Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 8)

Nhà Nguyễn: Gia Long  [14/2/1809-3/2/1810]

Hồ Bạch Thảo

Tháng giêng năm Gia Long thứ 8 [14/2-15/3/1809], thổ phỉ Hải Dương cướp ở tổng Yên Lãng [thuộc huyện Đông Triều], thổ hào Nguyễn Đức Hậu đem dân chống đánh, chém được 9 tên, bắt được tướng giặc tên Sĩ. Tổng Minh Nông thuộc huyện Phù Ninh [Phú Thọ] cũng có thổ phỉ đi cướp bóc, thổ hào là Đinh Đăng Bạch và Đinh Văn Chiêu đem dân đuổi bắt được tướng giặc tên là Đinh đem chém; dư đảng tan hết. Quan Bắc Thành đem sự việc tâu lên; cho Đức Hậu và Đăng Bạch làm Phó tổng, Văn Chiêu làm Cai tổng và thưởng cho dân 500 quan tiền.

Đặt Đê chánh ở Bắc Thành, sai Binh bộ Đặng Trần Thường làm Tổng lý, Tham tri Công bộ là Nguyễn Khắc Thiệu làm Tham lý. Chuẩn định đê điều các trấn thuộc Bắc Thành, cứ tháng 10 hằng năm các quan phủ, huyện, trấn phải lần lượt đến khám; sau đó quan Đê chánh khám lại. Đê nào nên sửa đắp, đều khởi công vào khoảng hai tháng giêng và hai, hạn tới tháng tư thì xong. Quan Đê chánh khám đúng sự thực; Bắc Thành làm sổ, vẽ bản đồ tâu lên.

Tháng 2 [16/3-14/4/1809], tướng giặc ở Kinh Bắc là tên Tri xưng càn là Thống lãnh, tướng giặc ở Hải Dương là Nguyễn Đình Thanh xưng là Trung quân, tướng giặc ở Sơn Nam là tên Nam xưng là Tham mưu, họp đảng ở hai huyện Gia Định [huyện Gia Bình, Bắc Ninh], Lang Tài [Bắc Ninh].Thủ hợp Tả đồn là Nguyễn Đức Trạch sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Đát, Nguyễn Văn Yển, Nguyễn Văn Thế ngầm nhập vào bọn giặc để báo quan quân, bắt được tên Tri, tên Nam và đồ đảng hơn mười người. Việc tâu lên; Vua cho Đức Trạch làm Tri huyện, bọn Văn Đát làm Đội trưởng. Đình Thanh sau ra thú, theo lệ ra thú thì được miễn, nên đặc biệt tha cho.

Tướng giặc ở huyện Tiên Hưng [Thái Bình] trấn Sơn Nam Hạ tên Ngạnh xưng càn là Tiên phong; tên Xuân xưng là Tả dũng, bị quan quân đánh dẹp, lẻn trốn ở xã Tĩnh Xuyên thuộc huyện Thư Trì [huyện Vũ Thư, Thái Bình]. Phủ lại là Lê Quý Tín, thổ hào là bọn Nguyễn Duy Lân, Đào Bùi Kha, dẫn lính phủ đến bắt được tên Xuân và đồ đảng 4 người. Sự việc tâu lên; cho Quý Tín làm Đề lại và bọn Duy Lân làm Xã trưởng.

Đặt 25 lò gạch ngói tại kinh thành, lấy dân Quảng Đức [Thừa Thiên] hơn 700 người làm việc, mỗi tháng cấp cho tiền gạo.

Nước Vạn Tượng sai sứ dâng thư rằng:

Dân ở Trấn Ninh trước theo Chiêu Nội lánh nạn ở đất Trà Lân [huyện Tương Dương, Nghệ An], nay xin chiêu tập trở về”.

 Khi sứ đến Nghệ An, quan trấn không chấp nhận, đem sự việc tâu lên. Vua dụ bầy tôi rằng:

Dân Trấn Ninh xiêu dạt đến đất Trà Lân đã lâu, đã có cách sinh sống, thích ở yên, sao lại còn bắt dời đi? Trấn thần khước đi là phải. Nước Vạn Tượng là nước thần thuộc của ta, theo lệ năm nay phải cống, cống thì không đến mà lại muốn trả lại dân xiêu dạt, thế là ý gì?”

