Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi (Bài 1)

Nhà lý.jpg

Lê Tư

Bình Ngô đại cáo, gọi gọn là Đại Cáo, có lẽ là văn bản được quan tâm nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, không chỉ bởi người Việt mà còn bởi học giả ngoại quốc. Quan niệm về Đại Cáo thay đổi theo thời và không gian. Riêng ở Việt Nam, từ lúc văn bản được chuyển sang quốc ngữ, chủ yếu nó được đọc và hiểu dưới tán che của chủ nghĩa dân tộc. Góc nhìn đặc biệt cường điệu mang lại phấn chấn cho cả người giải thích lẫn người được giải thích, tuy nhiên, nhiều yếu tố quan trọng khác của văn bản vô tình bị bỏ qua. Bài viết này nhặt nhạnh những gì chìm lấp để dựng lại giá trị của Đại Cáo đúng như nó đã từng có.

Trước hết, xin lược qua một số ý kiến liên quan đến Đại Cáo từ vài nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

I .CÁC HỌC GIẢ VÀ ĐẠI CÁO

Stephen O’Harrow (1979)

Stephen O’Harrow, giáo sư Ngữ văn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Hawai’i at Mãnoa, Hoa Kỳ. Ông chuyên giảng dạy, nghiên cứu ngôn ngữ-văn chương, các văn bản thời thuộc địa-tiền thuộc địa và phim ảnh tại Việt Nam. Ông còn là giáo sư tiếng Việt của Phân khoa Ngữ Văn khu vực Ấn Độ-Thái Bình dương.

Dưới đây chỉ xét riêng bài báo tựa đề “Bình Ngô đại cáo 平吳大誥 năm 1428: Sự Phát Triển Một Căn Cước Dân Tộc Việt Nam” đăng trên tạp chí Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 1 vào tháng 3 năm 1979.(1)

O’Harrow đã cẩn thận điểm lại nguồn gốc và đi vào tiểu sử Nguyễn Trãi từ ngoại tổ Trần Nguyên Đán, thân phụ Nguyễn Phi Khanh để từ đó tìm hiểu sự hình thành suy nghĩ trình bày trong Đại Cáo. Ông cho rằng thông qua bài cáo, Ức Trai đã kêu gọi một ý thức về căn cước dân tộc Việt Nam.

Theo giáo sư: khi đặt chúa Lam Sơn ngang hàng với Câu Tiễn hay Lưu Bang, Ức Trai đã làm nên một chân chúa xứng đáng để tầng lớp ưu tú thần phục. Soạn giả cảm nhận được khao khát của dân tộc về một anh hùng thật nhưng mang tầm vóc sử thi; ông tin rằng việc xây dựng hình tượng văn học tương hợp với con người bằng xương thịt sẽ cùng lúc cung cấp một nhân vật vừa có khả năng thống nhất các vùng, các tầng lớp, vừa kết hợp được tinh túy quá khứ với hiện tại. Như thế tạo ra cảm thức về sự liên tục lịch sử trên cơ sở đạo đức rất cần thiết vào thời điểm bấy giờ.

Đối chiếu các văn bản hình thành trong quá trình chống giặc Bắc trước đó như thơ chống Tống đời Lý, hịch chống Nguyên đời Trần, O’Harrow phát hiện một số yếu tố mang tính dân tộc trong Đại Cáo chống Minh. Thay vì khuyến khích kháng cự dựa vào cách biệt địa dư thiên định như thơ kháng Tống, qua danh dự và quyền lợi cá nhân như hịch kháng Nguyên, Nguyễn Trãi đã nêu chiến công mẫu mực của anh hùng Việt, đã đề cập đám đông “manh lệ”. Giáo sư nhận thấy viễn kiến về dân tộc được Ức Trai trình bày hợp lý và toàn diện hơn.

Trên hành trình tìm hiểu bước phát triển của khái niệm dân tộc trong Đại Cáo, O’Harrow làm sáng tỏ nhiều điểm liên quan.

Tin rằng tựa đề chính thức của bài văn chúng ta đang bàn là “Bình Ngô đại cáo”, O’Harrow tìm hiểu “Ngô” mang những nghĩa gì. Theo ông, Nguyễn Trãi đã ngầm so sánh đối kháng Minh-Việt với mối thù Ngô-Việt giữa Phù Sai và Câu Tiễn thời Xuân Thu chiến quốc. Có thể xem Lê Lợi như hậu duệ nước Việt xưa, Minh ở vị trí nước Ngô thời cổ. Như vậy, “Bình Ngô” hàm ý giải quyết thành công hận thù lưu cữu. Ngô còn là tên một nước trong tam quốc, đô tại Kiến Nghiệp (Nam Kinh nay), đương thời kiểm soát vùng đất Giao Chỉ Cửu Chân. Mặt khác, thủ phủ Tập Khánh (Nam Kinh nay) cũng chính là nơi Minh Thành tổ Chu Nguyên Chương phát khởi sự nghiệp, có lúc họ Chu mang tước “Ngô quốc công” hoặc “Ngô vương”. Như vậy, “Bình Ngô” nêu rõ địa chỉ tư gia của đối phương.

Về nội hàm hai chữ nam-bắc trong “Nam bắc chi phong tục diệc dị 南北之風俗亦異”, O’Harrow không nghĩ đó là hai miền nam bắc thuộc Đại Việt như các dịch giả Ưng Quả, Cao Xuân Huy-Gamarra và Trương Bửu Lâm, đã hiểu. Ông dùng một bức thư gửi Lương Nhữ Hốt trong Quân trung từ mệnh tập để lập luận rằng “Bắc” chỉ China và “Nam” chỉ Việt Nam. Ông nhận thấy hai bản dịch mới nhất từ Hà Nội của Nguyễn Khắc Viện và D.T.B. cũng thể hiện Bắc-Nam theo nghĩa như vậy.

O’Harrow xem Đại Cáo chủ yếu hướng về tầng lớp ưu tú biết đọc chữ Hán, những kẻ nhìn vua Lê bằng cặp mắt e dè. Theo ông, Nguyễn Trãi có thể dùng Nôm để soạn thảo vì ông thiện nghệ làm văn bằng tiếng mẹ đẻ; hơn nữa, Hồ Quý Ly từng khích lệ phổ biến chữ Nôm trước đó. Tuy nhiên văn ngôn Hán được lựa chọn có chủ ý như một thừa nhận thầm lặng vai trò xã hội của lớp tinh hoa; hành động này dù có thể thông cảm nhưng lại khá mỉa mai đối với giới cần lao hiện diện quanh Lê Lợi vào thời điểm cần kíp.

Nhận xét giá trị nhất của Stephen O’Harrow có lẽ là về cách vận dụng Nho học tại Việt Nam. Ông quan niệm rằng trí thức Việt thế kỷ XV khai thác mọi khía cạnh của Nho giáo để quản trị xã hội vì họ xem chúng như công nghệ quản lý tiên tiến nhất thời đó. Đạo Nho hình thành một khuôn khổ để sự kiện xảy ra bên trong nó nhưng không là động lực thúc đẩy sự kiện. Tương tự ngày nay (năm 1979), người Việt áp dụng chủ nghĩa Marxism không vì bắt chước Liên Xô hay Trung quốc mà vì nhắm đạt được mục đích sau cùng. Họ xem Nho giáo hay Marxism chỉ như phương tiện.

O’Harrow tổng kết như sau:

Nếu dành chút thời gian tiếp nhận thế giới quan của Nguyễn Trãi, chúng ta hẳn đi ngay đến kết luận rằng quan niệm xem Việt Nam như một phiên bản Trung Hoa thực quá đỗi sai lầm. Với ông Nguyễn, các định chế Hoa Hán hoàn toàn không thuộc về Trung Hoa và Việt Nam không là một thực thể bên ngoài bắt chước các định chế ấy. Đúng hơn họ là những người cùng chia xẻ một phạm vi rộng lớn – điều này gợi nhớ sợi dây Cơ Đốc ràng buộc các ông hoàng và các dân tộc ở châu Âu sơ kỳ trung đại khi họ đối mặt với quân Norseman vô thần. Chính dựa vào lý lẽ này mà Nguyễn Trãi qua Bình Ngô đại cáo đã khai thác mọi mặt truyền thống Trung Hoa để chỉ ra tính đúng đắn của việc ngăn trở các ý đồ từ người Minh. Khi làm như thế, ông đã tiến một bước về hướng biến truyền thống đó thành phổ quát. Sự phổ quát hóa xác lập trật tự thế giới của Nguyễn Trãi, thế giới mà Việt Nam chiếm chỗ vừa vặn một cách độc lập, căn cước Việt Nam được bảo đảm bởi tự nhiên và bởi những con người đức độ sinh sống trong cương thổ của nó.

Bài viết thực sự độc đáo và gợi mở. Tuy nhiên, sau bốn mươi năm, dễ nhận ra vài điểm có thể tường thuật rõ ràng hơn. Tác giả đã khai thác tài liệu thứ cấp để thuật lại tiểu sử Ức Trai. Theo thiển ý, tiểu truyện như thế đậm chất giai thoại. Vì khởi điểm sai O’Harrow mới tin rằng tư tưởng thể hiện trong Đại Cáo là của Nguyễn Trãi, thậm chí giả định cả trường hợp ngòi bút chi phối thanh gươm. Ông không biết rằng vấn đề quân sự, dân tộc, quyền mưu… mà Đại Cáo hay Quân trung từ mệnh tập nêu ra chưa bao giờ là chủ đề trăn trở trong các sáng tác Hán cũng như Nôm của cá nhân quan Thừa chỉ. Ức Trai chẳng quan tâm nhiều tới chúng, ông chỉ truyền đạt mọi sự theo ý chủ tướng.

Về từ ngữ, những từ như “Trung Hoa” (China) hay “Việt Nam” (Vietnam) chưa đủ tinh tế để đại diện nước Minh hay Đại Việt đương thời. Khái niệm “độc lập” (independence) dành cho An Nam cũng thiếu tính thực tiễn. Lập luận liên quan đến “dân tộc” (nation) càng mơ hồ khi O’Harrow không đưa ra định nghĩa về khái niệm. Như đã biết, khảo sát về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc chỉ bùng nổ sau sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống Đông Âu và Liên bang Xô Viết bắt từ đầu cuối thập niên 1980. Sang thập niên 1990 dân tộc và chủ nghĩa dân tộc mới dần trở thành lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt. Việc sử dụng chữ nghĩa như tác giả, do vậy, cũng bình thường vào thời điểm đăng bài.

Giáo sư nhận xét xác đáng về Nho giáo ứng dụng tại Đại Việt nhưng đã bỏ qua sự đa dạng của cộng đồng phương Nam. Như bất cứ cộng đồng nào khác, luôn có người Việt vận dụng lý thuyết như phương tiện nhưng cũng có vô số người Việt muốn tin lý thuyết mang giá trị tuyệt đối và bắt buộc.

Trần Nho Thìn (2000)

Giáo sư Trần Nho Thìn giảng dạy tại khoa Văn Học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội. Ông viết và dịch thuật về văn học, văn hóa, điện ảnh.

Dưới đây chỉ khảo sát bài viết “Bình Ngô đại cáo dưới ánh sáng của loại hình học văn hoá trung đại” ban đầu đăng trên Tạp chí Văn học số 5/2000, sau đó được đưa lại trên trang web của Khoa.(2)

Theo giáo sư, các nhà triết học cổ đại Trung Hoa cảm nhận thế giới có tính lưỡng nguyên; một mặt là “thế giới trần thế, hiện thực”; mặt khác là “thế giới tâm linh, thế giới của những biểu trưng của đạo trời”. Dựa vào đó ông tạm dùng khái niệm “thực tại trần thế” và “thực tại vũ trụ” để chỉ hai loại thực tại của văn hóa xưa. Tiếp cận Bình Ngô đại cáo, ông mượn tác phẩm Dư địa chí nhằm minh họa phương thức nhà nho cảm thụ không gian địa lý. Không gian địa lý với người xưa không chỉ là môi trường sinh tồn với mọi đặc điểm tự nhiên mà còn là không gian chịu ảnh hưởng năng lượng Đức của hoàng đế. Nói theo ngôn ngữ hiện đại: có thể hình dung mô hình không gian địa lý-xã hội của nhà nho như là một từ trường mà nguồn phát ra từ trường này chính là vua. Năng lượng Ðức mà nhà vua phát ra có khả năng thu hút vạn vật khắp bốn biển châu tuần về quanh mình. Do đó Dư địa chí thực hiện hai việc: một là, ghi chép vạn vật hữu hình hoặc vô hình nằm trong từ trường Đức nói trên; hai là, năng lượng Đức có sức tỏa ra ngoài biên giới nhuần thấm đến ngoại bang. Nguồn năng lượng Đức từ trung tâm phát ra bốn biển chứ không có chiều ngược lại. Ông kết luận: Cảm hứng của Dư địa chí là khẳng định một vùng không gian độc lập nằm trong “từ trường” ảnh hưởng của Ðức của các nhà vua Ðại Việt.

Do hiểu thế giới được cổ nhân cảm thụ gồm hai “không gian vũ trụ” và “không gian trần thế” chồng xếp lên nhau, Trần Nho Thìn khuyên nên thận trọng với chủ trương rằng Nguyễn Trãi đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về dân tộc. Theo ông, Đại Cáo mô tả cương vực, văn hóa, hiền tài, phong tục nhằm tạo một vùng không gian vũ trụ nằm trong vùng ảnh hưởng năng lượng Đức của các triều đại phong kiến Đại Việt; nghĩa là vấn đề “độc lập dân tộc” được Ức Trai hình dung theo thời đại của ông.

Giáo sư cho rằng nhân nghĩa, tâm điểm đạo đức trong Đại Cáo, là cách hành xử của nhà cai trị đối với tầng lớp bị trị. Ông tìm hiểu nội hàm “nhân nghĩa” qua hoạt động “bất nhân nghĩa” của giặc Minh mà cốt lõi thể hiện qua sự lừa dối, tàn hại người và thiên nhiên…, đi lệch cả nhân đạo lẫn thiên đạo. Do người Minh xử sự như vậy, không chỉ người phẫn uất mà trời đất, thánh thần cũng chẳng dung. Ông còn bắt gặp ở Đại Cáo không gian vũ trụ chịu ảnh hưởng từ trường “Đức” lan tỏa từ vua Đại Việt thể hiện qua hiền tài, phong tục tốt đẹp, kỳ trân dị thú các miền. Ông viết: Nguyễn Trãi diễn tả cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong một không gian vũ trụ, trong đó vị lãnh tụ Lê Lợi hội tụ đầy đủ năng lượng vũ trụ để có thể toả phát ảnh hưởng tích cực tới toàn bộ không gian đó. Theo giáo sư, Lê Lợi có quá trình tích đức lâu dài, trên nền tảng này nhân nghĩa được phát huy mà thể hiện rốt ráo không gì khác hơn là lòng yêu thương con người và ý chí làm điều thiện vô vụ lợi.

Đại Cáo trình bày thất bại của quân thù cũng ở tầm kích vũ trụ vì đó là sự trừng phạt do hợp lực của trời, thần và người.

Trần Nho Thìn xác định đối tượng Bình Ngô đại cáo hướng đến là nhân dân Đại Việt, thông điệp từ văn bản gồm nhiều ý tứ nhưng quan trọng nhất là khẳng định đế vị của Lê Lợi và tính “hợp hiến hợp pháp” của triều đại mới. Đặc biệt do nguồn gốc xuất thân, Lê Lợi khó chinh phục sự ủng hộ từ trí thức đồng bằng sông Hồng. Để biện luận ngai vàng cho vua Lê, ngay từ đoạn mở đầu bài Cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định vùng không gian ảnh hưởng Đức của riêng các triều đại Việt Nam, nằm ngoài vùng không gian ảnh hưởng Đức của các triều đại Trung Hoa. Qua quá trình hoạt động vua Lê dần tích tụ đủ năng lượng Đức để tỏa phát từ trường trong không gian vũ trụ các triều đại trước tạo dựng. Trong phạm vi thế tục, vua phải thực hiện công việc của trời là sinh thành nuôi nấng vạn vật, nói ngắn gọn là phải có đức hiếu sinh. Hiếu sinh không hướng lên đến thần thiêng mà hướng xuống, trải rộng khắp thiên hạ. Theo giáo sư, hiếu sinh áp dụng cho muôn vật, nhân nghĩa là hiếu sinh áp dụng cho con người. Lòng nhân nghĩa và đức hiếu sinh đã được Lê Lợi chứng tỏ qua cuộc kháng chiến, vì thế ông giữ địa vị Thiên tử tiếp nối Triệu, Đinh, Lý, Trần là tự nhiên. Ông nhận xét: Nguyễn Trãi vận dụng văn hoá cổ để củng cố quyền lợi Lê Lợi và sự thống nhất của đất nước vào đầu đời Lê.

Trần Nho Thìn tổng kết: Nguyễn Trãi cũng như các nhà nho chân chính khác, tuy biện chính cho đế quyền song luôn đứng về phía nhân dân để nêu lý tưởng chính trị của mình. Ðó là lý do vì sao họ không quan tâm tổng kết các “thuật trị quốc” là những thủ đoạn cai trị thuần tuý chỉ mang lại lợi ích cho giai cấp phong kiến thống trị. Họ quan tâm mô tả thứ không gian vũ trụ, nơi thi thố đạo nhân nghĩa của Trời – Người mà không mô tả một không gian thế tục nơi thi thố những thứ mà họ gọi là quyền mưu.

Giữa rừng tài liệu quốc ngữ trĩu nặng tính “dân tộc-hiện đại” về Nguyễn Trãi, bài viết của Trần Nho Thìn nổi lên đặc sắc qua cái nhìn khác thường trong môi trường học thuật cùng thời. Tuy nhiên, để phần nào hiểu thêm ông Trần nay và ông Nguyễn xưa, chúng ta cần chỉ ra nguồn gốc cái nhìn thực tại bao gồm “thế giới trần thế, hiện thực” và “thế giới tâm linh, thế giới của những biểu trưng của đạo trời” ảnh hưởng trực tiếp đến Đại Cáo.

Nguyễn Trãi không chọn theo Tống Nho mà chọn Nho giáo Tiên Tần vì lý do thực tiễn. Có thể vận dụng quan niệm chính trị của Mạnh Tử, hay sâu hơn là quan niệm chính trị thể hiện trong Thượng Thư, để giải quyết những vấn đề Lê Lợi đang đối diện. Vị đầu mục họ Lê vùng ngoại vi Đại Việt thập niên 1420 có vị thế khá tương đồng với Tây Bá Cơ Phát vùng ngoại vi Thương Ân vào thập niên 1120 (trước công nguyên). Đối tượng tranh chiến của cả hai đều là đương kim thiên tử; do vậy tầm quan trọng binh lực chỉ chiếm nửa phần, sự chính đáng của sử dụng vũ lực chiếm nửa phần còn lại. Nói cách khác, chống vua đương nhiệm thành công hay không thì nửa do hợp lòng người, nửa do thuận ý trời.

Tạo cơ sở giành tính pháp lý về mình, Cơ Phát định nghĩa “vua” như sau:

“Cổ nhân hữu ngôn viết ‘phủ ngã tắc hậu, ngược ngã tắc thù’, độc phu Thụ hồng duy tác uy nãi nhữ thế thù. 古人有言曰:[撫我則后,虐我則仇] 獨夫受洪惟作威乃汝世仇.” Cổ nhân có nói rằng “yên ủi ta ắt là vua, tàn hại ta ắt là kẻ thù” tên kém đức Thụ tác oai quá quắt chính là kẻ thù truyền kiếp của các ngươi (Thượng Thư, Chu Thư, Thái thệ hạ).

Cơ Phát xem Ân Trụ là “thế thù”, thay vì là vua, do ông ta tàn hại nhân dân. Sau khi liệt kê tội ác giặc Minh, Lê Lợi nói: “niệm thế thù khởi khả cộng đới”, nhớ thù truyền kiếp há đội trời chung!; ông cũng không xem kẻ chủ trì tội ác là thiên tử của mình.

Chu Vũ vương nói về Đức của vua cha đã khuất, thể hiện trong “thế giới của những biểu trưng của đạo trời” như sau:

“Ô hô! Duy ngã văn khảo nhược nhật nguyệt chi chiếu lâm, quang vu tứ phương, hiển vu tây thổ. Duy ngã hữu chu đản thụ đa phương. Dư khắc thụ, phi dư vũ, duy trẫm văn khảo vô tội; thụ khắc dư, phi trẫm văn khảo hữu tội duy dư tiểu tử vô lương. 嗚呼!惟我文考若日月之照臨,光于四方,顯于西土.惟我有周誕受多方.予克受,非予武,惟朕文考無罪;受克予,非朕文考有罪,惟予小子無良.” Than ôi! (Đức của) Vương khảo Văn như mặt trời mặt trăng soi chiếu, sáng khắp bốn phương, rạng rỡ cõi tây. Bởi vậy nước Chu ta nhận được (sự quy thuận) khắp mọi nơi. Nếu ta thắng Thụ, đó không do sức ta, mà do phụ vương vô tội (tức có đức); nếu Thụ thắng ta; không phải phụ vương có tội (tức kém đức), mà do ta là đứa trẻ không thiện lành (Thượng Thư, Chu Thư, Thái thệ hạ).

Lê Lợi cũng nói một trong những nguyên nhân giúp ông thắng trận là “thiên địa tổ tông chi linh”.

Hai vì vương đều phải giải quyết vấn đề quyền lực trong cả thế giới thực tại lẫn thế giới tâm linh vì họ là giao điểm của hai thế giới ấy. Nho giáo nguyên thủy hỗ trợ họ vì chủ trương uy quyền tối thượng thuộc về người có Đức và thiên mệnh không nhất thiết phải kế tập. Nó mở khóa bài toán của thủ lĩnh Lam Sơn đồng thời giúp Ức Trai biện hộ cuộc đời cá nhân luân lạc.

Khi cho rằng Nguyễn Trãi tạo nên một vùng không gian vũ trụ nằm trong vùng ảnh hưởng năng lượng Đức của các triều đại phong kiến phương Nam qua đoạn văn “Duy ngã Đại Việt chi quốc…nhi hào kiệt thế vị thường phạp”, giáo sư đã có lý hơn những người quan niệm đoạn văn đó xác lập định nghĩa khá hoàn chỉnh về dân tộc. Phần nhập đề nói về Đại Việt quốc, “người” chỉ là thành tố trong “quốc”. Ức Trai trình bày sự việc dựa trên sở học và chủ ý của Lê Lợi thay vì dựa trên kiến thức và ước muốn phát sinh từ thế kỷ XX.

Về đối tượng và mục đích của Đại Cáo, quan điểm đưa ra bởi Trần Nho Thìn và O’Harrow rất gần nhau. Cả hai đều xem đối tượng là người Việt, riêng O’Harrow thu hẹp lại trong giới trí thức. Cả hai đều tin Đại Cáo biện minh tính hợp pháp của triều đại mới, đều nhận ra khó khăn vua Lê gặp phải khi chinh phục trí thức châu thổ sông Hồng. Hai bộ óc duy lý xem xét cùng vấn đề dễ đi đến kết luận tương đồng; thú vị là dù xem bài cáo hướng tới quần chúng, ông Thìn lại dẫn các khái niệm Đức, hiếu sinh… những ý tưởng người nông dân ít học nếu hiểu được cũng khó am tường.

Riêng đoạn cuối bài viết dường như cuốn theo cảm xúc. Chúng tôi không thấy Nguyễn Trãi đứng về phía nhân dân. Ông đứng hầu cạnh Lê Lợi, và cũng như vị minh quân, luôn nghiêng lòng xuống kẻ dưới.

Nguyễn Đăng Na (2002 – 2004)

Phó giáo sư Nguyễn Đăng Na giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 1994, chuyên ngành Văn học Việt Nam trung đại và Hán Nôm. Ông nghỉ chế độ năm 2009 nhưng vẫn tiếp tục công việc, qua đời năm 2014.

Nguyễn Đăng Na viết nhiều bài góp ý về các vấn đề văn bản, dịch giả, dịch bản và một số nghĩa từ của Đại Cáo.

Về mặt văn bản, đối chiếu các bản Đại Cáo chép trong Trùng san Lam Sơn Thực lục, Hoàng Việt văn tuyển, Đại Việt sử ký toàn thư, giáo sư xác định văn bản thuộc Toàn Thư là chuẩn nhất vì được in sớm nhất (năm 1697) bởi cơ quan nhà nước.(3) Bản Trùng san Lam Sơn Thực lục, theo ông, không đáng tin cậy; bản Hoàng Việt văn tuyển dù nội dung rất gần gũi bản Toàn Thư nhưng chỉ do tư nhân Bùi Huy Bích biên soạn và xuất bản muộn hơn nhiều (1825). Lại xét hai bản Đại Cáo trong Trùng san và Toàn Thư không có câu “Thay trời hành hóa, Hoàng thượng truyền rằng..”, và xét vị thế phát biểu của Lê Lợi không thể tự xưng “Hoàng thượng”, Nguyễn Đăng Na kết luận câu nói trên nằm ngoài Đại Cáo. Cũng từ cụm “Đại thiên hành hóa” tác giả suy đoán Cáo Bình Ngô được viết ra vào cuối năm 1427, trước khi Lê Lợi lên ngôi với niên hiệu Thuận Thiên.(4)

Theo giáo sư, dịch giả đầu tiên của Đại Cáo là Trần Trọng Kim. Ban đầu Lệ Thần chỉ lược dịch để đăng trên sách Sơ học An Nam sử lược do Phổ thông giáo khoa thư xã xuất bản tại Sài Gòn năm 1916. Ba năm sau (1919), ông Kim chuyển ngữ toàn văn để công bố trong Việt Nam sử lược. Sách được tái bản năm 1928. Về sau, do cách Bùi Kỷ giới thiệu bản dịch Trần Trọng Kim kém rõ ràng trong quyển Quốc văn cụ thể (1932) nên Dương Quảng Hàm, tác giả Việt Nam văn học sử yếu (1943), ghi nhầm thành văn bản do Bùi Kỷ dịch. Sai lầm đã phổ biến hơn 60 năm. Nguyễn Đăng Na nhận xét toàn bộ các bản dịch về sau đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bản dịch đầu tiên của Trần Trọng Kim.(5)

Về mặt chữ nghĩa, tác giả giải thích chi tiết các từ “Đại Cáo”, “Ngô” và “chử”.

