Chiến tranh Falkland giữa Argentina và Anh

HMS-Conqueror-Falklands-War

Hà Khánh (tổng hợp)

Chiến tranh Falkland (Malvinas) là một cuộc chiến diễn ra năm 1982 giữa Argentina và Vương quốc Anh nhằm tranh chấp quần đảo Falkland và quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich. Quần đảo Falkland bao gồm hai đảo lớn và rất nhiều đảo nhỏ nằm ở phía đông Argentina; tên và chủ quyền hòn đảo từ lâu đã bị Argentina tranh chấp dù cư dân trên quần đảo Falkland đa số là người Anh.

Năm 1982, chính quyền độc tài quân sự Argentina gặp khủng hoảng trong việc giải quyết khó khăn kinh tế và làn sóng chống đối lan rộng. Vì thế, Đô đốc Jorge Ayana, một nhân vật cấp cao trong hội đồng quân sự cầm quyền, đề xuất đánh lạc hướng dư luận trong nước bằng chiến dịch chiếm lại Falkland.

Chiến tranh Falkland bắt đầu ngày thứ Sáu, 2 tháng 4 năm 1982, với việc Argentina xâm chiếm và chiếm đóng quần đảo Falkland và Nam Georgia. Anh Quốc đã điều một đội đặc nhiệm nhằm đấu lại với Hải quân và Không quân Argentina và dành lại quần đảo bằng một cuộc đổ bộ. Cuộc chiến chấm dứt khi Argentina đầu hàng vào 14 tháng 6 năm 1982 và quần đảo vẫn thuộc quyền kiểm soát của Anh.

Cuộc chiến kéo dài 74 ngày, đã dẫn đến cái chết của 257 chiến sĩ Anh và 649 chiến sĩ, thủy thủ, phi công Argentina cũng như 3 dân thường đảo Falkland. Trong khi Argentina chiến đấu rất gần với các căn cứ hậu cần ngay trên lãnh thổ của mình thì nước Anh rất bất lợi do phải vượt qua khoảng cách mười mấy ngàn km để tới tham chiến tai Falkland

Nguồn gốc tranh chấp và nguyên nhân chiến tranh

Malvinas-Falkland là quần đảo nằm ở Nam Đại Tây Dương, có diện tích 12 173 cây số vuông, cách bờ biển Argentina chỉ có 483 km nhưng cách nước Anh tới 12 734 km, dân số chỉ có 2841 người (2012). Ngoài những hoạt động truyền thống về khai thác than, đánh bắt cá, cảng biển, những giếng dầu phong phú trong vùng là tài nguyên to lớn không chỉ giúp phát triển kinh tế cho người dân trên đảo mà còn cho cả nước Anh. Ước đoán trữ lượng của khu vực lên tới 3,5 tỷ thùng dầu và trị giá khoảng 35 tỷ USD.

Nguyên thủy, đó là những hòn đảo hoang vắng, người Patagonian Indians đã đến đầu tiên bằng những chiếc xuồng (canoe). Vì nằm trên vị trí có nhiều tàu bè qua lại nên các hòn đảo này đã bị chiếm đóng bởi Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Argentina.

Năm 1501, nhà mạo hiểm Tây Ban Nha, Amerigo Vespucci khi du hành vòng quanh vùng Nam Đại Tây Dương, đã quan sát các hải đảo này, nhưng ông ta không đặt tên cho chúng. Năm 1520, các thủy thủ của đoàn thám hiểm Magallan gọi các đảo đó là “Islas de Sansón y de los Patos” (“Islands of Samson and the Ducks”).

Năm 1690, thuyền trưởng người Anh, John Strong đã đến 1 eo biển nằm giữa các hòn đảo chính và đặt tên là “Falkland Sound”.

Năm 1764, nhà thám hiểm Pháp, Đô đốc Louis Antoine de Bougainville đã chiếm làm thuộc địa đầu tiên, đặt tên là  Port St. Louis, ông là người Pháp đầu tiên đi vòng quanh thế giới trong thế kỷ 18.

Năm 1765, John Byron, người Anh, không biết sự hiện diện của Pháp nên đã khai thác phía tây của quần đảo, chiếm làm thuộc địa năm 1766 và đặt tên là  Port Egmont.

Năm 1767, Pháp đã bán các quần đảo thuộc địa choTây Ban Nha với giá 603000 livres. Bougainville dùng số tiền đó để sửa chữa tàu và mua đồ dự phòng cho chuyến du hành vòng quanh thế giới.

Năm 1770, Tây Ban Nha đã dùng vũ lực tấn công Port Egmont, trục xuất cư dân Anh ra khỏi đảo. Việc này đã  đưa 2 nước đến bên cạnh hố chiến tranh. Nhưng sau đó, Anh trở lại  nhờ 1 hiệp ước hòa  bình.

Năm 1774, vì  áp lực kinh tế do bởi Chiến tranh Độc lập của Mỹ (1775-1783),  Anh đơn phương quyết định rút khỏi các thuộc địa. Từ đó Tây Ban Nha bảo quản nhưng sau đó bỏ đi vào năm 1811.

Năm 1828, Argentina thành lập thuộc địa dùng làm nơi giam giữ tội nhân.Tháng 11 năm 1832 các tù nhân và hải tặc đã nổi loạn giết chết Thống đốc.

háng giêng năm 1833, lực lượng Anh trở lại, đưa dân của mình vào sinh sống và chiếm lấy làm căn cứ hải quân cho Hoàng gia Anh, sau đó biến thành 1 căn cứ chiến lược quan trong  của Anh trong suốt 2 cuộc Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến.

Khi Anh trở lại, tại quốc hội Argentina, trưởng đảng Federal, ông Manuel Moreno đã đứng ra phản đối việc tái chiếm đóng của Anh. Từ đó trở đi cho đến năm 1849 việc tranh giành chủ quyền trở thành đề tài gây tranh cãi hàng năm trong quốc hội Argentina giữa 2 phái ôn hòa và hiếu chiến. Chính phủ Anh đã từ chối kháng nghị đầu tiên và làm ngơ không trả lời gì về các kháng nghị sau đó của chính phủ Argentina.

Vào năm 1850,  một hiệp định thuộc địa, hay còn gọi là hiệp ước Arana-Southern, đồng ý khôi phục mối quan hệ hữu nghị giữa 2 nước, tuy không đề cập đến chủ quyền của các hải đảo nhưng trong bản đồ tài trợ (Sponsored map) chính thức có ghi nước Argentina bao gồm những hải đảo Mavinas/Falkland. Nhờ đó chính phủ Argentina đã không gởi thêm những kháng nghị nữa cho tới năm 1885.

Năm 1888, Argentina  đưa ra đề nghị về chủ đề “trọng tài phân xử “ nhưng chính quyền Anh từ chối ngay. Khác với cuộc phản kháng của năm 1885, chính phủ Anh đã không thụ nhận bất cứ kháng nghị nào của Argentina nữa trong suốt thập niên 1940. Mặc dù các chính phủ kế tiếp của Argentina đều chính thức trình kháng nghị đến Vương quốc Anh.  Chính phủ Argentina khai rằng đã gởi tất cà 27 kháng nghị cho chính phủ Anh và các cơ quan quốc tế nhưng không xác định rõ thời gian. Theo luật quốc tế , nếu giữa các kháng nghị có 1 khoảng gián đoạn 50 năm hoặc nhiều hơn thì những đòi hỏi lãnh thổ trở nên vô hiệu.

Sau Thế chiến thứ hai, đế quốc Anh suy yếu, các thuộc địa ở châu Á, châu Phi và vùng Caribbean giành lại được độc lập. Argentina nhận thấy đây là một cơ hội tốt để giành lại chủ quyền trên các quần đảo nên đã nêu rõ yêu sách của mình sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1945. Anh đề nghị đưa vụ tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế ở The Hague (vào năm 1947,  1948  và 1955 ) để tìm sự giàn xếp. Thế nhưng, trên mỗi cơ hội đó Argentina đều từ chối.

Năm 1964, Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết kêu gọi Anh và Argentina tiến hành các cuộc đàm phán hầu tìm kiếm một giải pháp hòa bình về vấn đề chủ quyền mà nó “mang ý nghĩa tinh thần “ (bearing in mind) cho các quy định và mục tiêu của nghị quyết 1514 (XV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc và lợi ích của người dân sống trên quần đảo Malvinas/Falkland.

Một loạt các cuộc đàm phán giữa hai nước đã diễn ra trong suốt 17 năm tiếp theo cho đến năm 1981, nhưng cũng không đạt được một thỏa thuận nào về chủ quyền. Mặc dù đã có một số thành công trong việc thiết lập các quan hệ kinh tế và vận chuyển giữa các đảo và Argentina.

Sau khi ký kết thỏa thuận truyền thông, ngày 03 / 7/ 1971 Không quân Argentina đã phá hũy sự cô lập các đảo bằng cách mở đường hàng không với một chuyến bay đổ bộ từ Comodoro Rivadavia. Năm 1972,  Anh đồng ý cho phép Argentina xây dựng một đường băng tạm thời gần thủ đô Stanley theo yêu cầu của phía Argentina. Ngày 15/ 11/ 1972 một đường băng tạm thời đã được khánh thành với sự xuất hiện đầu tiên của 1 máy bay chở hành khách Fokker F-27, có 2 chuyến bay trong 1 tuần. Các chuyến bay được nâng cấp vào năm 1978 bởi Fokker F-28 (máy bay phản lực) nhờ một sân bay cố định do chính phủ Anh tài trợ. Đường hàng không này là phương tiện duy nhất để liên lạc giữa các đảo với nhau. được duy trì cho đến khi xảy ra chiến tranh giữa 2 nước vào năm 1982. Công ty dầu khí YPF của Argentina thường xuyên chịu trách nhiệm cung cấp năng lượng cho các hòn đảo này.

Trong khi đó, tại quốc hội Anh, chính phủ Anh hạn chế những vận động hành lang về việc trao trả chủ quyền lại cho Argentina. Bất kỳ biện pháp nào của Bộ Ngoại giao đề xuất về vấn đề chủ quyền đều bị kịch liệt lên án bởi 1 số người dân trên đảo (những người muốn ở lại với nước Anh). Vì thế chính phủ Anh duy trì vị trí tùy theo quyền tự quyết của ngưởi dân trên đảo. Thế nhưng Argentina thì không công nhận quyền tự quyết đó. Vì thế những cuộc đàm phán về vấn đề chủ quyền lại đi đến bế tắc.

Năm 1976, Argentina đưa 1 đội thám hiểm tới Nam Thule, một hòn đảo trong quần đảo Nam Sandwich mà tại thời điểm đó là một phần phụ thuộc quần đảo Falkland. Việc đổ bộ này đã được báo cáo về Anh vào năm 1978 nhưng chính phủ Anh tuyên bố bác bỏ ý định gửi một lực lượng Hải quân Hoàng gia đến để tháo dỡ các cơ sở Corbeta Uruguay của Argentina.

Vào năm 1977 đã xảy ra 1 cuộc đối đầu nghiêm trọng hơn khi Hải quân Argentina ngưng cung cấp nhiên liệu cho Sân bay Port Stanley và tuyên bố từ chối yêu cầu treo cờ Red Ensign của Anh khi bay vào vùng biển Malvinas. (Red Ensign hay Red Duster là lá cờ của hải quân Hoàng gia Anh). Anh cho rằng theo truyền thống, những chiếc tàu của nước ngoài khi đi vào vùng biển của một quốc gia khác phải treo cờ hàng hải của nước đó theo đúng trách nhiệm của mình. Chính phủ Anh nghi ngờ Argentina sẽ gởi thêm 1 đội thám hiểm nữa tới miền Nam Thule, nên Thủ tướng Anh lúc bấy giờ, James Callaghan đã ra lệnh cho một tàu ngầm hạt nhân ( HMS Dreadnought) và 2 tàu khu trục (Alacrity và Phoebe ) tới Nam Đại Tây Dương, với vai trò chuẩn bị giao chiến nếu xảy ra một cuộc đụng độ với hải quân Argentina. Anh đã có dự định thiết lập một vùng ngăn chận xung quanh các đảo , Sự kiện này đã được giữ bí mật cho đến khi xảy ra những cuộc tranh luận ở quốc hội Anh trong lúc chiến tranh với Argentina bùng nổ vào năm 1982.

Năm 1982, Argentina rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng với những náo động trong dân chúng chống lại sự đàn áp của chính quyền quân sự độc tài. Ngày 19/3/1982, Argentina đưa 60 công nhân lên hòn đảo Nam Georgia (thuộc quần đảo Falkland). Họ tháo dỡ một trại săn cá voi bỏ hoang, sau đó dựng ngọn quốc kỳ của Argentina, chính thức thách thức chủ quyền với Anh. Chính phủ Anh công kích việc chiếm đóng phi pháp của Argentina và yêu cầu rút lui. Vào ngày 2 tháng 4 năm 1982, Tổng tư lệnh hải quân Argentina, Jorge Anaya đã kết hợp với lực lượng bộ binh, đưa 8000 quân lính và 20 chiến xa đổ bộ lên quần đảo Falkland, nắm quyền kiểm soát, lấy lý do là vì họ đã dành được độc lập, thoát khỏi nền cai trị của Tây Ban Nha từ năm 1816 và Tây Ban Nha đã để lại các quần đảo đó cho họ.

Chính phủ Anh lập tức cắt đứt quan hệ với Argentina và ra sắc lệnh trả đũa. Thủ tướng Anh đương thời là bà Margaret Thatcher (mệnh danh là Iron lady) đã ra lệnh cho 27 000 lính và 100 tầu chiến bao gồm tàu sân bay, tàu khu trục, tàu ngầm,… xuất trận.

Ngày 3 /4 /1982 Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết 502, yêu cầu quân đội Argentina rút ra khỏi quần đảo và 2 bên phải đi tìm 1 giải pháp ngoại giao. Nghị quyết 502 này được thông qua nhờ có 10 phiếu ủng hộ, 1 phiếu chống (Panama) và 4 nước không tham gia bỏ phiếu (Trung Quốc, Liên Xô, Ba Lan và Tây Ban Nha). Một nghị quyết khác kêu gọi ngưng chiến nhưng đã bị Mỹ và Anh từ chối. Cộng đồng Âu châu lên án sự xâm lược và dùng hình phạt kinh tế đối với Argentina. Mặc dù có 1 vài nước trong EC bảo lưu ý kiến về chính sách của Anh. Đan Mạch và Ái Nhĩ Lan là 2 nước không hợp tác. Pháp và Đức đình chỉ các hợp đồng quân sự với quân đội Argentina. Mỹ viện trợ rất nhiều cho Anh ngay từ đầu nhưng đã ủng hộ làm trung gian hòa giải. Thế nhưng, khi những cuộc đàm phán thất bại thì Mỹ công khai ủng hộ lập trường của Anh.

 Vào ngày 23/04/1982. quân đội Anh bắt đầu phản công, chiến tranh bắt đầu, các trận đánh diễn ra trên biển và cả trên không.

falklands war

khu vực chiến sự xung quanh quần đảo Falkland

Kế hoạch và hành động của Arghentina

Tình hình chính trị Argentina

Trong thời gian 1976-1983, Argentina nằm dưới sự kiểm soát của một chế độ độc tài quân sự, và ở giữa một cuộc khủng hoảng đã tàn phá nền kinh tế. Lực lượng Tổ chức lại Hành chính Quốc gia – National Reorganization Process được biết đến với các tên là Junta, đã giết hàng ngàn công dân Argentina thuộc phe đối lập chính trị với chính phủ của họ. Thời kỳ này được gọi là cuộc chiến bẩn thỉu – the Dirty War, và từ đó được mô tả như là “diệt chủng” bởi một tòa án Argentina. Rất nhiều nạn nhân đã bị chỉ đơn giản là “biến mất”, Không có toàn án pháp luật để chống lại tham nhũng làm cho đất nước trở thành con bệnh càng thêm trầm trọng.

Các cuộc đàn áp vào người dân Argentina vẫn tiếp tục dưới thời kỳ độc tài sau một cuộc đảo chính và lật đổ Tổng thống Isabel Perón và đưa Tướng Jorge Videla lên nắm quyền lực. Quyền lực được chuyển giao từ Tướng Videla cho Tướng Roberto Viola và sau đó là tướng Leopoldo Galtieri trong một thời gian ngắn. Trước khi ông bắt đầu cuộc Chiến tranh Falklands, Galtieri đã bị sự phản đối ngày càng tăng từ phía nhân dân. Chế độ độc tài của tướng Galtieri thực tế chỉ kéo dài mười tám tháng nhưng ông đã một người chủ chốt trong việc thủ tiêu và áp bức người dân của mình trong nhiều năm. Trong năm 1981, Argentina chứng kiến lạm phát phi mã lên đến hơn 600% và GDP giảm 11,4%, sản lượng sản xuất giảm 22,9% và tiền lương thực tế giảm 19,2%. Công đoàn ngày càng có được sự ủng hộ nhiều hơn từ các cuộc tổng bãi công mỗi ngày và quần chúng nhân dân ngày càng phản đối lực lượng Junta.

Tổng thống Galtieri, là người đứng đầu chính phủ quân sự, nhằm để đánh lạc hướng mối quan tâm của công luận về các vấn đề kinh tế và nhân quyền bằng một chiến thắng nhanh chóng ở Falklands và chiến thắng này sẽ tạo ra tình cảm dân tộc chủ nghĩa cho công chúng. Các sĩ quan tình báo Argentina đã làm việc vớiCơ quan Tình báo Trung ương (CIA) để giúp gây quỹ cho lực lượng Contras tại Nicaragua, và chính phủ Argentina tin rằng họ có thể được tưởng thưởng cho hoạt động này bằng cách Hoa kỳ sẽ không can thiệp vào nếu họ xâm chiếm Falkland.

Argentina gây áp lực ở Liên Hiệp Quốc bằng cách gợi ý một cách tinh tế về một cuộc xâm lược có thể xảy ra, nhưng người Anh, hoặc quên khuấy hoặc bỏ qua mối đe dọa này và không có phản ứng. Người Argentina cho rằng người Anh sẽ không sử dụng vũ lực nếu các đảo bị xâm lược.

Theo các nguồn của Anh, người Argentina giải thích phản ứng của người Anh như là một sự thiếu quan tâm vào Falklands do việc dự kiến thu hồi ( một phần của một kế hoạch tổng thể để làm giảm kích cỡ của Hải quân Hoàng gia năm 1981) các tầu Antarctic Supply cuối cùng, HMS Endurance, và bởi Luật quốc tịch Anh năm 1981, luật này thay quyền công dân Anh đầy đủ của người định cư trên Đảo Falkland bằng các điều khoản mới hạn chế hơn.

Chiến dịch Operation Sol được tiến hành vào năm 1976 với việc đổ bộ một lực lượng bí mật gồm 50 người thuộc quân đội Argentina dưới sự chỉ huy của Đại úy César Trombetta lên đảo South Thule không có người ở thuộc Quần đảo South Sandwich (được tuyên bố là) của Anh, nơi họ thành lập một tiền đồn quân sự – Corbeta Uruguay. Việc này dẫn đến một phản đối chính thức từ Vương quốc Anh và mọi nỗ lực để giải quyết vấn đề này là thông qua các biện pháp ngoại giao chứ không phải là quân sự. Chiến dịch Operation Journeyman, triển khai một lực lượng quân đội nhỏ đến Nam Đại Tây Dương bởi chính phủ theo ĐảngLao động của thủ tướng Callaghan, có thể đã giúp ngăn chặn những hành động xa hơn nữa và các báo cáo tiếp theo từ Ủy ban Liên Tình báo (JIC – Joint Intelligence Committee) vào năm 1977, 1979 và 1981 đã cho rằng “miễn là người Argentina còn cho rằng Chính phủ Anh chuẩn bị để đàm phán một cách nghiêm túc về chủ quyền (của quần đảo), thì họ sẽ không đến việc sử dụng vũ lực “Tuy nhiên., nếu … các cuộc đàm phán bị phá vỡ, hoặc nếu người Argentina kết luận rằng họ rằng không có triển vọng cho một tiến bộ thực sự hướng tới một thỏa thuận đẻ chuyển giao chủ quyền, có thể rất có nguy cơ rằng sau đó họ sẽ phải dùng đến nhiều biện pháp mạnh mẽ, bao gồm cả sử dụng hành động quân sự trực tiếp “

Lên kế hoạch

Tại một bữa ăn trưa giữa Đô đốc Jorge Isaac Anaya và Tướng Leopoldo Fortunato Galtieri ngày 9 tháng 12 năm 1981, trong doanh trại quân đội chính tại Campo de Mayo, cả hai đã thảo luận làm thế nào và khi nào để lật đổ Tổng thống Viola. Anaya gợi ý về sự hỗ trợ của hải quân và ngầm hiểu rằng hải quân sẽ được cho phép chiếm quần đảo Falkland, South Georgia. Galtieri dường như hy vọng rằng dư luận sẽ ủng hộ việc thu hồi các hòn đảo một cách thành công và ủng hộ cho quyền lực của ông trong vòng ít nhất mười năm. Họ tin rằng khi lá cờ của Argentina tung bay ở Port Stanley vào ngày kỷ niệm thứ 150 ” việc tiếm quyền bất hợp pháp của Anh vào quần đảo Las Malvinas” sẽ dẫn đến một thời đại chủ nghĩa Peron mới của niềm tự hào quốc gia.

Ngày thứ ba 15 tháng 12, Anaya đã bay từ Buenos Aires tới căn cứ hải quân chính của Argentina tại Puerto Belgrano. Ông đến đó để ủy quyền cho Phó Đô đốc Juan Lombardo chính thức Chỉ huy trưởng mới của Lực lượng Hải quân cho chiến dịch này. Sau buổi lễ, Anaya làm Lombardo ngạc nhiên bằng cách nói cho ông ta đang chuẩn bị một kế hoạch cho việc chiếm đóng quần đảo Falkland. Lombardo sau đó nói với nhà báo Martin Middlebrook trong một cuộc phỏng vấn rằng Anaya nói với ông để “chiếm chúng nhưng không nhất thiết phải giữ chúng”. Cuộc hội thoại giữa Anaya và Lombardo là ngắn ngủi và Anaya nhấn mạnh rằng cần phải giữ bí mật tuyệt đối.

Ngay sau mệnh lệnh ban đầu này, Lombardo đã bay tới Buenos Aires để yêu cầu Anaya làm rõ các lệnh của ông. Lombardo nhớ lại sau đó, “Tôi đưa ra các câu hỏi của mình trong một văn bản viết tay để đảm bảo rằng chúng đã được ghi lại, nhưng không có bản sao cho những câu hỏi này của tôi. Liệu chiến dịch này được tiến hành hoàn toàn bởi hải quân, hoặc kết hợp với các lực lượng khác? Liệu ông ta có ý định chiếm và giữ các hòn đảo, hoặc sau đó giao cho lực lượng khác giữ và nếu là như vậy thì đây có phải là một lực lượng của Argentina hay là một lực lượng quốc tế, liệu đó có phải là lực lượng Liên Hiệp Quốc. Liệu ông ta có thể đảm bảo cho tính bí mật của kế hoạch này sẽ được đảm bảo. Đây là những câu trả lời cho những câu hỏi mà tôi đã được đưa ra: Đó là phải là một hoạt động chung, nhưng chưa một ai khác đã được thông báo. Tôi không biết tại thời điểm này liệu Galtieri và Lami Dozo đã biết được mệnh lệnh mà Đô đốc Anaya đã giao cho tôi, nhưng điều này đã được khẳng định một vài ngày sau đó rằng họ đã biết. Tôi đã lên một kế hoạch một kế hoạch để chuyển giao chứ không phải là để chuẩn bị phòng thủ các đảo đảo sau đó. Về việc đảm bảo bí mật, ông nói rằng tôi sẽ chỉ làm việc với ba đô đốc khác – Allara và Busser của Thủy quân lục chiến và Garcia Bol của Không quân thuộc Hải quân, này đã được tất cả gần tôi tại Puerto Belgrano. Tôi bắt đầu đàm phán với ba người bọn họ và tất cả họ đều hỏi những câu hỏi giống nhau hoặc tương tự như nhau”

“Vì vậy, tôi đã đi trở lại Buenos Aires và nhấn mạnh rằng, nếu chiến dịch cần sự tham gia của nhiều lực lượng thì sự hợp tác của các lực lượng khác nhau là điều cần thiết” Lombardo kể tiếp. Anaya đồng ý rằng Tướng Garcia thuộc Lục quân cần được cho biết nhưng vẫn chưa được thông báo. Ông ta lặp đi lặp lại rằng đó là Hải quân có nhiệm vụ để chiếm Malvinas, những gì tiếp theo là do lực lượng junta quyết định. Họ không nghĩ rằng sẽ có bất kỳ phản ứng quân sự nào từ phía người Anh”

Chuẩn tướng Basilio Lami Dozo của Không quân đã không được thông báo về quyết định trước ngày 29 Tháng 12 và ngay cả Bộ trưởng Ngoại giao Costa Méndez không được biết về kế hoạch này trong khi ông chuẩn bị sẵn sàng chủ động về ngoại giao của mình trong tháng 1 năm 1982.

Kế hoạch chi tiết đã được bắt đầu vào đầu tháng 1 năm 1982. Dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Juan José Lombardo (Chỉ Huy Trưởng Hạm đội) và Tướng Osvald Garcia (chỉ huy của Quân đoàn số năm) và Chuẩn tướng Sigfrido Plessel (thành viên của the Air Force Staff). Chiến dịch sẽ cần một cuộc đổ bộ của 3.000 quân một cách ồ ạt để giảm thiểu đổ máu. Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoàng gia, và lực lượng dân sự vũ trang Anh chống đối lại Argentina trong số những người Falkland sẽ bị trục xuất và số lượng lớn của các lực lượng đổ bộ sẽ trở về các căn cứ của họ trong vòng 48 giờ. Một thống đốc quân sự và một lực lượng hiến binh khoảng 500 người sẽ được gửi lại để quản lý những người dân Falkland trong hòn đảo. Dự thảo kế hoạch của Anaya là thay thế dân số toàn bộ hòn đảo bằng người định cư Argentina, nhưng Lombardo tin rằng đó là một bước sẽ gây sự tức giận của cộng đồng quốc tế. Thay vào đó người Falkland nên được trả những khoản bồi thường tài chính nếu họ muốn ra đi.

Được cho phép bởi người Anh, một công ty của Argentina đã xây dựng một đường băng tạm thời gần Stanley trước khi xây dựng một đường băng chính tại sân bay Stanley. Hãng hàng không Quân sự Líneas Aéreas del Estado bay thường xuyên đến quần đảo Falkland. LADE được đại diện bởi Phó Commodore Hector Gilobert ở Port Stanley và ông ta đã được giao nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo trong bốn năm. Chiếc tàu hàng ARA Isla de los Estados được thuê với mục đích thương mại theo lệnh của chính quyền hòn đảo và Thuyền trưởng Capaglio của nó đã có thông tin chi tiết về các bờ biển, bãi biển của Falkland và vùng nước bên trong.

Trong bầu không khí của những vụ mua bán vũ khí, Vương quốc Anh rất sốt sắng cho mời Tùy viên của hải quân Argentina tại London, Chuẩn Đô đốc Walter Allara. Ông này được mời lên chiếc tàu HMS Invincible và đã có các cuộc hội thoại với nhân viên hải quân Anh về các khiếm khuyết – shortcomings của Hải quân Hoàng gia.

Trong tháng 1 năm 1982, các cuộc đàm phán ngoại giao về vấn đề chủ quyền đã chấm dứt. Mặc dù người ta thường nghĩ rằng cuộc xâm lược Falklands là một hành động được lên kế hoạch lâu dài, mọi sự trở nên rõ ràng sau khi hệ thống phòng thủ sau đó của các đảo đã phần lớn chỉ được bố trí rất đơn giản, ví dụ: không có thủy lôi biển được triển khai tại các địa điểm đổ bộ chiến lược và một phần lớn lực lượng bộ binh được gửi đến Falklands gồm những lính nghĩa vụ mới nhập ngũ, những người mới chỉ bắt đầu các đợt đào tạo quân sự của họ trong tháng Giêng hoặc tháng Hai năm đó. Người ta cho rằng cuộc chiến được quyết định chỉ vào phút cuối được ủng hộ bởi thực tế là Hải quân Argentina đã chỉ có thể nhận được vào cuối năm trước các tên lửa chống hạm Pháp Exocet và máy bay Super Étendard (máy bay tiêm kích của Pháp có khả năng bắn tên lửa Exocet) và tàu chiến mới vẫn đang được chế tạo tại Tây Đức.

Hải quân Argentina sở hữu một vài tàu khu trục phòng không hiện đại Type 42 của Anh loại hình thành lên phần lớn chiếc ô chống phòng không của Lực lượng Đặc nhiệm Anh. Theo các kỹ năng tấn công đã được đào tạo thì có thể thấy hơn một nửa số máy bay của Argentina có thể sẽ bị bắn hạ mà chỉ phá hủy được một vài tàu chiến của Anh nếu họ tấn công ở độ trung và độ cao vì đây chính là tọa độ để Tên lửa Sea Dart được thiết kế để tiêu diệt, vì vậy Không quân Argentina phải tập bay ở tầng thấp để lấy cân bằng cho tên lửa Exocet trong các cuộc tấn công trên bề mặt nước biển rộng lớn.

Việc thiếu chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc phiêu lưu tại Falklands có thể là do sự đổ bộ xâm lược là một quyết định vào phút cuối thực hiện như là một hậu quả của cuộc khủng hoảng ở South Georgia. Hơn nữa, trong nhiều năm Argentina đã đang ở trên bờ vực của cuộc chiến với Chile. Các nhà quân sự chiến lược của Argentina sợ rằng Chile sẽ tận dụng lợi thế của cuộc khủng hoảng Falklands và cố gắng để giữ một phần vùng Patagonia của Argentina. Do đó, một phần quan trọng của lực lượng và thiết bị quân sự có giới hạn của Argentina được lưu giữ trên đất liền và trong chiến tranh Chile thực sự triển khai lực lượng dọc theo khu vực biên giới và tạo nên những gì trông giống như sự vận động của một cuộc xâm lược có thể xảy ra (người ta vẫn chưa rõ ràng liệu đây là ý định thật sự của Chi lê hoặc chỉ đơn thuần được thúc đẩy bởi nước Anh đồng minh của họ).

Trong một cuộc phỏng vấn với Tạp chí argentine Perfil Basilio Lami Dozo nói rằng Argentina có mục tiêu để tấn công Chile sau khi chiến tranh Falklands:

[Basilio Lami Dozo] nhớ lại rằng chỉ huy trưởng của lực lượng junta Argentine, Leopoldo Galtieri đã ủng hộ [một cuộc tấn công chống lại Chile]: “[Chile] phải biết những gì chúng tôi đang làm bây giờ, bởi vì họ sẽ lần lượt là mục tiêu tiếp theo.

Ý định ban đầu của Argentina đổ bộ một cách nhanh chóng, chiếm đóng một cách tượng trưng, tiếp theo nhanh chóng thu hồi lực lượng, chỉ để lại một đơn vị đồn trú nhỏ để hỗ trợ viên thống đốc quân sự mới. Chiến lược này được Argentina dựa trên giả định rằng người Anh sẽ không bao giờ phản ứng quân sự. Các đơn vị tấn công của Argentina đã thực sự bị thu hồi về đất liền trong những ngày sau cuộc xâm lược, nhưng phản ứng mạnh mẽ và nhanh chóng của Anh buộc Junta phải thay đổi mục tiêu của họ và củng cố các đảo vì họ sẽ không thể chống đỡ nổi về mặt chính trị nếu để mất các hòn đảo một lần người Anh xuất quân chiến đấu. Lực lượng junta đã đánh giá sai lầm bầu không khí chính trị tại Anh, và tin rằng nền dân chủ là yếu ớt và thiếu quyết đoán và không thích rủi ro, và không dự đoán rằng người Anh sẽ di chuyển một nửa hạm đội của họ trên toàn cầu.

Đổ bộ vào South Georgia

Năm 1980, Đô đốc Edgardo Otero (trước đây là người chỉ huy khét tiếng của Trường Sĩ quan Cơ khí Hải quân Petty, nơi có hàng trăm người đã biến mất sau khi bị tra tấn và hành quyết) là người đứng đầu các hoạt động của hải quân Nam Cực và tìm cách lặp lại chiến dịch Operation Sol ở South Georgia bằng cách thiết lập một căn cứ quân sự (Chiến dịch Alpha). Đô đốc Lombardo sợ rằng hoạt động Alpha sẽ gây nguy hiểm cho sự bí mật của việc chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào Falkland, nhưng Đô đốc Otero có liên kết chặt chẽ đến Đô đốc Anaya, người đã phê duyệt hoạt động Alpha mặc dù đã hứa hẹn với Đô đốc Lombardo rằng ông ta sẽ cho hủy bỏ hoạt động này.

Điệp viên của Argentina Constantino Davidoff đã có một hợp đồng trong hai năm trước đó về việc tháo dỡ một trạm đánh bắt cá voi cũ trên đảo South Georgia. Trong tháng 12 1981, ông được chở bằng chiếc tầu phá băng ARA Almirante Irizar dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Trombetta đến South Georgia để tiến hành một cuộc khảo sát ban đầu của cuộc đổ bộ. Toán người này đã tiếp đất mà không làm thủ tục hải quan tại căn cứ BAS ở Grytviken, việc này dẫn đến những phản đối ngoại giao chính thức của Chính phủ Anh.

Cá nhân Davidoff đã gọi điện đến Đại sứ quán Anh tại Buenos Aires để xin lỗi và hứa rằng người của ông sẽ thực hiện theo các thủ tục khi vào hòn đảo trong tương lai. Ông nhận được sự cho phép để tiếp tục với chuyến thám hiểm của mình và ngày 11 tháng ba chiếc tầu vận tải của hải quân ARA Bahía Buen Suceso đến đó để đón Davidoff và những công nhân tháo dỡ phế liệu của ông ta. Tuy nhiên tuy nhiên nhóm này lại là lính thủy quân lục chiến của Argentina đóng giả các nhà nghiên cứu khoa học dân sự. Operation Alpha đã bắt đầu đi vào hoạt động. Đến ngày 19 tháng ba, nhóm này lại thất bại một lần nữa để thực hiện đúng theo các thủ tục và tiến tiếp đến Leith Harbour. Lực lượng BAS gửi người đến để điều tra và thấy rằng những công nhân thu dỡ phế liệu Argentina đã lập một chiếc trại, xóa các dấu hiệu của người Anh, chia nhau vào các túp lều của BAS và loại bỏ các khẩu phần cho tình trạng khẩn cấp và bắn các con tuần lộc trái với quy định của địa phương (đổ bộ với vũ khí mà không được phép chính là bất hợp pháp). Bên BAS cũng báo cáo một số người mặc quân phục và dựng cờ Argentina lên.

Một loạt các trao đổi ngoại giao sau đó đã diễn ra. Thống đốc đảo Falkland và sau đó là Bộ Ngoại giao đã gửi đi một tin nhắn trở lại tới đội BAS để chuyển cho thuyền trưởng của chiếc Bahia Buen Suceso. Tin nhắn này có hiệu ứng làm lá cờ Argentina bị hạ xuống và họ phải báo cáo cho viên quản trị người Anh (Stephen Martin, chỉ huy của cơ sở khảo sát Nam cực thuộc Anh – the British Antarctic Survey Base) tại Grytviken để đóng dấu hộ chiếu của họ (mà họ đã từ chối làm việc này vì như vậy sẽ là xác nhận chủ quyền của Anh trên hòn đảo nhỏ). Mặc dù lá cờ được hạ xuống và chiếc ARA Bahía Buen Suceso đã khởi hành, một nhóm người đã được bỏ lại phía sau. Ngày 21 tháng ba, chiếc HMS Endurance tiến đến với một nhóm gồm 22 Thủy quân lục chiến Hoàng gia để trục xuất những người ở lại Leith nhưng để tránh căng thẳng hơn nữa, Bộ Ngoại giao Anh đã ra lệnh Endurance tạm dừng. Lợi dụng việc người Anh tạm dừng, Junta Argentina sau đó đã ra lệnh cho chiếc ARA Bahía Paraíso đổ bộ một nhóm Buzos Tacticos (Lực lượng đặc biệt) do Trung úy Alfredo Astiz (” thiên thần tóc vàng của thần chết”). Thay vì trở thành một lực lượng đối đầu, Thủy quân lục chiến Hoàng gia nhận được mệnh lệnh thiết lập một đài quan sát để theo dõi tình hình tại Leith. Lực lượng đầy đủ của Thủy quân lục chiến Hoàng gia đã không đổ bộ cho đến ngày 31 tháng 3 khi nó trở nên rõ ràng rằng lực lượng Argentina dự định thu hồi Quần đảo Falkland. Căn cứ Base Grytviken đã thực sự bị tấn công một ngày sau vụ tấn công vào quần đảo Falkland, vì thời tiết xấu ngăn cản một cuộc tấn công trong cùng một ngày.

Thất bại của các nỗ lực ngoại giao

Trong cuộc chiến, không có quan hệ ngoại giao chính thức giữa Anh và Argentina, do đó, các cuộc đàm phán đã được tiến hành một cách gián tiếp và thông qua các bên thứ ba, bên sau đó sẽ nói chuyện với phía bên kia (“ngoại giao con thoi”). Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Javier Pérez de Cuéllar người Peru, Thông báo rằng những nỗ lực của mình để vãn hồi hòa bình đã vô ích. Mặc dù Peru (là đại diện cho lợi ích ngoại giao của Argentina ở Anh) và Thụy Sĩ (là đại diện cho lợi ích ngoại giao của Anh tại Argentina) exerted lớn áp lực ngoại giao để tránh chiến tranh, họ đã không thể giải quyết cuộc xung đột và một kế hoạch hòa bình được đề xuất bởi Tổng thống Peru Fernand Belaúnde Terry mặc dù được chấp nhận bởi Anh đã bị từ chối bởi Argentina.

Cuộc xâm lược

Chính phủ Anh lập tức cảnh báo Masterman Rex Hunt, Thống đốc Quần đảo Falkland, về một cuộc xâm lược của người Argentina có thể xảy ra vào ngày 01 tháng Tư. Hunt sau đó đã tổ chức phòng thủ, và đã giao quyền chỉ huy quân sự cho thiếu tá Mike Norman RM, người chỉ huy một lực lượng nhỏ Thủy quân lục chiến Hoàng gia. Trung úy hải quân Argentina- Guillermo Sanchez-Sabarots – chịu trách nhiệm về cuộc xâm lược cho đổ bộ lực lượng đặc biệt của ông tại Mullet Creek. Ông ta tiếp tục cho tấn công các tòa nhà trong và xung quanh Stanley, bao gồm tòa nhà chính phủ và Trại lính Moody Brook cho đến khi chính phủ Quần đảo Falkland tại tòa nhà chính phủ đầu hàng vào ngày 02 tháng Tư. Một người Argentina đã bị giết trong cuộc tấn công chính, ba người Argentina nữa đã chết trong cuộc chiến để kiểm soát South Georgia.

Lực lượng Không quân Argentina trong chiến tranh Falklands

Khi Argentina bắt đầu cuộc chiến tranh có vẻ hợp lý khi nghĩ rằng họ đã chuẩn bị sẵn sàng, và đã có một kế hoạch làm thế nào để bảo vệ các đảo. Nhưng chế độ độc tài quân sự cai trị đất nước vào thời đó coi việc chiếm giữ Falklands như là một hành động chính trị để có được một vị trí thương lượng ngoại giao và không phải là một hành động chiến tranh. Do đó họ bị bất ngờ khi Anh Quốc phản ứng với một sự vận động quy mô lớn và một lực lượng đặc nhiệm để chiếm lại các đảo.

