đó cũng có thể gây ra hậu quả tương tự. Xét cho cùng, làm thế nào một chế độ Triều Tiên độc lập có thể được biện minh khi người dân của nó nhận ra rằng nó chỉ là một bản sao kém cỏi của Hàn Quốc tư bản chủ nghĩa vô cùng thành công ở phía Nam?

Giải pháp mà Kim Dal-hyon và các nhà kỹ trị của ông đề xuất nghe có vẻ như là phép thử tối thượng của chủ nghĩa toàn trị: thiết lập các khu kinh tế tự do, nhưng tách biệt chúng một cách nghiêm ngặt đến mức không ảnh hưởng gì đến người dân và các thể chế ở những nơi khác trong nước. Kim khẳng định rằng sẽ không có vấn đề gì về việc người dân Triều Tiên khác ghen tị với mức lương và điều kiện sống của công nhân bên trong các khu vực này, vì “chúng tôi tin tưởng vào người dân của mình”. Nhưng Kim Duk-choong và những người khách khác đã suy đoán rằng chế độ đã chọn Rajin Sonbong làm khu thương mại tự do đầu tiên chính xác vì khu vực này hẻo lánh cách xa các trung tâm dân cư chính. (Nhiều năm sau, có thông tin cho rằng nhà nước đang di dời dân cư trong khu vực, thay thế bằng những cư dân mới có cam kết về tư tưởng được coi là không thể chê trách.)

Kinh nghiệm của các quốc gia khác như Trung Quốc cho thấy rằng sự phân biệt đối xử về kinh tế được hình dung sẽ không thể tồn tại lâu dài, và sự cất cánh kinh tế thực sự sẽ đòi hỏi và góp phần vào cải cách và mở cửa thị trường thực sự. Tuy nhiên, các quan chức Bình Nhưỡng đã nhận được chỉ thị của họ. Mặc dù các phương thức kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ được cho phép trong các khu thương mại, Kim Song-sik cho biết: “Chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể ngăn chặn những phương pháp đó ảnh hưởng đến các doanh nghiệp ở những nơi khác trong cả nước, nơi chính sách kinh tế của chính phủ không thay đổi.”

Ngoài việc tăng cường chứ không phải giảm bớt quyền kiểm soát đối với người dân, chiến lược này còn hướng tới việc kiềm chế các tư tưởng tư bản chủ nghĩa bằng cách đẩy mạnh hơn nữa các nỗ lực tuyên truyền nhằm khơi dậy sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng đối với hiện trạng. Vào tháng 4 năm 1992, chế độ đã công bố một chương trình biểu diễn hoành tráng mới, “Bài ca chúc phúc”, với sự tham gia của hàng nghìn người chúc Kim Il-sung sinh nhật lần thứ tám mươi hạnh phúc và ca ngợi hệ thống mà ông đã thiết lập. “Những cơn gió cám dỗ có thể thổi qua,” dàn đồng ca khổng lồ hát vang, “nhưng chúng ta sẽ mãi mãi đi theo con đường của mình. Nào, nào, hãy bảo vệ chủ nghĩa xã hội!”

“Trên đời này có khá nhiều người lo ngại rằng mô hình chủ nghĩa xã hội của chúng ta sẽ bị tha hóa bởi mầm mống chủ nghĩa xét lại bẩn thỉu”, Kim Il-sung giải thích trong một cuốn hồi ký được xuất bản vào khoảng thời gian đó. “Chúng ta không muốn Đảng của mình bị biến thành một câu lạc bộ hay một khu chợ bởi xu hướng dân chủ cực đoan. Những tai họa mà chúng ta phải gánh chịu do sự cai trị quân sự cực đoan trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật và những bài học từ Đông Âu nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không được phép để điều này xảy ra.”

