
Minh Nhut
Trong chế độ cộng sản, “Chỉnh phong” là cách viết tắt của Chỉnh đốn tác phong, bắt nguồn từ tiếng Trung Zhěngfēng. Về bản chất, đây không phải là một phong trào cải cách hành chính thông thường, mà là một chiến dịch thanh trừng nội bộ mang tính hệ tư tưởng và chính trị, kết hợp với khủng bố tâm lý nhằm đồng hóa tư tưởng và củng cố quyền lực tuyệt đối của phe nhóm lãnh đạo tối cao. Phong trào này có nguồn gốc từ Đảng Cộng sản Trung Quốc và sau đó được áp dụng tại các quốc gia cộng sản khác.
BẢN CHẤT THỰC SỰ CỦA CHỈNH PHONG
Nếu bóc tách lớp vỏ bọc ngôn từ chính thức như “nâng cao đạo đức cách mạng” hay “chống quan liêu”, Chỉnh phong vận hành dựa trên bốn cơ chế cốt lõi.
Cơ chế thứ nhất là tiêu diệt tư duy độc lập. Toàn bộ đảng viên, trí thức và cán bộ bị ép buộc phải từ bỏ thế giới quan cá nhân, các giá trị nhân văn cũ hoặc tư duy phản biện để phục tùng tuyệt đối vào đường lối của lãnh tụ.
Cơ chế thứ hai là thanh trừng phe phái. Đây là công cụ hữu hiệu để người đứng đầu đảng loại bỏ các đối thủ chính trị, các phe phái đối lập hoặc những người có xu hướng ôn hòa, thân phương Tây hay xét lại.
Cơ chế thứ ba là vũ khí hóa hoạt động tự phê bình và phê bình, biến hoạt động này thành các buổi đấu tố công khai. Cá nhân buộc phải tự vạch áo cho người xem lưng, tự nhận những tội danh nghiêm trọng về tư tưởng, đồng thời phải phê bình, tức tố cáo đồng nghiệp, bạn bè, thậm chí là người thân để chứng minh lòng trung thành.
Cơ chế thứ tư là tạo ra bầu không khí sợ hãi. Bằng cách trừng phạt khốc liệt một vài nhóm điển hình, bộ máy tạo ra sự phục tùng vô điều kiện dựa trên nỗi sợ bị cô lập, bị tước đoạt sinh kế, hoặc bị trừng phạt thể xác.
Phong trào chỉnh phong Diên An (1942-1945) tại Trung Quốc là chiến dịch chỉnh phong nguyên bản và khốc liệt nhất, do Mao Trạch Đông phát động tại căn cứ địa Diên An.
Mục tiêu của chiến dịch là loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của phe thân Liên Xô, đứng đầu là Vương Minh, và thiết lập Tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam tối cao.
Về phương pháp, hàng vạn cán bộ và trí thức trẻ, những người rời vùng xuôi lên Diên An vì lòng yêu nước, bị ép buộc phải học tập các bài viết của Mao và viết tự kiểm điểm chi tiết hàng chục vạn chữ. Những ai bị nghi ngờ hoặc phản kháng sẽ bị dán nhãn là gián điệp, bị biệt giam, tra tấn tâm lý tại các trại cải tạo do Khang Sinh điều hành. Chiến dịch này đã biến Đảng Cộng sản Trung Quốc thành một bộ máy phục tùng cá nhân Mao tuyệt đối.
Tại Việt Nam trong thập niên 1950, Đảng Lao động Việt Nam đã tiếp thu mô hình này từ Trung Quốc để áp dụng trong kháng chiến chống Pháp và giai đoạn hòa bình sau đó.
Trong những năm đầu thập niên 1950, khi cuộc kháng chiến đang diễn ra, các đợt chỉnh huấn được phát động trong quân đội và trong giới trí thức, văn nghệ sĩ tại chiến khu Việt Bắc. Mục tiêu là xóa bỏ tư tưởng tiểu tư sản, bắt buộc các trí thức Tây học phải cúi đầu thừa nhận giai cấp công nông là bậc thầy tư tưởng, chuẩn bị tâm lý cho cuộc Cải cách ruộng đất.