Không quân Argentina (Fuerza Aerea Argentina; FAA) không bao giờ được coi là có khả năng tiến hành một chiến dịch không quân tầm xa trên biển để chống lại một thành viên chính của NATO. Họ không được đào tạo hoặc trang bị cho sứ mệnh như vậy. FAA chỉ có hai máy bay tiếp dầu để phục vụ cho toàn bộ lực lượng không quân và hải quân, và các máy bay Mirage III và IAI Daggers ném bom- không chiến của nó đã không được trang bị thiết bị tiếp nhiên liệu trên không. Đào tạo, chiến thuật và trang thiết bị của FAA được tập trung vào một cuộc chiến tranh có thể xảy ra để chống lại Chile, kết quả từ tranh chấp trong cuộc xung đột Beagle.

Mối đe dọa từ Chile là một vấn đề lớn đối với quân đội Argentina trong chiến tranh. Các lực lượng quân đội Chile đã triển khai một lực lượng quan trọng trên biên giới chung của Chile với Argentina, và FAA đã buộc phải phục hồi các máy bay F-86 Sabre đã nghỉ hưu của họ để củng cố hệ thống phòng không của Argentina. Để ủng hộ Argentina, Peru ngay lập tức cung cấp hỗ trợ cho người Argentina bằng lực lượng Không quân Peru thậm chí cung cấp cả các phi vụ bay chiến đấu. Điều này đã bị từ chối một cách lịch sự bởi chính phủ Argentina. Khi chiến tranh tiếp diễn, Peru và Venezuela đã gửi các phụ tùng máy bay quan trọng và cấp thiết cho FAA và Không quân Brazil cho Hải quân Argentina thuê hai máy bay tuần tra trên biển EMB111 Bandeirantes. Cuối cùng ngày 04 tháng 6, mười máy bay Mirage 5 của Peru với tên lửa AS-30 đến được Tandil nhưng chiến tranh đã kết thúc trước khi chúng có thể được sử dụng. Các kỹ thuật viên của Israel Aircraft Industries vẫn ở trong nước này để tiếp tục công việc của họ theo hợp đồng IAI Daggers năm 1979 trong cuộc xung đột.

Theo dự đoán khả quan nhất, Argentina có tổng cộng khoảng 240 chiếc máy bay khi chiến tranh nổ ra. Khoảng một nửa trong số chúng được dải dọc theo biên giới với Chile.

Trên lý thuyết, 20 chiếc máy bay cận âm Sea Harrier của Anh có thể dễ dàng bị xóa sổ bởi hơn trăm máy bay chiến đấu của Argentina, bao gồm cả những máy bay phản lực siêu âm. Thực tế lại khác, khoảng cách xa từ căn cứ của họ ngăn cản họ sử dụng tốc độ tối đa hoặc ngược lại họ sẽ hết nhiên liệu. Mặc dù việc Argentina có máy bay nhiều hơn lực lượng đặc nhiệm của Anh, nhưng một số lớn trong số chúng là loại Pucara động cơ cánh quạt. Ngoài ra, các phi đội A-4 Skyhawk phải dựa vào hai máy bay tiếp dầu KC-130, dẫn đến việc hạn chế về số lượng máy bay có thể tấn công cùng một lúc.

Các phi đội máy bay tấn công A-4 Skyhawk của Argentina ở trong điều kiện rất nghèo nàn. Lệnh cấm vận vũ khí được ban bố bởi Hoa Kỳ năm 1976 do “cuộc chiến bẩn thỉu”, đã làm cho hầu hết các khung máy bay không còn sử dụng được. Có cáo buộc về sự tham gia của Israel trong việc giúp đỡ để đưa những chiếc A-4 này vào hoạt động đầy đủ, nhưng chưa bao giờ được xác nhận.

Lực lượng Không quân nhỏ bé của Hải quân Argentina (Armada República Argentina; ARA) đang ở giữa sự chuyển đổi từ loại máy bay A 4Q-Skyhawk mang loại máy bay mới Super Étendard. Chỉ có năm chiếc Étendard mang tên lửa chống hạm Exocet được giao hàng tại thời điểm cuộc xung đột, tại điểm đó do một lệnh cấm vận vũ khí đã ngăn cản việc phân phối các lô hàng tiếp theo. Các phi công, đặc biệt là những người ở Phi đội Không quân – Hải quân số 3 sử dụng máy bay A-4Qs là những người duy nhất được đào tạo kỹ thuật cụ thể của việc ném bom oanh kích vào tàu chiến. Phi công không quân được đào tạo trong tháng tư cùng với hai chiếc khu trục hạm Type 42 của Argentina, tương tự như loại của Hạm đội Anh và theo các sĩ quan hải quân tất cả các phi vụ đều bị bắn rơi gây ra mối quan tâm lớn cho các chỉ huy cao cấp cho đến khi thành công một chiến thuật tấn công mà họ đã chứng minh được rằng những chiếc máy bay có thể sống sót vào ngày 01 tháng 5.

Cuối cùng, Không quân Argentina sự chưa bao giờ được tham gia vào một cuộc xung đột quốc tế, thời gian mà quân đội Argentina đã thực sự tham gia vào một cuộc xung đột quốc tế là Chiến tranh của Liên minh Tay ba xảy ra vào hơn một thế kỷ trước. ( lúc này chưa có Không quân)

Mặc dù có những khó khăn, các đơn vị không quân của Argentina đã chịu đựng được gánh nặng của cuộc chiến trong sáu tuần của cuộc chiến và gây ra những thiệt hại và phá hủy nghiêm trọng cho lực lượng hải quân của Vương quốc Anh. Chiến thuật máy bay phản lực bay thấp tấn công vào tàu của Anh quốc đã cung cấp cho thế giới với một số các hình ảnh nhất sobering và kịch tính của cuộc chiến. Đến cuối cuộc chiến thì chính quân đội Anh đã trở nên ngưỡng mộ thực hiện tinh thần của FAA vì phi công Argentina phải đối mặt với một mạng lưới phòng không hiệu quả trong thời gian chiến sự, nhưng như mọi khi, chỉ chiếm được ưu thế trên không vẫn chưa đủ để giành chiến thắng cho một cuộc chiến. Đô đốc Sandy Woodward – chỉ huy Lực lượng Đặc nhiệm nói: ” Không quân Argentina đã chiến đấu rất tốt và chúng tôi cảm thấy một sự ngưỡng mộ tuyệt vời về những gì họ đã làm”

 Super Etendard

Biên đội các máy bay Super Etendard của Hải quânArgentina – nếu người Argentina nhẫn nại được cho đến khi nhận đủ 14 chiếc Super Etendard và 14 quả tên lửa Ecoxet thì người Anh đã bại trận rồi

Sự quan tâm của thế giới đối với cuộc chiến

Ý kiến công chúng ở nước Anh

Tâm trạng của công chúng ở Vương quốc Anh là ủng hộ cho một nỗ lực để đòi lại các hòn đảo. Ý kiến của quốc tế bị chia rẽ. Một số coi Anh là một cựu thực dân đầy quyền lực, đang tìm cách đòi lại một thuộc địa từ một quyền lực địa phương và đây là một thông điệp mà người Argentina lúc ban đầu đã được sử dụng để thu hút sự hỗ trợ. Anh được hỗ trợ từ những người cho rằng đây là một nền dân chủ ổn định bị xâm chiếm bởi một chế độ độc tài quân sự. Chỉ có vài quốc gia giữ ngoại giao trung lập còn lại hầu hết các nước châu Âu và Hoa Kỳ hỗ trợ Anh. Nhiều quốc gia Mỹ Latinh ủng hộ Argentina với một ngoại lệ đáng chú ý của Chile: vì có xung đột lãnh thổ với Argentina, kết hợp với một số bài phát biểu từ các thành viên của Junta rằng Argentina sẽ có hành động quân sự để giải quyết những vấn đề lãnh thổ (với Chi Lê) một khi quần đảo Falkland được kiểm soát ổn thỏa, đã dẫn đến những mối quan hệ ngoại giao căng thẳng.

Liên Hiệp Quốc

Các nhà Ngoại giao Anh tập trung vào lập luận rằng Quần đảo Falkland được quyền sử dụng các nguyên tắc tự quyết của Liên hợp quốc và thể hiện sự sẵn sàng thỏa hiệp. Tổng thư ký LHQ nói rằng ông ta rất ngạc nhiên trước những thỏa hiệp mà Vương quốc Anh đã đưa ra. Tuy nhiên, Argentina lại từ chối điều này, Junta đã bị giới hạn bởi sự ủng hộ lớn của nhân dân trong nước cho cuộc xâm lược và không thể quay lại, họ dựa trên lập luận của họ về các quyền lãnh thổ dựa trên các hành động trước năm 1945 và các đạo luật của LHQ lúc mới thành lập. Nhiều thành viên Liên Hợp Quốc nhận ra rằng nếu tuyên bố về lãnh thổ kiểu này có thể được làm sống lại, và cuộc xâm lược lãnh thổ được phép tiến hành thì sau đó biên giới của riêng mình sẽ khôngcòn an toàn. Ngày 03 tháng Tư, Hội đồng Bảo an LHQ thông qua Nghị quyết 502, kêu gọi rút quân đội Argentina từ các hòn đảo và sự chấm dứt của chiến sự. Ngày 10 Tháng tư, Cộng đồng Châu Âu phê duyệt một sự trừng phạt thương mại đối với Argentina. Tổng thống Ronald Reagan và Hoa Kỳ tránh đã không lên án về ngoại giao trực tiếp thay vào đó là cung cấp tin tình báo hỗ trợ cho quân đội Anh.

Ngoại giao con thoi và sự tham gia của Mỹ

Thoạt nhìn, người ta thấy rằng Mỹ có Hiệp ước về trách nhiệm quân sự đối với cả hai bên trong chiến tranh, nước này có ràng buộc tới Anh như là một thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Argentina do Hiệp ước hỗ trợ lẫn nhau trong nội bộ Châu Mỹ Inter-American Treaty of Reciprocal Assistance “Rio Pact”. Tuy nhiên, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương chỉ buộc các bên ký kết hỗ trợ lẫn nhau nếu vụ việc xảy ra ở Châu Âu hoặc Bắc Mỹ phía bắc Nam chí tuyến ( the Tropic of Cancer ), và Hiệp ước Rio chỉ buộc Mỹ can thiệp nếu một trong các bên của hiệp ước bị tấn công – Anh không chủ động tấn công Argentina, chỉ có lực lượng Argentina trên lãnh thổ Anh. Trong tháng ba, Bộ trưởng Ngoại giao Alexander Haig chỉ đạo Đại sứ Hoa Kỳ đến Argentina để cảnh báo chính phủ Argentina về mọi sự xảy ra từ cuộc xâm lược. Tổng thống Reagan yêu cầu một sự bảo đảm để rút lại cuộc xâm lược từ Galtieri và cử Phó Tổng thống của ông ta , George H.W. Bush, làm đặc phái viên hòa giải nhưng đã bị từ chối.

Trong thực tế, chính quyền của Reagan đã bị chia rẽ về vấn đề này. Hop hội nghị trong ngày 05 tháng 4, Haig và Trợ lý của bộ trưởng Bộ Ngoại giao về chính trị Lawrence Eagleburger ủng hộ Anh và tỏ ra lo ngại rằng một sự lập lờ nước đôi sẽ làm suy yếu liên minh NATO. Tuy nhiên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách vấn đề Liên Mỹ Thomas Enders giao lại sợ rằng ủng hộ Anh sẽ làm suy yếu sự hỗ trợ những nỗ lực anti-communist cua Hoa kỳ ở Mỹ Latinh. Ông nhận được sự ủng hộ của Đại sứ Hoa kỳ tại U. N. Jeane Kirkpatrick, Với danh nghĩa là của cấp dưới và đối thủ chính trị Haig. Kirkpatrick là khách mời danh dự tại một bữa ăn tối được tổ chức bởi Đại sứ Argentina ở Hoa Kỳ vào ngày lực lượng vũ trang của Argentina đã đổ bộ lên các hòn đảo.

Nhà Trắng tiếp tục sự trung lập của nó ; Reagan nổi tiếng với một tuyên bố tại thời điểm này là ông ta không thể hiểu tại sao hai đồng minh lại tranh cãi về ” một ít nước đá lạnh của vùng đất đó”. Tuy nhiên, ông ta đã chuẩn y cho các sứ mệnh của Haig và Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger. Haig trong một thời gian ngắn (8 tháng tư – 30 tháng tư) dẫn đầu một sứ mệnh “ngoại giao con thoi” giữa London và Buenos Aires. Theo một tài liệu của BBC gần đây có tiêu đề “Cuộc chiến tranh Falklands và Nhà Trắng”, Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger đã bắt đầu một số hoạt động không được công khai để hỗ trợ và cung cấp cho quân đội Anh trong khi sứ mệnh ngoại giao con thoi của Haig vẫn còn đang được tiếp diễn. Thông điệp của Haig đến Argentina là người Anh sẽ thực sự chiến đấu, và rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ Anh, nhưng đồng thời ông ta cũng hoàn toàn không biết rằng Hoa Kỳ đã triển khai cung cấp hỗ trợ.

Vào cuối tháng, Reagan đổ lỗi cho Argentina về thất bại của việc hòa giải và tuyên bố ủng hộ Anh đồng thời cũng công bố áp dụng lệnh trừng phạt kinh tế đối với Argentina.

Vào khoảng thời gian tháng Sáu, Đại sứ Hoa kỳ tại Liên Hiệp Quốc Jeane Kirkpatrick bỏ phiếu quyền phủ quyết lần thứ hai một nghị quyết của Hội đồng Bảo an kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức, Sau đó công bố bản hướng dẫn mà bà ta đã nhận được rằng phải bỏ phiếu trắng. Tình hình này được đổ lỗi cho sự chậm trễ trong thông tin liên lạc, nhưng theo cảm nhận của nhiều người đây là một phần của một cuộc đấu tranh quyền lực đang diễn ra giữa Haig và Kirkpatrick.

Galtieri và với một nửa nội các chính phủ của ông ta nghĩ rằng Anh sẽ không phản ứng. Margaret Thatcher tuyên bố rằng các quyền dân chủ của Đảo Falkland đã bị tấn công và sẽ không đầu hàng và để các đảo cho “binh lính – jackboot” Argentina. Lập trường này được hỗ trợ của ít nhất là trong nước do chủ yếu là hỗ trợ của báo chí Anh.

Chế độ độc tài Argentina cảm thấy rằng Hoa Kỳ sẽ, ngay cả trong một trường hợp xấu nhất, vẫn hoàn toàn trung lập trong cuộc xung đột (dựa trên sự hỗ trợ mà Argentina làm cho chính quyền Reagan tại Trung Mỹ, như việc đào tạo lực lượng Contras). Giả định này đã rõ ràng được chứng minh là một sự mù với thực tế về mối quan hệ đặc biệt của Vương quốc Anh-Mỹ.

Ngoài ra, chế độ độc tài quân sự Argentina đã sai lầm bởi những ý kiến riêng của mình về nền dân chủ là những buổi họp hành không đâu và kém hiệu quả, sợ rủi ro. Thật vậy, ở Anh đã có nhiều cuộc tranh luận về sự đúng sai của cuộc chiến. Tuy nhiên, bất kể chính sách riêng và ý kiến của mình như thế nào, các đảng đối lập hậu thuẫn mạnh mẽ cho chính phủ trong cuộc khủng hoảng để tạo ra một mặt trận thống nhất duy nhất.

Một nỗi sợ hãi của Mỹ về mối đe dọa của Liên Xô và sự lây lan của Chủ nghĩa Cộng sản, cùng với sự chắc chắn rằng nước Anh có thể xử lý các vấn đề của riêng mình, có thể đã tạo ảnh hưởng vào Mỹ để nước này ở một vị trí không can thiệp. Trong thời gian Chiến tranh lạnh, với việc các lực lượng đôi bên (Anh và Argentina) đang bị theo dõi chặt chẽ bởi Liên Xô, có vẻ được cho là thích hợp hơn đối với Hoa kỳ là cứ để Vương quốc Anh tự xử lý mà không có sự hỗ trợ nào cho một cuộc xung đột trong khả năng của mình.

Sự việc Mỹ can thiệp hay không là rất quan trọng đối với mối quan hệ Mỹ – Anh. Đảo Ascension, một hòn đảo sở hữu của người Anh, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cung cấp lâu dài cho Lực lượng Đặc nhiệm phía Nam, tuy nhiên, các căn cứ không quân đóng trên đảo được điều hành và hoạt động bởi người Mỹ và chỉ huy Hoa kỳ tại căn cứ này đã nhận được mệnh lệnh phải trợ giúp người Anh trong bất kỳ cách nào và trong một thời gian ngắn Ascension Air Field là một trong những sân bay bận rộn nhất trên thế giới. Điều quan trọng nhất là đóng góp của NATO qua các thông tin tình báo và cung cấp loại tên lửa hồng ngoại Sidewinder Lima không-đối-không mới nhất, cho phép phần dự trữ loại tên lửa này ( của NATO ) tại Anh lúc đó được mang ra sử dụng. Margaret Thatcher nói rằng “không có máy bay phản lực Harrier và khả năng cơ động lớn của nó, cũng như chúng được trang bị với phiên bản mới nhất của tên lửa Sidewinder, được cung cấp cho chúng tôi bởi Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger của Hoa Kỳ, chúng tôi không bao giờ có thể lấy lại được Falkland ” Đây phải không chỉ là điều còn bị nghi vấn về mặt chính trị mà còn cả về mặt quân sự, tuy nhiên khi Hạm đội Không lực Anh sử dụng tên lửa Sidewinder trong cuộc đụng độ thì điều này đã được chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Vào đầu tháng, Casper Weinberger đã chào mời việc sử dụng một tàu sân bay Mỹ. Lời mời chào này dường như là rất hào phóng và đã được nhìn nhận bởi tầm quan trọng của nó: Chuẩn Đô đốc Woodward đã ghi nhận rằng việc mất chiếc HMS Invincible là một bước thụt lùi nghiêm trọng, nhưng việc mất chiếc Hermes có nghĩa là chấm dứt toàn bộ hoạt động. Weinberger thừa nhận rằng lúc đó vấn đề này đã được yêu cầu và nếu chúng được thực hiện thì gần có nghĩa như là nhân sự của Hoa Kỳ trở nên trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, vì việc đào tạo cho các thuyền viên người Anh biết cách sử dụng con tầu phải mất hàng năm.

Cả hai Weinberger và Reagan sau đó đã được tặng thưởng huân chương danh dự Knight Commander của Đế quốc Anh (KBE). Các quốc gia Châu Mỹ đã chỉ trích về vai trò của Mỹ vì đã không đứng về phía Argentina, Mỹ đã vi phạm Học thuyết Monroe của chính nó (có vẻ như là theo học thuyết này nếu một quốc gia ngoài châu Mỹ có chiến tranh với một quốc gia thuộc châu Mỹ thì Hoa kỳ phải đứng về phía quốc gia thuộc châu Mỹ).

Trong tháng 9 năm 2001, Tổng thống Mexico Vicente Fox trích dẫn cuộc xung đột như là bằng chứng của sự thất bại của Hiệp ước hỗ trợ lẫn nhau nội bộ châu Mỹ vì hiệp ước này cung cấp sự bảo vệ cho song phương. Tuy nhiên trong cuộc xung đột này Argentina đã bị coi là kẻ xâm lược.

Vai trò của Liên Xô

Nhìn chung, Liên Xô tỏ thái độ dửng dưng với tình hình của quần đảo này. Cả Anh là thành viên của NATO và chế độ ở Argentina đều là những thể chế chống Cộng vào thời điểm đó và đều là kẻ thù của Liên Xô. Tuy nhiên, Liên Xô có một số lợi ích ở khu vực Cực Nam – Nam Đại Tây Dương.

Đất nước Angola lúc đó đã giành được độc lập, nhưng đang trong một cuộc nội chiến trong đó MPLA nhận được sự hỗ trợ của Liên Xô và các đồng minh, và đây được coi là một cuộc xung đột rất quan trọng trong Chiến tranh lạnh, đặc biệt là liên quan đến vùng phía nam Đại Tây Dương. Trong thực tế, cuộc chiến tranh Falklands đã xảy ra tại một thời điểm khi chiến tranh lạnh đã lại leo thang, với việc Ronald Reagan trúng cử tổng thống Mỹ trong năm trước và Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan đang ở giai đoạn đỉnh cao. Vài năm trước đã xảy ra một vụ ám sát nhằm vào Giáo hoàng John Paul II trong vụ này người Liên Xô bị cho là có liên quan. Theo Hugh Bicheno:

Chính quyền Argentina thấy rằng việc dỡ bỏ lệnh cấm vận của Carter như là một chiến thắng cho đường lối cứng rắn của họ về Nhân quyền, nhưng họ đã luôn tự đánh giá quá cao tầm quan trọng của họ trước những nhà hoạch định chính sách Hoa kỳ … họ dựa trên ảo tưởng tự của họ về cuộc chiến bên kia bờ Nam Đại Tây Dương tại Angola, nơi có 36.000 quân Cuba làm hậu thuẫn cho Liên Xô để duy trì một chính phủ theo chủ nghĩa Mác-Lênin và đối lập với hai nhóm quân nổi dậy được sự ủng hộ của Nam Châu Phi và Hoa Kỳ. Mục tiêu của Liên Xô là tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên được ưu đãi của Angola để lập nên một căn cứ mà từ đó các lực lượng hải quân của họ có thể đe dọa các tĩnh mạch của phương Tây … trong khi đó Washington luôn xem là căn cứ của họ tại đảo thuộc Anh – Ascension tại Đại Tây Dương … là quá đủ và rằng Hải quân Hoa Kỳ có thể bảo vệ các tuyến đường biển mà không cần có căn cứ bổ sung ở vùng bờ biển. Con đường qua Cape Rout thực sự là một mối quan tâm về địa chính trị của Mỹ, nhưng người Argentina lại không nhận ra rằng họ lại không được đánh giá cao bằng một vài hòn đảo nhỏ của Anh trong phương trình này.

Ngoài ra, Liên Xô duy trì một số căn cứ ở Nam Cực, một số không xa khu vực xung đột, chẳng hạn như Bellingshausen Station tại South Shetlands, một khu vực tranh chấp với cả Argentina và Anh. Liên Xô cũng đã chỉ mới mở một căn cứ ở Nam Cực hai năm trước – Russkaya Station – Mặc dù ở phía bên kia của châu Nam Cực thành viên Ba Lan của Khối hiệp ước Warsaw cũng sử dụng căn cứ Henryk Arctowski không xa Bellinghausen. Liên Xô cũng đã có một số thuyền đánh cá và tàu nghiên cứu “” trong khu vực đó với “đa mục đich”. Bicheno tiếp tục cho rằng ngoài Argentina, Anh và Mỹ ra.

“Có một bên thứ tư liên quan – tàu tình báo điện tử Xô viết duy trì sự giám sát liên tục tới [lực lượng đặc nhiệm] của Anh, Mỹ. …của Mỹ đã không mở rộng để Liên Xô biết được khả năng nghe trộm của NSA (National Security Agency), hoặc được hưởng lợi khi truy cập vào những thông tin được mã hóa trong các siêu -máy tính của họ “

Sự quan tâm lớn của người Liên Xô là muốn biết khả năng chiến đấu của Anh là như thế nào khi phải chiến đấu theo cách riêng của mình. Theo truyền thống, Liên Xô đã coi Vương quốc Anh luôn như là một vệ tinh của Mỹ và không có khả năng hoạt động theo cách riêng của nó.

Vai trò của Pháp

Tổng thống Pháp François Mitterrand đã hỗ trợ đầy đủ cho Vương quốc Anh trong cuộc chiến Falklands. Sir John Nott, người giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Anh trong thời gian xảy ra cuộc xung đột, thừa nhận trong hồi ký của mình rằng “bằng nhiều cách Mitterrand và người Pháp đã là người đồng minh lớn nhất của chúng tôi”. Một phần lớn các thiết bị quân sự của Argentina được Pháp chế tạo, do đó hỗ trợ của Pháp là rất quan trọng. Sir John đã tiết lộ rằng người Pháp đã cung cấp máy bay Mirage và Étendard, trùng với những chiếc mà nó đã cung cấp cho Argentina, để đào tạo phi công Anh chiến đấu chống lại chúng. Cũng được tiết lộ trong cuốn hồi ký của Sir John rằng đã Pháp cung cấp thông tin tình báo để giúp chống lại các tên lửa Exocet mà họ đã bán cho Argentina, bao gồm cả chi tiết các biện pháp đối phó điện tử mà đặc biệt vào thời điểm đó chỉ lực lượng quân đội Pháp là được biết. Trong hồi ký của mình, Margaret Thatcher đã nói với tổng thống Pháp Mitterrand rằng: “Tôi không bao giờ quên chúng tôi đã nợ ông ta khi hỗ trợ chúng tôi với tư cách cá nhân của mình … trong suốt cuộc khủng hoảng Falklands”. Ngay trước thời gian đó Pháp đã bán máy bay Super Étendard và tên lửa Exocet cho Hải quân Argentina và vẫn còn có một đội kỹ thuật người Pháp ở Argentina để trợ giúp lắp đặt các tên lửa Exocet và máy bay để người Argentina sử dụng vào đầu chiến tranh. Argentina tuyên bố rằng đội kỹ thuật này đã ở lại nước Pháp ngay sau khi cuộc xâm lược 02 tháng 4 xảy ra, nhưng theo Tiến sĩ James Çorum, đội kỹ thuật của Pháp dường như vẫn tiếp tục giúp người Argentina trong suốt cuộc chiến bất chấp lệnh cấm vận của NATO và chính sách chính thức của chính phủ Pháp.

Các nước Mỹ Latinh

Argentina chỉ nhận được trợ giúp quân sự từ Peru – mặc dù sự hỗ trợ phải núp bóng Tổ chức các Quốc gia Mỹ trong một nỗ lực để hỗ trợ việc bảo vệ chủ quyền của Argentina và tránh né sự trừng phạt của Cộng đồng Châu Âu (cùng với tham dự của Chile, và Colombia, Trinidad & Tobago và Hoa Kỳ) và Venezuela (cũng pro Argentina ). Tổng thống Peru Belaunde tuyên bố rằng nước ông đã “sẵn sàng hỗ trợ Argentina với tất cả những nguồn lực cần thiết.” sự hỗ trợ này đến dưới hình thức cho máy bay thả các thùng nhiên liệu và phụ tùng máy bay. Khi chiến tranh qua đi Argentina nhận được máy bay tiêm kích Mirage 5P từ Không quân Peru trong khi Hải quân Argentina nhận được máy bay Aermacchi MB-326 và Embraer Bandeirantes từ Không quân Brazil.

Các nước Cuba và Bolivia sẵn sàng gửi lực lượng bộ binh nhưng vì lý do chính trị mà sự trợ giúp của họ đã không được chấp nhận. Tại thời điểm trong thời gian này, Cuba cũng tham gia rất sâu trong cuộc chiến ở Angola ở bên kia Nam Đại Tây Dương và đã có 36.000 quân ở đó. (Nếu có lính Cu Ba thì tình hình có lẽ đã được cải thiện cho Argentina vì lính bộ binh Argentina tuy đông nhưng toàn lính mới )

Vai trò của Chile

Nước láng giềng Chile dưới sự cai trị của Tổng thống Pinochet đã là nước lớn duy nhất ở châu Mỹ Latinh hỗ trợ Anh (và cũng chỉ là gián tiếp) bằng cách làm lệch hướng quân đội và hải quân (của Argentina). Năm 1978 Argentina đã bắt đầu chiến dịch Operation Soberania để xâm chiếm các đảo xung quanh Cape Horn, nhưng đã phải ngừng chiến dịch vài giờ sau đó vì các lý do quân sự và chính trị. Sự căng thẳng giữa hai nước đã trở nên nghiêm trọng bởi các bài phát biểu của các thành viên của lực lượng Junta Argentina (xem ở trên) và vẫn còn kéo dài cho đến cuộc chiến Falkland. 6 tuần trước khi xảy ra cuộc chiến Falkland, Argentina đã có va chạm với với Chile tại Deceit Island. (sự cố tầu ARA Gurruchaga)

Kế hoạch và hành động của Anh

Lực lượng đặc biệt

Anh nhanh chóng tạo áp lực ngoại giao lên Argentina. Vì các khoảng cách đến Falkland quá xa, Anh phải dựa vào một hải quân lực lượng đặc biệt cho hành động quân sự. Lực lượng hải quân được chỉ huy chung bởi Chỉ Huy Trưởng Hạm đội Đô đốc Sir John Fieldhouse, Người đã được chỉ định làm Tư lệnh Lực lượng đặc nhiệm 317 và có 3-4 nhóm đặc biệt trong tay tùy thuộc vào từng giai đoạn của cuộc chiến. Task Group 317,8 của Chuẩn Đô đốc John “Sandy” Woodward đã được xây dựng xung quanh chiếc tàu sân bay HMS Hermes và chiếc tầu sân bay mới được hạ thủy HMS Invincible và chỉ mang 20 (FAA) Sea Harrier của Hải quân mỗi chiếc để phòng thủ chống lại lực lượng không quân Argentina và kết hợp vũ khí phòng không của hải quân. Các lực lượng đặc nhiệm sẽ phải tự lực cánh sinh và có thể phải triển khai lực lượng của nó trên toàn vùng duyên hải của hòn đảo.

Một lực lượng thứ hai là Nhóm tầu Lội nước, Task Group 317,0, được chỉ huy bởi Commodore Michael Clapp RN. The embarked force, Lực lượng Đổ bộ hoặc Task Group 317,1, bao gồm Lữ đoàn 3 Commando, Thủy quân lục chiến Hoàng gia (Bao gồm cả đơn vị trực thuộc Trung đoàn nhảy dù – Quân đội Anh và một số đơn vị thuộc Quân đoàn thiết giáp Hoàng Gia Anh với huy hiệu (The Blues and Royals)) dưới sự chỉ huy của Chuẩn tướng Julian Thompson RM. Hầu hết lực lượng này đã được cho lên boong chiếc tàu chở khách Canberra.

Một lực lượng thứ ba là một nhóm tàu ngầm (TG 320,9) từ 3-4 chiếc tàu ngầm dưới sự chỉ huy của Sỹ quan Kỳ hạm Tầu ngầm – Flag Officer Submarines. Người Anh tuyên bố rằng “khu vực không loại trừ “ ở khoảng 200 hải lý (370 km) xung quanh trước khi bắt đầu hoạt động Falklands tới các tàu thuyền của tất cả các quốc gia.

Trong toàn bộ chiến dịch có 43 tàu buôn Anh (Tàu thương mại hoặc STUFT) Phục vụ hoặc chở đồ cung cấp cho lực lượng đặc nhiệm. Tàu vận tải hàng hóa và tàu chở dầu để chở nhiên liệu và nước tạo thành đường dây hậu cần trong khoảng cách 8.000 dặm giữa Anh và Nam Đại Tây Dương.

Trong suốt cuộc hành trình để chuẩn bị cho cuộc chiến bắt đầu vào ngày 01 tháng 5, TF đã bị theo dõi bởi máy bay Boeing 707 của Không quân Argentina. Một trong những chuyến bay này đã bị chặn lại ở ngoài vùng bảo vệ bởi một chiếc Sea Harrier, nhưng chiếc 707 không vũ trang đã không bị tấn công bởi vì những nỗ lực ngoại giao vẫn còn có tiến bộ và người Anh vẫn chưa quyết định tiến hành chiến tranh.

Hoàng tử Andrew, người thứ hai có quyền thừa kế ngôi vua Anh, phục vụ như là một phi công cho máy bay trực thăng hải quân Sea King thuộc Phi đội No.820 trên tàu HMS Invincible trong chiến tranh, ông tham gia bay chống ngầm và tuần tra chống tầu chiến bề mặt. Máy bay trực thăng của ông cũng thực hiện nhiệm vụ như là cảnh báo sớm trên không, giúp sơ tán nạn nhân, vận chuyển và tìm kiếm cứu nạn.

Người Anh gọi là cuộc phản công của họ là Operation Corporate. Khi lực lượng đặc nhiệm khởi hành từ Anh, tạp chí tin tức Newsweek của Hoa kỳ đã đưa ra một bài báo với tiêu đề “Đế chế bắt đầu phản công – The Empire Strikes Back ” Tên của bộ phim Star Wars đang được công chiếu ở lúc này, trong đó ẩn ý những hài hước, chế giễu Đế quốc Anh già cỗi.

Diễn biến cuộc chiến

Cuộc đổ bộ vào quần đảo Falkland 

Ngày 02 Tháng 4 năm 1982, Quân đội Argentina được chở trên các xe lội nước bắt đầu tiến hàng đổ bộ vào Quần đảo Falkland. Quân xâm lược bắt đầu tiếp cận vòng phòng thủ đầu tiên được tổ chức bởi thiếu tá Mike Norman của Thủy quân lục chiến Hoàng gia theo lệnh của Thống đốc Sir Rex Hunt của Quần đảo Falkland, cuộc đổ bộ của các toán đặc nhiệm của Đại úy hải quân Guillermo Sánchez-Sabarots vào Mullet Creek, cuộc tấn công vào doanh trại Moody Brook, trận giao chiến của lực lượng xe APC của Hugo Santillán với thủy quân lục chiến Hoàng gia của Bill Trollope ở phía đông Stanley, và trận chiến cuối cùng ở Tòa Toà nhà Chính phủ. Đó là trận chiến đầu tiên của Chiến tranh Falklands.

quan ANh do bo

Bản đồ cuộc đổ bộ của Quân đội Argentina vào Quần đảo Falkland

Phòng thủ

Thống đốc Sir Rex Hunt đã được thông báo từ Chính phủ Anh về một cuộc xâm lược của người Argentina có thể nổ ra vào ngày 01 tháng Tư. Lúc 03:30 ngày hôm đó ông ta đã nhận được một bức điện từ Văn phòng Khối thịnh vượng chung nêu rõ:

“Chúng tôi có bằng chứng rõ ràng và đáng tin cậy rằng một lực lượng đặc nhiệm của Argentina có thể sẽ được tập hợp ở ngoài khơi Stanley lúc bình minh ngày mai. Ngài nên thực hiện bố trí cho phù hợp.”

Các lực lượng tham chiến

Vị thống đốc liền cho triệu tập hai sỹ quan cấp cao của Thủy quân lục chiến của Hải quân Hoàng gia – Đội 8.901 đến Toà nhà Chính phủ ở Stanley để thảo luận về việc chọn lựa cho phương án bảo vệ Falklands. Ông nói trong cuộc họp về mức độ nghiêm trọng của tình hình mà các hòn đảo phải đối mặt.

Thiếu tá Mike Norman đã được chỉ định làm chỉ huy chung của Thủy quân Lục chiến bởi thâm niên của ông ta, trong khi thiếu tá Gary Noott trở thành cố vấn quân sự cho Thống đốc Hunt. Tổng cộng có 68 lính Thủy quân lục chiến và 11 thủy thủ, đây là một mức quân số lớn hơn thông thường bởi vì đơn vị đồn trú đang trong quá trình thay đổi. Cả hai toán binh sỹ được thay thế và chuẩn bị ra về đều ở lại được trong Falklands vào thời điểm cuộc xâm lược. Số này sẽ giảm xuống còn 57 khi 22 lính Thủy quân lục chiến Hoàng gia lên boong chiếc tầu tuần tra Endurance ở Nam cực để quan sát binh sĩ Argentina tại căn cứ South Georgia. Nhưng nguồn tin khác từ Hải quân Hoàng gia lại nói rằng tổng số có 85 thủy quân lục chiến được sử dụng, số lượng của họ được gia cố bởi ít nhất 25 thành viên của Lực lượng Bảo vệ Quần đảo Falkland (FIDF). Graham Bound đã sống qua thời gian chiếm đóng của Argentina và viết trong cuốn sách Cuộc chiến tại đảo Falkland rằng con số này cao hơn khoảng 40 người (cả những người đang và đã) là thành viên của FIDF đã báo cáo có mặt tại Drill Hall. Sĩ quan chỉ huy của họ – Thiếu tá Phil Summers được giao nhiệm vụ chỉ huy các dân quân tình nguyện bảo vệ các điểm chủ chốt như các Trạm điện thoại, Đài phát thanh và trạm điện. Skipper Jack Sollis lên boong chiếc tàu ven biển – chiếc Forrest để sử dụng tàu của mình như là một trạm radar quét ngoài khơi Stanley. Hai dân thường khác, cựu thủy quân lục chiến Jim Alister và công dân Canada, Bill Curtiss, cũng xin với viên Thống đốc để được tham gia chiến đấu.

Chiến dịch Rosario

Hoạt động đổ bộ của Argentina bắt đầu vào buổi tối cuối thứ năm ngày 01 Tháng 4, khi tàu khu trục ARA Santisima Trinidad Argentina dừng cách 500 mét ngoài khơi Mullet Creek và hạ xuống nước 21 chiếc xuồng tấn công Gemini. Họ là Toán đổ bộ Đặc nhiệm số 1 gồm 84 lính đặc nhiệm của Trung úy hải quân Guillermo Sánchez-Sabarots và một toán nhỏ dưới sự chỉ huy của Trung úy Pedro Giachino thuộc tiểu đoàn TQLC 2IC, đó là lực lượng để chiếm Toà nhà Chính phủ. Chuẩn Đô đốc Jorge Allara Argentina đã yêu cầu Rex Hunt đầu hàng một cách hòa bình, nhưng đề nghị bị từ chối. Hoạt động này đã được gọi là Azul (Blue) trong giai đoạn lập kế hoạch, nhưng cuối cùng đã được đổi tên thành Rosario (Hoa hồng).

Cuộc tấn công vào doanh trại Moody Brook

Toán của Giachino chỉ phải di chuyển trong một khoảng cách ngắn nhất: hai dặm rưỡi về phía bắc. Doanh trại Moody Brook, đích đến của toán chính cách sáu dặm trên địa hình gồ ghề của Falklands. Trung úy chỉ huy Sánchez-Sabarots, trong cuốn sách Trận chiến của Argentina cho đảo Falklands, mô tả bước tiến của toán quân chính trong bóng tối:

Đó là một đêm với mặt trăng đẹp tuyệt vời, nhưng các đám mây bao phủ mặt trăng trong hầu hết thời gian. Rất khó đi với những balô nặng nề của chúng tôi nhưng công việc rất gấp gáp. Chúng tôi cuối cùng tách ra thành ba nhóm. Chúng tôi chỉ có một chiếc đèn đêm; Người dẫn đầu – trung úy Arias đã giữ nó. Một trong những nhóm đã bị tách ra khi một chiếc xe đi qua con đường mà chúng tôi đã phải vượt qua. Chúng tôi nghĩ rằng nó là một toán tuần tra quân sự. Một nhóm khác lại bị mất liên lạc và nguyên nhân của nhóm thứ ba này là một ai đã đi quá nhanh. Việc này gây ra người phó thứ hai của tôi – trung úy Bardi bị ngã. Anh ta bị gãy xương mắt cá và phải bị bỏ lại phía sau với một người để giúp anh. Chúng tôi đã được Moody Brook vào lúc 5:30, rất sát vào giới hạn của thời gian quy định, nhưng không có dư khoảng thời gian độ 1 giờ để trinh sát đây là khoảng thời gian mà chúng tôi hy vọng đã có.