Trước mặt các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng, các quan chức đã mạnh dạn chỉ ra những nét quyến rũ kín đáo của chủ nghĩa toàn trị – tính ổn định xã hội trong đó không thể không kể đến. Tại cuộc họp báo, Kim Dal-hyon được hỏi liệu công nhân của các công ty nước ngoài có phải tham gia các buổi tuyên truyền tư tưởng tốn thời gian như công nhân ở các doanh nghiệp khác hay không. Có lẽ không, ông ấy ám chỉ, nhưng “Tôi nghĩ hệ tư tưởng của chúng tôi sẽ giúp tạo ra các khu kinh tế tự do. Sẽ không có trộm cắp, côn đồ hay ma cô trong các khu vực đó của chúng tôi. Chúng tôi liên tục giáo dục thế hệ trẻ và người lớn tuổi của mình làm việc chăm chỉ hết sức có thể. Trên thực tế, nhiệm vụ của các nhóm Ba Cuộc Cách mạng – không phải là họ sẽ ở trong các khu vực tự do đó – là kích thích sản xuất dư thừa.” Quả thực, một luật sư Hàn Quốc, một bạn đồng hành của tôi trong chuyến đi, đã ngạc nhiên trước tính cách “ngây thơ, thuần khiết, không cầu kỳ” của những người Triều Tiên mà ông gặp. “Những người này biết cách hợp tác,” ông nói. Ông lưu ý đến sự hiếu khách chu đáo và phục vụ nhanh chóng tại các khách sạn và nhà hàng, trái ngược với thái độ thờ ơ và thậm chí cáu kỉnh mà ông đã trải nghiệm ở nước láng giềng cộng sản, Trung Quốc. Những người phương Tây thiếu tôn trọng có thể dễ dàng cho rằng đó là do phẫu thuật thùy não, hoặc ít nhất là tẩy não suốt đời, đã tạo nên kỷ luật mà người Triều Tiên thể hiện. Nhưng tôi nghĩ rằng các giáo phái cuồng tín ở khắp mọi nơi đều có xu hướng tạo ra các tín đồ thể hiện tính cách ngọt ngào – hãy nghĩ đến những tín đồ trẻ tuổi với ánh mắt tha thiết, cũng vào thời điểm đó, đã đi xin tiền quyên góp từ người qua đường ở các thành phố phương Tây. Giáo phái Kim Il-sung cũng không phải là ngoại lệ.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đều phản ứng thận trọng. Họ không chỉ e ngại chiến lược phát triển sẽ không khả thi nếu không đi kèm sự thay đổi thực chất, mà còn e ngại hình ảnh chung của Bình Nhưỡng – từ tiền sử vỡ nợ đến tai tiếng hung hăng và những nghi ngờ về sự ổn định chính trị một khi Kim Il-sung qua đời. Đặc biệt không mấy hào hứng là phía Nhật Bản, vốn có nguồn lực, sự gần gũi và quá trinh quan tâm đến bán đảo Triều Tiên để trở thành yếu tố chính nếu họ muốn làm như vậy. Triều Tiên vẫn chưa trả hết nợ dù đã nhiều lần gia hạn. Nhật Bản đã nghe những lời đề nghị trả phần nợ của họ bằng cá và vàng, nhưng rồi không có gì xảy ra. Chính phủ Nhật Bản vào những năm 1980 đã chi trả bảo hiểm xuất khẩu cho các công ty bị bỏ rơi. Trong quá trình đó, Tokyo từ chối cung cấp thêm bất kỳ bảo hiểm xuất khẩu nào. Một số người Nhật cho rằng sẽ khó có thể coi Bình Nhưỡng một cách nghiêm túc cho đến khi họ bắt đầu chịu trả món nợ cũ chỉ bằng một phần tiền trước đây dùng cho việc xây dựng tượng đài và các bữa tiệc sinh nhật dành cho Lãnh tụ Vĩ đại và Lãnh tụ Kính yêu. (Các nhà thầu xây dựng Nhật Bản là một ngoại lệ rõ ràng so với sự thận trọng thường thấy. Các nhà thầu này rất thèm muốn các dự án mở rộng cảng Rajin-Sonbong và Chongjin. Họ cho rằng việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao Tokyo-Pyongyang sẽ sớm diễn ra, và cùng với đó là viện trợ của Nhật Bản. Nguồn tài trợ này sẽ được dùng để chi trả cho các hợp đồng xây dựng đắt đỏ, trong đó các nhà thầu Nhật Bản hy vọng sẽ giành được phần lớn hơn.)