Phong trào Nhân văn – Giai phẩm hoạt động trong khoảng năm 1956, khi các văn nghệ sĩ lên tiếng đòi tự do sáng tác và phê phán sai lầm của Cải cách ruộng đất. Đến năm 1958, Đảng đã phát động chiến dịch chỉnh phong toàn diện trong giới văn hóa nghệ thuật để dập tắt phong trào này. Kết quả là hàng loạt trí thức hàng đầu như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Đức Thảo, Trần Dần bị bỏ tù, lưu đày thực tế hoặc cấm xuất bản suốt đời.
Trong phiên tòa ngày 19 tháng 1 năm 1960 tại Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang và Thụy An cùng bị tuyên án 15 năm tù giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù, trong đó Thụy An bị buộc tội làm gián điệp. Đây là hai trường hợp bị xử phạt nặng nhất trong vụ án, và cả hai chỉ được trả tự do vào năm 1973.
Trường hợp của Trần Dần là một ví dụ điển hình cho hậu quả kéo dài của chiến dịch. Năm 1960, ông phải đi lao động thực tế tại khu gang thép Thái Nguyên, sau đó vì ốm nặng phải trở về Hà Nội và sống âm thầm bằng nghề dịch sách, tô màu ảnh từ năm 1961 đến năm 1986, không tham gia các hoạt động văn học chính thức. Năm 1988, ông mới được tham gia sinh hoạt văn học trở lại và lần lượt cho xuất bản các tác phẩm cũ. Ông qua đời tại Hà Nội ngày 17 tháng 1 năm 1997, khép lại hơn ba mươi năm bị gạt ra khỏi đời sống văn chương công khai.
Quá trình phục hồi cho những người liên quan đến vụ án diễn ra rất muộn và không công khai rộng rãi. Nghị quyết 05 ngày 28 tháng 11 năm 1987 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam là văn bản đặt vấn đề xem xét phục hồi quyền lợi cho một số người, trong đó Nguyễn Hữu Đang được tự do đi lại và được cấp nhà ở tại Hà Nội. Theo nhà thơ Hoàng Cầm, vụ Nhân văn – Giai phẩm chỉ thực sự được nhìn nhận lại và phục hồi từng phần kể từ thời kỳ Đổi Mới cuối thập niên 1980, nhưng quá trình này diễn ra âm thầm và kéo dài, trong khi nhiều người trong cuộc như Trần Dần và Phùng Quán đã qua đời trước khi kịp chứng kiến những thay đổi đầy đủ hơn về sau.
ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA CHỈNH PHONG VÀ CẢI CÁCH TRONG THỂ CHẾ DÂN CHỦ
Về mục tiêu tối thượng, Chỉnh phong trong chế độ cộng sản nhằm bảo vệ quyền lực độc tôn của Đảng và lãnh tụ, đồng nhất tư tưởng toàn xã hội. Trong khi đó, cải cách hành chính hay chống tham nhũng trong thể chế dân chủ nhằm tối ưu hóa bộ máy, bảo vệ pháp luật và tăng tính minh bạch.
Về đối tượng xử lý, Chỉnh phong nhằm vào tư tưởng khác biệt, sự thiếu trung thành và phe phái đối lập, còn cải cách dân chủ nhằm vào hành vi vi phạm pháp luật cụ thể như tham nhũng hay lạm quyền.
Về phương pháp, Chỉnh phong sử dụng đấu tố nội bộ, áp lực tâm lý và ép buộc tự bôi nhọ bản thân, trong khi cải cách dân chủ dựa vào điều tra độc lập bởi cơ quan tư pháp và xét xử công khai tại tòa án.
Về giám sát, Chỉnh phong do cơ quan kiểm tra của Đảng kiểm soát tuyệt đối, còn cải cách dân chủ chịu sự giám sát của báo chí tự do, phe đối lập và công chúng.
Nói tóm lại, Chỉnh phong là một cơ chế tự làm sạch mang tính bạo lực hệ tư tưởng của chế độ cộng sản. Nó được thiết kế không phải để mở rộng tự do hay sửa chữa khuyết điểm theo hướng tiến bộ, mà là để thắt chặt kỷ luật, bẻ gãy mọi mầm mống phản kháng, đảm bảo rằng từ trên xuống dưới chỉ tồn tại một tiếng nói duy nhất.
Dưới góc độ chính trị học, các nhà chính trị học, trong đó có dòng nghiên cứu của Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski về thể chế toàn trị, chỉ ra rằng một đảng độc quyền lãnh đạo luôn đối mặt với nghịch lý quyền lực. Khi không có phe đối lập bên ngoài, các mâu thuẫn sẽ tự động nảy sinh và tích tụ ở bên trong, dưới dạng các phe phái hoặc xu hướng đa nguyên tư tưởng.