 Bèn sai quan trấn gửi thư hỏi; Vạn Tượng sợ hãi, lại sai sứ đến tạ. Sứ đến, Vua triệu vào yết kiến, hỏi về phong tục chính sự nước ấy; Vua lại hỏi:

Quốc vương người thích cái gì?”.

Sứ giả nói:

 “Thích trống trận”.

Đãi yến rất hậu, khi trở về, lấy hai chiếc trống trận ban cho.

Tháng 3 [15/4-13/5/1809], tướng giặc ở huyện Từ Liêm [Hà Nội] xưng càn là Giám quân, sách nhiễu tiền gạo của dân. Thổ hào xã Minh Tảo [huyện Từ Liêm] là Nguyễn Hữu Châu điều dân đánh bắt giải nộp. Quan Bắc Thành tâu lên; cho Hữu Châu làm Cai tổng, thưởng tiền 300 quan.

Tại Thái Nguyên giặc nổi lên; Vệ úy Đỗ Thiên Thẩm, Phó trưởng chi Đinh Quang Châu đánh giặc ở phố Bắc Linh, chém được 20 tên, rồi đóng quân ở Chợ Chu [huyện Định Hóa, Thái Nguyên]. Bọn giặc xông ra bao vây, Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển đem quân đến cứu. Bọn Thiên Thẩm nghe quân viện đến, mở đồn ra đánh, chém được Tả tướng giặc là Triệu Văn Thanh [người Hoa], Hữu tướng là Nông Á Bính [người Nùng] cùng 82 đồng đảng, bắt sống được 18 tên, thu được khí giới rất nhiều. Việc tâu lên, thưởng cho quân binh 2.000 quan tiền.

Sai Tham tri bộ Lại bộ Nguyễn Hữu Thận sung Chánh sứ sang nhà Thanh tuế cống, cho hai kỳ cống năm Đinh Mão [1807-1808], năm Kỷ Tỵ [1809-1810]; Cai bạ Quảng Bình là Lê Đắc Tần, Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị sung Giáp, Ất Phó sứ; Vua dụ rằng:

Bọn người vâng mệnh đi sứ, từ lệnh phải cẩn thận cho trọng quốc thể”.

Lưu thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Toản ốm được nghỉ việc; lấy Đô thống chế quân Thần sách Phan Tiến Hoàng giữ chức Lưu thủ Quảng Ngãi.

Ngày 14 tháng 3 [28/4/1809], xa giá đi tuần Quảng Trị, sai Nguyễn Văn Khiêm coi giữ Kinh thành. Ngày 15 [29/4/1809], đến Quảng Trị, xem quân dân xây đắp lỵ sở, nhân đó bàn về hình thế; ngày 20 [4/5/1809] trở về kinh.

Đắp đê ở Bắc Thành, Đặng Trần Thường và Nguyễn Khắc Thiệu tâu rằng:

 “Đê thuộc các trấn Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng đều bị sụt lở, nên đắp ba đoạn đê mới khác và đắp thêm hai đoạn đê cũ, xin thuê dân làm. Còn các đoạn khác thế nước chảy không xói lắm có thể chống đỡ được thì bắt dân sở tại ra sức sửa đắp”.

Vua y lời tâu; đắp tại trấn Sơn Tây một đoạn đê mới, từ xã An Lão Thị huyện Yên Lạc [Vĩnh Phúc] đến xã Kim Đà huyện Yên Lãng [Vĩnh Phúc], dài 1.282 trượng 8 thước 4 tấc [1 trượng = 4 mét]; trấn Kinh Bắc, một đoạn từ xã Đông Dư đến xã Kim Quan huyện Gia Lâm dài 637 trượng 8 thước 7 tấc; trấn Sơn Nam thượng, một đoạn từ xã Đội Xuyên đến xã Như Trác huyện Nam Xang [huyện Lý Nhân, Hà Nam], dài 508 trượng 1 thước. Đê cũ ở Sơn Nam thượng, một đoạn ở xã Nho Lâm huyện Kim Động [Hưng Yên] dài 125 trượng, một đoạn xã Quỳnh Trân huyện Duy Tiên [Hà Nam]dài 18 trượng. Tính giá tiền là 87.000 quan.

