Cuộc can thiệp của Liên Xô vào Tân Cương năm 1934

tan cuong 3

Tranh vẽ mô tả các thế lực trong và ngoài nước xâu xé Tân Cương năm 1933.

Đăng Phạm / ncls group

Ngày 15/11/2011, Trung Quốc khánh thành tượng đài liệt sĩ Liên Xô tại một khu vực chôn cất 79 binh sĩ Liên Xô thiệt mạng tại Tân Cương năm 1934. Vậy sự kiện này là thế nào, tại sao binh sĩ Xô Viết lại đổ máu ở vùng đất Tân Cương?

1/ Bối cảnh Tân Cương và cuộc nổi dậy Kumul (1931)

Vùng đất Tân Cương bị nhà Thanh chinh phục với chiến công của tướng Tả Tôn Đường những năm 1878. Nhưng vào năm 1912, nhà Thanh sụp đổ. Một viên tướng tên Dương Tăng Tân nhân danh Trung Hoa Dân Quốc đã chiếm quyền kiểm soát Tân Cương. Tại đây, Dương Tăng Tân duy trì quyền lợi giữa người Hán và các sắc dân thiểu số, giúp Tân Cương ổn định. Cũng trên lãnh thổ Tân Cương lúc đó, có một lực lượng hàng nghìn quân Bạch Vệ Nga, sau khi thất bại trong Nội chiến Nga, đã chấp nhận định cư và ngừng chống phá nhà nước Xô Viết.

Cầm quyền được 16 năm, Dương Tăng Tân bị ám sát. Người kế nhiệm ông, tỉnh trưởng Kim Thụ Nhân, tiếc thay lại là một người phân biệt chủng tộc. Thời kỳ cầm quyền của Kim Thụ Nhân đặc trưng bởi tham nhũng và bạo lực. Các quyền của người thiểu số, đặc biệt là người Hồi giáo bị tước đoạt. Các vị trí trong chính quyền bị thay bằng người Hán, cùng với một lực lượng cảnh sát mật đàn áp những người chống đối. Không những thế, lợi dụng sự rối ren ở Trung Quốc, Kim Thụ Nhân bí mật xây dựng mối quan hệ với Liên Xô, làm gia tăng ảnh hưởng của Liên Xô tại khu vực Tây Bắc Trung Quốc.

Bất bình với Kim Thụ Nhân, người Hồi giáo ở Tân Cương tiến hành nổi dậy chống lại Kim Thụ Nhân. Cuộc nổi dậy nổi tiếng với cái tên “Khởi nghĩa Kumul – Cáp Mật”. Tận dụng dịp này, Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch muốn loại bỏ Kim Thụ Nhân, đã sai Sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh từ Cam Túc sang Tân Cương đánh Kim Thụ Nhân. Sư đoàn 36 này có đặc điểm là có lượng lớn binh sĩ gốc Hồi.

tan cuong 2

Một người lính dân tộc Hồi trong Sư đoàn 36 của Quốc dân Đảng

Bị kẹp giữa 2 bên, Kim Thụ Nhân bỏ chạy sang Liên Xô. Nhưng Liên Xô nhanh chóng tìm người thay thế Kim, và họ chọn Thịnh Thế Tài. Thịnh Thế Tài được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng mới ở Tân Cương cùng lúc quân của Mã Trọng Anh tiến vào Tân Cương. Hết năm 1931, cuộc nổi dậy Kumul cơ bản lắng dịu, với việc cả 2 lực lượng của Mã Trọng Anh và Thịnh Thế Tài dập tắt được các nhóm quân Hồi giáo. Tuy nhiên, với việc có 2 tướng quân lớn ở Tân Cương, tình hình sau đó lại đi theo hướng xấu đi.

2/ Đấu đá giữa Thịnh Thế Tài và Mã Trọng Anh.

