Lịch sử Cộng Hoà Bồ Đào Nha giai đoạn 1911- 1974

bo dao nha

Lê Nhật Long / ncls group

I . Nền Đệ nhất Cộng hòa

  Tháng 5 năm 1911, Chính phủ Lâm thời Bồ Đào Nha tổ chức bầu cử Quốc hội và viết bản hiến pháp mới. Ngày 21 tháng 8, bản Hiến pháp được Quốc hội phê chuẩn, chính thức phế bỏ nền quân chủ và khai sinh chính phủ cộng hòa đầu tiên của Bồ Đào Nha.Bản Hiến pháp đã hoàn tục nhà nước mới, thông qua việc phân tách nhà thờ khỏi các hoạt động của trường học và Nhà nước, nghiêm cấm quân đội tham gia các lễ nghi tôn giáo, cho phép công nhân bãi công và bổ nhiệm công chức dựa trên năng lực, giá trị của họ.

Lá cờ xanh lam – trắng của nền quân chủ cũ được thay thế bằng lá cờ xanh lục – đỏ mới với quốc huy ở giữa.Bản Hiến pháp trên còn trao quyền lập pháp cho Quốc hội Cộng hòa theo mô hình lưỡng viện, gồm Thượng viện (Senado) được bầu gián tiếp bởi chính quyền địa phương với nhiệm kỳ 6 năm, và Hạ viện (Câmara dos Deputados) được bầu trực tiếp bởi nhân dân theo nhiệm kỳ 3 năm.

Quyền hành pháp nằm trong tay nội các và Thủ tướng phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Tổng thống chỉ là nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa, quyền lực hạn chế và được bổ nhiệm bởi Quốc hội.Đảng Cộng hòa Bồ Đào Nha (Partido Repúblicano Português – PRP) là chính đảng hiện đại đầu tiên của nước này.

Dù cơ sở ủng hộ của PRP chủ yếu là tầng lớp thành thị, đảng cũng có tổ chức trên toàn quốc lan rộng đến miền nông thôn. Tuy vậy, nội bộ PRP lại không thống nhất và phân hóa thành hai phe ôn hòa và cấp tiến. Năm 1911, những cử tri cộng hòa ôn hòa và cấp tiến đã đường ai nấy đi về việc bầu cử tân Tổng thống. Ứng cử viên phe cấp tiến, đứng đầu là Afonso Costa đã bị đánh bại bởi ứng cử viên ôn hòa, lãnh đạo bởi António José de Almeida. Almeida phản đối chính sách cộng hòa quyết liệt của Costa và lo sợ ông có thể nắm được chính phủ mới.Sự chia rẽ càng sâu sắc hơn tại Đại hội Đảng tháng 10 năm 1911.

Các đảng viên ôn hòa bị đối phương la hét chế giễu và rời khỏi cuộc họp. Phe ôn hòa sau đó đã tách ra thành lập Liên hiệp Cộng hòa Quốc gia (União Nacional Repúblicana – UNR), ban lãnh đạo gồm Camacho, Almeida, and Aresta Branco. Mục đích của UNR là buộc Quốc hội thông qua một chính sách nhằm giảm thiểu tác động của chính phủ cấp tiến.

Sau cuộc chia ly này, đảng PRP đổi tên thành đảng Dân chủ (Partido Democrático -PD).Tháng 2 năm 1912, ban lãnh đạo UNR lại chia ra thành 2 đảng mới, do sự bất đồng về cương lĩnh của đảng và sự cạnh tranh giữa Camacho và Almeida. Đảng thứ nhất, Liên hiệp Cộng hòa (União Repúblicana – UR) được lãnh đạo bởi Camacho và đảng còn lại là Đảng Cộng hòa Tiến bộ (Partido Repúblicano Evolucionista – PRE), lãnh đạo bởi Almeida. Cương lĩnh 2 đảng đều tương tự nhau, tuy nhiên PRE kêu gọi thi hành chính sách trung dung ,hòa giải và chủ trương cân đối số lượng đại biểu trong Quốc hội và xem xét lại các điều luật quá hà khắc.

Sự chia rẽ của PRP, chủ nghĩa cá nhân, các cuộc đấu đá, xung đột nội bộ đã khiến chính phủ trở nên bất ổn trong thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa. Trong suốt 15 năm 8 tháng tồn tại, nền Đệ nhất Cộng hòa đã trải qua 7 cuộc bầu cử Quốc hội, 8 cuộc bầu cử Tổng thống và 45 chính phủ. Sự bất ổn càng nghiêm trọng hơn khi chính phủ phụ thuộc hoàn toàn vào Quốc hội, mà Quốc hội lại là nơi không tổ chức được phe đa số một cách ổn định. Sự bất ổn chính trị trên còn dẫn tới một số giai đoạn mà giới quân sự nắm quyền để rồi nền Đệ nhất Cộng hòa sụp đổ.

