Kamikaze (Thần phong)

USS_Bunker_Hill_hit_by_two_Kamikazes

Thiếu úy Kiyoshi Ogawa đâm vào chiếc hàng không mẫu hạm Bunker Hill của Hoa Kỳ

biên dịch : Hongsonvh

Kamikaze là các cuộc tấn công cảm tử của phi-công quân sự của Đế quốc Nhật Bản để chống lại tàu hải quân Đồng minh trong giai đoạn kết thúc của cuộc chiến Thái Bình Dương – một phần của Chiến tranh Thế giới II, các cuộc tấn công như vậy được lên kế hoạch để tiêu diệt càng nhiều tàu chiến của đối phương càng tốt.

Phi-công Kamikaze sẽ cố gắng lao máy bay của họ vào địch tàu, các máy bay thường đầy vật liệu nổ, bom, ngư lôi và đầy thùng nhiên liệu. Chức năng bình thường của máy bay ( để ném bom, phóng ngư lôi hoặc bắn hạ các máy bay đối phương ) bị gạt sang một bên, và những chiếc máy bay này được chuyển đổi sang thành tương tự như là một quả trên lửa có người điều khiển trong một cố gắng để làm cho độ chính xác tăng lên nhiều lần và tải trọng lớn hơn so với các loại bom bình thường. Mục tiêu của nó là làm tê liệt tối đa các tầu Đồng Minh, đặc biệt là tàu sân bay được coi là mục tiêu đủ quan trọng để đảm bảo sự kết hợp hy sinh của cả phi-công và máy bay.

Những cuộc tấn công được bắt đầu vào tháng 10 năm 1944, sau nhiều thất bại quân sự quan trọng của Nhật Bản. Họ đã từ lâu bị mất ưu thế trên không do máy bay đã lỗi thời và mất mát quá nhiều các phi-công có kinh nghiệm. Về mặt kinh tế vĩ mô Nhật Bản phải trải qua sự giảm sút năng lực chiến tranh và một suy giảm nhanh chóng của năng lực của nền công nghiệp khi so sánh với Hoa Kỳ. Chính phủ Nhật Bản bày tỏ sự miễn cưỡng của mình về việc phải đầu hàng – chấp nhận thua trận. Kết hợp của những yếu tố này đã dẫn đến việc Nhật bản phải sử dụng chiến thuật kamikaze khi lực lượng Đồng Minh tiến về phía đảo nhà của người Nhật.

Trong khi thuật ngữ ” kamikaze ” thường đề cập đến các cuộc tấn công trên không, thuật ngữ này đôi khi được áp dụng cho các cuộc tấn công cảm tử khác nhau một cách có chủ ý. Quân đội Nhật Bản cũng sử dụng hoặc lên kế hoạch để thành lập các Đơn vị cảm tử, bao gồm ở rất nhiều các binh chủng như tàu ngầm, ngư lôi, tàu cao tốc và người nhái.

Mặc dù kamikaze là hình thức phổ biến nhất và nổi tiếng nhất của các cuộc tấn công cảm tử của Nhật Bản trong Thế chiến II, nó cũng tương tự như ” tấn công tự sát đồng loạt – BANZAI CHARGE” được sử dụng bởi các binh sĩ Nhật Bản. Sự khác biệt chính giữa kamikaze và BANZAI CHARGE là việc cảm tử đó cần thiết cho sự thành công của một đợt tấn công kamikaze, trong khi một BANZAI CHARGE chỉ có khả năng tự sát – thường tấn công kiểu Banzai Charge là người Nhật xông lên để chết vì đạn đối phương chứ không chịu đầu hàng làm tù binh.

Nguồn tin phương Tây thường nhận định một cách không chính xác Operation Ten -Go là một hành động kamikaze vì nó xảy ra ở Trận Okinawa cùng với những đợt sóng hàng trăm máy bay kamikaze, tuy nhiên BANZAI CHARGE là thuật ngữ chính xác hơn, vì mục tiêu của nhiệm vụ được trao cho tàu chiến Yamato là đến được bãi biển Okinawa và cung cấp hỗ trợ cho những người bảo vệ đảo, cũng như là nổ súng tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương. Truyền thống thà tự sát chứ không chịu thất bại, bị bắt làm tù binh và nhục nhã đã ăn sâu vào nền văn hóa quân sự của Nhật Bản. Đó là một trong những mục đích chính trong cuộc đời của một samurai và tinh thần Võ sĩ đạo – đó là lòng trung thành và danh dự cho đến khi chết.

Định nghĩa và từ nguyên bản

Từ Kamikaze trong tiếng Nhật Bản thường được dịch là ” gió thần ” (kami là ” thần, tinh thần ” và Kaze là ” gió “). Từ kamikaze có nguồn gốc là tên của một cơn bão lớn trong năm 1274 và 1281 đã làm tan tác hạm đội Mông Cổ xâm lược và cứu cho đất nước Nhật Bản khỏi bị xâm lăng.

Cho tới cuối cuộc chiến thuật ngữ kamikaze đôi khi được sử dụng như là một biểu tượng của một loại tấn công, trong đó người tấn công sẽ cố tình hy sinh. Chúng bao gồm một loạt các cuộc tấn công cảm tử, trong bối cảnh lịch sử khác chẳng hạn như việc đề xuất sử dụng máy bay Selbstopfer của Đức Quốc xã và các vụ đánh bom cảm tử của các tổ chức khủng bố trên toàn thế giới ( chẳng hạn như vụ 11/9), mặc dù các phi-công kamikaze chỉ tấn công các mục tiêu quân sự, trong khi những kẻ khủng bố tấn công vào chủ yếu là dân thường.

Bối cảnh lịch sử

Trước khi có sự thành lập các đơn vị kamikaze, các tai nạn đã cố ý được sử dụng như là một nỗ lực mới nhất khi máy bay của một phi-công bị hư hỏng và ông ta không muốn thấy nguy cơ bị bắt làm tù binh, đây là trường hợp đã xảy ra ở cả Nhật Bản và lực lượng không quân Đồng Minh. Theo Axell & Kase, những vụ cảm tử ” đã được quyết định một cách cá nhân và ngẫu hứng bởi những người đã chuẩn bị tinh thần cho cái chết ” Trong hầu hết trường hợp, có rất ít bằng chứng cho thấy các vụ lao máy bay là do va chạm vô tình, trong cả những trường hợp mà đôi khi xảy ra trong trận đánh dữ dội cả trên biển và trên không. Một ví dụ về điều này xảy ra vào ngày 07 tháng 12 năm 1941 trong trận tấn công vào Trân Châu Cảng. Máy bay của trung úy phi-công Fusata Iida đã bị trúng đạn và bị rò rỉ nhiên liệu, khi ông bắt đầu sử dụng nó để thực hiện một cuộc tấn công cảm tử vào Kaneohe Naval Air Station. Trước khi cất cánh, ông đã nói với người bạn của mình rằng nếu máy bay của ông bị thương, ông sẽ lao nó vào một ” mục tiêu xứng đáng của đối phương”.

