
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
BA MƯƠI : Chúng ta sẽ trở thành bom đạn
Ở vùng đất ấy không có cửa hàng, chợ búa, thương nhân, và cũng chẳng có tiền tệ lưu thông. Ở đó, quy luật giá trị không có tác dụng. Giày dép và quần áo cho người dân có được bằng cách chiếm đoạt nguồn dự trữ của kẻ thù.
KIM IL-SUNG, MÔ TẢ TÌNH HÌNH TẠI CÁC KHU VỰC DU KÍCH MÃN CHÂU TRONG NHỮNG NĂM 1930
Hãy xem xét một kịch bản chiến tranh điển hình được lan truyền rộng rãi vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI: Giống như Nhật Bản năm 1941, chế độ Bình Nhưỡng quyết định rằng sự sống còn của họ đang bị đe dọa và chiến tranh là lựa chọn khả thi cuối cùng.
Mặc dù đó là một cơ hội tuyệt vọng. Đáp trả một sự khiêu khích có thật hoặc được dàn dựng, và dựa vào các vấn đề ở những nơi khác trên thế giới để đánh lạc hướng Washington và làm chậm bất kỳ phản ứng nào của Mỹ, Triều Tiên đã tung ra các đợt pháo kích tàn phá Seoul. Trong khi đó, các binh lính cuồng tín lẻn vào Hàn Quốc, cải trang thành người dân địa phương. Một số xâm nhập bằng các phiên bản quy mô lớn hơn cuộc đổ bộ ven biển ngày 19 tháng 9 năm 1996 của một nhóm biệt kích vũ trang miền Bắc trên tàu ngầm. Những đơn vị khác di chuyển bằng xe tăng và xe bọc thép chở quân qua những đường hầm bí mật bên dưới Khu Phi quân sự. Chẳng mấy chốc, được tăng cường bởi đội quân chiến thắng trong các trận đánh quy ước dọc theo khu phi quân sự, lực lượng phía Bắc tràn xuống phía Nam và đánh tan kẻ thù giàu có – và do đó dễ bị đánh bại – để thống nhất bán đảo chỉ trong vài ngày.
Tất nhiên, cũng có thể tưởng tượng ra những kịch bản khác. Nhưng bất kể chi tiết cụ thể như thế nào, thông điệp mà những binh lính Triều Tiên đào thoát liên tục truyền tải về phía nam là: Nếu chiến tranh xảy ra, người Hàn Quốc và người Mỹ sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn khi chiến đấu chống lại một kẻ thù đáng gờm hơn họ tưởng. Bị ru ngủ bởi thời gian trôi qua kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, người dân ở Hàn Quốc và Hoa Kỳ đôi khi bị cám dỗ bỏ qua những lời cảnh báo đó. Tự tin vào vũ khí hiện đại của mình, nhiều người kỳ vọng rằng lực lượng kết hợp của họ sẽ dễ dàng đẩy lùi cuộc tấn công của Triều Tiên, lực lượng chỉ có công nghệ trung bình.
Ngược lại, các chuyên gia quân sự và tình báo đóng quân tại Hàn Quốc lại có xu hướng nhìn nhận với ánh mắt tôn trọng hơn đối với kẻ thù tiềm tàng. Bất kể khoảng cách công nghệ là bao nhiêu, Triều Tiên có một lợi thế đáng kể về vị trí biên giới – ngay phía bắc vùng ngoại ô Seoul, điều này khiến thủ đô phía Nam dễ dàng nằm trong tầm bắn của pháo binh khổng lồ Triều Tiên. Bên cạnh đó, giới lãnh đạo Bình Nhưỡng đã dành hàng thập kỷ nỗ lực và chi những khoản tiền khổng lồ để xây dựng các công sự ngầm khắp các ngọn đồi phía Bắc, biến đất nước thành một pháo đài ngầm, mà họ tự hào tuyên bố sẽ bất khả xâm phạm trước các cuộc tấn công hoặc phản công.
Bất chấp những yếu tố đó, các cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Kosovo và Iraq vẫn tiếp diễn. Điều đó đã tạo nên niềm tin rằng kho vũ khí “bom thông minh” và các loại vũ khí thông thường khác của Mỹ có thể xoay chuyển cục diện ở Triều Tiên mà không cần sử dụng vũ khí hạt nhân. Nhưng một điều vô hình vẫn còn đó đối với những người Hàn Quốc và Mỹ hiểu biết, ngay cả những người có niềm tin vô bờ bến vào những thiết bị công nghệ mới nhất. Điều vô hình đó chính là tinh thần chiến đấu.
Trong một thời gian dài, tinh thần chiến đấu của người dân miền Bắc vần đứng vững – thậm chí còn vượt qua – tình trạng thiếu lương thực. Tình trạng thiếu lương thực trở thành hiện thực thường nhật trong những năm 1970 và đến đầu những năm 1990 thì đã trở nên trầm trọng hơn.
Tình trạng này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến phần lớn dân số Triều Tiên. Chế độ này đã thổi phồng lòng căm thù của người dân đối với kẻ thù bên ngoài, đổ lỗi cho mọi vấn đề nội bộ – đặc biệt là việc khẩu phần lương thực của người dân bị cắt giảm và không đều đặn – là do Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Người dân thường tin vào lý thuyết đó một cách rộng rãi, theo lời kể của những người đào thoát và người tị nạn. Hầu hết người Triều Tiên không tìm thấy nguyên nhân của tình trạng thiếu lương thực ở giới lãnh đạo cấp cao hay trong hệ thống chính trị-kinh tế-xã hội của đất nước, cả hai đều là những thứ mà họ được dạy phải tôn kính. Thay vào đó, họ đổ lỗi những rắc rối của mình lên mối đe dọa quân sự từ kẻ thù. Họ được cho biết chính vì mối đe dọa đó mà họ phải hy sinh phúc lợi để duy trì năng lực quân sự đáng tin cậy.
Trong nhiều năm, khẩu phần ngũ cốc đã bị cắt giảm trên diện rộng với lý do rằng khoản chênh lệch đó được đưa vào kho dự trữ chiến tranh của quốc gia như một đóng góp yêu nước. Nhưng khi nào thì sự hy sinh và nỗi khổ đau kéo theo mới chấm dứt? Những người đào thoát vào những năm 1990 bắt đầu cho biết phần lớn người dân tin rằng chỉ có chiến tranh mới là có thể chấm dứt bế tắc Bắc-Nam, điều mà họ coi là nguyên nhân gây ra thời kỳ khó khăn. “Người dân Triều Tiên đã phải chịu đựng rất lâu rồi,” Bae In-soo, một tài xế xe tải đào thoát sang Hàn Quốc năm 1996, nói với tôi. “Họ đã đầu tư tất cả mọi thứ” vào việc chuẩn bị cho chiến tranh. Và vì vậy, đối với họ, “chiến tranh là giải pháp duy nhất.”
Đáng lo ngại là, những người có suy nghĩ như vậy bao gồm cả những binh lính trẻ, những người sẽ phải gánh vác phần lớn trách nhiệm chiến đấu và hy sinh nếu chiến tranh nổ ra. Thanh niên đang thực hiện nghĩa vụ quân sự – chiếm phần lớn tuyệt đối trong số họ – không chỉ sẵn sàng mà còn háo hức chiến đấu. Kết hợp với nguồn dự trữ lương thực và nhiên liệu có được nhờ sự hy sinh của người dân và viện trợ nước ngoài, lòng căm thù tập trung như vậy trong quân đội có thể là một lợi thế đáng gờm trong thời chiến – đặc biệt là chống lại thế hệ binh lính Hàn Quốc và Mỹ được nuôi dưỡng trong sự dư dả và tập trung vào tiêu dùng, các hoạt động giải trí và gầy dựng sự nghiệp sau khi giải ngũ hơn là chiến đấu.
Miền Nam và Hoa Kỳ sẽ đối phó như thế nào ngay khi đạn bắt đầu bay và đồng đội bắt đầu ngã xuống? Ahn Young-kil, một cựu đại úy quân đội Triều Tiên, sau khi đào thoát sang Hàn Quốc đã chứng kiến đủ điều để cảnh báo rằng “trong trường hợp chiến tranh kéo dài – bất cứ khi nào trên hai tháng – quân đội Hàn Quốc sẽ không còn tiềm năng tiếp tục và người Mỹ sẽ mất hứng thú. Tâm thế của người Hàn Quốc không mạnh mẽ như người Triều Tiên,” Ahn nói. “Người Hàn Quốc không có ý thức mạnh mẽ về chiến tranh và sự hy sinh cần thiết khi chiến tranh nổ ra.” Mặt khác, người Triều Tiên, do những gì họ được dạy, “tin rằng họ phải nhổ tận gốc vấn để chính.” Vấn đề chính đó là “tình trạng thiếu lương thực và những khó khăn khác trong sinh kế là do các lệnh trừng phạt kinh tế do Mỹ dẫn đầu, và do thực tế là Mỹ và Hàn Quốc đã chuẩn bị cho chiến tranh và buộc Triều Tiên phải chuẩn bị cho chiến tranh.” Họ tin rằng nếu giải quyết được vấn đề đó, “họ sẽ không còn gặp khó khăn kinh tế nữa. Vì vậy, họ quyết tâm gây ra cuộc chiến này.”
Choi Myung-nam, người từng phục vụ trong Lực lượng Đặc nhiệm 124 (đơn vị có các thành viên đã xâm nhập vào Hàn Quốc và cố gắng tấn công Phủ Tổng thống ở Seoul), đưa ra quan điểm tương tự: “Tâm lý và tinh thần rất khác nhau. Ở Hàn Quốc, kỷ luật rất lỏng lẻo. Binh lính chỉ phải phục vụ trong quân đội ba năm. Trong thời gian đó, họ có thể xin nghỉ phép để đi gặp bạn gái.” Ngược lại, Choi cho biết, binh lính Triều Tiên thường mặc quân phục trong thời gian mười năm với những buổi huấn luyện khắc nghiệt và cường độ cao. Trong cuộc sống khổ hạnh của mình, binh lính Triều Tiên “không có cơ hội gặp bạn gái,” Choi nói. Họ liên tục hô vang khẩu hiệu của Kim Il-sung: “Chúng ta không muốn chiến tranh. Nhưng chúng tôi không sợ chiến tranh.” Thực tế, Choi nói, “tất cả đồng đội của tôi đều muốn chiến tranh nổ ra – một phần vì họ muốn phô trương tiềm lực, nhưng cũng một phần vì tình hình kinh tế quá khó khăn nên họ chỉ muốn có sự thay đổi.” Khi còn ở miền Bắc, Choi “nghĩ rằng chúng tôi sẽ thắng. Tôi biết rằng chỉ trong một ngày, chúng tôi sẽ tiến đến tận sông Naktong” ở phía nam Hàn Quốc. Kinh nghiệm của anh ở Hàn Quốc không làm thay đổi đáng kể suy nghĩ của anh về điểm đó. “Đến Hàn Quốc, tôi nhận ra rằng trong một cuộc chiến tay đôi với miền Nam, Triều Tiên sẽ luôn thắng, với điều kiện người Mỹ và những nước khác không can thiệp,” anh nói.
Đúng vậy, người Triều Tiên nhìn sang Hàn Quốc có thể “bỏ qua thực tế rằng chủ nghĩa đa nguyên trong một xã hội dân chủ có tiềm năng rất lớn”, như ông Kim Kyung-woong, một quan chức thuộc Bộ Thống nhất Quốc gia Hàn Quốc, đã nhận xét. “Trong thời kỳ khó khăn, xã hội trở nên gắn kết hơn.” Nhưng xét về triển vọng bùng nổ một cuộc chiến tranh Triều Tiên thứ hai, có lẽ đẫm máu hơn, thì thực tế quan trọng hơn là tinh thần chiến đấu ở Triều Tiên đã lên đến đỉnh điểm đến mức nhà lãnh tụ – Kim Il-sung hoặc con trai ông, Kim Jong-il, chỉ cần ra lệnh, là quần chúng sẽ hăng hái xông pha trận mạc.
Một câu hỏi lớn giữa những năm 1990 là liệu sự chuẩn bị tinh thần cho chiến tranh của miền Bắc đã đạt đỉnh điểm và bắt đầu suy giảm hay chưa. Một số người ở Washington có lý do để nghĩ như vậy. Nghị sĩ Tony Hall phát biểu tại một phiên họp ngày 12 tháng 9 năm 1996, khi nghe kể rằng trong chuyến đi đến Triều Tiên vào tháng 8 năm đó, ông đã thấy những người lính trông suy dinh dưỡng như người dân, gầy gò và má hóp. “Đó có thể là bằng chứng tốt nhất cho thấy phần lớn quân đội Triều Tiên không được ăn nhiều hơn bao nhiều so với dân thường,” Hall nói. Chuẩn đô đốc William Wright, giám đốc phụ trách các vấn đề châu Á thuộc Cục An ninh Quốc tế của Lầu Năm Góc, cho biết tại phiên điều trần tương tự rằng nạn đói có thể dẫn đến sự suy giảm kỷ luật trong quân đội Triều Tiên. “Tinh trạng vô kỷ luật và vi phạm sẽ khởi phát khi họ tiếp tục phải vật lộn để chăm lo cho gia đình và sự sống còn của chính mình,” Wright nói. Sự sa sút như vậy quả thực đã xảy ra. Một số người đào thoát nói với tôi rằng nạn đói và các vấn đề sức khỏe liên quan đang dần trở nên quan ngại hơn là động lực thúc đẩy hiệu quả hoạt động quân sự.
Các nhà sử học thế hệ sau có thể sẽ chỉ ra tháng 8 năm 1995 là đỉnh cao trên biểu đồ tinh thần chiến đấu của Triều Tiên. Ngày 15 tháng 8 năm 1945 là ngày bán đảo Triều Tiên được giải phóng khỏi ách thống trị thuộc địa của Nhật Bản – nhưng lại bị chia cắt thành các vùng do Mỹ và Liên Xô cai trị, sau này trở thành Hàn Quốc và Triều Tiên. Đầu những năm 1990, chế độ Bình Nhưỡng đã nhấn mạnh rất nhiều về sự cần thiết của việc chấm dứt sự chia cắt Triều Tiên kịp thời cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng, ngày 15 tháng 8 năm 1995. Người Triều Tiên tin rằng “nếu sự chia cắt vẫn còn tồn tại vào dịp kỷ niệm 50 năm, nó sẽ tiếp diễn mãi mãi”, Choi Kwang-hyeok, một cựu trung sĩ KPA 25 tuổi đã trốn thoát qua khu phi quân sự sang miền Nam, cho biết. Anh nói rằng người miền Bắc cũng quyết tâm đạt được sự thống nhất như một món quà dành tặng Lãnh tụ Vĩ đại Kim Il-sung khi ông còn sống, như Kim Jong-il đã nhiều lần hứa hẹn. Đến năm 1992, niềm tin phổ biến là tất cả thanh niên khỏe mạnh nên gia nhập quân đội để tham gia cuộc chiến thống nhất đất nước, được kỳ vọng trong lễ kỷ niệm 50 năm, Choi, một sinh viên đại học, cho biết. Trong cơn sốt chiến tranh năm đó, anh đã đưa ra quyết định yêu nước là tình nguyện nhập ngũ. Tình hình lương thực lúc bấy giờ rất nghiêm trọng, ngay cả đối với quân đội, đến nỗi các khóa huấn luyện khắc nghiệt thường lệ phải được giảm bớt, Choi nói. Các buổi huấn luyện tư tưởng nhấn mạnh lòng căm thù kẻ thù chiếm phần lớn thời gian của binh lính. Nhưng rồi Kim Il-sung qua đời vào tháng 7 năm 1994, sau gần nửa thế kỷ trị vì.