Tháng 1 năm 1915, các sỹ quan cấp cao trong quân đội ngày càng chán ghét nền cộng hòa, đã thiết lập chính quyền quân sự theo yêu cầu của Tổng thống Manuel de Arriaga. Đến tháng 5, sỹ quan cấp dưới và trung sỹ đã trao trả lại chính quyền cho dân sự và tổ chức tuyển cử, kết quả là đảng PD của Afonso Costa đắc cử.Năm 1916, thủ tướng Costa, lo sợ rằng chiến thắng của quân Đức trong Đệ nhất Thế chiến đồng nghĩa với việc Bồ Đào Nha sẽ mất các thuộc địa Angola và Mozambique ở châu Phi, đã quyết định gửi một đạo quân viễn chinh 40000 quân chiến đấu cho phe Hiệp Ước (Anh, Pháp, Nga). Do được đào tạo sơ sài và trang bị kém, đội quân này đã phải hứng chịu thương vong khủng khiếp ở Flanders.Chính thất bại này, cùng với nạn khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng, đã mở đường cho một chính quyền quân sự thứ hai, đứng đầu bởi Thiếu tá Sidónio Pais. Pais đã từng đi công tác ngoại giao bên Phổ vài năm trước, nên đồng cảm với Đức và những người chống chủ nghĩa tự đo. Là một nhân vật đầy nghị lực, có tài thuyết phục người khác, ông gầy dựng một cơ sở hậu thuẫn rộng rãi trong nhân dân.

Tuy nhiên, dần dần ông lại phụ thuộc nhiều hơn vào tầng lớp trung lưu trẻ, các sỹ quan trẻ, học sinh sinh viên và con cái của đại địa chủ, những người nệ cổ và không mặn mà mấy với tư tưởng tự do tiến bộ. Tháng 12 năm 1918, Pais bị ám sát bởi một sỹ quan cộng hòa cấp tiến vừa trở về tự tiền tuyến. Chính quyền lại về tay dân sự.

Bất ổn chính trị vẫn tiếp diễn dưới chính quyền dân sự. Một cuộc nội chiến quy mô nhỏ nổ ra ở miền Bắc Bồ Đào Nha khi phe bảo hoàng lãnh đạo bởi Henrique Paiva Couciero tìm cách khôi phục chế độ quân chủ. Một làn sóng bạo lực lan rộng khắp đất nước, và những nhân vật chủ chốt nổi bật của nền cộng hòa bị giết hại, kể cả Thủ tướng. Bất ổn và bạo loạn làm đời sống nhân dân điêu đứng. Tầng lớp trung lưu dù ban đầu đã hết lòng ủng hộ nền cộng hòa, giờ đây bắt đầu quay lại với các giá trị truyền thống trong khi các lý tưởng tự do tiến bộ dần không còn được tín nhiệm, tin tưởng.

Đến năm 1925, nền cộng hòa hứng chịu sự nhạo báng và hoài nghi từ mọi tầng lớp nhân dân. Bởi lẽ, nó chưa bao giờ giải quyết êm đẹp được các mâu thuẫn với nhà thờ. Chính sách bài tăng lữ khiến nhiều người bất mãn với chế độ, đã thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh của giới trí thức Công giáo chống đối lại thể chế đại nghị. Sự hiện thân của Đức Mẹ Fatima năm 1917 diễn ra ngay vào giai đoạn cao trào bức hại tôn giáo của Thủ tướng Costa. Những người bất mãn với chính phủ coi những chính quyền độc tài toàn trị ở Ý và Tây Ban Nha là giải pháp hữu hiệu nhất cho tình hình bấy giờ.

Nhiều sỹ quan quân đội, dù đã từng có thái độ tiêu cực về nền cộng hòa, giờ đây nghĩ rằng chỉ có họ mới có thể ngăn cản sự phân rã của Bồ Đào Nha. Tình trạng quân đội phải nhân đồng lương chết đói và trang thiết bị tồi tệ đã thúc đẩy các sỹ quan đó can thiệp vào chính quyền lần nữa.

Trong 13 tháng cuối của nền Đệ nhất Cộng hòa đã có đến 3 cuộc mưu phản đánh đổ chế độ và lần thứ ba đã thành công. Ngày 26/5/1926, tướng Manuel Gomes da Costa, chỉ huy của cuộc đảo chính được bầu chọn bởi các sỹ quan tổ chức tạo phản, tuyên bố từ Barga rằng ông sẽ hành quân đến Lisbon và cướp chính quyền. Ngay sau buổi tuyên bố là một cuộc tổng nổi dậy của quân đội. Cuộc đảo chính hầu như không vấp phải sự phản kháng nào đáng kể.