Dựa vào Hán Việt đại từ điển, giáo sư cho biết “đại cáo” khởi thủy là tên một thiên trong Kinh Thư, dần dần biến thành từ cố định chỉ một loại đặc biệt của thể cáo. Theo ông, Nguyễn Trãi muốn nhân dịp công bố Bình Ngô đại cáo để bày tỏ cho nhân loại thấy đạo lý lớn nhất của Việt Nam: “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Mặt khác, bằng tên gọi Bình Ngô đại cáo, tác giả muốn sánh Lê Lợi ngang với Chu Thành vương, sánh quân sư dưới trướng vua Lê ngang với Chu Công Đán; đồng thời nâng ý nghĩa Cáo Bình Ngô lên tầm thiên Đại cáo thời cổ đại. Đại cáo còn là danh xưng của văn kiện pháp luật do Minh Thành tổ ban hành năm 1385, sau đó bổ sung bằng “tục biên”, “tam biên”, “vũ thần” trong các năm 1386-1387. Đại cáo đời Minh thống nhất luật pháp, tạo điều kiện cai trị nhân dân, diệt trừ tội phạm. Giáo sư nghĩ rằng Nguyễn Trãi muốn bài Cáo do ông thay mặt dân tộc viết ra mang tính pháp luật, có ý nghĩa trọng đại như Đại cáo công phu của vua Hồng Võ. Tuy nhiên Đại cáo Hồng Võ tượng trưng uy quyền và là công cụ bảo vệ nhà Minh, Đại Cáo Việt Nam lại dùng để “bình Ngô”.

Về chữ “Ngô”, theo tác giả, đó chính là đất tổ của Chu Nguyên Chương người xứ Hào châu vốn thuộc nước Ngô thời Chiến quốc. Họ Chu xưng Ngô quốc công (1356) rồi Ngô vương để nhớ nguồn gốc, cũng để mơ về sự nghiệp sáng chói của Ngô Hạp Lư, Ngô Phù Sai từng chiến thắng Sở, Việt. Như vậy, “Bình Ngô” là “bình” tận ông thượng tổ năm đời “đứa trẻ ranh” Tuyên Đức. Về chữ “chử” trong “Lãnh câu chi huyết chử phiêu”, Nguyễn Đăng Na dẫn Hán ngữ đại từ điển để đề xuất cách hiểu khác lối hiểu “chử” như một yếu tố trong cụm thành ngữ. “Chử” có nghĩa “cái thuẫn lớn”; “thuẫn” nhẹ hơn “chày” nên khả năng dễ nổi trên dòng máu hơn.(6)

Chúng tôi tán đồng hầu hết ý kiến của giáo sư, trừ các điểm sau:

– Về thời điểm công bố Đại Cáo: chưa thể biết Nguyễn Trãi soạn bài cáo lúc nào nhưng thời điểm công bố phải sau khi Vương Thông triệt thoái ngày 17 tháng 12 năm Đinh Mùi, tức ngày 3 tháng 1 năm 1428. “Đại thiên hành hóa” trong câu thiệu ngoài ý nghĩa danh hiệu do tướng soái suy tôn, còn có nghĩa “thay trời thực hành giáo hóa”. Hai chữ Hoàng thượng cho thấy khi tuyên đọc bài cáo, Lê Lợi đã đăng quang.
– Trong các bài viết, Nguyễn Đăng Na có những khẳng định sau: Nguyễn Trãi muốn nhân dịp này, bày tỏ để nhân loại thấy cái, “đại đạo” [大道] – đạo lí lớn nhất của Việt Nam là, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”; hoặc Rõ ràng, ông muốn người đọc thấy rằng, bài cáo mà mình thay mặt dân tộc viết ra, chính là một văn kiện mang tính pháp luật…. Xem chừng tác giả đã hạ bút khi nhã hứng văn chương tràn lấp.
– Sau lời mắng Tuyên Đức là “giảo đồng/ranh con” hiện lên tia mắt của anh hùng, nhưng đằng sau đòi hỏi “bình” tận thượng tổ năm đời vua Minh lại thô ráp nỗi sân si của mụ nhà quê mất gà. Độ lượng quân tử e đâu phải như thế!

John Kremers Whitmore (2014)

Giáo sư John Kremers Whitmore từng giảng dạy tại các đại học Yale, Virginia, California và Michigan, Hoa Kỳ. Ông là hội viên cộng tác (research associate) của Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Michigan, hồi hưu năm 2009. Trong giới học giả phương Tây, Whitmore xứng danh là cây đại thụ chuyên ngành lịch sử Việt Nam. Ông viết nhiều về Đại Việt-Đại Nam-Việt Nam.

Dưới đây chỉ xét bài “Cộng đồng Ngô và xung đột Cao nguyên – Duyên hải tại Đại Việt, quãng 1400 – 1600”(7) với những phần liên quan gần xa đến Bình Ngô đại cáo.

Không thỏa mãn với Stephen O’Harrow về cách hiểu chữ “Ngô” trong Bình Ngô đại cáo như một phía của hận thù Ngô – Việt, John Whitmore đề xuất định nghĩa “Ngô” là cộng đồng gồm những người Phúc Kiến và các sắc dân ven biển Đông Nam định cư dọc duyên hải đồng bằng sông Hồng. Theo ông, từ “Ngô” chủ yếu chỉ nhóm di trú này, thứ đến mới chỉ nước Minh nói chung. Ông nghĩ Lê Lợi cùng đội quân miền núi không chỉ đánh bại xâm lược nhà Minh mà còn chống lại cộng đồng văn hóa Hoa-Việt vùng ven biển vốn thịnh vượng từ ba thế kỷ trước. Chính khối văn hóa hỗn hợp đó tạo nền tảng thuận lợi cho cuộc khởi dậy bởi họ Trần (1225 – 1400) và sự nghiệp chiếm đóng An Nam kéo dài hai mươi năm (1407 – 1427) của người Minh.

Để nhấn mạnh bản chất hải dương của nhóm Ngô, Whitmore so sánh hai triều đại Lý – Trần. Ông đặt nhà Lý song song với các vương quốc Angkor, Pagan qua hai thế kỷ X và XI. Hai triều đại thuộc Campuchia và Myanmar ngày nay đều xây dựng đất nước ở trung lưu của một dòng sông, dựa vào nông nghiệp đồng thời phát triển buôn bán theo hai chiều núi và biển. Cả hai đều bành trướng ra xung quanh dựa vào sức mạnh quân đội, trung tâm tâm linh và liên kết hôn nhân. Cùng thời gian, do nhà Tống bị Liêu – Kim ngăn trở phía bắc nên phải chuyển thương mại xuống biển nam, đặc biệt thời Nam Tống (1127 – 1279). Đảo hướng mậu dịch kích thích phồn thịnh quanh biển Đông Nam Á. Tình hình ngược lại trong lục địa, biến đổi khí hậu dẫn đến lượng mưa giảm gây tổn thất mùa màng đẩy các vương quốc một thời hưng vượng đến suy vi. Dưới sức hút hải thương, chuỗi đô thị sầm uất gần bờ biển hơn xuất hiện thay thế các thủ đô cổ kính; Pegu ở hạ lưu sông Irrawaddy, Ayudhya gần cửa sông Chao Phraya (Mae Nam), Phnompenh trên sông Mekong. Song song tiềm lực kinh tế mới, sức mạnh chính trị mới tượng hình. Tại Đại Việt, tuy Thăng Long không bị bỏ hoang như Pagan hay Angkor, nhưng đã xuất hiện đối trọng duyên hải Thiên Trường. Nếu nhà Lý lục địa thuần Phật giáo, duy trì liên hệ với Ấn Độ(8) thì tộc Trần ven biển mang đến Nho giáo và tư tưởng Thiền Trung Hoa.(9)

Theo John Whitmore, dân đi biển đến An Nam tìm cơ hội đã cùng phụ nữ thổ dân xây dựng gia đình, qua nhiều đời dần hòa nhập vào xã hội bản xứ. Tuy nhiên, họ vẫn giữ liên lạc với quê cha đất tổ. Người Đại Việt bên ngoài cộng đồng sẽ cảm nhận khối di cư cùng mối quan hệ gắn bó của họ với Mân Quảng như một nhóm khác biệt, gọi là Ngô. Thành viên “Ngô” bày tỏ lòng trung về phía nào tùy tình hình chính trị, có thể ngược chiều sông Hồng đến Thăng Long, hoặc ngược chiều bờ biển lên phương Bắc. Xu phụ quân Minh đa phần xuất thân từ nhóm này. Thái độ nhà Lê đối với họ sau chiến thắng cay nghiệt đến mức Whitmore so sánh nó với thái độ ngờ vực nặng nề của chính quyền mới sau năm 1975 đối với những người chấp nhận sự hiện diện của Mỹ tại Nam Việt Nam. Ví dụ dù tham gia kháng chiến, hai người Ngô có công là Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn vẫn phải gánh chịu ác cảm. Whitmore còn suy đoán có dòng thuyền nhân chạy về bản quán để tránh kỳ thị tương tự dòng người Hoa quay lại Trung quốc năm 1979-1980. Ông diễn giải dựa vào chứng cứ cụ thể trong sử ký để đi đến kết luận rằng người vùng đồng bằng trung lưu sông Nhĩ là nạn nhân của cuộc tranh dành giữa thế lực sơn cước Lê, Nguyễn, Trịnh và thế lực miền biển Trần, Hồ, Minh, Mạc.

Tuy nhiên thực tiễn có vẻ phức tạp hơn; ông đưa ra nhiều luận điểm thuyết phục, nhưng chưa hoàn toàn thuyết phục.

Không tối giản như quan điểm thông thường của học giả Việt Nam hiện đại, xem chiến tranh Minh – Việt như cuộc đối đầu giữa quân đội Minh và toàn dân Đại Việt đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi; từ hướng nghịch đảo, Whitmore nhìn thấy xã hội Giao Chỉ vỡ vụn, thay vì nén chặt, dưới áp lực ngoại xâm. Ông táo bạo xác định quy mô to lớn của cộng đồng Ngô tập trung trên trục Chí Linh – Thiên Trường. Có lẽ do chú tâm vào mâu thuẫn cao nguyên – duyên hải, giáo sư bỏ qua nhóm Ngô xưa ở hai châu Phong và Giao từng hỗ trợ đắc lực người Minh trụ vững trên Tam Giang và Bắc Giang, lại ghép gia tộc Hồ vào “Ngô” khi chưa tìm tòi thấu đáo động cơ thúc đẩy tiếm vương tự lựa chọn dòng dõi. Đó là giả định hết sức dạn dĩ và khái quát. Thực tế rất khó tìm hoặc không hy vọng gì tìm được tài liệu nào gợi ý gọi Nguyễn Trãi hay Hồ Quý Ly là người Ngô. Theo thói quen thế kỷ XIV-XV, Nguyễn Trãi sẽ được xem là dân kinh lộ, Hồ Quý Ly bị coi như dân trại. Khái niệm Ngô của Whitmore dường như bao trùm lên cộng đồng kinh lộ miền đông đồng bằng và người trại duyên hải. Theo chúng tôi, nếu là “Ngô” thì bản chất “ngoại quốc” của họ sẽ khiến sử Việt không quan tâm nhiều. Họ tồn tại nhưng nằm bên rìa xã hội. Dân kinh lộ hình thành từ hạt nhân Ngô nhưng mức bản địa hóa đủ để họ tự cảm nhận mình ở bên ngoài “Ngô”, mức thành công còn cho phép giới ưu tú thấy mình thậm chí ở trên “Ngô”.(10) Cũng không thể vạch ranh sắc nét giữa Ngô, kinh lộ và trại vì ba cộng đồng có độ thẩm thấu vào nhau. Dù sao đi nữa, phân tích của giáo sư cũng soi thêm ánh sáng vào sự cô độc của Lê Lợi suốt 80% thời gian kháng chiến, vấn đề ít được quan tâm tại chính quê hương ông.

Liam C. Kelley (2016)

Phó giáo sư Liam C. Kelley giảng dạy tại Khoa Lịch sử, Đại học Hawai’i at Mãnoa, Hoa Kỳ. Ông từng nghiên cứu về quan hệ Hoa-Việt và Nho giáo tại Việt Nam. Hiện nay, Kelley tập trung vào lĩnh vực tín ngưỡng dân gian Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ông giữ chức Đồng Tổng biên tập (Co-Editor-in-Chief) tạp chí Journal of Vietnam Studies và là nhà Đồng tổ chức (Co-organizer) chuỗi hội thảo “Ước hẹn với Việt Nam: Một Đối Thoại Liên Ngành.”

Dưới đây chỉ khảo sát những bài viết liên quan đến Đại Cáo do giáo sư phổ biến trên trang blog cá nhân https://leminhkhai.wordpress.com. Các bài viết còn ở dạng trao đổi với người đọc chứ chưa phải là kết quả nghiên cứu chính thức. Tất cả gồm mười hai đơn vị thuộc cụm BNĐC series (7-14/8/2016)(11)

Ngoài lời giới thiệu, từ bài 2 đến bài 4, Kelley bỏ nhiều công sức để chứng minh Bình Ngô đại cáo không mang đặc điểm, tính chất của “thể loại” Tuyên ngôn độc lập. Dường như ông rất nặng lòng về chuyện này. Xin tóm ý ba bài 2, 3, 4 như sau:

  1. Các Tuyên ngôn độc lập:

Các “Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ (1776), Việt Nam (1945), Venezuela (1811), Liberia (1847), Czechoslovakia (1918) đều được viết và công bố bởi nhóm người tự xưng “đại biểu của nhân dân” nhằm tìm kiếm sự công nhận của các nhà nước đang hiện hữu đối với nhà nước mới khai sinh.

  1. Ai là Đại biểu của Nhân dân trong “Bình Ngô đại cáo”?:

Đại cáo khẳng định quyền tồn tại của đế quốc phương Nam rồi tường thuật hoạt động chống giặc Bắc của Lê Lợi nhằm bảo vệ lãnh thổ và thần dân Đại Việt. Bài Cáo vắng bóng “đại biểu của nhân dân”.

  1. Vô số Diễn Ngôn và Không Độc Lập:

Theo Kelley, sách An Nam đồ chí do người Minh viết thể hiện nhiều lần sự thay đổi vị thế An Nam đối với Đại Minh: từ nước triều cống thời nhà Trần nhà Hồ sang quận huyện thời Minh thuộc, hồi phục vị trí nước triều cống dưới đời Lê, rồi bị hạ cấp thành Đô thống sứ ty vào đời Mạc. Triều đình nhà Minh là chủ thể quyết định tư cách An Nam, họ chưa bao giờ công nhận An Nam cùng đẳng cấp với họ. Tương tự, văn thư do Nguyễn Trãi viết như “Trình tình tạ tội biểu văn”, “Tạ ân trình tình biểu văn”, “Tạ sắc phong biểu”, “Quốc nhân tạ sắc phong biểu”, “Tuế cống biểu”, “Thượng Hoàng Thái Tử biểu”, “Hạ tôn Hoàng Thái Hậu biểu”…. đều thể hiện việc xác lập và duy trì mối quan hệ triều cống bất bình đẳng. Lê Lợi không dự định phá bỏ quan hệ này để gia nhập “trật tự quốc tế đang hiện hữu” với tư cách một nhà nước ngang hàng với các nhà nước khác nhờ sự chấp nhận của họ. Mặt khác, theo Kelley, trong triều đình nhà Minh thường tồn tại hai diễn ngôn xung khắc nhau. Thứ nhất cho rằng An Nam hoang dã không xứng đáng nhập vào Trung nguyên; thứ hai cho rằng An Nam vốn thuộc Hán Đường nên cần tái lập quận huyện. Bản thân ông Nguyễn khi nói về Đại Việt cũng dùng hai cách thể hiện. Với người dân, Đại Việt là nước văn hiến với núi sông và phong tục cách biệt; với tướng Minh, Đại Việt nằm ngoài Cửu châu từ xưa nên không thuộc Trung quốc. Kelley nhận xét: cùng cho rằng An Nam/Đại Việt nhất thiết phải đứng riêng, người Minh viện cớ do dân chúng hãy còn man rợ, Ức Trai lại bảo do nước ông vốn văn minh.

Giáo sư kết luận Bình Ngô đại cáo không thể được ví như Tuyên ngôn độc lập: Độc lập – nghĩa là tách ra khỏi một đế quốc để gia nhập “trật tự quốc tế đang hiện hữu” như “một nhà nước tương tự, bình đẳng” bằng cách tìm kiếm sự công nhận của các nhà nước khác trong trật tự quốc tế đó – chỉ có thể đạt được khi những người chung một diễn ngôn bàn thảo với nhau và nhất trí với nhau. Không có việc như vậy xảy ra, cũng không tồn tại điều kiện (để việc như vậy xảy ra), ở Đại Việt vào thế kỷ XV.

Ví von Đại Cáo với Tuyên ngôn độc lập thực ra là quan niệm mang tính chính trị, cần thiết trong thời đoạn nhất định. Chỉ hơi khó giải thích khi quan niệm như thế vẫn được tiếp tục phổ biến nhiều nơi, nhiều lúc mặc cho bối cảnh xã hội Việt Nam đã hoàn toàn thay đổi.

Qua hai bài 5, 6, Kelley tìm hiểu thuật ngữ “đại cáo” và bàn luận tính hợp pháp của Lê Lợi.

  1. Đại Cáo là gì?

Khá giống với Nguyễn Đăng Na, giáo sư ghi nhận điểm tương đồng giữa Đại Cáo nhà Lê và Đại cáo nhà Chu, giữa hai cặp vua và cố vấn nhà Lê và nhà Chu; bước xa hơn tí, ông xem Chu Công và Nguyễn Trãi như hai quân sư giỏi giang giúp đỡ hai vị vua yếu ớt Chu Thành vương và Lê Thái tổ.

  1. Vấn Đề Tính Hợp Pháp của Lê Lợi:

Kelley dẫn Toàn Thư thuật lại nhiều hoàn cảnh dẫn đến cái chết của Trần Cảo và trường hợp xin Vương Thông che chở của hộ kinh doanh hương liệu Vương Manh; ông lại dẫn “Dụ hào kiệt chiếu”, “Cầu hiền tài chiếu”, “Dụ Điêu Hào thành thổ quan thư” để kết luận rằng một số người hoài-Trần, người giàu có, trí thức hay người Việt làm quan cho nhà Minh, hoặc sắc tộc thiểu số… luôn thận trọng về việc Lê Lợi lên nắm quyền. Nhờ Toàn Thư, ông phát hiện tên gọi nguyên thủy của văn bản chúng ta đang bàn là “Đại Cáo”, danh xưng “Bình Ngô đại cáo” chỉ xuất hiện trong các sưu tập muộn hơn như Hoàng Việt văn tuyển hoặc Ức Trai di tập. Theo Kelley: Tương tự Đại cáo trong sách Thượng Thư/Kinh Thư, “Bình Ngô đại cáo” là văn bản được viết ra bởi vị cố vấn giàu năng lực của một quân chủ non yếu ngay sau khi triều đại được kiến lập nhằm chứng minh tính hợp pháp của tân vương trước nhóm người rất ngờ vực, thậm chí thẳng thừng chống lại yêu sách cầm quyền của vị vua đó.

Chúng tôi chẳng hoài nghi gì về mối tương quan giữa Đại Cáo nhà Lê với Đại cáo nhà Chu, cũng tin rằng vô số thân hào nhân sĩ, đặc biệt ở kinh lộ, viện đủ mọi lý do để bất bình triều đại mới. Tuy nhiên, vẫn cảm thấy lấn cấn trước vài chi tiết trong bài viết của giáo sư:

+ Cách dịch “Thổ quan 土官” trong “Dụ Điêu Hào thành thổ quan thư” thành “lính bản địa” (aboriginal soldiers): không thể đồng nhất “thổ quan土官” với “thổ quân土軍”. Thổ quan ở đây chỉ một hoặc nhiều người Giao Chỉ đang làm quan cai trị cho nhà Minh trong thành. Như thành Thanh Hóa trấn giữ bởi Tri phủ Lương Nhữ Hốt người địa phương và Chỉ huy Đả Trung người Minh. Trong một địa hạt hành chánh, thường quan lại gốc An Nam coi sóc việc dân, tướng Minh đảm bảo an ninh đồng thời trông chừng bộ máy quản trị do thổ quan điều hành. Minh Thực lục lưu lại tên tuổi nhiều chức sắc mà sử gia gọi là thổ quan như Tri phủ Giao Châu Nguyễn Quân, Tri phủ Kiến Xương Đồng Ngạn Dực, Tri phủ Lạng Giang Mạc Thúy, Tri phủ Tân An Mạc Viễn, Tri phủ Thái Nguyên Hoàng Công Dịch…. Theo Toàn Thư, hai Trấn thủ Điêu Diêu (tức Điêu Hào) gồm Chỉ huy Trương Lân và Tri phủ Trần Vân ra hàng vào tháng giêng ta năm 1427.(12) So sánh cặp Đả Trung-Lương Nhữ Hốt ở Thanh Hóa, ta đoán được Tri phủ Trần Vân là người An Nam và chính là đối tượng của bức thư nói trên. Thủ thuật của chúa Lam Sơn thật thâm độc. Ông gửi “Dụ Điêu Hào thành thổ quan thư” cho Trần Vân, đưa ra hai lựa chọn: hoặc đầu hàng hoặc làm nội ứng giúp nghĩa quân; với nội dung như thế nếu thư lọt vào tay Trương Lân thì hiệu quả có thể rất bất ngờ.
+ “Tây việt chi nhân 西越之人”,người Tây Việt và “y quan chi tộc 衣冠之族”, con nhà mũ áo: chính chữ “tây 西” và chữ “tộc 族” dẫn dắt Kelley hiểu “thổ 土” như bản địa (aboriginal) thay vì địa phương (local), dẫn tới suy đoán có nhóm sắc tộc thiểu số chống Lê Lợi. Dường như ông khai thác bản Phúc Khê của Dương Bá Cung, cũng chính là bản Viện Sử học sử dụng trong ấn phẩm Nguyễn Trãi toàn tập năm 1976. Ở phần chú giải Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học cho rằng Tây Việt là Việt (Giao Chỉ),(13) ghi nhận thêm dị biệt “Giao Việt 交越” ở bản Cương Mục.(14) Riêng bản do Nguyễn Văn Nguyên hiệu chỉnh in trong bộ Nguyễn Trãi toàn tập tân biên của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học lại thể hiện là “Nam Việt 南越”.(15) Theo thiển ý, dựa vào một chữ thiếu chắc chắn để suy luận là chưa thỏa đáng. Về chữ “tộc 族”, Kelley hiểu như “nhóm người” hơn là “dòng tộc”, hiểu vậy đúng nghĩa nhưng chưa chắc đúng ý. Có thể Ức Trai dùng “Tây/Giao/Nam Việt chi nhân y quan chi tộc” để chỉ con cháu thế gia cũ ở Đại Việt.
+ Vua yếu – Cố vấn mạnh: đối sánh này đúng với trường hợp Chu Thành vương – Chu Công Đán. Thành vương thừa kế ngôi vị khi mới mười ba tuổi nên chú ruột tên Đán giữ quyền nhiếp chính. Chu Công điều khiển cả triều đình lẫn quân đội, ông đủ sức hại hoặc đuổi Thành vương để tự mình làm vua. Đối sánh này không hoàn toàn đúng với cặp Lê Lợi – Nguyễn Trãi. Lê Lợi tự thân xây dựng lực lượng từ người lính đầu tiên, ban đầu đại đa số là đồng hương Thanh Hóa, theo thời gian nhận thêm trai tráng Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa. Nhóm vũ trang nòng cốt tuyệt đối trung thành được đặt dưới quyền uy tuyệt đối của Bình Định vương. Về phần quan Thừa chỉ, Nguyễn Trãi phục vụ người Minh mãi đến năm 1423 mới tìm theo kháng chiến. Nhờ văn tài trác tuyệt nên ông được Lê Lợi kính nể, được giao vai trò làm cầu nối giữa vị thủ lĩnh rừng núi với nhân sĩ châu thổ. Tiếc rằng do lý lịch nên dẫu kề cận vua ông vẫn chưa bao giờ được xem là tâm phúc. Các vua Lê dùng Nguyễn Trãi như thế nào tùy hoàn cảnh, tùy thời điểm nhằm đạt mục đích sâu xa của họ. Thượng thư bộ Lại Ức Trai chính là hình mẫu để thu hút nhóm người đồng bằng còn do dự. Tuy nhiên, dùng “lễ” đối đãi với tầng lớp ưu tú mang bản chất quyền mưu, nếu đối tượng từ chối “đáp lễ” thì chỉ còn đường lẫn tránh mà thôi. Nhân tài kinh lộ vô phương làm được điều mà đại quân nhà Minh không làm được.