Toán chính của Thủy quân lục chiến Argentina giả định rằng Doanh trại Moody Brook có Thủy quân lục chiến Hoàng gia đang ngủ. Doanh trại rất yên tĩnh, mặc dù một tia sáng đã chiếu vào trong phòng của viên chỉ huy Lực lượng Royal Marine. Không có động tĩnh nào được quan sát và đó là một đêm yên tĩnh ngoài vài tiếng kêu của các động vật thông thường. Trung úy-Commander Sánchez-Sabarots không thể nghe thấy bất cứ điều gì của hành động tại tòa Toà nhà chính phủ, hoặc từ điểm đổ bộ từ bãi biển đích, tuy nhiên, ông ta vẫn ra lệnh bắt đầu tấn công. Trung úy-Commander Sánchez-Sabarots tiếp tục các ghi chép của mình:

Vẫn hoàn toàn tối thui. Chúng tôi sẽ sử dụng hơi cay để ép quân Anh ra khỏi tòa nhà và bắt sống chúng. Mệnh lệnh là không được gây thương vong nếu có thể. Đó là nhiệm vụ khó khăn nhất trong sự nghiệp của tôi. Tất cả chúng tôi được đào tạo như là những lính biệt kích để chiến đấu một cách mạnh mẽ và gây thương vong tối đa cho đối phương. Chúng tôi bao vây doanh trại với các toán súng máy, chỉ để lại một đường thoát dọc theo bán đảo phía bắc của Stanley Harbour. Bất cứ ai nếu có thoát được đi cũng sẽ không thể tiếp cận thị trấn và củng cố cho người Anh ở đó. Sau đó chúng tôi ném lựu đạn cay vào từng tòa nhà. Không có phản ứng gì cả, doanh trại đã trống không.

Những tiếng nổ của lựu đạn đã báo cho thiếu tá Norman sự hiện diện của người Argentina ở trên đảo và như vậy là ông quyết định trở về Toà nhà Chính phủ. Nhận thấy rằng cuộc tấn công đến từ Moody Brook, ông ra lệnh cho tất cả các toán quân hội tụ về Toà nhà Chính phủ để khả năng phòng thủ được tập trung.

Mặc dù không có nhân chứng nào của Royal Marine trong vụ tấn công, mô tả tình trạng của doanh trại Moody Brook sau đó mâu thuẫn với các sự kiện trong tài liệu của Argentina. Sau hành động, một số Thủy quân lục chiến Hoàng gia được phép trở về doanh trại để thu thập các vật dụng cá nhân. Chính Norman đã mô tả bức tường của doanh trại bị thủng bởi súng máy và lựu đạn Phốt pho trắng “Một hoạt động theo kiểu dọn dẹp cổ điển”

Đổ bộ hạ tại York Bay

Một hành động cấp bách hơn ở rìa phía đông của Stanley. Hai mươi chiếc xe bọc thép đổ bộ Amtrac LVTP-7A1 – do Hoa kỳ sản xuất của Argentina từ Tiểu đoàn 1 Xe lội nước, chở các đại đội D và E của Tiểu đoàn 2 Thủy quân lục chiến (BIM-2) từ Puerto Belgrano, đổ bộ xuống bến tầu Cabo San Antonio tại Yorke Bay, và đã bị theo dõi bởi một toán Thủy quân lục chiến Hoàng gia dưới sự chỉ huy của Trung úy Bill Trollope. Cột xe thiết giáp dọc theo con đường sân bay vào Stanley với ba chiếc Amtrac (số 05, 07 và 19) trong đội tiên phong và gần the Ionospheric Ionospheric Station, tại chính xác lúc 7:15 am, và đã bị tấn công bởi một toán Thủy quân lục chiến Hoàng gia bằng rocket chống tăng và súng máy. Diễn biến này được báo cáo từ Trung úy -Commander Hugo Santillán sau trận chiến chính thức:

Chúng tôi đã vào đoạn cuối cùng của con đường tới Stanley. Một loạt đạn súng máy bắn từ một trong ba Toà nhà trắng ở khoảng 500 mét và trúng vào chiếc Amtrac bên tay phải. Đạn bắn rất chính xác. Sau đó có tiếng nổ từ một bệ phóng rocket chống tăng nhưng phát bắn đã không chính xác và rơi xuống cách chúng tôi một khoảng khá xa. Chúng tôi tiến hành đúng theo chiến thuât chiến đấu tiêu chuẩn của chúng tôi và cơ động lẩn tránh. Chiếc Amtrac bên phải bắn trả…. Sau khi qua khỏi thời gian nguy hiểm, tôi ra lệnh cho cả ba chiếc xe thả quân tháp tùng của họ xuống. Tôi ra lệnh cho lính của mình dùng súng không giật bắn một phát đạn trống tăng vào mái của Toà nhà nơi có đặt các khẩu súng máy để gây ra một tiếng nổ nhưng không phải là một vụ nổ. Chúng tôi vẫn theo mệnh lệnh mà chúng tôi nhận được là không gây ra thương vong. Phát đạn đầu tiên cách mục tiêu một trăm mét, nhưng phát thứ hai đã trúng mái của Toà nhà. Các binh lính Anh sau đó đã ném một quả lựu đạn khói, Tôi nghĩ rằng đó là tín hiệu họ rút lui. Họ đã ngừng bắn, do đó chỉ huy Weinstabl bắt đầu cho hai đại đội tiến lên xung quanh vị trí. Sau đó một số xạ thủ súng trường tại một trong những toà nhà bắt đầu bắn ra một cách khá khó chịu. Tôi không thể xác định được vị trí của họ, nhưng một trong những chiếc Amtrac khác của tôi yêu cầu sự cho phép để bắn một vài phát đạn súng cối mà họ có. Tôi chấp nhận điều này, nhưng chỉ cho phép bắn ba phát đạn vào mái của ngôi nhà. Hai viên đạn rơi không trúng nhưng phát thứ ba rơi vào chính giữa mái của Toà nhà và không thể tin được người Anh sau đó đã ngừng bắn.

Chiếc Amtrac bên phải chuyển động ra ngoài con đường rồi tắt máy, nó thả lính Thủy quân lục chiến ở bên trong ra, Việc này khuyến khích các Thủy quân lục chiến Hoàng gia nghĩ rằng lính Mark Gibbs đã bắn được một phát trúng trực tiếp vào khoang chở quân của chiếc APC.

Trung úy Bill Trollope mô tả các hành động:

Sáu xe APC bắt đầu tiến với ở tốc độ chậm vào sân bay. Chiếc APC đầu tiên đã bị tấn công ở vào một phạm vi khoảng 200-250 mét. Ba phát rocket đầu tiên, hai phát cỡ nòng 84 mm và một phát cỡ nòng 66 mm đều trượt mục tiêu. Sau đó một trong số phát 66 mm bắn bởi Marine Gibbs bắn trúng khoang chở quân là một trong phát đạn 84 mm của các Thủy quân lục chiến Brown và Betts từ phía trước. Cả hai viên đạn đều phát nổ và nhưng không thấy đám cháy từ chiếc xe đó. Năm chiếc APC còn lại ở khoảng 600-700 mét đổ quân của họ xuống và nổ súng. Chúng tôi đánh nhau với họ bằng súng GPMG, SLR và súng bắn tỉa [Sergeant Shepherd] vài phút trước khi ném về phía trước khi một quả lựu đạn phốt pho khói trắng và vọt về phía bìa của khu vườn. Súng nổ ở giai đoạn này là khá dữ dội nhưng chủ yếu là không chính xác.

Trung úy Trollope và người của mình rút lui về phía Davis Street, chạy về phía sau Toà nhà và Thủy quân lục chiến Argentina đuổi sát ở phía sau và phải nằm xuống đất rồi bắn lên mặt đường khi rõ ràng rằng họ không thể tiếp cận được đến Toà nhà Chính phủ.

Trận Toà nhà Chính phủ và đầu hàng

Nằm trên một đồỉ nhỏ phía nam của tòa Toà nhà chính phủ, Trung úy-Commander Giachino phải đối mặt với khó khăn của việc chiếm lấy mục tiêu quan trọng này mà không có điện đài và với một lực lượng chỉ có mười sáu người. Ông phân chia lực lượng của mình thành các nhóm nhỏ, cho một đội ở mỗi bên của Toà nhà và một ở phía sau. Họ không biết được rằng tòa nhà của Thống đốc là điểm tập trung chính của Thủy quân lục chiến Hoàng gia, và có sô lượng đông hơn các của Commandos Argentina đến ít nhất là 2-1. Cuộc tấn công đầu tiên vào tòa Toà nhà này nổ ra lúc 6:30, chỉ một giờ trước khi có cuộc đổ bộ vào Vịnh Yorke, khi một trong những đội của Giachino do Trung úy Gustavo Lugo chỉ huy bắt đầu bắn nhau với quân Anh trong Toà nhà. Tại thời điểm này Giachino cùng với bốn cấp dưới của ông đột nhập vào phòng của người giúp việc và nghĩ tin rằng đây là lối vào phía sau của tòa nhà. Ba Thủy quân lục chiến Hoàng gia, các hạ sỹ Sellen và Fleet cùng với lính TQLC Dorey, những người đã phục sẵn ở đây ngay lập tức đánh bại cuộc tấn công đầu tiên. Giachino bị trúng ngay lập tức khi ông lao qua cửa, trong khi Trung úy Diego Garcia Quiroga bị bắn vào cánh tay. Số ba người còn lại rút về nhà của người giúp việc. Giachino không bị chết nhưng bị thương rất nặng. Một lính cứu thương Argentina – hạ sỹ Ernesto Urbina, cố để cứu Giachino nhưng đã bị thương do một quả lựu đạn. Giachino, thấy những gì đã xảy ra, kéo pin của một quả lựu đạn ra tay và đe dọa sẽ dùng nó. Thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh sau đó cố gắng thuyết phục viên sỹ quan này đừng nổ quả lựu đạn để họ có thể sơ cứu cho ông nhưng ông ta từ chối và chặn không cho họ đến vị trí của mình. Sau khi lực lượng Anh tại Toà nhà Chính phủ đầu hàng, khoảng ba giờ sau đó, Giachino mới được đưa tới bệnh viện Stanley nhưng đã chết vì mất máu.

biet kich Argnetina

Ảnh toán biệt kích của Argentina, những người đã đột kích vào Toà nhà Chính phủ đầu hàng ở Stanley

Tại văn phòng của Thống đốc, thiếu tá Norman nhận được một báo cáo vô tuyến điện từ toán của hạ sỹ York, toán này được định vị tại phần cong của bán đảo nới quan sát bất kỳ con tàu nào của Argentina tiến vào Stanley Harbour.

Viên hạ sỹ tiến hành báo cáo về ba mục tiêu tiềm năng trong tầm nhìn và đó ông hỏi lại. mục tiêu theo dõi ưu tiên là gì? . Mục tiêu số một là một chiếc tàu sân bay, mục tiêu số hai là một tàu tuần dương, tại thời điểm đó vị trí này bị tràn ngập. Hạ sỹ York quyết định thu hồi toán của mình và tiến hành cài bẫy mìn vào khẩu súng không giật Carl Gustav, trước khi paddling chiếc xuồng của họ về phía bắc vượt qua cảng William. Khi ông ta làm việc này,York tuyên bố rằng một tàu khu trục Argentina bắt đầu theo đuổi chúng (chiếc tàu hạm đội loại nhỏ ARA Granville theo nguồn Argentina). Ông có sáng kiến lái chiếc Gemini vào sát một chiếc tàu cá Ba Lan, ẩn chiếc xuồng nhỏ trong bóng của nó. Họ kiên nhẫn chờ đợi cơ hội, trước khi di chuyển đến bờ biển và đổ xuống một bãi biển nhỏ.

Quay lại tại Toà nhà Chính phủ, các biệt kích Argentina ” gây áp lực tiếp tục. Có một số bằng chứng cho thấy rằng họ sử dụng lựu đạn stun và thay đổi liên tục các vị trí bắn của họ trong trận đánh làm Thủy quân lục chiến Hoàng gia bên trong tin rằng họ đã phải đối mặt với một đại đội thủy quân lục chiến và chiếm ưu thế về mặt quân số. Trên thực tế, sau thất bại của đội của Giachino trong việc đột nhập vào tòa nhà, người Anh đã bị bao quanh bởi chỉ có một tá quân tinh nhuệ. Những người này nằm dưới sự chỉ huy của Trung úy Lugo, chỉ huy phó của Giachino. Chiếc Land Rovers sử dụng bởi Thủy quân lục chiến Hoàng gia bị vô hiệu hóa bởi súng tự động của lính biệt kích. Thống đốc Hunt gọi cho Patrick Watts qua điện thoại và nói ông tin rằng lực lượng tấn công tương đương với một đại đội được tăng cường:

Chúng tôi vẫn giữ được vị trí này, nhưng chúng tôi đang bị ghìm chặt. Chúng tôi không thể di chuyển .(…) bây giờ họ có khoảng 200 người bao vây xung quanh chúng tôi. Họ ném lựu đạn và bắn súng trường vào chúng tôi, tôi nghĩ rằng có thể có cả súng cối, tôi cũng không chắc lắm. Họ đến rất nhanh chóng và rất gần và sau đó họ rút lui. Có lẽ họ đang chờ đợi cho đến khi những chiếc APC đi cùng [Amtracs] và họ nghĩ rằng họ sẽ ít bị thương vong.

Do đó, Hunt quyết định tham gia đàm phán với các chỉ huy Argentina khoảng 08:00. Việc liên lạc được Phó Commodore Hector Gilobert, đứng đầu công ty hàng không chính phủ Argentina – LADE. Gilobert và một Phó Thống đốc đã đến sở chỉ huy của Argentina với một lá cờ trắng. Một thỏa thuận ngừng bắn trên thực tế đã được đưa ra vào thời gian đó nhưng đôi khi bị vi phạm bởi các vũ khí nhỏ.

Trong khi các cuộc đàm phán vẫn đang diễn ra, một sự cố xảy ra bên trong nơi cư trú. Ba người Argentina còn sống sót của đợt tấn công đầu tiên còn lại vô tình báo cho thiếu tá Noott về sự hiện diện của họ, trong khi họ chuẩn bị rời khỏi nơi ẩn náu của mình. Ông hướng khẩu súng tiểu liên Sterling vào trần của căn phòng của người giúp việc và nã đạn. Theo báo cáo của người Anh, các biệt kích bị choáng váng và ngã xuống cầu thang, liền hạ vũ khí của họ xuống mặt đất. Họ đã trở thành tù nhân Argentina đầu tiên của chiến Falklands mặc dù vào lúc đó Thống đốc Hunt đang tiếp xúc với các quan chức Argentina để đàm phán các điều khoản đầu hàng. Theo phiên bản của Argentina thì ba người này giữ đúng vị trí chiến đấu của họ đến khi kết thúc chiến sự.

Trong khi đó, phái viên của Thống đốc đến gặp chỉ huy của Argentina tại Stanley. Chỉ huy Trưởng Argentina chấp nhận một cuộc họp mặt giáp mặt với Rex Hunt trong văn phòng đã bị tấn công của ông.

Ngay sau đó, Thủy quân lục chiến Hoàng gia trong Toà nhà Chính phủ thấy các xe Amtrac đang tiếp cận, nhóm mà trước đó đã giao chiến với Trung úy Trollope và toán của ông. Đội này tiến về phía Moody Brook để kết nối với lực lượng của Sánchez-Sabarots, những biệt kích di chuyển chậm dọc theo con đường chính để củng cố các đồng đội của họ để bao vây tòa Toà nhà chính phủ sau khi bắt được một số tù nhân gần trường đua ngựa này. Thượng tá Norman trước đó đã khuyên Rex Hunt rằng Thủy quân lục chiến Hoàng gia và Thống đốc có thể phá vòng vây đến vùng nông thôn và thành lập một cơ quan chính phủ ở nơi nào đó, nhưng sau đó ông ta cuối cùng đã gặp được chỉ huy trưởng của lực lượng Argentina – Đô đốc Busser, ông đã đồng ý cho quân của mình đầu hàng trước một lực lượng áp đảo của Argentina lúc 09:30.

Với lực lượng của York . Ngày 04 tháng 4, họ đã đến một túp lều chăn secluded sở hữu của một bà Watson nào đó. York không có radio, và do lo lắng về cái chết có thể xảy ra khi chọn phương án đầu hàng lực lượng Argentina. Họ thông báo vị trí của mình cho người Argentina bằng cách sử dụng radio một người địa phương ở đảo, và York sau đó ra lệnh cho người của mình phá hủy và chôn vũ khí của họ.

Sau khi đầu hàng, Thủy quân lục chiến Hoàng gia và các thành viên của FIDF sau đó bị dồn vào các khu sân chơi. Hình ảnh và phim chụp các tù nhân người Anh được bố trí úp mặt xuống mặt đất. Điều này có lẽ là một nỗ lực của Argentina để chứng minh việc không có thương vong của người Anh, nhưng kết quả trái ngược lại: Các hình ảnh này đã kích động công chúng Anh khi chúng được phát sóng trên truyền hình và làm tăng phản đối của công luận về cuộc xâm lược. Ngay sau đó, Thủy quân lục chiến Hoàng gia được chuyển đến một máy bay vận tải C-130 Hercules, sau đó đưa họ đến Uruguay và đến Vương quốc Anh. Các thành viên của FIDF đã không được đưa đến Argentina cùng với các thành viên của NP 8.901, thay vào đó họ bị được giải giáp và trở về nhà của họ. Khi Thủy quân lục chiến được đưa ra khỏi hòn đảo, một trong số họ nói với một lính gác người Argentina “…. chúng tôi sẽ trở lại”.

Tại Buenos Aires những đám đông vẫy cờ làm ngập Plaza de Mayo khi nghe tin này. Thiệt hại của Argentina trong hoạt động này chỉ là một người chết và ba người bị thương. Tại London, nơi mà các tin xấu đều hoàn toàn đến từ các nguồn của Argentina, chính phủ đã ở trong tình trạng sốc. Cuộc khủng hoảng làm Bộ trưởng ngoại giao, Lord Carrington phải từ chức.

Ngày hôm sau, lực lượng Argentina bắt chiếm chuỗi đảo South Georgia, 1.350 km về phía đông của Falklands. Trong hành động đó, Argentina phải chịu tổn thất một trong những thủy thủ của tàu hộ tống ARA Guerrico và hai thủy quân lục chiến thiệt mạng (Hạ sỹ hải quân Patricio Guanca và lính thủy quân lục chiến Mario Almonacid và Aguila Jorge). Một trong các Thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh bị thương trong khi bắn nhau với quân đội Argentina. Thủy quân lục chiến Anh cuối cùng đã đầu hàng khi vị trí của họ bị bắn vào bởi khẩu 40 mm của chiếc Guerrico.

Trận South Georgia

Ngày 02 tháng 4

Ngay trước khi Argentina đổ bộ lên Falklands, Các chiếc Bahía Paraíso (tầu Argentina) và Endurance (tầu Anh) đang chơi trò mèo-vờn-chuột ở South Georgia, cho đến 31 tháng 3, khi các con tàu bị mất hút nhau. Kế hoạch của Anh là Martin ( phía Anh) sẽ phải chịu trách nhiệm cho đến khi các lực lượng Argentina cho thấy bất kỳ ý định thù địch. Nếu điều đó xảy ra, Quyền Trung úy Keith Mills, sĩ quan cao cấp nhất của toán Thủy quân lục chiến Hoàng gia, sẽ nắm quyền chỉ huy. Ngày 02 tháng 4, thuyền trưởng Alfredo Astiz, Một cựu binh của Cuộc chiến bẩn thỉu người bị yêu cầu dẫn độ của Pháp vì hành vi vi phạm nhân quyền, thông báo cho bên Argentina tại Leith rằng quân đội Argentina đã đổ bộ lên Falklands. Trong khi đó, hải quân Argentina đã ra lệnh cho tàu hộ tống ARA Guerrico gia nhập cùng chiếc Bahía Paraíso, được trang bị hai máy bay trực thăng (một chiếc Puma của Lục quân và một chiếc Alouette III của hải quân ) và chở theo 40 lính thủy quân lục chiến, cùng với nhóm nghiên cứu tại Leith Astiz. Mục đích là chiếm giữ Grytviken. Nhóm này được gọi là Grupo de Tareas 60,1 (Task Force 60,1), dưới sự chỉ huy của Đại úy Trombetta, trên chiếc tàu Bahía Paraíso.

Sau khi biết tin sự thất thủ của Stanley, Mills đã có biện pháp cấp bách: cho người của mình củng cố tại bãi biển, gần lối vào của vịnh với mìn dây và bom và chuẩn bị phòng thủ quanh tòa nhà BAS. Chiếc Endurance ở một vài dặm ngoài khơi, sẽ cung cấp thông tin liên lạc giữa toán quân nhỏ của Anh và London. Những quy định mới về quyền của Mills để “nổ súng tự vệ, sau khi đã cảnh báo”. Một tuyên bố sau đó từ chính phủ Anh chỉ thị cho thủy quân lục chiến để “không chống cự vượt quá điểm mà cuộc sống có thể bị mất một cách vô ích.” Mặt khác, kế hoạch cho ngày 02 tháng 4 của Argentina ở South Georgia đã bị cản trở bởi thời tiết xấu. Kế hoạch này bao gồm các cuộc đổ bộ của lực lượng đặc biệt Astiz vào Hope Point, gần Grytviken để đảm bảo sự xuất hiện của phần lớn các lực lượng trên bộ, vận chuyển bằng máy bay trực thăng. Chiếc Guerrico sẽ cung cấp hỗ trợ bằng hỏa lực của hải quân ở ngoài vịnh. Nhưng sự xuất hiện của chiếc tàu hộ tống đã bị trì hoãn bởi một cơn bão, do đó một hướng hành động mới đã được quyết định trong ngày hôm sau. Theo kế hoạch mới, cuộc đổ đầu tiên sẽ được dẫn đầu bởi chiếc máy bay trực thăng Alouette của chiếc Guerrico, tiếp theo là ba đợt đổ bộ thủy quân lục chiến trên chiếc Puma từ chiếc Bahia Paraíso. Sau khi gửi tin nhắn vô tuyến điện yêu cầu người Anh đầu hàng, Trombetta sẽ ra lệnh cho chiếc Guerrico để tạo ra một lực đẩy vào Grytviken bến cảng, ngay trước mặt King Edward Point. Quy định của Argentina cho phép tàu hộ tống chỉ nổ súng của nó theo yêu cầu của lực lượng đổ bộ. Người của Astiz sẽ ở lại trên chiếc Bahia Paraíso để gác ở phía sau. Tất cả các lực lượng tham gia nên tránh thương vong cho đối phương càng nhiều càng tốt. Freedman tin rằng Trombetta lên các quy định này khi ông ta chỉ phải chiến đấu với nhóm BAS.

Ngày 03 tháng tư

Lúc 07:30, khi thời tiết được cải thiện, chiếc Bahia Paraíso yêu cầu sự đầu hàng của Grytviken. Thông điệp intimated rằng Rex Hunt đã đầu hàng, không chỉ ở Falklands, mà còn cả ở vùng phụ thuộc của nó là sai sự thật. Trung úy Mills chép và chuyển tiếp tin nhắn tới chiếc HMS Endurance, Với mục đích là kéo dài thời gian. Đồng thời, ông đã mời các nhân viên BAS ẩn nấp vào bên trong một nhà thờ địa phương. Đến lúc đó, chiếc Alouette đã bay qua Grytviken và chiếc Guerrico đang lần đầu tiên tiến vào vùng nước nhỏ. Theo Mayorga, thuyền trưởng Carlos Alfonso chỉ huy của chiếc Guerrico do dự không biết có nên cho chiếc tàu hộ tống vào trong vùng biển hẹp như vậy. Mayorga cũng ủng hộ những phán đoán của Freedman về những giả định sai của Trombetta về sự hiện diện quân sự của Anh xung quanh bến cảng. Trombetta cũng đã có một số dự phòng về sự sẵn sàng sự chiến đấu của chiếc tàu chiến vì nó đã phải nằm tại ụ tàu chỉ vài ngày trước khi khởi hành từ căn cứ nhà tại Puerto Belgrano.

Máy bay trực thăng bị bắn hạ

Chiếc Puma đã đổ xuống một nhóm 15 thủy quân lục chiến đầu tiên của Argentina vào King Edward Point lúc 11:41, ở phía đối diện với Shackleton House, nơi mà các Thủy quân lục chiến Hoàng gia đang cố thủ. Đến lúc đó, chiếc Guerrico biết rằng khu vực triển khai chung của Thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh đã nằm trên bờ phía bắc của một vũng biển nhỏ. Làn sóng thứ hai của thủy quân lục chiến cất cánh từ chiếc Bahia Paraíso trên boong chiếc Puma lúc 11:47. Chỉ huy của nhóm Argentina đã tiếp đất, trung úy Luna, yêu cầu thông qua chiếc Guerrico – Ông không có thông tin liên lạc trực tiếp với chiếc Bahia Paraíso- Rằng làn sóng thứ hai nên được trang bị súng cối 60 mm, nhưng nhóm này đã cất cánh. Việc hạ cánh đã được diễn ra ở phía đông của vị trí của Luna, cũng trong tầm nhìn của quân Anh. Chiếc máy bay trực thăng này bị phát hiện bởi Mills và binh lính của mình và ch bắn dữ dội các khẩu súng tự động. Phi công vẫn có thể bay qua chiếc vịnh nhưng lại có tai nạn máy bay trực thăng khi hạ cánh trên bờ phía nam của chiếc vịnh này. Hai người đã thiệt mạng và bốn người bị thương. Đồng thời, quân của Luna bắt đầu tiến về phía Shackleton House, nhưng các lính thủy đánh bộ Anh ghìm họ xuống bằng súng hạng nặng. Vì vậy Luna phải yêu cầu chiếc Guerrico nổ súng hỗ trợ.

Chiếc ARA Guerrico

Chiếc tàu hộ tống sau đó bắt đầu lần tiến lên thứ hai vào vũng nước nhỏ và lúc 11:55 nổ súng. Nó chỉ làm thất vọng viên chỉ huy của nó, súng 20 mm bị kẹt sau phát bắn đầu tiên, và súng 40 mm chỉ bắn được sáu viên đạn. Khẩu súng 100 mm cũng trở thành vô dụng sau khi bắn phát đầu tiên. Hoàn toàn vô dụng nhưng chiếc tàu chiến không có sự lựa chọn khác mà phải tiếp tục đi trước để quay về. Lúc 11:59, chiếc tàu hộ tống bị trúng các hỏa lực hạng nhẹ và 84 mm đạn chống tăng Carl Gustav. Theo Mills, toán của ông đã nổ súng từ khoảng cách 550 mét. Sự kiện này làm chết một thuỷ thủ và làm bị thương năm người khác, gây hư hại các cáp điện, súng 40 mm, một trong những bệ phóng Exocet và khóa nòng của khẩu súng 100 mm. Tất cả các nguồn từ Argentina thừa nhận rằng có hơn 200 phát đạn của vũ khí hạng nhẹ đã bắn trúng chiếc tàu hộ tống. Trong khi đó, Trung úy Busson của chiếc Alouette đã vận chuyển nhiều Thủy quân lục chiến Argentina lên trên bờ trong tầm phạm vi các loại vũ khí của Anh. Trong khi đó chiếc Guerrico cố gắng ra khỏi vũng biển hẹp, quân Argentina lại tiếp tục bắn nhau với thủy quân lục chiến của Mills. Một trong số họ bị trúng vào cánh tay của mình. Khi con tầu ra được khỏi phạm vi bắn của đối phương, chiếc Guerrico lại tiếp tục bắn súng 40 mm của mình vào lúc này. Việc này làm Mills tin rằng mọi thứ đã kết thúc và ông đã ra lệnh cho thủy quân lục chiến của mình ngừng bắn. Sự kiện này xảy ra vào lúc 12:48 theo Mayorga (người kể chuyện ). Mills tiếp cận vị trí của quân Argentina và vẫy một chiếc áo khoác màu trắng và đầu hàng “Sau khi đạt được mục tiêu của ông về việc dụ cho quân Argentina phải sử dụng vũ lực quân sự” Mills và lính của ông đã được mang đi và quản thúc bởi nhóm của Astiz, lực lượng dự trữ còn lại cho trận đánh. Chiếc HMS Endurance cử một trong những máy bay trực thăng Wasp của nó đến Cumberland. Chiếc máy bay đã hạ cánh ở đó và phát hiện một chiếc tàu hộ tống và tàu vận tải Argentina bên trong vũng nước nhỏ nhưng không tìm thấy dấu hiệu của trận chiến. Chiếc HMS Endurance vẫn ở trong vùng biển South Georgia cho đến mùng 5 tháng tư.

Hậu quả

Chiếc tàu hộ tống Guerrico đã bị mất 50% súng ống của mình trong thiệt hại của trận chiến cùng rời Grytviken với chiếc Bahia Paraíso lúc 03:15 ngày 04 tháng 4, khi đến địa phận Rio Grande, nó mất ba ngày trong ụ khô để sửa chữa. Các thủy quân lục chiến Anh đã bị tước vũ khí và đưa lên boong chiếc Bahia Paraíso, họ được chở đến Rio Grande và sau đó đã được đưa lên máy bay để đến Montevideo. Cuối cùng họ trở về Anh Quốc vào ngày 20 tháng 4. Một số thành viên BAS của Anh làm việc tại vùng sâu vùng xa vẫn tiếp tục hoạt động của họ mà không nản lòng cho đến khi cuộc tái chiếm Anh nổ ra. Nhà sản xuất phim động vật hoang dã – Cindy Buxton và trợ lý của cô đã được di tản bằng trực thăng từ tàu HMS Endurance ngày 30 tháng 4. Hải quân Argentina để lại một biệt đội gồm 55 lính thủy quân lục chiến ở trên hòn đảo. Các công nhân thu nhặt kim loại phế liệu 39 cũng vẫn ở tại Leith. South Georgia đã chiếm lại bởi lực lượng quân đội Anh ngày 25 tháng tư năm 1982, trong Operation Paraquat.

Phản ứng ban đầu của Anh trước cuộc xâm lược của Argentina

Chiếm lại Quần đảo Falkland được xem là một việc vô cùng khó khăn: hạn chế chính là sự khó khăn trong việc triển khai yểm trợ trên không (người Anh có 34 máy bay Harrier chống lại máy bay tiêm kích phản lực 220 của Argentina). Hải quân Hoa Kỳ coi sự thành công trong cuộc chiến chống xâm lược của người Anh “ một sự bất khả kháng về quân sự ”. Hoa Kỳ ban đầu đã cố gắng làm trung gian để chấm dứt cuộc xung đột. Tuy nhiên, khi Argentina từ chối những lời đề nghị hòa bình của Mỹ, Ngoại trưởng Mỹ Alexander Haig công bố rằng Hoa Kỳ sẽ cấm bán vũ khí cho Argentina và cung cấp hỗ trợ vật chất cho các hoạt động của Anh. Cả hai viện của Quốc-hội Mỹ đã thông qua nghị quyết ủng hộ hành động Mỹ đứng về phía Vương quốc Anh.

Đến giữa tháng Tư, Không quân Hoàng gia đã thành lập một căn cứ không quân tại Wideawake ở giữa Đại Tây Dương tại vùng lãnh thổ hải ngoại của Anh thuộc Đảo Ascension, Trong đó có một lực lượng đáng kể máy bay ném bom Avro Vulcan B Mk 2, máy baytiếp nhiên liệu Handley Page Victor K Mk 2 và máy bay chiến đấu McDonnell Douglas Mc FGR Phantom 2 để bảo vệ chúng. Trong khi đó, lực lượng đặc nhiệm chính của hải quân Anh đến Ascension để chuẩn bị phục vụ chiến dịch. Một lực lượng nhỏ đã được gửi về phía nam để chiếm lại South Georgia.

South Georga va Falkland
Bản đồ di chuyển của lực lượng đặc nhiệm Anh để chiếm lại South Georga và Quần đảo Falkland

Ngay từ đầu tháng Tư, đội Task Force của Anh đã bị đeo bám bởi máy bay Boeing 707 của Không quân Argentina trong thời gian họ tiến về phía nam. Một số các chuyến bay này đã bị chặn bởi máy bay BAE Sea Harrier ở ngoài khu vực loại trừ đối của Anh, những chiếc 707 không vũ trang đã không bị tấn công bởi các động thái ngoại giao vẫn còn đang trong tiến trình và Anh vẫn chưa quyết định sử dụng lực lượng vũ trang. Ngày 23 tháng 4 một máy bay thương mại Douglas DC -10 của hãng hàng không VARIG-Brazil trên đường đến Nam Phi đã bị chặn lại bởi những chiếc Harrier của Anh và chiếc này đã được xác định bằng trực quan là máy bay dân sự.

Tái chiếm South Georgia và tấn công chiếc tầu ngầm Santa Fe

Lực lượng South Georgia trong Operation Paraquet, dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Guy Sheridan RM, bao gồm Thủy quân lục chiến từ đơn vị 42 Commando, một toán quân của Special Air Service (SAS) và một toán khác của Special Boat Service (SBS) đây là những toán được dự định để làm lực lượng trinh sát cho một cuộc xâm lược của Thủy quân lục chiến Hoàng gia. Tất cả đều được lên boong chiếc RFA Tidespring. Đến đich đầu tiên đến là chiếc tàu ngầm HMS Conqueror lớp Churchill vào ngày 19 tháng 4 và hòn đảo đã được bay qua bởi một chiếc máy bay Handley Page Victor có radar-mapping vào ngày 20 tháng 4.

Cuộc đổ bộ đầu tiên của toán SAS diễn ra vào ngày 21 tháng 4, nhưng vào mùa thu nam bán cầu thường trong thời tiết rất xấu làm cho cuộc đổ bộ của họ và của những người khác được thực hiện ngày hôm sau, tất cả đều bị thu hồi sau khi hai máy bay trực thăng bị rơi trong sương mù ở Fortuna Glacier. Ngày 23 tháng 4, nghe được một cảnh báo về tàu ngầm và các hoạt động được dừng lại, chiếc Tidespring bị thu hồi về vùng nước sâu hơn để tránh bị đánh chặn. Ngày 24 tháng tư, các lực lượng Anh tập hợp lại và hướng đầu về phía South Georgia.

tàu ngầm ARA Santa Fe của Argentina

Ảnh chiếc tàu ngầm ARA Santa Fe của Argentina

Ngày 25 tháng 4, sau khi chuyển đồ cung cấp cho đơn vị đồn trú Argentina ở South Georgia, chiếc tàu ngầm ARA Santa Fe bị phát hiện trên bề mặt bởi một máy bay trực thăng Westland Wes.s.e.x HAS Mk 3 cất cánh từ chiếc HMS Antrim, chiếc này đã tấn công chiếc tàu ngầm Argentina bằng bom chìm. Chiếc HMS Plymouth đưa ra thêm một máy bay trực thăng Westland Wasp HAS.Mk.1 và HMS Brilliant tung ra một chiếc Westland Lynx HAS Mk 2. Chiếc Lynx bắn ra một quả ngư lôi và bắn phá chiếc tàu ngầm bằng khẩu súng máy đa chức năng của nó. Chiếc Wes.s.e.x cũng bắn vào chiếc Santa Fe với GPMG của nó. Chiếc Wasp từ chiếc HMS Plymouth cũng như hai chiếc Wasps phóng từ chiếc HMS Endurance bắn tên lửa chống hạm AS-12 ASM vào chiếc tàu ngầm. Chiếc Santa Fe bị hư hỏng nặng đủ để cho nó không thể lặn sâu xuống. Thủy thủ đoàn rời bỏ chiếc tàu ngầm tại cầu tàu ở King Edward Point thuộc South Georgia.

Với chiếc Tidespring bây giờ ở xa ngoài biển và lực lượng Argentina được gia tăng bởi phi hành đoàn của chiếc tàu ngầm, thiếu tá Sheridan quyết định thu thập khoảng 76 người và ông đã thực hiện một cuộc tấn công trực tiếp vào ngày hôm đó. Sau một cuộc hành quân ngắn của quân đội Anh, lực lượng Argentina đã đầu hàng mà không kháng cự. Thông điệp được gửi từ các lực lượng hải quân ở South Georgia tới London là: “Vui mừng xin thông báo với Bệ hạ là cờ Hải quân Anh đang tung bay cùng với cờ của Liên Hiệp Ạnh tại South Georgia. Chúa cạo râu Nữ hoàng – Be pleased to inform Her Majesty that the White Ensign flies alongside the Union Jack in South Georgia. God Sharp the Queen “thủ-tướng Thatcher.đã công bố đoạn tin này cho các phương tiện truyền thông và bảo họ” Hãy vui mừng về tin tức này!”

Cuộc tấn Black Buck

Trong thời gian Chiến tranh Falklands, Operation Black Buck 1 đến Operation Black Buck 7 là một loạt bảy cuộc tấn công mặt đất tầm cực kỳ xa của máy bay ném bom Vulcan của Không quân Hoàng gia được lên kế hoạch để chống lại các vị trí của người Argentina trong Quần đảo Falkland. Trong số bảy hoạt động này chỉ có năm được cất cánh.

Các cuộc tấn công của Operation Black Buck bao gồm một loạt năm vụ tấn công vào quần đảo Falkland của máy bay ném bom Avro Vulcan của Phi đội 44 RAF, phân đoạn từ Không quân Hoàng gia trên Đảo Ascension, gần đường xích đạo. Những chiếc máy bay mang hoặc 21 quả 1.000 lb bom bên trong hoặc hai hay bốn tên lửa chống radar Shrike ở bên ngoài. Hiệu quả tổng thể của các cuộc tấn công trong chiến tranh là khó xác định và các cuộc tấn công đã tiêu thụ lượng nhiên liệu quý giá phải vận chuyển bằng máy bay tiếp dầu. Các cuộc tấn công đã làm thiệt hại tối thiểu tới các đường băng và các thiệt hại cho radar đã nhanh chóng được sửa chữa. Thông thường bị bác bỏ như các tuyên truyền sau chiến tranh, chính nguồn của Argentina tuyên bố rằng các cuộc tấn của máy bay Vulcan đã gây ảnh hưởng làm Argentina phải rút một số trong những chiếc Mirage III từ Nam Argentina đến Buenos Defence Zone. Có những lời khuyên can rằng hiệu quả của việc không nước này tựa như nước đổ lá khoai tuy nhiên khi các quan chức Anh nói rõ rằng sẽ không có cuộc tấn công nào vào căn cứ không quân ở Argentina. Nhiều người đã cho rằng các cuộc tấn Black Buck này bắt nguồn từ sức ép ngược về nhà của Không quân Hoàng gia khi lực lượng vũ trang của Anh đã bị cắt giảm trong cuối những năm bảy mươi và Không quân Hoàng gia có thể muốn có một vai trò lớn hơn trong cuộc xung đột để ngăn chặn việc cắt giảm hơn nữa. Một chiếc hố hình miệng núi lửa duy nhất được tạo ra trên đường băng, khiến người ta nghĩ rằng sân bay này sẽ không còn được sử dụng bởi các máy bay phản lực tốc độ cao. Các đội mặt đất của Argentina sửa chữa đường băng chỉ trong vòng 24 giờ, nhưng chỉ đến một mức độ chất lượng phù hợp cho các máy bay phản lực C-130 Hercules và Aermacchi MB-339. Nhiều nguồn tin cho rằng (người Argentina làm) miệng hố thiên thạch giả để đánh lừa việc đánh giá thiệt hại của Anh, tuy nhiên người Anh cũng biết rằng đường băng vẫn được sử dụng bởi C-130 và Pucara.

Leo thang cuộc chiến tranh không quân

Quần đảo Falklands chỉ có ba sân bay. Chiếc đường băng dài nhất và chỉ được mở tại thủ phủ Stanley, và thậm chí nó cũng quá ngắn để phục vụ cho các máy bay phản lực tốc độ cao. Vì vậy Argentina đã buộc phải tung ra các cuộc tấn công lớn của họ từ đất liền, việc này gây cản trở nghiêm trọng cho nỗ lực của họ bởi phạm vi bị hạn chế đối với các hoạt động tuần tra không chiến và hỗ trợ tầm gần trên không cho quần đảo Falklands. Thời gian bay tuần tra hiệu quả của máy bay Argentina là rất thấp và họ buộc phải bay qua lực lượng Anh trong mọi nỗ lực để tấn công các hòn đảo.