Ngày 28/5, tướng Gomes da Costa bước vào thủ đô Lisbon, phỏng theo cuộc diễu hành của Benito Mussolini tiến vào Rome năm 1922. Thủ tướng António Maria da Silva chính thức từ chức vào ngày 29/5. Và đó là dấu chấm hết cho nền Đệ nhất Cộng hòa.

 

II Chế độ Độc tài Quốc gia

89957815_647858995980901_578890239209111552_o

Tướng Gomes da Costa tiến vào Lisbon ngày 28/5/1926

 Cuộc đảo chính do quân đội Bồ Đào Nha tiến hành đã chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa hỗn loạn vào ngày 28/5/1926, bắt đầu thời kỳ độc tài quân sự kéo dài suốt 48 năm. Cuộc đảo chính hầu như không đổ máu vì chẳng có đơn vị quân đội nào chịu ủng hộ chính phủ. Ngay sau cuộc đảo chính, chính quyền mới giải tán Quốc hội, nghiêm cấm tất cả đảng phái chính trị, ban bố thiết quân luật và tiến hành kiểm duyệt các phương tiện truyền thông. Các sỹ quan cánh hữu nhanh chóng tiến hành thanh trừng, loại bỏ những thành phần ủng hộ tự do, dân chủ khỏi bộ máy nhà nước.

Ngày 30/5, Tổng thống Bernardino Machado chính thức từ chức và trao ghế lại cho Chuẩn đô đốc José Mendes Cabeçadas, một hội viên Hội Tam điểm và trung thành sắt son với nền Cộng hòa. Việc không trao lại quyền lực cho thủ lĩnh đảo chính, tướng Gomes da Costa, đã dẫn đến 2 tháng xung đột, mâu thuẫn nội bộ ngầm giữa các phe phái trong quân đội.

Các thế lực bảo hoàng trong quân đảo chính đã liên kết chặt chẽ với các nhóm cánh hữu khác, trong đó gồm nhiều sỹ quan trẻ, dù họ này không có mấy cảm tình với một nền quân chủ mà lại muốn một dạng chế độ độc tài toàn trị nhằm ổn định tình hình xã hội. Với hy vọng ngăn chặn sự trỗi dậy của một nền quân chủ hay một thể chế toàn trị, José Mendes Cabeçadas đã thành lập một chính phủ liên hiệp với Gomes da Costa vào ngày 1/6. Ngày 17/6, tướng da Costa hất cẳng Mendes Cabeçadas và những người ủng hộ ông khỏi chính phủ lâm thời. Tuy nhiên, sự thống trị của da Costa cũng chỉ là tạm thời; đến lượt ông cũng bị hạ bệ vào ngày 9/7.

Trong cùng ngày, tướng Óscar Fragoso Carmona được bộ nhiệm làm lãnh đạo chính quyền quân sự. Ngày 12/8, những sỹ quan chống đối tiến hành tấn công trụ sở Chính phủ trong lúc Nội các đang họp và nổ súng. Cuộc tấn công thất bại, Carmona giành lại được chính quyền và thiết lập kỷ luật quân đội khắc khe hơn nữa. Những sỹ quan tấn công sau đó không bị trừng phạt nghiêm trọng mà bị gửi sang thuộc địa Angola.

Chính phủ lúc này đã nằm trong tay các sỹ quan bảo hoàng và độc đoán, dường như sự khôi phục của chế độ quân chủ là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, chuyện đó không hề xảy ra. Các diễn biến trên đã dẫn đến sự phản ứng kịch liệt của một bộ phận không nhỏ sỹ quan trung thành với nền Cộng hòa cũ. Tướng Carmona, dù là một giáo dân Cơ đốc ngoan đạo đã từng lên án mạnh mẽ cuộc bức hại tôn giáo của Thủ tướng Afonso Costa, ông cũng là một trong những người ủng hộ cốt cán của nền Đệ nhất Cộng hòa. Ông chấp nhận khoan hòa những tư tưởng, đường lối khác nhau. Carmona khéo léo duy trì sự cân bằng giữa những sỹ quan bảo hoàng và cộng hòa nhằm đảm bảo sự sống còn của chính quyền quân sự. Ngày 25/8/1928, Carmona được bầu làm Tổng thống và bổ nhiệm đại tá José Vicente de Freitas, một người Cộng hòa cùng chí hướng làm Thủ tướng. Hy vọng khôi phục ngai vàng Bồ Đào Nha đã bị dập tắt.

Sự trỗi dậy của António de Oliveira Salazar

António de Oliveira Salazar (28/4/1889 – 27/7/1970) sinh ra trong một gia đình tiểu địa chủ Công giáo mộ đạo. Năm 1910, ông theo học luật ở Trường Đại học Coimbra. Trong những năm tháng ở trường đại học, ông nghiên cứu chuyên sâu về ngành luật với tài chính và ông rất xuất sắc trên 2 lĩnh vực này. Năm 1914, ông tốt nghiệp với điểm số 19/20, một thành tích đặc biệt xuất chúng thời bấy giờ, danh tiếng của ông bắt đầu lan xa khắp nước.