Giống như nhiều người khác, Choi Kwang-hyeok đã “suy sụp” trước cái chết của Lãnh tụ Vĩ đại. Anh “bắt đầu nghi ngờ liệu thống nhất đất nước có xảy ra hay không, nghi ngờ toàn bộ chế độ” và tương lai của nó. Khi ngày 15 tháng 8 năm 1995 đến và đi, thống nhất đất nước vẫn chỉ là một giấc mơ, “mọi người bắt đầu nghĩ, ‘Có lẽ chiến tranh sẽ xảy ra – nhưng cũng có thể là không’,” Choi nói.
Giống như một giáo phái tận thế đối mặt với việc thế giới không kết thúc vào ngày đã định, chế độ đã tính toán lại và đẩy lùi ngày đó, nói với người dân: “Chúng ta sẽ thống nhất vào cuối những năm 1990.” Mọi người vẫn tin tưởng, nhưng không triệt để như trước. “Họ vẫn nghĩ chiến tranh có thể nổ ra, nhưng động lực và tinh thần không còn cao như trước nữa,” Choi nói. “Ngay cả các huấn luyện viên quân sự cũng phàn nàn, ‘Với tinh thần như thế này, làm sao chúng ta có thể thắng được cuộc chiến?'”
Ahn Young-kil đã nêu ra “hai yếu tố cần thiết để giữ vững tinh thần: Cung cấp thức ăn đầy đủ cho binh lính và cho họ hy vọng.” Trên thực tế, công thức đó là ưu tiên hàng đầu của Kim Jong-il. Trong một bài phát biểu gần cuối năm 1996, Kim đã đánh giá cao phần thứ hai cho bản thân và các chính ủy lực lượng vũ trang. Ông nói: “Tôi hài lòng rằng binh lính của chúng ta có tinh thần lý tưởng để trở thành súng đạn bảo vệ giới lãnh đạo cách mạng trong cuộc chiến sinh tử.” Vấn đề ông nhận thấy là sự chênh lệch quá lớn giữa tinh thần binh sĩ và nhân dân. Bài phát biểu được đưa ra nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Đại học Kim Il-sung, và hôm đó Kim đã xem một buổi biểu diễn nghệ thuật của trường. Ông nhận xét rằng các nghệ sĩ biểu diễn “thiếu tinh thần.” Ngược lại, “màn trình diễn mà tôi xem cách đây vài ngày của đơn vị tuyên truyền lưu động thuộc Quân đội Nhân dân rất mạnh mẽ và đầy sức sống.”
Về những vấn đề tinh thần trong đời sống dân sự và sự thất bại của nền kinh tế trong việc cung cấp đủ lương thực, đặc biệt là cho binh lính, Kim đổ lỗi cho các quan chức đảng lười biếng và quan liêu. Ông than thở: “Tôi đã hỗ trợ công việc của Lãnh tụ Vĩ đại từ năm 1960, nhưng không có đảng viên nào có thể hỗ trợ tôi một cách đúng đắn. Tôi đang làm việc một mình.” Mặc dù quân đội là ưu tiên hàng đầu của ông, ông cũng chú ý đến nỗi khổ của người dân. “Khi tôi đến thăm nhà máy thép Chollima, tôi thấy rất nhiều người trên đường tìm kiếm thức ăn, và ở những khu vực khác, đường sá, tàu hỏa và nhà ga cũng chật kín người như vậy, theo như tôi được biết. Ở nhiều vùng, những sự việc đau lòng này đang xảy ra, nhưng tất cả các đảng viên chỉ ở nhà học hành để tham dự các cuộc họp và bài giảng. Làm sao chúng ta có thể vượt qua khó khăn với thái độ như vậy?”
Kim đổ lỗi cho cấp dưới về việc “người dân buộc phải lang thang vô định tìm kiếm gạo” trong cái mà ông gọi là “cuộc hành quân gian khổ”. Các quan chức đảng, “những người không biết sử dụng đầu óc để giải quyết vấn đề, chỉ biết ngồi ở bàn làm việc than phiền và học thuộc lòng các từ ngữ, mới là người có lỗi, ông khẳng định. “Tôi không thể giải quyết tất cả các vấn đề vì tôi còn phải kiểm soát các lĩnh vực quan trọng như quân đội và đảng. Nếu tôi chỉ tập trung vào kinh tế, cách mạng sẽ bị tổn hại không thể khắc phục. Lãnh tụ vĩ đại khi còn sống đã dặn tôi không được tham gia vào các dự án kinh tế, chỉ nên tập trung vào quân đội và đảng, để kinh tế cho các cán bộ đảng lo. Nếu tôi can thiệp vào kinh tế, thì tôi không thể điều hành đảng và quân đội một cách hiệu quả.”
Kêu gọi các quan chức đảng thực hiện “các biện pháp đảm bảo nguồn cung gạo cho quân đội”, Kim nói với họ rằng chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở nhiều nước vì “đảng đã thay đổi và không còn kiểm soát được quân đội nữa”. (Ông ta có thể đang nhắc lại việc một số thành phần trong quân đội Romania đã hành quyết vợ chồng Ceaucescu.) Kẻ thù, “thấy những khó khăn tạm thời của chúng ta, đang la hét rằng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đã sụp đổ và đang tìm kiếm cơ hội để xâm lược. Nếu đế quốc Mỹ biết rằng chúng ta không có gạo cho quân đội, họ sẽ lập tức xâm lược chúng ta.”
Theo ông Kim, giải pháp là giáo dục chính trị cho người dân, đặc biệt là nông dân, để họ dành nhiều lương thực hơn cho binh lính. Nhưng các quan chức lại đang thực hiện điều đó sai cách. Thay vì rời khỏi bàn làm việc để trực tiếp kêu gọi người dân, họ lại dựa vào báo chí và truyền thông – điều mà người dân khó có thể tiếp cận được do tình trạng thiếu năng lượng. “Hiện nay, nông dân và thợ mỏ đang tích trữ lương thực ở mọi cơ hội” để bán ra thị trường chợ đen, ông Kim nói. Các đảng viên phải thuyết giáo cho họ: “’Ai sẽ cung cấp lương thực cho con trai và cháu trai của các ông bà đang phục vụ trong quân đội? Nếu chúng tôi không thể cung cấp gạo cho họ, thì khi quân Mỹ xâm lược, chúng tôi không thể đánh bại chúng và con trai, con gái của các ông bà sẽ lại trở thành nô lệ của đế quốc.’ Chính logic này phải được sử dụng để thuyết phục bọn giấu giếm và đầu cơ lương thực, để họ lấy lại lương tâm.”
Trên thực tế, lương thực trở nên khan hiếm đến nỗi nhiều binh lính phải ăn cắp từ dân thường, thậm chí đào ngũ khỏi quân đội. “Thể chất của họ giờ rất yếu ớt, rất suy nhược,” một cựu binh cho biết.
Đại úy Ahn Young-kil nói với tôi: “Vì vậy, tinh thần của họ cũng suy yếu.” Trong khi đó, các binh sĩ đang mất dần hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp sau khi xuất ngũ, Ahn cho biết. “Họ rất chán nản vì khi về nhà nghỉ phép, họ thấy cha mẹ mình không được ăn uống đầy đủ. Họ không còn thấy hy vọng gì.” Trong trường hợp chiến tranh xảy ra, Ahn dự đoán, “đa số sẽ không bỏ chạy. Nhưng sức mạnh và tinh thần chiến đấu của họ sẽ không còn như trước đây khi họ được ăn uống đầy đủ.”
Choi Myung-nam, một cựu chiến binh thuộc lực lượng đặc nhiệm, cho biết nạn trộm cắp và tham ô đã xảy ra. Tình trạng này gia tăng mạnh trong quân đội, bắt đầu từ những năm 1990, khi binh lính bắt đầu từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa và chấp nhận quan điểm “có thực mới vực được đạo”. Ngày càng nhiều người tập trung vào các phương tiện – hầu hết đều bất hợp pháp – để tích lũy tiền bạc và vật chất mà họ tin rằng mình sẽ cần nếu muốn kết hôn và sống khá giả sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Choi cho biết. Họ thường bàn tán về những món đồ – đài phát, quần áo thời trang – mà họ hy vọng sẽ mua được khi trở về cuộc sống dân sự. Điều đó không có nghĩa là họ đã bắt đầu sợ chiến tranh, anh cảnh báo. Họ vẫn tiếp tục nghĩ “được chết như một người tử vì đạo trong chiến tranh là một vinh dự.”
Cựu trung sĩ Choi Kwang-hyeok cho biết tình hình thay đổi đã gây ra tổn thất lớn đến mức “xét về sức mạnh từng người, tôi không nghĩ Triều Tiên có thể sánh được với Hàn Quốc”. Điều đó không có nghĩa là Triều Tiên không thể tận dụng những lợi thế khác nếu đưa ra quyết định định mệnh là chiến tranh. Ví dụ, quân số của họ vẫn lớn hơn nhiều so với Hàn Quốc, vì vậy việc so sánh sức mạnh từng người không còn phù hợp. Và khả năng gây ra thiệt hại to lớn của họ cũng vậy.
Việc trừng phạt miền Nam bằng pháo binh vẫn tiếp diễn. “Vũ khí chính của miền Bắc là pháo binh,” một chuyên gia tình báo ở miền Nam cho biết. “Không cần nhiều luyện tập và thể lực để bắn loại đạn đó.”
Về vấn đề nguồn cung cấp, nếu các nước bên ngoài để Triều Tiên tự mình gánh chịu hậu quả của trận lũ lụt thảm khốc năm 1995, theo Ahn, năm 1996 “sẽ là thời điểm nguy kịch nhất”. Còn về khả năng tiến hành chiến tranh của họ, thì các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên hẳn đã phải kết luận rằng đó là trường hợp “sử dụng nó hoặc mất nó”. Nếu không có viện trợ, đến năm 1997, “Triều Tiên sẽ không thể duy trì được hệ thống hỗ trợ để tiến hành chiến tranh”, Ahn nhận định. Nhưng Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác đã viện trợ cho Triều Tiên bằng cách vận chuyển lương thực. Ahn chỉ trích viện trợ đó là sự nhượng bộ và phàn nàn rằng nó “chỉ làm cho Triều Tiên tự tin hơn”.
Không hiểu dân Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản có thể an tâm đến mức nào trước những bằng chứng về sự sút giảm tinh thần quân đội Triều Tiên. Thậm chí khi khả năng tác chiến suy giảm đến mức cuộc tấn công không còn là quyết định cuối cùng hợp lý nữa, giới lãnh đạo cấp cao có thể không nhận ra điều đó vì đám thuộc hạ tai tiếng của họ rất ngại báo cáo tin xấu cho cấp trên. Trong bài phát biểu tháng 12 năm 1996, Kim Jong-il khẳng định rằng các chỉ huy quân sự biết họ không thể lừa ông ta vì ông ta có thói quen “thăm viếng họ bất ngờ”. Do đó, trong Quân đội Nhân dân, các chỉ huy luôn trong tư thế sẵn sàng để gặp tổng tư lệnh tối cao, vị thế họ luôn trong tình trạng cảnh giác cao độ, giữ doanh trại sạch sẽ và cố gắng cải thiện điều kiện sống của binh lính trong khi luôn sẵn sàng chiến đấu.” Nhưng ông thừa nhận rằng các quan chức đảng dân sự hay tìm cách lừa dối người cha quá cố của mình. Có lần khi Lãnh tụ Vĩ đại đến thăm Hamhung, “một số đảng viên đã chở hàng hóa bằng tàu hỏa đến để bổ sung vào các kho hàng trong thành phố. Đây là kiểu mưu mẹo điển hình nhằm lừa dối người lãnh đạo, vì vậy tôi đã ra lệnh trừng phạt họ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều đảng viên làm điều này.”
Ngoài khả năng ảo tưởng, còn có lựa chọn phi lý của kẻ thua cuộc, được cho là do Kim Jong-il nêu ra trong cuộc gặp với cha mình và các lãnh đạo quân sự cấp cao: “phá hủy thế giới”. Tóm lại: Không thể loại trừ khả năng xảy ra xung đột trên bán đảo Triều Tiên, như các cuộc phỏng vấn với các cựu quân nhân (được trình bày theo thứ tự thời điểm đào thoát, từ sớm đến muộn) đã góp phần thuyết phục tôi.
Khi tôi phỏng vấn Kim Nam-joon 5 năm sau khi anh đào thoát năm 1989, cựu trung úy quân đội này đang là sinh viên đại học ở Seoul nhưng anh vẫn trông như một quân nhân – với chiếc quai hàm nổi bật và kiểu tóc mà người Mỹ gọi là “whitewall”, gần như cắt sát da đầu gần tai nhưng dài hơn ở trên đỉnh đầu. Kim nói với tôi rằng ngoài vấn đề lương thực (mà anh ấy đã mô tả trong chương 21), lính tráng còn phải chịu cảnh thiếu quần áo và giày dép. “Tôi được cấp một bộ đồng phục mùa hè mới mỗi năm và một bộ đồng phục mùa đông mới cứ hai năm một lần – không đủ, nếu xét đến tất cả các khóa huấn luyện. Mỗi tuần một lần chúng tôi phải đi bộ 40 km [25 dặm] trong một ngày. Tôi chỉ có một đôi giày để đi trong mùa đông. Như vậy là không đủ. Bạn sẽ đổ mồ hôi, và bạn phải tự giặt và phơi khô giày. Vấn đề là, không có cách nào để mua chúng. Những người lính tinh ranh hơn sẽ ăn cắp giày của người khác. Việc huấn luyện quá nặng nề đến nỗi tôi thậm chí còn nghĩ đến việc tự tử. Đến khi người lính hoàn thành nghĩa vụ quân sự mười năm và được xuất ngũ trở về xã hội dân sự, đầu óc họ đã chết. Tất cả những gì họ nghĩ đến chỉ là bắn súng.”
Kim, một sĩ quan, đã kết bạn và sau đó đào ngũ cùng với một hạ sĩ quan. Trong quân đội của một số quốc gia khác, hành động đó sẽ vi phạm quy tắc giao lưu thân mật giữa các sĩ quan. “Trong xã hội cộng sản, chúng tôi không coi trọng cấp bậc lắm,” anh giải thích khi tôi hỏi anh về điều đó. “Chúng tôi tin vào sự bình đẳng. Chúng tôi không xưng hô với nhau bằng từ ngữ kính trọng hay nói năng khiêm nhường dựa trên cấp bậc hoặc tuổi tác. Chúng tôi không gọi những người quân nhân cấp cao hơn hoặc lớn tuổi hơn là songaeng-nim [trưởng lão đáng kính, thầy]. Tôi chỉ huy một trung đội gồm 30 người. Kim Kwang-choon là cấp phó của tôi. Chúng tôi phải thân thiết với nhau. Chúng tôi trở nên rất thân thiết với nhau, bất kể cấp bậc. Đó là nền tảng của mối quan hệ. Kim thường đến nhà tôi.”