Cuộc tấn công lớn đầu tiên của lực lượng Argentina bao gồm 36 máy bay (McDonnell Douglas A-4 Skyhawks, Israel Aircraft Industries Daggers, English Electric B Mk 62 Canberras và được máy bay Dassault Mirage III hộ tống) đã được tung ra vào ngày 01 tháng 5 trong dự tính rằng cuộc xâm lược của Anh sắp xảy ra hoặc cuộc đổ bộ đã được tiến hành trước đó. Chỉ có một phần của Grupo 6 (bay bằng máy bay IAI Dagger) tìm thấy tàu chiến Anh ở gần quần đảo và đang pháo kích vào tuyến phòng thủ của Argentina. Các máy bay Daggers đã cố gắng tấn công các con tàu và quay về một cách an toàn. Việc này giúp làm tăng mạnh mẽ tinh thần của các phi công Argentina, những người bây giờ biết họ có thể vẫn còn sống sau một cuộc tấn công vào các tàu chiến hiện đại, được bảo vệ bởi vệt dội tạp radar mặt đất từ quần đảo và bằng cách sử dụng pop-up profile.

Dagger của Argentina bị bắn rơi

Ảnh một chiếc Dagger của Argentina bị bắn rơi bởi tên lửa AIM-9L Sidewinder của Anh, phi công không kịp nhảy dù

Trong khi đó, những chiếc máy bay khác của Argentina đã bị chặn bởi những chiếc BAE Sea Harrier xuât kích từ chiếc HMS Invincible. Một chiếc Dagger (được điều khiển bởi Osvaldo Ardiles) và một chiếc Canberra đã bị bắn rơi.

Một trận đánh Dogfight đã nổ ra giữa 1 máy bay chiến đấu 1 Sea Harrier FRS Mk của Phi đội số 801 hải quân Anh và máy bay chiến đấu Mirage III của Grupo 8. Cả hai bên đều từ chối chiến đấu ở độ cao lý tưởng của đối phương cho đến khi hai chiếc Mirage lao xuống tấn công. Một chiếc bị bắn hạ bởi một quả tên lửa không-đối-không AIM-9L Sidewinder (AAM), trong khi chiếc kia trốn thoát nhưng đã bị hư hỏng và không có đủ nhiên liệu để trở về căn cứ không quân của mình ở lục địa. Chiếc máy bay phải hạ cánh ở sân bay Stanley nơi nó trở thành nạn nhân của đạn nhà của lực lượng phòng thủ Argentina.

Như là kết quả từ kinh nghiệm này, Không quân Argentina đã quyết định sử dụng các máy bay A-4 Skyhawks và Daggers theo nhiều đơn vị tấn công, các máy bay Canberras chỉ hoạt động ban đêm và Mirage III (không có khả năng tiếp nhiên liệu trên không hoặc không có tên lửa AAM thích hợp) sẽ làm mồi nhử để dụ dỗ Sea Harrier của Anh ra xa. Chiến thuật mồi nhử sau này được mở rộng với sự hình thành của Escuadron Fenix, Một phi đội máy bay phản lực dân sự có khả năng bay 24 giờ một ngày để đóng giả những máy bay chiến đấu đang chuẩn bị tấn công hạm đội Anh. Trong một trong những chuyến bay này, một chiếc Learjet của lực lượng không quân Argentina bị bắn hạ và giết chết người chỉ huy phi đội, Phó (đề đốc ?) Commodore Rodolfo De La Colina, sĩ quan cao cấp nhất của Argentina chết trong chiến tranh.

Chỉ có một chiếc Hercules của Argentina bị bắn hạ bởi người Anh và rơi vào ngày 1 tháng 6 khi TC-63 bị chặn lại bởi một chiếc Sea Harrier trong ánh sáng ban ngày khi nó đang tìm kiếm hạm đội Anh ở phía bắc-đông của hòn đảo sau khi Hải quân Argentina đã cho nghỉ hưu chiếc SP-2H Neptune cuối cùng của mình do khung sườn máy bay đã quá cũ.

Hàng loạt các lựa chọn khác nhau để tấn công vào căn cứ nhà của năm chiếc Etendards của Argentina tại Río Grande đã được kiểm tra và cân nhắc (Chiến dịch Mikado), sau đó năm tàu ngầm Hải quân Hoàng gia đã tạo thành đội hình dưới nước ở cạnh giới hạn lãnh hải của Argentina khoảng 12 dặm (22 km; 14 mi) để cung cấp các cảnh báo sớm về các cuộc tấn công đánh bom vào lực lượng đặc nhiệm Anh.

Vụ tàu ngầm hạt nhân Conquerror của anh đánh đắm chiến hạm Belglano của Arghentina

Giới thiệu về con tàu :

chiến hạm general Belglano

chiến hạm general Belglano

Đặc điểm chung

Lớp tầu: Lớp Brooklyn
Tải trọng: 9.575 tấn ( rỗng) 12.242 tấn ( đầy tải )
Chiều dài: 608,3 ft ( 185,4 m )
Chiều rộng: 61,8 ft ( 18,8 m )
Độ mớm nước: 19,5 ft (5,9 m )
Tốc độ: 32,5 hải lý / giờ (60 km / h )
Thủy thủ đoàn: 1.138 sĩ quan và thủy thủ

Vũ khí:

15 súng × 6 in / 47 cal (152 mm)
8 súng × 5 in / 25 cal (127 mm) AA
Súng phòng không 40 mm và 20 mm
Hệ thống tên lửa AA Sea Cat – Anh ( thêm vào năm 1968)
Máy bay: 2 máy bay trực thăng ( Một Aérospatiale Alouette III đã lên boong khi tàu bị đánh chìm )

Chiếc ARA General Belgrano là một tàu tuần dương của Hải quân Argentina bị đánh đắm trong Chiến tranh Falklands bởi tàu ngầm Hải quân Hoàng gia HMS Conqueror với sự mất mát của 323 người. Thiệt hại của nhân mạng từ chiếc Belgrano chiếm hơn một nửa số tổng số người Argentina chết trong cuộc chiến tranh Falklands

Sau khi quân đội Argentina chiếm được đảo Malvinas, Chính phủ Anh của “Bà đầm thép” Margaret Thatcher nhanh chóng đưa ra quyết định, thành lập một hạm đội hỗn hợp đặc nhiệm gồm 100 chiến hạm các loại, bao gồm cả chiếc tàu ngầm hạt nhân “Kẻ chinh phục” (Conquer) và 2 chiếc tàu sân bay đang hoạt động tại Bắc Đại Tây Dương, tiến xuống phía nam để chiếm lại đảo Malvinas. Ngày 12/4, Chính phủ Anh chính thức tuyên bố thực hiện lệnh phong tỏa cả mặt biển và trên không đối với đảo Malvinas.

Ngày 24/4, chiếc tàu ngầm hạt nhân “Kẻ chinh phục” đã tới được hải vực chung quanh đảo Malvinas và bắt đầu công việc sục sạo tìm dấu vết chiến hạm Argentina.

Hải quân Argentina chỉ có khoảng 33 chiến hạm, chiến hạm chủ yếu trong hạm đội có tàu sân bay hạng nhẹ 15.000 tấn mang tên “Ngày 25 tháng 5” và chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ mang tên “Tướng Belglano”.

Vào ngày 29/4, “Tướng Belglano” của Hải quân Argentina đang tuần tiễu bình thường tại hải vực phía nam đảo Malvinas. Ngày 30/4, chiếc tuần dương hạm này bị tàu ngầm hạt nhân “Kẻ chinh phục” trang bị hệ thống dò mục tiêu dưới nước “Sonar” phát hiện từ cự ly rất xa.

Ngày1/5, chiếc “Kẻ chinh phục” trồi lên mặt nước, sử dụng kính tiềm vọng (periscope) sục sạo khắp hải vực chung quanh, nhưng tịnh không phát hiện ra được bất kỳ chiếc chiến hạm lớn nhỏ nào của Argentina, lại lặn xuống và tiếp tục lần tìm tung tích chiếc “Tướng Belglano”.

Không lâu sau, “Kẻ chinh phục” phát hiện ra 2 chiếc tàu khu trục hộ tống tuần dương hạm “Tướng Belglano” và vì vậy mà nó nhanh chóng lần ra được mục tiêu chính. Nhưng chiếc “Tướng Belglano” lại không nằm trong tuyến phong tỏa 200 hải lý chung quanh đảo Malvinas.

Vả lại từ những năm đầu thập niên 50 thế kỷ trước ra đời chiếc tàu ngầm hạt nhân (Nuclear-powered submorine) đầu tiên trên thế giới tới nay, tuy nó được đánh giá là phương tiện chiến tranh có uy lực nhất dưới nước, nhưng chưa từng tấn công một chiến hạm nào kể cả nổi lẫn chìm.

Thuyền trưởng “Kẻ chinh phục” Brown không dám tự quyết định, một mặt lệnh cho quan trắc viên tiếp tục theo dõi, bám sát mục tiêu, một mặt điện mật báo cho Thiếu tướng hải quân Woodward, Hạm đội trưởng hỗn hợp, về vị trí của tuần dương hạm địch và kế hoạch tác chiến của ông.

Giờ phút thảm họa chủa tuần dương hạm Argentina

Được lệnh công kích, tàu ngầm hạt nhân “Kẻ chinh phục” bắt đầu chiếm vị trí thuận lợi, chuẩn bị phóng ngư lôi. Lúc này, tuần dương hạm không được trang bị hệ thống “Sonar” chống ngầm, nên không hề hay biết sát thủ giấu mặt bám đuôi suốt mấy ngày liền.

“Tướng Belglano” tuy có 2 khu trục hạm hộ tống, nhưng trên khu trục hạm chỉ được trang bị vũ khí chủ yếu để chống hạm nổi và phòng không, cũng không có hệ thống “Sonar” chống ngầm nên mang tiếng là hộ tống, cảnh giới cho mục tiêu chính cũng không phát hiện ra sự đeo bám của tàu ngầm đối phương trong nhiều ngày.

Tuần dương hạm “Tướng Belglano” có lượng dẫn nước tới trên 13.000 tấn, trông như một tòa nhà cao tầng đồ sộ, nhưng cũng thuộc dạng “đồ cổ”, bởi nó là loại tuần dương hạm hạng nhẹ thuộc lớp Brooklyn hạ thủy từ năm 1938. Bởi kinh phí cải tạo có hạn, nên phía Hải quân Argentina chỉ “tân trang” nâng cấp mức độ.

Trên hạm tàu tuy có trang bị loại tên lửa phòng không kiểu “Mèo biển” (Sea cat) và mấy chục khẩu pháo, nhưng chủ yếu chỉ dùng để phòng không và chống chiến hạm nổi. Biên chế trên tuần dương hạm có hơn 1.000 binh lính và sĩ quan, một khi bị bắn chìm, rõ ràng nó trở thành một cỗ quan tài thép.

conquerror submarine

tàu Conqueror năm 1982

Trên tàu “Kẻ chinh phục” của Hải quân Anh được trang bị Mk24 là loại vũ khí chống chiến hạm tiên tiến nhất, dài 6m, nặng hơn 1 tấn, được điều khiển bằng hệ thống máy tính (electronic brain), có thể công kích mục tiêu trong phạm vi bán kính 30km, ngoài ra, trên tàu còn được trang bị tên lửa chống chiến hạm nổi “fish spear” (chĩa đâm cá) tiên tiến do Mỹ sản xuất.

Khoảng 15h57’, tàu ngầm Anh bắt đầu phóng ngư lôi, nhưng không phải loại tiên tiến Mk24, mà là ngư lôi kiểu cổ Mk8. Mk8 là loại ngư lôi chống chiến hạm nổi dùng phổ biến trong Thế chiến II.

“Kẻ chinh phục” sau khi phóng đi quả Mk8 đầu tiên, để chắc ăn, nó lại phóng tiếp quả thứ 2 trong đó, 1 quả Mk8 trúng mạn trái chiếc tuần dương hạm, phát một tiếng nổ lớn. Các thiết bị thuộc hệ thống điện và hệ thống thông tin trong tuần dương hạm bị phá hủy nghiêm trọng và “Tướng Belglano” tê liệt hoàn toàn.

Tuy nhiên, nó vẫn còn ngắc ngoải chưa chịu chìm, nhưng quả ngư lôi Mk8 phóng quả bồi thứ 2 làm nó bị trọng thương. 16h24’, thuyền trưởng Ponso cảm thấy việc cứu vãn tuần dương hạm khỏi chìm là vô vọng, liền hạ lệnh cho các thủy thủ nhảy xuống biển, tự thoát thân.

general Belglano

17h40’, “Tướng Belglano” kiêu hãnh một thời chìm hẳn xuống đáy biển, 323 binh lính và sĩ quan bị chết, đây là tổn thất lớn nhất đầu tiên ngay khi mới mở màn chiến tranh Malvinas của Hải quân Argentina, và cũng là sự kiện gây tử thương cho thủy thủ trên chiến hạm lớn nhất trong suốt 10 tuần lễ chiến tranh Malvinas.

Ngay sau đó, Argentina liền cử nhiều chiến đấu cơ và chiến hạm tỏa đi lùng sục “Kẻ chinh phục” của quân Anh, nhưng không phát hiện ra mục tiêu.

Tàu ngầm hạt nhân Anh bắn chìm tuần dương hạm “Tướng Belglano” là một đòn giáng quá nặng đối với Hải quân Argentina. Họ thừa biết rằng, chiến hạm của mình không thể chống chọi nổi các đòn tấn công tiếp theo của tàu ngầm hạt nhân Anh. Thế là toàn bộ hạm đội Argentina được lệnh nhanh chóng quay về quân cảng của mình “tị nạn”.

Trong tình thế đó, Argentina chỉ còn cách duy nhất là dùng sức mạnh của không quân để giáng trả hạm đội hỗn hợp của quân Anh. Khoảng 10h45’ ngày 4/5/1982, Không quân Argentina mở màn chiến dịch phục thù. Chiến đấu cơ Supercolors của Không quân Argentina sử dụng một quả tên lửa “không đối hạm” “Cá chim” (Flying fish) do Pháp sản xuất trị giá 200.000 USD phóng trúng, nhấn chìm chiếc khu trục hạm trang bị tên lửa đạn đạo của Hải quân Anh mang tên “Sheffield” với giá 250 triệu USD.

Đây là chiến hạm cỡ lớn và hiện đại của hải quân Hoàng gia Anh bị đánh chìm lần đầu kể từ khi nổ ra chiến tranh Malvinas và cũng là chiếc chiến hạm cỡ lớn của Anh bị đánh chìm sau Thế chiến II. Sự kiện “Khu trục hạm Sheffield” khiến Tư lệnh hạm đội Đặc nhiệm hỗn hợp Anh Woodward phát hoảng, e sợ bị “Cá chim” Pháp tiếp tục “bổ” chìm, nên vội hạ lệnh cho mấy chiếc tàu sân bay lảng ra càng xa hải vực càng tốt!.

Nhiều năm sau, khi cuộc chiến ở đảo Malvinas chấm dứt trong dư luận vẫn dai dẳng tin đồn rằng, chính “Bà đầm thép” Thatcher đã ra lệnh bắn chìm chiếc tuần dương hạm “Tướng Belglano” của Argentina dù nó đang hoạt động tuần tra bình thường ngoài tuyến phong tỏa đảo Malvinas.

Và sau chiến tranh Malvinas, Chính phủ Argentina nhiều lần chính thức lên án quân đội Anh đã vi phạm luật pháp quốc tế, tự tiện tấn công bắn chìm chiếc tuần dương hạm đang làm nhiệm vụ tại khu vực ngoài tuyến phong tỏa, nghĩa là nó không trực tiếp tham chiến, gây nên thương vong rất lớn cho binh sĩ vô tội và đòi Chính phủ Anh phải bồi thường thiệt hại.

Không quân Argentina đánh chìm tàu HMS Sheffield của Anh

tau sheffield chim

HMS Sheffield ( D80 ) là chiếc tầu Hải quân Hoàng gia thứ hai được đặt tên Sheffield, tên của thành phố Sheffield tại Yorkshire. Nó là một tầu khu trục có tên lửa điều kiển Type 42 được khởi bởi Công ty Kỹ thuật tàu thủy Vickers và tại Barrow -in- Furness vào ngày 15 tháng 1 năm 1970, hạ thủy vào ngày 10 tháng 6, 1971 và được đưa vào phục vụ ngày 16 tháng 2, 1975.

Một vụ nổ trong quá trình chế tạo làm hai công nhân của xưởng đóng thiệt mạng và làm hư hỏng một phần của thân con tàu và chỗ hư hỏng được thay thế, rất trớ trêu, là với một phần từ một chiếc tàu giống hệt nó, chiếc ARA Hercules đang được đóng cho Hải quân Argentina. Con tàu này là một phần của đội đặc nhiệm đến quần đảo Falkland trong Chiến tranh Falklands. Nó bị bắn trúng bởi một quả tên lửa diệt hạm Exocet được phóng từ máy bay Super Etendard của Hải quân Argentina ngày 4 tháng năm 1982 và chìm vào ngày 10 tháng năm 1982

Tường thuật của hải quân Anh

Vào khoảng 10:00 vào ngày 04 tháng Năm, chiếc HMS Sheffield lúc này đang làm nhiệm vụ cảnh giới phòng vệ ở mức sẵn sàng độ thứ hai, như một phần của Lực lượng Đặc nhiệm Anh được gửi tới Quần đảo Falkland trong Chiến tranh Falklands. Chiếc Sheffield đang phải gánh trách nhiệm của chiếc chị em của nó – chiếc HMS Coventry vì chiếc sau gặp khó khăn về mặt kỹ thuật với hệ thống radar TYpe 965 của nó. Các chiếc Sheffield và Coventry đã đang chát chít chuyện phiếm qua sóng cao tần UHF. Liên lạc đột ngột chấm dứt cho đến khi có một tin nhắn không xác định được địa điểm gửi đã báo rằng ” chiếc Sheffield đã bị bắn trúng”. Chiếc kỳ hạm Hermes đã cử các tàu hộ tống Arrow và Yarmouth đến để điều tra và các máy bay trực thăng cũng đã được tung ra để tìm kiếm nó. Đoàn tìm kiếm bị nhầm lẫn về vị trí cho đến khi chiếc máy bay trực thăng Lynx của chiếc Sheffield đã hạ cánh bất thình lình xuống boong của chiếc tàu Hermes và chở theo các sỹ quan điều phối máy bay và điều phối hoạt động của con tầu ( Air Operations Officer and Operations Officer ), họ đã có xác nhận về thảm họa xảy ra.

Chiếc Sheffield đã nhận những quả tên lửa thay thế để tương thích với hệ thống radar Type 965 lỗi thời của nó ( một phù hợp tạm thời cho đến khi thiết bị Type 1022 có sẵn ) và sỹ quan điều phối hoạt động đã thông báo với sỹ quan điều kiển tên lửa ( Missile Director), người đã hỏi các địa chỉ liên lạc của hệ thống kiểm soát hỏa lực ADAWS4. Khi những chiếc máy bay của Argentina khởi động phóng tên lửa, chúng đã không bị phát hiện như người Anh đã dự kiến và quả tên lửa đã không bị phát hiện cho đến khi khói của nó được nhìn thấy và lúc này mục tiêu mới được xác nhận là một quả tên lửa đang lướt trên mặt biển. Năm giây sau, một quả tên lửa Exocet bắn trúng chiếc Sheffield ở đoạn giữa của con tầu khoảng 8 feet trên mực nước tại Boong 2, làm rách một rạch trong thân tàu. Quả tên lửa khác rơi xuống biển cách khoảng nửa dặm tính từ sườn ngang bên trái của sàn tàu. Rất trớ trêu là quả tên lửa Exocet bắn trúng chiếc Sheffield đã không phát nổ, nhưng nó tạo áp lựccắt đứt các firemain con tầu và một ngọn lửa được gây ra bởi vụ cháy các thùng dầu diesel đang được chuẩn bị sẵn sàng để sử dụng trong phòng động cơ và các vật liệu dễ cháy khác được sử dụng trong quá trình đóng con tàu. Các đám cháy không được kiểm soát trong một vài ngày sau khi con tàu đã bị bỏ rơi .

Các quả tên lửa Exocets được bắn từ hai chiếc Super Étendards cất cánh từ căn cứ không quân – Hải quân Río Grande, Tierra del Fuego. Những chiếc máy bay được điều khiển bởi Trung Armando Mayora và Đại úy Augusto Bedacarratz, người chỉ huy đội bay.

Như vậy là thiếu cảnh báo sóm, không có thời gian để tiến hành các biện pháp phòng thủ, dẫn đến một sự thay đổi trong chính sách của Hải quân Anh rằng bất kỳ chiếc tàu nào của RN nghi ngờ nó có thể bị tấn công bởi tên lửa sẽ hướng về phía mối đe dọa, tăng tốc lên tốc độ tối đa và bắn ra các gây nhiễu (Chaff) để tránh việc con tàu không thể tự vệ một lần nữa. Danh từ được sử dụng để bắt đầu thủ tục này là ” handbrake ” vốn đã được phát sóng một lần khi các tín hiệu radar Agave của các máy bay Super Étendard đã bị phát hiện.

Bộ quốc phòng Anh ( MOD ) đã có báo cáo về vụ đắm chiếc Sheffield và kết luận rằng” Bằng chứng cho thấy rằng đầu đạn đã không phát nổ “. Một số trong thủy thủ đoàn và các thành viên của Lực lượng Đặc nhiệm tin rằng tuy nhiên sau đó chiếc đầu đạn có trọng lượng 165 kg của quả tên lửa trong thực tế đã phát nổ khi va đập. Trường hợp này đã không xảy ra vì tên lửa Exocet được lắp với một chiếc kíp nổ chậm và được thiết kế không phát nổ khi bị tác động va chạm (để tránh nổ ngoài con tầu). Mặc dù không phát nổ tác động của tên lửa và việc động cơ của quả tên lửa bốc cháy cũng đủ để gây các đám cháy trên chiếc Sheffield. Một số ghi chép cho thấy tác động ban đầu của quả tên lửa này ngay lập tức làm tê liệt hệ thống phát điện của con tàu, nhưng điều này chỉ ảnh hưởng phần nào đó đến con tàu, nó gây ra những vấn đề của hệ thống thông gió. Vụ tấn công bằng tên lửa phá vỡ hệ thống nước chính và làm cho các hệ thống chống cháy hoạt động không có hiệu quả và do đó hủy diệt con tàu bởi các đám cháy dữ dội.

Sheffield đang bốc cháy và chiếc HMS Arrow
Ảnh chiếc Sheffield đang bốc cháy và chiếc HMS Arrow đang tìm cách áp mạn để giúp đỡ

Sau khi con tàu đã bị tấn công và thủy thủ đoàn của nó chờ được giải cứu, S/ LT (thượng úy?) Carrington -Wood đã dẫn đầu đoàn hát bài “Luôn luôn nhìn về phía sáng sủa của cuộc sống – Always Look on the Bright Side of Life” từ cuốn phim Monty Python’ s Life of Brian.

Trong vòng 6 ngày tiếp theo kể từ ngày 04 tháng năm 1982 trở đi 5 nhóm đã được phái tới để xem xét liệu con tàu có còn giá trị để tiến hành cứu hộ. Mặc dù thực tế là có mệnh lệnh đã được ban hành để vá chiếc lỗ thủng ở mạn phải và kéo chiếc Sheffields hướng về phía South Georgia.

Tuy nhiên, trước khi những mệnh lệnh này được thực hiện chiếc thân tàu bị cháy đã được kéo bởi chiếc frigate HMS Yarmouth thuộc lớp tầu Rothesay. Trong quá trình con tàu đã được kéo đi biển lại có sóng to gây ra ngập lụt một cách từ từ thông qua các lỗ trên mặt boong của con tàu. Đây là nguyên nhân cuối cùng làm nó chìm xuống phía dưới. Con tàu bị chìm tại tọa độ 53 ° 04 ‘S, 56 ° 56 ‘ W ngày 10 tháng năm 1982. Sự kiện này là sự kiện chiếc tầu chiến đầu tiên của Hải quân Hoàng gia bị đánh chìm tàu trong khi làm nhiệm vụ kể từ sau Thế chiến II. Hai mươi thủy thủ (chủ yếu là đang làm nhiệm vụ tại khu vực bếp ) đã chết trong cuộc tấn công. Xác tàu này là một nấm mồ quân sự – War grave và được chỉ định là nơi được bảo vệ theo Đạo luật Bảo vệ Tàn tích Quân sự 1986 – VN Protection of Military Remains Act 1986.

Vụ đắm chiếc Sheffield đôi khi bị đổ lỗi cho một cấu trúc thượng tầng được chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng nhôm, các điểm nóng chảy và nhiệt độ bén lửa của chúng là thấp hơn đáng kể hơn so với thép. Tuy nhiên, điều này là không đúng vì cấu trúc thượng tầng của chiếc Sheffieldđã hoàn toàn được làm bằng thép. Sự nhầm lẫn này liên quan đến việc Hải quân Mỹ và Anh phải từ bỏ việc dùng nguyên liệu nhôm sau khi có một số vụ cháy trong những năm 1970 liên quan đến những chiếc tàu có phần cấu trúc thượng tầng được làm từ nhôm. Các vụ đắm các tầu frigate Type 21 HMS Antelope và Ardent, cả hai đều có phần cấu trúc thượng tầng được làm từ nhôm, có lẽ cũng đã tạo một ảnh hưởng niềm tin cho trường hợp này mặc dù lại là không chính xác và sự có mặt của kim loại nhôm trên con tầu không thể làm gì để ảnh hưởng tới sự mất mát của nó. Trong cả hai trường hợp, (các con tầu có cấu trúc thượng tầng được làm từ nhôm) có thể là các con tàu bị mất trong trường hợp bị đánh trúng bởi một số lượng chất nổ quá lớn so với một chiếc tàu nhỏ như vậy, mặc dù đúng là cũng có các đám cháy đã bùng phát từ nhôm. Đặc biệt là chiếc Ardent đã bị giã giò một trận nặng nề bởi mười một quả bom, năm quả trong đó đã phát nổ, không có con tàu nào trong loại tầu của nó trong bất cứ thời kỳ loại nào có thể tồn tại sau một cuộc tấn công như vậy. Các đám cháy trên các tàu này đã dẫn đến sự thay đổi rõ ràng nhất, đó là các chất nylon và vải tổng hợp chảy ra sau đó chảy lên người các thủy thủ Anh. Các chất tổng hợp có xu hướng chảy gây bỏng da nghiêm trọng hơn nhiều nếu các thành viên thủy thủ đoàn không được mặc các quần áo thích hợp. Các báo cáo chính thức về vụ đắm tầu của chiếc Sheffield – Vương quốc Anh gần đây đã công bố theo luật thông tin Tự do sau một chiến dịch rộng lớn của các nhân viên cũ của Hải quân Hoàng gia, rất nhiều chỉ trích nặng nề về hệ thống thiết bị chữa cháy, đào tạo, thủ tục của con tầu và và một số thành viên nhất định của thủy thủ đoàn.

Về phía Argentina

Chiếc Sheffield lần đầu tiên bị phát hiện bởi một máy bay tuần tra Lockheed SP- 2H Neptune (2 -P -112 ) của Không quân thuộc Hải quân Argentina vào lúc 07:50 ngày 4 tháng. Chiếc Neptune liên tục giám sát chiếc tầu Anh và xác định vị trí của chiếc Sheffield một lần nữa tại 08:14 và 08:43. Hai chiếc Super Étendards (số hiệu 3- A -202 và 3-A -203 ) của Hải quân Argentina cả hai đều trang bị tên lửa chống hạm Exocets cất cánh từ Río Grande , Tierra del Fuego vào lúc 9:45 và gặp một tàu chở dầu KC -130H Hercules của Không quân Argentina lúc 10:00 giờ. Lúc 10:35, chiếc Neptune tăng độ cao lên 1.170 mét ( 3.840 ft) và phát hiện một chiếc tầu cỡ lớn và hai chiếc cỡ trung bình tại tọa độ 52 º 33 55 Nam, 57 º 40 55 Tây. Một vài phút sau đó, nó thông báo thông tin này cho cả hai chiếc Étendards Super. Bay ở độ cao rất thấp, khoảng 10:50, cả hai chiếc Étendards Super ngóc lên tới độ cao 160 mét (520 ft) để xác định các vị trí đã được thông báo, nhưng không tìm thấy bất kỳ điều gì, họ quyết định tiếp tục bay thêm 25 dặm (40 km) nữa sau đó lại ngóc lên một lần nữa và sau một vài giây tìm kiếm các mục tiêu đã xuất hiện trên màn hình radar của họ. Cả hai phi công nhập số liệu về tọa độ vào trong các hệ thống vũ khí của họ, quay trở lại mức bay thấp và sau khi kiểm tra lần cuối cùng đã bắn ra các quả Exocets AM39 của họ vào lúc 11:04 khoảng 20-30 dặm (32 đến 48 km ) từ mục tiêu của họ. Các chiếc Étendards Super không cần tiếp nhiên liệu từ chiếc KC -130 một lần nữa, mặc dù chiếc này vẫn đang đợi họ và hạ cánh tại Rio Grande lúc 12:04 . Hỗ trợ cho nhiệm vụ là một chiếc Learjet 35 quân sự làm mồi nhử và hai chiếc IAI Dagger làm nhiệm vụ hộ tống chiếc KC -130 tiếp dầu. 

Cuộc đột kích vào đảo Pebble

Ngay sau khi Argentina chiếm giữ Quần đảo Falkland họ thành lập một căn cứ không quân nhỏ ở đảo Pebble Island sử dụng sân bay địa phương ở tọa độ 51 ° 18’32 “S, 59 ° 36’37 “W trên đó có sử dụng các máy bay tấn công mặt đất hạng nhẹ FMA IA 58 Pucará và một số máy bay tập lái T -34. Những máy bay trinh sát này có thể đã bị Hải quân Hoàng gia thâm nhập trước khi họ dự định đổ lực lượng của mình trên đảo Đông Falkland. Sau đó các thành phần của lực lượng Special Air Service được đưa lên boong chiếc HMS Hermes và được giao nhiệm vụ loại bỏ mối đe dọa này với sự hỗ trợ của hải quân từ chiếc Frigate Type 22 HMS Broadsword cũng như được chiếc Hermes hộ tống và chiếc tàu khu trục lớp County – chiếc HMS Glamorgan cung cấp hỗ trợ hỏa lực hải quân với các súng Mark 6 4,5 inch của nó. Người quan sát hỗ trợ hỏa lực hải quân chuyển tiếp (The Naval Gunfire Support Forward Observer – NGSFO ) chịu trách nhiệm phối hợp các hỗ trợ hỏa lực của hải quân là Đại úy Chris Brown RA của khẩu đội 148 Trung đoàn 29 Pháo binh Commando Hoàng gia.

Ý định ban đầu

Ý định ban đầu của người Anh là tung một Phi đội đặc nhiệm đường không mạnh mẽ từ chiếc Hermes, sử dụng các nhân lực từ Phi đội D, trung đoàn 22. Bên đột kích sẽ phá hủy các máy bay được triển khai, vị trí của radar, phi hành đoàn ở dưới mặt đất và lực lượng đồn trú trước khi máy bay trực thăng đến để đưa họ quay lại boong tàu trước lúc bình minh .

Trinh sát

Trinh sát cho cuộc đột kích được tiến hành bởi nhân sự của Boat troop thuộc Phi đội D, họ tiến hành xâm nhập bằng xuồng Klepper. Việc trinh sát cho thấy rằng ngược gió mạnh sẽ làm tăng thời gian thực hiện để bay từ chiếc Hermes tời, và trì hoãn thời gian tiếp cận mục tiêu và giảm thời gian có sẵn để tấn công đến 30 phút, chứ không phải là hơn 90 phút như được lên kế hoạch. Chính vì thông tin này mà việc lập kế hoạch phải thay đổi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiêu diệt máy bay là một mục tiêu ưu tiên, việc tiêu diệt nhân viên hỗ trợ, phi hành đoàn là một ưu tiên thứ yếu.

Cuộc tấn công

Trong đêm 14 tháng 5, hai máy bay trực thăng Westland Sea King HC.Mk.4 của Phi đội 846 Không quân thuộc Hải quân, một phần của Lực lượng Trực thăng Commando, khởi hành với 45 thành viên của Phi đội D trên boong. Điểm đổ quân là 6km (3,7 dặm ) từ sân bay ở Pebblelace. Lính sơn cước được giao nhiệm vụ phá hủy các máy bay của Argentina, trong khi các nhân viên còn lại hoạt động như một lực lượng bảo vệ, đảm bảo tiếp cận đường băng an toàn và hình thành một lực lượng dự trữ hoạt. Toán tấn công dỡ xuống trên 100 quả đạn cối L16 81mm, thuốc nổ mạnh và Rocket 66mm HEAT L1A1 – Vũ khí chống tăng hạng nhẹ và mang chúng vào khu vực tấn công với trung bình mỗi người trong toán đột kích mang ít nhất hai quả đạn cối. Với vũ khí cầm tay hạng nhẹ, súng trường M -16 được sử dụng, một số còn đeo thêm cả súng phóng lựu M203. Phương pháp điều hướng được thực hiện bởi một thành viên của Boat troop, người đã tham gia tiến hành trinh sát.

Khi toán đột kích tiếp cận các mục tiêu thì họ gặp một trạm gác của lính Argentina nhưng không bị phát hiện, cho phép họ thâm nhập vào mục tiêu và cài mìn lên bảy chiếc máy bay. Khi tất cả các máy bay đã bị cài mìn đội đột kích đã nổ súng vào những chiếc máy bay với súng hạng nhẹ và tên lửa L1A1. Tất cả các máy bay đều bị hư hại thậm chí càng hạ cánh của một số chiếc máy bay còn bị văng bắn ra xa. Lúc này chiếc HMS Glamorgan bắt đầu pháo kích vào các vị trí trong sân bay của Argentina bằng cách sử dụng đạn chất nổ cao, làm nổ các kho đạn dược và dự trữ nhiên liệu.

Các lực lượng bảo vệ đã không bắn trả cho đến khi toàn bộ toán đột kích tái nhóm và đang chuẩn bị để di chuyển ra ngoài. Một binh sĩ Anh bị bắn trúng và bị thương trong khi toán đột kích bắn trả bằng vũ khí hạng nhẹ và súng phóng lựu M203, dẫn đến cái chết của viên chỉ huy Argentina (theo đánh giá của người Anh ) và trấn áp của bất kỳ nỗ lực phòng thủ nào.

Theo tuyên bố của người Argentina thì thủy quân lục chiến của họ vẫn ở lại nơi trú ẩn trong khi chiếc HMS Glamorgan pháo kích, nên họ đã không thể đối mặt với SAS trong chiến đấu. Người Anh bị thương là kết quả của mảnh văng từ thuốc nổ được người Argentina chôn dưới đường băng để ngắn không cho nó được sử dụng bởi kẻ thù của mình. Các vụ nổ đã kích hoạt niềm tin rằng hoạt động này một cuộc tấn công toàn diện nhằm vào căn cứ không quân của người Argentina.

Trong trận đột kích này người Argentina có 8 máy bay tấn công mặt đất Pucará và 4 máy bay tập lái T-34 Mentors bị phá hủy, một người Argentina bị giết, phía người Anh có 2 bị thương.

Trận San Carlos

Trận San Carlos là một trận đánh lớn giữa máy bay và tàu chiến kéo dài từ Ngày 21-> Ngày 25 tháng 5 năm 1982 trong cuộc đổ bộ của Anh lên bờ San Carlos Water (sau này được gọi là “trận bom Alley “) Trong Chiến tranh Falklands năm 1982. Bay rất thấp từ đất liền các máy bay phản lực Argentina tiến hành các cuộc tấn công liên tục vào các tàu của Lực lượng Đặc nhiệm Anh. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử một đội quân tên lửa bề mặt-đối-không hiện đại cùng với sự yểm trợ bảo vệ của các máy bay trên các tàu sân bay STOVL chống lại những cuộc không kích toàn diện. Người Anh bị hại nghiêm trọng nhưng đã có thể chiếm giữ và củng cố một số đầu cầu trên hòn đảo.

Bối cảnh

Sau khi Argentina tiến hành xâm lược vào Quần đảo Falkland, Vương quốc Anh khởi xướng chiến dịch Operation Corporate và gửi một lực lượng Đặc nhiệm vượt qua 12.000 km về phía Nam nhằm chiếm lại các hòn đảo. Dưới tên mã là Operation Sutton quân đội Anh lên kế hoạch đổ bộ xung quanh San Carlos, một vịnh nằm ở ngoài khơi eo biển Falkland, đây là eo biển nằm giữa Đông Falkland và Tây Falkland. Vị trí được chọn này làm lực lượng đổ bộ sẽ được bảo vệ bởi địa hình từ các đợt tấn công của tên lửa Exocet và tàu ngầm và nó cũng đủ xa từ Stanley để ngăn chặn một phản ứng nhanh chóng từ quân bộ của Argentina đóng ở đó. Đích đổ bộ này làm người Argentina hoàn toàn bất ngờ các sĩ quan Hải quân Argentina cho rằng vị trí không phải là một lựa chọn tốt cho những hoạt động như vậy và đã rời khỏi khu vực này mà không có hệ thống phòng thủ kiên cố.

Không quân Argentina

Lực lượng không quân Argentina phải hoạt động trong phạm vi và giới hạn của trọng tải cũng như họ bị hạn chế bởi nguồn tiếp nhiên liệu và phải hoạt động ở tầm xa tối đa.

Máy bay A -4 Skyhawk: máy bay A-4 được sử dụng bởi cả hai Không quân Argentina ( FAA ) và Không quân thuộc Hải quân Argentina ( COAN ). Mặc dù sử dụng hai thùng 295 gallon, họ cần tiếp nhiên liệu trên không hai lần trong khi làm nhiệm vụ. Bomb được sử dụng trong cuộc xung đột là một quả bom không điều khiển £ 1000 ( Mk 17) do Anh sản xuất hoặc bốn quả bom 227 kg Tây Ban Nha / Mỹ sản xuất. Loại máy bay này được trang bị hai khẩu súng cannon 20mm Colt Mk 12

Máy bay IAI Dagger: Loại máy bay Mirage 5 do Israel chế tạo không có khả năng tiếp nhiên liệu trên không và phải sử dụng hai thùng dầu phụ để mang thêm 550 gallon nhiên liệu, chúng đã bay ở phạm vi giới hạn tuyệt đối của chúng. Vũ khí chính của chúng trong cuộc xung đột bom không điều khiển £ 1000 ( Mk 17) do Anh sản xuất. Máy bay IAI Dagger được trang bị loại cannon Defa 30mm

Máy bay Mirage IIIEA: Máy bay đánh chặn do Pháp chế tạo có một thùng chứa nhiên liệu bên trong nhỏ hơn hơn so với loại máy bay Dagger vì vậy chúng không thể bay đủ thấp để hộ tống các máy bay tấn công. Họ mang một đôi tên lửa R550 Magic IR trong chuyến bay ở tầm cao độ đến các đảo, nhưng các máy bay Harrier tuần tra không chiến của Anh lại tập trung tấn công vào các máy bay ném bom bay thấp .

Máy bay FMA IA -58 Pucara: máy bay tấn công mặt đất chống quân nổi dậy do Argentina chế tạo hoạt động ở sân bay cỏ Goose Green trong trận đánh. Chiếc máy bay này được trang bị rocket , hai khẩu cannon 20 mm và bốn súng máy 7,62 mm .