Tháng 4 [14/5-12/6/1809], chuẩn bị đắp đường quan ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Bình Hòa [Ninh Hòa, Khánh Hòa]. Vua cho rằng đường cũ quanh co xa xôi không tiện, bèn sai Nguyễn Huỳnh Đức và Lê Chất trông coi việc này, dùng dây nắn thẳng lại, sai dân sửa đắp, hoãn bắt lính; chỗ nào mở vào nhà dân và phần mộ thì chi tiền cấp cho, ven đường trồng cây thích hợp.

Đưa quốc trưởng nước Nam Chưởng là Chiêu Ôn  Mãnh sang nhà Thanh. Trước đây Ôn Mãnh mất ngôi, chạy sang đầu thuận trú ngụ ở châu Chiêu Tấn [phủ An Tây, Hưng Hóa].  Khi vua lấy được Bắc Hà; Ôn Mãnh đến hành tại bái yết. Vua cho rằng nhà nước mới định, chưa rỗi tính việc xa xôi, khiến trở về châu Chiêu Tấn, cho được tự do đi lại. Sau Ôn Mãnh cùng với người trong châu là Đèo Quốc Uy có hiềm khích, nhân đêm trốn đi. Châu trưởng sai thuộc hạ là Phìa Trại đi tìm không được, nói dối là Ôn Mãnh đã chết đường rồi. Năm ngoái Ôn Mãnh tới trấn bày kêu; quan Bắc Thành thần dâng biểu xin đưa Ôn Mãnh về Kinh. Vua bàn với bày tôi rằng:

 “Ôn Mãnh theo về ta là muốn mượn thanh thế để lấy lại nước thôi. Làm cho nước mất dấy lên mối đứt nối lại vẫn là lòng nhân của vương giả, nhưng đem quân đi xa, chỗ được không bù chỗ mất. Ôn Mãnh đã từng nhận sắc ấn của nhà Thanh chi bằng ta đưa về nhà Thanh, để cho nhà Thanh mưu tính. Nếu người Thanh nhận thì Ôn Mãnh có chỗ trở về, bằng không nhận thì ta cũng có chỗ nói được.”

 Bèn sai gửi thư cho nhà Thanh, và đưa Ôn Mãnh đến cửa ải Lạng Sơn để chờ. Sau đó nhà Thanh cho rằng Ôn Mãnh không biết tự lập bèn khước từ mà thu lại sắc ấn. Vua lại sai quan Bắc Thành cho Ôn Mãnh ở châu Chiêu Tấn và cho 100 lạng bạc, 200 quan tiền; rồi Ôn Mãnh bị bệnh chết.

Năm ngoái Quách Tất Thúc làm phản, Chánh thống vùng núi Thanh Hóa là Hà Công Thái tâu rằng Quách Tất Thúc và Trịnh Vân trốn xa, xin ủy người đi dò các nơi tìm bắt. Vua dụ rằng:

Xem tờ tâu của người đủ thấy tấm lòng thành khẩn. Duy bọn Quách Tất Thúc đương cùng nên phải trốn lánh, không có nơi nhất định, trẫm đã cho các quan địa phương để ý đề phòng. Ngươi nên  đóng giữ địa hạt mình, đề phòng nghiêm nhặt, không cần ra ngoài địa phận để tìm bắt”.

Hơn một tháng, Tất Thúc sai con là Tất Toại tới Thanh Hóa thú tội, trấn thần gửi thư gọi về, nhưng Tất Thúc dùng dằng, cuối cùng không chịu ra.

Lấy Đông các học sĩ Nguyễn Du [tác giả Truyện Kiều] làm Cai bạ Quảng Bình.

Đưa quan tài Duệ tông Hiếu định Hoàng đế và Mục vương Anh duệ Hoàng thái tử [Đông cung Cảnh] từ Gia Định về; Vua ra lệnh đến Quảng Nam rước. Sai bọn Phạm Văn Nhân, Trần Văn Trạc, Lê Quang Định đi trước; mang chiếu dụ dân ở Quảng Nam rằng:

Quảng Nam sát gần Kinh sư triều đình lấy làm quận chân tay. Từ khi lấy lại đến nay, lễ thăm địa phương còn thiếu, sự tình u ẩn hà dễ nhất nhất rõ hết! Nay Tử cung Duệ tông Hiếu định hoàng đế chở từ Gia Định về, trẫm thân hành đem bầy tôi đi đón. Đặc sai các đại thần đi trước, nhân dân địa phương ai có sự gì oan khuất, làm đơn kêu sẽ do đại thần duyệt tâu để rõ ẩn tình của dân. Ngày xa giá đến, quan quân dân chúng không được tiến dâng gì cả”.