Các trận đánh tầu sân bay năm 1942, đặc biệt là trận Midway đã gây ra thiệt hại không thể khắc phục cho lực lượng Không lực của Hải quân Đế quốc Nhật Bản ( IJNAS ), và như vậy họ không còn có thể xuất trận với một số lượng lớn các tàu sân bay và các đội bay được đào tạo. Khi lập kế hoạch Nhật Bản đã giả định cho một cuộc chiến tranh nhanh chóng và đã không được chuẩn bị tốt để thay thế các tầu chiến bị tổn thất, phi-công và thủy thủ, ở Midway trong một ngày người Nhật mất nhiều các đội bay hơn số họ đào tạo được trong một năm thời trước chiến. Các chiến dịch sau đó như Solomon và New Guinea, đặc biệt là các trận đánh quần đảo Đông Solomon và Santa Cruz, đã tiêu hao nhiều hơn nữa các đội bay kỳ cựu của họ và thay thế các kinh nghiệm chiến đấu của họ là không thể. Trong thời gian 1943-1944 quân đội Mỹ đã liên tục tiến về phía Nhật Bản. máy bay chiến đấu của Nhật Bản trở nên ít hơn và bị lép vế bởi các máy bay mới hơn do Mỹ chế tạo, đặc biệt là các loại F6F Hellcat và F4U Corsair. Điều khí hậu kiện nhiệt đới cũng như tình trạng thiếu phụ tùng thay thế và nhiên liệu, đồng thời phải hoạt động tần suất cao đã gây nhiều khó khăn hơn nữa cho IJNAS. Sau trận chiến biển Philippines năm 1944, người Nhật lúc này không còn biết phải làm gì với những chiếc máy bay đã lỗi thời và các phi-công thiếu kinh nghiệm, để chống lại những phi-công Hải quân Mỹ được đào tạo tốt hơn và có nhiều kinh nghiệm hơn không những vậy người Mỹ lại còn được trang bị radar định hướng cho máy bay tuần tra không chiến của họ. Nhật Bản mất hơn 400 máy bay trên tàu sân bay và nhiều phi-công, và trận này có kết quả chấm dứt hiệu lực của các tầu sân bay của họ “, một trận đánh mà Đồng Minh là ” Great Marianas Turkey Shoot ” (Trận bắn Gà tây Vĩ đại ở Marianas).

Ngày 19 tháng Sáu, 1944, các máy bay từ tàu sân bay Chiyoda tiếp cận một nhóm tầu chiến Mỹ. Theo một số tài liệu ghi chép lại hai trong số các cuộc tấn công là tấn công cảm tử và đã đánh chìm chiếc USS Indiana.

Căn cứ Saipan một căn cứ quan trọng của Nhật Bản rơi vào tay lực lượng Đồng Minh ngày 15 tháng Bảy 1944. Việc chiếm giữ được hòn đảo này đã cho phép lực lượng không quân Mỹ sử dụng máy B -29 Superfortress để tấn công hòn đảo Nhật Bản. Sau sự sụp đổ của Saipan, các chỉ huy cao cấp của Nhật Bản dự đoán rằng quân Đồng Minh sẽ cố gắng để chiếm lấy quần đảo Phillippines, đây là vị trí quan trọng chiến lược vì nó ở giữa các mỏ dầu của vùng Đông Nam Á và Nhật Bản.

Vào tháng Tám năm 1944, theo một nguồn tin được công bố từ hãng báo chí Domei rằng một chuyên viên đào tạo lái máy bay tên là Takeo Tagata đang đào tạo phi-công tại Đài Loan cho các phi vụ cảm tử.

Một nguồn khác cho rằng vụ tấn công kamikaze đầu tiên xảy ra vào ngày 13 tháng 9, năm 1944 . Một nhóm các phi-công từ Phi đoàn số 31 trên đảo Negros đã quyết định phát động một cuộc tấn công cảm tử vào sáng ngày hôm sau. Trung úy nhất Takeshi Kosai và một trung sĩ đã được lựa chọn. Hai quả bom 100 kg (220 lb) được gắn vào hai máy bay chiến đấu và các phi-công đã cất cánh trước bình minh, họ đã lên kế hoạch để đâm vào một tàu sân bay. Họ không bao giờ quay trở lại và không có hồ sơ nào nói về một vụ máy bay đối phương tấn công một tàu Đồng minh vào ngày hôm đó.

Theo một số nguồn tin ngày 14 tháng Mười năm 1944, chiếc USS Reno bị trúng phải một chiếc máy bay Nhật Bản bị bắn rơi và cố ý lao vào nó. Tuy nhiên không có bằng chứng rằng những kẻ tấn công đã lên kế hoạch lao máy bay này.

Chuẩn Đô đốc Masafumi Arima, người chỉ huy của Không đoàn số 26 (một phần của Hạm đội Không quân số 11), cũng đôi khi phát minh ra các chiến thuật tấn công kamikaze . Cá nhân Arima đã dẫn đầu một cuộc tấn công của khoảng 100 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Yokosuka D4Y Suisei (” Judy “) để tấn công vào một chiếc tàu sân bay lớn lớp Es.s.e.x – chiếc USS Franklin gần vịnh Leyte, khoảng trong ngày 15 tháng 10 năm 1944. Arima đã bị giết và một phần của chiếc máy bay đã rơi trúng chiếc Franklin. Các chỉ huy cao cấp của Nhật bản nắm lấy cơ hội này và ra sức tuyên truyền, Arima đã được thăng chức Đô đốc sau khi chết và đây được tin là vụ tấn công kamikaze chính thức đầu tiên. Tuy nhiên người ta không rõ rằng đây có phải là một cuộc tấn công cảm tử đã được kế hoạch, và các ghi chép chính thức Nhật Bản về cuộc tấn công của Arima cũng mang ít các sự kiện giống với thực tế.

Ngày 17 tháng 10, năm 1944, lực lượng Đồng Minh tấn công Đảo Suluan và bắt đầu Trận chiến vịnh Leyte. Hạm đội Không lực số 1 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản có căn cứ ở Manila, được giao nhiệm vụ trợ giúp các tàu của Nhật Bản để cố gắng tiêu diệt lực lượng Đồng Minh trong vịnh Leyte. Tuy nhiên, Hạm độ Không lực số 1 vào lúc đó chỉ có 40 máy bay: 34 máy bay chiến đấu A6M Zero trên tàu sân bay, ba máy bay phóng ngư lôiNakajima B6N Tenzan (” Jill “), một máy bay ném bom Mitsubishi G4M (” Betty “), hai máy bay Yokosuka P1Y Ginga (” Frances “) và một máy bay trinh sát bổ sung. Nhiệm vụ mà lực lượng không quân Nhật Bản phải tiến hành dường như không thể. Chỉ huy Hạm đội Không lực số 1, Phó Đô đốcTakijirō Onishi quyết định thành lập một lực lượng tấn công cảm tử – đơn vị công tác đặc biệt. Trong một cuộc họp tại sân bay Mabalacat ( Clark Air Base – của Quân đội Hoa Kỳ sau này ) gần Manila, ngày 19 tháng mười , Onishi nói với nhân viên của trụ sở của Đội bay số 201 ” Tôi không nghĩ rằng sẽ có bất cứ nào cách để thực hiện nhiệm vụ [ để giữ được Phillippines ], ngoài một cách là đặt một quả bom 250 kg trên một chiếc Zero và để cho nó lao vào một tàu sân bay Mỹ để vô hiệu hóa nó trong vòng một tuần”