Thời thanh niên của ông cũng là thời kỳ của nền Đệ nhất Cộng hòa. Chứng kiến sự hỗn loạn, tham nhũng hoành hành và bài bỏ Giáo hội bấy giờ, chàng trai trẻ Salazar đã sớm hình thành tư tưởng, đường lối cho mình. Ông tin rằng thể chế đại nghị và chủ nghĩa tự do cá nhân có thể hoạt động tốt ở Anh Quốc hay Hoa Kỳ, nhưng không hề phù hợp với văn hóa và lợi ích quốc gia Bồ Đào Nha, khiến đạo đức suy thoái, xã hội bệ rạc, chia rẽ. Ông sớm tham gia các hoạt động chính trị và được đánh giá là một trong những bộ óc ưu tú nhất của thế hệ trẻ Bồ Đào Nha

Tướng Óscar Fragoso Carmona sớm nhân ra tiềm năng của Salazar và bổ nhiệm ông vào vị trí Bộ trưởng Tài chính. Ông đồng ý, với điều kiện là ông phải được toàn quyền quản lý sự chi tiêu của chính phủ. Ngay trong năm đầu tiên giữ chức Bộ trưởng, ông không chỉ ổn định được ngân sách quốc gia mà còn đạt được thặng dư, lần đầu tiên kể từ năm 1913.

Ông đã đạt được thành tựu trên thông qua việc tập trung quyền điều khiển tài chính , cải thiện việc thu ngân sách và cắt bớt chi tiêu công. Ông vẫn tiếp tục giữ ghế Bộ trưởng Tài chính trong những nội các sau.

Cái bóng của Salazar đã che khuất các Thủ tướng quân sự và dần dần, ông đã có được lòng trung thành, ái mộ của tầng lớp trí thức trẻ và sỹ quan quân đội, những người đồng tình với tư tưởng độc đoán, bài tự do và chống Cộng của ông. Hơn nữa, quyền thế của ông còn được củng cố bởi Giáo hội, từ lâu đã căm ghét chính quyền bài Cơ đốc cũ và coi Salazar là một đấng cứu tinh của giáo dân. Giới địa chủ, doanh nhân và chủ ngân hàng cũng biết ơn ông vì những thành công rực rỡ của ông trong khôi phục và phát triển kinh tế đất nước sau cuộc khủng hoảng tài chính thời Đệ nhất Cộng hòa. Và António de Oliveira Salazar đã bước đến rất gần đến dỉnh cao quyền lực, mở ra một giai đoạn mới cho Bồ Đào Nha.

III . Kỷ nguyên Estado Novo

bo dao nha

Phụ nữ Bồ Đào Nha tham gia tuần hành chính trị

Những đóng góp của thiên tài António de Oliveira Salazar đã cải thiện đời sống nhân dân rất nhiều và vực dậy nền kinh tế trì trệ của Bồ Đào Nha. Những công lao của Salazar đã đưa ông lên trở thành bộ mặt biểu tưởng của chế độ độc tài quân sự. Tương lai của nước Bồ Đào Nha giờ đây nằm trong bàn tay ông, để ông tùy ý định đoạt. Là một con người tham vọng và có tầm nhìn xa, ông đã vạch ra đường lối phát triển cho tương lai đất nước. Đường lối đó được Salazar nêu ra trong 2 bài diễn văn. Trong đó, ông khẳng định sự cấp thiết cần phải xây dựng một bản Hiến pháp mới cho một chế độ mới, một chế độ toàn trị với guồng máy chính trị mạnh mẽ có thể duy trì được trật tự xã hội.

Giới quân sự nắm quyền hưởng ứng nhiệt liệt diễn văn của ông. Và thế là vào ngày 5/7/1932, toàn thể chính quyền của tướng Júlio Domingos de Oliveira buộc phải đồng loạt từ chức, nhường lại ghế Thủ tướng cho Salazar.

Năm 1933, bản Hiến pháp mới ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử Bồ Đào Nha. Chế độ Estado Novo (Nhà nước Mới, Chế độ Mới) được khai sinh, về sau các sử gia gọi là nền Đệ nhị Cộng hòa. Theo Hiến pháp, Tổng thống sẽ được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 7 năm và Thủ tướng sẽ được bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.