Hỏi: Hãy cho tôi biết về tinh thần của quân đội. Nếu nhận được lệnh ra trận, binh lính sẽ cảm thấy thế nào?
Đáp: Trong giai đoạn đầu, 90% binh lính sẽ làm theo lệnh – ví dụ như xâm lược Hàn Quốc. Họ thiếu hiểu biết, chưa phân biệt được đúng sai. Kim Il-sung và Kim Jong-il có thể biết rằng xâm lược là điều xấu xa, nhưng binh lính thì không. Họ chỉ làm nhiệm vụ của mình. Những sĩ quan tốt nghiệp học viện quân sự như tôi có thể có một vài nghi ngờ, nhưng họ thiếu can đảm để tò mò tìm hiểu. Ngay cả khi họ có tivi để xem cũng không tận dụng cơ hội để xem truyền hình Hàn Quốc. Các binh sĩ thực sự tin rằng việc xâm lược Hàn Quốc là nhằm mục đích đánh đuổi đế quốc Mỹ.
Tuy nhiên, ở giai đoạn thứ hai, nếu binh lính tiến vào Hàn Quốc, họ sẽ thấy những thành phố đầy người ăn mặc chỉnh tề, ăn uống đầy đủ. Họ sẽ hiểu được thực tế ở Triều Tiên. Nếu tôi đến Triều Tiên mà mặc đồ như thế này [bộ vest màu than chì lịch lãm, đồng hồ vàng, áo sơ mi trắng cứng cáp với cổ tay áo kiểu Pháp, cà vạt], ai cũng sẽ ngất xỉu. Khi nhìn thấy người Hàn Quốc đi lại, tôi vẫn cảm thấy họ thật may mắn. Ngay cả những con chó tôi thấy ở Triều Tiên cũng không hề được làm thú cưng – chúng sẽ bị ăn thịt hết. Khi lính Triều Tiên nhìn thấy tất cả những điều này, họ sẽ nhận thức được điều đó, nhưng các sĩ quan của họ đã được dạy dỗ đón nhận điều đó. Họ huấn luyện các sĩ quan Triều Tiên để chuẩn bị cho chính tình huống này: ‘Khi tất cả mọi người chết mà vẫn đeo đồng hồ, binh lính Triều Tiên sẽ chạy đến hôi của. Bạn phải dạy họ không được làm vậy.’ Họ đã huấn luyện điều đó cho các sĩ quan ở Triều Tiên rồi. Bản thân tôi cũng từng được huấn luyện như vậy.
Sự hỗn loạn về tư tưởng cuối cùng sẽ dẫn đến chiến thắng cho phía Hàn Quốc. Không thể nào kiểm soát được bọn cướp bóc Bắc Triều Tiên. Lính Bắc Triều Tiên trước hết là lính, sau đó mới là con người. Nhưng khi họ đến Hàn Quốc và chứng kiến tất cả những lợi thế của hệ thống kinh tế thị trường tự do, họ sẽ đặt con người lên hàng đầu và lính chỉ là thứ yếu. Triều Tiên có câu tục ngữ, ‘Bị đói ba ngày, vui cũng ra ngoài ăn trộm.’ Dù bị tẩy não, con người vẫn là con người.”
Hỏi: Còn về quan hệ giữa các binh lính thì sao?
Đáp: “Mỗi đại đội 120 người có một chỉ huy, là đại úy, cộng thêm một chính ủy tiểu đoàn. Dạo này họ như chó với mèo vậy. Nếu chiến tranh nổ ra, họ có quyền nổ súng và sẽ bắn lẫn nhau. Họ rất ghét nhau, mỗi người đều có quyền lực riêng. Có khả năng rất cao là Triều Tiên sẽ xâm lược Hàn Quốc, nhưng người Hàn Quốc sẽ thắng vì tất cả những lý do này.
Nhân tiện, tôi nghe nói có một đường hầm xuyên suốt đến Seoul, gần sân bay Kimpo. Tôi đã báo cho chính quyền Hàn Quốc và họ đang cố gắng tìm kiếm nó. Đường hầm đó được xây dựng để tận dụng lợi thế của việc hầu hết lực lượng quân sự Hàn Quốc đóng quân gần khu phi quân sự (DMZ) và hầu như không có gì ở phía nam Seoul. Vì vậy, họ có thể dễ dàng đi qua đường hầm, luồn dưới chân lực lượng phòng thủ Hàn Quốc, và tiến về phía nam. Bằng cách vượt qua lực lượng phòng thủ, họ có thể chiếm đóng phần lớn Hàn Quốc. Ba ngày trước, họ đã bắt đầu đào đường hầm. Đường hầm có thể sâu vài trăm mét.
Hỏi: Triều Tiên duy trì những loại dự trữ lương thực và dầu mỏ nào để sử dụng trong thời chiến?
Đáp: Chúng tôi được dạy rằng chúng tôi có đủ lương thực và xăng dầu dự trữ cho ba năm. Nhưng tôi đoán là chẳng còn lại bao nhiêu. Tình hình thật đáng thương. Ngay cả khi tôi còn ở đó, họ cũng phải lấy gạo từ kho dự trữ thời chiến.
Giờ tình hình còn tồi tệ hơn nhiều, nên rất có thể họ đang sử dụng nguồn dự trữ dầu mỏ. Có những đại tá lái xe tải đi thị sát các tuyến DMZ. Khi không đủ nhiên liệu, họ phải đi bộ, có lẽ khoảng hai mươi dặm, để quay lại trại.
Hỏi: Điều gì sẽ xảy ra sau khi Kim Il-sung qua đời?
Đáp: Tôi không tin vào một cuộc đảo chính quân sự. Quân đội sẽ không có nhiều quyền lực đến thế. Nhưng bên trong bộ máy trung ương của đảng, không phải tất cả đều là người nhà của Kim Il-sung. Còn có các thành viên trong gia đình [Thống soái] O Jin-u và các gia đình cách mạng thế hệ đầu tiên khác. Họ sẽ là những người lãnh đạo trong bất kỳ cuộc đảo chính nào.”
Hỏi: Cấp trên của anh nghĩ gì về Kim Jong-il và những mệnh lệnh của ông ta?
Đáp: Họ tuân theo mệnh lệnh vì họ không dám làm khác. Nhưng họ ghét phải tuân theo ông ta. Về tính cách, ông ta là một người rất độc đoán. Hãy nhìn Đập Biển Tây (Con đập dài 8km, cách thành phố Nampho ở miền Bắc khoảng 15km về phía Tây). Một kỹ sư Liên Xô đến và nói rằng sẽ mất 20 năm để xây dựng. Kim Jong-il ra lệnh hoàn tất trong 5 năm. Họ đã làm được trong 6 năm. Có lẽ tất cả 20 triệu công dân đều tham gia. Kim Il-sung đã trải qua rất nhiều gian khổ để đạt được vị thế hiện tại. Nhưng hầu hết mọi người cảm thấy chỉ là con trai của Kim Il-sung thôi thì chưa đủ để Kim Jong-il có được vị thế đó.
Hỏi: Lính thường phục vụ trong khoảng mười năm. Suốt thời gian đó họ có phải nhịn quan hệ tình dục không?
Đáp: Mặc dù không được phép, một số người tưởng tượng và thủ dâm. Những người khác thì đến các làng gần đó cưỡng hiếp phụ nữ, hoặc dụ dỗ họ bằng những lời hứa hôn nhân. Các sĩ quan tốt nghiệp học viện quân sự được phép kết hôn và đưa vợ đến doanh trại. Tôi đã kết hôn. Tôi chưa bao giờ nghe đến từ ‘đồng tính luyến ái’ cho đến khi đến Hàn Quốc, nhưng tôi đã thấy rất nhiều tình huống đó trong quân đội. Những cựu binh thường bám lấy các tân binh mười bảy tuổi. Nó không giống như đồng tính luyến ái ở phương Tây. Chỉ là ở đây không có phụ nữ. Trong chỗ ngủ, đàn ông nằm ngay ngắn trên giường tầng. Một chàng trai trẻ với làn da mềm mại có thể trông giống như một phụ nữ. Khoảng nửa số binh lính đã tham gia vào những trò kiểu đó.”
Hỏi: Anh có nhận thấy sự thay đổi nào trong quân đội do ảnh hưởng văn hóa của người nước ngoài tại Liên hoan Thanh niên năm 1989 không?
Đáp: Không. Trong quân đội, bạn không thể thỏa mãn những mong muốn về văn hóa của mình. Không có sự thay đổi lớn đến vậy. Từ góc nhìn của người nước ngoài, nó có vẻ lớn hơn. Chính phủ bắt người dân mặc quần áo sặc sỡ, và đưa vào các vũ trường và nhạc disco. Một người nước ngoài có thể tưởng tượng xã hội Triều Tiên đã cởi mở hơn, nhưng chính sách của chính phủ trên thực tế lại trở nên cứng nhắc hơn qua từng năm về mặt kiềm chế hành vi. Kim Jong-il có một khẩu hiệu về sự cởi mở: “Nếu muốn cởi mở, hãy mở cửa. Nhưng ruồi và muỗi có thể bay vào. Vì vậy, chúng ta phải có màn chống muỗi.” Trên thực tế, chúng tôi phải trở nên gắn kết chặt chẽ hơn trước, thay vì cởi mở hơn.”
Hỏi: Anh nghĩ gì về Đài Phát thanh Châu Á Tự do?
Đáp: Đó là một ý tưởng rất hay. Tôi đặt nhiều kỳ vọng vào vai trò của Mỹ trong việc mở cửa Triều Tiên. Hàn Quốc có những hạn chế trong việc giải quyết vấn đề đó. Hoa Kỳ nên nỗ lực hết sức để gõ cửa và buộc Triều Tiên phải mở cửa.”
Hỏi: Còn về khả năng tiếp cận sóng radio thì sao?
Đáp: Hầu hết mọi người không có đài. Nếu mọi người có thể nghe được loại chương trình phát thanh này thì chế độ đã sụp đổ từ nhiều năm trước rồi. Những người có thể nghe được là giới có quyền lực – những người trong ủy ban trung ương đảng.”
Kim Kwang-choon, một thượng sĩ ở tuyến đầu đã đào thoát vào năm 1989 với Kim Nam-joon bằng cách bơi qua sông Imjin. Tôi đã gặp anh ấy vào năm 1994. Anh là một người đàn ông 29 tuổi điển trai, mắt sáng. Anh ấy khá thấp. Nếu không biết anh ấy là người Triều Tiên, tôi đã cho rằng anh ấy đến từ Đông Nam Á, có lẽ là Thái Lan.
Là người gốc Pyongsong thuộc tỉnh Nam Pyongan, Kim đã được điều động tám năm làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho thành phố Kaesong, ngay phía bắc biên giới. “Trong thời gian làm việc gần Bàn Môn Điếm ( Panmunjom), tôi đã có cơ hội tìm hiểu về Seoul và Hàn Quốc,” anh ấy kể với tôi. “Khi bạn lần đầu tiên đặt chân đến bạn không biết về quân đội, nhưng nếu bạn làm việc bốn hoặc năm năm quanh khu phi quân sự (DMZ), bạn sẽ nhận ra những gì đang xảy ra. Có một bầu không khí chiến tranh. Cả hai bên đều rải truyền đơn và phát sóng tuyên truyền. Hàn Quốc tặng đồng hồ và tất, và văn học Hàn Quốc bao gồm các bài báo từ Donga Ilbo và Chosun Ilbo. Đồng hồ là đồng hồ điện tử. Bây giờ tôi ở miền Nam, tôi thấy chúng ở khắp mọi nơi. Chúng cũng khá rẻ. Người Hàn Quốc thường thả những quả bóng bay chứa đầy những quà tặng đó vào ban đêm. Chúng được tính toán là sẽ phát nổ sau hai giờ – thường là quanh Kaesong. Vì vậy, tôi sẽ đến thu gom chúng và giao nộp cho Cơ quan An ninh Nhà nước, nhưng trong lúc lấy hàng, tôi thường lén đọc các tờ báo.”
Hỏi: Tôi nhận thấy hầu hết những người đào thoát mà tôi đã phỏng vấn cho đến nay, kể cả anh, đều đeo một chiếc đồng hồ vàng sang trọng.
Đáp: Khi tôi đến miền Nam, tôi đã mua một chiếc đồng hồ Seiko mạ vàng. Ở Triều Tiên, vàng rất hiếm, vì vậy người đào thoát nào cũng muốn có một chiếc đồng hồ vàng. Một nhân viên nhà nước sẽ đưa chúng tôi đến một cửa hàng đồng hồ và nói, ‘Hãy chọn chiếc mà các bạn muốn.’ Sau đó chính phủ sẽ trả tiền.”
Hỏi: Anh có thể đọc được báo Dong-A Ilbo and Chosun Ilbo dù hệ thống giáo dục Triều Tiên không dạy chữ Hán phải không?
Đáp: Đây là một phần của chiến tranh tâm lý. Bộ Quốc phòng ở Seoul thay thế chữ hanja [chữ Hán, được hầu hết các nhà xuất bản Hàn Quốc sử dụng cho nhiều từ vay mượn] và in lại toàn bộ bài báo bằng chữ hangul [bảng chữ cái Triều Tiên bản địa, miền Nam sử dụng kết hợp chữ hangul với chữ hanja, nhưng ở miền Bắc Kim Il-sung chỉ cho sử dụng độc quyền chữ hangul như một sự khẳng định chủ nghĩa dân tộc ngôn ngữ]. Đôi khi họ để nguyên chữ Hán, nhưng chúng tôi có thể thử đoán nghĩa.
Khi còn là sĩ quan cấp thấp, tôi không được phép xem những tài liệu đó. Tôi phải giao nộp chúng. Thực ra, tôi thậm chí không muốn đọc chúng. Nhưng sau này, bắt đầu từ khoảng năm 1986 khi được thăng cấp, tôi đã có thể lén lút đọc chúng trong rừng. Tôi thực sự không nắm bắt được tình hình chính trị Hàn Quốc, nhưng tôi cũng đọc các bài báo về ngoại giao và thế giới bên ngoài. Tôi bắt đầu quan tâm đến các bài báo về biểu tình và tội phạm ở Hàn Quốc. Tôi rất ngạc nhiên vì ở Triều Tiên, bạn không thể nào mơ đến việc có một cuộc biểu tình hay bạo loạn. Tôi kinh ngạc khi người dân có thể lên tiếng, thậm chí chỉ trích người đứng đầu nhà nước. Tôi đã đọc rất nhiều bài báo về vấn đề đó. Tôi rất ngạc nhiên và nghĩ, ‘Chắc hẳn ở Hàn Quốc có rất nhiều tự do nên họ mới có thể tổ chức những cuộc biểu tình như vậy.’
Hỏi: Tại sao anh lại quan tâm đến những câu chuyện tội phạm?