Cả 2 viên tướng Thịnh Thế Tài và Mã Trọng Anh đều là của Quốc Dân Đảng, nhưng lòng trung thành của họ khác nhau. Trong khi Mã Trọng Anh tuyên bố trung thành tuyệt đối với chính phủ Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch, Thịnh Thế Tài lại tỏ ra nghiêng về phía Liên Xô. Thực sự thì sau này, năm 1938, Thịnh Thế Tài đã gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô.

trinh the tai

Thịnh Thế Tài, thủ lĩnh thân Liên Xô ở Tân Cương

Thịnh Thế Tài sinh năm 1897 tại Liêu Ninh, đông bắc Trung Quốc, là người có gốc Mãn Châu. Từ sớm đã định theo binh nghiệp, nhưng do thời thế hỗn loạn ở Trung Hoa, ông bị bắt sang Nhật Bản học, đúng lúc chủ nghĩa Marx xâm nhập Nhật Bản. Thịnh tiếp cận các tài liệu cánh tả và hình thành tinh thần chống đế quốc. Năm 1919, Thịnh về nước tham gia ”Phong trào Ngũ Tứ”.

Sau khi quay lại Nhật một thời gian, Thịnh Thế Tài chính thức về Trung Quốc gia nhập quân đội, phục vụ thủ lĩnh quân phiệt Đông Bắc là Trương Tác Lâm và được thăng đến Trung Tá. Tuy nhiên, khi quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tiến hành Bắc Phạt, Thịnh đã ngấm ngầm ủng hộ. Thịnh đã câu kết với Nhật và Tưởng Giới Thạch để ủng hộ cuộc Bắc Tiến, trong lúc đó thường xuyên đi lại giữa Mãn Châu và Nhật Bản. Năm 1927, Thịnh Thế Tài từ Nhật về, đã gia nhập đoàn quân Bắc Tiến của Tưởng Giới Thạch. 1 năm sau thì Trương Tác Lâm bị ám sát.

Vào năm 1928, ở khu vực Tân Cương xa xôi phía Tây Trung Quốc xảy ra biến cố. Thống đốc được lòng dân lúc đó là Dương Tăng Tân bị ám sát. Viên thống đốc kế nhiệm là Kim Thụ Nhân lại thù ghét người thiểu số, vơ vét tài sản và tập trung quyền lực vào tay người Hán. Điều này làm dân chúng Tân Cương oán hận và chống đối Kim Thụ Nhân. Nhận thấy tình hình căng thẳng, Kim Thụ Nhân gửi thư đến Nam Kinh, nhờ Tưởng Giới Thạch phái quân đội đến bảo vệ. Năm 1930, Thịnh Thế Tài đến Tân Cương, đi qua đường Liên Xô.

Càng tăng cường quân đội của Kim Thụ Nhân, dân chúng Tân Cương càng thêm oán giận. Năm 1931, những người Hồi Giáo nổi dậy vũ trang ở Kumul (Cáp Mật). Lúc đó, chính quyền Tưởng Giới Thạch cho rằng phải loại bỏ Kim Thụ Nhân mới có thể yên được Tân Cương. Vì vậy khi nổi dậy Cáp Mật nổ ra, Tưởng đã phái lãnh chúa vùng Cam Túc lúc đó là Mã Trọng Anh sang Tân Cương đánh dẹp. Mã Trọng Anh đã mang đội quân thiện chiến của mình là ”Sư đoàn 36”, hay gọi là ”Mã Gia Quân” vào Tân Cương, nhưng cũng đồng thời chiếm đóng luôn vùng này.

Cùng lúc đó, Thịnh Thế Tài tận dụng thời cơ, được Liên Xô hỗ trợ đã lật Kim Thụ Nhân, trở thành thống đốc Tân Cương, trong lúc quân của Mã Trọng Anh cũng đang ở Tân Cương. Dù cùng là tướng Quốc Dân Đảng và đang dập tắt nổi loạn, nhưng Thịnh Thế Tài không muốn sự xuất hiện của quân Cam Túc trong lãnh thổ Tân Cương. Thịnh Thế Tài đã ra lệnh đuổi quân của Mã Trọng Anh khỏi Tân Cương.

Đến lúc này, với sự hỗ trợ của Liên Xô, Thịnh Thế Tài vươn lên thành thủ lĩnh lớn nhất ở Tân Cương. Để hỗ trợ tại chỗ cho Thịnh, Liên Xô đã thuyết phục một lực lương hàng nghìn tàn quân Bạch Vệ từ thời Nội chiến Nga đang định cư ở Tân Cương, sẵn sàng giúp đỡ Thịnh khi cần. Lúc này, tình hình ở Tân Cương như một mớ hỗn độn, có cùng lúc các lực lượng của Thịnh Thế Tài, Mã Trọng Anh, quân nổi dậy Hồi Giáo, Liên Xô, quân Bạch Vệ,…trong khi chính phủ Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch hoàn toàn mất kiểm soát.