Đối với những người đang tập trung vào vấn đề nợ nần, Kim Dal-hyon kêu gọi sự kiên nhẫn. Ông nói: “Không có lý do gì chúng tôi phải trả những khoản nợ này ngay lúc này. Các nước chủ nợ nên hiểu tình hình kinh tế mà các nước xã hội chủ nghĩa đang phải đối mặt.” Mối quan hệ huyết thống có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự thấu hiểu mà Kim Dal-hyon đang cầu xin. Trong một số giai đoạn, đã có nhiều cuộc thảo luận về hợp tác kinh tế giữa Triều Tiên và Hàn Quốc. Thậm chí còn có những báo cáo về đề xuất của Hàn Quốc mua lại một số khoản nợ nước ngoài của Triều Tiên, như một cử chỉ hữu nghị. Người Hàn Quốc và các đối tác ở Triều Tiên đã từng thảo luận về hợp tác trong quá khứ nhưng không đạt được nhiều kết quả. Trong một tuyên bố đặc biệt ngày 7 tháng 7 năm 1988, Tổng thống Hàn Quốc Roh Tae-woo cho rằng đã đến lúc cải thiện quan hệ Bắc-Nam. Là một phần của quá trình này, ông đề xuất thiết lập thương mại Bắc-Nam miễn thuế như thể hai nước là một quốc gia duy nhất. Các nhà phân tích vào thời điểm đó nghi ngờ rằng kết quả tức thì sẽ không đáng kể. Trên thực tế,  nhành ô liu kinh tế  Roh trao cho Triều Tiên một phần xuất phát từ mong muốn tạo cớ cho Trung Quốc và Liên Xô phản bội đồng minh Bình Nhưỡng bằng cách tăng cường quan hệ kinh tế và chính trị với Seoul.

Đúng như dự đoán, Triều Tiên – vẫn còn cay cú về Thế vận hội năm 1988 và không muốn tham gia vào một cuộc trao đổi vì sẽ phơi bày sự yếu kém về kinh tế trước mắt chính người dân của mình – đã ngay lập tức bác bỏ lời đề nghị của Roh là “không có gì mới”. Nhưng nhu cầu lâu dài của Bình Nhưỡng vẫn còn đó. Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở những nơi khác, Triều Tiên đã bị đẩy trở lại một hình thức chủ nghĩa Juche quá tự lực cánh sinh để có cuộc sống thoải mái. Giờ đây, khi buộc phải thiếu đi những nguồn lực thiết yếu mà trước đây họ quen nhận được từ những người anh em cộng sản, Triều Tiên rất cần thống nhất về mặt kinh tế. Trong khi đó, đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Seoul, nền kinh tế của Bắc và Nam Triều Tiên mang lại sự bổ sung lẫn nhau, đều hấp dẫn, xét về khía cạnh lợi ích kinh tế thuần túy. Vận tải là một yếu tố. Việc giành được quyền sử dụng đường sắt Triều Tiên và quyền bay qua không phận Triều Tiên có thể tiết kiệm được những khoản tiền đáng kể cho Hàn Quốc khi họ mở rộng thị trường lục địa của mình, đặc biệt là ở Trung Quốc và Nga.