Đáp: Ở Triều Tiên, họ không đăng những chuyện xấu đó lên báo. Lúc đầu tôi nghĩ Hàn Quốc chắc hẳn đang trong tình trạng hỗn loạn. Chắc ai cũng là tội phạm. Cuối cùng, tôi bắt đầu nghĩ rằng người Hàn Quốc chắc hẳn có nhiều thời gian để trộm cắp và những việc tương tự. Nó hắn phải là một xã hội theo chủ nghĩa cá nhân.”
Hỏi: Làm sao anh lại có những suy nghĩ như vậy, khi đã lớn lên ở Triều Tiên?
Đáp: [Rõ ràng là anh ta không hiểu câu hỏi.] Đến tận bây giờ tôi vẫn không biết mình đã đào thoát như thế nào. Nhưng thành thật mà nói, chính sự thiếu thốn vật chất ở Triều Tiên đã khiến tôi đào thoát. Sự khác biệt lớn nhất giữa Hàn Quốc và Triều Tiên là nền kinh tế Triều Tiên dựa trên chế độ phân phối. Tôi nhận ra rằng Hàn Quốc là một xã hội thị trường tự do, nơi mọi người có thể đến chợ và mua những gì họ muốn.
Hỏi: Anh có từng đói không?
Đáp: Làm lính ở Triều Tiên tốt hơn nhiều so với làm công dân bình thường. Tôi được phát 800 gram gạo mỗi ngày. Nhưng với tất cả những buổi huấn luyện khắc nghiệt, ngay cả 800 gram cũng không đủ. Qua đọc tài liệu của Hàn Quốc, tôi biết rằng binh lính Hàn Quốc được phát khẩu phần ăn và còn được ăn thêm đồ ăn nhẹ. Điều này hoàn toàn không thể tưởng tượng được ở Triều Tiên. Chúng tôi chỉ được ăn đồ ăn nhẹ vào những ngày lễ, khi quân đội được nhiều hơn dân thường. Thỉnh thoảng, khi phải làm ca đêm, từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng, tôi mới được khoảng 500 gram kẹo. Người ngoài không bao giờ thực sự hiểu được xã hội Triều Tiên. Tôi rất kinh ngạc vì khi gặp người trẻ ở Hàn Quốc, tôi nói với họ rằng tôi từng rất đói và họ hỏi, ‘Tại sao anh lại phải chịu đói?’ Tôi trả lời, ‘Nếu không sống ở đó thì bạn không thể hiểu được.’
Hỏi: Tại sao anh lại ở lại trong quân đội?
Đáp: Dĩ nhiên khi còn trẻ, bạn sẽ quyết tâm gia nhập quân đội vì sau khi hoàn thành nghĩa vụ, bạn sẽ trở thành đảng viên. Thường thì nghĩa vụ kéo dài từ bảy đến mười năm. Bạn sẽ phục vụ cho đến khi hai mươi bảy tuổi. Hầu hết mọi người nhập ngũ năm mười bảy tuổi, nên họ dành mười năm trong quân đội. Nhưng một số người đã làm việc trong các nhà máy sau khi tốt nghiệp trung học nên có thể chỉ có khoảng bảy năm nhập ngũ trước khi bước sang tuổi 27. Ở Hàn Quốc, để trở thành sĩ quan, bạn phải vào Học viện Quân sự Hàn Quốc ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Tuy nhiên, ở Triều Tiên, các tân binh vào Học viện Quân sự Kankon được chọn từ những binh lính có ba hoặc bốn năm phục vụ. Tôi không vào học viện quân sự. Thay vào đó, sau ba năm, tôi tham gia một chương trình đào tạo sĩ quan trừ bị.
Hỏi: Bình lính có thảo luận về những lời phàn nàn như anh đã đề cập không?
Đáp: Vâng. Chúng tôi thường ngồi lại và tâm sự về những điều mình không như ý. Tất nhiên, bạn sẽ ngần ngại khi nói chuyện với bất kỳ ai. Tôi chỉ tâm sự với một vài người bạn rất thân.”
Hỏi: Họ có muốn đào thoát không?
Đáp: Họ phải cân nhắc đến gia đình của mình. Trong trường hợp của tôi, bố mẹ tôi đã qua đời khi tôi đang phục vụ trong quân đội. Tôi là con út trong gia đình có sáu anh chị em. Tôi nghĩ, ‘Tại sao chính phủ lại phải làm phiền anh chị em của tôi?’
Hỏi: Anh có nhìn thấy binh lính Hàn Quốc ở bên kia biên giới không, và anh có nhận thấy điều gì bất thường không? Điểm khác biệt giữa họ và người Triều Tiên là gì?
Đáp: Tôi không có cách nào biết được lối sống của họ. Tôi chỉ biết chúng tôi có chung dòng máu.”
Hỏi: Họ cao hơn hay mập hơn?
Đáp: Tôi không nghĩ nhiều về điều đó vì những binh lính Triều Tiên được gửi đến Panmunjom đều là những người cao lớn, xuất thân từ gia đình khá giả. Vì vậy, tôi nghĩ có lẽ người Hàn Quốc cũng có chính sách tương tự.
Hỏi: Hãy kể cho tôi nghe về gia đình và thời thơ ấu của anh.
Đáp: Gia đình tôi sống ở Cáp Nhĩ Tân [ở Đông Bắc Trung Quốc]. Chúng tôi rời khỏi đó khi tôi hai tuổi – đó là thời điểm Cách mạng Văn hóa Trung Quốc bùng phát, chúng tôi không thể sống ở đó nữa.
Khi tôi hai, ba tuổi, tôi đi nhà trẻ mỗi ngày trong khi bố mẹ tôi đi làm. Từ bốn đến sáu tuổi, tôi đi học mẫu giáo lúc bảy giờ sáng và về nhà lúc sáu giờ chiều. Vì bố mẹ tôi đi làm nên có những lúc tôi thường về nhà sớm và thấy không có ai ở đó. Tôi chỉ chơi một mình. Tôi không nhận được nhiều tình yêu thương từ cha mẹ và cũng không có nhiều thời gian ở bên họ. Cha tôi là tài xế. Mẹ tôi làm nghề may vá trong một nhóm hợp tác xã ở khu phố. Vì được giáo dục, tôi cảm thấy biết ơn Kim Il-sung hơn là cha mẹ mình. Tôi tin rằng Kim Il-sung là một Vị Cứu tinh đã chu cấp cho tôi cả học vấn và thức ăn. Tôi đã cố gắng hết sức để trung thành với Kim Il-sung.”
Hỏi: Khi lên kế hoạch đào thoát, anh có cảm thấy tội lỗi gì đối với Kim Il-sung không?
Đáp: Tôi nghĩ Kim Il-sung về cơ bản là một người tốt. Ông ấy không đáng bị đổ lỗi. Tất cả việc tẩy não đều do các quan chức cấp cao thực hiện chỉ để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ tạo ra hệ tư tưởng này để đặc quyền của họ được duy trì. Kim Il-sung đã gây ra nhiều điều tồi tệ cho người dân. Nhưng không nên đổ lỗi cho ông ta. Chính những thuộc hạ ông ta đã cùng ông ta làm điều đó. Các quan chức cấp cao đã biến Kim Il-sung thành thần tượng để họ có thể sống cuộc sống xa hoa và giữ vững đặc quyền của mình. Tôi hiểu ông ta muốn thiết lập chế độ độc tài vĩnh viễn, nhưng đó cũng là ý muốn của những người theo ông ta. Không thể chỉ đổ lỗi cho Kim Il-sung. Chính những người dưới quyền ông ta đã đẩy người dân vào tình cảnh này – những người như cựu Thủ tướng Yon Hyon-muk và Thủ tướng hiện tại Kang Song-san.”
Hỏi: Còn Kim Jong-il thì sao?
Đáp: Tôi hoàn toàn không thích ông ta. Tôi có rất nhiều lời phàn nàn về Kim Jong-il. Ông ta chưa từng trải qua chiến tranh, chưa từng biết đến gian khổ. Ông ta kiêu ngạo, thích phô trương hoạt động và quyền lực của mình. Nhưng ông ta có được quyền lực là nhờ cha mình. Kim Jong-il muốn đứng đầu quân đội. Điều này làm nhiều người bất bình Kim Il-sung. Kim Il-sung đưa Kim Jong-il lên làm người đứng đầu quân đội trong khi có rất nhiều người tài giỏi hơn, chỉ để duy trì chế độ độc tài. Kim Jong-il chưa từng phục vụ trong quân đội.
Kim Jong-il có mái tóc xoăn. Người ta gọi ông ta là ‘Tóc xoăn’. Họ nói ông ta tàn bạo đến nỗi, khi ông ta ngồi xuống đất rồi đứng dậy, cỏ ở đó sẽ không mọc được nữa. Ngày và đêm của Kim Jong-il đảo ngược. Ông ta ngủ ngày, làm việc ban đêm. Ông ta gọi điện cho mọi người vào những giờ giấc bất thường – điều đó gây ra nhiều lời phàn nàn. Tôi thừa nhận ông ta là một thiên tài nghệ thuật, nhưng ông ta đang sống một cuộc đời tội lỗi và bẩn thỉu. Ông ta mê mẩn phụ nữ quá mức. Ai mà chẳng thích phụ nữ? Nhưng ông ta nổi tiếng vì điều đó. Rất nhiều người bình thường biết về những cuộc tình vụng trộm của ông ta. Chúng tôi đã nghe về Nhóm Hạnh phúc của Kim Jong-il, Nhóm Hài lòng của Kim Il-sung. Thậm chí còn có cả một viện nghiên cứu về bí quyết sống thọ của Kim Il-sung.”
Hỏi: Có phải anh có nghe một số chuyện này sau khi đến miền Nam không?
Đáp: Tôi chỉ kể cho bạn những gì tôi biết khi còn ở Triều Tiên.
Hỏi: Tại sao chỉ đổ lỗi cho những người theo Kim Il-sung? Ông ta đã sắp xếp để mình được tôn sùng.
Đâp: Tôi biết ông ta là ông trùm trong việc thần tượng hóa, nhưng những thuộc hạ ha lẽ ra phải tập hợp lại và tiến hành một cuộc đảo chính.”
Hỏi: Có vẻ như những người Triều Tiên bất mãn đến mức sẵn sàng làm bất cứ điều gì đều chọn cách đào thoát thay vì nổi dậy. Điều gì phải xảy ra trước khi người dân ở lại và đấu tranh thay vì đào thoát?
Đáp: Khi ở miền Bắc sau khi nghe đủ mọi lời than phiền, tôi muốn thành lập một phong trào chống Kim Il-sung. Nhưng một mình tôi không thể làm gì được, nên tôi đã đào thoát. Còn các quan chức cấp trung biết về tình hình bên ngoài mà họ chẳng làm gì cả. Cần phải có nhiều áp lực từ bên ngoài. Người dân bình thường cần nhiều áp lực từ bên ngoài.
Hỏi: Anh nghĩ sao về ý tưởng thành lập Đài Phát thanh Châu Á Tự do?
Đáp: Điều đó sẽ rất hiệu quả. Tôi rất vui mừng. Tôi đã nghe họ bàn về việc này tại Bộ Quốc phòng Hàn Quốc.”
Hỏi: Họ nên đưa ra loại chương trình nào?
Đáp: Thay vì nhìn vào bức tranh toàn cảnh, hãy tiếp cận chi tiết hơn. Bắt đầu bằng việc đưa tin về lối sống, tội phạm ở Triều Tiên, v.v. Sau đó, hãy điều chỉnh một chút và nói về tình hình kinh tế và chính trị. Bạn phải giải thích điều này cho mọi người hiểu, nếu không họ sẽ không thể nắm bắt được. Hãy trình bày đơn giản.”
Hỏi: Mọi người có đài để nghe không?
Đáp: Chỉ khoảng một trong mười lăm hộ gia đình có thiết bị phù hợp. Việc đó sẽ rất khó khăn.”
Hỏi: Anh đã biết được gì về khả năng hoặc sự sẵn lòng chiến đấu của binh lính nếu Kim Jong-il ra lệnh?
Đáp: Tôi hơi nghi ngờ liệu họ có thực sự chiến đấu hay không. Trong lữ đoàn có một chỉ huy cấp dưới và một chính ủy đảng. Người chỉ huy quân sự đáng lẽ phải có quyền lực, nhưng chính ủy đảng lại đang tranh giành quyền lực. Có sự chia rẽ. Một số người ủng hộ chỉ huy, số khác ủng hộ chính ủy. Nếu chiến tranh xảy ra, vấn đề ban đầu sẽ là tuân theo mệnh lệnh của ai.”
Hỏi: Bạn có thể hình dung ra cảnh những người lính và sĩ quan bình thường vứt bỏ vũ khí hoặc bắn vào chỉ huy không?
Đáp: Vì mỗi đơn vị đều có hai phe phái, nên tôi nghĩ nếu chiến tranh nổ ra, tôi sẽ bắn chết tên chỉ huy. Tôi đã nghĩ đến điều đó khi được thăng chức, và nó tạo động lực cho tôi đối xử với cấp dưới một cách thân thiện. Tôi cho rằng nếu chiến tranh nổ ra và họ có cùng suy nghĩ với tôi, có lẽ họ sẽ bắn tôi. Tôi không thể nói chính xác có bao nhiêu người, nhưng chắc chắn có những người khác cũng nghĩ như tôi.”
Hỏi: Một số dân thường trẻ đào thoát nói với tôi rằng người dân Triều Tiên cho rằng thà chết trong chiến tranh còn hơn chết đói, nên họ muốn chiến tranh hơn.
Đáp: Đó là một thái độ phổ biến. Bản thân tôi cũng từng nghĩ chiến tranh sẽ nổ ra. Tôi đã phải chịu đựng quá nhiều vì đói. Khi mới nhập ngũ, tôi chắc chắn 100% rằng Triều Tiên sẽ thắng trong chiến tranh. Nhưng sau bốn hoặc năm năm nghiên cứu về đối thủ Hàn Quốc, tôi nhận ra Triều Tiên không có nền kinh tế để duy trì một cuộc chiến. Vì vậy, tôi nghĩ rằng chiến tranh sẽ hủy diệt cả Hàn Quốc và Triều Tiên. Chính phủ chính thức cảnh báo rằng chiến tranh giữa Hàn Quốc và Triều Tiên sẽ là Thế chiến thứ ba. Nhưng trong huấn luyện quân sự, chúng tôi được dạy rằng chúng tôi phải chiến đấu chống lại miền Nam và giành chiến thắng.
Hỏi: Hãy cho tôi biết về các sĩ quan cấp cao của anh.
Đáp: Tôi nghĩ họ đều có những lời phàn nàn tương tự đối với chế độ. Tôi đã nói chuyện với họ và họ thường phàn nàn một cách gián tiếp: ‘Hãy nhìn vào khẩu phần ăn mà gia đình tôi nhận được. Họ có thể sống được với số lượng đó không?’
Hỏi: Những người đào thoát khác mà tôi đã phỏng vấn đều trải qua những thời điểm khủng hoảng khi đối mặt với nguy cơ bị bỏ tù hoặc mất chức vụ, vì vậy họ cảm thấy cần phải đào thoát. Còn anh thì sao?