Qua các bài viết 7, 8, 9, 10, 11 Kelley bàn luận đủ mọi khía cạnh của hai từ “Nam-Bắc” và đưa ra quan điểm về ý nghĩa của từ “Ngô”.

  1. Vấn đề Nam và Bắc:

Quan sát cách dịch hai chữ nam-bắc từ văn ngôn Hán sang ngôn ngữ phương Tây của các dịch giả Ưng Quả, Huy-Gamarra, Trương Bửu Lâm, Nguyễn Khắc Viện, D.T.B., Kelley nhận thấy có hai quan điểm về nam-bắc tính đến năm 1979. Quan điểm xem nam-bắc là hai phần của Đại Việt xuất hiện từ thập niên 1960 trở về trước, quan điểm xem Nam-Bắc là Đại Việt-Trung quốc nổi lên từ thập niên 1970 tại Hà Nội. Giáo sư khuyên nên tìm hiểu ý nghĩa của “nam-bắc”, và “Ngô” nữa, bằng cách đặt Đại Cáo vào hoàn cảnh cụ thể. Ông đồng ý với O’Harrow về mục đích vận động tầng lớp ưu tú ủng hộ Lê Lợi của bài cáo nhưng cho rằng bố cục lịch sử do tiền bối đưa ra hãy còn đơn giản, hiền hòa.

  1. Người Nam, Người Bắc, Phong Tục và Văn Hiến:

Để truy tìm ý tưởng thuộc phần mở đầu nổi tiếng “Như nước Đại Việt ta từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia phong tục Bắc Nam cũng khác” nguồn gốc từ đâu và tại sao được thể hiện trong Bình Ngô đại cáo, Kelley đã phát hiện một mẫu văn nghĩa lý tương tự ghi trong Thư dụ thành Bắc Giang:(16)Ta nghe nói: Người có người xứ nam, người xứ bắc. Đạo thì không có đạo nọ, đạo kia. Hạng người có đức, hạng người quân tử, thì không đâu là không có. Nước An Nam tuy xa ngoài núi ngũ Lĩnh mà vẫn gọi là nước Thi Thư.” Giáo sư chú ý đến thần thái tương dị trong hai đoạn: nước Đại Việt qua bài cáo văn minh giống Trung Hoa cương thổ tách riêng, còn nước Đại Việt trong thư chiêu dụ văn minh giống Trung Hoa mặc dù dân cư khác biệt.

Kelley thật xuất thần khi nhận ra “Dư văn nhân hữu Nam Bắc đạo vô bỉ thử 余聞人有南北道無彼此” là phiên bản Việt Nho hóa của một quan niệm Phật giáo Trung Hoa “Nhân tuy hữu Nam Bắc Phật tính bản vô Nam Bắc 人雖有南北佛性本無南北”.(17) Ông nhìn suốt mặc cảm tiềm ẩn của một nho gia đến từ phương Nam lạc hậu. Giáo sư rất băn khoăn vì sao Đại Cáo diễn đạt bản sắc lại nhấn mạnh cả phong tục lẫn văn hiến. Phong tục khác nhau đã đành, nhưng văn hiến như nhau thì có đáng phô ra để minh định bản sắc? Theo Kelley, bản sắc hình thành qua tương tác và trường hợp này là: kết quả tương tác giữa một học giả Việt Nam, người cảm thấy mình sống trong thế giới “văn hiến”, và ý tưởng của “người Trung Hoa” (chủ thể định nghĩa khái niệm văn hiến), kẻ luôn cảm thấy An Nam là thế giới “man di”.

  1. Thái Phúc, Thành Bắc Giang Thất Thủ và sự Phức Tạp của Quan Hệ Nam-Bắc:

Kelley thuật lại quan hệ rối rắm giữa các nhân vật nổi bật xoay quanh thành Bắc Giang. Qua vài bức thư gửi vào thành, Lê Lợi hứa nếu quân đồn trú chấp nhận buông vũ khí thì họ và vợ con sẽ được đối xử như anh em. Đô đốc Thái Phúc cũng đến trực tiếp khuyến dụ đồng đội theo yêu cầu từ phe kháng chiến. Viên hàng tướng được Lê Lợi xem như huynh đệ bị Trấn thủ Lý Nhậm nguyền rủa, xem tệ hơn chó lợn. Cuối cùng thành vỡ dưới sức tấn công tổng lực của Lam Sơn, nhóm cố thủ hoặc tự sát hoặc bị tàn sát không phân biệt binh dân, Nam Bắc.(18) Dù biết Lê Lợi từng cảnh báo hậu quả thảm khốc nếu thành từ chối đầu hàng, Kelley vẫn chê hành động bạo lực không vì nghĩa, hợp trời thuận người. Ông bảo Thi Thư chẳng có dẫn hướng nào cho phép giết người vô tội,(19) hành động ấy có vẻ không phù hợp với lý tưởng “nước văn hiến”.

  1. Lương Nhữ Hốt và sự Vạch Giới Nam Bắc của nhà Trời:

Để kêu gọi Đả Trung và Lương Nhữ Hốt đầu hàng, Lê Lợi gửi một bức thư cho hai vị với lập luận: Trời phân chia rạch ròi đất đai Nam Bắc, nước Tần nước Tùy mạnh giàu cũng bó tay trước ranh giới đã định; các thành khác dù binh hùng tướng mạnh, trang bị đầy đủ, nhưng vì họ hiểu việc và biết xử biến nên đều giải giáp. E ngại hai lãnh đạo chưa xiêu lòng trước các thông tin mời gọi, Lê Lợi nói thẳng nếu họ không chấp nhận ông sẽ tấn công và giết sạch quân dân trong thành. Họ Lương không tin kiểu thuyết phục đó nên xui Vương Thông tiếp tục chiến tranh nhằm tránh số phận Ô Mã Nhi đời Trần. Rốt cục, thành Thanh Hóa chỉ hạ vũ khí lúc Vương Thông chấp nhận giải hòa. Lê Lợi xử tử viên ngụy Tri phủ sau khi quân Minh triệt thoái. Kelley cho biết khoảng 10.000 người từ các thành đầu hàng đang bị tạm giữ đã bị giết trước đó vì âm mưu nổi loạn, ông tỏ vẻ nghi ngờ lý do phía Lam Sơn đưa ra để sát hại hàng binh.

  1. Vương Thông, Ngô và các Mức Độ Lịch Thiệp:

Kelley đưa ra nhận xét về cách Vương Thông được gọi trong các bức thư do Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo. Có ba mức lịch sự thấp dần là “đại nhân”, “khanh” và “nhữ” tương đương với “your honor”, “sir” và “you” trong tiếng Anh hay “ngài”, “quý ông” và “ngươi” trong tiếng Việt. Vương Thông chiếm thứ trật nào tùy theo thiện chí hợp tác của ông. Giáo sư đánh giá thấp độ tinh tế của các bản dịch quốc ngữ liên quan các bậc xưng hô này. Về từ “Ngô”, ông nghĩ nó mang ý nghĩa đạo đức, tương đương từ ghép “ngụy Minh” nhưng ít sỗ sàng hơn nên khả dụng trong văn bản chính thức. Hành động rút quân trước lúc nhận lệnh triều đình của Vương Thông được Kelley cảm nhận như ý định tách rời “ngụy Minh” theo dẫn dụ từ Nguyễn Trãi.

O’Harrow dựa vào “Dữ Đả Trung Lương Nhữ Hốt thư” để ủng hộ ý kiến xem hai từ Nam-Bắc trong Đại Cáo chỉ Việt-Trung quốc. Liam C. Kelley ban đầu dựa vào ngữ pháp tiếng Hán nên thiên về ý kiến xem nam-bắc chỉ hai miền thuộc An Nam, tuy nhiên, có lẽ tham khảo bài viết của O’Harrow và “Dụ Bắc Giang thành thư” nên đã ngả sang quan điểm xem bắc-nam là hai nước khác biệt. Đây cũng là nhận thức phổ biến tại Việt Nam hiện nay.

Kelley hiểu đến mức tinh vi hai nước Đại Việt thể hiện trong Đại Cáo và “Dụ Bắc Giang thành thư”, nhưng cũng chính vì kỹ năng phân tích sắc bén ấy ông đã sa lầy khi giải thích “phong tục” theo nghĩa sở chỉ. Đặt “Nam Bắc chi phong tục diệc dị 南北之風俗亦異” và “Nhân hữu Nam Bắc 人有南北” cạnh nhau ta nhận ra ngay “phong tục 風俗” là điểm tượng trưng Nguyễn Trãi dùng để chỉ “nhân”. Nó được sử dụng tương tự chữ “tục 俗” trong câu Ức Trai ca ngợi đức độ vua Lê Thái tổ “Cửu trùng duệ niệm linh hà tục 九重睿念忴遐俗” với “hà tục 遐俗” chỉ cộng đồng nói tiếng Kra-Dai ở đất ki mi.(20) Dùng “cây 木” chỉ “rừng 林” không độc quyền bởi phương Đông, người Hoa Kỳ vẫn dùng “green berets”, mũ nồi xanh để chỉ đơn vị vũ trang dân Nam Việt xưa gọi là “biệt kích Mỹ” hay “red coats”, áo choàng đỏ để chỉ binh sĩ hoàng gia Anh tại vùng đất sau này trở thành Hiệp chúng quốc.(21) Chúng ta sẽ đi sâu thêm khái niệm “dân, nhân, nhân dân” trong phần bình luận chính văn để rõ hơn từ đâu và vì sao “dân”, cùng vài yếu tố khác, được Ức Trai đặt làm điểm khởi phát nghị luận của mình.

Có thể không bao giờ nắm được tinh thần đoạn mở đầu Đại cáo nếu chăm chăm xem đó là một thể hiện bản sắc, một quan niệm về dân tộc hay một phác thảo hình hài Việt Nam hiện đại. Bên cạnh việc nhấn mạnh các mặt khác biệt, Nguyễn Trãi đã không làm rõ văn hiến Đại Việt có điểm nào chung hay giống với văn hiến Trung Hoa. Xét chữ đế ở câu tiếp theo, ta nên hiểu chủ đích ông Nguyễn muốn trình bày là văn hiến Đại Việt ngang bằng văn hiến Trung Hoa, hay cả hai là một. Thông qua phần nhập đề soạn giả đã đưa ra định nghĩa về đế quốc Đại Việt.

Như Liam C. Kelley, chúng tôi xem tên chính thức của văn bản là Đại Cáo thay vì Bình Ngô đại cáo, nhưng cũng xin thảo luận về từ “Ngô” ở đây dù có vẻ lạc đề. Như bao nhiêu người nói tiếng Việt khác, chúng tôi hiểu “Ngô” là từ bình dân nói chung chỉ Trung Hoa và tất cả những gì liên quan đến Trung Hoa. Nó có thể chỉ tâm điểm như vua hay triều đình Trung quốc, hoặc chỉ cộng đồng ngoài cả ngoại vi như bọn man di tiếp nhận văn hóa Trung nguyên. Vì bản thân “Ngô” là một sinh thể, người sử dụng từ “Ngô” trong viết lách và người đọc thư tịch cũng đều là những sinh thể, nên cố định nội hàm cho “Ngô” hầu như bất khả. “Ngô” ở hoàn cảnh và văn cảnh nhất định mang ý nghĩa nhất định. Trong “Dục tử ngô triều tố quan 欲死吳朝做官”, Ngô = Minh + oán hận; trong “Đế kí bình ngô đại cáo thiên hạ 帝既平吳大告天下”, Ngô = hệ thống quân chính nhà Minh tại Giao Chỉ + khinh thị (nghĩa gần nhất với Ngô của Bình Ngô đại cáo); trong Quân trung từ mệnh tập, Ngô = Minh + bất chính (hiểu theo Kelley); trong Dư địa chí, Ngô = người Hoa ở Đại Việt + văn hóa lệch chuẩn; trong “Công soạn phả am cố điển cập ngô tục 公僎頗諳故典及吳俗”, Ngô = Trung quốc; trong Phép giảng tám ngày,(22) Ngô = Trung quốc + ngoại đạo… Những từ “Tàu”, “Mỹ”, “Việt” ngày nay cũng thế, chúng truyền tải nội dung rất khác nhau đối với người Việt ở Mỹ, ở Nam Việt hay Bắc Việt; hoặc vào thời điểm trước 1975, sau 1975, từ thập niên 1990. Độ chênh có thể từ những gì xấu xí nhất đến những gì hoàn mỹ nhất. Ý nghĩa “Tàu”, “Mỹ”, “Việt” khác nhau thậm chí không chỉ trong từng hoàn cảnh hay văn cảnh mà còn ở âm sắc của chủ thể phát biểu.

  1. Kết Luận Tạm:

Kelley nhắc lại giai đoạn chuyển biến tri thức ở Hoa Kỳ từ thập niên 1960 đến 1990 mà phông nền của nó là chuyển biến xã hội: phong trào người da đen đòi bình đẳng, phong trào nữ quyền, trào lưu hậu hiện đại của trí thức; cuộc sống trở mình triệt để khiến sử gia buộc phải nhìn lại lịch sử người Mỹ gốc Phi và vấn đề phụ nữ, họ bắt đầu nghi hoặc các nguồn thư tịch thay vì đặt niềm tin đơn giản vào đó. Kết quả trong lĩnh vực sử học là sinh viên được đào tạo theo hướng nhìn lịch sử qua mọi khía cạnh phức tạp.

Tìm hiểu tài liệu tiếng Việt, Kelley nhận thấy sử học và kiến thức tổng quát của công chúng về quá khứ tại Việt Nam ngày nay đạt trình độ tương đương sử học và kiến thức tổng quát của công chúng về quá khứ tại Hoa Kỳ vào thập niên 1950. Lý do vì học giả Việt Nam đã không kinh qua một giai đoạn chuyển biến tri thức như nói trên.

Xem cuộc xung đột thế kỷ XV là chiến tranh Trung Hoa – Việt Nam; xem người Việt, qua Bình Ngô đại cáo, thể hiện nhận thức rõ rệt về căn cước dân tộc, theo Kelley là quan niệm quá đơn giản. Ông nhìn thấy giai đoạn đó phức tạp kinh khủng khi con người bộc lộ hết tính nết xấu xa như tham vọng quyền lực, lừa dối, bội bạc, phản trắc, khinh rẻ dân đen…Cái xấu không chỉ đến từ người Minh mà còn từ người Việt. Bản thân Lê Lợi thành công với bàn tay vấy máu tù binh, máu dân thường ở Xương Giang, máu họ Trần … Bình Ngô đại cáo đã hình thành theo dòng thời cuộc nhiễu nhương như thế.

Mặt hạn chế của Đại Cáo cũng hiện rõ dưới mắt giáo sư, nhiều khẳng định chắc nịch dường như gần với ước muốn hơn thực trạng.(23) Nếu Lý Nhậm không tin vào “đạo” của người phương Nam thì Lương Nhữ Hốt cũng chẳng nghĩ núi sông có thể phân chia Nam Bắc. Lê Lợi tiến đến ngai vàng bằng phương thức thô bạo nhưng sai Nguyễn Trãi tuyên xưng “Đại Việt của ta là nước văn hiến”. Thay vì nhìn thấy lòng tự hào trong “phong tục khác biệt” Kelley lại nhận ra mặc cảm thua sút. Ông ghé mắt vào mọi ngõ ngách khuất lấp, đưa ra những nhận định người Việt ít bao giờ nghĩ tới.

Kelley đúc kết ba điểm lớn:

a. Đại Cáo là văn bản mang tính sáng tạo như Đại cáo nhà Chu, nếu Chu công lần đầu tiên đưa thiên mệnh vào chính trị để biện minh tính hợp pháp của Thành vương thì Nguyễn Trãi lần đầu tiên chứng minh sự tồn tại riêng biệt của vương quốc phương Nam để củng cố tính hợp pháp của Lê Thái tổ.
b. Ý thức về căn cước dân tộc Việt Nam không tồn tại trước cuộc xâm lược của nhà Minh, mà nó bắt đầu hình thành qua cuộc đấu tranh giữa Nguyễn Trãi và quan tướng Trung Hoa-ngụy quan nhằm tìm kiếm sự nhìn nhận của đối phương về một Đại Việt bên ngoài Hoa Hạ.(24)
c. Tường trình lịch sử hiện tại ở Việt Nam gây tổn hại cho quá khứ vì phân biệt trắng đen quá rõ ràng, nó loại trừ mọi yếu tố xấu về người Việt đồng thời thất bại trong việc thừa nhận tính cách tân và độc sáng của Nguyễn Trãi.

Những vấn đề Kelley đề cập là cốt lõi quan trọng. Để tránh trùng lắp với phần chính bài viết, chúng tôi chỉ góp ý tóm tắt như sau:

Chênh lệch trình độ sử học, như một khoa học, giữa phương Tây và Việt Nam là hiển nhiên. Hơn nửa thế kỷ, vô số kiến thức mới đã được tạo ra, không chỉ trong khoa học lịch sử mà còn trong các chuyên ngành liên quan. Khối tri thức khổng lồ đến mức phải nghĩ rằng mọi tương tác nếu có giữa Tây-Việt dù thiện chí vẫn mang lại kết quả cực tiểu, hoặc bằng không, nếu chưa đến mức số âm. Phục hồi độ chênh lệch dựa vào dăm cá nhân xuất sắc sẽ không đủ, có lẽ phải mất vài thế hệ học giả mới tạo ra được một công chúng chuyên môn cần thiết làm nền tảng đẩy học thuật bật xa hơn.

Quyết định đôi lúc tàn nhẫn của Lê Lợi là rất bình thường vào thời trung đại. Cần đặt vụ tàn sát tù binh và thường dân Xương Giang vào vòng áp lực quân sự-xã hội mà ông phải đối đầu lúc bấy giờ. Lê Lợi buộc phải triệt hạ mọi mầm mống chống đối dù nhỏ trên địa bàn để rảnh tay nghênh tiếp đại quân chỉ huy bởi Liễu Thăng. Toàn Thư thể hiện khá rõ tình trạng xã hội rối loạn khi viện binh chuẩn bị tràn sang. Nhằm đạt mục tiêu chiến lược trong cuộc xung đột mất còn thì sinh mệnh người vô tội chỉ là thứ yếu. Cách hành xử đó thể hiện một cách rõ ràng trong các cuộc cách mạng, trong chiến tranh thế giới thứ II và liên tục ngự trị đến ngày nay.

Bởi dùng lăng kính Hoa tâm, Kelley thiếu chính xác khi cho rằng Nguyễn Trãi đã chứng minh tính đúng đắn của vương quốc (kingdom) phương Nam. Ông Nguyễn ghi rất rõ Đại Việt được làm chủ bởi đế (emperor) nên dưới Lê Lợi phải là một đế quốc (empire). Có lẽ giáo sư không chấp nhận tiêu chuẩn kép trong hành xử của chính quyền nước triều cống. Đại Cáo biện minh quyền lực vua mới? Đúng nhưng chưa đủ, nó còn chính thức đặt nhóm hợp tác với quân Minh ra ngoài vòng pháp luật. Bồi thần chư hầu có thể dựa dẫm thiên triều, thần dân đế quốc làm thế bị liệt hàng đại nghịch. Thái tổ xem Tuyên Đức như ranh con thì đám hào sĩ kinh lộ theo đóm ăn tàn có thật quan trọng dưới mắt ông? Đại Cáo vừa thuyết phục lớp ưu tú vừa treo gánh nặng tội lỗi lơ lửng trên đầu họ. Chọn cà rốt hay gậy thì tùy!

Ý thức về căn cước dân tộc Việt Nam không tồn tại trước cuộc xâm lược của nhà Minh, cũng không nảy sinh trong thời gian quân Minh chiếm đóng. “Nước Đại Việt ta” riêng biệt, khác biệt, đối xứng Hoa Hạ, vì là phần dương (nam, sáng, thiện) trong hai phần của Thái cực đồ theo mô hình tư duy cổ-trung đại. Nhiều bằng chứng suốt chiều dài lịch sử Đại Việt-Đại Nam-Việt Nam cho thấy ý thức dân tộc mới manh nha vào cuối thế kỷ XIX, tượng hình đầu thế kỷ XX và đến nay vẫn còn trong quá trình hoàn thành. Thế kỷ XVI, Mạc Đăng Dung biến bắc bộ thành khu tự trị thuộc Đại Minh. Thế kỷ XVII, Nguyễn Phúc Nguyên chính thức thành lập Đàng Trong bằng lũy Thầy và lũy Nhật Lệ. Thế kỷ XVIII, dân sông Hồng xem Nguyễn Huệ như đến từ nước khác nên rất vui mừng trước tin quân Thanh tiến sang. Thế kỷ XIX, lập tức xuất hiện ở Bắc Kỳ lực lượng ly khai muốn tái lập nhà Lê khi thực dân Pháp đuổi chủ lực triều đình Huế khỏi Gia Định. Thế kỷ XX, hội nghị Fontainebleau chưa khai mạc Nam Kỳ tự trị đã mau mắn ra đời. Luôn có tập đoàn Việt này cảm thấy không chịu nổi một tập đoàn Việt khác. Họ dùng máu để giải quyết sự khó chịu về nhau. Các lãnh tụ nhất thống như Lê Lợi, Nguyễn Ánh, Lê Duẩn giương những ngọn cờ màu sắc rất khác, nhưng lại có điểm tương đồng là phải nhận nhiều bình phẩm theo kiểu cách hung hiểm và hạ lưu nhất mà con người có thể nghĩ ra.

II ĐẠI CÁO

Chúng ta thử đặt Đại Cáo song song với các văn bản đồng đại để xem xét và cố gắng hiểu nó như trí thức đương thời, những người có cùng mã ngôn ngữ với soạn giả, đã hiểu. Đặc biệt nếu đối chiếu với các văn bản hành chính của người Minh, sẽ dễ dàng phát hiện trận chiến về chân-ngụy trớ trêu nằm sau cuộc chạm trán vũ trang. Đại Cáo không đơn thuần thông báo chiến thắng của Đại Việt trước Đại Minh đến các tầng lớp dân chúng mà còn phản ánh trung thực hiện trạng xã hội. Điều quan trọng là hùng ca này dù được sao chép lại nhưng khả năng nội dung vẫn gần nguyên gốc vì không dễ cho bất kỳ ai tái biên tập trên cơ sở cấu trúc chặt chẽ của văn bản, cũng vì nó không nằm trong tầm ngắm của các chính trị gia đời sau như Toàn Thư hay Lam Sơn Thực lục. Về mặt thông tin Cáo Bình Ngô khả tín hơn sử chính thống hoặc tư nhân.

Sau khi đào sâu thêm nội dung Đại Cáo từ góc nhìn quen thuộc, chúng ta sẽ đi vào vài khía cạnh khác bằng công cụ phân tích khác, tuy đã cũ, nhưng chưa được thể nghiệm rộng rãi trong việc khảo sát văn-sử Việt Nam.

Xin để nguyên văn chữ Hán và phiên âm Hán Việt ngay bên dưới những đoạn văn quan trọng. Thao tác như thế có thể gián đoạn mạch đọc nhưng sẽ giúp độc giả chuyên nghiệp dễ theo dõi hơn.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.(A)

仁義之舉要在安民,弔伐之師莫先去暴. Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân, điếu phạt(25) chi sư mạc tiên khử bạo.

Đây là nhập đề thường thấy trong các văn bản mang tính công bố của lãnh đạo các cấp, cả Minh lẫn Việt, đặc biệt nhân dịp khởi động hay giải thích chiến tranh.

Trước đó 22 năm (1406), Thành Quốc công Chu Năng khi chuẩn bị dẫn quân vào Giao Chỉ đã cho niêm yết “Tổng binh tiến chinh An Nam bảng văn” với đoạn mở đầu như sau:

(Người ta) thường nói: Dựng lại nước bị diệt, nối dòng họ bị tuyệt, thực là ưu tiên của chính trị nhân từ; trừ khử hung bạo, cứu vớt dân chúng, ắt là hành động phải làm của đội quân vì nghĩa.

嘗謂:興滅繼絕,實仁政之所先,去暴救民,在義師之必舉.(26)
Thường vị: hưng diệt kế tuyệt, thực nhân chính chi sở tiên, khử bạo cứu dân,(27) tại nghĩa sư chi tất cử.

Ngày 5/7/1407, khi bình định An Nam thành công, Vĩnh Lạc ban chiếu báo tiệp đến bách tính, trong đó có lời biện minh việc phải huy động binh lực như sau:

Thực bất đắc dĩ mới phải dấy binh thăm dân phạt tội nhằm “dựng lại nước bị diệt, nối dòng họ bị tuyệt.”

寔不得已是用興師期伐罪吊民將興滅而繼絕 (Minh thực lục I, 668).
Thực bất đắc dĩ thị dụng hưng sư kỳ phạt tội điếu dân(28) tương hưng diệt nhi kế tuyệt.

Ngày 8/6/1426, để tạo điều kiện chính trị-xã hội cho Vương Thông sang An Nam hỗ trợ bọn Trần Trí, Phương Chính đang lao đao vì khởi nghĩa Lam Sơn, hoàng đế Tuyên Đức xuống chiếu miễn xá tội nhân Giao Chỉ với câu mở đầu như sau:

Đạo trị nước của trẫm nhắm thương dân (Minh thực lục II, 145).