Đơn vị kamikaze đầu tiên

Chỉ huyAsaiki Tamai yêu cầu một nhóm của 23 học viên phi-công tài năng, tất cả những người được ông đào tạo, liệu có tình nguyện tham gia một lực lượng tấn công đặc biệt. Tất cả các phi-công đều giơ cả hai tay tình nguyện tham gia vào hoạt động này. Sau đó, Tamai hỏi Trung úyYukio Seki – chỉ huy lực lượng tấn công đặc biệt. Seki được cho là đã nhắm mắt lại, cúi đầu xuống và suy nghĩ trong 10 giây, trước khi nói : ” Xin vui lòng chỉ định cho tôi để ” Seki đã trở thành kamikaze thí điểm thứ 24 được chọn. Tuy nhiên Seki sau đó cho biết: ” Nhật Bản có một tương lai rất ảm đạm nếu buộc phải giết một trong những phi-công tốt nhất của nó ” và “Tôi không đi làm nhiệm vụ này cho Nhật hoàng hoặc cho Đế quốc … Tôi làm vì tôi được lệnh phải làm “

Tên của bốn đơn vị nhỏ trong Lực lượng Kamikaze là Đơn vị Shikishima, Đơn vị Yamato, Đơn vị Asahi và Đơn vị Yamazakura. Những tên này được lấy từ một bài thơ yêu nước Shikishima no Yamato-gokoro wo hito towaba, asahi ni niou yamazakura bana được viết bởi một học giả cổ – Nhật Bản Motoori Norinaga.

Các cuộc tấn công đầu tiên

may bay zero

Những chiếc máy bay Zero

Ngày 25 Tháng 10 năm 1944 , trong Trận chiến vịnh Leyte, Lực lượng Kamikaze đã thực hiện nhiệm vụ đầu tiên của nó. Năm chiếc Zero dẫn đầu bởi Seki được hộ tống đến mục tiêu bởi ace hàng đầu của Nhật Bản – Hiroyoshi Nishizawa, tấn công một số tàu sân bay hộ tống. Một chiếc Zero đã cố gắng đâm vào đài chỉ huy của chiếc USS Kitkun Bay nhưng nó lại phát nổ trên sàn catwalk cảng và cartwheeled xuống biển. Hai chiếc khác bổ nhào vào chiếc USS Fanshaw Bay nhưng đã bị phá hủy bởi súng phòng không. Hai chiếc cuối cùng lao vào chiếc USSWhite Plains. Một chiếc bị thương nặng và khói tỏa dài, nó phải hủy bỏ nỗ lực lao vào chiếc White Plains và thay vào đó là hướng vào chiếc USS St Lo và đâm vào sàn đáp. Quả bom của nó gây ra một đám cháy mà kết quả là làm cho bom trong kho phát nổ đánh chìm chiếc tàu sân bay này. Cuối ngày trên 26 Tháng 10, 55 chiếc kamikaze từ lực lượng tấn công đặc biệt cũng đã đánh hỏng những chiếc tàu sân bay hộ tống lớn USSSangamon, Suwannee, Santee, và những chiếc tàu sân bay hộ tống nhỏ hơn USS White Plains, Kalinin Bay và Kitkun Bay. Tổng cộng, bảy tàu sân bay đã bị đánh, cũng như 40 chiếc tàu khác (năm chiếc bị đánh chìm, 23 chiếc bị hư hỏng nặng và 12 chiếc vừa bị hư hỏng ) .

Một số cuộc tấn công cảm tử trong những ngày đầu của chiến dịch vịnh Leyte được tuyên bố một cách không chính xác là đợt tấn công kamikaze đầu tiên. Sáng sớm ngày 21 tháng mười, trong khi chống trả cuộc xâm lược vào Leyte, một chiếc máy bay Nhật Bản ( từ nhiều nguồn mô tả là một máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A hoặc một máy bay Mitsubishi Ki -51 của Lữ đoàn không quân số 6 Không quân Đế quốc Nhật Bản) cố tình đâm vào cột buồm của tàu tuần dương hạng nặng HMAS Australia. Vụ tấn công giết chết 30 người ( bao gồm cả thuyền trưởng của chiếc tàu tuần dương, Emile Dechaineux) và làm bị thương 64, bao gồm cả chỉ huy lực lượng Úc Commodore John Collins.

Vụ tấn công này được cho là vụ tấn công kamikaze vào một tàu Đồng minh trong lịch sử chính thức của cuộc chiến của RAN (đại loại là lịch sử của sự tham chiến của Úc vào WWII) và được lặp lại trong các nguồn khác, mặc dù Nhóm Tấn công Đặc biệt đã không bắt đầu hoạt động cho đến bốn ngày sau đó: việc lao máy bay vào tầu đối phương là quyết định của người phi-công không phải là theo một mệnh lệnh mà anh ta phải thi hành. Vụ đánh đắm chiếc tàu kéo USS Sonoma ngày 24 tháng 10 được liệt kê trong một số nguồn như là con tàu đầu tiên bị mất bởi một cuộc tấn công kamikaze, nhưng cuộc tấn công xảy ra trước ngày 25 tháng Mười và chiếc máy bay được sử dụng trong cuộc tấn công này – một chiếc Mitsubishi G4M, đã không được lái bởi thành viên của bốn Đội tấn công đặc biệt.

Các làn sóng tấn công chính

Rất sớm thành công – chẳng hạn như vụ đánh đắm chiếc St Lo – đã kéo theo sau đó một sự mở rộng của chương trình này và trong vài tháng có tới hơn 2.000 chiếc máy bay đã tiến hành thực hiện các cuộc tấn công như vậy.

Khi Nhật Bản bắt đầu bị ném bom nặng nề bởi máy bay ném bom chiến lược B -29, quân đội Nhật Bản đã cố gắng sử dụng các cuộc tấn công cảm tử để chống lại mối đe dọa này . Trong suốt mùa đông ở phía bắc năm 1944-> 45, IJAAF đã thành lập Trung đoàn Không quân số 47 còn được gọi là Đặc biệt Đơn vị Shinten (Shinten Seiku Ta) tại sân bay Narimasu, Nerima, Tokyo để bảo vệ Vùng đô thị Tokyo. Đơn vị này được trang bị các máy bay chiến đấu Nakajima Ki -44 Shoki (” Tojo “) loại mà họ dùng để đâm vào các máy bay B -29 Không quân Hoa Kỳ khi chúng tấn công vào Nhật Bản. Tuy nhiên chiến thuật này đã được chứng minh là không thành công vì thực tế một chiếc máy bay là một mục tiêu nhanh hơn, cơ động hơn và nhỏ hơn nhiều so với một tàu chiến. Các máy bay B -29 cũng có những vũ khí phòng thủ ghê gớm, vì vậy các cuộc tấn công cảm tử chống lại máy bay yêu cầu kỹ năng đáng kể để thành công. Chiến thuật này cũng làm tiêu hao rất nhiều phi-công.