Đáp: Sau mười năm nghĩa vụ quân sự, họ điều bạn đến một khu vực khác với khu vực quê nhà. Vì bạn còn trẻ, họ bắt bạn đi làm việc ở mỏ trong vài năm. Tôi rất sợ điều đó. Lúc nhập ngũ tôi không biết, nhưng sau khi vào quân đội thì tôi bắt đầu lo lắng. [Trừ khi được chọn cho nhiệm vụ quan trọng hơn] bạn không có cách nào tránh khỏi việc làm việc ở mỏ, mặc dù nếu bạn làm việc chăm chỉ, bạn có thể được rút ngắn thời gian làm việc sớm hơn. Từ năm 1987, tôi bắt đầu nghĩ đến việc vượt biên qua Trung Quốc rồi đến Hàn Quốc sau khi xuất ngũ. Tôi chỉ nghĩ đến ghé thăm họ hàng trên đường đến nơi công tác mới. Việc đó không quá khó khăn vì quê tôi ở Cáp Nhĩ Tân và tất cả họ hàng trừ anh chị em ruột, đều ở Trung Quốc. Vì vậy, tôi có thể lên đường đến thăm họ hàng ở Trung Quốc. Một sĩ quan cấp cao trong lữ đoàn của tôi hứa sẽ gửi tôi đến Đại học Kim Il-sung. Nhưng vào năm 1988, ông ta lại gửi một sĩ quan khác. Tôi rất tức giận. Kết hợp giữa sự tức giận về vụ việc đó và nỗi sợ hãi về cuộc sống trong hầm mỏ, tôi quyết định đào thoát.
Hỏi: Một viên chức cấp cao đào thoát đã đề xuất một kịch bản trong đó các công nhân mỏ được những người có chuyên môn quân sự nổi dậy chống lại chế độ và lật đổ nó.
Đáp: Tôi không thực sự biết chắc tâm lý của những thợ mỏ như thế nào, nhưng điều đó nghe có vẻ hợp lý. Trong số những người đồng đội của tôi, ngoài tôi ra còn có những người khác lo lắng và tức giận trước viễn cảnh bị điều đến mỏ.”
Hỏi: Tại sao anh lại bơi qua sông Imjin trong khi còn có một con đường trốn thoát tương đối dễ dàng qua Trung Quốc?
Đáp: Tôi từng thảo luận những chuyện này với Kim Nam-joon, người bạn thân thiết của tôi, người cuối cùng đã cùng tôi đào thoát. Ban đầu chúng tôi dự định đi qua Trung Quốc. Nhưng rồi chúng tôi nói, ‘Chúng ta ở rất gần biên giới, sao không mạo hiểm ngay bây giờ thay vì chờ vài năm nữa để được giải ngũ?’
Hỏi: Sau khi đào thoát, anh mong đợi điều gì?
Đáp: Tôi không có kỳ vọng cụ thể nào ngoài việc Hàn Quốc là một xã hội giàu có hơn. Tôi chỉ muốn thoát khỏi cuộc sống khốn khổ ở Triều Tiên.
Hỏi: Hãy kể chi tiết cho tôi biết anh đã trốn thoát như thế nào.
Đáp: Chúng tôi đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi. Có bốn hàng rào, được giăng điện từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Hai hàng đầu tiên có điện áp 220V; hàng rào thứ ba có điện áp 3.300 volt; và hàng rào thứ tư có điện áp 10.000 volt. Chúng tôi có kìm cắt dây cho hai hàng rào đầu tiên và dự định bò qua hàng rào thứ ba và thứ tư. Để làm được điều đó, chúng tôi cần một máy dò mìn. Chúng tôi có súng. Sông Imjin là nơi tôi làm việc. Sau khi cắt hai hàng rào đầu tiên, chúng tôi đến hàng rào thứ ba có điện áp 3.300 volt. Chúng tôi có một thanh sắt và một ống cao su dài ba mét. Kế hoạch là vung nó và ném nó vào hàng rào để dập tắt ngòi nổ. Nó không hoạt động, mặc dù có một tia điện cực mạnh, giống như sét. Chúng tôi đào thoát vào ngày 10 tháng 9. Hôm trước là ngày lễ, nên bọn trực đêm ngủ nướng vào sáng sớm ngày mùng 10 để nghỉ ngơi sau lễ hội. Chúng tôi vô tình cướp cò một lần, nhưng họ ngủ say quá nên không nghe thấy.
Vì không thể vượt qua hàng rào thứ ba, chúng tôi bò về trại canh đêm và còn thấy bọn lính đang ngủ. May mắn thay, chúng tôi tìm thấy một cống thoát nước. Lúc đó thủy triều xuống, nên không có nước trong đó chảy ra. Chúng tôi đi qua đó đến sông Imjin. Chúng tôi có áo phao và bơi 4 km qua sông, mất ba tiếng đồng hồ. Chúng tôi đến một trại thủy quân lục chiến Hàn Quốc.”
Hỏi: Bạn đang làm gì bây giờ?
Đáp: Tôi vẫn đang làm việc với Cơ quan Kế hoạch An ninh Quốc gia. Nhìn tôi, người dân Hàn Quốc có thể hình dung liệu tôi có phải là một điệp viên Triều Tiên hay không. Tôi đang theo học tại Đại học Kyongwon, ngành quản trị. Tôi cũng đang học hanja (chữ Hán). Tôi chưa kết hôn nhưng sẽ sớm lập gia đình.
Choi Seung-chan, một trung sĩ quân đội chuyển sang làm cán bộ cung ứng nhà máy, đã đào thoát vào tháng 7 năm 1996. Khi tôi phỏng vấn anh ấy vào năm 1998, anh ấy 31 tuổi. Khuôn mặt bất động của anh không hề nở nụ cười. Đôi mắt anh mở to, tóc chải về phía trước. Anh mặc một bộ vest màu be che thân hình nhỏ bé của mình.
Hỏi: Tại sao anh lại đào thoát?
Đáp: Tôi đã phục vụ trong quân đội mười năm và sau đó, tôi làm việc để cung cấp hàng cho một nhà máy. Tôi đến đây qua đảo Kangwha, gần Incheon. Lý do chính là, tôi đã chứng kiến cảnh người dân chết đói. Trong khi người dân Triều Tiên đang chết đói, thì Kim Jong-il chỉ chuẩn bị cho chiến tranh. Ông ta đến thăm các trại lính, chứ không đến thăm dân thường. Tôi nghĩ, ‘Đất nước này không phải vì người dân, mà chỉ vì quân đội.’ Tôi cũng nghe nói rằng Hàn Quốc giàu hơn Triều Tiên.”
Hỏi: Anh có gặp rắc rối gì không?
Đáp: Vấn đề chính tôi gặp phải là nạn đói. Tôi nghĩ thà đến Hàn Quốc còn hơn là bị bắn chết khi đang ăn trộm.”
Hỏi: Những người phụ trách khâu cung ứng thường có cuộc sống khá giả hơn những người khác.
Đáp: Ưu điểm duy nhất của tôi là có nhiều thời gian rảnh hơn người bình thường. Vấn đề khi làm việc ở bộ phận cung ứng là nhà máy hoàn toàn thiếu vật tư. Tôi phải bán tài sản cá nhân để cung cấp cho nhà máy. Đó là một nhà máy gạch ở Kaesong. Đó là thành phố quê hương của tôi.”
Hỏi: Hãy kể cho tôi nghe về gia đình của bạn.
Đáp: Tôi là con trai thứ ba trong gia đình có năm anh chị em. Bố tôi đã nghỉ hưu khi tôi chào đời. Ông ấy là một tài xế xe tải, chuyên chở hàng hóa. Ông ấy làm việc cho một mỏ đá cẩm thạch. Cả bố và mẹ tôi đều là người gốc Kaesong. Cha tôi mười bảy tuổi khi chiến tranh nổ ra. Ông là một nông dân. Bảy thành viên trong gia đình đều thiệt mạng do bom đạn Mỹ và cha tôi bị bỏng nặng. Gia đình chúng tôi ủng hộ miền Bắc để có thể ở lại Kaesong sau chiến tranh trong khi những người khác bị di dời.
Hỏi: Nhiệm vụ quân sự của anh là gì?
Đáp: Trung sĩ thuộc Binh chủng Nhảy dù, đóng quân tại Bình Nhưỡng.
Hỏi: Có đúng là các đơn vị quân đội gồm người từ cùng một vùng luôn được đóng quân ở nơi khác để họ không ngại nổ súng vào người dân địa phương trong trường hợp có biểu tình?
Đáp: Tôi không chắc. Đúng là họ điều động người đến những nơi xa nhà, và các đơn vị có thể được điều động đến các tỉnh khác nhưng không phải nơi họ đóng quân, nhưng tôi không biết liệu lý do có liên quan đến các cuộc biểu tình hay không.
Hỏi: Vậy trong đơn vị của anh, ví dụ, anh không gặp người nào đến từ Bình Nhưỡng phải không?
Đáp: Đúng vậy, về cơ bản là như thế, mặc dù có một số con trai của các quan chức cấp cao được nuôi dưỡng ở Bình Nhưỡng.
Hỏi: Tại sao lính dù lại đóng quân ở Bình Nhưỡng?
Đáp: Hai nhiệm vụ: Một là lực lượng dự bị chiến tranh. Nhiệm vụ khác là chiến đấu với lính dù Hàn Quốc khi họ đến Bình Nhưỡng. Tôi gia nhập quân đội năm 1983 lúc mười sáu tuổi và trải qua toàn bộ thời gian phục vụ ở Bình Nhưỡng.
Hỏi: Đó có phải là một nhiệm vụ tốt không?
Đáp: (Cuối cùng anh ấy cũng mỉm cười nhẹ.) Tôi rất tự hào khi được ở Bình Nhưỡng. Tôi có chút thời gian rảnh và có thể thư giãn.
Hỏi: Khẩu phần ăn?
Đáp: Tôi bắt đầu nhập ngũ năm 1983. Lúc đầu có lương thực phân phát. Nhưng cuối cùng thì thật kinh khủng. Đồ ăn có dầu mỡ chỉ được ăn một lần một tuần. Chúng tôi chỉ có thịt vào những ngày lễ đặc biệt. Cơm không nấu chín đúng cách vì do thiếu nhiên liệu nên chúng tôi phải ăn thức ăn nấu chưa chín kỹ.
Hỏi: Số lượng?
Đáp: Do tham nhũng, chúng tôi chỉ có thể có từ một phần ba đến hai phần ba lượng lương thực tiêu chuẩn. Các quân nhân cấp cao lấy trộm lương thực. Vì vậy, khi quân đội đến một ngôi làng, người dân địa phương rất sợ hãi vì họ biết rằng các binh lính cấp thấp đang đói và sẽ ăn trộm thức ăn của họ.”
Hỏi: Bạn cũng vậy à?
Đáp: Tôi phải sống sót. Không có ngoại lệ. Dân làng hiểu vấn đề của chúng tôi nhưng yêu cầu chúng tôi không được ăn trộm mùa màng trên chính mảnh đất của họ mà chỉ lấy từ nguồn thực phẩm canh tác chung.”
Hỏi: Việc quân đội cướp bóc lương thực bắt đầu từ khi nào?
Đáp: Trước khi tôi nhập ngũ. Khi còn là lính thường, tôi được lệnh đi ra ngoài kiếm thức ăn. Mặc dù tôi đã nói với bạn rằng tình hình khá tốt khi tôi mới nhập ngũ, nhưng tôi đang nói theo nghĩa tương đối.
Hỏi: Tỷ lệ lương thực bị đánh cắp so với lương thực được phân phối theo định mức vào năm 1983 là bao nhiêu?
Đáp: Tôi thuộc một đội bảy người. Mỗi lần đi trộm, chúng tôi trộm được 20 kg. Chúng tôi làm vậy hai hoặc ba lần một tháng. Tổng cộng số lượng đánh cắp có lẽ lên đến một tấn. Một số kẻ xấu sẽ đánh cắp nhiều hơn một tấn cùng một lúc, bán đi và giữ lại tiền thu được để lo cho đám cưới của họ.
Hỏi: Bạn có quen ai đã làm như vậy không?
Đáp: Có. Bạn không thể sống trong quân đội mà không ăn cắp.
Hỏi: Liệu các quân nhân có nhận thấy sự mâu thuẫn nào trong việc họ phải bảo vệ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhưng đồng thời lại phải cướp bóc của dân thường không?
Đáp: Về mặt chính thức, quân đội cấm trộm cắp. Ai bị bắt sẽ bị phạt bằng cách giáng chức. Nhưng bạn không thể sống theo cách chính thức được.
Hỏi: Bình lính có bàn về những mâu thuẫn không?
Đáp: Tôi chỉ có thể nghĩ về chúng. Tôi không thể nói năng lung tung nếu không sẽ bị tố cáo.
Hỏi: Điều đó liên quan như thế nào đến tinh thần chiến đấu?
Đáp: Có một hiệu ứng tuyên truyền. Binh lính nghĩ rằng khó khăn của họ là do Hàn Quốc và Hoa Kỳ gây ra. Khó khăn càng lớn, họ càng căm giận Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Ngày càng nhiều người muốn chiến tranh, để thay đổi thực tại.
Hỏi: Còn anh?
Đáp: Mọi người, kể cả tôi.
Hỏi: Anh có thể cho tôi biết điều gì về năng lực của quân đội Triều Tiên?
Đáp: Khi tôi ở Triều Tiên, tôi và các đồng nghiệp nghĩ rằng Hàn Quốc không phải là đối thủ của Triều Tiên. Quân đội Hàn Quốc quá yếu. Ngay cả trong Chiến tranh Triều Tiên, phía chúng tôi đã tiến đến tận Busan. Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, chúng tôi đã có thể chinh phục bán đảo lúc đó. Sau khi chuyển đến Hàn Quốc và chứng kiến công nghệ cũng như vị thế quân sự, tôi nghĩ người Hàn Quốc có thể chiến đấu với Triều Tiên. Tôi nghĩ tinh thần quân đội Triều Tiên vẫn rất cao. Họ đang trong tình thế sống chết. Nếu có chiến tranh, họ sẽ chiến đấu đến chết. Họ đã đói khát quá mức.”
Hỏi: Ai sẽ thắng?
Đáp: Bạn không bao giờ biết trước được.
Hỏi: Làm thế nào mà anh tránh được việc bị đưa xuống hầm mỏ than sau khi xuất ngũ?
Đáp: Thông thường lính bộ binh sẽ đi làm ở các mỏ. Lính dù – họ đánh giá cao những đóng góp quân sự của tôi và cho tôi về nhà. Ban đầu tôi làm việc ở mỏ đá nơi cha tôi làm việc, trong bộ phận mài và cắt đá. Công việc đó không quá vất vả – chúng tôi sử dụng máy móc. Nhưng tiếng ồn là một vấn đề.
Hỏi: Anh rời đi vì lý do gì?
Đáp: (Trở nên khá nóng nảy.) Công việc thì ổn. Nhưng quy định quá khắt khe. Đó là một mỏ đá quân sự. Mỗi tuần đều có cuộc họp và tôi bị khiển trách. Thật là khổ sở. Vì vậy, tôi muốn chuyển sang làm việc dân sự. Tôi chuyển đến một nhà máy gạch.