Lực lượng đổ bộ Anh

Yểm trợ trên không được cung cấp lần đầu tiên bởi ” tàu sân bay Harrier “. Đây là những tàu sân bay nhỏ chỉ triển khai loại máy bay Harrier cất cánh, hạ cánh thẳng đứng. Loại máy bay này có tốc độ dưới siêu âm với phạm vi hoạt động và trọng tải nhỏ hơn so với các loại máy bay tiêu chuẩn trên đất liền và tàu sân bay thông thường.

Yểm trợ trên không :

Tàu sân bay HMS Hermes ( R12)
Phi đội 800 (BAE Sea Harrier)
Phi đội 809 ( BAE Sea Harrier )
Tàu sân bay HMS Invincible (R05)
Phi đội 801 ( BAE Sea Harrier )
Phi đội 809 ( BAE Sea Harrier )

Lực lượng đổ bộ: HMS Fearless, HMS Intrepid, RFA Sir Geraint, RFA Sir Tristram, RFA Sir Galahad, RFA Sir Percivale, RFA Sir Lancelot, SS Canberra, RFA Fort Austin, Europic Ferry 4 và Elk 5.

Lực lượng hộ tống : HMS Antrim, HMS Coventry, HMS Broadsword, HMS Brilliant, HMS Ardent, HMS Antelope, HMS Argonaut, HMS Plymouth và HMS Yarmouth

Diễn biến biến trận đánh

Khoảng cáchtừ các căn cứ không quân trên đất liền của Argentina đến Sân bay Port Stanley – Falklands

Trelew: 580 hải lý ( 1.070 km)
Comodoro Rivadavia: 480 hải lý (890 km)
San Julian: 425 hải lý (787 km)
Rio Gallegos: 435 hải lý (806 km)
Rio Grande: 380 hải lý (700 km).

Do khoảng cách cần thiết để bay đến quần đảo Falkland, hai phút là thời gian trung bình mà máy bay tấn công Argentina có để chiến đấu trong khu vực mục tiêu.

Ngày 21 tháng 5

Lực lượng Quân đội Argentina đóng trên vị trí này là một phần của Trung đoàn 25 Bộ binh được đặt tên Combat team Güemes tại Fanning Head. Hạm đội Anh xâm nhập vào San Carlos suốt đêm và lúc 02:50 và bị phát hiện bởi EC Güemes là lực lượng này đã nổ súng cối 81mm và hai khẩu súng không giật 105mm để tấn cống. Họ ngay lập tức bị bắn trả bởi súng của hải quân Anh và toán quân gồm 25 lính SBS bị buộc phải rút lui và bị mất thông tin liên lạc, nhưng họ cũng bắn hạ hai máy bay trực thăng Gazelle bằng vũ khí hạng nhẹ.

Trung úy nhất Carlos Daniel Esteban từ EC Güemes thông báo cho quân đồn trú ở Goose Green về cuộc đổ bộ vào lúc 8:22 (cuối cùng ông cũng được sơ tán bằng trực thăng vào 26 tháng 5). Các chỉ huy cao cấp của Argentina ở Stanley ban đầu cho rằng một hoạt động đổ bộ ở San Carlos là không khả thi và đây chỉ là một hành động nghi binh. Cuối cùng vào lúc 10:00 một máy bay phản lực Aermacchi MB -339 COAN có căn cứ trên các hòn đảo đã được cử đến San Carlos cho một chuyến bay trinh sát. Trong khi đó, các FAA đã bắt đầu tung ra những chiếc máy bay của họ có căn cứ trên đất liền lúc 09:00.

10:15 : COAN MB339 4-A -115. Trung úy Crippa Guillermo Owen trong một chuyến bay trinh sát đã hai lần bay qua lực lượng đổ bộ để xác định chính xác thành phần của hạm đội đối phương, ông nhận được phần thưởng cao nhất của quân đội quốc gi, the Argentine Nation to the Heroic Valour in Combat Cross. Ông nổ súng tấn công chiếc HMS Argonaut và một tàu RFA không danh tính bằng súng và rôckét sau đó rút lui.

0:15 : FAA Pucara Tigre. Ba (trong bốn) chiếc máy bay xuất phát từ Goose Green và bị tấn công bởi súng từ chiếc HMS Ardent. Đại úy Benítez bị bắn hạ bởi một quả tên lửa Stinger bắn ra bởi Special Air Service, Ông nhảy dù ra ngoài và đi bộ trở lại căn cứ của mình, đến lúc 19:00. Hai phi công, Thiếu tá Tomba và Trung úy nhất Micheloud bắn một số phát rốc két 2,75 inch vào một nhà kho có vẻ như được sử dụng bởi quân đội Anh như là một điểm quan sát, nhưng đã bị chặn lại bởi hai chiếc Sea Harrier trong khi họ tẩu thoát. Mj Tomba bị bắn rơi ( nhảy dù một cách an toàn ) bởi phi công Nigel Ward, trong khi Trung úy Micheloud trốn thoát và hạ cánh tại sân bay Port Stanley.

10:20 : FAA MIIIEA. Bốn chiếc máy bay tạo thành lực lượng nghi binh bay về phía bắc của hòn đảo.

10:25 : FAA Dagger Leon. Từ San Julian, Đại úy Dimeglio và Trung úy Castillo tấn công chiếc HMS Antrim với các khẩu súng cannon 30mm của họ. Các quả bom 1.000 lb của họ đã không phát nổ .

10:30: FAA Dagger Ñandu. Từ Rio Grande , Tierra del Fuego, đại úy Rodhe và trung úy Bean tấn công chiếc HMS Argonaut, Trung úy Bean bị bắn hạ bởi một tên lửa Sea Wolf SAM từ chiếc HMS Broadsword, chiếc Broadsword lại bị tấn công bởi đại úy phi công Janet .

trận San Carlos

Cảnh các tầu của Anh trong cơn bão bom đạn của máy bay Argentina – trận San Carlos

10:35 : FAA Dagger Zorro. Đại úy Dellepine, Đại úy Diaz và Đại úy Aguirre – Faget và strafe HMS Brilliant nhưng các quả bom hang- up.

10:50 : FAA Dagger Perro. Thiếu tá Martinez , Đại úy Moreno và trung úy Volponi tấn công chiếc HMS Antrim. Các quả bom 1.000 lb của họ đã không phát nổ , nhưng một trong số đó được thả trúng vào đuôi của chiếc tàu khu trục và còn làm con tầu bị hư hỏng bằng đạn 30 mm. Trong thời gian họ tẩu thoát, máy bay Sea Harrier phóng các quả tên lửa Sidewinder những chiếc Dagger nhưng đã không trúng.

12:45 : FAA A – 4C Pato. Đại úy Almoño, Đại úy Garcia, Trung úy nhất Daniel Manzotti và trung úy Nestor Lopez bị chặn bởi máy bay Sea Harriers ; Manzotti và López bị bắn hạ và bị giết bởi Sidewinder .

12:45 : FAA A – 4B Mula. Đại úy Carballo và Ensign Carmona. Mula 2 tấn công một tàu không rõ danh tính, có lẽ là chiếc tàu hàng Rio Carcaraña Argentina bị bỏ rơi và rút lui, Carballo tiếp tục một mình và tấn công chiếc HMS Ardent ném vào giữa con tầu hai quả bom, cả hai đều không nổ.

13:37 : FAA A – 4B Leo. Trung úy nhất Filippini, Trung úy Autiero, trung úy Osses, Trung úy Robledo và Hoa tiêu Vottero ném trúng chiếc HMS Argonaut với những quả bom £ 1.000 nhưng chúng đã không phát nổ, một quả đâm vào kho tên lửa đối không Sea Cat của nó, làm nổ hai quả tên lửa và gây thiệt hại .

14:30 : FAA MIIIEA. Hai máy bay làm nhiệm vụ mồi nhử

14:35 : FAA Dagger Cueca Đại úy Mir Gonzales, Đại úy Robles, Trung úy nhất Luna và trung úy Bernhard bị chặn bởi máy bay Sea Harrier và trung úy Luna bị trúng một tên lửa Sidewinder và nhảy ra một cách an toàn. Ba phi công tấn công chiếc HMS Ardent và trở về căn cứ .

14:53 : FAA Dagger Laucha. Thiếu tá Puga, Trung úy nhất Román tấn công chiếc HMS Brilliant. Viên phi công thứ ba tấn công một tàu không rõ tên, có thể là chiếc HMS Antrim.

14:58 : FAA Dagger Raton Thiếu tá Piuma, Đại úy Donadille và trung úy nhất Senn bị chặn bởi máy bay Sea Harrier của Nigel Ward và trung úy Thomas. Các máy bay Daggers liền thả …..của họ (2 thùng nhiên liệu và một quả bom 1000) và cố gắng trốn thoát, nhưng đã ba bị bắn hạ bởi tên lửa Sidewinder, tất cả các phi công đều nhảy dù một cách an toàn. Sau khi thu hồi các phi công, FAA đã phát hiện ra hành lang tiếp cận cho các máy bay Daggers ở San Julian và thực hiện những nỗ lực để sửa chữa tình hình.

15:15 : COAN A – 4Q Tabanos. Đại úy Philipi, Trung úy Arca và trung úy Marquez bắn trúng chiếc HMS Ardent với rất nhiều quả bom và súng cannon. Hai chiếc máy bay bị bắn hạ bởi Sea Harrier trong thời gian tẩu thoát, giết chết Trung úy Marcelo Márquez. Trung úy Philippi nhảy dù một cách an toàn và sau khi được che chở bởi nông dân địa phương tên là Tony Blake trong đêm, ông lại tái gia nhập lực lượng Argentina. Chiếc A- 4Q thứ ba của Trung úy Arca bị hư hại và phi công phải nhẩy dù xuống biển khoảng xấp xỉ 800 đến 1.000 mét ngoài khơi bờ biển Port Stanley. Arca đã được cứu thoát từ mặt nước bởi chiếc trực thăng Huey UH- 1H của Đại úy Jorge ” Picho ” Svendsen thuộc Tiểu đoàn 601 trực thăng Lục quân. Cả hai đội bay đều được thướng Valour in Combat Medal.

17:02 : FAA A – 4C: Không tìm thấy tầu đối phương.

17:12 : FAA A – 4B: Không tìm thấy tầu đối phương.

Ngày 22 tháng 5

Tình trạng thời tiết trên sân bay Patagonia đã ngăn cản Argentina thực hiện hầu hết các sứ mệnh trên không của họ, chỉ có một vài Skyhawk cố gắng để đến được các hòn đảo. Người Anh hoàn thành việc triển khai các khẩu đội Rapier bề mặt-đối-không.

Ngày 23 tháng 5

13:30 : FAA A – 4B Nene. Bốn A- 4Bs (Carballo, Trung úy nhất Guadagnini , Trung úy Rinke và Ensign Gomez ) tấn công các chiếc HMS Broadsword và HMS Antelope. Máy bay của Carballo bị hư hại bởi một tên lửa Sea Cat bắn từ chiếc HMS Antelope, trong lúc lao vào ném bom nên ông phải dừng cuộc tấn công và trở lại Rio Gallegos. Một chiếc máy bay thứ hai của Argentina thả một quả bom vào phía mạn phải chiếc HMS Antelope, giết chết thuyền viên Mark R. Stephens . Trung úy Guadagnini bị bắn trúng và giết chết bởi súng 20mm của chiếc HMS Antelope và đâm vào cột buồm chính của nó trong khi thực hiện vụ đánh bom của ông; quả bom xuyên thủng thân tàu của chiếc tàu frigate nhưng không nổ. Sau cuộc tấn công một trong những quả bom phát nổ do lắp kíp nổ chậm đã đánh chìm tàu.

13:45 : COAN A – 4Q Tabanos. Đại úy Castro Fox, Đại úy Zubizarreta và trung úy Benitez tấn công các chiếc HMS Broadsword, HMS Yarmouth và HMS Antelopemà không có thể nhìn thấy một thành công nào. Đại úy Carlos María Zubizarreta đã bị giết chết ở Rio Grande , Tierra del Fuego khi chiếc dù của ông không hoàn toàn mở sau khi ông nhảy ra từ chiếc A- 4Q của ông do lốp của một chiếc bánh xe bị nổ khi hạ cánh mà bom của ông vẫn còn nguyên. Chiếc máy bay tự dừng lại được mà không bị bất cứ thiệt hại nào.

15:10 : FAA Dagger Puñal. Thiếu tá Martinez và trung úy Volponi bị chặn bởi máy bay Sea Harrier, bắn rơi chiếc máy bay thứ hai, trong khi Martinez quay về căn cứ an toàn.

15:10 : FAA Dagger Daga. Tấn công các mục tiêu bên trong Ajax Bay

15:10 : FAA Dagger San hô. Tấn công các mục tiêu bên trong Ajax Bay
24 tháng năm

10:15 FAA A – 4B Chispa. Bốn A- 4Bs ( Com Mariel, Trung úy Sanchez, Trung úy Roca, Trung úyCervera và Ensign Moroni ) tấn công các tàu trong vịnh. Chiếc RFA Sir Lancelot bị ném trúng một quả bom 1000 lbs nhưng không phát nổ. Hai LCUs cũng bị tấn công.

11:02 FAA Dagger Azul. Đại úy Mir Gonzalez, Đại úy Maffeis, Đại úy Robles và trung úy Bernhardt tấn công một con tàu không xác định được tên, có thể là chiếc RFA Sir Bedivere, bên trong vịnh.

11:07 FAA Dagger Plata. Đại úy Dellepiane, Trung úy nhất Musso và trung úy Callejo tấn công mục tiêu mặt đất với retarding tail bom 227 kg.

11:08 FAA Dagger Oro. Mj Puga , Đại úy Diaz và 1 Trung Castillo bị chặn và bắn hạ bởi các máy bay Sea Harrier. Castillo đã bị giết chết và hai người kia nhảy dù một cách an toàn .

11:20 FAA A – 4C Halcon. Đại úy Pierini , 1 Trung Ureta và trung úy Mendez chặn bởi máy bay Sea Harrier, nhưng đã cố gắng để trở về căn cứ .

11:30 FAA A – 4C Jaguar. Trung úy nhất Vazques, thiếu úy Bono và Trung úy Martinez tấn công một con tàu không xác định có thể là chiếc RFA Sir Galahad, ở bên trong vịnh. Cả ba chiếc máy bay đều bị thiệt hại trong trận chiến và máy bay của Bono đã bị rơi trong chuyến bay trở lại. Hai chiếc Skyhawk khác đã được cứu sống bởi một máy bay chở dầu KC -130, chiếc đang tiếp cận các hòn đảo và tiếp sang 30.000 lít nhiên liệu trong khi bay cùng họ (các máy bay của Vazques và Martinez) tới sân bay tại San Julian .
Vào đêm 24 tháng 5 đã có một loại binh biến giữa các phi công Argentina trên lục địa, những người này cho biết họ sẽ từ chối để tiếp tục bay nếu quân đội và Hải quân không chịu tham gia trận chiến. Tướng Galtieri, quyền tổng thống của Argentina, quyết định đến thăm Comodoro Rivadavia ngày hôm sau, tháng 25 (Ngày Quốc khánh của Argentina) để cố gắng thuyết phục họ tiếp tục chiến đấu, nhưng khi ông đến vào buổi sáng các phi công đã thay đổi ý định của họ và đã bay đến các hòn đảo.

Ngày 25 tháng 5

09:00 FAA A – 4B Marte. Máy bay của Đại úy Hugo Palaver đã bị hỏng trong một sự cố đạn thân thiện khi ông và trung úy Daniel Galvez vô tình bay về Goose Green và bắn phá các bến tàu ở đó, và tin rằng họ đã qua Ajax Bay. Hệ thống phòng không chính xác nhận rằng đây là các máy bay của quân nhà nên không nổ súng nhưng binh lính trên mặt đất lại đánh trả bằng vũ khí hạng nhẹ. Khi họ quay trở lại eo biển, Hugo Palaver bị bắn hạ bởi một tên lửa Sea Dart bắn từ chiếc HMS Coventry

12:25 FAA A – 4C Toro. Đại úy Garcia, Trung Lucero (C -319), Trung úy Paredi và Thiếu úy Issac tấn công tàu bên trong vịnh, có lẽ là chiếc RFA Sir Lancelot; sau khi tấn công Lucero bị bắn hạ bởi một tên lửa Sea Cát bắn từ chiếc HMS Yarmouth. Ông đã nhảy dù thành công qua đầu lực lượng đổ bộ, được cứu thoát , sau đó được chuyển giao đến tàu bệnh viện SS Uganda. Một tên lửa Sea Cát nữa bắn từ chiếc HMS Coventry đã hạ Garcia, người mà chiếc máy bay của ông đã bị hư hại do đạn của vũ khí hạng nhẹ trong cuộc tấn công, về phía Bắc của San Carlos. Đại úy Garcia kịp nhảy dù, nhưng không thể cứu được. Ensign Isaac đã hết nhiên liệu nhưng được cứu bởi chiếc KC -130 đi kèm với ông ta tới tận căn cứ của mình trong khi vẫn tiếp nhiên liệu cho ông trong chuyến bay .

15:20 FAA A – 4B Volcano. Đại úy Carballo và trung úy Carlos Rinke tấn công HMS Broadsword, phá hủy hệ thống truyền tin và hệ thống thuỷ lực và các linh kiện điện tử của chiếc frigate và làm vỡ chiếc mũi chiếc máy bay trực thăng Sea Lynx của nó

15:20 FAA A – 4B Zeus. Trung úy nhất Velazco and Ensign Barrionuevo đánh chìm chiếc tàu khu trục HMS Coventry.

Hậu quả của trận đánh

“Tôi nghĩ rằng các phi công Argentina đang thể hiện sự dũng cảm tuyệt vời, sẽ rất là ngốc nghếch nếu tôi nói bất cứ điều gì khác”-John Nott Bộ trưởng Quốc phòng Anh

Bất chấp mạng lưới phòng thủ lớn trên không, các phi công Argentina đã có thể tấn công các mục tiêu của họ, nhưng mặc dù chắc chắn là rất dũng cảm, một số thiếu sót nghiêm trọng đã ngăn cản họ có được các kết quả tốt hơn – đặc biệt là vấn đề với ngòi nổ của bom của họ. Mười ba quả bom được thả trúng tàu Anh nhưng không phát nổ. Lord Craig, Nguyên soái đã nghỉ hưu của Không quân Hoàng gia, được cho là đã nhận xét rằng “với sáu chiếc ngòi nổ tốt hơn và chúng ta sẽ phải thua “. Các tàu chiến của Anh mặc dù bản thân họ bị nhiều thiệt hại nhất trong cuộc tấn công, đã thành công trong việc ngăn cản các máy bay của Argentina tấn công vào các tàu đổ bộ cũng đang ở bên trong vịnh. Với việc quân đội Anh đổ bộ được xuống đảo Falklands, một chiến dịch trên mặt đất nổ ra cho đến khi Tướng Argentina Mario Menendez đầu hàng Thiếu tướng Anh Jeremy Moore vào ngày 14 ở Stanley

Các máy bay phản lực dưới âm Sea Harrier, được vũ trang với các phiên bản tiên tiến nhất của tên lửa không-đối -không Sidewinder, chứng tỏ có khả năng như một máy bay tiêm kích chiếm ưu thế trên không .

Trận chiến có tác động sâu sắc về thực hành sau này của hải quân. Trong thập niên 1980 rất nhiều tàu chiến của các lực lượng hải quân trên khắp thế giới đã được tái trang bị các hệ thống vũ khí tầm gần và súng để tự vệ. Báo cáo đầu tiên về số máy bay của Argentina bị bắn hạ bởi hệ thống tên lửa của Anh sau đã đó được điều chỉnh xuống.

Tranh vẽ Trung úy Crippa lái chiếc máy bay phản lực Aermacchiđơn độc tấn công tấn công chiếc tàu khu trục HMS Argonaut

Tranh vẽ Trung úy Crippa lái chiếc máy bay phản lực Aermacchiđơn độc tấn công tấn công chiếc tàu khu trục HMS Argonaut

ên lửa phòng không Rapier của Anh bắn hạ máy bay A4 Skyhawk trong trận San Carlos, tranh vẽ của Daniel Bechennec

Tên lửa phòng không Rapier của Anh bắn hạ máy bay A4 Skyhawk trong trận San Carlos, tranh vẽ của Daniel Bechennec

Trận Goose Green

Trận Goose Green ( Ngày 28-Ngày 29 Tháng 5 1982) là một trận đánh của Chiến tranh Falklands giữa các lực lượng Anh và Argentina. Goose Green có ít giá trị chiến lược trong chiến dịch của Anh để chiếm lại Quần đảo Falkland và kế hoạch ban đầu tiến hành các hoạt động trên mặt đất đã kêu gọi phải cô lập và bỏ qua Goose Green. Tuy nhiên sau khi thua lỗ lớn của Anh trên biển Tổng hành dinh của Anh tại Northwood đã bị áp lực của chính phủ từ việc phải có một thành công ban đầu và vì thế họ đã ra lệnh chỉ huy cấp cao trên mặt đất, Chuẩn Julian Thompson, chỉ huy Lữ đoàn 3 Commando, để tiến hành một cuộc tấn công.

Lực lượng hai bên

Các lực lượng Anh gồm ba đại đội súng trường, một đại đội tuần tra, một đại đội hỗ trợ và bộ phận tiểu đoàn bộ – Tiểu đoàn 2 dưới sự chỉ huy của trung tá Herbert ‘H’ Jones’ của Trung đoàn dù (Đơn vị dù số 2) được sự hỗ trợ như sau: ba khẩu đội pháo 105mm với 960 viên đạn từ trung đoàn 29 Commando, Pháo binh Hoàng gia; một trung đội Hỏa tiễn chống tăng MILAN; máy bay trực thăng trinh sát và sau này vào lúc hoàng hôn họ được sự yểm trợ từ trên không của ba chiếc Harriers của Không quân Hoàng gia trong trận chiến. chiếc HMS Arrow bắn phá vị trí chuyển tiếp Argentina. Trung tá Jones chỉ huy tiểu đoàn tấn công.

Lực lượng phòng thủ của Argentina được gọi là Lực lượng Đặc nhiệm Mercedes bao gồm Trung đoàn bộ binh số 12 (RI 12) của Trung tá Italo Piaggi và một đại đội Ranger thuộc trung đoàn bộ binh số 25 (Argentina ) (RI 25). Trung táMohamed Ali Seineldín, được nhiều người Argentina xem như là ” cha đẻ”của Argentina Commandos, người bị đối xử bất công khi chỉ là một sĩ quan chỉ huy của một đơn vị bộ binh thông thường, ông đã đưa tất cả các lính nghĩa vụ của mình vào các khóa học làm lính commando trong tháng 3 năm 1982 và trang bị cho họ Mũ nồi xanh của lính Commandos và thay đổi tên hiệu của RI 25 một cách không chính thức thành trung đoàn bộ binh đặc nhiệm số 25.

Phòng không được cung cấp bởi một khẩu đội sáu súng 20mm Rheinmetall được điều khiển bởi nhân sự của Lực lượng không quân và hai súng phòng không Oerlikon 35 mm có radar dẫn bắn từ Tiểu đoàn phòng không 601, lực lượng có thể đóng vai trò hỗ trợ mặt đất trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Ngoài ra còn có một trong bốn khẩu đội lựu pháo pháo 105 mm Oto Melara từ Trung đoàn Pháo binh Dù 4. Các máy bay Pucarás tại Stanley được trang bị tên lửa và bom napan để cung cấp hỗ trợ cho mặt đất.

Trận chiến

Ngay sau 2:30 ngày 28 tháng 5, Lính dù phát động tấn công vào các vị trí của Argentina để chiếm Goose Green “ trước khi ăn sáng “. Một đại đội của RI 12 phòng thủ khu vực Darwin Park với hai trung đội súng trường và một trung đội súng cối. Các trung đội Argentina ở phía trước phải chịu đựng hỏa lực pháo binh hải quân từ chiếc HMS Arrow trong 90 phút. Trong trận chiến đêm tiếp theo khoảng mười hai người Argentina đã bị giết. Trung đội thuộc quyền chỉ huy của thiếu úy Malacalza đã chiến đấu để kìm chân lính dù Anh, làm họ phải đổ máu ở Burntside Hill trước khi lại phải chiến đấu ở Darwin Ridge. Đại đội D của thiếu tá Philip Neame phải tạm thời dừng lại ở vị trí Coronation Ridge. Một trong những người của ông ta, hạ sỹ – LanceCorporal – Gary Bingley lao ngược từ dưới lên để tấn công một ổ súng máy của đối phương đang chặn đường tiến lên trước. Ông bị trúng đạn từ khoảng cách mười mét đến ụ súng máy nhưng cũng bắn hạ được hai binh sỹ đối phương trước khi đổ gục. Ông được truy tặng Huy chương quân đội – Military Medal. Khẩu súng máy của đối phương bị loại khỏi vòng chiến đấu, lính dù Anh đã có thể dọn sạch được vị trí trung đội lính Argentina nhưng với cái giá của ba lính dù.

trận Goose Green

hướng tiến công của quân Anh trong trận Goose Green

Sau đó, lính dù chuyển về phía nam qua Darwin Parks. Binh sỹ Argentina tổ chức một vị trí phòng thủ độc lập đã được xác định ở Darwin Ridge. Khi các đại đội A và B chuyển về phía nam từ Coronation Ridge họ đã bị bắn từ một vài súng máy FN MAG được n.g.ụ.y trang của Argentina. Một hạ sỹ quan Argentina, thượng sỹ Juan Cohelo được cho là đã tập hợp phần còn lại của đại đội A thuộc RI 12 trở lại Darwin Parks. Ông bị thương nặng trong hôm đó. Các cuộc tấn công đầu tiên của Anh đã bị phá vỡ do hỏa lực từ trung đội của thiếu úy Peluffo Ernesto thuộc trung doàn 12 RI. Hạ sỹ Osvaldo Olmos của RI 25 từ chối rời khỏi hầm chiến đấu của mình và tiếp tục bắn vào các đại đội của Anh khi họ di chuyển về phía trước. Lính dù kêu gọi người Argentina đầu hàng.

Tại thời điểm này của trận đánh, các cố gắng để tiến lên của đơn vị lính dù 2 đã trở nên khó khăn. Một số lính dù tập trung ở dưới các hàng cây kim tước hoa ở dưới chân đồi của Darwin Hill và tấn công vào lính Argentina lúc này đang cố thủ trên ngọn đồi và bắn xuống phía họ. Lúc này ánh sáng ban ngày đã tỏa xuống toàn bộ chiến trường, Jones (trung tá chỉ huy của đơn vị lính dù 2) đã dẫn đầu một đợt tấn công bất thành lên một đoạn mương nhỏ – up a small gully và dẫn đến cái chết của các trợ thủ của ông, đại úy Wood, một phó chỉ huy đại đội của đại úy Dent và hạ sỹ Hardman. Ngay sau đó Jones chạy về phía Tây dọc theo căn cứ Darwin Ridge để tập hợp một toán quân nhỏ, theo sau là các vệ binh của ông. Ông kiểm tra lại khẩu SMG Stirling của mình sau đó chạy lên ngọn đồi hướng về cái mương có lính Argentina đang cố thủ. Ông bị bắn trúng một lần và ngã xuống, sau đó ông lại vùng đứng dậy và bị trúng một lần nữa từ phía bên hông. Ông ngã xuống cách chiếc mương chỉ một đoạn ngắn, Jones bị bắn trúng vào lưng và háng và chết trong vòng vài phút. Jones sau đó được nhận Victoria Cross cho những nỗ lực của mình. Khi Jones nằm hấp hối, người của ông đã gọi radio để sơ tán khẩn cấp người bị thương. Tuy nhiên, chiếc trực thăng trinh sát của Anh được tới để di tản Jones đã bị bắn hạ bởi một máy bay tấn công mặt đất FMA IA 58 Pucara của Argentina. Phi công bị giết chết và các thành viên đội bay cũng bị thương nặng. Hạ sỹ Ríos (Argentina) sau đó bị tử thương trong chiến hào của mình bởi một quả rôckét 66mm được bắn từ Hạ sỹ Abols (Anh).

Sau đó vào lúc 10:30 một đại đội của thiếu tá Dair Farrar – Hockley đã thực hiện một nỗ lực thứ ba, nhưng bị đẩy lui. Cuối cùng, đại đội lính dù của Anh bị cản trở bởi sương mù buổi sáng khi họ tiến lên theo sườn dốc của Darwin Ridge, và đã bị xua đuổi quay trở lại đoạn mương bởi hỏa lực của Trung đội 1 – đại đội C của RI 25, dưới sự chỉ huy của Trung úy hạng nhì Roberto Estevez. Trong đợt giao tranh này Trung úy Estevez đã xin pháo 105mm và súng cối 120mm bắn trực tiếp vào vị trí của mình và sau hy sinh ông được tặng thưởng huy chương Argentine Nation to the Heroic Valour in Combat Cross ( CHVC ) . Đội súng cối của đơn vị dù 2 bắn 1.000 viên đạn để giữ cho đối phương phải dúi đầu trong chiến hào và giúp ngăn chặn việc lính Argentina xác định được một mục tiêu chính xác vào các lính dù.

Binh lính Argentina trong một vị trí phòng thủ ( trận núi Kent)
Binh lính Argentina trong một vị trí phòng thủ ( trận núi Kent)

Gần đến trước buổi trưa lính Anh lại tiếp tục tấn công. Lấy cảm hứng từ sự hy sinh của sĩ quan chỉ huy của họ, một đại đội Anh nhanh tróng dọn sạch các vị trí phía đông của Argentina và mở ra con đường tiến về phía trước. Có hai trận đánh diễn ra trong các gò đất Darwin – một khoảng từ Darwin Hill nhìn xuống Darwin Bay và là một trận đánh cũng ác liệt tương tự ở phía trước của Boca Hill, còn được gọi là Boca House Ruins. Thiếu úy Guillermo Aliaga và Trung đội 3, đại đội C – RI 8 đang phòng thủ Boca Hill. Vị trí Boca Hill đã bị chiếm giữ sau một trận chiến dữ dội của đại đội B của thiếu tá John Crosland với sự hỗ trợ của trung đội súng chống tăng MILAN. Crosland là một sỹ quan giàu kinh nghiệm nhất của Anh và là những sự kiện trong ngày diễn ra, sau đó người ta đã nói rằng sự lạnh lùng và bình tĩnh của Crosland đã ảnh hưởng đến các binh sĩ của ông trên chiến trường và làm thay đổi cục diện trận chiến ở khu vực Boca House. Vào thời gian mà người Anh giành chiến thắng ở vị trí Boca Hill, một đại đội của Anh đã tấn công vào lính phòng thủ Argentina ở Darwin Hill cuối cùng chiếm được vị trí với rất nhiều thương vong của cả hai bên. Các thiếu ta Farrar – Hockley và Crosland mỗi người đoạt một huân chương Military Cross cho những nỗ lực của họ. Hạ sỹ David Abols nhận được huy chương Distinguished Conduct Medal cho đợt tấn công táo bạo của mình để xoay chiều trận chiến ở Darwin Hill.

Sau chiến thắng ở Darwin Ridge, các đại đội C và D bắt đầu tiến lên để đến chiếc sân bay nhỏ cũng như Darwin School ở đông của chiếc sân bay, trong khi đại đội B tiến theo con đường của họ về phía nam của Khu định cư Goose Green. Một đại đội vẫn đóng ở Darwin Hill. Đại đội C đã phải phân tán khi họ trở thành mục tiêu của súng phòng không 35 mm bắt trực tiếp bắn cấp tập. Họ bị thương vong khoảng 20 phần trăm. Trung úy James Barry của Trung đội 12 – đại đội D gặp một số trận chiến ác liệt tại sân bay. Họ đã bị phục kích nhưng một trong những người của họ đã bắn chết hai trong số những kẻ tấn công và sau đó báo cáo sự việc cho thiếu tá Neame. Viên trung sĩ đã bắn vào đối phương đang tấn công bằng súng máy của mình và giết chết bốn người trong số họ. Trung sỹ Williams Wyndham đã được trao huy chương Distinguished vì lòng dũng cảm. Binh nhì Graham Carter giành được huy chương Military Medal bằng việc tập hợp một số người của Trung đội 12 và dẫn lao về phía trước và chiến đấu bằng lưỡi lê để chiếm được chiếc sân bay. Trung đội bảo vệ đường băng sân bay thuộc RI 25 chạy trốn vào Darwin – Goose Green và đã trốn thoát. Trung sĩ Sergio Garcia của RI 25, một mình ở lại chặn hậu cho trung đội của mình rút lui trước đợt phản công của Anh. Ông được truy tặng huy chương Argentine Nation to the Valour in Combat Medal. Bốn lính thuộc đại đội D của Anh và khoảng một tá lính Argentina đã thiệt mạng trong các cuộc đụng độ. Trong số người chết có Trung Barry người cùng với hai đồng đội của mình đã bị giết chết trong khi chấp nhận sự đầu hàng của một nhóm lính Argentina. Đại đội C đã không mất một người lính nào trong trận chiến ở Darwin School, nhưng một người lính sau đó đã bị chết do trúng phải đạn súng phòng không 35 mm của Argentina và đồng thời (loạt đạn của khẩu 35 mm này) cũng biến ngôi nhà thành một đống đổ nát.

Khi đêm xuống, hai sĩ quan bảo dưỡng Không quân Argentina, những người bị bắt làm tù binh chiến tranh đã được gửi đến chỗ các chỉ huy của Argentina tại Goose Green bức thư được viết bởi quyền chỉ huy trưởng của đơn vị lính dù 2, thiếu tá Chris Keeble, về các điều kiện đầu hàng.

” LỰA CHỌN QUÂN SỰ

Chúng tôi đã gửi một tù binh chiến tranh tới chỗ ngài với một lá cờ trắng để tạm ngừng bắn và chuyển đến cho ngài những lựa chọn quân sự sau đây:

1. Ngài phải đầu hàng một cách vô điều kiện các lực lượng của ngài với chúng tôi bằng cách rời khỏi thị trấn, tập hợp thành một đội hình quân sự, binh lính của ngài phải bỏ mũ sắt và hạ vũ khí của họ xuống.Ngài sẽ phải thông báo trước về ý định chấp nhận sự đầu hàng của mình bằng cách trả lại người tù binh này với một lá cờ trắng với anh ta sẽ mang câu trả lời cũng như các thủ tục khác vào lúc không muộn hơn 08:30 giờ – giờ địa phương.

2.Trong trường hợp ngài từ chối đầu hàng thì ngài sẽ phải chịu những hậu quả không thể tránh khỏ . Ngài cũng sẽ phải thông báo trước về ý định này bằng cách trả lại người tù binh mà không mang theo cờ trắng (mặc dù tính trung lập của người này sẽ được tôn trọng ) không muộn hơn 0830 giờ – giờ địa phương.

3. Để phù hợp với các điều khoản và điều kiện của Công ước Geneva và pháp luật chiến tranh quốc tế, ngài sẽ phải chịu trách nhiệm cho số phận của các thường dân tại Darwin và Goose Green và chúng tôi theo những điều khoản này sẽ không đưa ra thông báo về ý định của chúng tôi là liệu có pháo kích Darwin và Green Goose hay không.

C Keeble – Chỉ huy lực lượng Anh “

Đại đội Juliet, 42 Commando ( bao gồm chủ yếu là của các thành viên của Đội Hải quân 8901 – Naval Party 8901) đã được gửi bằng đường không vận đến Darwin để củng cố đơn vị lính dù 2 và đồng thời kế hoạch đã được lập ra ngay trong đêm đó để chuyển đại đội Bravo – Trung đoàn 6 bằng trực thăng đến Goose Green trong một động thái rất khẩn trương.

 tu binh Argentina dau hang

những tù binh người Argentina trong trận Goose Green : cũng không thể trách những người lính Argen trong trận này được, vì họ được trang bị vũ khí theo truyền thống nên hỏa lực tiểu đội quá yếu, không có những súng BB đầy uy lực như PRG-3, PRG-7…. Nhưng tuy nhiên quyết định hạ vũ khí đầu hàng là của chỉ huy của họ .

Ngày hôm sau, Trung tá Piaggi đã đầu hàng cùng tất cả các lực lượng Argentina ở Goose Green, khoảng 1.000 người bao gồm 202 người của Không quân. Ông này sau đó bị đuổi ra khỏi quân đội trong ô nhục. Thiếu ta Keeble được trao giải thưởng Distinguished Service Order. Cuộc chiến mười bốn giờ đã làm 17 người Anh thiệt mạng và 64 người bị thương, đa số là từ đơn vị lính dù 2. Khoảng 50 lính Argentina thiệt mạng và 120 người bị thương. Sau khi trận chiến một số lượng lớn vũ khí và đạn dược của Argentina chưa sử dụng đã được triển khai ở các con tàu của Hải quân Hoàng gia lúc này vẫn đóng tại San Carlos Water

Trận Malo Top House

Trận Malo Top House là một trận chiến trong ngày 31 tháng năm 1982 trong Chiến tranh Falklands, giữa 1 phần Argentina Lực lượng đặc biệt từ Đại đội 602 Commando và một tuần tra hình thành từ nhân viên và học viên của Mountain and Arctic Warfare Cadre, một đơn vị đào tạo của Thủy quân lục chiến Hoàng gia được đặt dưới sự kiểm soát của Lữ đoàn 3 Commando cho các Hoạt động chiến đấu.

Bối cảnh

Đại úy Rod Boswell của Thủy quân lục chiến – Sơn cước Hoàng gia và Arctic Warfare Cadre cùng mười tám người của mình đã thực hiện một nhiệm vụ bắt nguồn từ một báo cáo được thực hiện trên 27 tháng năm của một nhóm tuần tra bốn người từ Cadre sited trong một trạm quan sát ở Bull Hill. Nhóm tuần tra bốn người đã lập trạm quan sát ngày 21 tháng như là một trong số các đội trinh sát nhỏ như mắt và tai của Lữ đoàn.

Dạo thử

Nhóm tuần tra bốn người cũng đã được chuyển về Bull Hill trên tuyến đường từ Teal Inlet đến Stanley. Họ đã báo cáo lại chỉ để nói rằng đây có thể là thông điệp cuối cùng vì hai máy bay trực thăng UH-1 của Argentina đã bay lượn trên điểm quan sát. Các máy bay trực thăng đã bay đi theo hướng Mount Simon, Tuy nhiên, viên trung sĩ chỉ huy đội tuần tra tin rằng chiếc máy bay đã có thể thả xuống một lực lượng đặc biệt của Argentina trên sườn núi thấp của Simon. Các tin tiếp theo được về Sở chỉ huy Lữ đoàn cảnh báo các nhân viên về mối đe dọa của một lực lượng đặc biệt Argentina đã có mặt trên vùng núi cao để tìm cách tiếp cận Teal Inlet và xa hơn nữa. Nhiệm vụ của Đại úy Boswell và nhóm của ông là phải tiêu diệt nhóm Argentina tuần tra tại Top Malo.

Trong 29 tháng 5 điện đài viên của nhóm tuần tra của Argentina, sau khi test thử điện đài vào các buổi sáng, đột nhiên đã cố gắng gửi vể một tin nhắn đi ngang qua Sở chỉ huy của lữ đoàn 10 rằng có một hành lang hàng vận không đến và đi từ San Carlos đến núi Kent. Liên lạc ngay lập tức bị cắt và không bao giờ được tái lập. Chỉ huy của nhóm tuần tra là Đại úy Jose Arnobio Vercesi, chỉ huy của nhóm tấn công số 1, đại đội 602 Commando. Nhóm tuần tra được thành lập bởi 8 người của bộ phận đầu tiên cộng với hai người lính sử dụng tên lửa Blowpipe. Còn có một nhân viên cứu thương Trung sỹ nhất Pedrozo, trong khi Trung sĩ nhất Helguero từ đại đội 601 Commando được cử làm trinh sát.