Các cuộc tấn công Kamikaze đã được lên kế hoạch ở các căn cứ xa Nhật Bản. Ngày 08 tháng 1, Onishi đã thành lập một đơn vị kamikaze chính thức thứ hai của hải quân tại Formosa – đơn vị Niitaka sử dụng các máy bay Zero và ” Judy ” và đóng ở sân bay Takao. Ngày 29 tháng 1 năm 1945 , bảy Kawasaki Ki -48 ” Lilys ” từ nhóm Tấn công Đặc biệt Shichisi Mitate của quân đội Nhật Bản, cất cánh từ Palembang – Sumatra để tấn công Hạm đội Thái Bình Dương của Anh. Phó Đô đốc Kimpei Teraoka và Đại úy Riishi Sugiyama của Air Group 601 đã tổ chức một đơn vị đặc biệt thứ hai – Mitate tại Iwo Jima vào ngày 16 khi lực lượng xâm lược của Mỹ đang tiếp cận. Ngày 11 tháng Ba, chiếc tàu sân bay Mỹ USS Randolph bị đâm trúng và thiệt hại nặng tại Đảo san hô Ulithi, quần đảo Caroline bởi một chiếc kamikaze đã bay gần 4.000 km (2.500 dặm) từ Nhật Bản, trong một nhiệm vụ được gọi là Operation Tan No. 2. Ngày 20 tháng Ba, chiếc tàu ngầm USSDevilfish vẫn còn sống sót sau khi bị đâm từ một chiếc máy bay cất cánh từ Nhật Bản.

Máy bay được dùng với mục đích để tấn công kamikaze khác với máy bay chiến đấu và máy bay ném bom bổ nhào chuyển đổi cũng được chế tạo. Hoa tiêu Mitsuo Ohta đã đề nghị thực hiện thí điểm và phát triển bom tàu lượn – glider bomb, loại này được đưa đến gần phạm vi của mục tiêu bởi một chiếc máy bay mẹ. Ủy ban Kỹ thuật của Không quân thuộc Hải quân sô 1 (Kugisho) tại Yokosuka đã chấp nhận ý tưởng của Ohta. Loại máy bay rốckét Yokosuka MXY7 Ohka được phóng từ máy bay ném bom, lần đầu tiên được triển khai trong các cuộc tấn công kamikaze từ tháng ba năm 1945. Người Mỹ đã đặt cho chúng những biệt hiệu chế nhạo “Bom Baka” (Bom ngố). Một chiếc máy bay cánh quạt được thiết kế đặc biệt – chiếc Nakajima Ki -115 Tsurugi, là một loại máy bay đơn giản được chế tạo một cách dễ dàng, dự định để sử dụng hết các phần động cơ dự trữ trong một khung máy bay bằng gỗ. Bộ bánh xe của chiếc phi cơ này không thể thu lại được, nó đã bị để lại ngay sau khi cất cánh cho một nhiệm vụ cảm tử và sau đó lại được sử dụng cho một chiếc máy bay khác. Trong năm 1945, quân đội Nhật bắt đầu dự trữ hàng trăm chiếc Tsurugi, các máy bay cánh quạt, những chiếc Ohkas và tàu cảm tử, được sử dụng để chống lại lực lượng Đồng Minh khi họ đổ bộ vào Nhật Bản.

Chiến thuật phòng thủ của Đồng minh

phong khong hoa mi

Tàu tuần dương hạng nặng Australia, tháng 9 năm 1944.

Vào đầu năm 1945, chỉ huy John Thach, một phi-công Hải quân Mỹ, người đã nổi tiếng vì phát triển được một chiến thuật hiệu quả trên không chống lại người Nhật Bản, được gọi là Thach Weave và một chiến lược phòng thủ để chống lại kamikazes được gọi là “big blue blanket”. Chiến thuật này khuyến khích sử dụng một số lượng máy bay tuần tra không chiến (CAP ) hơn nữa từ các tàu sân bay so với trước đây, một dòng tàu khu trục picket và tàu khu trục hộ tống từ ít nhất 80 km (50 dặm) đến đội hình chính của hạm đội để cung cấp radar đánh chặn ở phía trước và cải thiện phối hợp giữa các sỹ quan hướng dẫn máy bay chiến đấu trên tàu sân bay. Kế hoạch này cũng yêu cầu sử dụng máy bay tiêm kích tuần tra suốt ngày đêm trong hạm đội Đồng Minh, vì Hải quân Hoa Kỳ đã cắt giảm đào tạo phi-công chiến đấu, do đó không đủ phi-công Hải quân có sẵn để chống lại mối đe dọa từ các đợt tấn công kamikaze. Chiến thuật cuối cùng là tung các máy bay tiêm kích vào sâu và oanh tạc các sân bay ném bom phá hủy các đường băng của Nhật Bản với bom có ngòi nổ chậm để khó khăn hơn cho việc sửa chữa.

Cuối năm 1944, Hạm đội Thái Bình Dương của Anh ( BPF ) đã đưa vào sử dụng loại máy bay Supermarine Seafires vào nhiệm vụ tuần tra chiến đấu trên không. Seafires được rất nhiều liên quan trong việc chống lại các kamikaze các cuộc tấn công trong Iwo Jima đổ bộ và xa hơn nữa. ngày tốt nhất ‘ Seafires là ngày 15 Tháng Tám 1945 , bắn rơi tám máy bay tấn công cho một sự mất mát duy nhất.

Được đào tạo một cách nghèo nàn làm cho các phi-công kamikaze trở thành các mục tiêu dễ dàng cho các phi-công giàu kinh nghiệm của Đồng Minh, những người cũng bay trên những chiếc máy bay hiện đại và mạnh mẽ hơn nhiều. Chỉ riêng Lực lượng Đặc nhiệm Tàu sân bay cũng đã có thể tung ra hơn 1.000 máy bay chiến đấu vào hoạt động. Phi-công Đồng Minh đã trở thành những tay chuyên nghiệp tiêu diệt máy bay địch trước khi chúng tấn công được vào các tàu chiến.

Các pháo thủ của Đồng minh cũng bắt đầu phát triển các kỹ thuật để chặn đứng các cuộc tấn công kamikaze. Họ bắn những khẩu súng Hải quân cỡ nòng dài ở phía trước của những máy bay tấn công bay gần mặt biển để tạo ra những bức tường nước để dìm ngập những chiếc máy bay tấn công. Những vũ khí phòng không hạng nhẹ bắn nhanh như Bofors 40 mm và Oerlikon 20 mm không có nhiều hiệu quả tuy nhiên những khẩu súng phòng không hạng nặng như cỡ nòng súng 5 ” / 38 (127 mm) tạo ra những cú đấm cực mạnh để thổi tung những chiếc máy bay kamikazes trong không trung. Mặc dù chiến thuật này không thể được sử dụng để chống lại Okhas và các loại bay nhanh tấn công góc cao khác, nhưng rồi chúng cũng lại dễ bị tiêu diệt bởi các loại súng phòng không khác. Năm 1945, một số lớn đạn phòng không loại mới – đạn có ngòi nổ theo tần số Radio (NV – radio frequency proximity fuze) được cung cấp với khối lượng lớn, đây là loại đạn có hiệu quả bình quân gấp bảy lần loại đạn thường.