Đối với miền Nam, lao động là một yếu tố then chốt khác, quan trọng hơn cả tài nguyên thiên nhiên. Xét cho cùng, Hàn Quốc đã tự xoay xở mà không cần đến tài nguyên thiên nhiên của miền Bắc, phải nhập khẩu từ nước ngoài để thay thế. Hàn Quốc, một quốc gia nghèo tài nguyên, giờ đây lại sở hữu kinh nghiệm và bí quyết khổng lồ trong sản xuất hàng hóa công nghiệp đạt tiêu chuẩn thế giới. Nhưng chính sự thành công đó lại trở thành một vấn đề. Đến những năm 1990, miền Nam đã gặp phải những vấn đề điển hình của các nước giàu có như lao động được trả lương quá cao và hay yêu sách. Các nhà công nghiệp miền Nam trả lương cho công nhân của họ gấp mười lần Triều Tiên, trong khi những người lao động khó tính ở miền Nam ngày càng coi thường những loại việc làm kết hợp “ba chữ D”: bẩn thỉu, nguy hiểm và khó khăn (dirty, dangerous, difficult). “Ở đây chúng tôi đang cố gắng bán những chiếc Hyundai Stellar của mình,” một cư dân Seoul nói với tôi vào năm 1991. Trong khi đó, anh ta lưu ý, ở Triều Tiên, khẩu hiệu chiến dịch công cộng hấp dẫn nhất gần đây là, “Hãy ngắm sao trong khi làm việc.” Nhu cầu của miền Nam về một lực lượng lao động giá rẻ, chăm chỉ để tiếp nối “phép màu kinh tế” đã khơi dậy sự quan tâm kinh tế trở lại đối với việc thống nhất.

Các nhà công nghiệp miền Nam nhận thấy sức hấp dẫn đáng kể ở một dân số lịch sự, cư xử tốt và một lực lượng lao động có mức lương thấp vào thời điểm đó, và rõ ràng là rất kỷ luật. Khi chúng tôi đến thăm Nhà máy May mặc Eguk Moran ở Bình Nhưỡng, tổng giám đốc Jon Song-won nói về nhân viên của mình: “Họ thậm chí không biết từ ‘đình công’ là gì.” Nhà máy của ông sản xuất vest cho người mua Triều Tiên ở Nhật Bản để đổi lấy nguyên vật liệu và chi phí quản lý cộng với phí nhân công cố định là 10 đô la một bộ vest. Có người hỏi Jon liệu ông ấy có ngạc nhiên nếu biết rằng các thương nhân Nhật Bản mua những bộ vest đó đã đội giá lên gấp mười lần hoặc hơn trước khi bán. Jon, ngây thơ không kém những công nhân của mình, đáp lại: “Tôi không nghĩ họ lại làm chuyện gian xảo như vậy.”

Theo lập luận của Kim Duk-choong, đối với người Hàn Quốc, đầu tư vào Triều Tiên “ít rủi ro hơn so với đầu tư vào Đông Nam Á. Suy cho cùng, đó là đầu tư vào chính đất nước của mình.” Ông bày tỏ sự hài lòng khi Kim Dal-hyon phát biểu trong cuộc họp báo rằng ông hy vọng người Hàn Quốc sẽ là những người đầu tiên đầu tư vào công cuộc phát triển Rajin-Sonbong, “Vì họ là đồng bào của chúng tôi.” Kim Duk-choong ngạc nhiên nói: “Đây là lần đầu tiên họ bày tỏ điều đó: ‘Chúng tôi hoan nghênh những người anh em của chúng tôi.’”

 Việc Triều Tiên tích cực thu hút các nhà đầu tư tiềm năng Nhật Bản đã góp phần – bất chấp phản ứng không mấy nhiệt tình của phía Nhật Bản – tạo ra động lực cạnh tranh ở Hàn Quốc để vượt mặt cường quốc thực dân cũ. Các tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc – Hyundai, Samsung, Daewoo, Lucky-Goldstar – đã đủ hào hứng với triển vọng dài hạn để chạy đua với nhau trong việc thành lập các nhóm đặc nhiệm nhằm nỗ lực tăng cường thương mại gián tiếp với Triều Tiên thông qua các nước thứ ba, và giờ đây chuẩn bị cho ngày thương mại trực tiếp trở thành hiện thực. Cuối cùng, vào ngày 17 tháng 10 năm 1988, chính phủ Seoul đã cho phép các công ty tư nhân giao dịch với Triều Tiên và cho phép các cuộc viếng thăm của các doanh nhân.