Trong năm 1932-1933, cuộc đấu đá giữa Thịnh Thế Tài và Mã Trọng Anh đã leo thang từng bước, cuối cùng lên đến đụng độ vũ trang tại thủ phủ Urumqi vào mùa xuân năm 1933. Chính phủ Quốc Dân Đảng ở Nam Kinh, coi Thịnh Thế Tài là con rối của Liên Xô, đã bật đèn xanh cho Sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh tấn công Thịnh Thế Tài. Cuộc tấn công của Sư đoàn 36 đến cửa ngõ Urumqi thì bị chặn lại. 1800 lính Bạch Vệ Nga, trong đó có nhiều lính Liên Xô cải trang, đã đến Urumqi hỗ trợ Thịnh Thế Tài chống lại Sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh. Trận đánh Urumqi diễn ra vô cùng đẫm máu, làm 6.000 lính cả 2 bên chết trận. Kết quả là thương vong cao hơn thuộc về Sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh, khiến ông phải rút lui khỏi Urumqi.

Dù thắng trận Urumqi, nhưng sự tồn vong của chính quyền Thịnh Thế Tài vẫn không được đảm bảo. Liên Xô lo ngại một cuộc tấn công khác từ Mã Trọng Anh sẽ khiến Thịnh Thế Tài sụp đổ. Vì vậy trong năm 1933, họ đã tăng cường hỗ trợ mọi mặt cho Thịnh Thế Tài. Vũ khí, tiền bạc, cố vấn Liên Xô được gửi đến Tân Cương ngày càng nhiều. Tuy nhiên, điều nhiều người không ngờ đến là việc Liên Xô phải trực tiếp gửi quân đến Tân Cương chiến đấu sau đó.

ma trong anh

Mã Trọng Anh, chỉ huy sư đoàn 36, chống lại Liên Xô trong cuộc can thiệp năm 1934

Tháng 12 năm 1933, sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh bất ngờ mở cuộc tấn công thứ 2 vào Urumqi. Lần này quân của Thịnh Thế Tài gần như sắp sụp đổ, và ông đã chuẩn bị sẵn máy bay để trốn sang Liên Xô. Nhưng vào phút chót, Liên Xô đã thông báo cho Thịnh Thế Tài ở lại Tân Cương, và quân đội Liên Xô đã sẵn sàng vượt qua biên giới đến ứng cứu.

3/ Cuộc can thiệp của Liên Xô.

Liên Xô đã giữ lời. Tháng 1 năm 1934, 7.000 quân Liên Xô với xe tăng, máy bay, trọng pháo,…với cái tên ”Tình nguyện viên Altai” tràn qua biên giới Tân Cương. Trên đường hành quân, họ vận động thêm vài nghìn quân Bạch vệ cũ gia nhập, lên đường đến Urumqi cứu Thịnh Thế Tài.

Tuy nhiên, do không quen địa hình, quân Liên Xô đã tiến chậm và hứng chịu thương vong lớn trong 30 ngày đầu tiên. Tướng Mã Hổ Sơn, phó tư lệnh Sư đoàn 36, đã chặn quân Liên Xô suốt 1 tháng trời, khiến danh tiếng ông trở nên phổ biến trong Quốc Dân Đảng lúc đó. Tuy nhiên, tác dụng lớn nhất của cuộc điều quân này của Liên Xô, là loại Tưởng Giới Thạch khỏi cuộc chiến. Lý do là lúc này, Tưởng Giới Thạch đã chuẩn bị một lực lượng 15 vạn quân, sẵn sàng tây chinh để giúp Mã Trọng Anh dẹp Thịnh Thế Tài. Nhưng khi nghe quân Liên Xô can thiệp, Tưởng đã hủy bỏ cuộc viễn chinh.

Dù bị Mã Hổ Sơn cầm chân, nhưng quân Liên Xô đã chuyển hướng khác, tấn công trực diện lực lượng Sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh đang đóng bên bờ sông Tutung. Trong trận chiến này, Liên Xô đã ném bom mù tạt vào quân Trung Quốc. Thương vong ngày càng nặng nề, cuối cùng buộc Mã Trọng Anh phải rút lui.