朕惟統理之道所重愛民 (Minh thực lục II, 636).
Trẫm duy thống lý chi đạo sở trọng ái dân.(29)

Mào đầu của Đại Cáo như vậy không có gì đặc biệt. Vào thế kỷ XV, người Việt có cùng nền tảng về đạo đức cai trị với người Minh mà sư biểu chung là đạo đức Khổng Mạnh. Lãnh đạo hai phe đều tự tin rằng họ đã mang nhân nghĩa vào chính trị tức thi hành nhân chính.

Vì sao vua quan nhà Minh xem người Giao Chỉ như dân của họ, còn Lê Lợi giữ ý kiến khác?

Xét như nước Đại Việt ta,
Thực là một nước văn hiến.
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt không bao giờ thiếu.(B)

惟, 我大越之國, 實為文獻之邦.山川之封域既殊,南北之風俗亦異.自趙丁李陳之肇造我國,與漢唐宋元而各帝一方.雖強弱時有不同,而豪傑世未常乏. Duy, ngã đại việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang.(30) sơn xuyên chi phong vực ký thù, nam bắc chi phong tục diệc dị. tự triệu đinh lý trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ hán đường tống nguyên nhi các đế(31) nhất phương. tuy cường nhược thì hữu bất đồng, nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

Đoạn văn từng được bình luận nhiều, thấu đáo những điều người đời nay muốn truyền đạt, nhưng dường như chưa thấu đáo điều Lê Lợi muốn truyền đạt. Để có thể gần gũi hơn với tâm thức của ông, chúng ta cần hiểu những từ quan trọng: ngã, quốc, văn hiến, phong tục, đế, hào kiệt.

Ngã 我: Đại Cáo là lời vua ban cho dân chúng, nên “ngã” có nghĩa “ta” hay “của ta”, không phải “chúng ta” hay “của chúng ta”. Thay vì “trẫm”, Lê Lợi xưng “ngã” hoặc “dư” trong Đại Cáo theo phong cách cổ phác của Chu Thành vương (? – 1020 TCN) (Thượng Thư, Chu Thư, Đại cáo). Dẫu vậy, do vị trí độc tôn, rất không nên cho rằng ông đã hòa mình với bề tôi hay thần dân để cùng xưng là chúng ta.

Quốc 國: người cai trị và kẻ bị cai trị nhận thức khái niệm “quốc” khác nhau. Theo Mạnh Tử, vua chư hầu nên quý trọng ba việc là thổ địa, nhân dân và chính sự.(32) Như vậy, vua chư hầu làm chủ thực thể gọi là “nước” cấu thành từ đất đai, dân chúng, và guồng máy cai trị. Với người bị trị, cả quan lẫn dân, “quốc” đơn giản chính là nhà vua, hoặc gồm thêm triều đình.(33)

Văn hiến 文獻: sách vở đời trước truyền lại, hoặc điển tịch và nhân tài. Văn hiến ở đây tượng trưng cho Thái cực, nền tảng sinh ra Lưỡng nghi là Nam và Bắc.

Phong tục 風俗: tập quán, thói quen, lối sống lâu đời. Như đã trình bày ở phần trước, thời Ức Trai, khái niệm dân tộc hay sắc tộc chưa hình thành rõ rệt. Thức giả khi đó dựa vào “tục” hay “phong tục” để nhận diện các nhóm người. “Nam Bắc chi phong tục diệc dị” chỉ cộng đồng sắc tộc Nam khác cộng đồng sắc tộc Bắc. “Phong tục” ở đây tương đương khái niệm “nhân dân”, một trong ba phần hợp thành nước chư hầu của Mạnh Tử.

Triệu 趙: nhà Triệu (204 – 111 TCN) nước Nam Việt do Triệu Đà sáng lập, đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu nay), cai trị năm quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận, Giao Chỉ và Cửu Chân; gần tương đương với Quảng Đông, Quảng Tây, một phần Quế Châu, Bắc và Bắc trung bộ Việt Nam nay. Với nhà Hán, Đà xưng thần nhưng vẫn giữ đế hiệu trong nước. Đến đời vua thứ năm là Triệu Thuật Dương vương thì Nam Việt bị Hán Vũ đế diệt.

Đế 帝: người đứng đầu thiên hạ.

Hào kiệt 豪傑: hào là người giỏi hơn trăm người, kiệt là người giỏi hơn mười người. Hào kiệt chỉ người vượt trên người thường nhưng thiên về khía cạnh quân sự hơn. Nhân tài tiến thân qua thi cử, hào kiệt lập công danh bằng chiến trận.

Như vậy nước Đại Việt của Lê Lợi có thổ địa riêng ngăn cách bởi núi sông; nhân dân riêng với sinh hoạt đặc thù phương Nam; chính sự riêng với bậc đế đứng đầu, thể hiện đầy đủ văn hóa và vũ dũng.(34) Nếu dân tộc không thể kết thành từ hư vô, thì khái niệm về cấu trúc “ngã Đại Việt” cũng thế, không xuất hiện ngẫu nhiên. Nho sĩ Nguyễn Trãi tiến tới định nghĩa Đại Việt dựa trên ba việc vua chư hầu cần chú tâm do thầy Mạnh đề xuất. Tuy nhiên, định nghĩa đó mang đậm dấu ấn vua Lê vì Mạnh Tử không đề cập sự cách biệt giữa dân chúng các nước, càng không nói vị trí vua chư hầu ngang bằng thiên tử nhà Chu. Theo Lê Lợi, thiên hạ gồm hai đế quốc, hai thực thể khác biệt về lãnh thổ và dân cư nhưng cùng văn minh và mạnh mẽ như nhau.

So với ba yếu tố của Mạnh Tử, Ức Trai thêm vào các thành phần “văn hiến” và “hào kiệt”. Thế tại sao phải nói rõ điều đó? Chúng ta lại thấy bóng dáng Thái tổ ẩn hiện sau ngôn từ. Vì một nước văn hiến sẽ từ chối người ngoài đòi giáo hóa, và hào kiệt sẽ ngăn chặn bất cứ ai cố tình vờ vịt điều này. Lập luận nêu trên dẫn đến hệ quả: các nước khác đều là vệ tinh hoặc của Nam đế, hoặc của Bắc đế. Nguyễn Trãi không có, hoặc trước đó chưa có, ý nghĩ như thế. Khi vọng về vua Minh, ông từng gọi dân Giao Chỉ là “hà manh”.

Trong “Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh”, Nguyễn Đình Chiểu nói: “Tủi phận biên manh, căm loài dương tặc!” Với từ ghép “biên manh, dân biên giới”, Hối Trai nhận thức rằng dân Lục tỉnh và vua Tự Đức chẳng khác gì nhau về mặt văn hóa. Họ tương phản với bọn giặc đến từ phương Tây. Với từ ghép “hà manh, dân miền xa”, Ức Trai nhận thức rằng dân Giao Chỉ và vua Vĩnh Lạc chẳng khác gì nhau về mặt văn hóa. Họ tương phản với bọn man di vây bọc Hoa Hạ.

Người thấy dân Việt khác dân Minh là Lê Lợi. Yếu tố “phong tục” tức “nhân dân” bổ sung, kiện toàn quan điểm về “Nam quốc sơn hà” hiện hữu trong bài thơ đánh giặc được cho là xuất hiện vào đời Lý. Vì sao vua Lê nhấn mạnh “phong tục” tức “nhân dân” hai khu vực Nam Bắc khác nhau? Vì đương thời có rất nhiều người, đặc biệt là tinh hoa đồng bằng như Nguyễn Trãi, nghĩ rằng bản thân họ và cộng đồng xung quanh không sai khi thờ vua Vĩnh Lạc. Có thể thấy ý tưởng đó hết sức rõ ràng trong đề đạt xin tái lập quận huyện tại An Nam của Mạc Thúy ghi nhận bởi Minh Thực lục. Họ Mạc không cô đơn, ông được 1.128 bô lão, tức thủ lĩnh cơ sở, ủng hộ. Số người nghĩ như Nguyễn Trãi hay Mạc Thúy đông đáng kể, dù họ dao động lúc này lúc khác, nhưng vẫn tạo thành lực lượng xã hội mạnh khiến bất kỳ lãnh đạo nào cũng phải cân nhắc. Họ có phải người “Ngô” như Whitmore nói? Không! Họ là người kinh lộ thuộc Đại Việt. Dù giữ chức Tri phủ Lạng Giang thuộc Giao Chỉ Bố chính sứ ty, Mạc Thúy vẫn được vua Minh đãi yến cùng với quốc vương Bột Nê, sứ thần Vu Điền, Đông Dương, Ngõa Lạt… là đại diện các tiểu quốc triều cống. Hoàng đế đã không xem phái đoàn họ Mạc như người Ngô. Dân kinh lộ chỉ có cơ hội làm “Ngô” nếu theo Vương Thông triệt thoái. Trên thực tế đa số dân kinh lộ lại chọn An Nam dù phía Minh sẵn lòng mở cửa. Họ chỉ là những người đáng thương ngả nghiêng theo hướng gió để duy trì thu nhập gắn chặt với đất đai hay nguồn tài nguyên bản địa khác nên không có nhu cầu trở thành “Ngô”. Tội của họ là sống tại An Nam mà mơ chủ theo thứ tự: vua kinh lộ, vua Minh, vua trại. Đây là thứ tự mức độ bảo đảm quyền lợi của giới ưu tú bắc bộ. Có thể nói đoạn mở đầu Đại Cáo xác định đối tượng hướng đến của văn bản chính là nhóm người còn ngỡ ngàng trong việc chấp nhận làm tôi nước Đại Việt mới. Nó khẳng định thiên tử nhà Minh chẳng liên can gì đến con dân đế quốc Đại Việt mưu sinh tại đồng bằng sông Hồng. Lê Lợi sử dụng nhân vật phản tỉnh Ức Trai để châm ngòi và thúc đẩy sự thức tỉnh của cộng đồng.

Dạng thế giới gồm hai đế quốc riêng biệt ngang hàng nhau, mỗi bên riêng có hệ thống chư hầu xoay quanh, tồn tại trong tâm thức các vua Việt mãi đến đời Nguyễn. Thậm chí, các vua Nguyễn còn cho rằng Đại Nam mới đích thật truyền thừa văn minh Hán, Đại Thanh thì không. Thế giới đó chẳng có gì tương đồng với thế giới hiện đại được xem như tập hợp gồm nhiều thành viên là các quốc gia-dân tộc độc lập, bình đẳng. Xem đoạn văn đang phân tích như “tuyên ngôn độc lập” vô tình hạ thấp giá trị Lê Lợi và Đại Việt. Nước Việt không độc lập, bình đẳng với Trung nguyên và các nước trong thiên hạ. Vị trí Đại Việt cao hơn thế vì nó chia nửa thế giới với đế quốc phương Bắc. Triệu, Đinh, Lý, Trần cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đồng sở hữu thế giới.

Untitled.png
Nam đế và Bắc đế đồng sở hữu thế giới
(http://bit.ly/2XTnIAV)

Khoảng cuối thập niên 2000, khi viên tướng Tàu ẩn danh đề nghị Đô đốc Hoa Kỳ Timothy Keating nhường phần giữ an ninh nửa Tây Thái Bình dương cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hẳn ông không hề nghĩ Trung Hoa độc lập và bình đẳng với các quốc gia khác. Có điều gì ngầm sâu trong ý tưởng đó, như hình dung về thế giới G2 chẳng hạn. Có thể nói ông đã tư duy về thế giới theo mô hình Thái cực đồ y như Lê Lợi. Nếu ám ảnh của Việt là Hoa, thì vấn đề của Hoa là phương Tây.

Thông tin về đế quốc phương Nam được đưa ra như một tiên đề. Khối ngôn từ kết chặt không gợi mở thảo luận. Thực ra, Nguyễn Trãi đặt ý chính của Lê Lợi bên ngoài đoạn văn nổi tiếng. Ông nhắc lịch sử nhằm hướng độc giả về thực tại. Tám triều đại hai bên Bắc Nam thuộc về lịch sử. Rợ Hồ đã quay lại đồng cỏ. Thi thể miêu duệ cuối cùng của tộc Trần đã vùi lấp nơi lùm bụi. Thần dân đế quốc Đại Việt cần nghĩ gì? Phải chăng nên liên tưởng, đối diện và chấp nhận cặp đối xứng Minh-Lê trong hiện thực? Nhiều người, đặc biệt ngoài Đại Việt, không tin mấy vào sự hợp lý của các vị đế ở Giao Nam. Đoạn tiếp theo nói về cái giá phải trả cho sự ngờ vực.

Vậy nên:

Lưu Cung tham công mà đại bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tan tành.
Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô
Sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã.
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ rành rành.(C)

故劉貪功以取敗,而趙好大以促亡.唆都既擒於鹹子關,烏馬又殪於白虅海. 諸往古,厥有明徵. Cố lưu cung tham công dĩ thủ bại nhi triệu tiết hiếu đại dĩ xúc vong toa đô ký cầm ư hàm tử quan, ô mã hựu ế ư bạch đằng hải.(35) kê chư vãng cổ quyết hữu minh trưng.

Lưu Cung (889 – 942): tức Lưu Nham, Lưu Nghiễm hay Lưu Trắc, là Cao tổ nhà Nam Hán (917 – 971). Nam Hán chiếm lĩnh vùng ven biển cực Đông Nam Trung Hoa, đô tại Phiên Ngung (vị trí thành phố Quảng châu hiện nay). Khi Kiểu Công Tiện giết Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (năm 937) bị Ngô Quyền tiến đánh, họ Kiểu đã cầu cứu vua Nam Hán. Lưu Cung phong con Lưu Hồng Tháo làm Giao vương, sai sang đánh Ngô Quyền. Tháo bị thua chết tại bãi cọc Bạch Đằng. Cung đang giữ hậu viện nghe tin phải than khóc trở về.

Triệu Tiết (1026 – 1090): phó tướng của Quách Quỳ trong lần tấn công Đại Việt năm 1076. Khi trú đóng tại bờ Bắc Như Nguyệt (sông Cầu), Triệu Tiết bị Lý Thường Kiệt tập kích (năm 1077), quân dưới quyền gần như bị tiêu diệt. Ông bị vua Tống Thần tông giáng chức khi về nước.

Toa Đô (? – 1285): chỉ huy đạo quân tiến vào Đại Việt từ Chiêm Thành trong lần xâm lược thứ nhì của Hốt Tất Liệt. Tháng 3 năm 1285, Toa Đô đánh lui Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, bức Trần Kiện đầu hàng, lấn đến Trường châu. Sau đó ông quay lại Thanh Hóa truy đuổi hai vua Trần. Giữa năm 1285, Toa Đô tiến về đồng bằng sông Hồng, hi vọng hội quân với Thoát Hoan. Quân Trần chặn đánh Toa Đô tại Tây Kết, bắt được ông rồi giết đi. Khi nhìn thấy thủ cấp viên Hữu thừa Hành tỉnh Chiêm Thành, vua Trần Nhân tông nói “Làm tôi nên như người này!” rồi sai chôn cất tử tế.

Ô Mã (? – 1289): tướng chỉ huy thủy quân Nguyên Mông trong lần xâm lược thứ ba. Dù thành công trong việc chiếm kinh đô Thăng Long, do thiếu lương, Ô Mã Nhi phải rút binh thuyền theo sông Bạch Đằng để trở về. Ông bị Nội Minh tự Đỗ Hành bắt trong trận thủy chiến lừng danh năm 1288. Năm sau, được Nội thư Hoàng Tá Thốn hộ tống về nước bằng đường thủy theo yêu cầu từ Nguyên Thế tổ. Vua Trần chấp nhận kế trả thù của Hưng Đạo vương, cho người đương đêm đục thuyền khiến Ô Mã Nhi chết đuối. Viên Tham chính này từng đào phá Chiêu lăng, nơi an táng Trần Thái tông.

So với Toàn Thư, số phận của Toa Đô và Ô Mã Nhi được Nguyễn Trãi ghi nhận hơi khác, dịch giả đã chỉnh lại theo thực tế xảy ra. Tuy nhiên, sai biệt không ảnh hưởng đến điều vua Lê muốn thuyết phục mọi người: những ai phủ nhận sự xếp đặt bởi Trời đều chịu kết cục tối tăm. Nghệ thuật Nguyễn Trãi là dần tăng mức độ khốc liệt của sự trừng phạt. Từ giật mình đến bỏ mạng. Mọi loại gánh nặng của thất bại không hẳn chỉ nằm trong tường thuật lịch sử, chúng được ghi nhận bởi một dạng “thiên thư” ẩn khuất. Có thể gọi chức năng của quyển sách vô hình theo định nghĩa xưa là “định phận”. Nó lưu trữ quá khứ cùng lúc dự trù cho tương lai. Thất bại của Nam Hán, Tống, Nguyên ở đây chẳng gì khác hơn tiên báo cho thất bại của nhà Minh sắp đến.

Vừa rồi:

Vì họ Hồ chính sự phiền hà,
Để đến nỗi lòng người oán hận.
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,
Bọn gian tà lại bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.
Dối trời lừa người, kế quỷ quyệt đủ muôn ngàn khóe,
Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm.
Tan nghĩa nát nhân, trời đất tưởng chừng muốn sập,
Sưu cao thuế nặng, núi chầm hết thảy sạch không.
Kẻ tìm vàng phá núi đãi bùn, lặn lội nơi lam chướng,
Người mò ngọc giòng dây quăng biển, làm mồi lũ giao long.
Nhiễu dân, đặt cạm bẫy hươu đen,
Hại vật, căng lưới bắt chim trả.
Đến cỏ cây sâu bọ cũng chẳng được trọn đời,
Người góa bụa khốn cùng không một ai yên ổn.
Hút máu mủ sinh dân, quân gian ác miệng răng nhờn béo,
Dựng công trình thổ mộc, nhà công tư dinh thự nguy nga.
Chốn châu huyện bao tầng sưu dịch,
Nơi xóm làng lặng lẽ cửi canh.
Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa tanh nhơ,
Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác.
Thần người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha.(D)

頃因胡政之煩苛,致使人心之怨叛.狂明伺隙,因以毒我民;恶黨懷奸,竟以賣我國.焮蒼生於虐焰,陷赤子於禍坑.欺天罔民,詭計蓋千萬狀;連兵結釁,稔惡殆二十年.敗義傷仁,乾坤幾乎欲息;重科厚歛,山澤罔有孑遺.開金場則冐嵐瘴而斧山淘沙,採明珠則觸蛟龍而絙腰汆海.擾民設玄鹿之陷阱,殄物織翠禽之網羅.昆虫草木,皆不得以遂其生;鰥寡顛連,俱不獲以安其所.浚生民之血,以潤桀黠之吻牙;極土木之功,以崇公私之廨宇.州里之征徭重困,閭閻之杼柚皆空.決東海之水,不足以濯其污;罄南山之竹,不足以書其惡.人之所共憤,天地之所不容. Khoảnh nhân hồ chính chi phiền hà, trí sử nhân tâm chi oán bạn. cuồng minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân; ác đảng hoài gian, cánh dĩ mại ngã quốc. hân thương sinh ư ngược diễm, hãm xích tử ư họa khanh. khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng; liên binh kết hấn , nẫm ác đãi nhị thập niên. bại nghĩa thương nhân, càn khôn cơ hồ dục tức; trọng khoa hậu liễm, sơn trạch võng hữu kiết di. khai kim trường tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa, thái minh châu tắc xúc giao long nhi căng yêu thộn hải. nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tỉnh, điễn vật chức thúy cầm chi võng la. côn trùng thảo mộc, giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh; quan quả điên liên,(36) câu bất hoạch dĩ an kỳ sở. tuấn sinh dân chi huyết, dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha; cực thổ mộc chi công, dĩ sùng công tư chi giải vũ. châu lý chi chinh dao trọng khốn, lư diêm chi trữ trục giai không. quyết đông hải chi thủy, bất túc dĩ trạc kỳ ô; khánh nam sơn chi trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác.(37) thần nhân chi sở cộng phẫn, thiên địa chi sở bất dung.

Vua Đại Ngu mếch lòng trời qua chính sự phiền hà. Đưa vương quốc chìm đắm vào thảm kịch gồm nhiều người Đại Ngu khác. Trước khi lược thuật những gì sinh linh trong lãnh thổ phương Nam chịu đựng, Lê Lợi nêu rõ hai chủ thể tiêu cực: “cuồng Minh” và “ác đảng”. Minh chỉ những gì thuộc về nhà nước Trung Hoa. “Cuồng Minh” kết án triều đình phương Bắc ngông ngạo, vượt khuôn phép, cái khuôn phép vĩnh cửu Ức Trai vừa trình bày qua đoạn văn ngắn bên trên. Ác đảng, lũ ác ôn, luôn là đám gai góc gây nhức nhối cho vua Lê suốt thời gian kháng chiến. Nhưng lũ đó cụ thể là ai? Dựa vào sử hai bên Minh, Việt, có thể phân loại các nhóm người có thái độ rất khác nhau đối với giặc Minh:

– Nhóm hi sinh khi chiến đấu bảo vệ nước Đại Ngu: Thần Đinh tướng quân Ngô Thành, Tả Thánh Dực tướng quân Hồ Xạ, An Phủ sứ Nguyễn Hy Chu….
– Nhóm nổ lực đến cùng cho tới khi bị bắt: Nhập nội Thiêm văn Triều chính Hồ Đỗ, Long Tiệp tướng quân Phạm Lục Tài, Nhập nội Hành khiển Nguyễn Ngạn Quang……..
– Những người tự sát sau khi Quý Ly và Hán Thương sa cơ: các hoạn quan Hành khiển Tham chính Ngô Miễn, Trực trưởng Kiều Biểu và phu nhân, Nguyễn Lệnh……
– Đội kháng chiến dưới cờ Hậu Trần: Quốc công Đặng Tất, Đồng tri Khu mật viện sự Nguyễn Cảnh Chân, Thái phó Nguyễn Súy, Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị, Đồng Bình chương Đặng Dung…..
– Vài vị bất hợp tác: nho sĩ Bùi Ứng Đẩu, Lý Tử Cấu…..
– Nhóm đến quân môn Trương Phụ xin hàng: Đặng Nguyên Nguyên, Mạc Thúy, Mạc Viễn, Nguyễn Huân, Trần Phong, Đỗ Duy Trung, Trần Nhật Chiêu, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cẩn, Đỗ Mãn, Phạm Nguyên Lãm, Lê Uy…

Tâm lý mất phương hướng khi xã hội tan rã dẫn đến lựa chọn khác nhau của mỗi người tùy thuộc nguồn gốc xuất thân, nền văn hóa được hấp thụ và điều kiện địa phương. Sử ký chỉ đề cập tên tuổi các nhân vật thuộc tầng lớp trung gian giữa vua và dân thường. Đám đông im lặng bên dưới có lẽ chưa có quyền chọn lối đi, họ chủ yếu chỉ vâng phục quyết định từ lớp người trên. Thời kháng Nguyên, Quốc Tuấn kêu gọi tướng hiệu cấp dưới nêu cao tinh thần chết vì chủ mà ông gọi là lòng trung nghĩa. Sâu sát hơn, Hưng Đạo vương nhắc đến mục tiêu chiến đấu vì bổng lộc cùng sự bảo toàn vợ con. Hơn trăm năm sau, qua một bức thư gửi Vương Thông, Lê Lợi bày tỏ tự tin vì biết giáo dục sĩ tốt về nhân nghĩa khiến họ thương yêu bề trên, phụng sự người trưởng. Trong Phú núi Chí Linh, Nguyễn Trãi nhắc đến việc binh sĩ vì thọ ơn mà sẵn lòng chết cho lãnh đạo. Thời đó, cấu trúc xã hội chưa đủ độ cố kết mà đầu óc con người cũng chưa đủ phong phú để tưởng nên dân tộc và tổ quốc. Bình dân chiến đấu vì chủ, người nuôi nấng bảo bọc bản thân họ và gia đình.(38)

Trong sáu nhóm thái độ, ba nhóm đầu thuộc triều đình Hồ, họ làm trọn nghĩa vụ của mình. Nhóm thứ tư có lãnh tụ tộc Trần tôn phù bởi binh tướng phần nhiều xuất thân Hoan Ái. Hậu Trần dũng cảm, kiên trì, nhưng công nghiệp lỡ làng vì thất bại trong lôi kéo sự ủng hộ của hào sĩ châu thổ sông Hồng. Nhóm thứ năm rất đặc biệt, họ cảm thấy bất an với nhà Minh dù hưởng thụ học vấn nặng ảnh hưởng Hoa Hạ. Tuy nhiên Toàn Thư cho biết số người này đếm trên đầu ngón tay.

“Nghệ phụ hàng 詣輔降”, yết kiến Trương Phụ để đầu hàng, không phải là lựa chọn bắt buộc hay duy nhất, nhưng là lựa chọn dễ dàng nhất. Đa số nhân sự thuộc tầng lớp trung gian chọn hướng này. Họ hành xử như vậy có thể vì tin vào chính sách “hưng diệt, kế tuyệt” của Minh Thành tổ, cũng có thể nhằm duy trì tài sản hay địa vị xã hội, lại có thể do e ngại các tập đoàn Thanh Nghệ với đường lối khắc bạc, hoặc đơn giản chỉ vì họ thuộc dòng dõi các gia tộc gốc Bắc. Tuyên bố biến An Nam thành quận huyện như bộ lọc chính trị thanh tẩy nhóm người quy phụ. Nhiều tên tuổi chìm khuất như Đặng Nguyên Nguyên, Đỗ Mãn, Phạm Nguyên Lãm…, đồng thời nổi lên những Nguyễn Huân, Trần Phong, Mạc Thúy, Đỗ Duy Trung, Lương Nhữ Hốt… là số nhân vật chúng ta có dịp khảo sát sơ lược trong phần “Hợp Tác với Quân Minh: Người Kinh Lộ”. Lũ ác ôn chính là nhóm này, họ sát cánh quân Minh để gây ra thảm họa lớn nhất trong lịch sử người Việt.