Nhà sáng lập Hyundai, Chung Ju-yung, là người đầu tiên tận dụng cơ hội mới này, ông đã đến Triều Tiên vào tháng 1 năm 1989 và trở về với một thỏa thuận sơ bộ về dự án hợp tác chung trị giá 700 triệu đô la: kế hoạch phát triển một khu nghỉ dưỡng ở cả hai bên biên giới xung quanh ngọn núi Kumgang hùng vĩ của Triều Tiên gần bờ biển phía đông. Đã đến lúc kiểm chứng lời hứa của Kim Jong-il với Hồ Diệu Bang của Trung Quốc rằng ông sẽ thúc đẩy ngành du lịch. Ý tưởng về Kumgang nghe không hoàn toàn phi lý. Như kiến ​​trúc sư kiêm nhà quy hoạch Kwaak Young-hoon của Seoul đã nói với tôi, những du khách lần đầu đến từ Hàn Quốc thường có phản ứng với một số khía cạnh của Triều Tiên giống theo cách các du khách lần đầu đến Disneyland phản ứng mà các cuộc khảo sát cho thấy: Cả hai đều được coi là “sạch sẽ và thân thiện”.

Tuy nhiên, những cân nhắc về chính trị đã can thiệp. Sự sụp đổ của Đông Đức năm 1990 đã dẫn đến một cuộc tái thẩm định lớn ở cả hai phía của Khu Phi quân sự Triều Tiên. Niềm hưng phấn ở Seoul là điều có thể cảm nhận rõ rệt khi một số người dự đoán Triều Tiên sẽ thống nhất trong vòng năm năm. Người miền Nam đã rất háo hức trước điều dường như chắc chắn rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ tự sụp đổ ở Triều Tiên mà không cần Hàn Quốc động đến ngón tay. Cũng như ở Đức, sự thống nhất đã đến thông qua việc sáp nhập nhà nước cộng sản cũ vào nhà nước tư bản chiến thắng. Chỉ khi đó miền Nam mới đầu tư vào miền Bắc.

Trong khi đó, tin tức về sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản châu Âu đã dập tắt ngay từ trong trứng nước phong trào cực đoan cánh tả ở miền Nam, nơi mà Bình Nhưỡng đặt một số hy vọng vào chiến thắng trên toàn bán đảo của cuộc cách mạng do Kim Il-sung lãnh đạo. Ý tưởng làm bất cứ điều gì có thể cung cấp tiền cho Triều Tiên và giúp kéo dài sự tồn tại độc lập của nước này đã trở thành điều cấm kỵ ở Seoul, đặc biệt là đối với các quan chức chính phủ. Trong hai năm sau chuyến thăm Bình Nhưỡng năm 1989 của Chung Ju-yung, không có doanh nhân hàng đầu nào khác của Hàn Quốc noi theo bước chân ông.

Các thành viên thuộc tầng lớp tinh hoa Triều Tiên đã bị sốc khi nghe về số phận của những người đồng cấp Đông Đức. Trong nước Đức thống nhất mới, quan chức Đông Đức ban đầu dường như không có quyền lãnh đạo và hướng các đặc quyền của nó – hoặc thậm chí, trong một số trường hợp, không nhận được những công việc tử tế. Tiền lệ đó đã gây kinh hoàng cho Bình Nhưỡng cũng như sự thống nhất nước Đức đã truyền cảm hứng cho Seoul. Thực tế, việc tránh “sáp nhập” đã trở thành nỗi ám ảnh ở Bình Nhưỡng. Đến đầu năm 1992, nỗi lo sợ của Bình Nhưỡng về viễn cảnh bị sáp nhập dường như đã giảm bớt phần nào. Chế độ này có thể cảm thấy rằng chiến dịch nhằm đe dọa bất kỳ thành viên nào còn do dự trong tầng lớp tinh hoa của mình và thống nhất họ xung quanh sự lãnh đạo của Kim Il-sung và Kim Jong-il đang thành công. Là một phần của chiến dịch, truyền hình Triều Tiên đã phát sóng một bộ phim tài liệu cho thấy các cựu quan chức Đông Đức đang phải đổ xô tìm việc làm và bán xúc xích trên đường phố.