Quân Liên Xô chặn đường rút lui của Mã Trọng Anh ở đèo Dawan Cheng. Tuy nhiên, lực lượng chặn đầu này lại quá ít quân, nên không đủ sức chặn được lực lượng đông đảo của Mã Trọng Anh. Gần như toàn bộ lính Liên Xô bị giết, xe bọc thép bị lật xuống hẻm núi. Phải đến khi quân Bạch vệ đuổi đến sát, Mã Trọng Anh mới cho quân tiếp tục rút lui. Câu chuyện này được chép bởi Sven Hedin, một nhà thám hiểm người Thụy Điển, đã vô tình bị Sư đoàn 36 của Mã Trọng Anh bắt trên đường họ rút lui. Lý do được giải thích là quân của Sư đoàn 36 thường xuyên cướp những chiếc xe tải họ gặp trên đường đi.

Sven Hedin sau đó rơi vào tay quân Liên Xô, khi họ chiếm thành phố Korla lớn thứ 2 ở Tân Cương vào ngày 16/3/1934. Tại đây, Hedin được gặp trực tiếp tướng Yevgeny Borisovitch Volgin, chỉ huy lực lượng Liên Xô ở Tân Cương.

Số phận của Mã Trọng Anh sau đó là một bí ẩn lớn của lịch sử. Có đến 5 giả thiết khác nhau về số phận và cái chết của ông, nhưng chủ yếu là việc ông bị bắt về Liên Xô và giết chết.

Cuộc can thiệp của quân đội Liên Xô vào Tân Cương đến đây cơ bản là thắng lợi, cứu được chính quyền của Thịnh Thế Tài thân Liên Xô.

4/ Những sự kiện sau đó.

Với sự can thiệp của Liên Xô, Thịnh Thế Tài tiếp tục duy trì quyền lực ở Tân Cương, nhưng ngày càng phụ thuộc vào Xô Viết. Tổng lãnh sự Xô viết tại Urumqi được Liên Xô bổ nhiệm, buộc Thịnh Thế Tài phải tham vấn người Nga trước khi ra bất kì quyết định gì. Tân Cương trở thành một “vệ tinh của Xô viết”, hoàn toàn do Liên Xô khống chế.

Theo yêu cầu của Joseph Stalin, Thịnh gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô vào tháng 8 năm 1938 và nhận được thẻ đảng số 1859118 trực tiếp từ tay Molotov trong chuyến thăm bí mật đến Moscow. Tân Cương dưới thời Thịnh chỉ là một phần lãnh thổ Trung Quốc trên danh nghĩa, nhưng mọi hành động của Thịnh đều do Tổng lãnh sự quán Liên Xô tại Urumqi chỉ thị.

Tuy nhiên, đến năm 1942, thấy Liên Xô suy yếu vì Thế chiến II, Thịnh Thế Tài quay sang phản bội Xô viết, trục xuất các cố vấn Xô viết và xử tử nhiều đảng viên Cộng sản người Hán, kể cả Mao Trạch Dân, em trai Mao Trạch Đông.

Tuy nhiên, khi chiến tranh xoay chuyển có lợi cho Liên Xô sau Trận Stalingrad, Thịnh lại âm mưu quay lại với Liên Xô. Stalin biết bản chất của Thịnh và từ chối giúp đỡ ông.

Thịnh rời Tân Cương năm 1944, khi đi hắn được kể mang theo cả một đoàn xe tải, chứa tài sản vơ vét trong 15 năm nắm quyền ở Tân Cương. Cha vợ của Thịnh Thế Tài là Khâu Tông Tuấn, cũng nổi tiếng tham tàn bạo ngược. Năm 1949, Quốc Dân Đảng thua trận, Thịnh Thế Tài chạy ra Đài Loan. Gia đình vợ của Thịnh ở Tân Cương, bị sát hại dã man để trả thù. Năm 1970, Thịnh Thế Tài qua đời, kết thúc một kẻ trở mặt nổi tiếng trong lịch sử hiện đại Trung Hoa.

Dù cuộc can thiệp của Liên Xô vào Tân Cương năm 1934 không có ý nghĩa gì với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng theo nguyện vọng của Nga, năm 2011 Trung Quốc quyết định khánh thành tượng đài tưởng niệm binh lính Xô Viết chết trận năm 1934 tại Công viên sinh thái Đông Sơn, khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ngày nay.


 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s