Vào tối ngày 30 tháng 5 Đại úy Boswell nhận được một tin nhắn từ một trong những tuần tra , trong một bài quan sát trên sườn dốc thấp hơn của núi Simon, rằng họ chỉ nhìn thấy hai máy bay trực thăng UH -1 đổ xuống một nhóm tuần tra khoảng mười sáu người ở Top House Malo, chỉ cách 400 mét (440 yd ) từ vị trí của một ngôi nhà bỏ hoang của một người chăn cừu. Họ cũng báo cáo một số máy bay trực thăng điều khác lượn lờ ở trong vùng lân cận. Cũng là qua muộn để gọi máy bay Harrier GR3 đến và phá hủy ngôi nhà, và vị trí này cũng ở ngoài phạm vi của pháo binh Anh. Do đó người Anh đã lên kế hoạch cho một cuộc đổ bộ tấn công bằng trực thăng vào sáng sớm ngày 31 tháng 5, đổ bộ xuống mặt đất khoảng 1.000 m (1.100 yd ) từ phía ngôi nhà và tấn công vào nó

Trận đánh

Được cho lên một chiếc Sea King HC4 của Phi đội 846 Không quân thuộc Hải quân hòa, Thủy quân lục chiến Hoàng gia, nhóm đặc nhiệm đã được tiếp đầy đủ và đạn dược và đồ tiếp tế để chiến đấu đến tận cuối tuần trong khu vực này. Máy bay trực thăng đã quá tải khi cất cánh cho một chuyến bay 45 km, ký quỹ đội ngay tại chỗ chính quyền cho phép rời tàu vận chuyển quá cảnh ngắn để mục tiêu. Một nhóm hỏa lực gồm bảy người di chuyển ra phía bên trái đi lên một vị trí cách 150m Top Malo House để cung cấp hỏa lực hỗ trợ cho nhóm tấn công mười hai người do Boswell chỉ huy. Có một rủi ro rất quan trọng là đội đặc nhiệm lại mặc đồng phục mầu đen quá khác biệt với mầu tuyết trắng, dẫn đến khả năng lính gác phát hiện được họ. Không biết về chuẩn bị của người Anh, người Argentina đang lắng nghe tiếng của máy bay trực thăng và tăng tốc để lấy các thiết bị của họ và ra khỏi nhà.

Boswell bắt đầu đợt tấn công vào khoảng hai giờ sau khi bình minh, sau một mệnh lệnh để chuẩn bị chiến đấu, bằng cách bắn một tín hiệu màu xanh lá cây vào không khí. Đây là tín hiệu cho nhóm hỗ trợ để bắn sáu súng phóng rốc két chống tăng M72 LAW hạng nhẹ 66mm vào ngôi nhà. Khi quả đạn rốc két đầu tiên được bắn ra, một lính gác Argentina ( Trung úy Ernesto Espinosa, xạ thủ bắn tỉa của Argentina nhóm này ) chuyển đến cửa sổ của tầng trên và ngay lập tức bị bắn và bị thương bởi một phát đạn của hạ sỹ Groves trong đội hỗ trợ, người được trang bị một súng trường bắn tỉa. Trung úy Horacio Losito, người chỉ huy thứ hai của nhóm này, nói rằng Trung sỹ Espinosa đã báo động và đồng thời nổ súng vào lính Anh đang tiếp cận để hỗ trợ cho những người Argentina khác có thể thoát ra khỏi ngôi nhà.

Một trong những thành viên của đội hỏa lực của Anh đã tiến đến đúng tầm và bắn một phát đạn rốc két LAW 66 mm của mình trúng vào Espinosa. Quả đạn rốc két cũng làm ngôi nhà bốc cháy. Boswell và nhóm của ông chạy về phía trước, dừng lại và bắn hơn hai quả đạn rốc két nữa và sau đó lại nạp đạn. Những người lính Argentina chạy từ nhà ra một lòng suối gần đó khoảng 200 m vừ bắn vừa chạy. Trung úy Espinosa ở tầng trên cùng đã bị giết bởi một quả đạn rốc két 66mm , trong khi Trung sĩ Mateo Sbert đã bị bắn chết khi ông này nổ súng đê chặn hậu cho những người lính Argentina còn lại thoát ra từ một cánh cửa duy nhất. Hai lính Anh, một trung sĩ và một hạ sỹ, bị bắn trúng và bị thương. Các đạn xếp chồng lên nhau bên trong căn nhà phát nổ. Khi nhóm tấn công của Anh tiến ra khói từ tòa nhà đang cháy tạo ra những mục tiêu ngon lành cho những phát đạn chính xác được bắn từ lính Argentina từ trong lòng suối.

Cuộc đọ súng đã diễn ra trong khoảng bốn mươi lăm phút.Vì hết đạn và hầu hết các thành viên của đội tuần tra đã chết hoặc bị thương đại úy Vercesi chọn cách đầu hàng. Trung úy Espinosa và trung sỹ Sbert đã được truy tặng Argentine Nation to the Heroic Valour in Combat Cross cho trận đánh này.

Hậu quả của trận đánh

Hai người Argentina đã bị giết, sáu người bị thương và bốn người khác bị bắt tù binh, với ba người của lực lượng Anh bị thương. Sau khi bình luận trận chiến đại úy Boswell nói với viên chỉ huy của Argentina là: ” Không bao giờ nên ở trong một căn nhà …”.

Không biết rằng người Anh đã tấn công và tiêu diệt hoàn toàn toán biệt kích, các thành viên của Red de Observadores del Aire hoặc ROA (Nhóm triển khai quan sát mặt đất của Lực lượng Không quân Argentina) được đổ lên Malo Hill và núi Simon. Trong thực tế, một nhóm tuần tra bốn người do Trung úy Hadow chỉ huy đã quan sát thấy từ một vị trí gần đó chỉ là ở phía bên kia của sông Malo. Mười bốn nhân viên R.O.A. từ các vị trí này đã đầu hàng đơn vị dù số 3 vào ngày hôm sau.

Không kích Bluf Cove

Cuộc không kích Bluff Cove xảy ra vào ngày 08 Tháng Sáu 1982, trong Chiến tranh Falklands. Tầu chở quân của Anh đã bị đánh bom bởi Không quân Argentina ( FAA ) trong khi dỡ hàng với những thiệt hại và thương vong đáng kể.

Bối cảnh

Vào ngày 01 Tháng Sáu, lực lượng Anh trên quần đảo Falkland đã được củng cố bởi sự xuất hiện của 5.000 quân mới của Lữ đoàn 5 Bộ Binh. Thượng tướng Jeremy Moore bây giờ đã có đủ lực lượng để bắt đầu lên kế hoạch cho một cuộc tấn công quy mô đầy đủ vào Port Stanley.

Đơn vị lính dù 2 vẫn tiến về phía trước và chiếm đóng Fitzroy và Bluff Cove, phát hiện rõ ràng về lực lượng của Argentina. Các đơn vị người xứ Wales và Vệ binh Scotland được gửi đến để hỗ trợ họ. Sau vụ đánh đắm chiếc tầu vận tải Atlantic Conveyor chỉ còn có một máy bay trực thăng của Hải quân Anh – một chiếc CH -47 Chinook RAF. Do đó vật tư và quân tiếp viện sẽ phải được vận chuyển bằng đường biển.

Tấn công không kích

Trong khi dỡ hàng vào ngày 8 tháng Sáu, các con tàu của Anh đã bị tấn công bởi một đợt sóng của máy bay A-4 Skyhawk từ Lữ đoàn 5 Không Quân, mỗi chiếc trong số họ nạp với ba quả bom £ 500 retarding tail bombs do Tây Ban Nha thiết kế. Vào khoảng 14:00 giờ địa phương các tàu RFA Sir Tristram và RFA Sir Galahad đã bị hư hỏng nặng bởi năm chiếc A 4Bs – của Grupo 5. Vào lúc 16:50 một làn sóng thứ hai gồm bốn A 4Bs – của Grupo 5 đánh trúng một chiếc LCU từ chiếc HMS Fearless, chở các xe otô của sở chỉ huy của Lữ đoàn 5 từ Darwin đến Bluff Cove tại eo biển Choiseul với sự mất mát của sáu thành viên thủy thủ đoàn. Tuy nhiên, máy bay tuần tra không chiến tuần tra Sea Harrier đã có mặt tại hiện trường và đánh trả ba chiếc Skyhawk bị bắn rơi và phi Nóng của họ, Trung úy nhất Danilo Bolzan, Trung úy Juan Arrarás và Ensign Alfredo Vazquez đã thiệt mạng. Chiếc máy bay thứ tư bị thiệt hại trong chiến đấu và bị mất một lượng lớn nhiên liệu nhưng nó đã trở về được đến đất liền với sự hỗ trợ của một máy bay tiếp dầu KC -130. Một làn sóng máy bay thứ ba, gồm các máy bay A 4Cs của Grupo 4, đến vài phút sau đó và tấn công mục tiêu mặt đất mà không thành công có thể được nhìn thấy. Trong một diễn biến khác, chiếc tàu khu trục HMS Plymouth phải chịu đựng những cuộc tấn công bất ngờ của sáu chiếc máy bay chiến đấu Dagger của Lữ đoàn Không quân số 6, mà đánh của mình với bốn quả bom 1000 bảng Anh. Chiếc tàu chiến đã bị thiệt hại nặng nề mặc dù tất cả các quả bom đã không nổ.

Tổng cộng có 56 quân nhân Anh đã thiệt mạng và 150 người bị thương. Camera của truyền hình BBC ghi lại hình ảnh máy bay trực thăng Hải quân Hoàng gia bay lượn trong khói dày để cứu những người sống sót từ tàu đổ bộ bị đốt cháy. Những hình ảnh này đã được truyền khắp thế giới. Tuy nhiên, tướng Mario Menendez, chỉ huy lực lượng Argentina trên đảo, đã cho biết hàng trăm người đã bị giết. Ông dự kiến sẽ làm giảm tinh thần chiến đấu của người Anh và bước tiến của họ sẽ chậm lại. Chiếc Sir Galahad đã bị hư hỏng không thể sửa chữa nhưng chiếc tàu chị em còn sống sót của được nó được sửa chữa lại sau chiến tranh .

Trận Mount Harriet

Trận Mount Harriet là một trận đánh của Chiến tranh Falklands, diễn ra vào đêm 11 -> 12 Tháng sáu 1982 giữa các lực lượng Anh và Argentina. Nó là một trong ba trận đánh trong một hoạt động có quy mô một lữ đoàn trong cùng một đêm.

Lực lượng Anh bao gồm tiểu đoàn 42 Commando (42 CDO), Thủy quân lục chiến Hoàng gia dưới sự chỉ huy của Trung tá Nick Vaux (Sau này ông này được thăng tướng ) với sự hỗ trợ pháo binh từ một khẩu đội pháo của trung đoàn 29 Commando, Pháo binh Hoàng gia. Tiểu đoàn 1, vệ binh xứ Wales (1WG) và hai đại đội từ tiểu đoàn 40 CDO làm lực lượng dự bị. Chiếc HMS Yarmouth cung cấp hỗ trợ súng hải quân cho lực lượng Anh.

Lực lượng phòng phủ Argentina bao gồm trung đoàn bộ binh số 4 (RI 4) dưới sự chỉ huy trung tá của Diego Soria.

Vào đêm ngày 30 tháng 5, đại đội K thuộc 42 CDO di chuyển phía trước San Carlos để bảo đảm an ninh cho Mount Kent- ngọn núi có độ cao 1.504 feet, cao nhất trong các đỉnh núi xung quanh Stanley – Nơi mà biệt đội D của lực lượng SAS đã thể hiện một sự hiện diện mạnh mẽ. Tuy nhiên, khi họ đến khu vực đổ bộ của họ, khoảng 3 km (2 dặm) phía sau đỉnh núi, lính thủy quân lục chiến đã rất ngạc nhiên khi thấy những vệt đạn nhấp nháy chiếu sáng lên trong đêm. Sau một cuộc chiến ác liệt tại khu vực gần đó, đội tuần tra Argentina ( Biệt đội tấn công số 2 của Đại úy Tomas Fernandez thuộc đại đội 602 Commando) phải rút lui khỏi các tảng đá và cây bụi tuyết ngâm… trong ngọn núi này. Đến cuối tháng Biệt đội của thiếu tá Cedric delves đã chiếm được Mount Harriet và bắt đầu triển khai tuần tra chiến thuật xung quanh Bluff cove, nơi mà họ đã có hai người bị thương.

Cuộc tấn công đã được chuẩn bị trước bởi nhiều ngày đêm quan sát và tuần tra. Một số cuộc tuần tra chiến đấu ban đêm là một phần của một kế hoạch nghi binh để thuyết phục người Argentina rằng cuộc tấn công sẽ đến từ hướng tây. Nhiều đợt tuần tra bí mật khác đã tìm thấy một tuyến đường thông qua một bãi mìn xung quanh phía nam của núi Harriet. Bắn tỉa và pháo hải quân đã được sử dụng để quấy rối binh lính phòng thủ và không cho họ ngủ nghê gì cả.

Ngày 3 tháng 6, Trung úy Chris Marwood trinh sát của tiểu đoàn 42 CDO, đi kèm với 3 lính Commando của Lữ đoàn Forward Air Control dưới sự chỉ huy của Đại úy Dennis Marshall-Hasdell, gặp phải một nhóm tuần tra chiến đấu RI 4 (Trung đội 3 của Đại đội B). Đội trinh sát của Anh đã nổ súng và hai lính nghĩa vụ (các binh nhì Celso Paez và Roberto Ledesma) đã bị giết ngay lập tức và một NCO (Hạ sỹ Nicolas Odorcic) đã bị thương bởi một phát đạn bắn vào đầu bởi một trong những tay súng bắn tỉa hải quân khi ông ta đã cố ẩn mình vào trong các hốc đá. Hành động này đã thu hút sự chú ý đến vị trí mong tiếp xúc của họ, và quân tiếp viện Argentina đã tham gia hành động với một cuộc phản Nóng nói chung. Chuẩn úy chuyên đào tạo commando Air Controller Dennis Marshal-Hasdell, nhớ lại:

“Chúng tôi đã tháo những trang bị nặng của chúng tôi như đài vô tuyến …đợt tuần tra này của chúng tôi được triển khai trên một diện tích khá lớn, với rất nhiều tiếng ồn, la hét và bắn phá nổ ra. Lính thủy quân lục chiến phải bỏ tất cả các thiết bị và mặc dù không ai nói với chúng tôi nhưng một điều trở nên rõ ràng rằng chúng tôi đang rút lui mà không lấy được bất cứ thông tin nào cả. Dave Greedus và tôi quyết định từ bỏ các thiết bị nặng và cố gắng phá hủy nhiều như chúng tôi có thể. Hai bộ đài vô tuyến (HF và UHF ) đã là rất khó, nhưng thiết bị HAZE dùng để đánh dấu mục tiêu bằng laser được thiết kế để chịu được trọng lượng của một chiếc xe tăng! “

Máy dò mục tiêu bằng Laser ( Laser Target Designator) cho thấy rằng Thủy quân lục chiến Hoàng gia đang tìm cách phá hủy các boongke Argentina trên núi Harriet với bom Pave Way 1.000-pound dẫn hướng bằng Lazer.

Vào đêm 9 tháng Sáu, chiến sự bên ngoài khu vực phòng thủ bùng lên khi Trung úy Mark Townsend của tiểu đoàn 1 (đại đội K, 42 CDO) thăm dò MountHarriet, đã bắn chết hai lính Argentina. Đồng thời, hai đội chiến đấu tuần tra cỡ trung đội từ 45 Commando đã cố gắng tấn công vào núi Two Sisters, nhưng radar Rasit giám sát mặt đất Argentina đã phát hiện phát hiện các trung đội của tiểu đoàn 45 Commando trung đội, và hỏa lực pháo binh đã làm phân tán lực lượng Anh.

Trong khoảng thời gian một tuần, lực lượng của Trung đoàn 4 đã bảo vệ khu vực ngọn núi Harriet-Two Sisters từ năm cuộc tấn công cỡ trung đội của Thủy quân lục chiến Hoàng gia. Mỗi khi các trung đội Commandos của Thủy quân lục chiến Hoàng gia vào các vị trí chuẩn bị xuất kích, các sĩ quan, hạ sỹ quan và lính nghĩa vụ của Argentina đã phản công với súng trường và đuổi họ ra.

Sáng ngày 11 tháng 6, mệnh lệnh cho cuộc tấn công đã được gửi đến 42 CDO bởi Vaux, đại đội K được lệnh tấn công vào phía đông của núi, trong khi đại đội L sẽ tấn công phía nam một giờ sau đó, nơi nó, nếu núi đã được bảo đảm an toàn, sau đó họ sẽ di chuyển về phía bắc của núi Harriet để đến Goat Ridge. Đại đội J sẽ phát động một cuộc tấn công nghi binh (được đặt mã là Vesuvius) về phía tây của núi Harriet.

Trong những giờ cuối cùng của ngày 11 tháng 6, các đại đội K và L chuyển từ khu vực mà họ hội binh ở trên núi Challenger (nằm về phía tây của núi Harriet) và đi về phía nam, xung quanh mục tiêu của họ, qua bãi mìn, đến khu vực xuất phát của họ. Khi họ di chuyển quanh vùng địa hình trong bóng tối, đại đội J tung ra một cuộc tấn công nghi binh rất dữ dội từ phía tây.

Trận đánh

Trận chiến núi Harriet bắt đầu vào tối ngày 11 tháng 6 khi một trận pháo kích của hải quân đã giết chết hai lính Argentina và làm bị thương 25 người khác. John Witheroe, một trong những phóng viên chiến tranh của Anh sau đó nhớ lại:

“Chúng tôi đã tham gia một cuộc tấn công đêm trên núi Harriet, khi vệ binh xứ Wales đến như là một lực lượng dự bị. Cuộc tấn công này bao gồm một cuộc hành quân trong vài giờ vào một đêm rất tối, xuyên qua các bãi mìn và bị những trái phá bắn lẻ tẻ làm chậm lại. Cuối cùng chúng tôi đã lập được một căn cứ trong núi Harriet, dưới làn hỏa lực mạnh không thể tin được từ một chiếc tầu frigate ở bờ biển. Toàn bộ Ngọn núi dường như bốc lửa. Dường như không thể còn bất cứ ai có thể sống sau một cuộc tấn công như thế. Pháo kích diễn ra trong hơn một giờ, quả đạn này tiếp sau quả đạn kia rít ầm ầm trên đầu của chúng tôi và lao vào ngọn núi. Trận pháo kích này cuối cùng cũng chấm dứt và Thủy quân lục chiến tiến vào. Trước sự kinh ngạc của chúng tôi, dường như có một loạt các trận đánh đáng kinh ngạc đã xảy ra. Có rất nhiều vết cháy. Cả màn đêm bị chiếu sáng lên bởi pháo sáng…

Đại úy Peter Babbington của đại đội K là người đầu tiên vượt qua vị trí xuất phát của họ và tiếp tục tiến lên ngọn núi mà không bị phát hiện, dùng dao giết hai lính gác trên đường. Họ vẫn không bị phát hiện cho đến khi họ tiếp cận vị trí của trung đội cối 120-mm của Mario Juarez và quyết định tấn công vào họ. Họ được hỗ trợ trước bởi súng Hải quân của chiếc HMS Yarmouth và súng cối. Trong thời gian giao chiến, hạ sỹ Larry Watts đã bị giết. Khoảng 150 mét từ hầm chỉ huy của Soria, hạ sỹ Steve Newland đi vòng ra đằng sau của một nhóm lính Argentina (dưới sự chỉ huy của Trung úy nhất Jorge Alejandro Echeverria, sĩ quan quân báo của Trung đoàn 4), người đã tổ chức một cuộc phục kích. Có nửa tá lính Argentina và một khẩu MAG được định vị để bắn chết bất cứ người nào lao lên trước, hạ sỹ Newland lao ngược lên từ chỗ nấp để tấn công khẩu súng máy của đối phương. Ông ném lựu đạn hạ hai đội viên của khẩu súng máy, nhưng đến phía sau của các vị trí súng máy, ông đã bị bắn xuyên qua cả hai chân. Với việc khẩu súng máy của đối phương không thể hoạt động, các hạ sỹ Mick Eccles và Sharky Ward đã có thể dọn sạch vị trí này với một số trợ giúp từ lính TQLC Lingard. Ba viên hạ sỹ đã được trao Huy chương Military Medal. Binh sĩ Argentina, chủ yếu là lính nghĩa vụ của Trung đội trinh sát – trung đoàn RI 4, bắt đầu muốn đầu hàng, nhưng viên sỹ quan chỉ huy và sỹ quan quân báo vẫn còn muốn chiến đấu và một số hạ sỹ quan đã làm theo mệnh lệnh của họ. Các đội súng máy hạng nặng vẫn ở vị trí của họ và tiếp tục chiến đấu.

Đại đội L vượt qua vị trí xuất phát của họ ngay sau khi đại đội K và đã gần như ngay lập tức bị bắn chặn một cách có hiệu quả từ trung đội súng máy của thiếu úy Pablo Oliva, họ có nhiệm vụ bảo vệ sườn dốc thấp phía Nam. Những khẩu súng này sẽ không câm lặng cho đến khi bị trúng nhiều phát hỏa tiễn chống tăng MILAN và sáu phát đạn pháo 105mm từ núi Challenger. Đại đội L Thủy quân Lục chiến tranh đã bị bắn từ ít nhất bảy khẩu súng máy và bị thương năm người, bao gồm chỉ huy thứ hai của đại đội và người đánh tín hiệu. Hugh Bicheno cho rằng tất cả các kính quan sát thụ động ban đêm của Trung đoàn 4 đều được để ở đại đội B.

Trước khi có tia sáng đầu tiên, nhóm số 5 của Trung úy Jerry Burnell thuộc đại đội L tiến qua các vỉađá để đếnGoat Ridge. Khi họ tiến lên, trung đội TQLC Hoàng gia đã bị bắn một cách dữ dội từ một đội khẩu đội súng máy 16-người của grenadiers từ Regimiento de Granaderos a Caballo del General San Martín để chặn hậu cho người Argentina rút lui và cũng rút lui theo sau khi các súng máy được đặt trước ở phía sau họ và tiếp tục rút lên ngọn đồi. Toán TQLC có 1 người trúng đạn trong hành động này. Đại đội L yêu cầu súng cối bắn vào lính Argentina với một hỗn hợp của đạn HE và WP, sau đó nhóm 5 lại tiến lên một lần nữa. Họ bắt được 3 tù binh mặc dù hầu hết các granaderos đã rút lui cùng với hai trung đội súng trường. Trận chiến vẫn tiếp tục trong suốt buổi sáng của ngày 12 tháng 6, có trường hợp một lính nghĩa vụ chiếm lĩnh vị trí ở ngay dưới đỉnh núi đã cầm chân đại đội L bằng những phát súng rất chính xác cho đến khi bị giết bởi một quả tên lửa chống tăng 84mm bắn ở cự ly gần.

Hậu quả

Trận chiến trở thành ví dụ trong sách giáo khoa cho việc lên kế hoạch tốt và sử dụng nghi bình và bất ngờ, và là một bước tiến xa hơn về phía mục tiêu chính của họ – Stanley. Hai lính Anh: Hạ sỹ Larry Watts và quyền hạ sỹ J. Smith đã thiệt mạng, 26 người bị thương. Mười tám lính Argentina chết nằm xung quanh các vị trí phòng thủ. Hạ sỹ Hạ sỹ Koleszar có kinh nghiệm đáng ngạc nhiên trong việc tìm kiếm hai ‘xác chết’ của binh sĩ Argentina, những người mà ông đã cố gắng để rút đôi giầy của họ, vẫn còn sống và nhảy lên rồi đầu hàng. Một số phóng viên người Anh do đó đã bị lừa và miêu tả những binh lính nghĩa vụ của Argentina như những thiếu niên không may đã đầu hàng ngay lập tức sau khi những viên đạn đầu tiên được bắn ra, nhưng sỹ quan Bảo hành của TQLC Hải quân Hoàng gia – John Cartledge, người đã chiến đấu trong đội hình của đại đội L trong trận đánh, đã đính chính lại những quan điểm này và nói rằng các binh sỹ Argentina là những quân nhân đã chiến đấu rất đúng cách:

“Họ đã sử dụng các chiến thuật mà họ đã được giảng dạy rất tốt, họ đã chuẩn bị khá tốt cho một cuộc tấn công Họ đã đánh một trận dữ dội từ đầu đến cuối. Họ cũng được trang bị tốt hơn so với chúng tôi. Chúng tôi có những máy nhìn đêm thế hệ đầu tiên, phần lớn các thiết bị này quá cồng kềnh, trong khi người Argentina có các máy nhìn đêm thế hệ thứ hai của Mỹ nhỏ gọn và tốt hơn rất nhiều so với những gì chúng tôi có. Sai lầm của họ mà chúng tôi khai thác được là họ đã lên kế hoạch cho một cuộc tấn công từ phía tây của ngọn núi và do đó họ đã không do dự để mở rộng vị trí phòng thủ của họ ở cuối đông, nơi chúng tôi cuối cùng đã tấn công vào đó “

Một viên tướng Anh cho rằng thành công của họ là do kỹ năng của các thủy quân lục chiến và tính chuyên nghiệp của họ:

“Những gì cần thiết là tốc độ nhưng không được quá đẫm máu một cách ngớ ngẩn. Người Israel có khả năng thực hiện cuộc tấn công nhanh hơn nhiều, nhưng với thương vong nhiều hơn nữa”

Đơn vị 42 Commando bắt giữ 300 tù binh trên núi Harriet và cho lòng dũng cảm đã được thể hiện trong cuộc tấn công, đơn vị đã được tặng thưởng một DSO, một Military Cross, bốn Military Medal và tám người đã được đề cử thăng cấp.

Trận chiến Two Sisters

Trận chiến Two Sisters là một trận đánh trong Chiến tranh Falklands trong quá trình tiến về phía thủ phủ Stanley của quân đội Anh, trận đánh này đã diễn ra từ ngày 11-> 12 tháng 6 năm 1982.

Thành phần của các bên tham chiến

Các lực lượng Anh bao gồm 45 Commando (45 CDO), Thủy quân lục chiến Hoàng gia dưới sự chỉ huy của Trung tá Andrew Whitehead (người sau này leo lên chức Tướng quân) với sự hỗ trợ từ sáu khẩu pháo 105-mm của trung đoàn 29 Commando, Pháo binh Hoàng gia. Đơn vị lính dù số 2 là lực lượng dự bị. Hỏa lực hỗ trợ của Hải quân được cung cấp bởi hai súng 4,5-inch (114 mm) của chiếc HMS Glamorgan. Lực lượng Argentina bao gồm trung đoàn 4 bộ binh (RI 4). Trách nhiệm chỉ huy phòng thủ Two Sisters được giao cho thiếu tá Ricardo Cordon, phó chỉ huy của của RI 4, với một số lượng lớn với một số lớn lực lượng phòng thủ được rút ra từ Đại đội C với Trung đội 1 (thiếu úy Miguel Mosquera) và Trung đội 2 ( thiếu uy Jorge Pérez Grandi) trên các cao điểm phía Bắc và Trung đội 3 (thiếu úy Marcelo Llambias) trên cao điểm phía Nam và Trung đội 1 thuộc Đại đội A (thiếu úy Juan Nazer) và Trung đội hỗ trợ (Trung úy hạng nhì Luis Carlos Martella) trên phần yên ngựa giữa hai đỉnh núi. Đại đội B của thiếu tá Óscar Jaimet thuộc Trung đoàn 6 (RI 6) làm dự bị tại chỗ chiếm giữ phần yên ngựa giữa Two Sisters và núi Longdon.

Quá trình chiến đấu

Ngày 4 tháng Sáu, ba Đại đội của 45 CDO lên từ Cao điểm của Bluff Cove, trên sườn núi thấp của Kent, và đã có thể chiếm giữ các tính năng mà không có phản kháng và họ đã hội binh với lực lượng tuần tra của SAS. Đối phương đã phản ứng một cách vô tổ chức nhưng vào đêm ngày 29 tháng 5 một cuộc đọ súng ác liệt đã nổ ra khi quân Anh tổ chức chiếm giữ hai ngọn đồi quan trọng, được dự định để tạo thành một phần của một trận địa cho Lực lượng đặc biệt Argentina. Đội tuần tra của đại úy Andrés Ferrero (nhóm tân công số 3 thuộc Đại đội 602 Commando) chiếm vị trí ở núi Kent nhưng sau đó nhanh chóng bị đẩy lui bởi súng máy và súng cối. Một hạ sỹ quan Argentina bị thương. Lính Không quân (SAS của Anh) cũng có hai người bị thương từ súng trường bắn thẳng. các cuộc tấn công thăm dò nổ ra ở khắp các vị trí của biệt đội D trong suốt đêm và tiếp tục đến tận 11:00 sáng ngày 30 tháng 5, khoảng 12 Commandos Argentina đã cố gắng để lên được cao điểm của đỉnh Bluff Cove, nhưng bị đẩy ra bởi Biệt đội D – SAS và giết chết hai người trong toán này, Trung úy nhất Rubén Eduardo Márquez và trung sỹ Óscar Humberto Blas. Trung úy nhất Márquez và trung sỹ đã Blas cho thấy sự can đảm tuyệt vời cá nhân và trong khả năng chỉ huy, sau đó họ được truy tặng Argentine Nation to the Valour in Combat Medal. Trong trận chiến này, SAS có hai người bị thương vong từ lựu đạn. Các Commandos Argentina đen đủi khi vấp vào một trại chiếm được chiếm giữ bởi khoảng 15 lính SAS – như nhà sử gia Martin Arostegui chuyên viết về lực lượng đặc biệt đã viết quấn Twilight Warriors: Inside The World’s Special Forces (trang 205 Bloomsbury, 1995). Trong suốt ngày 30 tháng 5 máy bay Harrier của Không quân Hoàng gia đã hoạt động ở núi Kent. Một trong số họ đáp ứng một cuộc gọi để trợ giúp một cuộc tấn công của Biệt đội D ở phía đông núi dốc thấp hơn của Kent và dẫn đến nó bị bắn rụng bằng hỏa lực hạng nhẹ.

Một làn sương mù dày đặc bay trên khu vực sông Murrell và điều này hỗ trợ cho các toán trinh sát của 45 Commando để tiếp cận và đôi khi xâm nhập vào vị trí của Trung đội 3 dưới sự chỉ huy của thiếu úy Marcelo Llambias. Lính TQLC Andrew Tubb của nhóm trinh sát Đoàn đã tham gia trong các chuyến tuần tra:

Chúng tôi đã thực sự vào bên trong các vị trí của Argentina, vì vậy chúng tôi đã phải cho dừng việc pháo kích chính mình. Chúng tôi đã tiến hành rất nhiều cuộc tuần tra đến Two Sisters … rằng trong thời gian [06 tháng 6], chúng tôi pepper-potted [bắn và vận động] trong khoảng 400 mét để thoát ra [Trung sỹ thuộc Trung đội 3 – Ramón Valdez, đã phát động một counterambush], qua việc bắn hỏa tiễn Argy 66 [mm] và tập hợp lại. Chúng tôi lại bị giáng bằng hỏa lực pháo binh và bị xua ra ngoài. Chúng tôi đã mất hơn một giờ để có thể ra được bên ngoài, nhưn có vẻ như một giờ lúc đó chỉ kéo dài có vài phút. Chúng tôi đã giết chết bảy người trong số họ [hai binh nhì và ba Sapper trong toán cài mìn của TQLC Argentina thực sự đã chết], và chúng tôi chỉ bị thương vong có một người – Neillands Robin, Trên biển & đất: Câu chuyện của Commandos TQLC Hoàng gia, trang 402, 2000

Sau hoạt động tuần tra của mình, Trung úy Chris Fox nhận được huy chương Military Cross. Nói chung thì người Argentina đã hoàn toàn chiếm cứ điểm cao, khoảng 6000 mét trở xuống là một vùng đất không người. Các vị trí Argentina đã được cài mìn và tuần tra trặt trẽ.
Vào khoảng 2:10 giờ địa phương ngày 10 tháng 5, một đợt tuần tra chiến đấu mạnh mẽ của Commando 45 mạnh để thăm dò vị trí của Trung đội 3. Trong cuộc chiến tiếp theo trung sĩ M. Cisneros và R. Acosta Lực lượng đặc biệt đã thiệt mạng, hai người của lực lượng đặc biệt Argentina nằm trong cuộc phục kích của Thủy quân lục chiến Hoàng gia đã bị thương. Nhà sử gia quân sự Anh Bruce Quarrie viết như sau:

Một loạt các cuộc tuần tra liên tục được thực hiện vào ban đêm để trinh sát và quấy rối đối phương. Điển hình là cuộc tuần tra được tung ra trong đầu giờ sáng ngày 10 tháng Sáu. Trung úy David Stewart thuộc Đại đội X-Ray, 45 Commando, đã phổ biến tóm tắt kế hoạch cho những người của mình trong buổi chiều trước đó và đến nửa đêm họ đã sẵn sàng. Mang theo rất nhiều vũ khí gồm hai khẩu súng máy cộng thêm súng phóng rốckét 66 mm và súng cối 2-inch [mô tả của người Anh là 51 mm], Toán quân di chuyển lén lút ra khỏi vị trí của họ vào ban đêm trong ánh trăng sáng về phía sườn núi khoảng 4 km nơi những chuyển động của lính Argentina đang bị quan sát. Mọi người trong toán giữ đúng khoảng vì khả năng quan sát tốt, họ di chuyển trên mặt đất toàn đá bằng cách sử dụng những hố đạn pháo để ẩn nấp và vào lúc 04,00 [1:00 giờ địa phương] họ đã chuẩn bị để vượt qua đoạn cuối cùng trên mặt đất ở phía trước các vị trí của đối phương. Sử dụng một dòng suối cạn để ẩn nấp, họ di chuyển lên dốc và triển khai vào vị trí giữa các tảng đá ở phía trước của các chiến hào Argentina. Ánh sáng ban đêm đã giúp đỡ làm tăng phạm vi quan sát, họ có thể nhìn thấy lính gác di chuyển. Đột nhiên, một khẩu súng máy Argentina đã nổ và Thủy quân lục chiến cũng bắn một vài quả pháo sáng từ phía họ … và bắn trở trả bằng chính súng máy, súng trường và súng cối của họ. Trong khoảng thời gian một vài giây ba binh sĩ Argentina và hai thủy quân lục chiến đã chết. Một số khác có thể được nhìn thấy đang chạy trên ngọn đồi bên trái và bốn binh sĩ Argentina nữa đã ngã gục vì những phát đạn chính xác của lính Thủy quân lục chiến. Đến thời điểm này, nhiều lính Argentina ở trên sườn dốc đã tỉnh dậy và một trận mưa đạn buộc lính Thủy quân lục chiến tìm nơi trú ẩn trong các hốc đá. Tình hình đã trở thành xấu đi một cách nghiêm trọng và Trung úy Stewart quyết định rút lui, mục tiêu làm tiêu hao và quấy rối đối phương đã thật được sự thực hiện. Tuy nhiên, một khẩu súng máy bên phải của toán Thủy quân lục chiến đã bắn như đổ lửa vào tuyến đường rút lui của họ, và Stewart gửi Trung sĩ kỳ cựu của mình, Jolly với một vài người khác để tiêu diệt nó [Họ biết họ đã bị cắt đứt với rất ít cơ hội trốn thoát. Trong những trường hợp này bất kỳ sự hoảng loạn nào sẽ phá hủy tinh thần và trò chơi sẽ kết thúc]. Sau khi tiếp cận một cách khó khăn với rất ít chỗ để ẩn nấp, họ đã bắn một loạt ngắn và khẩu súng máy của Argentina đã im lặng. Nhảy cóc từng đoạn và toán quân rút về những dòng sông, và từ đó là ra khỏi tầm bắn của người Argentina và không có thương vong hơn nữa.

Bản thân thiếu tá Aldo Rico, chỉ huy của Đại đội 602 Commando đã may mắn thoát chết khi một quả rốckét của đối phương phát nổ rất gần. Đáng buồn cho đơn vị 45, vào đêm Ngày 09-10 tháng 6 có một lỗi lầm không may đã xảy ra vì tối trời và bắn nhầm đã xẩy ra dẫn đến thương vong cho người Anh.

Đại úy Ian Gardiner thuộc Đại đội X-Ray dẫn đầu cuộc tấn công vào Two Sisters, cùng với viên tuyên úy (linh mục trong quân đội) của đơn vị Commando, Revd Wynne Jones RN. Trung úy James Kelly của toán quân số 1 đã chiếm vị trí thứ ba ở phía tây của spineback trên đỉnh phía nam Two Sisters (Móng chân dài) mà không cần chiến đấu. Tuy nhiên lúc 11:30 giờ chiều địa phương (xem No Picnic, trang 131), toán số 3 của Trung úy David Stewart chạy ngược lên và bị quân phòng thủ bắn trả dữ dội spineback và không thể tiến được về phía trước. Thất bại từ nỗ lực của họ để đánh bạt đi Trung đội 3 Argentina, toán số 2 của Trung úy Chris Caroe lại lao vào trung đội này một lần nữa, nhưng cuộc tấn công lại bị đẩy lui với sự trợ giúp của pháo binh của Argentina. Trong khoảng ba hoặc bốn giờ Đại đội X Ray lại phải rút lui xuống các sườn núi. Súng Hải quân lại được bắn lên trên ngọn núi, nhưng lính Argentina đã đánh bại được đợt tấn công của lính TQLC Hoàng gia. Đại tá Andrew Whitehead nhận ra rằng một Đại đội đơn lẻ không thể có hy vọng chiếm được núi Two Sisters mà không có thương vong lớn và hai đại đội của tiểu đoàn khác.

Vào khoảng 0:30 giờ địa phương (xem No Picnic, trang 132) các đại đội Yankee và Zulu đã tấn công các cao điểm phía Bắc (Summer days) và sau một giờ chiến đấu rất khó khăn với hai trung đội đối phương được trang bị súng máy và súng cối hạng nặng, đã thành công trong việc chiếm Summer Days. Trung úy Clive Dytor chỉ huy trung đội Z của đại đội này đã giành được Military Cross bằng việc tập hợp toán quân thứ 8 của mình và dẫn lao về phía trước tại điểm lưỡi lê để chiếm Summer days. Đại độiYankee sau đó tiến lên để tấn công các mục tiêu cuối cùng và chiếm giữ được tất cả các mục tiêu của nó, các con đường để tiến sang phía đông Two Sisters. Trung úy hạng nhì Aldo Eugenio Franco và trung đội RI 6 của mình đã ngăn chặn thành công không cho đại đội Yankee tấn công Đại đội C khi nó rút từ Two Sisters. Binh nhì Oscar Ismael Poltronieri người cầm chân đại độiYankee bằng những phát bắn chính xác với súng trường và súng máy của mình, ông đã được tặng thưởng một huân chương Argentine Nation to the Heroic Valour in Combat Cross (CHVC), huân chương mức cao nhất của Argentine để tặng thưởng cho lòng dũng cảm (Nguồn Martin Middlebrook, The Fight For The Malvinas, Leo Cooper 2003)

Sáng hôm sau đại tá Andrew Whitehead quan sat và ngạc nhiên về độ hiểm yếu của các vị trí mà quân địch đã rời bỏ. Với mươi năm lính TQLC Hoàng gia “ông nói” tôi có thể sẽ chết vì tuổi già khi chiếm giữ nơi này ” (Max Hastings, Going To The Wars, p. 363, Macmillan 2000) Mặc dù các tiểu đoàn Anh dường như đã có một chiến thắng dễ dàng trong thời gian này, những người thực sự chiến đấu với các trung đội đối phương đã không đồng ý như vậy.