Thực ra quyền hạn của Tổng thống và Thủ tướng được quy định rất mập mờ. Tổng thống hầu như không có chút quyền lực nào, chỉ xuất hiện trước công chúng vào một số dịp đặc biệt. Ngược lại, chức vụ Thủ tướng, vẫn do Salazar nắm giữ, mới là người đứng đầu Nhà nước.Ông thực thi các chức năng hành pháp lẫn lập pháp, điều hành chính quyền địa phương, bộ máy cảnh sát và đồng thời lãnh đạo Liên hiệp Quốc gia (União Nacional – UN), chính đảng hợp pháp duy nhất quy tụ những ai ủng hộ chế độ.

Cũng chỉ những đảng viên UN mới có thể bước vào Quốc hội. Quốc hội nằm quyền lập pháp hạn chế, chỉ có thể thảo luận và quyết định những vấn đề không ảnh hưởng đến ngân sách Nhà nước.

Lần đầu tiên, phụ nữ được phép đi bầu cử và ứng cử, có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nam giới. Tuy vậy, những định chế về học vấn và tài sản chỉ cho phép khoảng 20% dân số được tham gia hoạt động chính trị, dù vậy tỷ lệ này vẫn cao hơn rất nhiều so với nền Đê nhất Cộng hòa.

Năm 1945, Salazar đưa ra một số chính sách mang tính dân chủ hơn đôi phần. Các tù nhân chính trị được ân xá và kiểm duyệt được nới lỏng. Nhân thời cơ, các lực lưởng tự do đã thông nhất thành Phong trào Liên minh Dân chủ (Movimento de Unidade Democrática – MUD) để cạnh tranh và gây áp lực lên chính quyền toàn trị, nhưng ít lâu sau họ cũng vắng bóng khỏi chính trường do bị cảnh sát kiểm soát nghiêm ngặt và không được nhiều người ủng hộ.

Chỉ trong vài năm đầu, chính quyền mới đã thanh toán toàn bộ công nợ, tạo ra một hệ thống tiền tệ ổn định, một cán cân ngoại thương có lợi, đạt được thặng dư trong dự trữ ngoại tệ lẫn ngân khố. Tuy nhiên, đa phần người dân Bồ Đào Nha vẫn nằm trong số những người nghèo nhất Âu châu. Những chính sách kinh tế tài chính của Salazar đè nặng trên vai của tầng lớp lao động nghèo. ngăn cản dự định của ông nâng cao chất lượng sống của nhân dân.

Chính quyền ổn định và nền kinh tế non trẻ đang độ sung sức của Bồ Đào Nha hấp dẫn rất nhiều nguồn đầu tư từ nước ngoài. Nguồn nhân công rẻ và lời hứa về giá cả cạnh tranh của các mặt hàng Bồ Đào Nha khiến nhiều nước không thể cưỡng lại mà đổ xô vào đầu tư, đặc biệt là các ngành cần dùng nhiều lao động chân tay vốn đã không còn mang lại lợi nhuận cao ở các nước Bắc Âu.

Tuy vậy, công cuộc phát triển thuộc địa vẫn là chính sách ưu tiên hàng đầu. Salazar đã nhấn mạnh rằng các lãnh thổ hải ngoại cần được phát triển tốt để không chỉ tự lực cánh sinh, không cần trợ giúp từ mẫu quốc, mà còn có khả năng cung cấp đều đặn các mặt hàng Bồ Đào Nha không thể tự sản xuất. Như vậy, về cơ bản, chính sách ông đã tạo nên tiền đề cho sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế Bồ Đào Nha về sau.

IV . Bồ Đào Nha trong Đệ nhị Thế chiến

Trong những năm trước WWII, Salazar củng cố mối quan hệ tốt đẹp với hầu hết các quốc gia trên thế giới, trừ Liên Xô. Mong muốn giữ cho nước Bồ Đào Nha được trung lập, ông đã ký một loạt hiệp định không xâm phạm lẫn nhau với các cường quốc Âu châu trong Nội chiến Tây Ban Nha (1936 – 1939). Tuy vậy, các hoạt động quân sự của Liên Xô cộng với các chính sách thiên tả của Cộng hòa Tây Ban Nha buộc Salazar phải hậu thuẫn cho phe Quốc gia của Francisco Franco, bằng cách cho phép 20000 tình nguyện quân đến chiến đấu cho Franco. Cuộc chiến khốc liệt dần lan rộng, Salazar đành huy động thành lập Binh đoàn Bồ Đào Nha (Legião Portuguesa) để củng cố tình hình trị an đất nước.

Là con chiên ngoan đạo, Salazar ngưỡng mộ Benito Mussolini vì đã giải quyết êm đẹp xung đột giữa Tòa Thánh Vatican và Nhà nước Ý, nhưng ông không ưa chính quyền Đức Quốc Xã bởi những chính sách hạn chế, đàn áp tôn giáo của họ (Đức Quốc Xã chú trọng khoa học và từ chối lý luận thần học của Cơ đốc giáo). Ông còn kịch liệt phản đối cuộc xâm lược Ba Lan, một nước theo Công giáo, cũng như ngấm ngầm ủng hộ phe Đồng Minh từ sớm.