Không còn nghi ngờ gì nữa, một nguyên nhân khác khiến Bình Nhưỡng tạm thời cảm thấy yên tâm là một sự thay đổi quan điểm ở Hàn Quốc mạnh mẽ đến mức, vào thời điểm đó, dường như lợi ích của chính quyền miền Bắc và miền Nam thực sự gối lên nhau. Việc thống nhất nước Đức đã chứng tỏ quá tốn kém đến nỗi nhiều người Hàn Quốc từng mong chờ một sự thống nhất nhanh chóng theo kiểu Đức giờ đây lại hy vọng vào một quá trình chậm chạp hơn, một quá trình cho phép miền Bắc có thời gian xây dựng nền kinh tế của mình để nó không trở thành gánh nặng quá lớn cho bên đối tác sáp nhập tiềm năng.

“Sự thống nhất nước Đức là một ví dụ điển hình cho trường hợp xấu nhất,” ông Park Young-kyu, một học giả tại Viện Nghiên cứu Thống nhất Quốc gia Seoul và là một trong những người Hàn Quốc tham gia chuyến đi, cho biết. Bộ Tài chính Hàn Quốc ước tính rằng nếu Hàn Quốc phải sáp nhập nền kinh tế của miền Bắc trước năm 2000, chi phí sẽ lên tới 980 tỷ đô la – gấp hơn ba lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hiện tại của Hàn Quốc là 280 tỷ đô la. Những ước tính này có tính đến nhu cầu đào tạo lại công nhân, cải thiện cơ sở hạ tầng như đường sá và cảng biển, phúc lợi xã hội cho người dân miền Bắc và chi phí cho việc dọn dẹp môi trường và hội nhập hành chính. Một viện nghiên cứu do chính phủ Hàn Quốc tài trợ cho biết khoảng 70% các công ty Đông Đức sẽ không thể tồn tại sau khi thống nhất, và 20% người dân Đông Đức sẽ mất việc làm trong quá trình này. Viện Kinh tế và Công nghệ Hàn Quốc cho biết, với tình hình kinh tế Triều Tiên lúc bấy giờ, tỷ lệ mất việc làm sau thống nhất sẽ cao hơn nhiều, khoảng 50%.

Nhiều nhà kinh tế lo ngại rằng khoảng cách thu nhập và mức sống chênh lệch quá lớn đến mức không thể gộp hai nền kinh tế Nam Bắc Triều Tiên lại với nhau. Thu nhập bình quân đầu người ở Hàn Quốc đang tiến gần đến mức 7.000 đô la, trong khi ở Triều Tiên, mức thu nhập này đang giảm từ mức cao có thể xuống tới 1.000 đô la. Một sự đồng thuận đang hình thành ở Hàn Quốc rằng Seoul phải giúp Bình Nhưỡng thu hẹp khoảng cách đó – và trong quá trình đó, giúp hỗ trợ nền kinh tế Triều Tiên. Về mặt lý thuyết, sự thịnh vượng được cho là sẽ khiến việc giao dịch với Bình Nhưỡng dễ dàng hơn.

Trong khi đó, chi phí lao động tăng cao đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế Hàn Quốc dựa vào xuất khẩu đóng vai trò then chốt – làm nổi bật bài học cay đắng rằng một Seoul tương đối gầy guộc sẽ khó tránh khỏi hậu quả của việc thống nhất đột ngột hơn nhiều so với một Bonn cứng cáp. Trong những cơn ác mộng, cư dân Seoul thấy thủ đô của họ bị tràn ngập bởi những người họ hàng nghèo khổ ở phía Bắc chạy trốn về phía Nam để theo đuổi giấc mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn. Bộ Tài chính đề xuất những hạn chế nghiêm ngặt đối với việc đi lại qua biên giới trong giai đoạn đầu sau thống nhất – ngoại trừ các gia đình ly tán miền Nam đã từng bỏ công tìm cách đoàn tụ. Một nhà ngoại giao phương Tây có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu xã hội Hàn Quốc đã vẽ cho tôi một bức tranh thậm chí còn đáng sợ hơn. “Việc thống nhất đột ngột theo kiểu Đông và Tây Đức sẽ là một thảm họa,” ông nói với tôi vào tháng 8 năm 1991. “Nếu họ thống nhất ngày hôm nay, người Hàn Quốc sẽ nắm quyền kiểm soát mọi thứ. Dân Triều Tiên sẽ là thành phần cấp dưới – những người quét dọn, hoặc lau mông cho trẻ sơ sinh.” Không giống như dân nghèo từ các tỉnh Cholla của Hàn Quốc, không ngại đảm nhận những vai trò thấp kém như vậy khi lên Seoul kiếm sống, dân Triều Tiên “không hề cam chịu như vậy,” nhà ngoại giao nói. “Họ sẽ không chấp nhận điều đó. Họ sẽ trở nên rất hung bạo ngay lập tức.”