Hỏi: Anh có thể cho tôi biết gì về tình hình lương thực trong những năm qua?
Đáp: Từ năm 1987 đã có vấn đề với nguồn gạo do chính phủ cung cấp. Họ thường xuyên bỏ qua khẩu phần ăn của một hoặc hai tháng. Đến năm 1993, tình trạng này kéo dài hơn sáu tháng. Tôi đã phải sống trong cảnh thiếu gạo suốt bảy tháng của năm 1996. Trong khoảng thời gian năm 1994 và 1995, họ ngưng lương thực bảy hoặc tám tháng mỗi năm.”
Hỏi: Cụ thể thì công việc của anh tại nhà máy gạch là gì?
Đáp: Tôi phải đi lấy than từ một cơ quan nhà nước ở Kaesong. Để làm được việc đó, tôi phải hối lộ họ. Chúng tôi cần than để nung đất sét thành gạch.
Hỏi: Vào thời điểm đó, nhiều hoạt động sản xuất đã bị ngừng lại phải không?
Đáp: Ở Kaesong, có từ 20 đến 30% nhà máy vẫn đang hoạt động. Trong nhà máy của tôi, có từ 20 đến 30% bộ phận đang hoạt động.
Hỏi: Tại sao anh không báo cáo về việc cơ quan than đá đòi hối lộ?
Đáp: Nhu cầu vượt xa nguồn cung. Vì vậy, mọi người đều hối lộ các quan chức. Bạn phải dùng những món quà đặc biệt, rượu hoặc thịt, để làm hài lòng họ.
Hỏi: Bạn phải bán gì để có được những món quà đó cho họ?
Đáp: Tôi có một số tài sản riêng: tám con dê, một con lợn và hai con chó để ăn thịt, cộng thêm chiếc xe đạp của tôi, mà tôi đã bán đi. Mỗi năm tôi bán 50% số tài sản còn lại và dùng 40% từ số tiền bán được để hối lộ. Tôi ngày càng túng thiếu và không thấy chút hy vọng nào cho tương lai.”
Hỏi: Tại sao anh không sử dụng hết? Anh có thể sống dựa vào tài sản của mình và quên đi nhà máy, tiết kiệm chi phí hối lộ?
Đáp: Nhà máy cho tôi thời gian rảnh, điều mà tôi cần để chăn nuôi và tích lũy tài sản. Nếu tôi không kiếm được than, tôi sẽ bị đuổi khỏi nhà máy và không có nơi nào để đi. Lực lượng an ninh sẽ bắt tôi. Mỗi ngày cảnh sát đều kiểm tra việc điểm danh và nếu ai đó vắng mặt, họ sẽ đến nhà người đó và bắt giữ. Nếu tôi thất nghiệp sáu tháng, cảnh sát sẽ bắt tôi và buộc tội tôi tội trộm cắp. Lý thuyết là: Nếu bạn không có thu nhập trong sáu tháng, thì còn cách nào khác ngoài ăn cắp, bạn thoát được không?”
Hỏi: Anh có nuôi động vật trên khu đất có sân gạch không?
Đáp: Không, chúng ở trên một ngọn núi gần nhà tôi. Tôi đã dời nhà để có thể nuôi chúng. Nếu bán một con dê, bạn có thể được 20 kg gạo – đủ dùng trong một tháng.”
Hỏi: Đàn vật nuôi của bạn sinh sản không đủ nhanh để giúp bạn duy trì lợi nhuận?
Đáp: Dê mất một năm để sinh sản.
Hỏi: Bạn có nghĩ đến việc chuyển sang nuôi thỏ không?
Đáp: Một trong ba hộ gia đình nuôi thỏ. Giá trị của chúng quá thấp. Chúng chỉ nặng khoảng một kilôgam thôi. Tôi từng có việc làm khá tốt ở nhà máy gạch. Nhưng tôi đã bán hết đàn dê của mình trước khi quyết định đến đây. Vì vậy, tôi nghĩ có lẽ đây là cơ hội cuối cùng của mình: ‘Chết ở đây hoặc bị bắn khi vượt biên.’
Hỏi: Anh còn người thân nào còn sống không?
Đáp: Tôi có anh chị em ruột, nhưng không có vợ con. Tôi đến một mình.
Hỏi: Anh đã qua sông bằng cách nào?
Đáp: Tôi đã tận dụng thủy triều. Vì tôi được huấn luyện như một lính dù nên tôi có thể đến bằng đường bộ, nhưng tôi nghĩ rằng đường biển dễ hơn. Tôi đã thử lần đầu vào tháng Sáu, một tháng trước khi thành công. Tôi đã cố gắng, nhưng nước quá lạnh nên tôi hoãn lại đến ngày 8 tháng 7 năm 1996, kỷ niệm hai năm ngày mất của Kim Il-sung. Vào nửa đêm, giống như Papillon (một tù nhân Pháp nổi tiếng có tài vượt ngục, và đã thuật lại những kỳ công của mình trong một tác phẩm cùng tên), tôi xuống nước khi thủy triều xuống. Tôi bơi ba ngày đêm, dùng chiếc ruột xe đạp làm nổi. Đó chỉ là một cuộc bơi một ngày, nhưng ban ngày tôi phải trốn dưới hàng rào. Tôi đi dọc theo bờ biển trong ba ngày, vẫn ở trong lãnh thổ Triều Tiên, trước khi vượt qua biên giới. Đó là nhờ huấn luyện quân sự của tôi: tôi chắc chắn mình có thể làm được.
Hỏi: Hãy kể cho tôi nghe về cuộc sống trong quân ngũ của anh. Mười năm nghĩa vụ, không được nghỉ phép về nhà, không có bạn gái?
Trả lời: Tôi không có lựa chọn nào khác. Chỉ có cuộc sống hoặc cái chết. Không thăm viếng. Không hẹn hò. Tất cả những gì tôi có thể làm là tuân theo mệnh lệnh.
Hỏi; Ngay cả ở Bình Nhưỡng?
Đáp: Chỉ là khác biệt nhỏ thôi. Xét về một số khía cạnh, binh lính ở vùng nông thôn có điều kiện tốt hơn – họ có thể ăn trộm nhiều gạo hơn. Căn cứ của tôi ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Chúng tôi có thể đến nhà máy xay xát gạo hoặc trang trại nuôi chó.
Hỏi: Anh có gặp phải cuộc đối đầu gay gắt nào không?
Đáp: Mặc dù lính canh được trang bị vũ khí nhưng họ không thể ngăn quân đội vào. Chúng tôi đã được huấn luyện. Thường thường: lính canh bị bọn cướp quân đội đánh. Nếu trộm cắp xảy ra, 70% số dự trữ bị mất. Có lần, người quản lý một trang trại nói với chỉ huy quân sự: “Xin hãy tấn công một khu vực của trang trại. Tôi sẽ tính toán số chó bị đánh cắp, báo cáo cho chỉ huy và nhận tiền bồi thường.” Nhiều lính canh đã bị đâm chết.
Hỏi: Bạn có từng đánh nhau với ai không?
Đáp: Tôi dùng đá để dọa lính canh. Thông thường họ sẽ sợ hãi và lùi lại. Tôi không giết ai cả. Cứ mười lần thì có một lần xảy ra xô xát, nhưng chẳng ai đánh nhau với quân đội mà thắng được cả.”
Hỏi: Anh đã từng thấy thực phẩm cứu trợ chưa?
Đáp: Không phải viện trợ quốc tế, nhưng năm 1995 Hàn Quốc đã tặng lương thực. Tôi đã tận mắt chứng kiến. Tôi nhận được ba hoặc bốn kilôgam. Chúng tôi được cho biết gạo đó là từ Chongryon – rằng họ đã mua từ Hàn Quốc và gửi đến. Đó là câu chuyện chính thức của Triều Tiên. Sau vài tháng, tôi tìm thấy một tờ rơi từ khinh khí cầu của Hàn Quốc và nghe các bản tin trên đài phát thanh Hàn Quốc nên tôi đã nhận ra sự thật.
Hỏi: Anh đã nghe đài và đọc tờ rơi từ khi nào?
Đáp: Tôi có thể nhìn thấy tờ rơi ngay từ khi còn nhỏ. Tôi có thể bắt sóng radio khi còn trong quân đội. Tôi thậm chí còn có thể xem kênh KBS2 khi còn trong quân ngũ, nhưng phải rất cẩn thận.
Hỏi: Lúc đầu anh có nghi ngờ không?
Đáp: Khi còn nhỏ, tôi không tin những gì người Hàn Quốc nói. Và lúc đó ở Triều Tiên vẫn còn lương thực trợ cấp. Khi lớn lên, nền kinh tế còn tồi tệ hơn và không còn lương thực trợ cấp nữa. Kim Jong-il chỉ đến thăm các trại lính. Ông ta không quan tâm đến dân thường. Vì vậy, tôi bắt đầu tin những gì các tờ rơi nói. Tôi đã quyết định đào thoát vào năm 1993, một năm sau khi xuất ngũ. Ý định ban đầu của tôi là trốn sang Trung Quốc, nhưng tôi không rành khu vực biên giới Trung Quốc lắm nên quyết định sang Hàn Quốc.
Hỏi: Anh hiện làm gì?
Đáp: Tôi làm việc với hợp tác xã nông dân.
Yoo Song-il, một đại tá hậu cần cho đến khi nghỉ hưu và trở về cuộc sống dân sự vào năm 1992, đã nói với tôi khi tôi gặp ông vào năm 1998 rằng nghĩa vụ quân sự không bắt buộc ở Triều Tiên. “Nhưng chúng tôi được dạy cả đời rằng gia nhập quân đội là vinh dự lớn nhất. Bạn không thể là đảng viên hoặc giữ chức vụ cao nếu không từng phục vụ trong quân đội. Vì vậy ước mơ của mọi thanh niên là gia nhập quân đội. Tôi đã đạt đến cấp bậc đại tá trong ngành hậu cần và tiếp tế. Tôi đóng quân ở cùng một địa điểm tại tỉnh Kangwon, ngay đối diện khu phi quân sự (DMZ), trong suốt 24 năm, cung cấp tiếp tế cho các tiền đồn phía đông DMZ.”
Hỏi: Tình hình cung cấp quân nhu vào năm 1992 như thế nào?
Đáp: Cho đến năm 1992, chúng tôi vẫn có đủ khẩu phần ăn cơ bản cần thiết và vật tư cho chiến tranh. Trong quân đội, mọi người đều có đủ lương thực dự trữ cho ba ngày, cộng thêm lượng nhu yếu phẩm khác đủ dùng cho hai ngày. Ngoài ra, trong kho, chúng tôi có thêm một ít. Tổng cộng, chúng tôi có lượng lương thực dự trữ đủ dùng trong chín ngày. Có quy định về lượng lương thực và các nhu yếu phẩm hàng ngày cho binh lính: 560 gram gạo, 240 gram ngũ cốc khác, 100 gram thịt, 1 kg rau, 20 gram nước tương và 10 gram thuốc lá. Họ được nhận những thứ đó ngay cả khi không chiến đấu. Nhưng trong khi chúng tôi có gạo, thuốc lá và muối, Kim Jong-il lại bảo chúng tôi tự sản xuất thịt và rau. Trên thực tế, binh lính không nhận được những gì họ đáng được nhận.
Hỏi: Binh lính có bị thiếu khẩu phần ăn không?
Đáp: Không. Một lý do khiến họ không nhận được đủ số lượng thịt như lẽ ra phải có là vì mỗi khi một lượng thịt nhất định được chuyển đến căn cứ của tôi, các quan chức trên đường đi lại lấy bớt một ít. Đến khi thịt đến nơi thì lại không đủ. Trên thực tế, một số binh lính bị suy dinh dưỡng. Chúng tôi gom những người suy dinh dưỡng lại và cho họ ăn riêng. Nếu tình trạng của họ được cải thiện, họ sẽ được đưa trở lại đơn vị. Nếu không, họ sẽ được đưa vào bệnh viện hoặc xuất ngũ.”
Hỏi: Tỷ lệ suy dinh dưỡng là bao nhiêu?
Đáp: Khoảng 2 phần trăm.”
Hỏi: Quân đội có giảm lượng dự trữ chiến tranh không?
Đáp: Vâng, đã có những lúc điều đó xảy ra, do khủng hoảng kinh tế. Lương thực dự trữ đủ dùng trong chín ngày bao gồm thực phẩm, nhiên liệu, đạn dược, thuốc nổ và đồng phục, được cất giữ trong khu vực dự trữ chiến tranh tại mỗi căn cứ.”
Hỏi: Ong đã kiểm tra những khu vực đó chưa?
Đáp: Vâng, mỗi tuần một lần chúng tôi kiểm tra và thay gạo cũ bằng gạo mới.”
Hỏi: Ông so sánh cuộc sống trong quân đội với cuộc sống dân sự ở Chongjin như thế nào về vấn đề lương thực?
Đáp: Nó giống như sự khác biệt giữa trời và đất vậy. Khi còn trong quân đội, tôi không bao giờ phải lo lắng về thức ăn hay quần áo. Khi xuất ngũ, lương thực rất khan hiếm. Chúng tôi được cho là sẽ nhận lương thực mỗi mười lăm ngày nhưng điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra, vì vậy chúng tôi luôn phải lo lắng về thức ăn. Các quan chức luôn lấy những gì họ cần, nhưng hầu hết mọi người đều dựa vào lương thực được phân phát.
Hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu chiến tranh nổ ra?
Đáp: Luôn có khả năng xảy ra chiến tranh. Binh lính được dạy dỗ cả đời rằng nếu Kim Jong-il nắm quyền, họ sẽ chiến thắng. Người dân thường đang chết đói. Họ được dạy rằng cách duy nhất để sống tốt là thông qua thống nhất đất nước. Giờ họ đang chết đói. Họ còn gì để mất? Tất cả đều nghĩ rằng một khi có chiến tranh, họ sẽ thắng.
Hỏi: Còn ông nghĩ sao?
Đáp: Chiến tranh hoàn toàn có thể xảy ra nếu Kim Jong-il bị đe dọa đúng mức. Triều Tiên là nơi người dân không thể biểu tình. Đất nước này đã chuẩn bị cho chiến tranh trong suốt 50 năm. Nhưng người dân đang chết đói. Nếu tình hình trở nên tồi tệ hơn và cấu trúc quyền lực của Kim Jong-il bị đe dọa, ông ta có thể phát động chiến tranh như một biện pháp cuối cùng. Mặc dù tôi không nghĩ điều đó sẽ dễ dàng xảy ra, nhưng chắc chắn đó là một khả năng. Sau tuyên bố thống nhất ngày 14 tháng 7 năm 1973, trong quân đội chúng tôi đã nuôi hy vọng, chúng tôi bắt đầu nghĩ về sự thống nhất. Nhưng đảng đã lợi dụng điều đó để củng cố quân đội và dồn toàn bộ lực lượng vào quốc phòng. Đảng đã sử dụng tuyên truyền này để nói rằng, ‘Khi thống nhất đến, chúng ta sẽ phải giải phóng miền Nam. Chúng ta phải củng cố và đầu tư vào quân đội.