Toàn Thư cho biết năm 1417 vua Minh sai Lý Bân sang An Nam thay thế Trương Phụ, đặt Giám sát Ngự sử tuần xét việc cai trị An Nam. Tổng binh mới sắp xếp cho thổ quan lần lượt sang Nam kinh triều cận, lại cho khám hộ khẩu, ruộng đất, lương thực trong ba năm (từ tháng 7 ta năm 1414 đến tháng 6 ta năm 1417) để làm “sổ tu tri” dâng lên. Mốc 1414 đánh dấu bởi sự kiện vua Trùng Quang, Nguyễn Súy, Đặng Dung bị áp giải về Bắc. Ngay sau thời điểm bình định, người Minh đã bắt đầu kiểm tra dự trữ tài nguyên bản địa, trưng tập sinh viên, khai mỏ vàng bạc, tìm voi trắng, mò ngọc trai, độc quyền kiểm soát mua bán muối. Tuy nhiên, vơ vét đại quy mô chỉ diễn ra sau khi sổ tu tri được dâng nộp. Đương thời, hẳn ngân sách Đại Minh bị sức ép chi phí nặng nề từ chiến tranh với Mông Cổ và từ hạm đội Trịnh Hòa. Theo nhà nghiên cứu Trương Tú Dân (1908 – 2006), sổ tu tri là một nguồn dữ liệu của Giao Chỉ tổng chí, phần chủ yếu trong quyển sách ngày nay mang tên An Nam chí nguyên. Ông Trương cho rằng An Nam chí nguyên là gán ghép miễn cưỡng của hai sách: An Nam chí kỉ yếu và Giao Chỉ tổng chí;(39) Cao Hùng Trưng (1635? – 1700?) chỉ soạn phần tổng luận vốn mang tên An Nam chí kỉ yếu, các phần còn lại do quan lại thuộc Ty Bố chính dưới quyền Hoàng Phúc làm ra và mang tên Giao Chỉ tổng chí.(40) Với viện dẫn từ “Vĩnh Lạc thập ngũ niên tu tri sách”, sổ ghi việc cần biết năm 1417 và với ghi chép về các sự kiện diễn ra đến năm 1419, Tổng chí nhiều khả năng ra đời trong nhiệm kỳ Lý Bân-Trần Hiệp (1417 – 1422) dù thông tin tích lũy từ đời Trương Phụ-Hoàng Phúc.(41) Ức Trai với tư cách thừa sai Ty Bố chính (hay Ty Án sát) hẳn từng đóng góp phần nào vào quá trình làm sách. Tổng chí có vài bài thơ của Phạm Sư Mạnh, nhân vật sinh trưởng từ vùng đất nay thuộc Hải Dương. Lại có đoạn viết về khu Côn Sơn nơi Trần Nguyên Đán ẩn cư. Đó là ấn chứng sự tham gia biên soạn của người An Nam, những người như Hữu Bố chính sứ Nguyễn Huân hay “thừa sai” Nguyễn Trãi. Họ đều quê Hải Dương. Có thể giả định thêm bước nữa rằng sổ tu tri cũng là nguồn dữ liệu quan trọng cho Dư địa chí của Nguyễn Trãi sau này. Hoặc ngược lại, chính Dư địa chí với lượng thông tin dồi dào nhưng được viết trong thời gian khá ngắn giúp chúng ta suy đoán quan Thừa chỉ từng làm việc với “tu tri sách”.(42)

Ở vị trí như thế, Nguyễn Trãi am hiểu tiến trình khai thác thuộc địa bài bản của người Minh.

Do thu vén quá mức, chính quyền buộc phải dựa vào dối trá và bạo lực. Từ “Hân thương sinh ư ngược diệm, nướng dân đen trên lửa hung tàn…” đến “Sơn trạch mị hữu kiết di, núi chầm hết thảy sạch không”, Đại Cáo khái quát hành động tàn ngược cực điểm của giới cai trị. Đoạn từ “Khai kim trường tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa…, Kẻ tìm vàng phá núi đãi bùn, lặn lội nơi lam chướng …” đến “Lư diêm chi trữ trục giai không, Nơi xóm làng lặng lẽ cửi canh.” chi tiết sự chịu đựng chưa từng có của dân đen Giao Chỉ. Những việc như khai mỏ vàng, mò trân châu, bẫy lưới hươu đen chim trả… đều là sự thật. Sản phẩm cung đốn thiên triều liệt kê ở đây cũng được ghi lại trong Toàn Thư, Minh Thực lục, Minh sử, An Nam chí nguyên…Chính người Minh cũng nhìn nhận sự bốc lột quá đáng.

Một nhân vật đặc biệt khét tiếng tham bạo là Nội quan Mã Kỳ, người bị các sử gia Minh xem như thủ phạm gây ra loạn lạc tại Giao Chỉ. Toàn Thư có các dòng ghi chép về Mã Kỳ như sau: Mùa thu, tháng 7 (1419), viên thổ quan Tri phủ Nghệ An là Phan Liêu vì bị bọn nội quan nhà Minh bức bách lấy vàng bạc, bèn dẫn quân bắt giết các quan do nhà Minh phái đến, rồi đem quân vây thành Nghệ An…(43) (Toàn Thư II, 259). Lê Ngã, một tay lãng tử, chỉ cần trá xưng lính hầu Mã Kỳ cũng được châu huyện nể nang cấp dưỡng. Khi Vĩnh Lạc băng năm 1424, việc lấy vàng bạc và hương liệu bị vua mới Hồng Hy đình chỉ. Theo lệnh trên, các quan phụ trách trong vòng mười ngày phải quay về kinh. Mã Kỳ rời An Nam do chiếu triệu hồi này. Tài liệu phía Minh về Mã Kỳ rõ hơn rất nhiều:

Ngày 31/8/1419: ……Nhân Mã Kỳ bạo ngược phi lý, Liêu bèn làm phản tại huyện Nha Nghi(44), cùng viên thổ quan Thiên hộ Trần Đài tụ tập đám đông đốt phá châu huyện giết quan lại; viên thổ quan chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật cũng đi theo…(Minh Thực lục II, 67). Ngày 29/11/1424, Minh Thực lục phản ánh tính cách ma mãnh của Mã Kỳ qua ghi chép: Hoàng thượng dụ viện Hàn Lâm về việc Nội quan Mã Kỳ tung tin lại được sang Giao Chỉ quản lý vàng, bạc, trân châu, hương liệu. Lúc bấy giờ Kỳ mới bị triệu về chưa được bao lâu, viện Hàn Lâm lại tâu về việc Mã Kỳ được chấp thuận sang lần nữa. Thiên tử nghiêm mặt nói: ‘Trẫm làm sao có thể nói chấp thuận cho y sang! Y trước đây tại Giao Chỉ làm hại quân dân, từ đó dân theo về một phía để mong cởi bỏ sự khốn khổ; vậy làm sao còn sai đi! Nếu trẫm sai đi thì không những chiếu thư không còn được tin tưởng nữa, mà lại còn làm hỏng cả việc lớn. Y gần đây ở trong cung, cầu xin trăm cách; bọn tả hữu đều tâu cho y sang lần nữa sẽ có lợi cho nước. Trẫm không đáp. Các khanh phải hiểu ý Trẫm.’ Do đó lệnh được hủy bỏ (Minh Thực lục II, 106).

Vua Minh từ chối điều động Kỳ sang Giao Chỉ nhưng không trừng phạt họ Mã về thái độ lộng hành. Tâm địa tàn khốc của Mã Kỳ phá hoại chính sách cai trị An Nam nhưng tay hoạn quan vẫn ung dung nhờ hậu thuẫn bí mật, đây là thế lực ngầm khiến Hồng Hy phần nào kiêng dè. Mãi đến khi Vương Thông rút quân, vua Tuyên Đức mới chấp thuận đề nghị của đình thần tống Mã Kỳ vào nhà ngục vệ Cẩm Y.

Minh sử nói về Mã Kỳ như sau: Người Giao Chỉ vốn thích làm loạn. Trung quan Mã Kỳ馬騏 nhân việc thu gom sản vật đến Giao Châu, ra sức đòi những thứ trân bảo ở đất ấy, khiến dân tình tao động, những kẻ hung hãn bèn nhân xúi giục, đến khi đại quân vừa quay về, liền lập tức cùng nhau nổi dậy.(45) Nói về Phan Liêu như sau: Liêu vốn là con của (Phan) Quý Hựu – Tri phủ Nghệ An khi trước, nối chức cha, không chịu sự tàn ngược của Mã Kỳ mà làm phản. Bọn thổ quan là Chỉ huy Lộ Văn Luật (路文律), Thiên hộ Trần Đài (陳苔) đều theo.(46)  An Nam chí kỷ yếu nói về sự thô bỉ của người Minh, đặc biệt là Mã Kỳ như sau: Bấy giờ quan lại nhà Minh tham lam của cải và vật báu, làm cho người Giao Châu không sao chịu nổi những sự hạch sách và nhũng nhiễu, chẳng ai còn ý hướng theo triều đình nữa. Nhất là Mã Kỳ càng làm nhiều điều trái phép. Các quan châu huyện người bản thổ lại càng gieo tai rắc độc không xiết kể! Do đó, những người làm phản nổi dậy tứ tung, Lê Lợi lại càng kịch liệt hơn cả.(47)

Trong phần Cống phú, Giao Chỉ Tổng chí viết: Quốc triều từ năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) trở về sau số liệu cống phú chưa có ngạch định hẳn hoi, bởi vì dân Man phản trắc bất thường, nên số ngạch định khi tăng khi giảm không nhất định. Nay xin căn cứ vào bản Tu tri sách năm Vĩnh Lạc thứ 15 (1417) về vàng bạc và hương vật, đều có trường sở xuất sản và người coi giữ. Hằng năm cứ đến thời kỳ nhất định thì nội quan và quan trong ba ti đốc thúc các hộ quân dân cùng đi khai thác và thu lượm, nhưng không đề ra số ngạch nhất định; khi làm xong, các quan cùng nhau hội đồng kiểm điểm niêm phong, sai người đi tiến cống. Lệ ngạch đó không phải do các châu, các huyện hằng năm đứng làm, nên không thấy chép trong Tu tri sách.(48)

Qua các ghi chép trên, chúng ta thấy sản vật Giao Chỉ chảy về Bắc theo hai luồng. Luồng chính thức gồm những hạng mục đề cập trong phần cống phú sách Giao Chỉ Tổng chí, chúng được châu phủ nộp về triều đình thông qua các quan Tam ty; tài sản này thuộc ngân sách đế quốc. Luồng thứ hai gồm vàng bạc và hương vật, do nội quan dưới sự trợ giúp của Tam ty thu lấy từ các trường sở; tài sản này dường như có phần chảy thẳng vào kho của thành viên hoàng gia. Giá trị đáng kể của chúng khiến Mã Kỳ khi bị Hồng Hy gọi về đã gấp rút xin trở lại An Nam. Thế lực đằng sau kẻ hầu hèn mọn trong nội cung rất mạnh,(49) họ tìm mọi cách tác động đến hoàng đế dù phương thức khá lỗ mãng. Hạn định cống phú ràng buộc phủ, châu hẳn đã được tính toán để nuôi dưỡng sức sản xuất; vì từ vị trí thu thuế, không ai muốn bòn rút tới mức dân chúng mất khả năng cống nộp vào năm kế tiếp. Đáng tiếc, song hành với hệ thống Hoàng Phúc lại có hệ thống Mã Kỳ. Thu thập vật phẩm giá trị lớn không định lệ đã mở toang lòng tham dục. Nó không chỉ hủy hoại cuộc sống dân địa phương mà còn tàn phá tính chính đáng của Thừa tuyên Giao Chỉ.

Cao Hùng Trưng trách thú mục Đại Minh bại hoại đồng thời đề cập tai ương gieo rắc bởi quan lại cấp châu huyện người bản thổ. Họ Cao muốn “hào kiệt” địa phương phải chia xẻ trách nhiệm đạo đức. Đây là lối lập luận “Di đối đãi với Di đến vậy, người Minh lầm lạc cũng bình thường!” Ông tránh nói về việc tổ chức các hộ dân thành “lý”, “giáp” với lý trưởng và giáp thủ đứng đầu. Lý trưởng, giáp thủ nhận phân công lao dịch từ chính quyền, thường quá nặng không làm xuể khiến họ bị đánh đập khổ sở. Thực tế, đầu lĩnh địa phương chẳng gì khác hơn là những cổ máy nhỏ phóng chiếu tham vọng của chính người Minh lên dân chúng. Tương tự An Nam chí kỷ yếu, Đại Cáo cũng nhắc đến diêu dịch nặng nề ở vùng xa, nơi thôn xóm, khiến người dân bỏ dở nghiệp nhà. Tác hại của dàn thổ quan cấp thấp đi vào ghi chép của cả hai phía. Tuy thông báo sự nghiệp chiến thắng, Lê Lợi lại nhiều lần nói về những nhân vật cộng tác với giặc, hay nhẹ hơn là bất hợp tác với ông. Khổ đau của lớp người thấp bé trong xã hội An Nam được phản ánh bằng nhiều cách, nhưng ấn tượng nhất có lẽ là cảnh máu mỡ nhồm nhoàm trên răng và mép của bọn kiệt hiệt. Dường như tác giả đã có ý niệm về cái chết để phục sinh.

“Bản án chế độ thực dân Minh” bên trên chủ yếu tố cáo tính “bất hiếu sinh” của các nhà cai trị đại diện Trung nguyên. Càn rỡ như thế đi ngược đạo lớn của trời đất; nói cách khác, họ “vô đạo”. Vậy người thế nào mới xứng đáng hành đạo?

Ta:
Phát tích chốn Lam Sơn,
Nương mình nơi hoang dã.
Ngẫm thế thù há đội trời chung,
Thề nghịch tặc khó cùng tồn tại.
Đau lòng nhức óc đã trải mười năm,
Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Lấy xưa nghiệm nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Chí phục thù đã quyết,
Dẫu thức ngủ không quên.
Vừa khi cờ nghĩa mới dấy lên,
Chính lúc thế giặc đương rất mạnh.(E)

予奮跡藍山,棲身荒野.念世讐豈可共戴,誓逆賊難與俱生.痛心疾首者垂十餘年,嘗膽臥薪者蓋非一日.發憤忘食,每研談韜畧之書;即古驗今,細推究興亡之理.圖回之志寤寐不忘.當義兵初起之時,正賊勢方張之日. Dư phấn tích lam sơn, thê thân hoang dã. niệm thế thù(50) khởi khả cộng đới, thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh. thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên, thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật. phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư; tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lý. đồ hồi chi chí ngụ mị bất vong.(51) đương nghĩa binh sơ khởi chi thì, chính tặc thế phương trương chi nhật.

“Thế thù” có nghĩa thù truyền kiếp, mối thù gây nên từ thời tự chủ ban sơ bởi Lưu Cung, Triệu Tiết… Để trả thù nước, như Đặng Dung ao ước, Lê Lợi chỉ cần lấy lại nước của vua Trần. Để trả thù truyền kiếp, Lê Lợi phải lấy lại nước Đại Việt. Ngay khi khởi sự, tù trưởng Khả Lam đã không nghĩ đến nhà Trần. “Thế thù” còn là phân loại đối tượng Chu Vũ vương dành cho vua Trụ, đằng sau cách dùng chữ như thế nép ẩn kỳ vọng lớn. “Nghịch tặc” chỉ những người chống lại triều đình, ở đây chỉ nhóm người Việt phục vụ giặc Minh.

Vua Lê bắt đầu đại nghiệp từ núi Lam. Lam Sơn còn là tên vùng đất lan đến ngọn núi nổi tiếng khác, Pù Rinh tức Chí Linh. Với đầu óc nhuốm ít nhiều lý tính, các nhà nho như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Trần Thuấn Du xem Chí Linh tương tự Cối Kê của Câu Tiễn hay Mang Đãng của Lưu Bang. Đó là nơi dễ thủ khó công, hiểm trở nhưng không cô lập, thích hợp với việc dưỡng uy súc nhuệ. Hành động vào núi rèn luyện tinh thần, kết tập nhân lực là cách vận dụng một quan niệm rất cổ sơ thời nhân loại cảm nhận núi như nguồn năng lượng nuôi dưỡng sự sống. Với căn cơ nhất định, người tiếp thu năng lượng sẽ vượt hẳn thế giới bình thường. Có kẻ thành tiên, có kẻ thành bậc cứu rỗi, người dù rất tầm thường phải trở về cũng bị lệch pha với nhịp sống thường nhật. Chí Linh giữ vai trò quan trọng trong bước đầu kháng chiến nên trở thành chủ đề của nhiều bài phú sáng tác khi hòa bình trở lại. Nhà nho mượn Chí Linh để nâng vua Lê ngang tầm Tam vương Nhị đế, vượt hẳn Câu Tiễn, Lưu Bang. Chí Linh là núi của hành động.

Người trực giác được tính thiêng của núi là vị tiến sĩ quê miền trung du Thanh Hóa Nguyễn Mộng Tuân. Cúc Pha(52) ca ngợi Chí Linh nhưng phát hiện tầm vũ trụ ở ngọn núi Lam cao dưới 300m. Ông cho rằng đây là núi tổ, như cột chống trời tựa vững chãi vào lưng con ngao. Hình tượng gợi nhớ Meru, trục thế giới, trong đạo Bà La môn, tức núi Tu Di trong đạo Phật. Thế giới vật lý và thế giới tinh thần hội ngộ tại điểm thiêng. Lam Sơn là núi của suy tư. Lê Lợi chiêm nghiệm dòng sống náo động từ vị trí đó. Ý chí núi Lam phảng phất tính tôn giáo như ý chí Cao Đài nảy sinh từ núi Bà Đen hay ý chí Hòa Hảo nảy sinh từ núi Sam vậy. Ngọn cờ mang danh “nghĩa” báo hiệu phát hiện một hướng đi. Nó được phất lên, tự tin, khi cuồng phong đang bạo liệt.

Thế mà:
Nhân tài như lá mùa thu,
Tuấn kiệt như sao buổi sớm.
Bôn tẩu trước sau đã ít kẻ đỡ đần,
Vạch mưu dưới trướng lại thiếu người bàn bạc.
Chỉ vì: Chí muốn cứu dân, những đăm đăm muốn tiến về đông
Nên: cỗ xe đãi hiền, vẫn canh cánh để dành phía tả.(F)

奈以,人才秋葉,俊傑晨星.奔走前後者,既乏其人.謀謨帷幄者,又寡其助.特以,救民之念,每欎欎而欲東;待賢之車,常汲汲以虛左.Nại dĩ, nhân tài thu diệp, tuấn kiệt thần tinh. bôn tẩu tiền hậu giả, ký phạp kỳ nhân; mưu mô duy ác giả, hựu quả kỳ trợ. đặc dĩ, cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông; đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

Có hai loại người Lê Lợi mong họ xuất hiện khi ông phát động nổi dậy: nhân tài và tuấn kiệt. Căn cứ lời phàn nàn theo sau, ta định nghĩa được rằng “tuấn kiệt” là các thủ lĩnh, hào trưởng địa phương, những người đủ khả năng huy động lương thực, vũ khí, nhân lực; hợp tác của “tuấn kiệt” sẽ giảm nhẹ rất nhiều công việc tuyển mộ và hậu cần. “Nhân tài” là các văn nhân am hiểu thao lược, biết quản lý xã hội, có thể tham mưu cho quân đội về vấn đề dân sự, kinh tế; hỗ trợ từ “nhân tài” sẽ thúc đẩy phát triển lực lượng bền vững. Đại thể, nhân tài-tuấn kiệt chính là tầng lớp trung gian giữa vua và dân.

Rất ít nhân vật “có chút tiếng tăm” như vậy ủng hộ viên phụ đạo miền núi. Họ phần lớn cộng tác với quân Minh. Sau trận Ninh Kiều-Tốt Động mới có nhiều người muốn ngồi vào chỗ bên trái trên cỗ xe khởi nghĩa.

Nếu dân tộc Việt Nam hình thành ổn cố chỉ từ 500 năm trước, chưa nói 3.500 năm, cũng không lý lẽ nào biện giải được hiện tượng kỳ lạ này.

Nhưng:
Được người đâu dễ, mù mịt xa vời,
Mong tự đáy lòng, gấp hơn cứu đuối.
Phần giận quân thù chưa bị diệt,
Phần lo vận nước còn lao đao.
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi huyện quân không một lữ.
Bởi trời muốn thử thách ta, để trao mệnh lớn,
Nên ta càng mài ý chí, quyết vượt gian nguy.
Dựng gậy làm cờ, tụ hội bốn phương manh lệ,
Hòa rượu mời lính, dưới trên một dạ cha con.
Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục.(G)

然其得人之效,茫若望洋.由已之誠,甚於拯溺.憤兇徒之未滅,念國步之猶屯.靈山之食盡兼旬,瑰縣之眾無一旅.蓋天欲困我以降厥任,故予益厲志以濟于艱.揭竿為旗,氓隸之徒四集;投醪饗士,父子之兵一心.以弱制彊,或攻人之不僃; 以寡敵眾,常設伏以出奇. Nhiên kỳ đắc nhân chi hiệu, mang nhược vọng dương. do dĩ chi thành, thậm ư chửng nịch. phẫn hung đồ chi vị diệt, niệm quốc bộ chi do truân. linh sơn(53) chi thực tận kiêm tuần, khôi huyện(54) chi chúng vô nhất lữ. cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm, cố dư ích lệ chí dĩ tế vu gian.(55) yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập; đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm. dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị; dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ. (56)

Theo Lam Sơn Thực lục, do Lương Nhữ Hốt xui giục nên người Minh ngày càng bức bách buộc vị phụ đạo phải sớm khởi binh.(57) Hậu quả trước mắt là Lê Lợi thiếu cả nhân lực lẫn vật lực. Chịu đựng gian nan, ông cho rằng “quốc bộ do truân”, vận nước còn truân chuyên. Lại cho rằng trời muốn trao nhiệm vụ nên dồn vào cảnh khốn đốn. Lãnh tụ khởi nghĩa tự đồng hóa bản thân với “nước” nghĩa là tin tưởng thiên mệnh thuộc về mình. Lực lượng Lam Sơn chủ yếu toàn người tầng lớp thấp trong xã hội, họ giúp Lê Lợi bằng sinh mạng thay vì bằng mưu mô hay tiền bạc. Cơ sở mỏng manh ban đầu định hình chiến lược của nhóm kháng chiến, họ chủ yếu dùng kỳ binh và tâm công. Thật mỉa mai, người Đại Việt đã tiến hành đấu tranh chống ngoại xâm với sự hiện diện thưa thớt của tầng lớp ưu tú. Lê Lợi có lúc phải trở về số không, cả thức ăn lẫn sức mạnh. Có thể suy đoán việc chuyển từ mong ngóng “nhân tài”, “tuấn kiệt” sang chiêu tập “manh lệ” xuất phát từ biến động do chính sách cai trị của nhà Minh tạo ra. Khi mới khởi nghĩa, Lê Lợi khó tuyển mộ nhiều “manh lệ” vì kết cấu xã hội thời điểm đó còn tương đối vững. Lượng dân tự do hoặc xiêu tán không thuộc về chủ nhân nào chưa đủ đông đảo. Hành động quyến dụ nô tỳ của người khác theo phục vụ mình bị coi là thiếu đạo đức nên đối tượng được kêu gọi phải thuộc tầng lớp trên. Tuy nhiên, kể từ bộ Hộ nhà Minh áp dụng hộ thiếp và sổ thuế khóa phu dịch vào năm 1419, số dân trốn tránh tăng đáng kể bởi mức độ áp bức vượt sức chịu đựng bình thường. Toàn Thư ghi nhận vào cuối năm chỗ nào trong xứ cũng rối loạn chỉ trừ vùng Tam Giang, Hưng Hóa, Thái Nguyên. Chính nguồn nhân lực ngoài ràng buộc này đã gia nhập và tạo nên sức quật cường cho tập đoàn Lam Sơn.