Giai đoạn cuối cùng

Đỉnh cao của các cuộc tấn công kamikaze xảy ra trong khoảng thời gian tháng tư – tháng 6 năm 1945 tại Trận Okinawa. Ngày 06 Tháng tư năm 1945 các đợt sóng máy bay đã thực hiện hàng trăm vụ tấn công trong Chiến dịch Kikusui (” hoa cúc “). Tại Okinawa, đầu tiên các cuộc tấn công kamikaze tập trung vào các tàu khu trục vừa phải của Đồng Minh đang làm nhiệm vụ và sau đó tập trung vào các tàu sân bay ở giữa đội hình. Các cuộc tấn công cảm tử bằng máy bay hoặc tàu tại Okinawa đã đánh chìm hoặc loại ra khỏi hành động ít nhất 30 tàu chiến và ít nhất ba tầu vận tải Mỹ, cùng với một số tầu từ các lực lượng Đồng Minh. Các cuộc tấn công đã tiêu tốn 1.465 máy bay. Rất nhiều tàu chiến thuộc tất cả các loại bị hư hại, một số bị hư hại nghiêm trọng, nhưng không có tàu sân bay, thiết giáp hạm hoặc tàu tuần dương nào bị đánh chìm bởi kamikaze tại Okinawa. Hầu hết các tàu bị mất là tàu khu trục, tàu nhỏ hơn, đặc biệt là những chiếc đang làm nhiệm vụ tuần tra.

Các tàu sân bay Hoa kỳ với những chiếc sàn bay bằng gỗ của họ dường như phải chịu thiệt hại nhiều hơn từ các cuộc tấn công kamikaze so với tàu sân bay có sàn đáp bằng thép của Hạm đội Thái Bình Dương của Anh. Tàu sân bay Mỹ cũng bị tổn thất về nhân mạng nặng hơn trong những cuộc tấn công kamikaze, ví dụ 346 người đã thiệt mạng trong một vụ tấn công vào chiếc USS Bunker Hill. Các khả năng phục hồi nhanh của các tầu có thiết giáp tốt đã được thể hiện trong ngày 04 tháng 5, lúc 11:30, có một làn sóng máy bay tấn công cảm tử vào các tầu của BPF (Hạm đội Thái Bình Dương của Anh). Một máy bay Nhật đã bổ nhào dốc từ trên cao vào chiếc tầu sân bay HMS Formidable và bị chặn đánh bởi súng AA. Mặc dù nó bị trúng đạn, chiếc máy bay kamikaze vẫn đâm được vào vào sàn đáp và tạo ra một miệng núi lửa rộng 3 m (9,8 ft) dài 0,6 m (2 ft) và sâu 0,6 m (2 ft). Một mảng thép dài bị vỡ ra đâm xuống xuyên qua sàn chứa máy bay và vào phòng nồi hơi chính ( nơi nó làm vỡ một nồi hơi nước ), và sau đó lao vào một thùng nhiên liệu gần chỗ đỗ các máy bay nơi nó tạo ra một đám cháy lớn. Tám người đã thiệt mạng và 47 người bị thương. Một chiếc Corsair và 10 chiếc Avenger đã bị phá hủy . Tuy nhiên đám cháy đã dần dần được kiểm soát và chiếc miệng núi lửa trên boong tàu đã được sửa chữa bằng bê tông và thép tấm. Vào lúc 17:00, các máy bay Corsair lại có thể hạ cánh. Ngày 09 tháng Năm, chiếc HMS Formidable lại một lần nữa bị đánh hỏng bởi chiếc kamikaze, cũng như chiếc tầu sân bay HMS Victorious và chiếc tàu thiết giáp HMSHowe. Người Anh đã có thể dọn sạch sàn đáp và tiếp tục hoạt động bay chỉ trong giờ sau khi bị tấn công, trong khi các đối tác người Mỹ của họ phải mất một vài ngày hoặc thậm chí vài tháng, khi một nhân viên liên lạc của Hải quân Hoa Kỳ quan sát hoạt động sửa chữa trên chiếc HMS Indefatigable người này đưa ra nhận xét: ” Khi các cuộc tấn công kamikaze đánh trúng một tàu sân bay Mỹ, điều này có nghĩa là người Mỹ phải mất 6 tháng sửa chữa tại Trân Châu cảng. Khi máy bay kamikaze đánh trúng một tàu sân bay Limey đây chỉ là trường hợp của ” Này anh em, mang chổi của bạn đến đây “.

Đôi khi các máy bay hai động cơ cũng được sử dụng trong việc lên kế hoạch cho các cuộc tấn công kamikaze. Ví dụ, máy bay ném bom loại Mitsubishi Ki -67 Hiryu (” Peggy “), có căn cứ ở Đài Loan đã thực hiện các cuộc tấn công kamikaze vào lực lượng Đồng Minh ở ngoài khơi Okinawa.

Chuẩn Đô đốc Matome Ugaki, chỉ huy thứ 2 của Hạm đội Liên hợp Thái Bình Dương, chỉ huy các cuộc tấn kamikaze công chính thức cuối cùng, tung ra các máy bay Judies “từ 701 Air Group để tấn công hạm đội Đồng Minh tại Okinawa ngày 15 tháng 8 năm 1945.

Hiệu ứng của chiến thuật Kamikaze

Khi cuộc chiến đã đi đến hồi kết thúc, các nước đồng minh đã không còn bị nhiều thiệt hại nghiêm trọng, mặc dù có thêm rất nhiều tầu và phải đối mặt với một cường độ lớn hơn các cuộc tấn công kamikaze. Mặc dù gây ra một số thương vong nặng nề nhất cho các tàu sân bay Mỹ vào năm 1945, Hải quân Nhật đã hy sinh 2525 phi-công kamikaze và Không quân Nhật – IJAAF mất 1387 phi-công, nhiều hơn so với số họ mất vào năm 1942, năm họ đã đánh chìm hoặc làm tê liệt ba tàu sân bay (mặc dù không gây ra được thương vong gây đáng kể). Trong năm 1942, khi Hải quân Mỹ còn khan hiếm tầu sân bay, sự vắng mặt tạm thời của các tàu chiến chủ chốt ở vùng chiến sự làm họ bị mất thế chủ động. Tuy nhiên vào năm 1945, Hải quân Hoa Kỳ đã đủ mạnh để các tàu bị hư hỏng có thể được tách ra trở về cảng nhà để sửa chữa mà không gây cản trở đáng kể đến khả năng hoạt động của hạm đội . Những tầu chiến bề mặt thực sự bị mất là những tàu khu trục và những tàu nhỏ hơn, những chiếc không có khả năng khả năng sống sót trước những thiệt hại nặng nề. Nhìn chung kamikaze không thể đảo ngược được xu hướng của cuộc chiến và ngăn chặn được quá trình tấn công của Đồng Minh. Sau chiến tranh sức phá hoại tiềm năng của kamikaze được đưa vào nghiên cứu trong Operation Bumblebee cho đến khi tên lửa có điều khiển RIM -8 Talos được đưa vào hoạt động vào năm 1959.