Hỏi: Tôi đoán ông đã gia nhập quân đội vào khoảng thời gian vụ đánh chiếm tàu Pueblo, năm 1968.
Đáp: Vâng. Rất nhiều người đã gia nhập quân đội vào thời điểm đó, vì chúng tôi nghĩ rằng sẽ có chiến tranh.
Hỏi: Làm thế nào mà ông trở thành sĩ quan?
Đáp: Nhờ nỗ lực. Kim Jong-il ủng hộ quân đội. Đó là nghề nghiệp được ưa chuộng nhất. Tôi không vào học viện quân sự. Thay vào đó, tôi được chọn tham gia khóa huấn luyện sĩ quan ba tháng và được thăng chức.
Hỏi: Các đồng đội cấp bậc trung tá và sĩ quan cấp cao của ông nghĩ gì về cơ hội chiến thắng?
Đáp: Khi họ nghĩ về chiến tranh, họ nghĩ đánh nhau với Hoa Kỳ và Nhật Bản, nhiều hơn là Hàn Quốc. Họ từng nói, ‘Trung Quốc và Liên Xô không nên can thiệp. Đây là cuộc chiến của riêng chúng tôi, chống lại Hoa Kỳ và Nhật Bản.’ Họ nghĩ chúng tôi sẽ thắng. Họ đã bị tẩy não.
Hỏi: Ông có nghĩ vậy không?
Đáp: Có.
Hỏi: Vậy bây giờ ông nghĩ sao?
Đáp: Xét về ý chí và sự tuyên truyền, miền Nam đang ở thế bất lợi. Miền Bắc thì không. Người Triều Tiên rất kiên định. Ở miền Nam, họ đang nói về thống nhất hòa bình. Điều đó không đúng. Ở miền Bắc, mọi người đều ủng hộ chiến tranh. Nhưng ở miền Nam, hầu hết người dân không nghĩ đến điều đó, và họ không có quyết tâm chiến thắng. Về mặt kỹ thuật, Triều Tiên đang tụt hậu. Nhưng người ta nói rằng cuộc chiến thuộc về kẻ kiên định. Đó là điều mà Triều Tiên có. Trừ khi người Hàn Quốc chuẩn bị tinh thần cho khả năng đó, nên không ai biết điều gì sẽ xảy ra?
Hỏi: Một số người cho rằng tinh thần chiến đấu của lính Triều Tiên sẽ sụp đô khi họ nhìn thấy của cải ở miền Nam – họ sẽ chỉ cướp bóc thay vì chiến đấu.
Đáp: Tôi không nghĩ vậy. Vâng họ có thể bị sốc. Nhưng họ có kỷ luật.
Hỏi: Ông hiện đang làm gì?
Đáp: Tôi đến đây chưa đầy một năm. Tôi trong một trại giáo dục, bắt đầu sống như một thường dân từ tháng 7 năm ngoái. Bây giờ tôi đang tìm hiểu các cơ hội việc làm, thuyết trình về tình hình Triều Tiên. Tôi muốn lấy bằng lái xe Hàn Quốc, vì vậy tôi sẽ tham gia các lớp học để lấy bằng.
Hỏi: Ông có giúp đỡ quân đội Hàn Quốc không?
Trả lời: Có, một chút. Dù sao thì tôi cũng đã từng tham gia quân đội 24 năm.
Ahn Myung-iin từng phục vụ trong một lực lượng do thám đặc biệt với đơn vị quân sự mà nhiệm vụ của nó là xâm nhập Hàn Quốc. Với cánh tay vạm vỡ, Ahn trông rất khỏe mạnh. Và sau khi nghe câu chuyện của anh vào cuối tháng 6 năm 1994, chỉ vài ngày trước khi Kim Il-sung qua đời, tôi nhận thấy rằng anh có thể đại diện cho cả những giấc mơ táo bạo nhất và những nỗi sợ hãi sâu sắc nhất mà Kim Jong-il ấp ủ.
Ahn kể với tôi rằng từ năm 1979 đến năm 1987, anh đã học tại Học viện Ngoại ngữ Wonsan. Khi tôi nói rằng mình đã từng đến thăm Wonsan, tại một cảng biển phía đông, trong chuyến thăm năm 1979 của tôi, anh ấy trả lời cộc lốc, “Đó là thời tốt đẹp hơn.” Tại trường tôi chuyên về Anh ngữ, nhưng khóa học này không tốt lắm. Mỗi tỉnh đều có một cơ sở ngoại ngữ như vậy. Bạn sẽ vào trường ngoại ngữ ngay sau bốn năm tiểu học và học tám năm trung học cơ sở và trung học phổ thông ở đó. Những điệp viên tương lai được chọn lọc trong số những người tốt nghiệp.
“Từ 1987 đến tháng 5, 1993 tôi theo học Học viện Quân sự Chính trị Kim Jong-il cấp độ đại học ở Bình Nhưỡng. Thời hạn học tập ở đó là năm năm sáu tháng. Về cơ bản, họ dạy về gián điệp, khủng bố và các chiến thuật bí mật khác ở đó, bao gồm cả việc bắt cóc những viên chức chính quyền Hàn Quốc quan trọng, dụ dỗ những người có ý định đào thoát khỏi Hàn Quốc và, trong trường hợp chiến tranh, xâm nhập vào Hàn Quốc trước Quân đội Nhân dân và phá hủy các cơ sở quan trọng.”
Thành viên trẻ của nhóm đã đánh bom máy bay Hàn Quốc năm 1987, Kim Hyon-hui, giả dạng là một du khách Nhật Bản, đã sống sót sau một vụ tự sát bằng viên nang độc sau khi bị bắt (đồng nghiệp cấp cao đồng hành cùng cô đã chết) và cuối cùng đã kể cho lực lượng Hàn Quốc bắt giữ cô các chi tiết về nhiệm vụ.
“Kim Hyon-hui trước đó đã đến cùng một học viện với tôi, lúc đó gọi là Học viện Quân sự Kumsong” anh nói. “Có hai lộ trình. Cô ấy đã tham gia khóa học gián điệp một năm. Chương trình sáu năm dành cho những người sẽ tham gia vào nỗ lực chiến tranh.” Ahn khoe khoang rằng cô ấy “không làm đến một phần mười những gì tôi đã làm. So với những gì chúng tôi phải làm, công việc của cô ấy rất nhẹ nhàng.”
Anh ta đầy nhiệt huyết khi trình bày chi tiết về tính ưu việt của phương pháp huấn luyện của mình: “Bởi vì Kim Hyon-hui chỉ được huấn luyện một năm, cô ấy không phải chịu trách nhiệm thực hiện mệnh lệnh của Kim Jong-il. Cô ấy không phải bóp cò hoặc bắt cóc ai cả. Kim Hyon-hui làm việc tại Cục Thông tin Đối ngoại, phụ trách vấn đề Nhật Bản. Cô ấy không được huấn luyện để thâm nhập mà chỉ để trở thành người Nhật. Tôi làm việc tại Cục Chiến lược thuộc Ban Tình báo Trung ương Đảng, học viện của nó là một bộ phận và là nơi chúng tôi được huấn luyện quân sự. Cô ấy chỉ được tiếp nhận thông tin đầu vào chứ không học được cách truyền đạt thông tin ra bên ngoài. Tôi sẽ kiểm tra những địa điểm có thể ra lệnh phá hủy và nghiên cứu bên trong để xem cần đặt chất nổ ở đâu. Còn về bơi lội, tôi phải bơi 10 kg trong khi cô ta chỉ bơi 4 km. Tôi đã luyện tập lặn biển và mọi hình thức tác xạ – tầm xa, tầm gần, bắn mục tiêu di động.
Chúng tôi đã học địa lý Hàn Quốc, đến mức thuộc lòng . Và tôi biết cách xử sự như một người Hàn Quốc bình thường. [Phiên dịch viên của tôi, Rhee Soo-mi, lưu ý rằng Ahn quả thực không nói giọng miền Bắc quá rõ rệt như những người miền Bắc khác mà cô ấy đã giúp tôi phỏng vấn.] Tôi có thể sử dụng tiền tệ miền Nam, vân vân. Tôi không hề ngạc nhiên về Hàn Quốc khi đến đây.”
Hỏi: Anh có nghiên cứu “Bộ tộc Cam” (biệt danh dành cho một nhóm thanh niên sành điệu ở Seoul vào giữa những năm 90) không?
Đáp: Chúng tôi đã tìm hiểu tất cả về những người sống ở đây, từ bộ tộc Cam đến giới ăn xin. [Trong khóa huấn luyện gián điệp] mọi người được phân loại theo nhân khẩu học, theo nghề nghiệp và nhóm tuổi. Chúng tôi đã sử dụng các phương tiện nghe nhìn và nghiên cứu các phương ngữ.”
Hỏi: Anh có được tin cậy để được biết bất cứ điều gì về Hàn Quốc không?
Đáp: Tôi đọc tất cả các nhật báo được xuất bản ở Hàn Quốc. Chúng tôi cũng biết rằng Hàn Quốc là một quốc gia tự do hơn nhiều với mức sống cao hơn nhiều.”
Hỏi: Nếu họ đã cho anh biết điều đó, vậy họ đã giữ chân anh bằng cách nào?
Đáp: Thực ra họ đã thay đổi hệ thống sau vụ án Kim Hyon-hui. Cô ấy không được học những điều tôi được học về Hàn Quốc. Cô ấy được học về khả năng của phương Tây nhưng lại nghĩ rằng người Hàn Quốc sống không tốt bằng người Triều Tiên. Khi được đưa đến Seoul và chứng kiến mức sống của người Hàn Quốc, cô ấy đã phản bội chế độ. Vì vậy, họ quyết định tốt hơn hết là nên dạy về thực tế, để tránh những điều bất ngờ.”
Hỏi: Nhưng làm thế nào họ giữ được lòng trung thành của anh?
Đáp: Trước hết, đừng tưởng rằng chúng tôi là những người Triều Tiên bình thường. Mức sống của chúng tôi ngang bằng với tầng lớp cao ở Hàn Quốc. Chúng tôi nỗ lực hết sức để tiến hành hoạt động gián điệp ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, trong quá khứ, nếu gián điệp thất bại, họ sẽ tự sát. Điều mà chế độ không biết là thế hệ gián điệp hiện tại sẽ không tự sát nếu thất bại mà sẽ đầu hàng, vì chúng tôi biết được rằng những kẻ đào ngũ sống khá tốt ở đây.
Hỏi: Hãy kể cho tôi nghe về hoàn cảnh gia đình và thái độ của anh đối với chế độ khi còn nhỏ.
Đáp: Gia đình tôi thuộc tầng lớp thượng lưu. Tất cả những người được vào học viện đều được chọn lọc dựa trên gia thế tốt, nghĩa là không có tiền sử liên hệ với Hàn Quốc. Tôi từng là một tín đồ cuồng nhiệt của hệ tư tưởng đó. Mỗi hành động bác bỏ hệ tư tưởng thực sự đều có một lý do thực tế riêng. Trong trường hợp của tôi, từ nhỏ tôi đã muốn trở thành một nhà ngoại giao, và tôi dự định sẽ vào Cục Thông tin Đối ngoại, nơi mà Kim Hyon-hui đang làm việc. Nhưng vào năm cuối đại học ngoại ngữ, tôi đã xảy ra xô xát với một người lính và điều đó đã phá hỏng cơ hội vào Cục Thông tin Đối ngoại và trở thành nhà ngoại giao. Những nhà ngoại giao có xuất thân như tôi thực chất là gián điệp theo dõi các nhà ngoại giao các quốc gia khác, chứ không phải các nhà ngoại giao Triều Tiên khác. Thay vào đó, tôi phải đến Cục Chiến lược thuộc Ban Tình báo Trung ương Đảng. “Tại Học viện Chính trị-Quân sự Kim Jong-il, hệ tư tưởng của tôi bắt đầu thay đổi. Sự thay đổi về hệ tư tưởng kết hợp với những tổn hại đến sự nghiệp đã khiến tôi quay lưng lại với chế độ. Tôi luôn biết về những bất cập trong chế độ Triều Tiên và cảm thấy bất mãn, nhưng điểm chính khiến tôi đào thoát là: Nếu bạn làm việc trong Cục Chiến lược, bạn sẽ không còn được gặp cha mẹ hoặc các thành viên khác trong gia đình. Bạn sống như tầng lớp thượng lưu nhưng lại bị cô lập suốt cuộc đời của bạn.
Hỏi: Tại sao bị cô lập?
Đáp: Có ba lý do. Thứ nhất, chúng tôi đã được tiếp xúc với thực tế của các nước tư bản và chế độ lo sợ chúng tôi có thể ảnh hưởng đến những người khác chưa từng trải nghiệm điều đó. Thứ hai, họ cũng lo sợ rằng người dân bình thường sẽ thấy lối sống xa hoa hơn nhiều của chúng tôi và cảm thấy bất bình. Cuối cùng, nhiều học viên đã thiệt mạng trong quá trình huấn luyện, điều này có thể gây ra rắc rối với phụ huynh – tốt nhất là không cho gia đình biết chúng tôi đang làm gì.
Hỏi: Nhưng chẳng phải lý do đầu tiên cũng áp dụng cho các nhà ngoại giao bình thường, những người không bị cô lập?
Đáp: Các nhà ngoại giao biết, nhưng họ không có kiến thức chi tiết về xã hội Hàn Quốc như tôi đã được học. Dù sao thì, các nhà ngoại giao tốt nghiệp từ học viện cũng khá cô lập.
Hỏi: Vậy là dù sao thì bạn cũng đã lường trước việc bị cách ly rồi phải không?
Đáp: Vâng. Nhưng nếu tôi trở thành một nhà ngoại giao thì sự cô lập sẽ không quá khắc nghiệt – tôi sẽ có những cơ hội thỉnh thoảng gặp gỡ gia đình mình. Ngoài ra, công việc cũng sẽ không căng thẳng đến thế.
Hỏi: Anh bị cách ly khởi phụ nữ?
Đáp: Khi tôi còn học ở trường ngoại ngữ, tôi cũng có bạn gái, nhưng ngay khi vào học viện, tôi bị cô lập khỏi họ. Khi tôi 28 hoặc 29 tuổi, tôi sẽ được cho từ 10 đến 15 ngày để tìm vợ. Tôi sẽ viết thư nhờ cha mẹ mai mối cho tôi, rồi tôi sẽ đi cưới cô ấy và đưa về cơ quan. Ở cơ quan có một vài phụ nữ, nhưng họ được nhiều người săn đón.
Hỏi: Ngoài cuộc sống cô lập, còn lý do nào khác khiến anh thất vọng không?
Đáp: Trong Cục Chiến lược, quá trình huấn luyện rất vất vả. Và tôi buộc phải giết người, dù tôi không muốn.
Hỏi: Anh không thích nhiệm vụ của mình ở bộ phận Chiến lược phải không? (Tôi đợi anh ấy đề cập đến bất kỳ sự khó chịu về mặt đạo đức hay cảm giác bất công nào.)