Viện Kinh tế và Công nghệ Hàn Quốc tại Seoul, cùng với một số tổ chức khác, lập luận rằng Hàn Quốc nên giúp phát triển các ngành công nghiệp mới, cạnh tranh hơn ở Triều Tiên trước khi thống nhất để giảm thiểu những gián đoạn. Thông điệp này đặc biệt được đón nhận tích cực bởi một nhóm người Hàn Quốc cụ thể. Shin Woong-shik, một luật sư ở Seoul chuyên về các vấn đề pháp lý với Bình Nhưỡng, đã tham gia chuyến đi và nói với tôi rằng phần lớn sự quan tâm của người miền Nam xuất phát từ hàng triệu người miền Bắc Triều đã di cư vào miền Nam trước và trong Chiến tranh Triều Tiên, đặc biệt những người thuộc tầng lớp thượng lưu bị cộng sản thanh trừng. Bản thân là cháu trai của chủ một mỏ vàng ở vùng đất sau này trở thành Bắc Triều Tiên, ông Shin cho biết nhiều người Hàn Quốc giàu có sinh ra ở miền Bắc có lý do tình cảm để giúp phát triển quê hương của họ. Đứng đầu danh sách là Chủ tịch Tập đoàn Daewoo, Kim Woo-choong và nhà sáng lập Hyundai, Chung Ju-Yung – người sau này là ứng cử viên không thành công cho chức tổng thống Hàn Quốc trong cuộc bầu cử ngày 18 tháng 12 năm 1992.

Vào tháng 5 năm 1991, Kim Woo-choong của Daewoo đã đến Bình Nhưỡng và thảo luận về cả thương mại hàng hóa và các liên doanh sản xuất trong các lĩnh vực như dệt may và điện tử. Mùa hè năm đó, Hàn Quốc đã trao đổi gạo lấy than đá và xi măng của Triều Tiên – trực tiếp, không thông qua nước thứ ba như các thỏa thuận thương mại trước đây. Đó chắc chắn là một con tàu mang cờ của nước thứ ba, nhưng Hàn Quốc đã bắt đầu nghiên cứu khả năng thiết lập dịch vụ vận chuyển hàng hải thường xuyên giữa hai miền Triều Tiên. Cũng đang được nghiên cứu là đề xuất thành lập tài khoản thanh toán giữa Ngân hàng Xuất nhập khẩu Seoul và Ngân hàng Ngoại thương Bình Nhưỡng, để thanh toán khi thương mại trực tiếp được triển khai, và việc cấp các khoản vay ưu đãi cho Triều Tiên trong tương lai. Tháng 8 năm 1991, chính Tổng thống Roh của Hàn Quốc đã bày tỏ sự ủng hộ của chính phủ đối với các dự án liên doanh, không chỉ là thương mại như đã được khuyến khích trước đây. Các cuộc đàm phán về phát triển du lịch chung xung quanh núi Kumgang cũng được nối lại. Bên cạnh các dự án như vậy và việc phát triển chung các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Triều Tiên, đã có một số cuộc thảo luận về các khu vực đánh bắt cá chung và các liên doanh ở các nước thứ ba – cụ thể là sử dụng lao động Triều Tiên trong các dự án xây dựng và phát triển do các nhà thầu Hàn Quốc giám sát ở những nơi như Pakistan và Trung Đông và trong các kế hoạch khai thác gỗ ở Nga.