Bồ Đào Nha vẫn duy trì chính sách trung lập trong WWII, nhưng vẫn giữ nguyên hiệp định liên minh Anh – Bồ truyền thống. Theo đó, Anh sẽ cố gắng bảo vệ tình trạng trung lập và chủ quyền của Bồ Đào Nha, đổi lại, Bồ Đào Nha sẽ cho Anh, Mỹ xài ké căn cứ quân sự ở quần đảo Azores và cung cấp các mặt hàng như đồng và crom để tiếp sức cho nền công nghiệp thời chiến của phe Đồng Minh. Dù đã tuyên bố trước cộng đồng quốc tế, song không phải nước nào cũng tôn trọng sự trung lập của Bồ Đào Nha, đặc biệt là Nhật. Ngày 19/2/1942, nghe được tin một toán quân Đồng Minh đang tạm trú ở Timor thuộc Bồ, quân Nhật tiến hành đổ bộ lên hòng truy kích bằng hết lính Đồng Minh. Sau 3 ngày chiến đấu ác liệt, một bộ phận lớn đầu hàng quân Nhật. Tuy nhiên, khoảng vài trăm lính Úc rút vào rừng sâu, tiếp tục kháng cự ngoan cường. Bị cả hai phe tham chiến xâm phạm lãnh thổ, nhưng với Salazar thì sự hiện diện của quân Nhật đáng lo ngại hơn rất nhiều. Vì vậy, ông đã ra chỉ thị mật, kêu gọi các đơn vị lính Bồ đồn trú cùng toàn thể nhân dân Timor che chở, tiếp tế và phối hợp với quân Đồng Minh tổ chức chiến tranh du kích kháng Nhật, khiến cả sư đoàn sa lầy trên đảo Timor trong suốt cuộc chiến, tạo điều kiện thuận lợi cho quân Đồng Minh tập kết và mở các chiến dịch tấn công quân Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương.

Trong chiến tranh, bên cạnh Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha là niềm hy vọng cho những ai muốn tỵ nạn. Các số liệu thống kê khoảng 100 ngàn đến 1 triệu người đã từng lưu vong tỵ nạn ở Bồ Đào Nha, một con số rất lớn nếu đem so với dân số 6 triệu của Bồ Đào Nha thời bấy giờ. Ngày 26/6/1940, 4 ngày sau khi Pháp đầu hàng Đức, Salazar cho phép di dời trụ sở chính của Hội Hỗ trợ người nhập cư Do Thái (HIAS) từ Paris về Lisbon. Tháng 7/1940, cư dân ở Gibraltar (một lãnh thổ của Anh nằm trên bán đảo Iberia) được sơ tán, đề phòng bị quân Đức – Ý đánh úp, riêng tỉnh Madeira chấp nhận chứa 2500 người tỵ nạn, đa phần là phụ nữ và trẻ em. Năm 2010.một bia tưởng niệm công lao của nhân dân Madeira được dựng nên tại đây. Theo chỉ đạo của Salazar, đại sứ Bồ Đào Nha tại Hungary Carlos Sampaio Garrido đã che giấu và bảo vệ cho khoảng 1000 người Do Thái. Ngày 28/4/1944, cảnh sát mật Gestapo đột kích vào nơi ở của đại sứ, bắt giữ ông và tất cả những người trong nhà lúc đó, nhưng sau đó ông được thả ra. Năm 2010, Garrido được ghi công tại Yad Vashem và phong tặng danh hiệu Người danh ngoại công chính vì những đóng góp của ông trong việc bảo vệ và giải cứu người Do Thái.

Những ngày hậu chiến

Sau chiến tranh, năm 1949, Bồ Đào Nha trở thành một trong những thành viên sáng lập của khối NATO, nhưng phải đến năm 1955 Bồ Đào Nha mới được chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc do bị Liên Xô ngăn cản. Vào thập niên 50 – 60, mô hình kinh tế của Salazar dần lỗi thời, kinh tế Bồ Đào Nha không còn phát triển nhanh chóng như trước nữa. Tuy vậy, ông vẫn duy trì đường lối cũ sau hàng chục năm vận hành. Thế rồi Salazar cũng vẫn chấp nhận cởi mở thoáng hơn một chút trong bối cảnh hậu chiến, chẳng hạn như cho phép các đảng đối lập được hoạt động công khai ở mức độ hạn chế, người dân được tự do ngôn luận, có quyền chỉ trích Nhà nước trong một chừng mực nào đó.