Đáp: Vâng. Khi tôi lớn lên, bố mẹ luôn dạy tôi phải sống tốt. Còn ở Cục Chiến lược, họ dạy bạn phải làm tổn thương hoặc giết người khác để bảo vệ bản thân. Điều đó làm tôi khó chịu.
Hỏi: Ạnh có phản đối về mặt đạo đức hay chỉ đơn thuần là vấn đề tiện lợi?
Đáp: Không thể chỉ là vấn đề tiện lợi. Tôi chỉ không thể chịu nổi việc cứ phải làm đi làm lại những việc mình không muốn làm suốt cả cuộc đời.
Hỏi: Anh nghĩ thế nào về nhiệm vụ cơ bản của đơn vị mình là tiêu diệt bọn Hàn Quốc?
Đáp: Điều đó là khả thi và cần thiết để có thể thống nhất đất nước theo các điều khoản của Kim Il-sung và Kim Jong-il.”
Hỏi: Mục đích có biện minh cho phương tiện không?
Đáp: Có.
Hỏi: (Tôi đã kể cho anh ấy nghe về viên đại tá chuyên về chiến tranh hóa học muốn tiêu diệt toàn bộ dân số Hàn Quốc.) Có nhiều người ở Triều Tiên có suy nghĩ như vậy không, rằng mục đích biện minh cho phương tiện?
Đáp: Không ai được nói rằng chúng ta nên giết hết 40 triệu thường dân ở Hàn Quốc. Tôi được dạy rằng chúng ta không nên giết hết người dân Hàn Quốc, nhưng nếu họ chống đối chế độ của chúng ta thì chúng ta sẽ giết họ.
Hỏi: Anh đã gặp Lee Chong-guk chưa (người đã đưa ra cảnh báo về chiến tranh hóa học), người đào thoát duy nhất tôi từng gặp mà không đề cập đến bất kỳ vấn đề cá nhân nào như một phần động cơ đào thoát của mình?
Đáp: Hầu hết những người trốn thoát khỏi Triều Tiên là những người không thể chịu đựng được mức sống nghèo khổ ở đó.. Tôi cũng ngạc nhiên về Lee Chong-guk. Liệu có thể đào thoát mà không có lý do không? Trong trường hợp của tôi, nếu bạn hỏi lý do lớn nhất khiến tôi đào thoát, tôi sẽ trả lời: Tiếp xúc với lượng thông tin bên ngoài không giới hạn, tôi nhận ra rằng nếu thống nhất đất nước xảy ra, đó sẽ là sự sụp đổ của Bắc Triều Tiên hoặc bị sáp nhập vào Hàn Quốc. Tôi sẽ mất việc và vì thân phận là gián điệp, bố mẹ tôi sẽ gặp nguy hiểm.
Hỏi: Anh có nghĩ rằng bất kỳ người đào thoát nào cũng là điệp viên kích động không?
Đáp: Tôi không nghĩ vậy. Đó không phải là cách họ cài gián điệp vào Hàn Quốc.
Hỏi: Hãy kể thêm về cuộc sống của một học viên gián điệp.
Đáp: Khẩu phần ăn của chúng tôi khác. Tôi được ăn gạo chất lượng cao, 900 gram mỗi ngày, trứng, sô cô la, bơ, đồ uống. Ở học viện, tôi sống trong một ký túc xá, bốn người một phòng, được trang bị máy lạnh, tivi, đầu video, tủ lạnh. Sau khi tốt nghiệp và trước khi đào thoát, tôi ở trong một chỗ ở có tiêu chuẩn tương tự.
Tôi tốt nghiệp ngày 20 tháng 5 năm 1993, sau đó đào tẩu vào ngày 4 tháng 9. Trong thời gian đó, tôi đã dành một tháng để luyện tập kỹ năng xâm nhập bằng đường thủy, bao gồm bơi lội và lặn biển.
Tháng thứ hai tôi học taekwondo; tháng thứ ba, tôi tham gia khóa huấn luyện thực tế về viễn thông không dây kết hợp với công nghệ NS tại một cơ sở mô phỏng Hàn Quốc.
Một đường hầm lớn, cao 12 mét, rộng 30 mét và dài 8 km, nằm trong cùng khu vực với KJIPMA, chứa một mô hình Seoul thu nhỏ kích thước 100 x 50 mét và, riêng biệt, những mô hình tỷ lệ khoảng 1/4 của một số cơ quan quan trọng hơn. Tôi nhớ đã nhìn thấy Nhà Xanh (Dinh Tổng thống Hàn Quốc), sở cảnh sát, Cơ quan Kế hoạch An ninh Quốc gia, Tòa nhà Kyobo, Khách sạn Shilla, các cửa hàng bách hóa Lotte và Shinsegye, cũng như các quán cà phê nhỏ. Khi bạn đi bộ trên đường phố, bạn cảm nhận như đang ở đó: các vũ trường, xe hơi sản xuất tại Hàn Quốc, các sản phẩm Hàn Quốc bên trong các tòa nhà. Mô hình thu nhỏ của toàn bộ Seoul bao gồm tất cả các tòa nhà quan trọng và lối vào ga tàu điện ngầm. Bên cạnh mỗi tòa nhà là một cuốn sách nhỏ giới thiệu toàn bộ nội thất bên trong.
Trong đường hầm, họ phát sóng tất cả các chương trình truyền hình và phát thanh của Hàn Quốc. Nhiệm vụ của tôi là quan sát và lắng nghe. Ngay cả trong các buổi tập luyện, chúng tôi cũng đeo đài bán dẫn trên thắt lưng và liên tục nghe. Trong đường hầm, bạn nhận được từ 700.000 đến 800.000 won Hàn Quốc trong mười lăm ngày và bạn phải tiêu hết số tiền đó. Đường hầm có nền kinh tế riêng. Bạn sống ở đó mười lăm ngày hoặc một tháng mỗi năm, trong thời gian đó bạn mua các sản phẩm..(Tôi gần như nín thở vì kinh ngạc khi Ahn mô tả cơ sở được thiết kế công phu để huấn luyện gián điệp trong cuộc sống xa hoa trong khi phần lớn dân số còn lại đang đói khổ. Đối với tôi, đó vẫn là một hình ảnh không thể nào quên.)
Tôi đã đến đó ba lần rồi. Cảm giác như đi nghỉ vậy. Nhưng chẳng có cô gái nào trong vũ trường cả. Toàn đàn ông thôi.
Họ hướng dẫn cách các tiếp viên rót đồ uống. Nếu phụ nữ ở trong đường hầm thì sẽ quá giống xã hội Hàn Quốc và sẽ xảy ra rắc rối. Nhưng chúng tôi được hướng dẫn cách giao tiếp với phụ nữ Hàn Quốc.
Việc huấn luyện trong đường hầm nhằm giúp chúng tôi có thể gặp gỡ các điệp viên khác, bắt cóc các quan chức quan trọng, v.v. Có 50 người Hàn Quốc đã bị bắt cóc, đưa về đường hầm để dạy bạn về phong tục và phương ngữ Hàn Quốc. Chính quyền muốn bắt giữ những nhân vật quan trọng, nhưng điều đó khó khăn, vì vậy những người bị bắt cóc chỉ là những công dân bình thường. Một trong số đó là một sinh viên đại học bị bắt cóc khi đang cắm trại trong lều với bạn bè.trong kỳ nghỉ ở khu vực ven biển. Về cơ bản, toàn bộ cuộc diễn tập này nhằm mục đích giúp chúng tôi thích nghi với phong tục của Hàn Quốc trong các nhiệm vụ thời bình ở phía Nam.
Chúng tôi còn được huấn luyện thêm về chiến tranh. Chúng tôi đã thực tập bắt cóc tướng lĩnh từ một chiếc xe đang di chuyển, và từ một tòa nhà mà chúng tôi phải thâm nhập lực lượng an ninh của nó.
Chúng tôi đã học cách phá hủy hệ thống viễn thông của Hàn Quốc, bí mật đột nhập tàu chiến và phá hủy nó, đánh bom một cơ sở. Chúng tôi đã phát triển các loại thuốc nổ hạng nhẹ tiên tiến và nắm được cấu trúc cơ bản của một con tàu, bố cục cầu tàu, vị trí đặt thuốc nổ.
Hỏi: Liệu chính quyền có kế hoạch thống nhất đất nước bằng vũ lực không?
Đáp: Họ luôn ấp ủ giấc mơ thống nhất bằng vũ lực, nhưng hiện tại họ không đủ nguồn lực – họ rất yếu. Vì vậy, họ đang cố gắng tìm những cách khác. Do đó, họ đang nắm giữ con bài hạt nhân và cố gắng đàm phán. Khi nào lấy lại được sức mạnh, họ sẽ lại bắt đầu mơ về giấc mơ của mình. Thống nhất hòa bình chỉ có thể xảy ra khi xã hội tư bản Hàn Quốc đánh bại Triều Tiên. [Nếu một liên bang hoặc liên minh được thành lập] người dân Triều Tiên sẽ bị ảnh hưởng bởi lối sống của miền Nam và sẽ chống lại chế độ miền Bắc. Vì vậy, để duy trì chế độ của mình, họ tin rằng họ phải chiếm lấy Hàn Quốc và loại bỏ các tư tưởng tư bản chủ nghĩa. Họ dạy bạn điều đó.
Hỏi: Giới tinh hoa phải cứu lấy vị thế của mình?
Đáp: Họ không nói như vậy. Họ nói ‘vì nhân dân’. Về cơ bản, họ nói rằng chủ nghĩa xã hội là vì nhân dân trong khi chủ nghĩa tư bản là vì một nhóm thiểu số ưu tú. Họ tuyên truyền bằng cách nói rằng nếu Triều Tiên sáp nhập vào Hàn Quốc, đó sẽ là một thế giới dành cho nhóm thiểu số ưu tú thay vì một xã hội dành cho tất cả mọi người.
Hỏi: Làm sao người ta có thể tin điều đó ở một đất nước mà giới thượng lưu sống sung túc còn người dân sống khổ sở như chó?
Đáp: Người dân Triều Tiên bình thường không biết tình hình thực tế ở Hàn Quốc. Họ đã bị tẩy não. Giờ đây, hầu hết người Triều Tiên đều biết rằng Hàn Quốc giàu có hơn. Đã có rất nhiều thay đổi trong cách suy nghĩ của người dân kể từ khi Đại hội Thanh niên năm 1989 mang lối sống tư bản chủ nghĩa vào đất nước. Nhưng ngay cả khi họ thừa nhận Hàn Quốc giàu có, người dân vẫn tin rằng nếu thống nhất diễn ra, họ phải tịch thu của cải của miền Nam và phân chia cho nhau.
Hỏi: Trong tâm trí người dân Triều Tiên, việc thống nhất đất nước và nguồn cung cấp lương thực gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức nào?
Đáp: Thống nhất không phải là triển vọng duy nhất để có thức ăn ngon, nhưng thực phẩm là một yếu tố trong niềm hy vọng thống nhất của họ.
Hỏi: Mức độ cuồng tín trong số các khóa sinh điệp viên là như thế nào?
Đáp: Tại học viện có khoảng từ 300 đến 400 khóa sinh, mỗi khóa có từ 60 đến 80 học viên. Tôi không có cách nào biết được có bao nhiêu người là cuồng tín. Nhưng không phải tất cả đều như vậy. Và ngay cả những kẻ không cuồng tín cũng chấp nhận lập trường đó vì nhờ thế mới tiến thân. Nếu chế độ Bắc Triều Tiên sụp đổ, nhóm lãnh đạo giúp lật đổ nó hẳn sẽ là những thành viên trong đơn vị thâm nhập Hàn Quốc.
Hỏi: Mọi người có nói như vậy không?
Đáp: Tôi chưa từng nghe thấy lời bàn tán nào như vậy, đó chỉ là ý kiến cá nhân thôi. Ở Triều Tiên có câu tục ngữ: ‘Con chó mà bạn tin tưởng nhất sẽ cắn bạn’. Tôi có nghe câu đó. Những người trong sư đoàn căm ghét Kim Jong-il hơn bất cứ ai khác.
Trước đây, mọi người đều sẵn lòng hy sinh vì nhiệm vụ, vì Kim Jong-il. Nhưng một số chuyện đã xảy ra làm thay đổi điều đó. Năm 1989, ông ta đến thăm bộ phận thâm nhập của Hàn Quốc. Ông ta thích tốc độ. Ông ta leo lên một chiếc thuyền cao tốc ở đó. Và ông ta đã làm nhiều chuyện trụy lạc với bọn phụ nữ mà ông ta đưa đến. Mọi người bàn tán chống lại ông ta – “Tại sao chúng ta lại phải hy sinh vì ông ta?” Tám người đột nhiên biến mất sau khi vệ sĩ của Kim Jong-il tố cáo họ.
Cả trường hợp của Kim Hyon-hui cũng vậy. Cô ấy đã cố gắng hết sức, nhưng khi bị bắt, cha mẹ cô ấy đã bị đưa đến trại cải tạo. Đặc vụ lớn tuổi đã chết trong nhiệm vụ – Kim Sung-il – gia đình y cũng bị tống vào tù. Sau khi chứng kiến điều đó, chúng tôi nghĩ, ‘Cho dù chúng ta làm gì đi nữa, nếu nhiệm vụ của chúng ta bị thế giới biết đến, chúng ta sẽ gặp rắc rối.’ Vì vậy, chúng tôi rất không chắc chắn về tương lai của mình. Ngay cả khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ tốt, nếu hoạt động gián điệp của chúng tôi bị bại lộ, gia đình chúng tôi sẽ bị đưa vào các nhà tù chính trị.
Hỏi: Anh có gặp Kim Jong-il không?
Đáp: Tôi chưa từng gặp ông ấy trực tiếp nhưng đã nhìn thấy ông ta trong quá trình huấn luyện.
Hỏi: Ông ấy có vấn đề gì về phát âm không?
Đáp: Tôi nghe nói ông ấy nói chuyện rất tốt khi nói chuyện riêng, nhưng lại không lịch sự cho lắm. Ông ấy không biết tôn trọng. (Ahn xen vào nói rằng anh ấy ngưỡng mộ “tính khách quan” của tôi. Chế độ không ưa điều đó, anh nói. Họ muốn mọi người hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực. Nếu ai tiêu cực, họ có thể cải tạo y.)
Các quan chức cấp cao ở Triều Tiên đang chuẩn bị sẵn sàng trong trường hợp chế độ sụp đổ. Tất cả người dân thường đều căm ghét giới tinh hoa và ai cũng ghét Kim Jong-il. Người dân thường vẫn tôn sùng Kim Il-sung.
Hỏi: Anh đã trốn thoát bằng cách nào?
Đáp: Tôi đã chạy vượt qua khu phi quân sự (DMZ) vào tỉnh Kyonggi, mang theo hai quả bom để tự sát nếu cần thiết, một khẩu súng trường tấn công AK47 và một khẩu súng lục nhỏ [được lắp ráp với lý do chuẩn bị cho một buổi huấn luyện]. Binh lính Hàn Quốc đã nhìn thấy tôi vượt biên. Tôi hướng đến một trại lính của Hàn Quốc. Không có người Triều Tiên nào nhận thấy tôi rời đi.