Ngày 21 [3/6/1809] xa giá khởi hành từ Kinh sư; ngày 25 [7/6/1809] đến Quảng Nam. Vua đem bầy tôi đón quan tài Duệ Tông Hiếu định hoàng đế ở cửa biển Đại áp [huyện Núi Thành, Quảng Nam], sáng và tối Vua đích thân làm lễ.

Ngày mồng 3 tháng 5  [15/6/1809], quan tài đến Kinh sư. Dựng điện ở bến sông Hương, đặt quan tài ở đó, sai Tôn Thất Bính sớm hôm làm lễ tại điện.

Tháng 6 [13/7-10/8/1809], trước ngày an táng vua nghỉ chầu bảy ngày; bố cáo trong ngoài, cấm xử xét việc hình án và cấm âm nhạc, hát xướng, mặc áo màu đỏ màu tía, và cưới xin trong bảy ngày.

Ngày 11 [23/7/1809] an táng, Vua thân làm lễ; để mộ Duệ Tông  ở Long Hồ [huyện Hương Trà, Thừa Thiên], mộ Anh duệ hoàng thái tử ở Dương Xuân [huyện Hương Thủy, Thừa Thiên].

Bọn Tống Phước Ngoạn, Phạm Nhữ Phong, Mạc Tử Thiêm từ nước Xiêm về; người Xiêm đưa thư  nói rằng nước ấy cùng Diến Điện đánh nhau, xin giúp cho 3 vạn quân thủy và quân bộ, quân bộ tiến từ Ai Lao, quân thủy từ Hải Tây đến. Vua triệu bầy tôi bàn, dụ rằng:

Nước Xiêm cùng nước ta giao hiếu với nhau, nghĩa không thể không cứu được. Nhưng quân bộ đi theo thượng đạo, nghìn khe muôn núi, lặn trèo khó nhọc, ta không nỡ xua quân trong nước để phục dịch cho người phương xa. Thủy quân ta vốn đã tập quen, nếu dùng đường biển thì tiện. Đường biển có hai lối: một lối đi từ Lục Khôn Xa Gia Lục để hội với quân Xiêm thì chứa lương đóng quân nên ở chỗ nào? Một lối qua hải đảo các nước Chà Và [Java] Hồng Mao [Singapore, Anh] thẳng tới nước Diến Điện thì phải mượn đường ở người, nên nói thế nào? Phàm muôn dặm dấy quân là việc lớn của nước, phải nên xem xét kỹ càng, rồi sau mới có thể hành động được. Nay thư  của người Xiêm nhiều chỗ không rõ ràng. Vậy hạ lệnh cho bộ Lại viết thư hỏi xem. Trước hãy đem quân Kinh sư đến đóng ở Gia Định cho đông để chờ”.

Sai Đô thống chế quân Thần sách là Trần Văn Năng quản 1.000 binh năm dinh, Đô thống chế lãnh phó tướng quân Chấn võ là Trần Văn Tín quản 400 lính vệ Chấn bảo, đi thú ở Gia Định, theo Gia Định thành điều độ. Bọn Văn Năng đến nơi, Xiêm La lại phục thư nói rằng quân Diến Điện đã bãi rồi, nên không cần phát quân nữa. Rồi hạ lệnh lưu Văn Tín ở lại thành, triệu Văn Năng đem quân về.

Quan Bắc Thành tâu:

Đảng giặc ở các trấn trốn tránh còn nhiều, xin cho gia hạn ra thú”.

Chiếu Vua báo rằng:

Năm ngoái giặc cướp nổi lên, đã bị quan quân đánh dẹp. Sợ tội trốn lánh, nhiều người đến nỗi mất làm ăn, trẫm rất thương tình, cho nên phàm tướng giặc đảng giặc nếu biết thực tình ra thú thì đều tha tội để chúng đổi dữ theo lành, cùng nhau ở yên làng mạc. Nay gia hạn cho 3 tháng nữa, để kẻ nhầm nhỡ đều được tự đổi mới. Duy kẻ nào phạm ăn cướp án mạng thì không được tha”.