Rốt cuộc:
Lấy đại nghĩa thắng hung tàn,
Lấy chí nhân thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí do đó càng tăng,
Quân thanh từ đây càng dậy.
Bọn Trần Trí, Sơn Thọ, nghe hơi mà mất vía,
Lũ Lý An, Phương Chính, nín thở mong thoát thân.
Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, trôi tanh muôn dặm,
Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối ngàn năm.
Tâm phúc giặc, Trần Hiệp đã phải bêu đầu,
Mọt gian giặc, Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ rối, đám cháy lại càng bùng,
Mã Anh cứu nguy, lửa thù càng thêm bốc.
Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay,
Ta mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng.
Tưởng chúng phải đổi nết thay lòng,
Ngờ đâu vẫn làm càn chuốc tội.
Khăng khăng cố chấp, gieo vạ cho bao người,
Thiển cạn tham công, mua cười khắp thiên hạ.(H)

卒能以大義而勝凶殘,以至仁而易強暴.蒲滕之霆驅電掣,茶麟之竹破灰飛.士氣以之益增,軍聲以之大振.陳智山壽,聞風而褫魄;李安方政,假息以偷生.乘勝長驅,西京既為我有;選鋒進取,東都盡復舊疆.寧橋之血成川,流腥萬里;窣洞之屍積野,遺臭千年.陳洽賊之腹心,既梟其首;李亮賊之奸蠹,又暴厥屍.王通理亂而焚者益焚,馬瑛救闘而怒者益怒.彼智窮而力盡,束手待亡;我謀伐而心攻,不戰自屈.謂彼必易心而改慮,豈意復作孽以速辜.執一己之見以嫁禍於他人,貪一時之功以貽笑於天下. Tốt năng dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo. bồ đằng(58) chi đình khu điện xiết, trà lân(59) chi trúc phá khôi phi. sĩ khí dĩ chi ích tăng, quân thanh dĩ chi đại chấn. trần trí(60) sơn thọ,(61) văn phong nhi sỉ phách; lý an(62) phương chính,(63) giả tức dĩ thâu sinh. thừa thắng trường khu, tây kinh ký vi ngã hữu; tuyển phong tiến thủ, đông đô tận phục cựu cương. ninh kiều(64) chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lý; tốt động(65) chi thi tích dã, di xú thiên niên. trần hiệp(66) tặc chi phúc tâm, ký kiêu kỳ thủ; lý lượng(67) tặc chi gian đố, hựu bộc quyết thi. vương thông(68) lý loạn nhi phần giả ích phần, mã anh(69) cứu đấu nhi nộ giả ích nộ. bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong; ngã mưu phạt nhi tâm công,(70) bất chiến tự khuất. vị bỉ tất dịch tâm nhi cải lự, khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô. chấp nhất kỷ chi kiến dĩ giá họa ư tha nhân, tham nhất thời chi công dĩ di tiếu ư thiên hạ.

Ngày 11/5/1406, Vĩnh Lạc triệu kiến Chu Năng, hoàng đế muốn nghe vị đại tướng đề xuất số lượng quân lính dự kiến sử dụng cho việc bình định An Nam. Thành Quốc công tâu: Thần nghe rằng quân nhân nghĩa không cần nhiều, vì rằng nhân nghĩa là vô địch trong thiên hạ. Bệ hạ dùng đạo quân cực nhân nghĩa để dẹp bọn cực bất nhân, bọn thần phụng mệnh biểu dương uy trời, một khi tiếng trống lệnh dấy lên là dẹp sạch. Còn quân nhiều ít là do Hoàng thượng định liệu (Minh Thực lục I, 219-220). 臣聞仁不可為眾也蓋仁義之師天下無敵 陛下以至仁伐至不仁臣等奉揚 天威當一鼓掃滅師之多寡惟 上所命 (Minh Thực lục I, 579-580). Thần văn nhân bất khả vi chúng dã cái nhân nghĩa chi sư thiên hạ vô địch bệ hạ dĩ chí nhân phạt chí bất nhân(71) thần đẳng phụng dương thiên uy đương nhất cổ tảo diệt sư chi đa quả duy thượng sở mệnh.

Hai bên đều tự nhận mình hành động theo nhân và nghĩa, cặp khái niệm triết học Trung Hoa do Mạnh Tử nâng cao nội hàm và cổ vũ thực hành trong xã hội. Ngọn cờ nhân nghĩa của Thành tổ nhanh chóng thuyết phục được đa phần giới ưu tú đồng bằng Nhĩ hà. Chỉ trong một năm nhóm cường hào rất mạnh người kinh lộ đã thành công trong việc hỗ trợ quân Minh triệt hạ nhà Hồ, sáp nhập An Nam. Ngọn cờ nhân nghĩa của Lê Lợi không hấp dẫn đến thế. Qua tám năm trận mạc, khi tiến ra bắc năm 1426, dù được chào đón niềm nở nhưng quân Lam Sơn vẫn đi lại đơn độc vùng Thiên Quan, Quảng Oai, Tam Giang.(72) Hào kiệt chỉ tấp nập yết kiến khi Lê Lợi vây thành Đông Quan, tuy nhiên, số nhân sự phù hợp vẫn chưa đủ để trông coi quân dân vùng mới giải phóng. Suốt từ lúc còn chiến đấu mãi đến sau đăng quang, Lê Lợi luôn kiên trì kêu gọi sự hợp tác của thành phần có năng lực thông qua tuyển mộ, tiến cử, khảo hạch…. Nhưng dường như ông không thành công bằng người Minh trong vấn đề chiêu tập hiền tài, nhất là hiền tài châu thổ.

Thực ra, hấp lực của “nhân nghĩa” do lãnh tụ mỗi bên đưa ra sẽ mạnh hoặc yếu tùy thuộc nhiều vào đạo quân thuộc quyền. Sức lôi cuốn của Lê Lợi tăng trưởng theo từng chiến công. Mùa thu năm 1424, trên đường vào Nghệ An, nghĩa quân bị chặn đánh cả hai mặt tiền hậu tại núi Bồ Đằng. Dù được trợ giúp bởi tù trưởng Cầm Bành, quân Minh dưới quyền chỉ huy của Trần Trí, Lý An vẫn bị đòn mai phục phải tháo chạy. Đô ty Trần Trung chết tại trận. Hôm sau, phe Lam Sơn giành chiến thắng vang dội trước đội quân của Sư Hựu tại trang Trịnh Sơn, châu Trà Lân, chém Thiên hộ Trương Bản. Tướng Hựu một mình chạy thoát. Liên tiếp thất bại, người Minh có phần e ngại, lui về thành Nghệ An. Cầm Bành thiếu chi viện phải đầu hàng. Với uy thanh mới, Lê Lợi dễ dàng tuyển 5.000 đinh tráng. Sang năm 1425, nghĩa quân liên tục thắng lợi ở Khả Lưu, Bồ Ải, được dân chúng tranh nhau đón rước khao thưởng. Họ mừng rỡ thấy lại uy nghi nước cũ. Tù trưởng châu Ngọc Ma Cầm Quý mang 8.000 binh lính, 20 voi chiến đến giúp. Quân khởi nghĩa rất kỷ luật, mọi người nghe tiếng lần lượt quy phục, cùng hợp sức vây trị sở Nghệ An. Sau đợt huấn luyện củng cố ngay tại trận địa, quân Lam Sơn dễ dàng đẩy lùi Trần Trí và viện binh của Lý An. Thừa thắng, Bình Định vương sai Lê Lễ đi tuần Diễn châu. Tại đây, Lễ phá tan quân công kích từ trong thành ra đồng thời cướp hết đoàn thuyền lương từ Đông Quan do Đô ty Trương Hùng thống lĩnh. Ông đuổi Hùng đến tận Tây Đô. Lê Lợi điều tiếp các tướng Lê Triện, Lê Sát….mang thêm quân đến Tây Đô vây thành. Trai tráng Thanh Hóa tranh nhau đến cửa quân xin đánh giặc. Mùa thu năm 1426, hai xứ cực nam Tân Bình Thuận Hóa trơ trọi được giải quyết nhanh bởi Lê Nỗ, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An…(73) Tại đây, các tướng gom được vài vạn quân tinh nhuệ, thanh thế lừng lẫy.(74) Như vậy, từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa bộ máy quân chính nhà Minh trở nên vô hiệu. Người Minh rút hết vào các thành trì trị sở chính.

Tựa lưng vào vùng Trại ít thiện cảm với người Minh, Phụ đạo Khả Lam an tâm phóng ra chiến dịch sau cùng. Mùa thu năm 1426, hai đạo quân Lam Sơn vòng qua phủ trị Giao Châu tuần sát các địa phương nằm trên đường tiến quân của viện binh nhà Minh từ Vân Nam và Quảng Tây, một đạo khác phong tỏa vùng đồng bằng phía nam sông Hồng. Quân tinh nhuệ do Lê (Đinh) Lễ, Lê (Nguyễn) Xí… chỉ huy hướng thẳng về Đông Quan. Nghĩa quân không chạm đến cây kim sợi chỉ nên dân chúng sinh hoạt bình thường; họ vui vẻ mang trâu, dê, rượu đến khao đãi binh sĩ.(75) Khi Lê Triện từ hướng tây-tây bắc dẫn 3.000 quân áp sát Đông Quan, Trần Trí hoảng hốt mang lính ra chận tại Ninh Kiều nhưng thất bại. Trí trở vào thành gia cố hào lũy, gửi thư gấp gọi Lý An, Phương Chính từ Nghệ An về cứu nơi cội rễ. Lưu một phần nhân lực giữ vòng vây Nghệ An, Lê Lợi điều thủy bộ theo gót bọn An, Chính. Ông tạm dừng tại Lỗi Giang, úy lạo tướng sĩ, thăm hỏi thân thuộc đồng hương đồng thời chờ tập hợp thêm binh lính Hải Tây. Nhân dân Thanh Hóa tấp nập bái yết xin được tùng chinh.

Người Minh phản ứng tích cực trước chuyển biến ở Giao Chỉ. Hai đạo quân được nhanh chóng điều sang trợ lực Trần Trí. Đạo một vạn(76) từ Vân Nam bị Lê Khả đánh tan ở cầu Xa Lộc (thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú nay), đạo năm vạn do Vương Thông cầm đầu đến được Đông Quan. Vương Thông kết hợp lực lượng mới và cũ gồm khoảng mười vạn mở chiến dịch lớn hăm hở quét sạch nhóm Lam Sơn khỏi đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, tương quan hai bên thay đổi nhiều, quân Minh đại bại tại Ninh Kiều-Tốt Động dưới tay Lê Lễ, Lê Triện; Thượng thư Trần Hiệp và Nội quan Lý Lượng tử trận, Vương Thông trúng thương chạy về Đông Quan. Bọn Lê Lễ tiến thẳng đến phủ thành bố trí phong tỏa. Theo Toàn Thư, từ đó lịch chính sóc nhà Minh không thi hành đến quận huyện nước ta nữa. Hệ thống cai trị đã tan rã trên thực địa.

Lê Lợi hành quân gấp đến Lũng Giang, rồi Phù Liệt.(77) Ông trực tiếp chỉ huy các tướng đánh phá đô thành, phá sạch hệ thống doanh trại ngoại vi trấn giữ bởi Phương Chính.

Ngoài nhân dân các quận huyện, Toàn Thư lần đầu tiên nói về “hào kiệt”, “tù trưởng” đến quy thuận chúa Lam Sơn tại hành doanh gần thành Giao Châu. Đó là các phần tử được mong đợi nhưng Lê Lợi chỉ có dịp tiếp kiến đại trà khi đã đi quá phần khó của đoạn đường. Ngọn cờ nhân nghĩa dương lên tám năm mới thuyết phục được phần tử vai vế trong xã hội, khi quân Minh đã mất sự hiện diện bên ngoài đồn lũy. Muộn còn hơn không, mọi người đều được tiếp đãi trân trọng và phân công việc phù hợp (Toàn Thư II, 279). Ít ra họ sẽ không theo viện binh sắp sang mà chống phá. Lạc quan hơn, nếu muốn nắm chắc những gì đang sở hữu, họ sẽ phải nộp cống thuế cho chủ mới. Tuổi thọ con người chỉ khoảng 30 đến 35 vào thế kỷ XV. Như vậy quá nửa nhân số xã hội thời điểm 1426 từ lúc sinh ra đã hít thở không khí Giao Chỉ. Số còn lại, ký ức về một vị quân chủ Đại Việt nếu sâu đậm phải ở lứa trên ba mươi lăm, chiếm tỉ lệ dân số rất thấp. Hiểu như vậy chúng ta mới nhận ra khó khăn của Lê Lợi tại đồng bằng. Người trại thiếu thủ lĩnh từ năm 1414 đến năm 1418, người kinh sống dưới quyền Tổng binh suốt 18 năm. Từ năm 1407, thái độ đối với người Minh của dân kinh và dân trại đã khác biệt; sau 18 năm kinh lộ sống trong vòng cai quản của Tam Ty, khác biệt này hẳn bị khoét sâu hơn nữa. Tuy nhiên với hàng loạt chiến thắng, ngọn cờ nhân nghĩa của Lê Lợi có sức thu hút tầng lớp manh lệ chịu nhiều mất mát; riêng với giới ưu tú từng nhận phần chia trong buổi tiệc máu sẽ hứa hẹn nhiều phân vân, cả về hai phía.

Thất bại Ninh Kiều-Tốt Động khiến Vương Thông dao động, ông sai người đến gặp Lê Lợi giảng hòa, mong toàn quân trở về. Thủ lĩnh kháng chiến chấp thuận, cho Vương Thông gọi binh lính các thành hội tụ tại Đông Quan để cùng triệt thoái.(78) Theo sử Việt, Thành Sơn hầu giữa chừng đổi ý vì dèm pha của nhóm quan lại địa phương. Ông sợ chịu chung số phận của Ô Mã Nhi đời Trần (Toàn Thư II, 280). Theo sử Minh, hành động cầu hòa chỉ là trá mưu của Vương Tổng binh nhằm chờ chi viện từ đất mẹ (Minh Thực lục II, 201). Sự thực có lẽ nằm ở Minh Thực lục vì chưa bao giờ họ Vương ngừng nghỉ việc ngầm gửi người về chính quốc xin cứu viện. Kháng chiến sẽ rơi vào thế nguy nếu quân các thành Hải Tây tập trung về Đông Quan cùng lúc viện binh vượt biên giới. May mắn, phía Minh thiếu tướng thao lược. Ngay cả hai đạo cứu binh từ Quảng Tây và Vân Nam còn không phối hợp được với nhau! Tuyên Đức, Liễu Thăng, Vương Thông chưa phải là đấu thủ ngang tầm Lê Lợi. Tuy nhiên đồn đãi về đại quân sắp sang tạo nên bối cảnh bất lợi cho phía Lam Sơn. Vương Thông vững lòng hơn, cố đánh thắng một trận quan trọng tại Hoàng My (nay thuộc Hà Nội), bắt giết viên tướng tài ba nhất của nghĩa quân là Lê Triện. Lại có mật báo tù binh từ các thành đầu hàng rục rịch nổi loạn. Nhiều khả năng họ lỡ nộp thành vì chưa biết cứu viện sẽ đến. Không điều tra nhiều, Lê Lợi cho giết sạch cỡ vạn người.(79) Nguy hại hơn, trong hàng ngũ quân nhân các lộ Quốc Oai và Tam Đái xuất hiện truyền đơn dụ dỗ, đe dọa. Lắm kẻ mượn danh ma quỷ thánh thần gieo rắc hoang mang trong xã hội. Tại đồng bằng, nhiều người âm thầm bất phục, họ dễ bị kích động bởi “cuồng Minh” và “ác đảng”.

Có lẽ phía Lam Sơn cũng rõ mưu toan từ giặc bắc. Những câu cuối trong đoạn văn trên đầy tính mỉa mai chế nhạo.

Thế rồi thằng nhãi ranh Tuyên Đức hiếu chiến hung hăng,
Lại sai lũ hèn nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy.
Tháng 9 năm Đinh Mùi, Liễu Thăng bèn đem quân từ Khâu Ôn tiến sang,
Tháng 10 cũng năm ấy, Mộc Thạnh cũng chia đường từ Vân Nam kéo đến.
Ta trước đã chọn quân chẹn hiểm, bẻ mũi tiên phong,
Rồi sau lại điều binh chặn đường, cắt nguồn lương giặc.
Ngày 18 tháng ấy, Liễu Thăng bị quân ta tấn công, rừng Chi Lăng mưu mô đổ sụp,
Ngày 20, Liễu Thăng bị quân ta đánh bại, núi Mã Yên tử trận phơi thây.
Ngày 25, Bảo Định bá Lương Minh trận hãm phải bỏ mình,
Ngày 28, Thượng thư Lý Khánh kế cùng phải thắt cổ.
Ta thuận đà, đưa dao tung phá,
Giặc bí nước, quay giáo đánh nhau.
Kế đó, lại tăng quân vây bức bốn bên,
Hẹn đến giữa tháng 10 nhất tề diệt giặc.(I)

遂使宣德之狡童黷兵無厭, 乃命晟昇之懦將以油救焚.丁未九月柳昇遂引兵由丘溫而進,本年本月沐晟又分途自雲南而來.予前既選兵塞險以摧其鋒,予後再調兵截路以斷其食.本月十八日柳昇為我軍所攻,計墜於支稜之野;本月二十日柳昇為我軍所敗,身死於馬鞍之山.二十五日保定伯梁銘陣陷而喪軀,二十八日尚書李慶計窮而殞首.我遂迎刃而解,彼自倒戈相攻.繼而四靣添兵以逼圍,期以十月中旬而殄滅. Toại sử tuyên đức chi giảo đồng độc binh vô yếm, nãi mệnh thạnh thăng chi nọa tướng dĩ du cứu phần. đinh vị cửu nguyệt liễu thăng toại dẫn binh do khâu ôn nhi tiến, bản niên bản nguyệt mộc thạnh hựu phân đồ tự vân nam nhi lai. dư tiền ký tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong, dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực. bản nguyệt thập bát nhật liễu thăng vị ngã quân sở công, kế đọa ư chi lăng chi dã, bản nguyệt nhị thập nhật liễu thăng vị ngã quân sở bại, thân tử ư mã an chi sơn. nhị thập ngũ nhật bảo định bá lương minh trận hãm nhi táng khu, nhị thập bát nhật thượng thư lý khánh kế cùng nhi vẫn thủ. ngã toại nghênh nhận nhi giải, bỉ tự đảo qua tương công.(80) kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bức vi, kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.

Ngày 12/4/1426, khi nghe tin Trần Trí, Phương Chính thua trận Trà Long (tức Trà Lân), vua Tuyên Đức khiển trách Trí và Chính. Hoàng đế Minh gọi tên vị thủ lĩnh khởi nghĩa như sau:

Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi con, nếu sớm tận tâm đánh bắt, thì dễ như nhặt một cọng lá (Minh Thực lục II, 134).

叛賊黎利本一小醜如早能盡心掩捕如拾芥 (Minh Thực lục II, 602). Bạn tặc lê lợi bản nhất tiểu xú như tảo năng tận tâm yểm bộ như thập giới.

“Giảo đồng 狡童”, tên nhãi ranh nghe ra rất đốp chát với “Tiểu xú 小醜”, thằng nhóc xấu xa. May thay, hai vị hoàng đế dùng từ khiếm nhã khi nói về nhau chứ không dùng chúng để nói với nhau. Hạ Tuyên Đức xuống vai vế nhãi ranh, nghĩa là Lê Lợi sẵn sàng tiêu diệt quân đội do “thiên tử” phái đến mà chẳng phải chịu trách nhiệm đạo đức gì. Có thể nương lời Mạnh Tử trong chương “Lương Huệ vương” để nói rằng: Đại Việt chống một tên nhãi ranh, không chống vua.(81) Nguyễn Trãi đã chuẩn bị tính chính danh cho hành động vũ lực sắp diễn ra.

Trước khi Liễu Thăng vượt Pha Lũy, ngoài các thành Nghệ An, Diễn Châu, Thị Cầu, Tam Giang lần lượt ra hàng, còn lại đồn Khâu Ôn bị Lê Lựu, Lê Bôi…đánh chiếm; thành Xương Giang bị phá sạch bởi Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Trần Hãn….(82) Quân khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ tuyến đường từ Lạng Sơn đến Đông Quan. Đón tiếp Liễu Thăng, Lê Lợi sai các tướng Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Lê Liệt, Lê Thụ…mang binh tượng mai phục trước ở ải Chi Lăng. Lê Lựu nhử giặc vừa đánh vừa lui dần từ Pha Lũy, đến Ải Lưu, rồi Chi Lăng. Tại đây Liễu Thăng bị giết; lần lượt các chỉ huy Phó Tổng binh Lương Minh, Thượng thư Lý Khánh đều chết.(83) Thôi Tụ, Hoàng Phúc gắng gượng tiến về Xương Giang nhưng gần đến nơi mới biết thành đã đổi chủ. Đạo binh đành đóng trại giữa đồng dưới mưa gió mịt mờ.

Chúa Lam Sơn điều thủy bộ khóa chặt các cửa ải sau lưng quân Minh. Dù cá đã nằm trong rọ, ông vẫn cẩn trọng chuẩn bị dao thớt.

Kén quân tì hổ, chọn tướng vuốt nanh,
Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi.
Đánh một trận, sạch sanh kình ngạc,
Đánh hai trận, tan tác chim muông.
Nó như kiến tan đàn dưới bờ đê vỡ,
Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối xin đầu hàng,
Thượng thư Hoàng Phúc trói mình đành chịu bắt.
Lạng Sơn, Lạng Giang thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,
Ảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.
Binh Vân Nam bị quân ta chẹn ở Lê Hoa, nơm nớp hoảng kinh, trước đà vỡ mật,
Bọn Mộc Thạnh nghe quân Thăng bại ở Cần Trạm, xéo nhau tháo chạy, chỉ cốt thoát thân!
Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông rền rĩ,
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đỏ lòm.
Hai cánh viện binh đã gót chẳng kịp quay, thảy đều đại bại,
Mấy thành giặc khốn cùng nối nhau cởi giáp, lũ lượt ra hàng.
Tướng giặc bị tù, nó đã vẫy đuôi xin tha mạng sống,
Oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh.(J)

愛選貔貅之士,申命爪牙之臣.飲象而河水乾,磨刀而山石鈌.一鼓而鯨刳鱷斷,再鼓而鳥散麕驚.決潰蟻於崩堤,振剛風於稿葉.都督崔聚膝行而送款,尚書黃福面縛以就擒.僵屍塞諒江諒山之途,戰血赤昌江平灘之水.風雲為之變色,日月慘以無光.其雲南兵為我軍所扼於梨花,自恫疑虛喝而先以破膽;其沐晟眾聞昇軍大敗於芹站,遂躪藉奔潰而僅得脫身.冷溝之血杵漂,江水為之嗚咽;丹舍之屍山積,野草為之殷紅.兩路救兵既不旋踵而俱敗,各城窮寇亦將解甲以出降.賊首成擒,彼旣掉残卒乞怜之尾;神武不殺,予亦體上帝好生之心. Ái tuyển tì hưu chi sĩ, thân mệnh trảo nha chi thần. ẩm tượng nhi hà thuỷ can, ma đao nhi sơn thạch khuyết. nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn, tái cổ nhi điểu tán khuân kinh. quyết hội nghĩ ư băng đê, chấn cương phong ư cảo diệp. đô đốc thôi tụ tất hành nhi tống khoản, thượng thư hoàng phúc diện phọc dĩ tựu cầm. cương thi tắc lạng giang lạng sơn chi đồ, chiến huyết xích xương giang bình than chi thuỷ. phong vân vị chi biến sắc, nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.(84) kỳ vân nam binh vi ngã quân sở ách ư lê hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá đảm; kỳ mộc thạnh chúng văn thăng quân đại bại ư cần trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân. lãnh câu chi huyết chử phiêu, giang thuỷ vị chi ô yết; đan xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng. lưỡng lộ cứu binh ký bất toàn chủng nhi câu bại, các thành cùng khấu diệc tương giải giáp dĩ xuất hàng. tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo tàn tốt khất liên chi vĩ; thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.

Lê Lợi chỉ chọn binh sĩ thiện chiến và chỉ huy nanh vuốt trong trận đánh quyết định tương lai Đại Việt. Theo Toàn Thư, các tướng sẵn có mặt tại khu vực gồm Lê Sát, Lê Lý, Lê Nhân Chú, Lê Văn An,(85) được bổ sung thêm Lê Vấn và Lê Khôi. Tất cả đều là lãnh đạo Thiết Đột. Sĩ số phía Lam Sơn gồm bốn vạn ba nghìn người, quá ít để bao vây đạo quân tám vạn. Có lẽ Toàn Thư chỉ tính chủ lực. Hỗ trợ họ phải có “Phụ Thiết Đột các quân”(86) đảm đương việc của công binh, vận tải, hoặc hoạt động du kích quấy nhiễu khiến giặc mệt mỏi. Lính phụ trợ, nếu gồm cả dân phu, có thể đông hơn lính chính quy nhiều. Phục vụ mặt trận này, tướng kinh lộ duy nhất được nêu tên là Trần Nguyên Hãn, ông nhận công tác chẹn ngõ vận lương. Nguyên Hãn được Bình Định vương tin cậy nhưng chưa thể sánh ngang các tướng người vùng trại. Chất lượng nghĩa quân và trang bị được đánh giá bằng số lượng theo cách ấn tượng. Dùng “lượng” hao khuyết của đá và nước diễn tả “chất” của kiếm và voi tạo cảm xúc tráng lệ. Về người, con số ít ỏi một hai hồi trống để giải quyết trận đánh biểu đạt sắc nét kỹ năng chiến đấu xuất quỷ nhập thần của tì hổ, trảo nha. Nguyễn Trãi lấy “lượng” nhỏ thời gian chỉ thị “phẩm” lớn của chiến sĩ.

Cặp đối “quyết hội nghĩ ư băng đê, chấn cương phong ư cảo diệp” dịch bởi Hoàng Văn Lâu trên đây là chính xác. Bản dịch Trần Trọng Kim, vốn xem lũ giặc như “đê vỡ”, “lá khô” tan tác vì sức phá hoại của “tổ kiến” hay “gió lớn”, thể hiện sai tinh thần soạn giả. Hai câu thể hiện tương đối rõ thế tương ứng của hai phe lâm chiến. Câu đầu nói về ta, ví binh lực mạnh như nước tràn đê vỡ kết liễu lũ kiến tán loạn. “Quyết 決”, giết tử tội; “hội 潰”, lính tráng mất tinh thần bỏ chạy không hàng ngũ, một từ khác miêu tả tình trạng “đảo qua tương công”, trở giáo đánh lẫn nhau của quân Thôi Tụ; “nghĩ 蟻”, con kiến, từ khinh bạc dùng chỉ kẻ thù. Trần Nguyên Đán từng gọi kinh đô Đồ Bàn là “nghĩ điệt”, tổ kiến. Không ai tự so mình với kiến trong cuộc tàn sát do chính mình tiến hành. Câu sau dễ cảm nhận hơn, nói về địch, ví kẻ địch giữa vòng vây như lá khô cưỡng gió mạnh. Ức Trai tả cảnh quân Minh lẩy bẩy, cuống cuồng.