Khi nhận những đòn đánh trực tiếp từ các cuộc tấn công kamikaze, tàu sân bay Anh với sàn đáp bọc thép của họ dường như có khả năng phục phục hồi nhanh hơn so với các đối tác Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phân tích sau chiến tranh cho thấy rằng một số tầu sân bay của Anh như HMS Formidable đã bị thiệt hại ở phần cấu trúc dẫn chúng bị loại bỏ vì việc sửa chữa sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế, và thảm kịch tài chính thời hậu chiến của nước Anh cùng với kích cỡ liên tục suy giảm của Hải quân Hoàng gia chắc chắn đã đóng một vai trò trong việc quyết định không tiến hành sửa chữa các tàu sân bay bị hư hỏng. Ngược lại, ngay cả những tàu sân bay bị hư hỏng nghiêm trọng của Mỹ như chiếc USS Bunker Hill đã được thành công sửa chữa và ở trong tình trạng tốt, mặc dù nó đã không tham gia phục vụ quân đội sau Thế chiến II khi nó được xem là đồ dư thừa.

Số tàu chìm là một vấn đề gây tranh cãi. Theo một thông báo tuyên truyền chiến tranh của Nhật Bản, kamikaze đã đánh chìm 81 tàu và làm hư hỏng 195 chiếc khác và theo một tính toán từ phía Nhật Bản, các cuộc tấn công cảm tử đã tạo ra 80 % số tổn thất của Mỹ trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến Thái Bình Dương. Trong một cuốn sách Chiến tranh Thế giới II năm 2004, các sử gia Wilmott, Cross và Messenger nói rằng các cuộc tấn công kamikaze đã làm cho hơn 70 tàu Mỹ ” bị đánh chìm hoặc hư hỏng không thể sửa chữa “.

Theo một trang web của Không quân Hoa Kỳ:

Khoảng 2.800 vụ tấn công Kamikaze đánh chìm 34 tàu hải quân, hư hại 368 chiếc khác, giết chết 4.900 thủy thủ và làm bị thương hơn 4.800 người khác. Mặc dù có radar phát hiện và cảnh báo cũng như các biện pháp đánh chặn trên không đã tiêu hao và bắn hạ một số máy bay lớn, 14 phần trăm máy bay Kamikaze vẫn lọt qua để lao vào những chiếc tàu; gần 8,5 phần trăm trong tổng số các con tàu bị đánh chìm bởi Kamikaze.

Các nhà báo Denis và Peggy Warner, trong một cuốn sách năm 1982 (The Sacred Warriors: Japan’s Suicide Legions) cùng viết với nhà viết sử hải quân của Nhật Bản Seno Sadao, đã đếm tổng cộng có 57 chiếc tàu bị đánh chìm bởi kamikaze. Tuy nhiên, Bill Gordon, một người Mỹ chuyên nghiên cứu về Nhật Bản đặc biệt là về kamikazes, đã công bố trong một bài báo vào năm 2007 rằng có 47 chiếc tàu bị đánh chìm bởi các máy bay kamikaze. Gordon nói rằng Warner và Seno đã tính cả mười chiếc tầu không chìm. Danh sách của ông bao gồm:

ba tàu sân bay hộ tống : St Lo, Ommaney Bay, Bismarck Sea
14 tàu khu trục , bao gồm chiếc tàu cuối cùng Callaghan bị chìm vào ngày 29 tháng 7 năm 1945 ngoài khơi Okinawa

Tuyển dụng

Việc thành lập các lực lượng kamikaze yêu cầu tuyển dụng người cho công việc, điều này được chứng minh là dễ dàng hơn so với những gì các chỉ huy đã dự kiến. Các chỉ tiêu tuyển dụng là rất đơn giản ” tuổi trẻ, sự tỉnh táo và nhiệt tình, kinh nghiệm bay có tầm quan trọng tối thiểu và kỹ thuật hạ cánh là một điều gì đó quá xa xỉ (he he kamikaze lại còn biết kỹ thuật hạ cánh nữa) “. Đại úy Motoharu Okamura nhận xét rằng ” có quá nhiều tình nguyện viên cho các phi vụ cảm tử mà ông gọi họ như một bầy ong, ” và ông giải thích rằng ” Ong sẽ chết sau khi chúng đốt ” Okamura được công nhận là người đầu tiên đề xuất chiến thuật tấn công kamikaze. Ông đã bày tỏ mong muốn được dẫn đầu một nhóm tình nguyện cảm tử tấn công khoảng bốn tháng trước khi Đô đốc Takijiro Ohnishi, Chỉ huy của lực lượng không quân thuộc hải quân Nhật tại Phillippines, trình bày ý tưởng này cho nhân viên của mình. Trong khi Phó Đô đốc Shigeru Fukudome, chỉ huy của hạm đội Không lực số hai đi kiểm tra không đoàn 341, Đại úy Okamura đã có cơ hội để thể hiện ý tưởng của ông về chiến thuật đâm bổ nhào ” Trong tình hình hiện nay của chúng ta, tôi tin chắc rằng cách duy nhất để kết thúc chiến tranh trong thế có lợi cho chúng ta là bổ nhào xuống tấn công bằng máy bay của chúng ta. Không có cách nào khác. Sẽ có rất nhiều các tình nguyện viên cho cơ hội này để cứu đất nước của chúng ta và tôi muốn được chỉ huy một hoạt động. Hãy cấp cho tôi 300 chiếc máy bay và tôi sẽ làm thay đổi xu hướng của cuộc chiến”

Khi các tình nguyện viên đến để xin thi hành nhiệm vụ trong đơn vị đông gấp hai lần so với số máy bay ” Sau chiến tranh, một số chỉ huy bày tỏ sự hối tiếc vì cho phép những người không cần thiết được xuất kích cùng với các phi vụ, đôi khi họ phải tự ép mình trên (buồng lái của) những chiếc máy bay ném bom và máy bay chiến đấu để khuyến khích các phi-công cảm tử và có vẻ như họ tham gia vào việc đánh chìm một tàu lớn của đối phương” (hè hè cái này đại loại như là ba bốn người vì quá nhiệt tình đã nhảy lên buồng lái của một chiếc Kamikaze mà đáng lẽ chỉ một người là đủ) Nhiều phi-công kamikaze tin rằng cái chết của họ sẽ trả món nợ mà họ còn nợ và thể hiện tình yêu mà họ đã dành cho gia đình , bạn bè của họ và cho hoàng đế ” Vì vậy, nhiều phi-công được đào tạo tối thiểu mong muốn được tham gia vào các nhiệm vụ cảm tử và khi phi vụ của họ bị trì hoãn hoặc hủy bỏ, các phi-công trở nên rất chán nản Nhiều người trong số những người được lựa chọn cho một nhiệm vụ sẽ bị tan xác ( bodycrashing) được mô tả là cực kỳ hạnh phúc trước lần xuất kích cuối cùng của họ”