Sai Thị trung học sĩ Võ Trinh làm Chánh sứ sang nhà Thanh chúc mừng Khánh tiết ngũ tuần của vua Gia Khánh. Thiêm sự bộ Binh Nguyễn Đình Chất, Thiêm sự bộ Công Nguyễn Văn Thịnh sung Giáp, Ất phó sứ; phẩm vật: ngà voi 2 đôi, sừng tê 4 tòa; trừu, the, lụa, vải đều 100 tấm.

Bọn giặc Thái Nguyên lẩn trốn ở châu Định Hóa. Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển sai quân binh trong trấn cùng với dân huyện Phú Lương đón bắt tại các đường trọng yếu; chém được tướng giặc tên là Đoài và đồ đảng hơn ba chục thủ cấp, bắt sống hơn hai chục tên. Thưởng cho quân và dân 400 quan tiền.

Vào tháng 4 [14/5-12/6/1809], Tổng trấn Bắc Thành được lệnh gửi thư cho nhà Thanh về sự tình viên cựu Quốc vương nước Nam Chướng Triệu Ôn Mãnh, và đưa viên này đến cửa ải Lạng Sơn để chờ lệnh. Vào tháng 6, Vua Gia Khánh nhận lời tâu, vẫn ra lệnh cho Quốc vương Việt Nam cho Triệu Ôn Mãnh tạm lưu tại nước này cư trú:

Ngày 18 Ðinh Mùi tháng 6 năm Gia Khánh thứ 14 [30/7/1809]. Dụ các Quân cơ đại thần:

Căn cứ vào lời tâu của bọn Bách Linh rằng

‘ Tiếp nhận 1 kiện công văn gồm  tờ biểu của Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh do phủ Thái Bình gửi đến, cùng tờ trình của Ân Trường; nội dung Quốc vương nước Nam Chướng Triệu Ôn Mãnh sau khi được sắc phong vào năm Càn Long thứ 60 [1795], bị người bác là Triệu Xà Vinh chiếm cứ, không dám trở về nước, ôm sắc ấn lưu ngụ tại châu Chiêu Tấn, Việt Nam hơn 10 năm. Ðến năm Gia Khánh thứ 12, Triệu Ôn Mãnh tự đến trấn Hưng Hóa tố cáo, viên Quốc vương cho rằng không dám lưu giữ sắc ấn, sai Ủy viên mang đến; lại đem Triệu Ôn Mãnh cùng gia quyến đến quan ải Lạng Sơn đợi chiếu chỉ.’

 Bách Linh sau khi nhận được biểu văn, cùng sao phụng gửi sắc ấn, cho rằng sự việc trải qua nhiều năm, không tiện đem sắc ấn hoàn lại và cho y trở về nước. Có hay không đem nguyên sắc ấn đến kinh đô, vẫn thông sức cho Triệu Ôn Mãnh tại  nước Việt Nam tạm trú, xin chiếu chỉ định đoạt.

Ðáng làm như vậy; Triệu Ôn Mãnh sau khi được sắc phong làm Quốc vương Nam Chướng vào năm Càn Long thứ 60, tại sao lại bôn ba tại ngoại trên 10 năm nay; nước này vào năm Gia Khánh thứ 5, thứ 10; hai lần sai sứ tiến cống; còn đủ ấn tín biểu văn có thể tra hạch. Còn ấn tín vào năm Càn Long thứ 60, hiện đang giao cho bộ tra kỹ; sau khi tra rõ sẽ cho hạch hỏi để liệu biện. Nay truyền dụ cho Bách Linh lập tức đem sắc ấn đến kinh đô gấp, một mặt thông tri cho Nguyễn Phúc Ánh rằng, việc này đã được tâu rõ lên đại Hoàng đế, sẽ được ban thưởng thêm. Vẫn ra lệnh viên Quốc vương cho Triệu Ôn Mãnh tạm lưu tại nước này cư trú, những vật dâng tống tại quan ải trong đó có sắc ấn hiện tuân chỉ gửi lên kinh đô; chờ sau khi đến kinh đô đại Hoàng đế sẽ giáng chỉ dụ. Hãy thông tri cho viên Quốc vương rõ một lần nữa. Ðem dụ này truyền để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 214, trang 11-12)

Tháng 7 [11/8-9/91809], miễn thuế thân cho dân xứ Phú Quốc.