3.png
Dàn phóng hỏa tiễn đời Minh
(http://bit.ly/2Xr91IX)

Sử Minh qui nguyên nhân gây thất bại vào bầy voi trận Lam Sơn: Thôi Tụ điều quan quân tiến; đến Xương Giang gặp giặc, quan quân ít giặc thì đông, cố gắng đánh nhưng giặc xua voi vào trợ chiến, nên quân loạn, Thôi Tụ bị bắt sống (Minh Thực lục II, 172).(87) Hỏa pháo nhà Minh, từng khắc chế thành công đàn voi Vân Nam của người Miêu (1388) và đàn voi thành Đa Bang nhà Hồ (1407), nay chỉ vang lên rời rạc vài tín hiệu cầu cứu. Mưa to đến mức “người ngựa nhìn nhau không nhích lên được bước nào” có thể đã hủy hoại khả năng các đội thần cơ.

2.png
Phù điêu đền Bayon miêu tả voi chiến đế quốc Khmer, hình ảnh gần gũi của voi chiến Đại Việt (http://bit.ly/329mUuch)

Kiềm Quốc công Mộc Thạnh quá cảnh giác, tự biến thành trò cười cho thiên hạ. Trước ông không lâu, quân Vân Nam do Vương An Lão dẫn vào Giao Chỉ chưa ai quay về. Quân Vương Thông từ Quảng Tây cũng mất hút. Đông Quan trở thành lỗ đen ngấu nghiến sinh lực Đại Minh. Uy danh Lam Sơn chấn động cõi bắc khiến bảng kê tên quan chức thiên triều ngại sang Giao Chỉ cứ dài ra: Cấp sự trung Lưu Hoán (Minh Thực lục II, 110), Đô chỉ huy Trương Quí, Lỗ Tăng (Minh Thực lục II, 164-165), Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ (Minh Thực lục II, 170), Sự quan Hàn Chính, Chỉ huy Cao Long, Thiên hộ Tiền Hoằng (Minh Thực lục II, 174-175), Thị lang hành tại bộ Hình Phàn Kính, Phó đô ngự sử Viện đô sát Hồ Dị, Chinh Nam tướng quân Mộc Thạnh…Họ tìm mọi cách trì hoãn rời đất nhà.

Đấu tranh tuyên truyền có lẽ được tung ra không chỉ từ một phía. Nếu lính mới quy phụ thuộc các lộ Quốc Oai, Tam Đái lưu chuyển những tờ rơi thì doanh trại Mộc Thạnh hẳn cũng nhiễu loạn tin tức về mũi nhọn chủ lực gặp rắc rối tại Lạng Sơn. Lê Lợi lại sai Nguyễn Trãi viết thư cho Thạnh khéo nhắc quân Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu sang An Nam từ năm ngoái nay mười phần còn một.(88) Tướng sĩ Vân Nam chưa đánh đã run. Rốt cục, việc xảy ra ở Lê Hoa tương tự sự kiện xảy ra tại Mục Dã hơn hai ngàn năm trước. Trông thấy tàn tích của Liễu Thăng, giặc tự vỡ. “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu”(89) hàm chỉ đội quân này tự đâm chém nhau để bỏ chạy. Nguyễn Trãi lại dùng “lượng”, một lượng lớn mơ hồ, để tường thuật chiến tích. Tính mơ hồ xóa nhòa giới hạn sức tưởng tượng của người nghe. Câu chuyện giặc Ngô đại bại sẽ đọng lại thành truyền kỳ về những dòng sông đỏ, những bờ bãi ngập ngụa thi thể giá lạnh.

Vương Thông thất vọng nhưng những hành động tiếp theo cho thấy ông tinh thục nghề binh. Để ước định mức tiêu hao nội lực của phe Lam Sơn sau đại chiến với Thôi Tụ và Mộc Thạnh, Vương Thông dốc hết sức đánh vào lũy bao vây của ta (Toàn Thư II, 298). Ông thất bại, suýt bị bắt, do đó mới quyết định xin hòa. Lê Lợi nghe theo lời khuyên của Lại bộ Thượng thư chấp nhận giảng hòa (Toàn Thư II, 299). Quân Minh về nước bằng phí tổn của Đại Việt.

Tham tướng Phương Chính, nội quan Mã Kỳ, được cấp trước năm trăm chiếc thuyền, đã vượt biển, vẫn hồn bay phách lạc.
Tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, lại được cho mấy ngàn cỗ ngựa, về nước rồi, còn tim thót chân run.
Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hòa,
Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế cực kỳ sâu xa,
Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy.
Xã tắc do đó vững bền,
Non sông từ đây đổi mới.
Trời đất bỉ rồi lại thái,
Nhật nguyệt mờ rồi lại trong.
Để mở nền thái bình muôn thuở,
Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!
Âu cũng nhờ trời đất, tổ tông linh thiêng ngầm giúp mới được như vậy.(K)

參將方政,內官馬騏,先給艦五百餘艘,既渡江而猶且魂飛魄䘮;總兵王通,參政馬瑛,又給馬數千餘疋,已還國而益自股慄心驚.彼既畏死貪生,而修好有誠;予以全軍為上,而欲民與息.非惟計謀之極其深遠,蓋亦古今之所未見聞.社稷以之奠安,山川以之改觀.乾坤既否而復泰,日月既晦而復明.于以開萬世太平之基,于以雪天地無䓖之恥.是由天地祖宗之靈,有以默相陰佑而致然也! Tham tướng phương chính, nội quan mã kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ giang nhi do thả hồn phi phách táng; tổng binh vương thông, tham chính mã anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh. bỉ ký uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành; dư dĩ toàn quân vi thượng,(90) nhi dục dân dữ tức. phi duy kế mưu chi cực kỳ thâm viễn, cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn. xã tắc dĩ chi điện an, sơn xuyên dĩ chi cải quán. càn khôn ký bĩ nhi phục thái, nhật nguyệt ký hối nhi phục minh. vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ, vu dĩ tuyết thiên địa vô cùng chi sỉ. thị do thiên địa tổ tông chi linh,(91) hữu dĩ mặc tương âm hữu nhi trí nhiên dã.

Vấn đề của Lê Lợi không chỉ là giặc Minh. Ông bác bỏ việc đánh thành một phần để tránh đòn trả thù từ Tuyên Đức nếu ông ta bị bỉ mặt, phần khác bảo vệ được nguyên khí của quân phụ tử để ổn định đồng bằng. Vùng sông Hồng chỉ yên lặng khi Lam Sơn chiếm ưu thế, trường hợp phá thành thất bại hay tinh thần suy sút do tình hình dằng co thì chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Toàn Thư chép Nguyễn Trãi, một người kinh lộ, khuyên chủ tướng chấp nhận giảng hòa là để che đi mối lo âu kín đáo của Lê Lợi về dân tình trung châu nếu chiến sự kéo dài. Với Minh, chiến tranh kết thúc khi Vương Thông qua sông; với Lê Lợi, sự nghiệp chỉ mới hoàn thành phân nửa. Là nhà chính trị nhạy bén, Bình Định vương một mặt vỗ về nhưng hẳn không thể lơ là cảnh giác với cộng đồng người từng sống dưới sự cai trị của ngoại bang suốt 20 năm. Quan lại hay binh lính của ông cũng không thiếu những người tin rằng Trần Cảo sẽ tiếp tục quốc thống vì vua Minh yêu cầu như thế và họ theo ông cũng vì thế. Lê Lợi phải dập tắt đốm lửa ngầm trước khi nó phát tác. Qua Đại Cáo, tân hoàng đế phấn hứng hứa hẹn một giang sơn tươi sáng cùng phẩm giá cho mọi người, nhưng ngoài đời thực, vua liên tục tập trận trên đồng bằng trong mùa xuân năm 1429. Quân Minh đã triệt thoái trước đó nên hành động này chẳng gì khác hơn là lời răn đe đến những ai đang bất bình vì mất quyền lợi bởi cuộc đổi đời. Không phải vô cớ mà Whitmore khi xem xét Đại Việt sau 1428 đã liên tưởng đến Việt Nam sau 1975.

Để chấm dứt phần chính của văn bản, Nguyễn Trãi lại dùng câu khẳng định như khi khẳng định vị thế Đại Việt: vua ta thành công nhờ trời đất tổ tiên phù hộ. Ức Trai không chừa không gian cho bình phẩm, nếu có, về yếu tố này. Nó là một tiên đề: trời trao mệnh cho người có Đức. Việc đương nhiên tới mức bàn cãi là thừa. Vua Minh từng phát biểu một câu gần giống thế để khen ngợi binh lính vào ngày 5/7/1407: Trẫm bất đắc dĩ sai các ngươi mang quân phạt tội. Nhờ trời đất tổ tông phù hộ, tướng sĩ hết sức liều mình, uy lực tới mọi nơi đều được tiểu trừ, bắt sống cha con nghịch tặc Lê Quí Ly cùng bọn ngụy quan…(Minh Thực lục II, 259).(92)

Quan Thừa chỉ đã cung kính đặt Lê Lợi ngang Bắc đế, hay hơn nữa, ở địa vị thánh vương đời cổ.

Ôi!
Một gươm đại định, nên công oanh liệt vô song,
Bốn biển thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.
Bố cáo gần xa,
Mọi người đều biết.(L)

於戲!一戎大定,迄成無之功; 四海永清,誕布維新之誥.布告遐邇,咸使聞知.Ô hô! nhất nhung đại định,(93) hất thành vô cạnh chi công; tứ hải vĩnh thanh,(94) đản bố duy tân chi cáo. bố cáo hà nhĩ, hàm sử văn tri.

Ở đoạn kết ngắn ngủi Nguyễn Trãi dùng đến hai điển tích liên quan đến Chu Vũ vương. Có lẽ theo ông, Tuyên Đức chưa thể sánh cùng Thuận Thiên mà phải cỡ Cơ Phát. Chúng ta cũng nên chú ý đến hai chữ “văn tri”, nghe biết. Đại Cáo chủ yếu để đọc cho mọi người nghe, yết bảng chỉ là phụ. Tinh thần Kinh Thư thấm đẫm Đại Cáo trên từng câu chữ. Cũng như vua Minh, để thuyết phục quần chúng, Lê Lợi luôn tuyên bố hành động vì nhân nghĩa. Cuộc chiến giữa hai vương quốc không phải là cuộc va chạm giữa hai hệ thống giá trị, mà giữa hai tập nhóm muốn xiển dương một giá trị chung. Chính nghĩa thuộc về người triển khai hiệu quả hơn hệ thống giá trị đó. Một trong những phương tiện hữu ích để đạt mục tiêu chính là quân đội.

Nhân nghĩa có phải truyền thống của người Đại Việt? Không! Khi cộng đồng dân cư tại khu vực nay thuộc bắc bộ và bắc trung bộ lần đầu tiên tiếp xúc người Bắc thì họ chưa biết hai phạm trù trên. Có thể đối đãi mộc mạc kiểu “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”, “lá lành đùm lá rách”… rất phổ biến trong luật tục phương nam, nhưng chúng không được khái quát cao như hành vi hay đức “nhân” và “nghĩa”. Đến tận nay tiếng Việt hiện đại vẫn phải mượn tiếng Hán để ghi nhận khái niệm do Hoa Hạ đưa vào vì thiếu từ tương đương. Nhân nghĩa hai bên cùng nêu lên không phải là quy tắc ứng xử thông thường mà là tư cách cần thiết của bậc quân tử. Nhân nghĩa thuộc về nguyên lý trị nước của đế vương Trung nguyên, vua Đại Việt tiếp nhận và thực thi nguyên lý ấy để khẳng định vị thế bình đẳng với phương bắc. Người Bắc tin rằng thế giới gồm hai cực Hoa-Di, người Nam tin rằng thế giới gồm hai cực Nam và Bắc đế.

Khi cho phép Nguyễn Trãi soạn Đại Cáo trên lập trường nhân nghĩa Lê Lợi có mặc cảm vì vay mượn văn hóa ngoại bang? Cũng không nốt! Ông nghĩ rằng đó là phẩm chất bắt buộc của người đứng đầu một nước văn hiến. Cứu cánh của nhân nghĩa chẳng gì khác hơn là nuôi dưỡng muôn loài sao cho chúng sống thỏa thích trong môi trường thích hợp. Phải thực hiện ý hiếu sinh của Thượng đế mới xứng đáng vị trí thiên tử. Nói cách khác, nhân nghĩa mang giá trị mặc định và phổ quát.(95) Quan niệm Nho giáo về quyền lực hình thành trên nền tảng đạo đức đã mở ra con đường hợp lý cho loại anh hùng áo vải như Lê Lợi. Ông trở nên cao quý không vì mang huyết thống cao quý mà vì có hành động cao quý.  Chúng ta tôn xưng Lê Lợi như người “anh hùng áo vải” theo nghĩa ông chưa nhận tước hiệu quý tộc (công hầu bá tử nam) và chưa được phép mặc triều phục quy định bởi nhà vua chứ ông không thuộc hàng “lê dân”. Trong thực tế Lê Lợi là lãnh chúa miền núi sở hữu cả nghìn nô bộc. Về trình độ học vấn, thông tin dù thưa ít vẫn còn lưu các chi tiết sau:

–          Lam Sơn thực lục: khi chưa khởi nghĩa, Lê Lợi ẩn náu nơi núi rừng, sống về nghề cấy hái, lấy kinh sử làm vui, đặc biệt để tâm vào các sách thao lược.
–          Nguyễn Trãi nói về Lê Lợi: Ức tích Lam Sơn ngoạn võ kinh.
–          Lê Lợi sau khi đánh dẹp Đèo Cát Hãn có làm hai bài thơ để khắc lên bờ núi ven sông Đà, sau khi đánh dẹp Bế Khắc Thiệu có làm một bài thơ khắc lên vách đá nay thuộc huyện Thạch An, Cao Bằng.

Như vậy Lê Lợi là “trưởng giả”, được ăn học đầy đủ dù chưa phải quý tộc, càng không phải là dân đen. Ông học hành tối thiểu phải đủ chữ nghĩa để giao dịch với quan phủ, để làm sổ sách quản lý sản nghiệp, đồng thời biết võ nghệ và cách thức tổ chức đội ngũ nhằm bảo vệ tài sản của mình, hoặc đáp ứng nhu cầu hỗ trợ chinh tiễu của chính quyền. Ông từng phục vụ nhà Hậu Trần với chức Kim Ngô tướng quân. “Sách thao lược”, “võ kinh” thời đó chẳng gì khác hơn là Tôn Tử binh pháp. Cuộc chiến tranh Lê Lợi tiến hành thể hiện binh pháp Tôn Tử trên nhiều phương diện như “tâm công”, “lấy mềm đánh cứng”, “lấy yếu thắng mạnh”, “dĩ đoản chế trường”…“Kinh” trong “kinh sử” mà Lam Sơn thực lục cho biết Lê Lợi vẫn thường đọc chính là “tứ thư ngũ kinh” trong đó có quyển Mạnh Tử đề cập khái niệm “quốc”. Muốn “trị quốc” Lê Lợi đương nhiên phải tìm hiểu “quốc” là gì. Mạnh Tử nói về “hầu quốc”, Lê Lợi có thể tham khảo Nguyễn Trãi và đối chiếu những Hán, Đường, Tống, Nguyên để bổ sung vài yếu tố nhằm biến “hầu quốc” thành “đế quốc”.

Suy nghĩ trong Đại Cáo là suy nghĩ của Ông-Chủ-Nước, không thể tìm thấy nó trong bất cứ tác phẩm nào của quan Thừa chỉ. Thơ Chữ Hán Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập chỉ thể hiện vui, buồn, mừng, giận của một người làm thuê, một bầy tôi. Điều đó bình thường vì dưới chế độ phong kiến đẳng cấp ngặt nghèo, nhà Nho không có quyền, và cũng không bao giờ, tưởng mình như chủ nước. Vì thế, chúng tôi xem cảm hứng tầm “đế quốc” trong Đại Cáo phát sinh từ Lê Lợi và kỹ thuật thể hiện cảm hứng là công phu bởi Ức Trai. Lê Lợi chưa bao giờ là, hay nhất thiết phải là, văn nhân chuyên nghiệp nhưng ông thừa trình độ cũng như sự tinh tế để gợi ý hay điều chỉnh những gì kẻ thuộc quyền viết ra.

Liam C. Kelley khuyên phải nhìn cuộc chiến Minh – Việt trong toàn cảnh rối rắm của nó, với người Minh đứng về phe Lam Sơn, với người Việt phụng sự nhà Minh, với sự thánh thiện hay tàn ác thuộc về cả hai phía. Sự thật như thế nhưng vẫn nổi lên luồng chảy chính. Theo tường thuật của Lê Lợi qua Đại Cáo, theo nhiều ghi chép đương thời như Lam Sơn thực lục, Minh thực lục, Quân trung từ mệnh tập, Đại Việt sử ký toàn thư… thì trận chiến đó là cuộc quyết đấu giữa Lê Lợi với sự ủng hộ mạnh mẽ từ dân vùng trại và triều đình nhà Minh được trợ giúp bởi tầng lớp tinh hoa kinh lộ. Thành công sẽ thuộc về phe tranh thủ được khối dân đồng bằng đông đảo, khối người buộc ngả theo bên chiếm ưu thế trong từng thời điểm để tồn tại nhưng họ thực sự không nhiệt thành hợp tác với phe nào. Tài liệu cả Minh lẫn Việt đều ghi nhận tinh thần uể oải trong chiến trận của nhóm này nên chủ yếu họ chỉ làm lính đồn điền trong quân đội nhà Minh hay “thiên sư”, “phụ Thiết Đột” trong quân đội Lam Sơn.(96) Phần trước chúng tôi đã lướt qua lịch sử hình thành của hai cộng đồng cấu thành dân số Đại Việt vào cuối Trần và Hồ là “kinh lộ” và “trại”. John Whitmore cũng từng phát hiện có hai cộng đồng mạnh trong lãnh thổ An Nam với chọn lựa chính trị khác biệt và quy họ vào hai nhóm “Ngô” miền biển và “Việt” vùng cao nguyên. Với Whitmore, dân đồng bằng trở thành nạn nhân của hai nhóm mạnh; thực tế, có vẻ họ kiêm vai nạn nhân lẫn thủ phạm. Để rõ hơn, chúng ta thử xem xét tập hợp dân chúng đương thời.

 

 

Ghi chú:

A. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long.
B. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010).
C. Văn bản Đại Cáo lấy từ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long.
D. Các câu trích Kinh Thư lấy từ trang web https://ctext.org/shang-shu.
E. Trong bài viết, các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc”, “cộng đồng sắc tộc” có nghĩa tương đương với “nation”, “ethnic group” và “ethnie” trong tiếng Anh.

Chú thích:

(1) Xem Stephen O’Harrow, “Nguyen Trai’s ‘Binh Ngo Dai Cao’ 吳大誥 of 1428: The Development of a Vietnamese National Identity”, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 1 (Mar 1979), pp. 159-174. Nxb: Cambridge University Press theo ủy quyền của Khoa Lịch sử, Đại học Quốc gia Singapore. Bản điện tử https://bit.ly/2F8S0rf.
(2) Xem Trần Nho Thìn, “Bình Ngô đại cáo dưới ánh sáng của loại hình học văn hoá trung đại”,
Tạp chí Văn học, số 5/2000, tr. 44-52. Bản điện tử: https://bit.ly/2Ad9Wjf.
(3) Nhiều người lại tin rằng bản Toàn Thư hiện được chính thức xem như bản in năm 1697 thực ra chỉ là bản Nội Các đời Nguyễn.
(4) Xem Nguyễn Đăng Na, “Bình Ngô đại cáo – Một số vấn đề về văn bản”, Tạp chí Hán Nôm số 4 (53), năm 2002. Bản điện tử http://bit.ly/2W12nE4.
(5) Xem Nguyễn Đăng Na, “Bình Ngô đại cáo: Vấn đề dịch giả và dịch bản”, Tạp chí Hán Nôm số 5 (54), năm 2002. Bản điện tử http://bit.ly/2Jfrrpz.
(6) Xem Nguyễn Đăng Na, Bình Ngô đại cáo: Một số vấn đề về chữ nghĩa, năm 2004 Bản điện tử: https://bit.ly/2NzqbKM.
(7) Xem John K. Whitmore,Ngo (Chinese) Communities and Montane-Littoral Conflict in Dai Viet, ca. 1400 – 1600”, Asia Major Third Series, Vol. 27, No. 2, Maritime Frontiers in Asia: Sino-Viet Relations, ca. 900-1800 CE (2014), pp. 53-85 (33 pages). Nxb Academia Sinica. Bản điện tử http://bit.ly/2FddSCN.
(8) Thực ra hai thiền phái Phật giáo lớn đời Lý là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông đều xuất xứ từ phương bắc thay vì phương tây. Tuy nhiên nhìn chung trí thức Phật giáo không xem thiên triều là trung tâm thiên hạ như trí thức Nho giáo.
(9) Whitmore dẫn thông tin từ các học giả Li Tana, James A. Anderson, Hugh Clark, Victor Lieberman, Kenneth R. Hall, Brendan Buckley và Michael Aung-Thwin.
(10) Quí tộc kinh lộ lớn nhỏ đều sở hữu điền sản hoặc chức tước triều đình, hoặc cả hai. “Ngô” chỉ là nhóm tha phương cầu thực dù có thể rất giàu.
(11) Nhiều ý tưởng từ các bài viết cũ hơn như North and South in “Bình Ngô đại cáo” (9/5/2010), Phan Ngọc, Stalin and the Bình Ngô Đại Cáo (19/6/2010), The Problems with a Bình Ngô đại cáo as a Declaration of Independence (5/4/2011), Why did bắc nam become Bắc Nam? (15/9/2012), Khoa Học and The Bình Ngô Đại Cáo (16/9/2012), The Bình Ngô đại cáo and the Modern Emergence of Resistance Literature (26/8/2014), Historicizing the Ngô (9/11/2015), The Ngô in Dư Địa Chí were not the Ming (2/8/2016) được tái hiện trong cụm bài mới.
(12) Xem Ngô Sĩ Liên và cộng sự, Đại Việt Sử ký Toàn thư II, Nxb Khoa học Xã hội (2004), trang 283.
(13) Tây Việt cũng có thể hiểu là vùng Trại đối xứng với Đông Việt chỉ vùng sông Hồng.
(14) Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội (1976), trang 508.
(15) Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên I, Quân trung từ mệnh tập, Nxb Văn học, trang 496-499.
(16) Trên blog leminhkhai.wordpress.com, Kelley ghi nhầm chữ Hán của “Bắc Giang citadel” là 北昌城 (Bắc Xương thành).
(17) Là câu trả lời của Huệ Năng khi ông yết kiến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn xin tu học. Phật tử Việt Nam đều biết câu chuyện trong Lục tổ đàn kinh này.
(18) Kelley chỉ tìm thấy từ Minh sử thông tin về cuộc tàn sát. Thực ra Toàn Thư cũng có nói khi Xương Giang thất thủ, ngọc lụa và con gái bị bắt trong thành được chia ngay cho binh sĩ. Lời văn dù gọn cũng đủ chứng tỏ cuộc giết, cướp, hiếp rất kinh hoàng.
(19) Lê Lợi áp dụng tám chữ đầu trong tuyên bố của Dận hầu về chính sách đánh dẹp hai họ Hi Hòa: “Hỏa viêm côn cương, ngọc thạch câu phần. thiên lại dật đức, liệt vu mãnh hỏa. tiêm quyết cừ khôi, hiếp tòng võng trị, cựu nhiễm ô tục, hàm dữ duy tân. 火炎崑岡,玉石俱焚.天吏逸德,烈于猛火.殲厥渠魁,脅從罔治,舊染污俗,咸與維新.” Lửa cháy núi Côn Lôn thiêu đốt cả ngọc lẫn đá. Chức sắc triều đình lơi lỏng tu đức sẽ bị trừng phạt bởi lửa mạnh. Chỉ giết đầu sỏ không trị tội người bị ép theo. Ai nhiễm thói tục ô uế được cho phép đổi mới (Kinh Thư, Hạ Thư, Dận chinh).
(20) Ki mi: vùng biên giới, nơi cư trú của các bộ lạc tự trị hoặc bán tự trị.
(21) Phép cải dung (synecdoche): dùng một bộ phận để chỉ toàn thể hoặc ngược lại, tức một hình thức hoán dụ, tạm gọi là đề dụ.
(22) Xem Alexandre de Rhodes, Phép giảng tám ngày. Trang 12, 14, 17. Bản gốc số hóa: https://bit.ly/2QjyL2x.
(23) Nhận xét này tương tự nhận xét của Sigmund Freud về tiểu thuyết: tiểu thuyết là sàn diễn nơi những ước vọng dở dang được thỏa mãn. Ý kiến Kelley khá thích đáng vì Đại Cáo cũng được xây dựng trên một cốt truyện.
(24) Quan niệm này có nét tương đồng với nhận xét của Fredrik Barth (1928 – 2016), nhà nhân loại học xã hội (social anthropologist) người Na Uy. Xem Fredrik Barth (1969), Ethnic Groups and Boundaries, phần giới thiệu, trang 1. Bản điện tử https://bit.ly/2jHWavH. Nguyên văn: Though the naïve assumption that each tribe and people has maintained its culture through a bellicose ignorance of its neighbours is no longer entertained, the simplistic view that geographical and social isolation have been the critical factors in sustaining cultural diversity persists.
(25) (27) (28) Lấy ý từ lời Mạnh Tử nói về vua Thang đất Bạc hưng binh đánh dẹp mười một quân trưởng bạo ngược: “Quy thị giả phất chỉ, vân giả bất biến, tru kỳ quân, điếu kỳ dân, như thời vũ giáng. 歸市者弗止, 芸者不變, 誅其君, 吊其民, 如時雨降.” Người đi chợ không dừng chân, người làm cỏ ruộng vẫn tiếp tục, diệt vua, thăm dân, như mưa xuống đúng thời (Đằng Văn công hạ, Mạnh Tử).
(26) Cao Hùng Trưng – Khuyết danh, An Nam chí nguyên, Hoa Bằng dịch chú và giới thiệu (1961), Nxb Đại học Sư phạm 2017, trang 552.
(29) Lấy ý từ câu “Duy thiên huệ dân duy tích phụng thiên 惟天惠民惟辟奉天”, trời yêu thương dân, vua phải kính phụng mệnh trời (Thái thệ trung, Chu Thư, Thượng Thư).
(30) Theo Lý Tử Tấn (? – 1457), “Văn hiến chi bang” là bốn chữ do hoàng đế Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương ban tặng Đại Việt thông qua sứ thần Doãn Thuấn Thần. Xem Nguyễn Trãi toàn tập tân biên II, Dư địa chí, bản dịch Phan Duy Tiếp, Nxb Văn Học (1999), trang 482.
(31) Bản dịch chuyển “đế” thành “chủ”, sai ý sâu xa của Lê Lợi.
(32) Xem Tứ thư, Mạnh Tử tập hạ, bản dịch Đoàn Trung Còn, Nxb Thuận Hóa (tái bản 2013), trang 270-271. Nguyên văn: Mạnh Tử viết: “Chư hầu chi bảo tam: Thổ địa, nhơn dân, chính sự. Bảo châu ngọc giả, ương tất cập thân. 孟子曰諸侯之寳三土地人民政事寳珠玉者殃必及身.” Mạnh Tử nói rằng: “Một vị vua chư hầu nên quí trọng ba việc này: Thổ địa, nhơn dân và chính sự. nếu chê ba điều ấy mà quí trọng châu ngọc, ắt thân mình phải vướng lấy tai ương”.
(33) Trần Quốc Tuấn thể hiện cách hiểu chữ “quốc” theo nghĩa này trong đoạn mở đầu “Dụ chư tỳ tướng hịch văn”.