Bồ Đào Nha tiếp tục từ chối thi hành yêu sách của Liên Hiệp Quốc về vấn đề trao trả độc lập cho thuộc địa. Thay vào đó, Angola, Mozambique, Guinea, Goa và Timor được chính thức sáp nhập thành tỉnh hải ngoại của Bồ Đào Nha với địa vị ngang hàng với các tỉnh nội địa. Goa tuy có diện tích nhỏ bé nhưng lại là một thuộc địa cực kỳ phát triển, bình quân đầu người cao ngất ngưỡng. Ấn Độ từ lâu luôn thèm khát Goa, muốn sáp nhập mảnh đất trù phú này vào nước mình, vì vậy luôn tìm cách khiêu khích, kiếm cớ. Ngày 18/12/1961, quân Ấn xâm lược (hay nói theo cách của họ là giải phóng) Goa và đến ngày hôm sau thì làm chủ được hòn đảo này. Sự kiện này đến nay vẫn gây ra nhiều ý kiến trái chiều từ dư luận quốc tế, người thì ca ngợi sự sáp nhập đảo Goa là một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, kẻ thì lên án hành vi này là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ Bồ Đào Nha một cách trắng trợn.

Không chỉ mất Goa, Bồ Đào Nha còn vấp phải phong trào đấu tranh vũ trang chống lại chính quyền và đến năm 1964 thì còn lan ra cả Mozambique và Guinea. Tính đến năm 1974, hơn 140 000 quân, tức 80% quân số Bồ Đào Nha hiện diện ở châu Phi để trấn áp các cuộc nổi dậy (Fact: hơn 60% lực lượng Bồ Đào Nha tác chiến tại châu Phi là người da đen).

Thương vong của quân Bồ khá nhẹ, và phần lớn các trận chiến đều diễn ra với quy mô nhỏ, cách xa những khu tập trung dân cư đông đúc. Chỉ có Guinea là quân nổi dậy giành được quyền kiểm soát phần lớn lãnh thổ. Chung quy, lính Bồ Đào Nha đã kiểm soát được tình hình và cô lập các lực lượng phiến quân. Theo nhiều nhà quan sát, dường như Bồ Đào Nha vẫn có thể tiếp tục trụ vững tốt và cuộc chiến coi như đã kết thúc với phần thắng nghiêng về Bồ Đào Nha.

Các cuộc chiến tranh thuộc địa trên không hề ảnh hưởng đáng kể đến sự ổn định của kinh tế Bồ Đào Nha và các tỉnh hải ngoại. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt mức 5% – 7%. Sản xuất vẫn tiếp tục tăng vọt ở Angola và Mozambique, nhất là những đô thị lớn. Một dự án lớn nhằm phát triển nông thôn Mozambique được tiến hành, bên cạnh dự án khai thác dầu khí tại vùng Cabinda của Angola (trớ trêu thay, phần lớn vốn đầu tư để thực hiện các dự án đó lại đến từ các nước lên án chế độ thực dân).

Có lẽ Salazar chính là người để lại dấu ấn đậm sâu nhất trong lịch sử Bồ Đào Nha hiện đại. Sau 40 năm cai trị Bồ Đào Nha, cuối cùng tháng 6/1968, Salazar hứng chịu một cơn trụy tim nặng, phải rút lui khỏi chính trường, đến năm sau thì ông qua đời.

Giờ tàn cuộc

Sau cái chết của Salazar, Marcello José das Neves Caetano được bổ nhiệm làm Tân Thủ tướng. Caetano là một giáo viên, luật sư và là một học giả có uy tín trên quốc tế. Ông cũng là một trong những người tham gia soạn thảo Hiến pháp năm 1933. Ông có tư tưởng ôn hòa và ủng hộ các trào lưu tiến bộ ở châu Âu đương thời. Năm 1960, Caetano từ chức Hiệu trưởng Đại học Lisbon nhằm phản đối cảnh sát đàn áp sinh viên biểu tình. Không như Salazar, ông xuất thân từ tầng lớp trung lưu, là một chính trị gia hoạt bát, năng động và tiếp xúc rất nhiều với mọi tầng lớp trong xã hôi.

Ông tích cực đề xuất mở cửa cho Bồ Đào Nha và ủng hộ xây dựng thị trường tự do, đặt trọng tâm lên tiêu dùng hàng hóa mà lại chưa chú trọng đến sản lượng sản xuất. Về dài hạn thì chính sách này tạo điều kiện để cải cách kinh tế Bồ Đào Nha theo hướng mới về sau, tuy nhiên trước mắt lạm phát bắt đầu tăng cao trong những năm đầu thực hiện, điển hình là gạo và cá tuyết, hai thứ thực phẩm quan trọng hàng đầu của công nhân lạm phát đến 15%

Caetano không có nhiều quyền lực như Salazar, cũng như không tài năng bằng người tiền nhiệm của mình. Vì vậy, trong lúc đó, Tổng thống Tomás, một nhân vật cực kỳ bảo thủ được hậu thuẫn mạnh mẽ từ giới chính trị gia cánh hữu dần dần chiếm được nhiều quyền lực hơn. Tomás đe dọa sử dụng quân đội để gây áp lực lên Caetano, buộc ông phải thủ tiêu các chính sách tự do.