Ba huyện tại Quảng Trị thường có nạn cọp; lấy hơn 200 người dân các xã Phù Bài và Thủy Ba [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị] đi bắt cọp, thưởng 100 quan tiền.

65 chiếc thuyền vận tải của Bắc Thành gặp gió ở ngoài biển Nghệ An, thủ ngự cửa Luật Hải [cửa Sót, Hà Tĩnh] lấy thuyền đánh cá của dân đưa dẫn vào cửa biển; thưởng cho hơn 200 quan tiền.

Tháng 8 [10/9-8/10/1809], đặt ống thông hơi bằng tre cho kho lúa ở Kinh. Vì kho chứa nhiều thóc bị mốc mục và mọc mộng, bèn sai làm ống tre đặt ở các kho cho lúa có lỗ thông, khỏi bị mốc vì hấp hơi.

Định điều lệ riêng về ngạch thuế cho thuyền buôn Hà Tiên, Xiêm La, Hạ Châu [Singapore].

Tháng 9 [9/10-7/11/1809], Bắc Thành bị gió bão, nước biển tràn lên. Hải Dương, Yên Quảng và Sơn Nam Hạ nặng nhất, nhân dân bị hại nhiều. Quan Bắc Thành tâu lên, và xin sai người đến khám để bàn việc chẩn cấp; chiếu trả lời rằng:

Dân đương mắc nạn đói, không thể trông nhờ vào đâu, nếu đợi khám rồi mới chẩn cấp thì làm sao cứu được cái nạn cần kíp như lửa đốt lông mày”.

Bèn hạ lệnh cho Phạm Như Đăng đi Sơn Nam hạ, Đặng Trần Thường đi Hải Dương, Yên Quảng, theo tại nạn nặng nhẹ, khiến quan trấn sở tại phát ngay thóc mà chẩn cấp.

Vào tháng tháng 6 [13/7-10/8/1809], phái đoàn do Võ Trinh làm Chánh sứ khởi hành sang Trung Quốc chúc mừng khánh tiết ngũ tuần của vua Gia Khánh; tháng 9 tới Bắc Kinh, cùng với Sứ thần Triều Tiên làm lễ chiêm cận tại cửa Tây Trực:

Ngày 28 tháng 9 năm Gia Khánh thứ 14 [5/11/1809]

Sứ thần nước Triều Tiên là là bọn Hàn Dụng Qui 3 người, Sứ thần Việt Nam là bọn Vũ Trinh 24 người, chiêm cận tại cửa Tây Trực.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 218, trang 33)

Đến tháng 10, phái đoàn thực hiện nghi lễ dâng biểu mừng vạn thọ cùng tiến cống sản vật địa phương:

Ngày 4 tháng 10 năm Gia Khánh thứ 14 [11/11/1809]

Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh dâng biểu mừng vạn thọ cùng tiến cống sản vật địa phương. Ban thưởng và yến tiệc như thông lệ.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 219, trang 3)

Trước khi phái đoàn trở về, nhà Thanh kiểm soát lần chót về đồ vật ban thưởng cho nước Việt Nam, thấy không phù hợp với đơn cấp. Sự việc tâu lên, Vua Gia Khánh ban chiếu chỉ rằng những đồ vật ban thưởng phải theo đúng đơn cấp; nếu trong kho không có đủ thì phải tâu lên rõ ràng, để sửa lại sắc thư cho đúng:

Ngày 27  tháng 10 năm Gia Khánh thứ 14 [4/12/1909]

Bộ Lễ tâu đồ vật ban thưởng cho nước Việt Nam, cùng với đơn cấp không phù hợp. Nhận được chiếu chỉ rằng những đồ vật ban thưởng cho nước Việt Nam phải theo đúng đơn cấp; nếu trong kho không có đủ thì phải tâu lên rõ ràng để sửa lại sắc thư cho đúng. Nay phủ nội vụ đem việc đồ ban thưởng không đủ ung dung thông qua, khiến cho sắc thư và đồ vật thưởng không phù hợp, lo liệu công việc sơ suất, trái với chính thể. Nay đã ra lệnh tra hạch liệu biện những đồ thưởng; các quan trong phủ nội vụ, trừ Trưng Thụy, Thường Phúc không liên quan đến việc này không cần bàn xét; còn bọn Tô Lăng Ngạch, Anh Hòa, Ha Minh Ha, Hòa Thế Thái đều giao bộ bàn xử.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 219, trang 35)