(34) Năm 1970, học giả người Mỹ Walker Connor đưa ra quan điểm về “nước” y hệt như khái niệm của thầy Mạnh: Một nước khá hiển nhiên là hiện tượng sờ mó được và có thể định nghĩa bởi lãnh thổ, dân số và chính quyền. Nguyên văn: A state is quite obviously a tangible phenomenon that can be defined in terms of territory, population and government. Xem Walker Connor, Ethnic Nationalism as a Political Force, World Affairs Vol. 133. No. 2 (September 1970), trang 91 – 97. Bản gốc số hóa https://bit.ly/2R4y0Pe.
(35) Có thể Lê Lợi yêu cầu Nguyễn Trãi dùng Nam sử để chứng minh sự tồn tại lâu đời của Đại Việt, tiếc rằng Nam sử không phải sở trường của nhà Nho chuyên trị kinh điển phương Bắc.
(36) Lấy ý từ Kinh Thư: “Ô hô, doãn xuẩn, quan quả ai tai. 嗚呼!允蠢, 鰥寡哀哉.” Than ôi! Thực là ngu ngốc, thương cho trai cô độc gái góa chồng (Đại Cáo, Chu thư).
(37) Tân Đường thư, truyện Lý Mật (582 – 619): Lý Mật gửi hịch đến các quận huyện kể mười tội của Tùy Dạng đế: “Khánh nam sơn chi trúc, thư tội vô cùng; quyết đông hải chi ba, lưu ác nan tận. 罄南山之竹,書罪無窮;決東海之波,溜惡難侭.”
(38) Chủ có thể là hào phú hay lãnh chúa, không nhất thiết là vua. Lê Tắc, tác giả An Nam chí lược, trung thành với Chương Hiến hầu Trần Kiện thay vì trung thành với vua Trần.
(39) Cao Hùng Trưng – Khuyết danh, An Nam chí nguyên, Hoa Bằng dịch chú và giới thiệu, Nxb Đại học Sư phạm 2017, trang 70-71.
(40) Trong bài viết này, chúng tôi xem phần Tổng luận là sách An Nam chí kỷ yếu của Cao Hùng Trưng, các phần còn lại (từ mục Phủ và Châu, trang 135, về sau) là sách Giao Chỉ Tổng chí của Ty Bố chính Giao Chỉ.
(41) Nhiệm vụ của Hoàng Phúc và Trần Hiệp dường như trùng lắp nhau trong thời gian Lý Bân nắm quyền Tổng binh. Dù chức vụ vua ban của Trần Thượng thư là Tham mưu, lại thấy Hiệp gần gũi công việc của Ty Bố chính. Khi Nguyễn Trãi dâng thơ cho Hữu Bố chính sứ Nguyễn Huân, ông đã dùng vần của Trần Hiệp. Từ năm 1417 đến năm 1422, các báo cáo của Ty Bố chính Giao Chỉ lên vua Minh đều đứng tên bản Ty. Từ sau Lý Bân qua đời, Minh Thực lục ngày 30/8/1422 mới ghi rõ Hoàng Phúc trông coi hai Ty Bố chính và Án sát. Hoàng Phúc được triệu về kinh vào tháng 9/1424, Trần Hiệp chính thức thay thế nhưng vẫn kiêm Tham tán Quân vụ.
(42) Nguyễn Trãi ghi trong Dư địa chí như sau: Nay thần vâng thánh chỉ, đã nói về bang sư, lại xét thổ sản các nơi, để định việc cống phú (Nguyễn Trãi toàn tập tân biên II, 457). Vậy công dụng phần thổ sản và các địa phương của sách giống hệt công dụng Sổ tu tri.
(43) Toàn Thư nhắc tên các nội quan là Mã Kỳ, Lý Lượng và Sơn Thọ. Họ không chỉ phụ trách thu gom quý vật mà còn chỉ huy quân đội. Theo Minh Thực lục, nội quan khiến Phan Liêu dấy loạn mà Toàn Thư đề cập chính là Mã Kỳ.
(44) Khu vực huyện Nghi Xuân nay.
(45) An Nam truyện, Châu Hải Đường dịch và biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn 2018, trang 97.
(46) Sđd, trang 98.
(47) Cao Hùng Trưng – Khuyết danh, An Nam chí nguyên, Hoa Bằng dịch chú và giới thiệu, Nxb Đại học Sư phạm 2017, trang 105.
(48) Sđd, trang 185.
(49) Minh Thực lục II, trang 215: …..vì Nội quan Mã Kỳ trưng thu nặng nề, độc hại dân này; Tổng binh cùng Hiệp (tức Binh bộ Thương thư Trần Hiệp, chú của người viết) không chế ngự được. Giặc họ Lê nhân đó trở nên mạnh… Nhận xét: Mã Kỳ coi Tổng binh và Tam ty chẳng ra gì.
(50) Lấy ý từ Kinh Thư: “Độc phu thụ hồng duy tác uy nãi nhữ thế thù 獨夫受洪惟作威乃汝世仇”, Tên chuyên quyền Thụ ra sức tác oai chính là kẻ thù truyền kiếp của các ngươi (Thái thệ hạ, Chu Thư).
(51) Lấy ý từ Kinh Thư: “Dư tiểu tử túc dạ chi cụ 予小子夙夜祗懼”, Ta chỉ là đứa trẻ sớm tối lo sợ (Thái thệ thượng, Chu Thư).
(52) Cúc Pha: tức Nguyễn Mộng Tuân (1380 – ?), tự Văn Nhược, người huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Ông trúng khoa tiến sĩ năm 1400 dưới đời Hồ. Mộng Tuân tham gia kháng chiến muộn hơn Nguyễn Trãi; sau khi nhà Lê thành lập, ông được trọng dụng, kinh qua nhiều chức to như Trung Thư lệnh, Tả Nạp ngôn, Tri quân dân Bắc đạo… Cúc Pha từng theo quân đội đi đánh Chiêm Thành. Tuy nhiên khi về già ông bị triều đình xử bạc, qua đời lặng lẽ không được ghi chép.
(53)
Linh Sơn: núi Chí Linh, nay thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

(54) Khôi huyện: địa điểm chính xác hãy còn tranh cãi, có thể nằm ở phía tây huyện Nho Quan, tỉnh Ninh bình nay.
(55) Lấy ý từ Kinh Thư: “Dư tạo thiên dịch di đại đầu gian vu trẫm thân 予造天役遺大投艱于朕身”, Ta là tôi tớ của trời, người trao mệnh lớn cho ta nên giao cả gian nguy (Chu Thư, Đại cáo).
(56) “Xuất kỳ chế thắng 出奇制勝”: dùng mưu kế lạ để chiến thắng.
(57) Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (biên tập), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên II, Lam Sơn Thực lục, Nxb Văn Học, trang 320.
(58) Bồ Đằng: tức núi Bồ Lạp/Bồ Cứ, nay thuộc xã châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
(59) Trà Lân: nay thuộc xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
(60) Trần Trí: tước Vinh Xương bá, chức Tham tướng Giao Chỉ.
(61) Sơn Thọ: Trung quan (thái giám), Trấn thủ Giao Chỉ.
(62) Lý An: tước An Bình bá, chức Tham tướng Giao Chỉ.
(63) Phương Chính: Đô đốc, Tham tán phụ tá cho Trần Trí.
(64) Ninh Kiều: cầu bắc qua Ninh Giang (sông Đáy), nay thuộc thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
(65) Tốt Động: nay là xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ.
(66) Trần Hiệp: Binh bộ Thượng thư, trông coi hai ty Bố chính, Án Sát Giao Chỉ.
(67) Lý Lượng: Nội quan, chỉ huy quân đội.
(68) Vương Thông: tước Thành Sơn hầu, nhận chức Chinh Di tướng quân Tổng binh Giao Chỉ từ ngày 8/5/1426.
(69) Mã Anh: Đô đốc Tham tướng Giao Chỉ, sang An Nam cùng lúc với Vương Thông.
(70) Tâm công: bây giờ gọi là chiến tranh tâm lý, tâm lý chiến, hay dân vận.
(71) Lấy ý từ lời Mạnh Tử phê bình một phần nội dung thiên Vũ thành, Chu Thư, Thượng Thư, đoạn thuật lại trận đánh giữa Chu Vũ vương và Đế Tân tại Mục Dã: “Tận tín thư, tắc bất như vô thư. Ngô ư Vũ thành, thủ nhị tam sách nhi dĩ hỹ. Nhân nhân vô địch ư thiên hạ. Dĩ chí nhân phạt chí bất nhân, nhi hà kỳ huyết chi lưu chử dã? 盡信書,則不如無書.吾於武成,取二三策而已矣.仁人無敵於天下.以至仁伐至不仁,而何其血之流杵也?“, Quá tin sách, chẳng bằng không có sách. Ta đọc Vũ thành chỉ chọn được hai ba đoạn. Người nhân vô địch thiên hạ, đem chí nhân trừng phạt chí bất nhân, sao máu lại chảy đến trôi chày?
(72) Xem Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, bản dịch Ngô Thế Long, Nxb Văn hóa-Thông tin (tái bản 2013), trang 165.

(73) Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên II, Lam Sơn thực lục, bản dịch Trần Nghĩa, Nxb Văn học, trang 336.
(74) Xem Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, bản dịch Ngô Thế Long, Nxb Văn hóa–Thông tin (tái bản 2013), trang 49.
(75) Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên II, Lam Sơn thực lục, bản dịch Trần Nghĩa, Nxb Văn học, trang 336. Kế hoạch thắt thòng lọng quanh trụ sở Giao Châu được Thực lục viết rõ và hợp lý hơn Toàn Thư. Đội quân tây bắc của Lê Triện thành công hơn cả. Đội đông bắc của Lê Nhân Chú phải tránh sức tiến của Vương Thông nhằm bảo toàn lực lượng; đội phía Nam sông Hồng không chặn nổi nhóm Phương Chính, Lý An vốn di chuyển bằng thuyền. Các nhóm quân không lấy gì của dân chứng tỏ Lê Lợi chuẩn bị rất kỹ lưỡng nhằm thu phục nhân tâm. Họ phải mang theo nhiều tài vật để đổi lương thực và tuyển mộ lính địa phương. Sĩ tốt kinh lộ đã góp công sức đáng kể trong chiến thắng sau cùng.
(76) Minh Thực lục không chép gì về đội quân Vân Nam. Toàn Thư và Đại Việt thông sử lại ghi nhận hai lần về sự kiện đội quân bị đánh tan, Lam Sơn thực lục ghi một lần.
(77) Nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.
(78) Vương Thông truyền hịch gọi quân các thành vùng Trại quay về Giao Châu nhưng thành Thanh Hóa, do Tri châu La Thông và Chỉ huy Đả Trung lãnh đạo, bất tuân lệnh này (Minh Thực lục II, 155-156). Phần thành Nghệ An, theo Thái Phúc, ông phải rời bỏ vì thiếu lương (Minh Thực lục II, 202).
(79) Cách viết của Toàn Thư gợi ý vụ thảm sát chính là hành động trả thù cho cái chết của Lê Triện.
(80) Lấy ý từ câu “Tiền đồ đảo qua công vu hậu 前徒倒戈攻于後”, bộ binh phía trước trở giáo tấn công bọn phía sau… trong thiên Vũ thành, Chu Thư, Thượng Thư. Xem thêm (87)
(81) Mạnh Tử : “Tặc nhân giả, vị chi tặc; tặc nghĩa giả, vị chi tàn; tàn tặc chi nhơn, vị chi nhứt phu. Văn tru nhứt phu Trụ hỹ, vị văn thí quân giã. 賊仁者謂之賊賊義者謂之残残賊之人謂之一夫聞誅一夫纣矣未聞弒君也.” Kẻ làm hại đức nhân, gọi là tặc; kẻ làm hại đức nghĩa, gọi là tàn. Kẻ tàn kẻ tặc chẳng qua là một người thường mà thôi. Tôi từng nghe vua Võ vương chỉ giết một người thường là Trụ, chớ tôi chưa hề nghe giết vua. Xem Tứ thư, Mạnh Tử, Lương Huệ vương chương cú hạ, dịch giả Đoàn Trung Còn, Nxb Thuận Hóa (tái bản 2013), trang 62-63.
(82) Toàn Thư xếp Trần Hãn đầu danh sách các tướng đánh Xương Giang. Điều này thể hiện biên tập thô thiển của đời sau. Trận Xương Giang do chính Lê Lợi chỉ đạo, quân tâm phúc Thiết Đột làm nòng cốt. Quan Thái úy chỉ huy lính tân phụ, số lượng có thể nhiều hơn quân Trại, nhưng chưa bao giờ đóng vai trò then chốt trong bất cứ chiến dịch nào. Việc điều động “Phụ Thiết Đột các quân” vây Xương Giang được Lê Lợi đề cập trong thư dụ hàng thành Bình Than: “Dư bất đắc dĩ tục điều thiên sư khắc kỳ tiến thảo. Ư kim nguyệt bát nhật tý thời, phù cổ nhất minh đồi nhiên băng hội. 余不得已續調偏師刻期進討於今月八日子長桴鼓一鳴隤然崩潰.” Ta bất đắc dĩ mới điều tiếp cánh quân phụ lập tức tiến đánh. Vào giờ Ngọ ngày 8 tháng này, trống trận vừa mới nổi lên, thành liền bị tan vỡ. Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên I, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch Nguyễn Văn Nguyên-Nguyễn Khuê, Nxb Văn học, trang 649-658. Nhận xét: bản chữ Hán ghi “tý trường 子長”(có lẽ khắc nhầm), bản phiên âm là “tý thời”. Nguyên Hãn chỉ huy “thiên sư 偏師”, cánh quân phụ, đây là lực lượng thực hiện hỗ trợ cần thiết để Thiết Đột giáng đòn quyết định. Toàn Thư ghi nhận nội dung tương tự, Lê Lợi “…sai bọn Hãn đắp đất, mở đường đánh nhau với giặc…” Thiếu Nguyên Hãn, Thiết Đột vô phương phá được thành; công trạng lớn nhưng ông không phải là tướng đứng đầu mặt trận.
(83) Toàn Thư chép Lương Minh bị chém tại trận, Đại Cáo chép Lý Khánh “vẫn thủ 殞首”, rơi đầu. Sử Minh cho rằng Lương Minh chết bệnh trong quân, Lý Khánh phát bệnh từ Quảng Tây, đến Giao Chỉ thì mất.
(84) Khai thác thành ngữ Trung Hoa “Phong vân biến sắc, nhật nguyệt vô quang”. “Gió mây biến sắc” thể hiện thế cực đỉnh của phe Lam Sơn; “nhật nguyệt lu mờ” chỉ tình cảnh bi thảm của quân Minh.
(85) Lam Sơn thực lục ghi nhận danh sách các tướng tham gia trận Chi Lăng tương tự danh sách đưa ra bởi Toàn Thư. Riêng Đại Việt thông sử lại thêm tên Trần Hãn. Quế Đường cho rằng sau trận Chi Lăng, vua sai Hãn đánh úp đội vận lương của Liễu Thăng. Trong khi đó, Toàn Thư chỉ nói Lê Lợi sai Hãn chặn đường tiếp tế (yểm tuyệt lương đạo 掩絶粮道), tương đồng với thông tin trong Đại Cáo (tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực 截路以斷其食). Mặt khác, Minh Thực lục lại chép Phàn Kính và Hồ Dị, chỉ huy binh phu hậu cần, chưa dám thâm nhập An Nam. Có vẻ Lê Quý Đôn miệt mài quá xa trong câu chuyện Trần Nguyên Hãn. Trong Phủ biên tạp lục, ông viết về việc tướng Hãn giải phóng Tân Bình-Thuận Hóa như sau: Tháng 7 mùa thu năm ấy sai Trần (Nguyên) Hãn đem 1.000 quân và một thớt voi đi đánh các thành Tân Bình, Thuận Hóa để thu phục nhân dân. Đến sông Bố Chính (sông Gianh) gặp quân Minh, bọn Hãn dẫn quân vào chỗ hiểm phục ở Khương Hà, đánh nhau với tướng Minh giả thua, quân Minh đuổi theo, quân phục giáp đánh, đánh tan quân giặc. Xem Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch Trần Đại Vinh, Nxb Đà Nẵng 2018, trang 22-23. Ông Lê loại hẳn tên Thượng tướng Lê Nỗ và Chấp lệnh Lê Đa Bồ khỏi bài viết. Nghiên cứu của Quế Đường luôn mang lại giá trị, nhưng thiện cảm dành cho Trần Nguyên Hãn (và Phạm Văn Xảo) khá lộ liễu.
(86) Vua Lê có ưu đãi nhất định đối với binh lính thuộc các đội quân phối thuộc Thiết Đột. Nhiều người từng bị giặc đưa vào các thành Tây Đô, Đông Kinh, Cổ Lộng, Chí Linh nên bị tịch thu nhà cửa, ruộng đất; sau đó, nếu họ tham gia quân phụ Thiết Đột thì tài sản đều được hoàn trả (Toàn Thư II, 313).
(87) Nguyên văn: “thôi tụ suất quan quân tiến chí xương giang ngộ tặc quan quân thiểu nhi tặc chúng quan quân phấn lực tử chiến tặc đại khu tượng dĩ trợ thế quan quân toại loạn tụ vi tặc sở hoạch 崔聚率官軍進至昌江遇賊官軍少而賊眾官軍奮力死戰賊大驅象以助勢官軍遂亂聚為賊所獲” (Minh Thực lục II, 715 – 716).
(88) Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên I, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch Nguyễn Văn Nguyên-Nguyễn Khuê, Nxb Văn học, trang 673.
(89) Xem thiên Vũ thành, Chu Thư, Thượng Thư: “Giáp Tý muội sảng, Thụ suất kỳ lữ nhược lâm, hội vu mục dã. Võng hữu địch vu ngã sư, tiền đồ đảo qua, công vu hậu dĩ bắc, huyết lưu phiêu chử. 甲子昧爽,受率其旅若林,會于牧野.罔有敵于我師,前徒倒戈,攻于後以北,血流漂杵.” Rạng sáng ngày Giáp Tý, Thụ dẫn quân đông như cây rừng tụ tập tại cánh đồng Mục Dã. Tuy nhiên, chúng không chống cự quân ta, lính bộ phía trước trở giáo đánh đội phía sau đến khi bỏ chạy, máu chảy trôi chày.
(90) Xem Binh pháp Tôn tử, Minh Đức dịch, Nxb Văn Học (2017), trang 98-99. Thiên Mưu công: “Tôn tử viết: phàm dụng binh chi pháp, toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi; toàn quân vi thượng, phá quân thứ chi; toàn lữ vi thượng, phá lữ thứ chi; toàn tốt vi thượng, phá tốt thứ chi; toàn ngũ vi thượng, phá ngũ thứ chi. Thị cố bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã; bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã. 孫子曰:凡用兵之法, 全國為上,破國次之;全軍為上,破軍次之;全旅為上,破旅次之;全卒為上,破卒次之;全伍為上,破伍次之.是故百戰百勝,非善之善者也;不戰而屈人之兵,善之善者也.” Tôn tử nói: trong phép dùng binh, có thể khiến cho toàn bộ nước địch đầu hàng là thượng sách, đánh tan tành nước ấy chỉ là thứ sách; có thể khiến toàn quân đội địch đầu hàng là thượng sách, đánh tan tành quân đội địch chỉ là thứ sách; có thể khiến cả đơn vị địch đầu hàng là thượng sách, phá vỡ đơn vị đó chỉ là thứ sách; có thể khiến tất cả binh sĩ địch đầu hàng là thượng sách, đánh giết tất cả chỉ là thứ sách; có thể khiến toàn bộ quân ngũ đầu hàng là thượng sách, phá vỡ quân ngũ của địch chỉ là thứ sách. Vì thế, trăm trận trăm thắng chưa hẳn đã là người tướng tài ba nhất; chẳng đánh mà địch chịu hàng mới gọi là mưu trí nhất trong mọi nhà cầm quân mưu trí nhất.
(91) Lấy ý từ lời Chu Vũ vương trong Thái thệ hạ, Chu Thư, Thượng Thư: “Dư khắc thụ, phi dư vũ, duy trẫm văn khảo vô tội; thụ khắc dư; phi trẫm văn khảo hữu tội, duy dư tiểu tử vô lương 予克受,非予武,惟朕文考無罪;受克予;非朕文考有罪,惟予小子無良.” Nếu ta thắng Thụ, đó không do sức của ta, mà do phụ vương vô tội (tức có đức); nếu Thụ thắng ta; không phải phụ vương có tội (tức kém đức), mà do ta là đứa trẻ không thiện lành.
(92) Nguyên văn: 朕不得已命爾等往討其罪賴 天地宗社默相將士用命兵威所至咸以削平生擒逆賊黎季犛父子及其偽官(Minh Thực lục II, 672). Trẫm bất đắc dĩ mệnh nhĩ đẳng vãng thảo kỳ tội lại thiên địa tông xã mặc tương tướng sĩ dụng mệnh binh uy sở chí hàm dĩ tước bình sinh cầm nghịch tặc lê quý ly phụ tử cập kỳ nguỵ quan

(93) Thiên Vũ thành tán tụng Chu Vũ vương sau khi diệt Trụ: “Nhất nhung y, thiên hạ đại định 一戎衣,天下大定”, Chỉ một lần mang giáp trụ mà thiên hạ đại định.
(94) Xem thiên Thái thệ thượng, Chu thư, Thượng thư. Chu Vũ vương hiểu dụ chư hầu tại Mạnh tân (1123 TCN) có đoạn như sau: “Thiên căng vu dân, dân chi sở dục, thiên tất tùng chi. Nhữ thượng bật dư nhất nhân, vĩnh thanh tứ hải, thời tai phất khả thất! 天矜于民,民之所欲,天必從之.爾尚弼予一人,永清四海,時哉弗可失!”, Trời xót thương dân, dân muốn gì, trời tất theo vậy. Các ngươi hãy cố giúp Ta, khiến bốn biển thanh bình lâu dài, thời chẳng thể đánh mất!
(95) Nhìn nhận của Lê Lợi đối với học thuyết cai trị Trung Hoa rất giống nhìn nhận của trí thức Đức đối với tinh thần Cách mạng Pháp. Dưới sự chiếm đóng của quân đội Napoleon, triết gia Đức Johann Gottlieb Fichte vẫn nghĩ rằng dân tộc Đức sẽ mang giá trị Tự do – Bình đẳng – Bác ái đến thế giới.
(96) Lê Lợi có thử nghiệm thành lập các đạo quân chính quy Thiên Trường, Thiên Võng gồm toàn người kinh lộ nhưng không thành công.

 

One thought on “Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi (Bài 1)

  1. Bài nghiên cứu rất công phu và sâu sắc. Rất đáng đọc. Và phải đọc rất kỹ, phải suy ngẫm thấu đáo mới có thể đưa ra những nhận xét và đánh giá xác đáng.
    Xin để sau.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s