Tuy nhiên, giới quân đội Bồ Đào Nha của năm 1974 giờ đã khác hoàn toàn với thời Salazar mới cầm quyền. Từ sỹ quan, tướng lĩnh đến người binh nhì đều thấm nhuần tư tưởng tiến bộ của thế giới đương thời. Họ không muốn phải sống dưới một chế độ kiềm hãm quyền tự do của con người chỉ để đổi lấy miếng cơm sống qua ngày. Cộng thêm các cuộc chiến tranh thuộc địa dù không đổ máu nhiều nhưng đã khiến binh sỹ mệt mỏi, chán chường sau 20 năm chinh chiến. Vì lẽ đó, binh sỹ Bồ Đào Nha đã thành lập Phong trào Quân lực (Movimento das Forças Armadas – MFA) nhằm đấu tranh chống chế độ.

Ngày 25/4/1974, Cách mạng Hoa cẩm chướng bùng nổ, binh lính MFA tấn công các trụ sở của chính quyền và bắt giữ Caetano cùng Tomás. Chính quyền quân sự lâm thời được thiết lập do tướng António de Spínola lãnh đạo nhằm trông coi đất nước trong lúc chờ đợi một chế độ mới thay thế.

Kết:

Có lẽ nước Bồ Đào Nha vào những năm 1990 sẽ rất xa lạ đối với những ai đã từng viếng thăm đất nước này lần cuối vào thời điểm thời điểm ngay trước khi Cách mạng bủng nổ năm 1974. Tất cả những gì bị kìm hãm trong xã hội cũ được cởi trói và vùng lên: nhạc pop, văn hóa hippie, quyền dân chủ và tự do cá nhân,… Sau cách mạng, Bồ Đào Nha từng bước hiện đại hóa và được chính thức chấp nhận trở thành thành viên của Cộng đồng Châu Âu (EC), sự thay đổi trong xã hội vẫn tiếp tục tiếp diễn, nhưng không mãnh liệt như những năm 1970, thời điểm chính quyền quân sự thực hiện cải tổ triệt để trên mọi lĩnh vực.

Trước năm 1974, Bồ Đào Nha là một xã hội câu nệ truyền thống. Các tầng lớp trong xã hội bị chia rẽ rạch ròi, cứng ngắc. Một người sinh ra trong tầng lớp nào thì sẽ phải sống mãi trong tầng lớp đó đến cuối đời. Từ cách ăn mặc, đi đứng, nói chuyện, xử sự đều được quy định cụ thể. Nhiều người đến đây mà cứ tưởng là mình đang thăm một đất nước ở thế kỹ XIX.

Nhưng ngay trong xã hội bảo thủ ấy, sự thay đổi cũng đã ngấm ngầm hình thành nhờ sự phát triển của nền kinh tế vào những năm 60. Tầng lớp trung lưu và các công đoàn ngày càng đông đảo và mạnh mẽ hơn, tiếp thu những yếu tố mới từ bên ngoài nhiều hơn, tạo tiền để cho những cải tổ về sau.

Về sau, khi đã thiết lập nền chế độ dân chủ Đệ tam Cộng hòa, những di sản về mặt xã hội để lại từ thời Estado Novo vẫn còn đó. Đó là những áp lực về giáo dục, ruộng đất, công việc, y tế, nhà ở và bình đẳng xã hội vẫn chồng chất trên vai nền Cộng hòa non trẻ. Mặc dù có những bước tiến vượt bậc trong kinh tế – tài chính những năm 80 – 90, Bồ Đào Nha vẫn là một nước nghèo tính theo tiêu chuẩn của phương Tây.

Hơn nữa, những kỳ vọng quá cao của nhân dân vượt quá khả năng đáp ứng của chế độ mới cũng là một khó khăn. Tham gia vào EC vào năm 1992 đồng nghĩa với việc không còn thuế quan cho hàng hóa nhập vào Bồ Đào Nha lại càng gây trở ngại cho Bồ Đào Nha.

ất chấp những khó khăn trên, Bồ Đào Nha dần tiến gần hơn với tương lai mới: Một thời kỳ ổn định, dân chủ chờ đón nước Bồ Đào Nha.


Nguồn tư liệu tham khảo:
http://history-of-portugal.blogspot.com/2010/03/first-and-second-republic-1910-1974.html
https://en.wikipedia.org/wiki/Estado_Novo_(Portugal)
https://en.wikipedia.org/wiki/Portugal_during_World_War_II
https://www.britannica.com/place/Portugal/The-New-State-after-Salazar

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s