Tháng 10 [8/11-6/12/1809], hạ lệnh cho Tuyên úy đại sứ Tuyên Quang là Ma Sĩ Trạch đem 150 người lính hiệu Hùng nhị đóng giữ bảo Tụ Long [ đất hiện nay giáp với tỉnh Hà Giang, đã cắt cho nhà Thanh bởi Hiệp ước Pháp Thanh năm 1887].

Người Vĩnh Thanh [Vĩnh Long] tên là Sâm tự xưng là Chánh trấn Hậu Giang đại tướng quân, làm ấn tín ngụy, đòi dân giàu phải đưa của cải; việc phát giác, bắt giết.

Tháng 11 [7/12/1809-4/1/1810], Tham hiệp Cao Bằng là Võ Văn Chiêu tiêu hụt tiền công 2.600 quan, thu riêng bạc thuế ba năm của sách dân thiểu số hơn 500 lạng. Việc phát giác, bị giết, tịch thu gia sản. Lấy Tri phủ Thượng Hồng là Bùi Văn Bình làm Tham hiệp Cao Bằng.

Lấy Thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định làm Thượng thư bộ Hộ, cải thụ Lại bộ Trần Văn Trạc làm Thượng thư  bộ Lại, Lễ bộ Đặng Đức Siêu làm Thượng thư bộ Lễ, Binh bộ Đặng Trần Thường làm Thượng thư bộ Binh, Hình bộ Nguyễn Tử Châu làm Thượng thư bộ Hình bộ, Công bộ Trần Văn Thái làm Thượng thư bộ Công. Sáu bộ đặt chức Thượng thư bắt đầu từ đấy.

Tháng chạp [5/1-3/2/1810] Trấn thủ Hà Tiên là Chưởng cơ Mạc Tử Thiêm chết. Hà Tiên, từ khi Mạc Cửu hiến đất tới nay, triều đình vẫn nhớ đến người cũ có công nên cho con cháu đời đời được tập chức Trấn thủ. Đến khi Tử Thiêm chết, con là Công Thế, Công Tài còn nhỏ; cháu con chú bác là Công Du bị nghị tội, vì Công Du đem vợ lẽ của Đô thống chế Phạm Văn Triệu bán cho người Xiêm. Bèn sai Cai đội Ngô Y Nghiễm và Tham luận Lê Tiến Giảng quyền lãnh việc trấn, ban ấm thụ (1) cho bọn Công Thế làm Cai đội để giữ việc thờ tự họ Mạc, cấp cho mộ phu 53 người. Hạ lệnh cho Tổng trấn thành Gia Định đem việc ấy báo cho nước Xiêm biết. Vua Xiêm viết thư trả lời:

Cha con Mạc Thiên Tứ có công to ở Hà Tiên, xin rộng tha tội cho Công Du để cho tập chức”.

 Vua lại sai Lại bộ làm thư trả lời rằng:

 “Hà Tiên vốn là bờ cõi của triều đình, từ các vua trước của ta dựng cờ trấn tiết, cha con Mạc Thiên Tứ đều hay giữ tròn chức vụ nên trao chức cho, chứ đấy không phải là khuê điền thái ấp (2), không thể viện làm thế nghiệp được. Huống chi đất ấy liền núi sát biển, từ khi nổi binh thì dân chúng cảnh vật tiêu điều, vỗ về yên ủi chính là việc cần kíp hiện nay. Công Du nếu có tài thì không cứ phải là dòng dõi Thiên Tứ, cũng nên trao cho trấn chức; nhưng vì tài kém tuổi ít, chưa thể làm nổi, nên mới không cho, không phải là tiếc đâu. Nhớ công mà tập ấm cho một người là việc nhỏ mà nhà nước đặt quan vì dân là việc to. Lệnh đã ban ra là phải làm, lý không thể kéo lại được. Xin vua nghĩ xem”.

Vua Xiêm nhận được thư bèn thôi.