Một số nhà viết văn Anh đã bình luận rằng Đại đội B thuộc Trung đoàn bộ binh số 6 (Argentina ), những người mà họ công bố rằng đã rút lui một cách vô tổ chức ở các vị trí phía trước lúc bắt đầu trận đánh, mặc dù điều này dường như có rất ít căn cứ. Thật vậy, đại đội này đã rút lui một cách hoàn toàn có tổ chức, theo một viên sỹ quan nói tiếng Tây Ban Nha thuộc sở chỉ huy Lữ đoàn 3 Commando trong cuộc chiến. Báo cáo chính thức của quân đội Argentina trong cuộc chiến tranh đề nghị trao cho thiếu tá Oscar Jaimet và CSM Jorge Pitrella của Đại đội B thuộc Trung đoàn 6 mỗi người một MVC (Argentine Nation to the Valour in Combat Medal) cho nỗ lực của họ khi rút quân và hành động tiếp theo của họ ở Tumbledown (huy chương này được cấp cho Jaimet, Pitrella được trao huy chương Argentine Army to Military Merit Medal).

Thượng tá George Meachin của Đại độiYankee, sau đó ca ngợi khả năng chiến đấu và tinh thần của các lính phòng thủ Argentina:

Chúng tôi phải chịu nhiều thiệt hại từ hỏa lực có hiệu quả của những khẩu súng máy cỡ nòng 0,50 … Đồng thời, đạn súng cối cũng rơi vào chúng tôi, nhưng mối đe dọa chính là từ những xạ thủ súng máy, những người có thể nhìn thấy chúng tôi ở ngoài trời vì ánh trăng. Có ba súng máy và chúng tôi liên tục phải gọi pháo binh yểm trợ và pháo binh bắn trực tiệp của chúng tôi đã có hiệu quả đối với bọn họ, cứ 15 phát một loạt, đến khoảng thời gian pháo ngừng bắn và họ lại nổ súng vào chúng tôi một lần nữa. Vì vậy, chúng tôi lại phải làm gọi pháo lần thứ hai vào tất cả các vị trí của họ. cứ mỗi lúc pháo ngừng bắn, sau đó là lại “ bùm, bùm, bùm” họ lại tiếp tục bắn vào chúng tôi. Những người lính nghĩa vụ không làm được việc này, lính trẻ không làm được việc này, những người bị ép phải đi lính và có tinh thần chiến đấu thấp không làm việc này. Họ là những người lính tốt, kiên định. Tôi đánh giá cao họ.

Hugh Bicheno mô tả cảnh tàn phá như trên mặt trăng:

Ở các vùng giữa Wireless Ridge mỏm yên ngựa giữa Tumbledown và William vẫn còn rất nhiều vết đạn, thậm trí sau hơn hai mươi năm địa điểm bị bắn phá giữa Two Sisters là minh chứng hùng hồn nhất cho sức mạnh tuyệt vời của pháo binh Anh, họ đã bắn 1.500 phát đạn vào Two Sisters đêm đó. Khu vực này được phòng ngự bởi trung đội của Nazer trong lá cụ thể một trong không có nghi ngờ tại sao họ decamped ngay lập tức, trong khi yên chính là má lúm đồng tiền với miệng núi lửa, minh chứng cho sự kiên cường của các khẩu đội súng máy HMGs của và súng cối Martella. (Hugh Bicheno-Razor’s Edge: Lịch sử không chính thức của cuộc chiến tranh Falklands, trang 242, Weidenfeld & Nicolson, 2006)

Bằng mệnh lệnh qua điện thoại, Lambias-Pravaz cho người của mình gia nhập với Đại đội M Tiểu đoàn 5 bộ binh TQLC tại Sapper Hill.

Đại đội Thủy quân lục chiến X-Ray đã rất kinh ngạc khi Trung đội 3 mặc dù bị cạn kiệt về mặt nhân lực vẫn kháng cự quyết liệt và viên chỉ huy Đại đội của họ trong cuốn sách Trên tất cả là sự dũng cảm (Cassell Military, 2002) sau đó cho biết:

“Khoảng hai mươi người đã ở lại và chiến đấu và họ là những người dũng cảm. Những người ở lại và chiến đấu vì một cái gì đó. Tôi sẽ không muốn mang lính thủy quân lục chiến của tôi ra đối mặt với những người này trong trận chiến.”

Một xạ thủ súng trường đơn độc trên Long Toenail vẫn tiếp tục kháng cự khá lâu sau khi trận chiến trên ngọn núi đã kết thúc.

Thương vong

Thiệt hại cho lực lượng Commando được cho là cao. Bảy TQLC Commandos và một TQLC từ 59 Commando Squadron, Royal Engineers đã bị giết khi chiếm Two Sisters. 17 người khác bao gồm các chỉ huy trung đội (Trung úy Fox, Dunning và Davies) đã bị thương. Khoảng 20 lính Argentina đã chết trong 11 ngày đêm chiến đấu đầu tiên của trận đánh. Khoảng 54 lính Argentina bị bắt tù binh. Chiếc HMS Glamorgan ở trong vị trí của nó ở ngoài khơi để hỗ trợ cho Hải quân Hoàng gia Commandos, những người đã có nhiều thương vong trong trận này và không có nghi ngờ chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ đã cứu sống nhiều người. Chiếc Glamorgan vẫn ở lại và có nghĩa là nó đã ở lại quá thời gian. Vào lúc chuẩn bị bỏ đi thì nó bị bắn trúng một quả tên lửa Exocet từ mặt đất, mười ba thủy thủ đã bị giết là kết quả của cuộc tấn công này.

Đánh trọng thương chiếc HMS Glamorgan (D19)

HMS Glamorgan (D19) là một chiếc tàu khu trục lớp County của Hải quân Hoàng gia, nó có trọng tải 5.440 tấn. Con tàu được đóng bởi Vickers-Armstrongs trong Newcastle Tyne và được đặt tên theo hạt Glamorgan của xứ Wales. Nó đã được hạ thủy vào ngày 09 tháng 7 1964, và được giao cho Hải quân hai năm sau đó. Từ năm 1977 đến 1979, nó là mục tiêu của một đợt tái trang bị lớn, khi tháp pháo ‘B’ được thay thế bằng bốn bệ phóng tên lửa Exocet. Vào mùa hè và đầu mùa xuân năm 1982 Glamorgan được tham gia vào Chiến tranh Falklands. Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh, các nhân viên kỹ thuật hải quân của Argentina đã bắn một quả tên lửa MM-38 Exocet từ trên đất liền sau khi con tàu đi lạc vào quá gần bờ biển. Con tàu đã bị hư hại và 13 thủy thủ trên tàu thiệt mạng. Người ta đã phải mất nhiều tháng vào cuối năm 1982 để sửa chữa và tái trang bị cho nó và nó đã trở lại biển cả vào năm 1983. Đợt triển khai hoạt động cuối cùng của nó cho Hải quân Hoàng gia là ở bờ biển của Lebanon để trợ giúp lực lượng gìn giữ hòa bình Anh trong năm 1984.

Nó đã được cho ngừng hoạt động vào năm 1986, bán cho Hải quân Chile, Và đổi tên Almirante Latorre. Trong năm 1996, tên lửa phòng không SeaCat đã được thay thế bằng Barak SAM. Nó phục vụ trong 12 năm cho đến khi ngừng hoạt động vào cuối năm 1998.

Tham gia Chiến tranh Falklands

Khi bắt đầu chiến dịch Falklands (02 Tháng 4 1982) chiếc Glamorgan đang ở ngoài khơi Gibraltar về để tham gia tập trận; Nó đã ngay lập tức chuyển hướng tham gia làm nhiệm vụ cùng với lực lượng chính của Hải quân Hoàng gia, và phục vụ như là kỳ hạm của Đô đốc Sandy Woodward trong chuyến đi về phía nam cho đến ngày 15 tháng Tư, khi ông chuyển giao lá cờ kỳ hạm của mình sang chiếc HMS Hermes. Vũ khí hữu ích nhất đã được chứng minh của nó đôi súng 4,5-inch (114 mm) còn lại, được sử dụng chủ yếu để pháo kích các vị trí của đối phương ở trên bờ.

Chiếc Glamorgan lần đầu tiên tham gia vào hành động là tối và đêm ngày 1 tháng 5 khi Nó gia nhập lực lượng với các chiếc HMS Arrow và HMS Alacrity để bắn phá các vị trí của Argentina xung quanh Stanley. Ba chiếc tàu của Anh nhanh chóng bị tấn công bởi ba máy bay phản lực IAI Dagger, hai quả bom 500 lb đã được thả xuống ngay bên cạnh chiếc Glamorgan, gây những thiệt hại nhỏ ở phần dưới mực nước.

Hai tuần sau ngày 14 tháng 5 nó một lần nữa tham gia hành động, lúc này là hỗ trợ các lực lượng đặc biệt của Anh tại Pebble Island ở phía tây của Falklands và trong hai tuần tiếp theo cho đến cuối tháng, nó gần như liên tục tham gia bắn phá các vị trí khác nhau trên bờ biển phía đông của đảo chủ yếu như là một phần của một kế hoạch để đánh lạc sự chú ý tới cuộc đổ bộ tại San Carlos Water, tấn công vào các sân bay tại Stanley và hỗ trợ cho lực lượng Anh đổ bộ lên bờ. Nó thậm chí bắn một tên lửa Seaslug vào sân bay này.

Vào đầu tháng Sáu, các lực lượng đặc nhiệm đã được tăng cường với những con tàu khác, chiếc Glamorgan được tách ra để bảo vệ khu vực vận chuyển, sửa chữa và hậu cần (TRALA), trong khu vực khoảng 200 dặm (320 km) kể từ các hòn đảo, nhưng khi chiến dịch lên đến đỉnh điểm, nó lại được thu hồi vào tối ngày 11 tháng 6 để hỗ trợ Thủy quân lục chiến Hoàng gia chiến đấu trong Trận chiến Two Sisters.

Vào 6:37 sáng hôm sau, thứ bảy ngày 12 tháng 6 năm 1982, chiếc Glamorgan đã bị tấn công bởi một quả tên lửa Exocet MM38 được bắn đi từ một thiết bị bệ phóng trên bờ. Thiết bị bệ phóng này được đặt tên ITB (Instalación de Tiro Berreta) bởi phía người Argentina, có nghĩa là trong tiếng lóng của Argentina là một cái gì đó tương tự như “bệ phóng vô giá trị”. Hai quả tên lửa Exocet MM38, bệ phóng của chúng và các thiết bị điện tử liên quan đã được lắp ráp Puerto Belgrano bởi nhân viên kỹ thuật của hải quân Argentina và được đưa lên một chiếc máy bay vận tải Hercules C130 để đến quần đảo Falkland. Một radar RASIT được cung cấp bởi quân đội Argentina để theo dõi sự di chuyển của chiếc Glamorgan. Hai tên lửa Exocet MM38 này đã được gỡ bỏ từ chiếc tàu khu trục ARA Seguí và được lắp ráp một cách an toàn lên bệ phóng. Chiếc Glamorgan đang chạy ở khoảng 20 hải lý / giờ (37 km / h) ở khoảng cách 18 hải lý (33 km) so với bờ biển. Những nỗ lực để bắn quả tên lửa đầu tiên đã không thành công. Nỗ lực thứ hai đã thành công và quả tên lửa đã được phóng ra, nhưng nó không tìm thấy một mục tiêu. Nỗ lực bắn thứ ba đã thành công hơn nữa. Quả tên lửa Exocet bắn ra được theo dõi bởi cả các sỹ quan tác chiến lẫn sỹ quan định hướng hàng hải (Principal Warfare Officer and Navigation Officer) qua các radar ở đài chỉ huy lẫn ở phòng tác chiến. Trước khi bị quả tên lửa bắn trúng, con tàu đang di chuyển ở tốc độ cao và nó thực hiện một cú ngoặt gấp đủ nhanh để có thể nhanh chóng thoát khỏi quả tên lửa trong một khoảng thời gian có giới hạn trong một vài giây; quả Exocet đánh mạn bên trái liền kề với chiếc nhà chứa máy bay ở near the stern. Cú ngoặt ngăn chặn quả tên lửa đánh trúng vào góc cao bên phải của con tàu và xâm nhập, thay vào đó nó nhấn deck coaming at an angle, gần các bệ phóng tên lửa Seacat, trượt trên boong tàu và phát nổ. Vụ nổ đã tạo ra một chiếc hố rộng 10ft x15ft trong sàn chứa máy bay và một chiếc hố rộng 5ft x 4ft trong khu vực bếp phía dưới nơi một đám cháy được bắt đầu. Vụ nổ đi về phía trước và đi xuống. Các phần của quả tên lửa vẫn đi về phía trước thâm nhập vào nhà chứa máy bay làm cho nhiên liệu và vũ khí của chiếc máy bay trực thăng Wes.s.e.x phát nổ và bốc cháy dữ dội tại nhà chứa máy bay này. Mười ba thành viên thủy thủ đoàn đã thiệt mạng và nhiều người bị thương. Con tàu lại tiếp tục lên đường một lần nữa sau khi tất cả các đám cháy được dập tắt vào lúc 10:00.

Chiếc HMS Glamorgan sau khi đã dập tắt các đám cháy
Chiếc HMS Glamorgan sau khi đã dập tắt các đám cháy

Vào ngày hôm sau, công việc sửa chữa đã được thực hiện trên biển và sau khi Argentina đầu hàng vào ngày 14 tháng 6, sửa chữa lớn hơn được thực hiện trong bờ cát của San Carlos Water. Nó khởi hành trở về nhà vào ngày 21 tháng 6 và về đến Portsmouth vào ngày 10 tháng 7 năm 1982 sau 104 ngày trên biển.

Trận chiến Mount Longdon

Trận Mount Longdon là một trận đánh trong Chiến tranh Falklands giữa các lực lượng Anh và Argentina, diễn ra vào ngày 11-> ngày 12 tháng 6 năm 1982, kết quả là chiến thắng của người Anh và họ đã chiếm một vị trí quan trọng để hình thành thế bao vây xung quanh lực lượng đồn trú Argentina.

Lực lượng Anh bao gồm đơn vị lính dù 3 dưới sự chỉ huy của Trung tá Hew Pike (Sau này lên chức tướng) với sự hỗ trợ của pháo binh sáu khẩu pháo hạng nhẹ 105 mm thuộc trung đoàn 29 Commando, Pháo binh Hoàng gia, đơn vị lính dù 2 là lực lượng dự trữ. Hỏa lực hỗ trợ của Hải quân được cung cấp bởi súng hải quân 4.5 in của chiếc HMS Avenger.

Lực lượng Argentina bao gồm Đại đội B của trung đoàn 7 bộ binh (RI 7), cũng như những chi đội tăng cường từ đơn vị khác. Chỉ huy tại chỗ của lực lượng Argentina là thiếu tá Carlos Carrizo-Salvadores, phó chỉ huy của Trung đoàn bộ binh 7 (RI 7) được tăng cường thêm hai trung đội bộ binh TQLC, để giữ núi Mount Longdon, Wireless Ridge và Cortley Ridge ở phía đông. Thượng úy TQLC (hải quân xếp hạng tương đương với đại úy) Sergio Dachary đã đến núi Longdon 1 tuần trước khi trận chiến nổ ra và nắm quyền kiểm soát các khẩu đội súng máy hạng nặng do TQLC điều khiển trên núi Longdon.

Chủ yếu là lính nghĩa vụ với một năm đào tạo, các binh sĩ trẻ tuổi của trung đoàn 7 bộ binh không muốn bị đẩy ra khỏi khu vực này một cách dễ dàng và nhất là họ đã chuẩn bị tinh thần để giữ vững vị trí của họ. Họ sở hữu các khẩu súng trường FN FAL hoàn toàn tự động mạnh mẽ hơn nhiều so với các súng máy SLR, FN MAG 7.62mm thông dụng của Lính dù, khoảng năm mươi binh sỹ của Trung đoàn 7 đã thể hiện sự kiên quyết trong chiến đấu hơn so với phần còn lại, họ được đào tạo một khóa học tổ chức bởi thiếu tá Oscar Jaimet – người phụ trách đào tạo các commando kiêm sỹ quan điều hành của Trung đoàn 6 bộ binh (RI 6). Binh nhì Jorge Altieri, trong một cuộc phỏng vấn sau chiến tranh nói ông ta được đào tạo vất vả như thế nào với Đại đội B:

Tôi đã được phát một khẩu súng trường FAL 7,62 mm. Người khác được phát súng máy hạng nhẹ FAPs và những người khác nữa lại có PAMS [submachineguns]. Sự khác nhau chính là số đạn bắn ra trong mỗi lần nổ súng. Tôi cũng biết làm thế nào để sử dụng một khẩu súng bazooka, cách làm và đặt bẫy mìn và làm thế nào để di chuyển vào ban đêm, và chúng tôi đã tham gia những cuộc tập trận với máy bay trực thăng vào ban đêm và các cuộc tấn công và phục kích vào ban ngày.

Tiểu đoàn dù số 3 hành quân qua những ngọn đồi phía bắc của ngọn núi Simon để chiếm vùng đất chủ chốt của vùng cao nguyên Estancia, được gọi là Estancia Farm. Điều kiện thời tiết là rất xấu, Lính dù phải đi qua các gò đất trơn trượt và rất dốc đến được mục tiêu.

Đơn vị lính dù 3 thiết lập một căn cứ tuần tra gần Murrell Bridge, hai km về phía tây của núi Longdon vào ngày 3 tháng 6. Từ đó họ tung những nhóm tuần tra của họ từ Đại đội D để trinh sát các vị trí của Argentina trên núi Longdon. Một ví dụ về một chuyến tuần tra mà không bắt được một tù binh đã được thực hiện bởi đơn vị lính dù 3 vào đêm 4-> 5 tháng 6 năm 1982. Một đội tuần tra ba người từ Đại đội D gồm Hạ sỹ Jerry Richard Phillips và các binh nhì Absolon và Bill Hayward đã được gửi đến sườn phía bắc của núi Longdon. Toán quân nhỏ được lên kế hoạch chi tiết để xâm nhập vào Trung đội 1 của trung úy Juan Baldini ở trên sườn phía tây để bắt một tù binh, hỗ trợ phía sau của họ bằng một khẩu đội gồm sáu khẩu 105 mm, trong toán còn có tay súng bắn tỉa đã bắn vào Baldini trong khi họ bắn một phát hỏa tiễn Law 66 mm vào khẩu đội cối của Trung đội 1 dưới quyền chỉ huy của Hạ sỹ Óscar Carrizo. Các chỉ huy Argentina đã phản ứng mạnh mẽ và các đội bắn tỉa thấy mình bị tấn công rất nhanh và chính xác bởi cả súng máy, pháo binh và súng cối. Không có thương vong nào cho Argentina. Người Anh tuyên bố đã bắn và giết chết hai lính Argentina và phá hủy một khẩu súng cối với một quả tên lửa chống tăng 66 mm ở cự ly gần.

Về phía Argentina, họ cũng sớm nhận ra rằng Trung đội trinh sát của trung đoàn 7 bộ binh ở vị trí xung quanh Wireless Ridge đã được trang bị không phù hợp để thực hiện các chuyến tuần tra của họ. Do đó, các đơn vị Commando Argentina, thường được sử dụng cho các chuyến trinh sát sâu phải thực hiện vai trò này. Họ đã thu được một số thành công và trong những giờ đầu của ngày 7 tháng 6 một tuần tra kết hợp của Đại đội Commando 601 và 601 Lực lượng đặc biệt Hiến binh quốc gia đã tiến đến gần Murrell Bridge. Sau nhiều đêm trong khu vực Hạ sỹ Haddon Paul và Peter Brown và nhóm tuần tra của họ đã chỉ vật vờ trên bờ phía Tây của sông Murrell mà nhóm tuần tra của Trung sĩ Ian Addle đã sử dụng làm căn cứ. Trong một khoảng thời gian di chuyển ngắn một lính gác báo cáo là có thứ gì đó di chuyển xuống gần cây cầu. Lính dù đã nổ súng và một đọ súng nhầm lẫn đã nổ ra trong bóng tối, với vũ khí hạng nhẹ, súng máy, hỏa tiễn Law và súng trường phóng lựu Energa được sử dụng. Việc tuần tra Commando theo Đại úy Rubén Figueroa đã rất tích cực và trước khi bình minh đã buộc các Lính dù phải rút lui và phải để lại nhiều trang thiết bị của họ. Chỉ có một hạ sỹ quan Argentina là bị thương nhẹ trong trận phản phục kích. Từ đó về tuần tra phải được gắn kết chặt chẽ hơn đến hàng của họ. Theo lịch sử chính thức của Trung đoàn Nhảy dù thừa nhận:

“Họ đã buộc phải sơ tán vị trí của họ nhanh chóng, để lại đằng sau các thiết bị và đài phát thanh của họ, nhưng thành công trong việc rút lui mà không bị bất kỳ thương vong. Với vị trí đã được kiểm tra vào tối ngày 08 tháng 6 của tuần tra khác, nhưng không có dấu hiệu của các thiết bị hoặc đài phát thanh, có nghĩa là các thiết bị vô tuyến của tiểu đoàn có thể đã bị phá hủy.

Tuy nhiên đại tá chỉ huy Pike và các chỉ huy Đại đội vào đêm trước của cuộc chiến vẫn cho rằng tinh thần chiến đấu của các chỉ huy Argentina là tương đối thấp và không nghĩ rằng họ sẽ kháng cự một cách mạnh mẽ. Vì lý do đó viên đại tá người Anh hy vọng sẽ gây bất ngờ bằng cách tiến lên áp sát càng gần càng tốt tới trung đội ở tuyến đầu của Argentina trong sự che phủ của bóng tối, trước khi tấn công vào chiến hào của họ một cách mạnh mẽ. Ba mục tiêu chính – Fly Half, Full Back và Wing Forward – được đặt tên theo vị trí tại Rugby. Đại đội B sẽ tấn công qua Fly Half và tiến tới Full Back, trong khi một Đại đội sau đó là Đại đội C sẽ làm tấn công bằng chiến thuật tương tự để tới Wireless Ridge.

Nhưng tinh thần của các binh sỹ trong Trung đoàn 7 bộ binh vẫn còn khá cao. Binh nhì Fabian Passaro của Đại đội B được phái lên núi Longdon với Trung đội 1 nhớ cuộc sống vào thời điểm đó:

Hầu hết chúng tôi đã thích nghi với những gì mà chúng tôi muốn làm khi đổ bộ xuống đây, chúng tôi đang thích nghi với chiến tranh. Nhưng một số người lính trẻ vẫn rất chán nản và trong nhiều trường hợp, họ trở nên ngày càng tệ hơn. Tất nhiên, chúng tôi đã rất chán với việc mặc cùng một bộ đồng phục giống nhau cho nhiều ngày, không có vòi tắm hoa sen, chỗ ngủ rất lạnh, ăn uống quá tồi tệ. Quá nhiều thứ tồi tệ cùng một lúc, khác xa từ sự sợ hãi tự nhiên của chúng ta về cuộc chiến, pháo kích … và tất cả các điều đó. Nhưng tôi nghĩ rằng một số trong chúng tôi đã thích nghi tốt hơn so với những người khác. Có những người linhd trẻ, những người đã rất lo lắng và tôi đã cố gắng đến để bơm họ lên một chút. “Đừng lo lắng” Tôi nói với họ. ‘Không có chuyện gì xảy ra, chúng ta đang an toàn ở đây. ‘bạn có thấy chúng không bao giờ có thể lên được đây? Chúng ta có đến một ngàn người, nếu chúng cố gắng leo lên thì chúng ta sẽ thấy chúng, chúng ta sẽ bắn s.h.i.t vào chúng và đuổi chúng xuống’

Khi trong đơn vị lính dù 3 của Đại đội B (dưới sự chỉ huy của thiếu tá Mike Argue) cố định lưỡi lê để tấn công vị trí của Trung đội số 1 Argentina trên núi Longdon, họ thấy mình chạy vào một bãi mìn. Các binh sỹ Anh sau đó tính có khoảng 1.500 quả mìn sát thương được gài dọc theo sườn phía tây và phía bắc của núi Longdon, “nhưng chỉ có hai phát nổ ‘ Hạ sỹ Peter Cuxson nhớ lại, “Bởi vì phần còn lại đã bị đông lạnh bởi băng”. ‘Nếu không thì trận chiến cuối cùng cho Port Stanley sẽ có được một câu chuyện hoàn toàn khác “kết luận của một hạ sỹ quan người đã đứng ở một vị trí súng máy Argentina đêm hôm đó.

Cuộc tấn công vào Mount Longdon

Khi hoàng hôn thiết lập trong, đơn vị lính dù 3 di chuyển để bắt đầu của họ-đường và, sau một chặng dừng ngắn, bắt đầu thực hiện trước bốn giờ dài của mình để các mục tiêu của họ. Như Đại đội B gần Mount Longdon Hạ sỹ Brian Milne bước vào một mỏ, mà sau một cách tiếp cận rất im lặng, cảnh báo cho các lính nghĩa vụ của trung đội của thiếu úy Baldini. Hơn 20 binh sĩ Argentina nhảy ra từ lều của họ nằm xuống và nổ súng nhưng hầu hết các trung đội vẫn còn gặp khó khăn trong túi ngủ của họ khi Trung đội số 4 của Trung úy Ian Bickerdike tiến vào chỗ họ, súng máy và lựu đạn của Argentina trở nên bất lực. Hạ sỹ Stewart McLaughlin đã quá dạn dày trong chiến đấu đã tiêu diệt ngay một khẩu súng máy 7.62mm của Argentina từ mặt đất trên cao nhìn xuống sườn núi phía Tây. Ông tập trung đội của mình lại, ra lệnh cho họ chỉnh lại lưỡi lê và sau đó dẫn họ lên đồi vào một trận mưa đạn súng máy.

Trung đội số 6 của Trung úy Jonathan Shaw xông vào bên sườn phải của Đại đội B, chiếm được đỉnh của Fly Half mà không cần chiến đấu. Tuy nhiên, họ đã bỏ sót nửa tá lính nghĩa vụ Argentina ở trung đội phía trước và họ đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ và ác liệt vào trung đội lính dù này, dẫn đến một số thương vong trước khi khu vực này được dọn sạch. Trong ba giờ chiến đấu tay trong tay trong khu vực của Trung đội 1, cho đến khi Lính dù đánh bật được lính phòng thủ ra ngoài. Tất cả các khu vực xung quanh vị trí của Trung đội 1, nhóm nhỏ các binh sĩ đã chiến đấu cho cuộc sống của họ. Các binh nhì Gough và Dominic Gray cố gắng để tiến đến một hầm lính Argentina không bị phát hiện và cúi xuống bên cạnh nó là các lính nghĩa vụ biển bên trong thổi đi vào ban đêm. Trong unison hai Lính dù mỗi người rút ra một quả lựu đạn và đưa nó qua khe bắn của boong-ke. Các quả lựu đạn phát nổ ngay lập tức hai đã nhảy xuống hầm và bắt đầu đâm lưỡi lê vào hai lính Thủy quân lục chiến. Binh nhì Gray đã giết chết một TQLC bằng cách đâm lưỡi lê của mình vào hốc mắt của đối phương. Các binh nhì Ben Gough and Dominic Gray đã được đề cập trong danh sách cất nhắc. Thiếu úy Baldini dường như đã bị giết chết khi ông đang bắn một súng máy. Hạ sỹ Dario Ríos đã được tìm thấy nằm chết bên cạnh chỉ huy trung đội của mình. Giày và vũ khí của Baldini được gỡ bỏ và sử dụng bởi các binh lính Anh. Một bức ảnh về cái chết của viên trung úy xuất hiện trong ấn bản bìa cứng ban đầu của cuốn sách Operation Corporate. Câu chuyện về cuộc chiến tranh Falklands, 1982 (Viking Press, 1985). Những người cũng bị giết trong lúc đầu của cuộc giao chiến là Trung sỹ kỵ binh Jorge Alberto Ron và sỹ quan quan trắc pháo binh Argentina, Trung úy Rolando Alberto Ramos, người mới đưa tin nhắn mới nhất là vị trí của mình đã bị bao vây. Thiếu úy Baldini đã được trao huy chương Argentine Nation to the Valour in Combat Medal.

Có vẻ như là Lính dù cũng sẽ áp đảo Trung đội 3 của trung úy hạng nhì Enrique Neirotti thứ 3 ở nửa phía Nam và Trung đội 2 của Trung sĩ Raúl González ở một nửa trên phía bắc của ngọn núi, quân tiếp viện từ trung đội 1 của trung úy hạng nhì Hugo Quiroga, và đại đội 10 kỹ thuật từ Full Back đến để giúp cho Neirotti và González. Khi trận chiến ban đầu trong khu vực này qua đi, hầu hết các vị trí của Argentina trên phần yên ngựa của ngọn núi được đã được tổ chức, các kỹ sư sử dụng những máy gắn kết nhìn đêm mới đặc biệt nguy hiểm cho các Lính dù.

Trận chiến đang diễn ra với chiếu hướng rất xấu đối với thiếu tá Mike Argue. Người Argentina kháng cự rất mạnh mẽ và được tổ chức tốt. Trung tâm của ngọn núi được các lính nghĩa vụ TQLC Jorge Maciel và Claudio Scaglione trấn giữ trong một chiếc hầm với một khẩu súng máy hạng nặng và các lính TQLC nghĩa vụ Luis Fernández và Sergio Giuseppetti được trang bị súng trường có kính nhìn ban đêm. Trung Bickerdike và người báo hiệu và Trung sĩ Ian McKay và một số người khác trong số 4 trung đội đã cố gắng để thực hiện trinh sát vào các vị trí của lính TQLC, trong khi tiến hành cố gắng này viên chỉ huy trung đội và người báo hiệu bị thương. Trung sĩ McKay thấy rằng phải làm một cái gì đó cần thiết và quyết định tấn công vị trí khẩu súng máy hạng nặng của TQLC đã gây ra nhiều khó khăn và thương vong. Cuộc tấn công này đã được trả lời bằng một trận mưa đạn. Hạ sỹ Ian Bailey bị thương nặng, một binh nhì chết và một nữa bị thương. Bất chấp những thiệt hại trung sỹ McKay bất chấp đến sự an toàn của chính mình mà sau khi chết ông đã dành được huân chương Victoria Cross, tiếp tục tấn công các vị trí đối phương một cách đơn độc. Peter Harclerode người được cấp quyền ủy quyền để biên soạn cuốn nhật ký chiến tranh của Tiểu đoàn 3, sau đó có viết trong quấn Lính dù! (Arms & Armour Press, 1993) và chỉ ra rằng McKay và nhóm của ông đã tiêu diệt được một số vị trí của các tay súng TQCL nhưng không thể tiêu diệt được khẩu súng máy hạng nặng.

Trung sỹ McLaughlin cố gắng để tiến sát vào đội súng máy hạng nặng của TQLC trong tầm ném lựu đạn, nhưng bất chấp nhiều nỗ lực với các quả lựu đạn được ném ra và với nhiều phát tên lửa LAW, ông đã không thể làm khẩu súng này im lặng.

Thiếu tá Carrizo-Salvadores ở Full Back lại tiếp tục liên lạc với các chỉ huy Argentina ở Port Stanley:

Khoảng nửa đêm tôi yêu cầu RHQ cho quân tiếp viện và đã được gửi tới một trung đội súng trường thuộc đại đội của C Hugo García. Trung úy nhất Raúl Fernando Castañeda tập hợp các bộ phận của trung đội của mình, triển khai xung quanh Trung đội của trung sỹ Raúl González, lực lượng đã chiến đấu từ phút đầu tiên và tổ chức một đợt phản công [vào khoảng 02:00 giờ địa phương]. Trung đội đã chiến đấu với lòng dũng cảm tuyệt vời trong một trận chiến đấu giáp lá cà, và cuộc chiến đã nổ ra trong hai giờ hơn nhưng dần dần đối phương đã bị đối phương chặn lại và phải rút lui khi bị tấn công bởi pháo binh.

Lúc đó đến lượt người Argentina tấn công. Thiếu tá Carrizo-Salvadores cho chuyển trung đội mới được tăng cường của Castañeda vào vào gần với trung đội 4 và 5 lúc này đang nằm dưới sự chỉ huy của một hạ sỹ quan, một phần của trung đội của Castañeda hội tụ về để trợ giúp đẩy lùi người Anh. Trung sĩ Brian Faulkner, thấy rằng hơn 20 Lính dù bị thương trên sườn phía tây của ngọn núi ở trong tay một phần của trung đội của Castañeda, ông này phải cho triển khai bất cứ người nào còn đủ năng lực để bảo vệ British Regimental Aid Post. “Tôi chọn bốn người lính khỏe mạnh nhất và tiến rồi nổ súng vào toán quân này, khoảng hai mươi, hoặc ba mươi lính Argentina [trong thực tế, chỉ có khoảng mười lăm tay súng tăng viện] đang tiến về phía chúng tôi Chúng tôi đã nổ súng vào họ. Chúng tôi không biết đã giết bao nhiêu người, nhưng họ đã nhận những gì họ phải nhận và không ai trong số họ còn có thể đứng lên sau chúng tôi nã đạn vào họ. ” Faulkner nói

Tình hình trở nên quá xấu đến mức thiếu tá Mike Argue đã phải bảo Đại đội B ngừng bắn và dành những nỗ lực đầy đủ của họ để thu hồi từ Fly Half. Peter Harclerode một người viết sử của Trung đoàn lính dù đã nói rằng:

‘Dưới luồng hỏa lực áp đảo của đối phương các trung đội số 4 và 5 phải liên tục rút lui, một số người này bị giết chết và những người khác đã bị thương trong giai đoạn này. Vào thời điểm đó, Trung tá Hew Pike và Toán quân R của ông đã đến nơi và thiếu tá Mike Argue đã thông báo với ông về tình hình xảy ra. Ngay sau đó, thượng sỹ Weekes báo cáo rằng cả hai trung đội đã rút lui vào một khoảng cách an toàn và tất cả những người bị thương đang được cấp cứu. Tuy nhiên, họ phải bỏ những người đã chết ở lại. Trong khi đó, trên sườn phía nam của mục tiêu, những người bị thương ở trung đội số 6 đã được sơ tán trong khi phần còn lại vẫn nằm dưới các hốc đá.

Chỉ huy của Lữ đoàn 3 Commando, Chuẩn tướng Julian Thompson được báo cáo là đã nói rằng:

“Tôi đã có ý tưởng rút lui Lính dù của tôi từ núi Longdon. Chúng tôi không thể tin rằng những cậu bé đang mặc những bộ quần áo lính của chúng tôi phải chịu quá nhiều thương vong.”

Sau một trận chiến ác liệt bất ngờ ở Fly Half, các trung đội 4 và 5 đã rút lui cùng thiếu tá Mike Argue cùng nhóm Commando số 29 lại tiếp tục tấn công từ đỉnh núi Kent, sau một cuộc tấn công dữ dội vào bên sườn trái. Dưới làn hỏa lực hạng nặng tàn quân của trung đội 4 và 5 dưới sự chỉ huy của Trung úy Mark Cox tiếp tục tiến về phía mục tiêu Full Back của họ và tiếp tục phải chịu một số thương vong bị gây ra bởi trung đội của Casteñeda. Khi tấn công vị trí của Argentina, binh nhì Grey đã bị thương từ một phát đạn bắn trúng đầu nhưng đã từ chối được sơ tán đến khi thiếu tá Mike Argue tập hợp lại được quân của ông ở vị trí của họ ở Fly Half. Cá nhân binh nhì Kevin Connery cử ba Argentina bị thương trong hành động này. Lính dù không thể tiến lên mà không bị tránh khỏi những tổn thất cao hơn một cách không thể chấp nhận và như vậy họ phải quay trở lại cuối phía tây của Mount Longdon, theo mệnh lệnh Đại đội A của thiếu tá David Collett di chuyển qua Đại đội B và tấn công từ phía tây, đây là hướng phía đông của Full Back – một vị trí được phòng thủ trặt chẽ với hỏa lực từ Đại đội trợ chiến.

Trung úy hạng nhì John Kearton và Ian Moore tập hợp các trung đội của họ gần đỉnh phía tây và đã thông báo vắn tắt cho lính họ về cách đối phó với kẻ thù. Họ nhanh chóng tấn công các vị trí của đối phương trong một trận chiến áp sát và xóa sạch các vị trí của các lính phòng thủ người Argentina bằng lựu đạn, súng và lưỡi lê. Khi Đại đội này đang xóa sổ vị trí cuối cùng, Hạ sỹ McLaughlin đã bị thương bởi một phát đạn từ khẩu súng không giật Czekalski được bắn từ Wireless Ridge. Thật không may là viên hạ sỹ quan dũng cảm này đã bị giết bởi một quả đạn cối được bắn từ Đại đội C của RI 7 tại Wireless Ridge. Người Argentina phòng thủ Full Back một cách trặt chẽ. Mặc dù đã bị thương, Hạ sỹ Manuel Medina của trung đội Castañeda đã dùng một khẩu súng trường không giật và bắn dọc theo sường núi vào Đại đội trợ chiến và giết chết ba Lính dù, gồm cả binh nhì Peter Heddicker người đã trúng cả trái đạn 105 mm và làm bị thương ba người khác nữa. Thiếu tá Carrizo-Salvadores chỉ rời bỏ hầm chỉ huy của mình ở Full Back khi một quả tên lửa MILAN nổ sát phía đằng sau hầm của ông. Trong hầm chỉ huy thiếu tá Collett tìm được 2.000 điếu thuốc lá và ông đã chia số thuốc này cho những người nghiện thuốc lá trong Đại đội của mình.

Hậu quả

Trận đánh và cả thời gian bắn phá sau đó của người Argentina đã kéo dài mười hai tiếng đồng hồ và đã gây tổn thất nặng cho cả hai bên. Đơn vị lính dù 3 có mười bảy người thiệt mạng trong trận chiến, một lính Kỹ thuật thuộc lực lượng Hoàng gia đi cùng với đơn vị lính dù 3 cũng bị giết. Hai trong số những người bị giết của đơn vị lính dù 3 – các binh nhì Ian Scrivens và Jason Burt – chỉ mới mười bảy tuổi và binh nhì Neil Grose bị giết vào ngày sinh nhật tuổi 18 của mình. Có tổng số bốn mươi lính nhảy dù Anh bị thương trong trận đánh. Sau đó thêm bốn Lính dù và một lính REME (lính kỹ thuật điện tử) đã thiệt mạng và bảy Lính dù bị thương trong hai ngày pháo kích từ Tumbledown Mountain bởi lực lượng TQLC dưới sự chỉ huy của thiếu úy Marcelo de Marco. Bên Argentina có 31 người chết và 120 người bị thương và năm mươi người bị bắt làm tù binh.

Trận Wireless Ridge

Sau khi bị thiệt hại nặng trong Trận Goose Green, thậm chí đến cả chỉ huy trưởng của họ Trung tá Jones cũng đã tử trận, quyền chỉ huy của đơn vị lính dù số 2 được chuyển giao cho Trung tá David Chaundler, người đã ở lại nước Anh tại thời điểm trận đánh nổ ra. Chaundler tới Đảo Ascension trên một chiếc Vickers VC-10 và sau đó đến Falklands trên chiếc C-130 Hercules và được thả xuống đó bằng dù. Chaundler nhảy xuống biển, nơi ông đã được một chiếc máy bay trực thăng vớt lên và cuối cùng lên bong chiếc HMS Hermes để tham dự một cuộc họp với Đô đốc Woodward và sau đó đến sở chỉ huy chính của tướng Jeremy Moore. Bốn ngày sau trận Goose Green, Chaundler đã gia nhập Đơn vị lính dù số 2. Sau cuộc trao đổi với các sỹ quan tiểu đoàn về Goose Green và các sự kiện sau đó, ông tuyên bố đơn vị lính dù 2 sẽ không bao giờ tham chiến mà không có hỏa lực hỗ trợ.