Đào tạo

” Khi bạn loại bỏ tất cả những suy nghĩ về cuộc sống và cái chết , bạn sẽ có thể hoàn toàn bỏ qua cuộc sống trần gian của bạn. Điều này cũng sẽ cho phép bạn tập trung sự chú ý của bạn vào việc tiêu diệt kẻ thù với quyết tâm vững chắc, trong khi đó nó cũng tăng cường sự xuất sắc của bạn trong kỹ năng bay – Một đoạn trích từ cẩm nang hướng dẫn của một phi-công bay cảm tử “.

phi cong nhat kamikaze

Chân dung một phi công Kamikaze trẻ tuổi

Tokkōtai đào tạo phi-công, như mô tả của Kasuga Takeo nói chung ” bao gồm đào tạo vô cùng vất vả, kết hợp với hình phạt độc ác và tra tấn như là một thói quen hàng ngày . ” Irokawa Daikichi , một trong những người được đào tạo tại Tsuchiura Naval Air Base, nhớ lại rằng ông “đã bị đánh vào mặt thường xuyên làm cho mặt của ông ta đã không còn được nhận ra nữa ” Ông cũng đã viết : “Tôi bị đánh rất nhiều và tôi không còn có thể nhìn thấy gì và ngã xuống sàn nhà. Những phút tôi thức dậy, tôi lại bị đánh bằng một cái dùi cui để buộc tôi phải nhận lỗi “, phương pháp ” đào tạo “tàn bạo này được bắt nguồn bằng các ý tưởng rằng nó sẽ thấm nhuần một ” tinh thần chiến đấu của người lính” Tuy nhiên, việc đánh đập hàng ngày và trừng phạt thân thể có khả năng đã loại bỏ chủ nghĩa yêu nước trong nhiều phi-công.

Các phi-công được cho một quấn cẩm nang hướng dẫn những chi tiết rằng họ phải suy nghĩ, chuẩn bị và tấn công làm thế nào. Từ hướng dẫn này các phi-công đã được nói đến ” đạt được một mức độ cao của huấn luyện tinh thần, “và để ” giữ sức khỏe [ của họ ] , trong điều kiện tốt nhất. ” Những điều này trong số những người khác có nghĩa là để đưa vào tư tưởng của các phi-công rằng họ phải chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đi đến cái chết .

Quấn cẩm nang hướng dẫn phi công tokkōtai cũng giải thích làm thế nào một phi-công có thể quay trở lại nếu họ không thể tìm được một mục tiêu và rằng ” [ một phi-công ] không nên lãng phí cuộc sống của mình ” tuy nhiên nếu một phi-công liên tục trở lại căn cứ sẽ bị bắn sau lần trở về thứ chín của mình.

” Chúng tôi cố gắng sống với 120 đến phần trăm, hơn là chờ đợi cái chết. Chúng tôi đọc và đọc, cố gắng tìm hiểu lý do tại sao chúng tôi đã phải chết trong tuổi hai mươi của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy tiếng tích tắc của đồng hồ tiến về phía cái chết của chúng tôi, mỗi âm thanh của đồng hồ lại rút ngắn cuộc sống của chúng tôi.”

Irokawa Daikichi , Nhật ký Kamikaze: Những phản ánh của người lính sinh viên Nhật Bản

Cuốn cẩm nang này hướng dẫn rất chi tiết về cách mà một phi-công phải làm khi tấn công. Một phi-công sẽ bổ nhào về phía mục tiêu của mình và ” mục tiêu cho một điểm giữa các tháp cầu và ngăn xếp khói ” . Bước vào một khói đống cũng được cho là ” hiệu quả “. Các phi-công được yêu cầu không nhằm đích vào tháp chỉ huy, tháp súng của con tàu mà thay vào đó là chiếc thang máy hoặc boong tàu bay để đâm vào. Đối với các cuộc tấn công theo chiều ngang, phi-công ngắm vào ” mục tiêu ở giữa tàu, hơi cao hơn so với mực nước “hoặc” Mục tiêu ở lối vào các nhà chứa máy bay, hoặc chân ống khói “nếu các mục tiêu trước là quá khó khăn.

Các hướng dẫn của tokkōtai truyền đạt với các phi-công rằng không bao giờ được nhắm mắt của họ lại. Điều này là bởi vì nếu một phi-công nhắm mắt anh ta sẽ có ít các cơ hội hơn để lao vào mục tiêu của mình. Trong những giây phút cuối cùng trước khi vụ va chạm xảy ra, viên phi-công sẽ hét lên “Hissatsu” có nghĩa là ” chết mà không thất bại “

Kamikaze trong văn hóa Nhật Bản

Năm 1944-1945 , người Nhật chịu ảnh hưởng lớn của niềm tin Shinto. Trong số những thứ khác, thờ phụng Hoàng đế được nhấn mạnh sau khi Shinto được coi như là một tôn giáo nhà nước trong thời Cải cách Minh Trị. Thời gian trôi qua, Thần đạo được sử dụng ngày càng tăng trong việc thúc đẩy tình cảm dân tộc. Trong những năm 1890, Huấn lệnh về Giáo dục của Đế chế – the Imperial Rescript on Education đã được thông qua, theo đó sinh viên được yêu cầu đọc nghi thức lời tuyên thệ của mình để ” hiến dâng cho Tổ quốc “cũng như để bảo vệ Hoàng gia . Sự hiến dâng cuối cùng là từ bỏ cuộc sống của một người. Đó là một cái chết vinh dự cho Nhật Bản và Hoàng đế. Các nhà nghiên cứu Axell và Kase chỉ ra: ” Thực tế là vô số binh sỹ, thủy thủ và phi-công đã xác định được chết để trở thành linh thiêng, ( linh hồn bảo vệ ) ” cho tổ quốc […] Nhiều người Nhật cảm thấy được thờ tại đền thờ Yasukuni là một vinh dự đặc biệt bởi vì các hoàng đế hai lần một năm đến thăm đền thờ để tỏ lòng kính trọng. Yasukuni là ngôi đền duy nhất tôn thờ những người thường, mà các hoàng đế sẽ tới thăm để tỏ sự kính trọng của mình “. người Nhật trẻ tuổi được truyền thụ từ độ tuổi sớm nhất với những lý tưởng này.