Các tù trưởng ở tám sách Man [dân tộc thiểu số] thuộc Bình Thuận gồm: sách Kiều, sách Dương, sách Lân, La Thế, Ba Lang, Hà Lung, Ba ác, La Dao đến trấn dâng một cặp ngà voi, nhân nói các Man ở xa lánh chốn núi sâu, trước không phải nộp thuế, nay xa thấm đức hóa của Vua, đem nhau quy thuận, xin mỗi năm nộp 2 con trâu để làm ngạch thuế. Lưu thủ Phan Tiến Quý cấp áo quần, muối gạo để vỗ về. Bọn tù trưởng đều mừng, xin chiêu dụ các Man đến quy thuận.

Vét đường kênh Vịnh Giang [kênh từ sông Lam qua chợ Vinh] ở Nghệ An. Hiệp trấn Ngô Đình Siêu vào chầu, đem bản đồ dâng lên, sai dùng dân mà đào vét.

Nước Xiêm La bị nước Diến Điện đánh, trưng 5.000 quân ở Chân Lạp. Nặc Chăn sai em đem quân đi và sai Triệu Bồn Nha đến báo tin cho thành Gia Định biết. Quan tại thành  đem sự việc tâu lên; sai dò hỏi việc binh của Xiêm, tâu ngay cho biết.

Phật vương mới của nước Xiêm La sai bề tôi bọn Phi Nhã Sĩ Xú Ly Giá Ba Ha đến dâng sản vật địa phương cáo tang Phật vương trước. Vua thứ hai nước Xiêm mới được nhà Thanh phong, cũng đem phẩm vật đến tiến. Khi sứ đến Gia Định, quan tại thành thấy trong thư nói nhiều chỗ khoa trương, bèn làm mật sớ tâu lên; Vua nói:

Người Xiêm không có văn tự, đấy đều là lỗi của người Đường (3) múa bút thôi, không đủ trách”.

Rồi sai đưa sứ giả về Kinh, hỏi về tình trạng đánh nhau với Diến Điện. Sứ giả đem sự thực nói; ở vài ngày, hậu đãi rồi cho về.

Sai Tống Phước Ngoạn, Phạm Cảnh Giảng, Dương Văn Châu, Võ Doãn Thiếp sung làm Chánh, Phó sứ hai sứ bộ sang Xiêm. Phúng Phật vương trước: đường phổi, đường phèn đều 1.000 cân, đường cát 1.500 cân, sáp ong 500 cân, lụa trắng, vải trắng mỗi thứ 100 tấm; tặng Phật vương mới: kỳ nam 2 cân, nhục quế 3 cân, lụa 100 tấm, the màu 200 tấm, sa màu 100 tấm, vải trắng nhỏ 100 tấm; cho vua thứ hai mới: kỳ nam 1 cân, nhục quế 1 cân 8 lạng, lụa 50 tấm, the màu 100 tấm, sa màu, vải trắng đều 50 tấm.  Lúc sứ giả về; Xiêm La gửi thư cảm tạ.

Tha giảm tô thuế ruộng vụ mùa năm nay cho năm trấn nội ở Bắc Thành. Chiếu rằng:

Có ruộng thì có tô là đạo thường của nhà nước, nhưng có vùng lụt hạn, nên lượng gia khoan giảm. Nay vụ mùa ở các trấn nơi thì nắng hạn lâu ngày, nơi thì gió bão nước mặn, lúa má tổn hại, đã soi xét rõ, rất là đáng thương. Vậy hạ lệnh cho bộ Hộ chiếu ruộng vụ mùa, phàm 10 phần tổn hại 4 phần thì giảm cho 1 phần, tổn hại 5 phần thì giảm cho 3 phần, tổn hại 6 phần thì giảm cho 5 phần, tổn hại 7 phần trở lên thì cho miễn cả. Đến như ruộng cấy hai mùa, nửa nộp về mùa thu cũng tính 10 phần làm suất, chiếu số mà thu giảm”.

 

 

 

Chú thích:

1.Ấm thụ: còn gọi là tập ấm là chức tước ban cho do cha, ông có công.

2.Khuê điền thái ấp: Ruộng ấp cấp cho chư hầu.

3.Người Đường: Chỉ người Trung Quốc làm quan tại nước Xiêm La.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này