TRỤC CHÍNH TRỊ HỌC VÀ CƠ CHẾ CỦNG CỐ QUYỀN LỰC TỐI CAO
Nghiên cứu chính trị về Chỉnh phong chỉ ra hai chức năng cốt lõi. Chức năng thứ nhất là giải quyết khủng hoảng tính chính danh nội bộ. Khi một chính sách lớn thất bại, chẳng hạn giai đoạn đầu đầy khó khăn của Mao tại Diên An, hoặc sai lầm của Cải cách ruộng đất tại Việt Nam, lãnh đạo tối cao sẽ dùng Chỉnh phong để chuyển dịch trách nhiệm. Lỗi không thuộc về hệ tư tưởng hay lãnh tụ, mà thuộc về tác phong sai lệch, sự tha hóa hoặc tư tưởng phản động của một nhóm cán bộ cấp dưới hoặc giới trí thức.
Chức năng thứ hai là thiết lập cấu trúc thần quyền hóa lãnh tụ. Học giả độc lập Cao Hoa, nhà lịch sử Trung Quốc và tác giả cuốn sách tiếng Trung Hồng thái dương thị như hà thăng khởi, được biết đến trong giới nghiên cứu quốc tế qua tên gọi tiếng Anh How the Red Sun Rose, đã chứng minh qua nghiên cứu thực chứng rằng Chỉnh phong Diên An là quy trình từng bước hạ bệ các tiêu chuẩn lý luận kinh điển của Marx-Lenin, vốn do nhóm Vương Minh nắm giữ, để thay thế bằng một thứ kinh điển mới mang tính bản địa hóa và cá nhân hóa tuyệt đối, đó là Tư tưởng Mao Trạch Đông.
TRỤC TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI VÀ CÔNG NGHỆ TẨY NÃO
Dưới góc độ tâm lý học xã hội, thuật ngữ thought reform, tức cải tạo tư tưởng, hay brainwashing, được nhà tâm thần học người Mỹ Robert Jay Lifton nghiên cứu sâu sắc trong cuốn sách kinh điển Thought Reform and the Psychology of Totalism xuất bản năm 1961, dựa trên việc phỏng vấn những người từng trải qua các chiến dịch chỉnh phong và cải tạo tại Trung Quốc.
Theo nghiên cứu của Lifton, Chỉnh phong vận hành như một quy trình phá hủy và tái cấu trúc tâm lý cá nhân qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là phá hủy nhân cách cũ thông qua cô lập, sỉ nhục và đấu tố. Giai đoạn thứ hai là khủng hoảng và chuyển biến, với cảm giác tội lỗi sâu sắc. Giai đoạn thứ ba là tái cấu trúc nhân cách mới, khi cá nhân chấp nhận tư tưởng Đảng để được giải thoát.
Cơ chế đầu tiên trong quy trình này là sự thao túng cảm giác tội lỗi. Trầm cảm và lo âu được kích thích tối đa. Cá nhân bị đặt vào môi trường mà mọi hành vi trong quá khứ, chẳng hạn đọc một cuốn sách phương Tây, có cha mẹ là địa chủ, hay một câu nói đùa, đều bị quy chụp thành tội ác chống lại nhân dân.
Cơ chế thứ hai là ngôn ngữ hóa khuôn mẫu. Nghiên cứu chỉ ra rằng Chỉnh phong triệt tiêu tư duy phản biện bằng cách ép buộc sử dụng các thuật ngữ nhị nguyên, mang tính phán xét tuyệt đối như đúng hay sai, cách mạng hay phản cách mạng, vô sản hay tiểu tư sản. Khi một người chỉ được phép tư duy và nói bằng các cụm từ có sẵn của Đảng, họ dần mất đi khả năng hình thành các ý niệm độc lập của riêng mình.
Cơ chế thứ ba là sự phản bội được định chế hóa. Để vượt qua cuộc chỉnh phong, cá nhân bắt buộc phải bước qua ranh giới đạo đức thông thường bằng cách tố cáo đồng nghiệp, bạn bè hoặc gia đình. Khi đã nhúng chàm vào việc phản bội người thân, cá nhân đó bị cắt đứt sợi dây liên kết với xã hội cũ và hoàn toàn phụ thuộc vào tổ chức Đảng để tìm kiếm sự cứu rỗi và an toàn.