Từ Fitzroy, đơn vị lính dù 2 được chuyển bằng trực thăng tới đỉnh Bluff Cove, nơi họ được bố trí làm lực lượng dự bị. Các vị trí đầu tiên của người Anh đã được triển khai trên các ngọn đồi Two Sisters, Mount Longdon và núi Harriet đã bị chiếm giữ trong các trận đánh trước đó. Ba ngọn đồi khác sau đó được dự kiến sẽ phải đánh chiếm là: Mount Tumbledown sẽ được chiếm bởi Vệ binh Scotland, Mount William sẽ được chiếm bởi lính Ghurkha và Wireless Ridge sẽ được chiếm bởi Đơn vị lính dù số 2. Giai đoạn cuối cùng của chiến dịch – Lữ đoàn 3 Commando sẽ mở một trận chiến ở Stanley – sau khi các ngọn đồi đã được chiếm giữ. Sáng ngày 13 tháng 6, nó trở nên rõ ràng rằng các cuộc tấn công vào Mount Tumbledown đã được thành công. Vì vậy, đơn vị lính dù số 2 hành quân đến phía sau của núi Longdon và chiếm lĩnh các vị trí của họ cho các cuộc tấn công vào Wireless Ridge. Khi hành động được dự kiến sẽ được tiến hành một cách nhanh gọn, họ chỉ mang một số lượng vũ khí và đạn dược càng nhiều càng tốt, để lại đằng sau hầu hết các trang thiết bị khác trong trại. Trong ngày cao điểm ở Bluff Cove, Tiểu đoàn súng cối và súng máy hạng nặng đã bị tấn công bởi một chiếc máy bay A-4 Skyhawk của Argentina, làm trì hoãn kế hoạch di chuyển về phía trước của họ, mặc dù họ không bị thương vong.

Tấn công

Trong những giờ cuối cùng của ngày 13 tháng sáu, đại đội D bắt đầu mở các cuộc tấn công và tiến vào ngọn đồi “ Rough Diamond” ở phía tây-bắc của núi Longdon. Ngọn đồi này đã bị pháo kích dữ dội bởi các khẩu đại bác của Anh từ đất và biển. Trong 12 giờ trước đó, pháo binh của Anh đã bắn 6.000 phát đạn đại bác từ các khẩu 105 mm của họ, và khi người Anh bắt đầu tiến lên trong khi họ vẫn tiếp tục được chi viện bởi hỏa lực của hải quân và các súng 76 và 30 mm được gắn trên các xe tăng hạng nhẹ. Số lượng thương vong lên đến khoảng tám mươi người trong đơn vị lính dù 2 ở hai tuần trước trong trận Goose Green (bao gồm cả các sĩ quan chỉ huy của họ) làm cho họ không thể chịu đựng được bất cứ những mất mát không cần thiết một lần nữa.

Khi Đại đội D lên đồi, họ thấy rằng đại đội C thuộc Trung đoàn 7 Bộ binh của Argentina do bị pháo kích quá nặng nề. Khi Đại đội D của thiếu tá Philip Neame bắt đầu củng cố các vị trí của mình, Trung đoàn 7 Argentina tung ra một loạt các đợt pháo kích hạng nặng bằng súng không giật, rốc két, súng cối vào núi Longdon gây thương vong cho Tiểu đoàn 3 lính dù của
Trung đoàn lính dù Hoàng gia (Jolly, 1983, p. 138).

Với hỏa lực hỗ trợ dữ dội các đại đội A và B đã được thuyết phục rằng đối phương trên Apple Pie đã bị đánh bại và bắt đầu tiến về phía trước một, nhưng họ đã gặp kháng cự quyết liệt khi họ vừa mới rời chiến hào của họ. Họ phải tiến dưới làn đạn súng máy hạng nặng và để trả thù cho các đại đội A và B các xạ thủ súng máy của Anh và các khẩu pháo trên các xe tăng hạng nhẹ của đơn vị Blues và Royals ra sức trút đạn vào vị trí của người Argentina.

Một người sống sót trong trận núi Longdon thuộc đơn vị lính dù 3 của Anh trong tờ tạp chí Scars of War (1994) của Hugh McManners rằng nhớ lại cuộc tấn công ban đầu bị đẩy lùi bởi hỏa lực của người Argentina:

“Họ đã cố gắng đi lên phía các vị trí ở trên cao nhưng hỏa lực nhằm vào họ quá dữ dội nên họ lại phải lùi lại và nằm ẩn nấp đằng sau những đống than bùn và chờ cho hỗ trợ pháo binh mạnh mẽ hơn nữa để làm suy yếu đối phương.” (McManners, 1994)

Lính phòng thủ Argentina cuối cùng đã phải rút lui khi phải đối mặt với những hỏa lực khủng khiếp như thế và các đại đội A và B đã chiếm được các mục tiêu của họ. Vào giai đoạn này của cuộc chiến đã có nhiều sỹ quan của Argentina đã không rút lui. Sỹ quan quan trắc pháo binh (thiếu tá Nani Guillermo), sỹ quan điều hành (đại úy Carlos Ferreyra) và các sỹ quan chỉ huy các đại đội A và C ( các đại úy Jorge Calvo và Hugo Garcia) và ít nhất ba chỉ huy trung đội cao cấp (các Trung úy hạng nhất Antonio Estrada, Jorge Guidobono, Ramon Galíndez-Matienzo) đã bị thương. Đại đội C sau đó chuyển xuống con đường ở phía bắc của họ để tiến tới một vị trí phía đông của Wireless Ridge, nơi họ tìm thấy một vị trí phòng thủ cỡ trung đội bị bỏ trống.

Đợt tấn công cuối cùng

Đại đội D sau đó bắt đầu các cuộc tấn công cuối cùng từ phía tây của Wireless Ridge, dưới sự che phủ của hỏa lực bắn dữ dội từ các súng 4,5 inch từ chiếc HMS Ambuscade, các xe tăng, mười hai khẩu súng 105 mm pháo binh, một số khẩu đội súng cối và tên lửa chống tăng. Trước đó GHQ của Argentina đã gửi đến một đại đội xe bọc thép gồm 10 Panhard để tiến hành một đợt đột phá trinh sát vào những tảng đá phía tây của Wireless Ridge. Đại úy Rodrigo Soloaga đã đặc biệt hiệu quả trong việc thuyết phục người của mình tham gia tham gia tấn công cùng các xe tăng hạng nhẹ, Trung đội súng chống tăng Milan và các Trung đội súng máy vẫn ở lại trên Apple Pie, trong khi Sở chỉ huy của Trung đoàn 7 tự củng cố lại. Trong hai giờ đơn vị kỵ binh bị thiệt mạng 5 người và khoảng năm mươi người bị thương. Lính xe tăng của Anh đã không muốn bắn giết một cách vô ích nên đã ngừng bắn vào những người bị thương khi họ loạng choạng trở lại Moody Brook và không muốn bắn vào những người mang cáng đang cố gắng để tìm thấy những người thương nghiêm trọng.

Đại đội D của thiếu tá Neame đã chiếm được nửa số mục tiêu ban đầu một cách tương đối dễ dàng nhưng khi tiến vào nửa còn lại thì họ đã bị tấn công dữ dội từ đại đội A của thiếu tá Guillermo Berazay thuộc Trung đoàn 3 lúc này cũng đang cố gắng để di chuyển đến núi Longdon trong trận chiến hai đêm trước đó, nhưng họ chỉ đến được thung lũng Moody Brook. Binh nhì Patricio Pérez, người vừa mới rời trường trung học, nhớ lại những kinh nghiệm đáng sợ là những quả rốc két 66 mm sắp thẳng vào họ như những quả cầu lửa đang bay nhấp nhô. Ông tin rằng ông đã bắn gục một lính dù của Anh, có thể chỉ huy của Trung đội 12 và ông trở nên phẫn nộ khi nghe nói rằng người bạn nối khố của ông – Horacio Benítez của trung đội của ông đã bị bắn chết. Thực tế trung đội của Trung úy hạng nhì Víctor Rodriguez Pérez thuộc đại đội A của thiếu tá Guillermo Berazay ở rất gần với Trung đội 12 của Anh dưới sự chỉ huy của Trung Jonathan Page (lên thay sau cái chết của Trung Barry ở Goose Green). Cuộc chiến đã tăng trở lại và ra. Trung úy Page đã cố gắng để giữ được chiến tuyến nhưng chỉ có thể làm như vậy. Thượng tướng John Dutton Frost của quân đội Anh mô tả các kết quả của cuộc tấn công của trung đội 12:

“Trong hai giờ dài dằng dặc Đại đội vẫn phải chịu áp lực. Vũ khí hạng nhẹ với tất cả các loại đạn HE [ đạn súng phóng lựu có sức nổ lớn] được bắn vào trong và xung quanh vị trí của Trung đội 12 khi những người này đang co ro những hố cá nhân do đối phương bỏ lại hoặc trong các hố đạn pháo.” (Frost, 1983)

Các sỹ quan và hạ sỹ quan của Neame tập hợp những người còn lại để chiếm phần cuối cùng của mục tiêu của họ và sau khi phải đối mặt với hỏa lực khủng khiếp, người Argentina đã chạy ra khỏi khu vực bắn phá và rút lui.

Trận chiến chưa kết thúc. Khoảng 200 người sống sót Wireless Ridge đã được tập hợp bởi các sỹ quan điều hành Lữ đoàn số 10, Thiếu tá Eugenio Dalton đã lập một đội hình chiến đấu cuối cùng dưới làn hỏa lực dữ dội trong con mương phòng thủ ở phía trước của của những khẩu súng của Đội Pháo binh Nhảy Dù số 4 gần trường đua ngựa. Gần nhà thờ ở Stanley, với ý định giúp đỡ Berazay Thiếu tá Carrizo-Salvadores chỉ huy đại đội 2IC Trung đoàn 7 với sự giúp đỡ của Cha tuyên úy José Fernández đã tập trung được khoảng 50 người sống sót ở Wireless Ridge và đưa họ vào một đợt tấn công bằng lưỡi lê, các chiến sĩ đã ca bài thánh ca nổi tiếng của họ ‘ tháng Ba Malvinas’, nhưng họ đã bị chặn lại bởi đạn trọng pháo và súng máy. (“Razor’s Edge” Hugh Bicheno pg. 312)

Lính dù đã được báo động trong tích tắc họ nhìn thấy và rất ngạc nhiên, một sỹ quan Anh mô tả nó như là ” một nỗ lực khá đẹp mắt, nhưng không có cơ hội đê chiến thắng”. (“” Martin Middlebrook pg. 371)

Đơn vị lính dù số 2 có ba người chết và mười người bị thương. Người Argentina có khoảng 25 người chết, khoảng 125 người bị thương (chủ yếu là do đạn pháo hơn là bị đạn bắn trực tiếp) và khoảng năm mươi bị bắt làm tù binh.

Với bản lĩnh đã thể hiện tại Wireless Ridge, đơn vị lính dù 2 đã được trao ba Military Crosse, một Military Medal và một Distinguished Conduct Medal. Đơn vị Commando 29 được tặng một Military Cross.

Trận chiếnMount Tumbledown

Trận chiến Mount Tumbledown là một trận đánh trong Chiến tranh Falklands, một trong một loạt các trận đánh diễn ra trong quá trình tiến về phía thủ phủ Stanley của người Anh.

Vào đêm 13 -> 14 tháng sáu năm 1982, người Anh đã phát động một cuộc tấn công trên Mount Tumbledown, một trong những điểm cao nhất gần thị trấn Stanley, và thành công trong việc đuổi lực lượng Argentina ra khỏi ngọn núi. Lực lượng tấn công của Anh bao gồm Tiểu đoàn 2, Scots Guards, súng cối từ 42 TQLC Commando và đơn vị Gurkha Rifles 1/7 th của Công tước Edinburgh, cũng như hỗ trợ từ một toán quân gồm hai xe bọc thép Scorpion và hai Scimitar của Blues và Royals. Lực lượng Argentina bảo vệ những ngọn núi là Tiểu đoàn 5 Bộ binh TQLC (BIM 5) nằm dưới quyền chỉ huy của Carlos Robacio.

Trước khi người Anh đổ bộ, tiểu đoàn TQLC Argentina đã được tăng cường đến sức mạnh của một lữ đoàn bởi một Đại đội Amphibious Engineers Company (CKIA), một khẩu đội của Tiểu đoàn 1 Pháo binh Thủy quân lục chiến (BIAC), và ba khẩu đội Tigercat SAM của Trung đoàn phòng không TQLC, cùng với một Đại đội súng máy hạng nặng của Tiểu đoàn chỉ huy sở (BICO). Là một phần trong kế hoạch của Anh, Tiểu đoàn 1/7 Gurkha Rifles (1 / 7 GR) được giao nhiệm vụ chiếm những ngọn đồi Mount William đang được phòng thủ bởi Đại đội O, thuộc Tiểu đoàn 5 TQLC dự bị và sau đó cho phép đội vệ binh xứ Wales đi qua để chiếm Sapper Hill, đây là trở ngại cuối cùng trước khi tiến vào thủ phủ Stanley. Cuộc tấn công được hỗ trợ bởi súng 4,5 inch của hải quân từ chiếc HMS Active.

Trong thời gian của trận đánh, đại đội N chiếm giữ Mount Tumbledown. Mount William ở về phía nam Mount Tumbledown và tiểu đoàn TQLC của Đại đội O ở bên sườn thấp hơn của ngọn núi. Đại đội B 6 của Trung đoàn làm dự bị phía sau Đại đội N. Đại đội M chiếm Sapper Hill. Các lực lượng phòng thủ Argentina đã giữ vị trí này trong lúc người Anh bắn phá “ để dần cho mềm xương” bắt đầu lúc 7:30 giờ địa phương. Như thiếu tá Oscar Jaimet nhớ lại trong quấn hồi ký Razor’s Edge, Tôi nghe thấy tiếng kêu gọi đồng đội của những người bị thương, mười hai người đã thương vong trước khi đêm xuống. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã phải chịu đựng những khó khăn trước đó, nhưng chúng vẫn là quá sang trọng và tiện nghi so với lúc này.

Trong trận chiến, sở chỉ huy tiểu đoàn 5 Thủy quân lục chiến đã bị trúng 5 phát đạn pháo bắn trực tiếp, nhưng chỉ huy trưởng – thiếu tá Robacio đã không bị thương vong.

Di chuyển ban đầu

Sáng ngày 13 tháng 6, lính vệ binh Scotland đã được vận chuyển bằng trực thăng từ vị trí của họ ở Bluff Cove đến khu vực hội binh ở gần Goat Ridge, phía tây của Mount Tumbledown. Kế hoạch của người Anh là tổ chức một cuộc tấn công nghi binh về phía nam của ngọn núi bởi một số lượng nhỏ lính vệ binh Scotland với sự trợ giúp của bốn xe tăng hạng nhẹ của đội The Blues và Royals, trong khi cuộc tấn công chính đến từ một đợt tấn công của ba giai đoạn đến từ phía tây của Mount Tumbledown. Trong giai đoạn đầu, Đại đội G sẽ chiếm ở cuối phía tây của ngọn núi; trong giai đoạn thứ hai, đại đội G thuộc cánh trái tiến qua các khu vực này để chiếm trung tâm của đỉnh núi và giai đoạn thứ ba, cánh phải sẽ tiến lên để chiếm giữ phía đông của Mount Tumbledown. Ban đầu có một cuộc tấn công ban ngày đã được lên kế hoạch, nhưng lại bị hoãn lại theo yêu cầu của các chỉ huy tiểu đoàn Anh. Trong một cuộc họp các chỉ huy Đại đội của ông đều đồng thuận rằng các cuộc tấn công dàn trải trên khắp mặt đất gồ ghề của Mount Tumbledown sẽ là một cuộc tự sát.

Đòn nghi binh

Lúc 8:30 chiều ngày 13 tháng 6 cuộc tấn công nghi binh bắt đầu. Trung đội trinh sát thuộc lực lượng Vệ binh Scotland được chỉ huy bởi thiếu tá Richard Bethell (một cựu sỹ quan SAS) và được hỗ trợ bởi bốn xe tăng hạng nhẹ của The Blues và Royals, tấn công Đại đội TQLC Argentina cố thủ trên sườn thấp của núi William. Trên sườn núi phía nam của William, một trong những xe tăng đã tiến hành hành động nghi binh. Việc tiến lên ban đầu đã không bị trống trả, nhưng một cuộc đọ súng dữ dội đã nổ ra khi quân Anh đã vấp vào tuyến phòng thủ của Argentina. Người Argentina đã nổ súng và giết chết hai binh sĩ Anh và làm bị thương bốn người khác. Sau hai giờ chiến đấu khó khăn người Anh đã chiếm được vị trí này.

Lo ngại một cuộc tấn công sẽ xảy ra, trung đội Anh rút vào một bãi mìn mà không biết. Hai người bị thương trong quá trình rút quân và bốn người bị thương do mìn. Các vụ nổ khiến chỉ huy TQLC ra lệnh cho trung đội cối 81 mm trên núi William bắn vào các bãi mìn, để chặn các tuyến đường không cho bất cứ ai có thể tấn công lên núi William. Trận pháo kích kéo dài trong khoảng bốn mươi phút và sẽ gây ra nhiều thương vong hơn nữa cho người Anh nếu phần lớn những quả đạn cối đã không rơi vào than bùn mềm và không thể nổ được.

Tấn công ban đêm

Vào 9 giờ tối, nửa giờ sau khi bắt đầu cuộc tấn công nghi binh, Đại đội G của thiếu tá Iain Dalzel-Job bắt đầu tiến lên phía trước khoảng gần hai dặm. Tiếp cận mục tiêu mà không bị phát hiện, Đại đội G tiến về phía tây của ngọn núi vốn không được bảo vệ và chiếm đóng nó một cách dễ dàng. Lực lượng cánh trái của thiếu tá John Kiszely đi qua họ và đến khu vực trung tâm của đỉnh núi mà không bị kháng cự, nhưng sau đó đã bị phản công nặng nề. Người Argentina lúc này đã có được sức mạnh ở tầm Đại đội, điều khiển súng cối, lựu đạn, súng máy, và hỏa lực của vũ khí hạng nhẹ từ phạm vi rất gần vào Đại đội Anh, giết chết hai binh sĩ Anh: vệ binh Ronald Tanbini và Trung sĩ John Simeon. Trung đội 5 của thiếu úy Héctor Mino thuộc Amphibious Engineer Company, nắm giữ các vỉa đá bên phải của trung đội của thiếu úy Carlos Vázquez, thuộc đại đội 5 Thủy quân lục chiến. Ở trung tâm và bên trái của Trung đội 4 là trung đội của Trung úy hạng nhì Óscar Silva RI 4 lực lượng gần đây đã chiến đấu rất tốt ở Goat Ridge. Sau bốn hoặc năm giờ, ba trung đội súng trường, xạ thủ súng máy và súng cối của người Argentina đã hất được người Anh xuống. Để giúp xác định các hầm của người Argentina, lính Anh bắn pháo sáng lên đỉnh đồi. Lính Anh bắn tên lửa chống tăng 66 mm và 84 mm vào người Argentina lúc này ẩn nấp trong hầm đá của họ. Lính Argentina không chịu rút lui và vệ binh Scotland có thể nghe thấy một số lính Argentinians la hét và chửi bậy bằng tiếng Anh và thậm chí họ còn hát khi chiến đấu. Trong khi đó hai tàu khu trục, HMS Yarmouth và HMS Active của Hải quân Hoàng gia Anh liên tục nã đạn vào Mount Tumbledown bằng súng 4,5 inch. Vào một khoảng thời gian Đại tá Scott nghĩ rằng đại đội 2 thuộc Tiểu Đoàn vệ binh Scotland có thể phải rút lui và quay trở lại tấn công trong đêm tiếp theo, “Những chiếc móng tay cũ đã bị nhấm một chút, nếu chúng ta giữ được Mount Tumbledown thì điều này có thể khuyến khích họ tiếp tục chiến đấu”

Cuộc chiến nổ ra dữ dội ở cánh trái. Người Argentinians có súng máy và lính bắn tỉa ẩn kín trong các hố chiến đấu. Tuy nhiên lúc 2:30 giờ sáng, cuộc tấn công thứ hai của Anh đã tràn ngập được tuyến phòng thủ Argentina. Quân Anh trèo lên các đỉnh núi và đuổi được người Argentina ra xa với những trận chiến giáp lá cà bằng lưỡi lê. Thiếu tá Kiszely, người đã trở thành một viên tướng sau chiến tranh, là người đầu tiên lao vào vị trí đối phương, cá nhân ông đã bắn hạ hai lính nghĩa vụ của đối phương và đâm lê vào một người khác làm chiếc lê của ông gẫy ra làm hai. Thấy chỉ huy Đại đội của họ lao vào đám lính Argentinians lính dù từ trung đội 14 và 15 đã lao lên vượt qua khoảng cách giữa họ và TQLC Argentina để tấn công bằng lưỡi lê. Kiszely và sáu lính khác đột nhiên thấy mình đang đứng trên đỉnh núi, và nhìn xuống thấy Stanley đang chìm ngập trong ánh sáng của đường phố với các phương tiện giao thông di chuyển dọc theo những con đường. Người Argentinians lúc này lao đến phản công và khai hỏa các khẩu súng máy từ Trung đội 3 của Trung úy hạng nhì Augusto La Madrid làm bị thương ba người Anh, bao gồm cả Trung úy Alasdair Mitchell, chỉ huy của trung đội 15. Một viên đạn sượt qua thắt lưng của Kiszely. Sau đợt tấn công bằng lưỡi lê của mình, Kiszely đã được trao Military Cross.

Buổi sáng

Vào lúc 6 giờ sáng, cuộc tấn công ở bên cánh còn lại đã bị ỳ trệ một cách rõ ràng với những mất mát gồm 7 người thiệt mạng và 18 người bị thương về phía người Anh. Trên nửa phía đông của ngọn núi lính nghĩa vụ của trung đội La Madrid (người Argent nói tiếng TBN nên cũng thích đặt tên là Madrid, Barcelona…) vẫn giữ vững vị trí, do đó Đại tá Scott đã ra lệnh cho cánh phải tăng cường tấn công để xóa sổ vị trí cuối cùng. Thiếu tá Simon Price tung các trung đội 2 và 3 về phía trước, sau một đợt oanh kích phủ đầu bằng Rốc két 66 mm để xóa sổ trung đội của RI 6. Thiếu tá Price điều 1 trung đội trèo ngược lên các vỉa đá để cung cấp hỏa lực yểm trợ cho các binh sĩ tấn công. Trung úy Robert Lawrence dẫn đầu Trung đội 3 tấn công vào bên phải của trung đội Argentina với hy vọng làm cho người Argentina bị bất ngờ. Họ đã bị phát hiện tuy nhiên người Anh chỉ bị thương vong nhẹ bởi súng của đối phương trước khi lao vào tấn công áp đảo lính phòng thủ Argentina bằng lưỡi lê. Hạ sỹ Graham-Rennie của trung đội 3 trong cuốn sách Lữ đoàn 5 Bộ Binh tại Falklands (Pen & Sword Books, 2003) sau đó đã mô tả cuộc tấn công:

Cuộc tấn công của chúng tôi được khởi xướng khi một lính vệ binh giết chết một tay bắn tỉa bằng một phát đạn chống tăng 66 mm. Chúng tôi chạy về phía trước theo đội hình mở rộng, các xạ thủ súng máy và súng trường ở các bên cánh liên tục nổ súng để nhấn đầu của đối phương xuống, để che chở cho chúng tôi khi di chuyển trên mặt đất trong thời gian ngắn nhất có thể. Di chuyển được nửa đường trên mặt đất trung đội 2 nằm xuống mặt đất để cung cấp hỏa lực hỗ trợ, cho phép chúng tôi có được một chỗ đầu cầu trong vị trí của đối phương. Từ đó chúng tôi liên tục chiến đấu từ vách đá này đến vách đá khác, từ tảng đá này đến tảng đá khác, đẩy những tay súng của đối phương mặc dù vẫn chống trả quyết liệt, ra khỏi vị trí của họ.

Khi trung đội La Madrid rút lui họ phải đối mặt với một lực lượng tấn công từ trên cao, các trung đội của Trung úy hạng nhì Aldo Guillermo Franco và Robredo chuyển vào từ rìa phía đông của ngọn núi để cố gắng giúp trung đội La Madrid và trung đội Thủy quân lục chiến số 2 (dưới sự chỉ huy của Trung úy hạng nhì Marcelo Oruezabala) đang phòng thủ đoạn yên ngựa giữa các ngọn núi Tumbledown và William. Tiến vào khu vực trung tâm của núi Tumbledown, người Anh một lần nữa bị tấn công dữ dội bởi người Argentina, nhưng do tiến quân dưới làn hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ người Anh đã thành công trong việc xóa sổ các trung đội của RI 6, giành quyền kiểm soát phía đông ngọn núi. Cánh phải đã giành được vị trí này với với giá phải trả là năm người bị thương, trong đó có Trung úy Lawrence. Trong lúc dường như ông đã được chiến thắng ở sườn phía đông, Lawrence đã gần như bị giết bởi một viên đạn bắn trúng đầu của một lính bắn tỉa Argentina. Ông đã được tặng một huân chương Military Cross vì lòng dũng cảm, nhưng ông phải mất một năm trên xe lăn và sau này đã gần như hoàn toàn bị tê liệt. Một lính bắn tỉa Argentina với một khẩu súng trường FAL đã giúp khóa hậu cho người Argentina rút lui an toàn, thậm chí tay súng này còn bắn nhiều phát đạn vào một chiếc trực thăng trinh sát dùng để di tản người bị thương ra khỏi ngọn núi Tumbledown và làm bị thương hai lính Anh nữa trước khi vệ binh Scotland có thể tiêu diệt tay súng này bằng một trận mưa đạn.

Hậu quả

Vào lúc 09:00, vệ binh Scotland đã giành được vùng đất cao phía đông của núi Tumbledown và lính Gurkhas bắt đầu được triển khai tới vùng yên ngựa giữa các ngọn núi Tumbledown và William lúc này bị pháo kích liên tục, làm họ phải chịu một sự mất mát với tám người bị thương. Tiểu đoàn 2 Vệ binh Scotland có 8 người chết và 43 người bị thương, vệ binh xứ Wales có 1 người chết, đơn vị kỹ sư Hoàng gia Anh có 1 người chết và lính Gurkhas có 10 người bị thương. Một người lính lạc đường trong bóng tối. Người lính vệ binh này phải ẩn náu trong hơn một tháng mà không biết rằng cuộc chiến đã kết thúc. Vệ binh bắt được 30 tù binh, một số người trong số họ là binh sỹ của RI 6. Xác chết của 30 binh sỹ bộ binh và TQLC Argentina nằm rải rác trên các vị trí phòng thủ của Tiểu đoàn 5 TQLC.

Không muốn bỏ ngọn đồi, chỉ huy Carlos Robacio tại Sapper Hill muốn tổ chức phản công và đẩy lùi lính Anh. Chỉ có sự can thiệp cá nhân của Đại tá Félix Aguiar, tham mưu trưởng Lữ đoàn 10, mới làm cho trận chiến kết thúc. Tiểu đoàn 5 Thủy quân lục chiến đã rút trở lại Stanley để lại Đại đội M để chặn hậu. Tại chân đồi có một bãi mìn rất lớn. Một nhóm binh sỹ đi trước để dọn đường qua các quả mìn, khi lính vệ binh xứ Wales tiến lên họ thấy Sapper Hill bị bỏ trống. Các quả mìn đã làm chậm bước tiến của quân Anh và có thể đã cứu được nhiều mạng người. Đại đội M TQLC rất giàu kinh nghiệm chiến đấu và được trang bị nhiều súng máy hạng nặng. Theo lính vệ binh Tracy Evens, vị trí Sapper Hill dường như là bất khả xâm phạm:

Chúng tôi được dẫn đến một khu vực mà Đại đội sẽ nghỉ ngơi qua đêm, tôi vẫn nhớ rằng thực tế người Argentina đã chuẩn bị phòng thủ Sapper Hill rất tốt, họ bố trí phòng thủ rất có chiều sâu và việc công phá nó là rất khó khăn. (Trích từ cuốn nhật ký của vệ binh Tracy Evens)

Trong trận chiến, vệ binh Philip Williams đã bị bất tỉnh và loại khỏi vòng chiến bởi một vụ nổ và nằm thẳng cẳng như chết rồi. Khi anh ta tỉnh dậy, các vệ binh Anh đã lên đường. Cha mẹ của Williams đã thông báo về “cái chết” của anh và một lễ tưởng niệm được tổ chức cho anh. Sau bảy tuần, anh tìm thấy con đường đi đến nền văn minh, và thấy mình bị bỏ rơi bởi các phương tiện truyền thông và đồng đội.

Đối với lòng can đảm được thể hiện trong trận tấn công này, tiểu đoàn 2 vệ binh Scotland đã được trao một huân chương Distinguished Service Order, hai huân chương Military Cross, hai huy chương Distinguished Conduct Medal (một sau khi chết), và hai huy chương Military Medal. Binh sỹ từ đơn vị lính dù số 9 Para, Royal Engineers, đã được trao hai Huân chương Military Cross và đại úy Sam Drennan, phi-công điều khiển chiếc trực thăng trinh sát, người đã cứu được nhiều lính bị thương trong chiến đấu và là một cựu hạ sỹ quan vệ binh Scotland đã nhận được một huân chương Distinguished Flying Cross.

Thiếu tá Carlos Robacio chỉ huy của BIM5 đã được trao huy chương Argentine Nation to the Valour in Combat Medal và tiểu đoàn của ông ta cũng được vinh danh bởi Quốc-hội Argentina trong năm 2002

Diễn biến cuối cùng của cuộc chiến

Sự sụp đổ của Stanley

Sau khi Mount Tumbledown bị quân Anh chiếm giữ thì mọi ngả đường tiến về Stanley đã thông thoáng

người Anh lại kéo cờ của họ lên tại Stanley

Sau khi lính Argentina đầu hàng, người Anh lại kéo cờ của họ lên tại Stanley

Ngày 14 tháng Sáu, Mario Menendez (Thiếu tướng chỉ huy trưởng Quân đội kiêm thống đốc của Argentina tại Falklands ) đã nói chuyện với Trung tướng Leopoldo Galtieri – Tổng thống Argentina – qua điện đài về tình hình của Stanley. Galtieri cho Menendez biết rằng phải phản công chống lại các lực lượng Anh với tất cả các binh sĩ của mình, và tướng Galtieri cũng nói với ông ta rằng quân đội Argentina đã quy định – một viên chỉ huy phải chiến đấu cho đến khi ông ta mất 50% binh sỹ của mình và sử dụng 75% số đạn dược của mình. Ông này cũng nói thêm “hiện nay nó là trách nhiệm của ngài” (nhà nghiên cứu lịch sử quân sự) Duncan Anderson lập luận rằng tại thời điểm đó tinh thần của Menendez cuối cùng đã suy xụp. Menendez trả lời: “Tôi không thể yêu cầu thêm từ binh lính của tôi, sau những gì họ đã trải qua … Chúng tôi đã không thể giữ cho các điểm cao … Chúng tôi không có khoảng không, chúng tôi không có phương tiện, chúng tôi không có hỗ trợ. .. ” Anderson nói rằng lúc đó Menendez đã bị cô lập về mặt tâm lý và tin rằng ông đã bị bỏ rơi bởi chính phủ của ông và bắt đầu tiếp xúc với gần như một lòng biết ơn với một sĩ quan người Anh nói tiếng Tây Ban Nha người đã liên lạc với ông ta bằng radio. Menendez đã đồng ý gặp gỡ với đại diện của các chỉ huy lực lượng Anh trên hòn đảo chiều hôm đó và Menendez ra lệnh cho lực lượng của mình đầu hàng vào buổi tối. Trong khoảng thời gian một tháng sau khi đầu hàng, Menendez bị cắt hết mọi chức vụ, và bị bắt giam vào tháng 10 năm 1983 bởi Quân đội Argentina, và giam giữ trong một nhà tù quân sự trong 60 ngày.

Các nhà sử gia quân sự Max Hastings và Simon Jenkins bình luận rằng thực tế quân đội Argentina đã không thành công trong việc bảo vệ các cứ điểm trọng yếu trên đảo Falklands, cũng như chặn đứng bước tiến của người Anh, hoặc phát động các đợt tấn công vào các vị trí mà đã bị chiếm giữ bởi Thủy quân lục chiến Hoàng gia hoặc lính nhảy dù Anh, và luận rằng Menendez có thể đã thiếu tự tin vào khả năng của các binh sĩ nghĩa vụ Argentina để có thể làm được những điều này, và cũng có thể Menendez đã bị sốc bởi thực tế là người Anh đã quyết định tái chiếm các đảo bằng vũ lực và ông ta không bao giờ có thể hồi phục từ cơn sốc này -> không có biện pháp đối phó thích hợp. Họ lập luận rằng chính vì vậy mà việc triển khai các lực lượng của tướng Menendez chỉ mang tính chất hình thức, tuy nhiên đó cũng chỉ là phỏng đoán

Hậu quả của cuộc chiến Falkland

Nhờ ưu thế về quân lực nên sau 72 ngày giao chiến, cuối cùng ngày 14/6/1982,  Anh bao vây và Argentina đầu hàng. Phía Anh có 225 lính tử vong, 3 cư dân chết 777 người bị thương và 59 tù binh. Phía Argentina có 649 lính tử vong, 1068 người bị thương và 11 313 bị bắt làm tù binh.

Kể từ 1/1/1983 chính phủ Anh trục xuất quân đội Argentina ra khỏi quần đảo và không cho phép người Argentina trở lại, số dân còn lại bị ép phải nhập quốc tịch Anh.

Quan hệ ngoại giao giữa 2 nước được nối lại vào năm 1990. Năm 2007 Argentina lại lên tiếng đỏi chủ quyền trên quần đảo Malvinas-Falkland, yêu cầu Anh trở lại bàn hội nghị nhưng Anh tiếp tục làm ngơ. Đến năm 2009, Thủ tướng Anh, Gordon Brown gặp Nữ Tổng thống Argentina, Cristina Fernandez de Kirchner, nói thẳng thừng rằng sẽ không có cuộc nói chuyện về chủ quyền của quần đảo Falkland nữa, không còn vấn đề gì tồn tại cần giải quyết cả.

Một cuộc trưng cầu dân ý trên đảo Falkland đã được tổ chức vào ngày 10 và 11/3/2013. với kết quả là 99.8% của 3000 dân trên đảo đã đồng ý ở lại dưới sự thống trị của nước Anh. Argentina cương quyết phủ nhận quyền tự quyết này của người dân trên đảo và nói rằng : Từ năm 1833, chính phủ Anh đã dùng vũ lực trục xuất người Argentina ra khỏi đảo rồi sau đó ngăn cản không cho họ trở lại. Argentina chỉ thừa nhận chính phủ Anh là đối tác hợp pháp trong đàm phán.

Ngày 18/3/2013, Nữ Tổng thống Argentina Cristina Kirchner yêu cầu Tân giáo hoàng Francis gốc Argentina đứng ra làm trung gian để giải quyết tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Malvinas/Falkland giữa Argentina và Anh.

Mặc dù quần đảo Malvinas-Falkland nằm trong thềm lục địa của Argentia tuân theo Hiệp ước Liên hiệp quốc về thềm lục địa( năm 1958) và chính phủ hiện nay của Argentina nỗ lực tìm mọi phương cách để buộc Anh ngồi vào bàn đàm phán giải quyết tranh chấp nhưng London vẫn làm ngơ. Việc đấu tranh giành lại chủ quyền của Argentina ngày càng trở lên khó khăn, gần như đi đến tuyệt vọng (Anh đã chiếm đoạt trên 180 năm).  Đó là hậu quả của những việc làm thiếu sáng suốt, thiếu nhẫn nại và thiếu tầm nhìn xa của các chính phủ trước đây của Argentina.

Việc Anh làm ngơ không nhận kháng nghị của Argentina (cách hành xử của nước lớn) và sự giới hạn (bất lực) của Liên Hiệp Quốc cho thấy tư thế thấp kém của Argentina. Đáng lý ra, Argentina cần phải nhẫn nại, khiêm tốn hơn, chờ thời. Thế nhưng, Argentia đã không chịu nhẫn nhịn, từng bước tranh thủ quyền đối thoại khi Anh đề nghị đưa vụ tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế ở The Hague (vào năm 1947,  1948  và 1955).

Khi có được trong tay bản đồ tài trợ (Sponsored map) chính thức có ghi nước Argentina bao gồm những hải đảo Malvinas/Falkland, đã không gởi thêm những kháng nghị để củng cố và nâng vị thế của mình lên, đã không biết tận dụng những cơ hội để duy trì và tăng dân số của mình trên các đảo khi mở các chuyến bay đến các đảo.

Argentian đã không nỗ lực tranh thủ quan hệ ngoại giao tốt với các nước có mâu thuẫn với Anh, nhất là các thành phần tiến bộ trong quốc hội Anh cũng như trong Liên Hiệp Quốc ủng hộ việc trao trả lại thuộc đia.

Argentina đã không biết khiêm tốn, không đánh giá đúng sức mạnh của mình, chỉ vì muốn giải quyết sự mất đoàn kết trong nội bộ giữa 1 bên ôn hòa tiến bộ và 1 bên háu chiến bảo thủ, tránh bị chỉ trích là hèn nhát khiếp nhược, nên đã quá khích đưa quân đổ bộ chiếm lại các hải đảo trong khi quân lực còn yếu kém và không có đồng minh mạnh. Một hành động thiếu sáng suốt, thiếu suy xét về hậu quả của thành phần lãnh đạo háu chiến, yêu nước cực đoan này đã tạo cơ hội cho Anh trục xuất tất cả người dân Argentina trên các đảo. Điều quan trọng là đã tạo cho Anh có lý do chính đáng để ở lại trên các đảo chiếm đóng, có thêm đồng minh và có thêm tiếng nói mạnh trong Liên Hiệp Quốc. Tất cả những tài liệu nói về cuộc chiến đều cho thấy Argentina hoàn toàn không thể thắng được Anh. Có báo cáo nói rằng: Nếu Anh bị thiệt hại nặng khi giao chiến với Argentina thì có khả năng Anh sẽ thả bom nguyên tử lên đảo tranh chấp.

Việc đấu tranh giành lại chủ quyền trên các hải đảo từ 1 nước lớn là 1 nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì không tranh thủ được sự ủng hộ của các nước lớn khác, bản thân các nước lớn đều là những nước đang có vấn đề với các thuộc địa mà họ đã và đang chiếm đóng. Sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc cũng bị giới hạn vì mọi nghị quyết của Hội đồng Bảo an chỉ được thông qua với sự nhất trí của 5 nước thành viên cố định.  ( Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc) Chỉ cần 1 nước thành viên cố định bỏ phiếu chống thì nghị quyết của Hội đồng Bảo an coi như bị phủ quyết.

Tài liệu trích dẫn :

Chiến tranh Falkland – wikipedia.org

Bài học tranh chấp chủ quyền quần đảo Malvinas-Falkland giữa Argentina và Anh – Ngô Khôn Trí

Cuộc chiến Flakland – Hongsonvh biên dịch – Những trận hải chiến trong lịch sử thế giới – ttvnol.com

Sự kiện tàu ngầm hạt nhân Conquerror của anh đánh đắm chiến hạm Belglano của Arghentina- Bùi Hữu Cường –  antg.cand.com.vn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s