Sau khi chiến thuật kamikaze được bắt đầu, báo chí, sách vở, bài viết và những câu chuyện tôn vinh những người đánh bom cảm tử, để hỗ trợ trong việc tuyển dụng. Trong tháng 10 năm 1944, Nippon Times trích lời của Trung úy Sekio Nishina : . ” Tinh thần của đoàn cảm tử là tinh thần tuyệt vời và nó chạy trong máu của mọi người dân Nhật Bản… Cú đâm máy bay này để tiêu diệt kẻ thù và đồng thời cũng (tiêu diệt) chính mình mà không như vậy thì làm sao được gọi là tấn công đặc biệt … mọi người dân Nhật Bản đều có khả năng trở thành một thành viên của đoàn cảm tử” Các nhà xuất bản cũng nêu lên ý tưởng rằng kamikaze đã được tôn thờ tại Yasukuni và tung ra những câu chuyện phóng đại về những kamikaze dũng cảm – có cả câu chuyện cổ tích cho trẻ em nhỏ để khuyến khích kamikaze. Một quan chức Ngoại giao có tên Toshikazu Kase nói: “Đó là thói quen của GHQ [ ở Tokyo ] để tung ra những thông báo sai về chiến thắng và bỏ qua hoàn toàn sự thật và làm cho công chúng phấn chấn, tự mãn để làm tăng độ tự tin của họ “

Trong khi nhiều câu chuyện đã được làm sai lệch thì một số là sự thật ví dụ như những câu chuyện về Kiyu Ishikawa để cứu một con tàu của Nhật Bản anh đã lao máy bay của mình vào một quả ngư lôi mà một tàu ngầm đã phóng ra. Người trung sĩ này sau khi chết được thăng chức trung úy hạng hai của Hoàng đế và đã được suy tôn tại Yasukuni. Những câu chuyện như thế này cho thấy người ta sản xuất các loại ca ngợi và tôn vinh cái chết, khuyến khích thanh niên Nhật Bản tình nguyện viên tham gia lực lượng cảm tử và thấm nhuần một mong muốn trong mỗi thanh niên là được chết như là một kamikaze. 

Nghi lễ được tiến hành trước khi phi-công kamikaze khởi hành để làm nhiệm vụ cuối cùng của họ. Họ được trao lá cờ của Nhật Bản hoặc lá cờ mặt trời mọc – rising sun flag ( cờ của Hải quân Nhật Bảnu ) ghi lại lời cảm hứng về tinh thần, một khẩu súng lục Nambu hoặc katana và thông thường uống rượu Sakê trước khi cất cánh (theo em thì về cái khoản chị em các bác này cũng được đãi ngộ để nâng cao tinh thần thì phải). Họ buộc một tấm băng đầu hachimaki có hình mặt trời mọc và một chiếc senninbari – một ” vành khắn có một ngàn mũi khâu ” được thêu bằng một ngàn mũi khâu của phụ nữ. Họ cũng sáng tác và đọc bài thơ về cái chết, một truyền thống bắt nguồn từ những samurai, người sáng tác nó trước khi tiến hành mổ bụng tự tử – sepuku. Thực hiện lời cầu nguyện cho gia đình và chúng được cất giữ ở nơi lưu trữ của quân đội – military decoration.

Trong khi thông thường thì các tình nguyện viên đã lũ lượt đăng ký để được làm nhiệm vụ kamikaze, người ta cũng đồng thời lập luận rằng có sự cưỡng chế rộng lớn và áp lực liên quan đến việc tuyển dụng binh sĩ để tấn công cảm tử. Động lực ” tình nguyện ” của họ là rất phức tạp và không đơn giản chỉ là vì lòng yêu nước, mang danh dự đến cho gia đình họ. Và ít nhất một trong số các phi-công là một người Hàn Quốc nhập ngũ với một tên Nhật Bản, theo Pháp lệnh Soshi – kaimei được thông qua trước cuộc chiến tranh bắt buộc người Hàn Quốc phải lấy một cái tên Nhật Bản (rồi mới được gia nhập kamikaze).Trong số 1036 phi-công kamikaze của IJA đã chết trong những lần xuất kích từ Chiran và các căn cứ không quân Nhật Bản khác trong Trận chiến Okinawa có 11 người là người Hàn Quốc.

Theo truyền thuyết, các phi-công trẻ làm nhiệm vụ kamikaze thường bay về phía tây nam ngọn núi Kaimon của Nhật Bản ở độ cao trên m 922 ( 3.025 ft). Ngọn núi này còn được gọi là “Satsuma Fuji” (có nghĩa là một ngọn núi như Núi Phú Sĩ nhưng nằm ở khu vực tỉnh Satsuma). Các phi-công làm nhiệm vụ cảm tử nhìn qua vai của họ để thấy ngọn núi này, ngọn núi cao nhất ở phía nam trên đất liền Nhật Bản trong khi họ đang bay trong không, nói tạm biệt với đất nước và chào ngọn núi của họ.

Người dân cư trú trên đảo Kikaishima Island, phía đông Amami Oshima ( một hòn đảo thuộc quần đảo Ryūkyū của Nhật Bản ) nói rằng các phi-công từ các đơn vị làm nhiệm vụ cảm tử thả hoa trong không trung khi họ rời đi làm nhiệm vụ cuối cùng của họ. Theo truyền thuyết, những ngọn đồi ở quanh sân bay Kikaishima có rất nhiều hoa Cornflower (một loại hoa dại) nở vào đầu tháng 5.

Thời gian trôi qua, một quân nhân nổi tiếng của Nhật Bản – người sống sót sau cuộc chiến và trở thành một trong những nhân vật quan trọng của nước Nhật thời hậu chiến, Saburo Sakai – một ace củaHải quân Nhật cho biết:

” kamikaze là một cuộc tấn công bất ngờ, theo chiến thuật của chiến tranh cổ của chúng ta tấn công bất ngờ sẽ thành công lần đầu tiên, có thể lần thứ hai hoặc ba lần…. Nhưng sẽ thật là ngu ngốc nếu tiếp tục các cuộc tấn công tương tự trong mười tháng ? Hoàng đế Hirohito phải nhận ra điều này. Ông nên ra lệnh ‘Dừng nó lại ‘.

” Ngay cả bây giờ , rất nhiều khuôn mặt của các học viên ( môn học kamikaze) của tôi xuất hiện khi tôi nhắm mắt lại. Rất nhiều học viên ra đi. Tại sao Tổng hành dinh vẫn tiếp tục tấn công một cách ngớ ngẩn như vậy trong mười tháng! Đúng là ngu ngốc ! Genda người đã bỏ sang Mỹ ( bác này là chỉ lực lượng máy bay Nhật bản tấn công Trân Châu Cảng) – tất cả những người này đã nói dối rằng tất cả mọi người đều tình nguyện cho các đơn vị kamikaze. Họ đã nói dối”

Trong năm 2006, Tsuneo Watanabe – quyền Tổng biên tập tờ báo Yomiuri Shimbun, chỉ trích việc những người theo chủ nghĩa quốc gia Nhật Bản đã tôn vinh chiến thuật tấn công kamikaze:

Đó toàn là những lời nói dối mà chúng mang lại lòng dũng cảm, niềm vui và nước mắt ” Hoàng đế muôn năm ! ” Họ đã mổ các con cừu tại một lò mổ, mọi người đều nhìn xuống và đang run rẩy. Một số đã không thể đứng lên liền bị khênh lên và đẩy vào các máy bay bởi những binh sĩ làm nhiệm vụ bảo dưỡng ( máy bay)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s