Tính đến thời điểm chúng tôi đến thăm, Tập đoàn Daewoo đã thực hiện thương vụ gần giống với một thỏa thuận đầu tư thực sự nhất. Chủ tịch Kim Woo-choong (người có em trai, Kim Duk-choong, cũng tham gia chuyến đi này) đã đến Bình Nhưỡng theo lời mời của Phó Thủ tướng Kim Dal-hyon vào tháng 1 năm 1992. Trong thời gian ở đó, ông đã ký hợp đồng liên doanh, theo đó chính quyền miền Bắc sẽ cung cấp đất đai và nhân công cho một khu phức hợp công nghiệp lớn tại cảng Nampo ở bờ biển phía tây – nơi Bình Nhưỡng sẽ chỉ định là một khu thương mại tự do khác. Daewoo sẽ cung cấp vốn và công nghệ, đồng thời hỗ trợ vận hành chín nhà máy sản xuất dệt may, quần áo, giày dép, hành lý, đồ chơi nhồi bông và đồ dùng gia đình.

Chủ tịch Daewoo từng tuyên bố tin tưởng rằng các nhà máy có thể xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 10 tỷ đô la mỗi năm.

Trước những diễn biến như vậy, trong phần lớn năm 1992, người ta dễ dàng dự đoán rằng đầu tư vào Triều Tiên có thể diễn ra theo cái gọi là mô hình Trung Quốc. Mười năm trước đó, khi Trung Quốc bắt đầu cải cách nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài, các doanh nhân và nhà tài chính Nhật Bản và phương Tây đã theo dõi với sự quan tâm-nhưng lại đầu tư tương đối ít tiền, đặc biệt là lúc khởi đầu. Phần lớn nhất của đầu tư bên ngoài đến từ những người cùng dân tộc: người Hoa ở Hồng Kông và ở nước ngoài. Luật sư Seoul Shin lập luận rằng Triều Tiên, giống như Trung Quốc, may mắn là có sẵn mạng lưới người Triều Tiên ở nước ngoài, hơn là các nước như Việt Nam, Campuchia và Cuba – vốn “không có các nước anh em.” Quả thực, đó có vẻ là một dự tính sáng suốt, ít nhất là trong một thời gian, khi khối lượng đầu tư có ý nghĩa nào đổ vào Bắc Triều Tiên sẽ đến từ dân Triều Tiên ở nước ngoài – không chỉ ở Nhật Bản và Hoa Kỳ, mà đặc biệt là từ Hàn Quốc.

Mặc dù một số người Hàn Quốc vẫn cho rằng miền Nam không nên can thiệp để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống Triều Tiên, nhưng những người miền Nam tham gia chuyến đi nhìn chung lại có quan điểm trái ngược. Đối với nhiều du khách, cuối cùng thì cơ hội dường như đã nghiêng hẳn về phía cải cách kinh tế ở Triều Tiên; mặc dù quá trình này sẽ mất nhiều năm, họ vẫn muốn khuyến khích cải cách vì nó sẽ mang lại lợi ích cho sự hòa giải giữa hai miền Nam Bắc và, trong tương lai, một sự thống nhất tương đối suôn sẻ. “Nếu các bạn giàu có hơn, các bạn sẽ mềm dẻo hơn,” nhà nghiên cứu kinh tế Kim Ick-soo nhận xét.

Tuy nhiên, suy nghĩ lạc quan đó nhanh chóng trở thành nạn nhân của chính trị. Ngay sau khi Chủ tịch Kim của Daewoo ký các thư thỏa thuận với Bình Nhưỡng – và trước khi hợp đồng được chính quyền Hàn Quốc phê duyệt theo yêu cầu – chính phủ Seoul đã đình chỉ tất cả các cuộc đàm phán hợp tác kinh tế và cấm mọi hoạt động trao đổi kinh tế. Để dỡ bỏ lệnh cấm, chính phủ cho biết, Bình Nhưỡng phải thực hiện thỏa thuận cho phép Triều Tiên và Hàn Quốc kiểm tra lẫn nhau các cơ sở vũ khí hạt nhân bị nghi ngờ.

 

Bình luận về bài viết này