TRỤC XÃ HỘI HỌC VÀ SỰ RẠN NỨT CẤU TRÚC TẦNG LỚP TRÍ THỨC
Dưới góc độ xã hội học, Chỉnh phong là công cụ để tái định hình cấu trúc giai cấp, đặc biệt là nhằm vào tầng lớp trí thức tinh hoa.
Trước chỉnh phong, trí thức như nhóm nhà văn Đinh Linh, Vương Thực Vị ở Diên An, hay nhóm Nhân văn – Giai phẩm ở Việt Nam, nhìn nhận vai trò của họ là phản biện xã hội, dùng ngòi bút để chỉ ra mặt trái của bộ máy quyền lực. Nghiên cứu xã hội học lịch sử cho thấy Chỉnh phong đã bẻ gãy hoàn toàn vai trò này, biến trí thức từ chỗ là người phản biện trở thành công cụ tuyên truyền thuần túy.
Cơ chế vô sản hóa cưỡng ép buộc giới trí thức phải trải qua các đợt lao động thực tế, được gọi là ba cùng, tức cùng ăn, cùng ở, cùng làm với giai cấp nông dân và công nhân. Dưới góc độ nghiên cứu, đây không đơn thuần là hoạt động dân dã, mà là một nghi thức hạ bệ biểu tượng. Nó tước bỏ vị thế dẫn dắt văn hóa của người trí thức, bắt họ phải thừa nhận sự thấp kém của bản thân trước khối quần chúng thô sơ nhưng vững vàng về lập trường giai cấp.
Tổng hợp các nghiên cứu độc lập về lịch sử chính trị thế kỷ XX nói trên, Chỉnh phong không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên hay một giải pháp tình thế, mà là một công nghệ chính trị mang tính hệ thống. Nó giải quyết bài toán cốt lõi của các thể chế độc đảng, đó là làm thế nào để duy trì sự đồng thuận tuyệt đối trong một tổ chức lớn mà không cần đến bạo lực vật lý hàng loạt như xử bắn hay bỏ tù số đông, mà thay vào đó dùng bạo lực biểu tượng và áp lực tâm lý để khiến các cá nhân tự nguyện khuất phục và đồng hóa.
SO SÁNH VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG ĐƯƠNG ĐẠI: CANCEL CULTURE VÀ WOKE
Khi đặt phong trào woke cạnh Chỉnh phong của chế độ cộng sản, các nhà nghiên cứu chính trị và xã hội học độc lập đã chỉ ra những điểm tương đồng về mặt cấu trúc triết học và tâm lý học hành vi.
Điểm tương đồng sâu sắc nhất về mặt lý luận, theo các học giả như James Lindsay và Helen Pluckrose, là sự chuyển dịch từ đấu tranh giai cấp sang đấu tranh căn tính. Cả hai đều chia thế giới thành hai cực đối lập một cách cực đoan. Chỉnh phong, dựa trên chủ nghĩa Marx cổ điển, chia xã hội dựa trên kinh tế và giai cấp, với một bên là giai cấp bóc lột gồm địa chủ và tư sản, mang tội lỗi nguyên thủy và cần bị cải tạo hoặc tiêu diệt, còn một bên là giai cấp bị bóc lột gồm vô sản và nông dân. Woke, xuất phát từ chủ nghĩa Marx mới và lý thuyết phê phán, thay thế yếu tố kinh tế bằng căn tính như chủng tộc, giới tính, xu hướng tính dục, chia xã hội thành kẻ áp bức hệ thống và người bị áp bức hệ thống. Điểm tương đồng là cả hai đều không nhìn nhận con người như một cá nhân độc lập với những phẩm chất riêng, mà nhìn con người như một vật đại diện cho một nhóm hoặc một giai cấp.
Điểm tương đồng thứ hai là khái niệm tội lỗi hệ thống và sự sám hối vô tận. Trong tư tưởng Chỉnh phong, một người sinh ra trong gia đình địa chủ hay trí thức Tây học bị coi là dòng máu và tư tưởng đã bị nhiễm độc tư sản một cách hệ thống, và họ phải liên tục học tập, lao động cải tạo để tẩy rửa bản thân. Trong tư tưởng woke, khái niệm này biến thể thành đặc quyền da trắng hoặc sự phân biệt chủng tộc hệ thống, theo đó một người da trắng sinh ra mặc định đã được hưởng lợi từ hệ thống áp bức dù họ có muốn hay không. Để trở thành một người thức tỉnh, cá nhân đó phải trải qua một quy trình tương tự chỉnh huấn, bao gồm thừa nhận đặc quyền của mình, tự kiểm điểm các định kiến vô thức của bản thân, và liên tục thực hiện các nghi thức sám hối trước công chúng.
Điểm tương đồng thứ ba là bản chất mang tính tôn giáo và sự bất khả sai phạm. Dù cả Chỉnh phong và woke đều tự nhận là mang tính khoa học, tiến bộ và lý trí, cách thức vận hành của chúng lại mang đậm tính tôn giáo cực đoan. Tội lỗi nguyên thủy trong Chỉnh phong là tư tưởng tiểu tư sản, còn trong woke là đặc quyền vô thức, và một cá nhân luôn được coi là có tội, vấn đề chỉ là họ có đủ thức tỉnh để nhận ra điều đó hay không. Vai trò kinh thánh trong Chỉnh phong là các bài viết của Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Marx-Lenin, còn trong woke là các lý thuyết chủng tộc tới hạn hoặc lý thuyết giới. Cả hai cũng không chấp nhận vùng xám, khi Chỉnh phong cho rằng không phản đối tư sản tức là thỏa hiệp với tư sản, còn woke cho rằng không tích cực chống phân biệt chủng tộc tức là đang phân biệt chủng tộc, và trong cả hai trường hợp cá nhân không được phép giữ im lặng hay trung lập.
Điểm tương đồng thứ tư là kiểm soát ngôn từ. Cả hai phong trào đều dựa trên nguyên tắc ai kiểm soát được ngôn ngữ thì người đó kiểm soát được tư duy. Chỉnh phong tạo ra một hệ thống từ vựng mang tính định hướng cao để dán nhãn đối phương như xét lại, đuôi chó của tư sản, thành phần bất hảo, và người dân buộc phải dùng các từ ngữ này để chứng minh mình hợp thời. Woke tạo ra một ma trận thuật ngữ mới và liên tục thay đổi, bao gồm các đại từ nhân xưng mới và các từ chuyên môn chính trị như microaggression, intersectionality, cisgender, và nếu một người không cập nhật hoặc dùng sai từ, họ lập tức bị gắn mác là phản tiến bộ hoặc kẻ thù ghét và trở thành mục tiêu của cuộc chỉnh phong kỹ thuật số.
Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, điểm chung đáng chú ý giữa hai phong trào là cả hai đều xuất phát từ những khẩu hiệu mang tính nhân văn, với Chỉnh phong được trình bày như công cụ để bảo vệ cách mạng và chống hủ bại, còn woke được trình bày như công cụ để bảo vệ người yếu thế và đòi bình đẳng. Các nhà nghiên cứu này cho rằng khi một hệ tư tưởng tự cho mình nắm giữ chân lý đạo đức tuyệt đối, nó có xu hướng tự cấp quyền cho mình được can thiệp vào tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và nhân phẩm của những người không đồng ý với nó.
Nếu woke, tức thức tỉnh, chính là hệ tư tưởng, là nền tảng lý luận đứng sau để hợp thức hóa cho các hành động đó thì cancel culture là hành động, là vũ khí và phương thức thực hiện.
Dưới góc độ nghiên cứu xã hội học và chính trị học so sánh, việc đặt Chỉnh phong cạnh văn hóa tẩy chay, tức cancel culture, của cánh tả đương đại phương Tây là một cách tiếp cận đáng chú ý. Dù khác biệt về bối cảnh lịch sử và công cụ thực hiện, hai hiện tượng này chia sẻ chung một cơ chế tâm lý và phương thức vận hành xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng cancel culture chính là phiên bản phi tập trung, áp dụng công nghệ số của các kỹ nghệ kiểm soát tư tưởng thời thế kỷ XX.
Điểm tương đồng thứ nhất là vũ khí hóa việc đấu tố công khai. Trong Chỉnh phong, cá nhân bị ép buộc đứng trước tập thể, đọc bản kiểm điểm, để đám đông xung quanh liên tục sỉ nhục và vạch trần các sai sót tư tưởng. Trong cancel culture, đám đông trên mạng xã hội lùng sục quá khứ, chụp lại màn hình những phát ngôn từ nhiều năm trước của nạn nhân để thiết lập một cuộc đấu tố kỹ thuật số quy mô lớn. Điểm chung là cả hai đều không dùng đến cơ chế pháp lý hay tòa án, mà dùng áp lực từ đám đông để nghiền nát danh dự của nạn nhân.
Điểm tương đồng thứ hai là ép buộc tự phê bình và xin lỗi công khai. Trong Chỉnh phong, nạn nhân phải viết hết bản tự kiểm điểm này đến bản tự kiểm điểm khác, tự nhận mình có tư tưởng tư sản hay suy thoái để mong được tổ chức tha thứ. Trong cancel culture, các ngôi sao, học giả hoặc cá nhân bị tẩy chay thường phải lập tức đăng tâm thư hoặc video xin lỗi, tự nhận mình đã thiếu nhạy cảm hoặc thiếu hiểu biết và hứa sẽ học tập, cải thiện bản thân. Trong cả hai trường hợp, lời xin lỗi hiếm khi mang lại sự khoan hồng, mà là nghi thức bắt buộc để nạn nhân tự bôi nhọ nhân cách cũ của chính mình trước công chúng nhằm phục tùng hệ giá trị mới.
Điểm tương đồng thứ ba là cơ chế đóng băng xã hội, tức tước đoạt sinh kế. Trong Chỉnh phong, người bị quy tội sẽ bị đồng nghiệp xa lánh, bạn bè cắt đứt liên lạc, gia đình phải tuyên bố từ mặt để tránh bị vạ lây, và họ bị cắt học bổng, mất việc, trục xuất khỏi hội đoàn. Trong cancel culture, nạn nhân bị cắt hợp đồng quảng cáo, bị sa thải khỏi tập đoàn, hủy bỏ bài giảng ở đại học, sách bị gỡ khỏi kệ, còn bạn bè đồng nghiệp lập tức hủy theo dõi hoặc ra tuyên bố vạch rõ ranh giới. Điểm chung là biến nạn nhân thành kẻ bị hủi về mặt xã hội, tước đi khả năng kinh tế và tiếng nói của họ trong cộng đồng.
Điểm tương đồng thứ tư là thanh lọc ngôn ngữ và tư duy nhị nguyên. Chỉnh phong phân chia thế giới thành cách mạng và phản cách mạng, tiến bộ và hủ bại, không cho phép đứng trung lập. Cancel culture phân chia thế giới dựa trên lăng kính căn tính, giữa kẻ áp bức và người bị áp bức, giữa chống phân biệt chủng tộc và phân biệt chủng tộc, và chỉ một sơ suất nhỏ trong dùng từ cũng đủ để bị khép vào tội lỗi hệ thống.
Mặc dù giống nhau về biểu hiện tâm lý đám đông, hai hiện tượng này không thể đồng nhất hoàn toàn vì có những ranh giới quyền lực rất khác biệt.
Về bản chất quyền lực, Chỉnh phong mang tính tập trung từ trên xuống, do nhà nước toàn trị và đảng cầm quyền chỉ đạo, có sự hậu thuẫn của công an, nhà tù và luật pháp. Cancel culture mang tính phi tập trung và theo chiều ngang, do đám đông cư dân mạng, các nhóm áp lực và các thuật toán mạng xã hội thúc đẩy.
Về hậu quả cuối cùng, Chỉnh phong có thể dẫn đến việc bị bắt giữ, bỏ tù, lao động khổ sai, cải tạo tư tưởng tại trại giam, thậm chí là xóa sổ vật lý. Cancel culture dẫn đến việc bị hủy hoại sự nghiệp, mất danh tiếng, khủng hoảng tâm lý và xóa sổ trên không gian số.
Về phạm vi áp dụng, Chỉnh phong là bắt buộc đối với toàn bộ người dân sống trong biên giới quốc gia đó và không ai có thể trốn thoát. Cancel culture chủ yếu diễn ra trong giới tinh hoa, truyền thông, giới giải trí và học thuật ở các nước tự do.
Các nhà xã hội học kết luận rằng cancel culture chính là sự trỗi dậy của xung năng chỉnh phong nguyên thủy trong tâm lý con người. Khi một nhóm người sở hữu quyền lực đạo đức tuyệt đối, dù là ý thức hệ cộng sản hay tư tưởng tiến bộ cực đoan, và tin rằng mình đang đại diện cho chính nghĩa, họ sẽ có xu hướng sử dụng các biện pháp cực đoan để bức hại, trừng phạt và đồng hóa bất cứ ai lệch ra khỏi dòng chảy chủ lưu của họ.