Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraine

Tác giả: Yuval Noah Harari

Biên dịch: Trần Sơn Huy

Bài viết của sử gia Yuval Noah Harari đăng trên The Economist ngày 09/02 (tựa đề gốc: “Yuval Noah Harari argues that what’s at stake in Ukraine is the direction of human history”), hơn nửa tháng trước khi Putin xua quân xâm lược Ukraine.

Tác giả cho rằng cuộc chiến này (nếu diễn ra, sẽ) đi ngược lại xu hướng phát triển của loài người, và kẻ đem quân đi xâm lược sẽ “đi vào lịch sử là kẻ phá vỡ thành tựu lớn nhất về chính trị mà con người từng đạt được”.

Ông cũng đồng thời chỉ ra những bài học mà người Ukraine có thể dạy cho chúng ta, khi họ đã gầy dựng được một nền dân chủ non trẻ nhưng quyết tâm giữ vững nó, sau nhiều thế kỷ chỉ biết đến những chế độ bạo chúa và độc tài.

* * *

THÀNH TỰU LỚN NHẤT VỀ CHÍNH TRỊ CỦA CON NGƯỜI LÀ SỰ SUY GIẢM CHIẾN TRANH

Có một câu hỏi căn bản về bản chất của lịch sử và bản chất của loài người nằm trong tâm điểm của cuộc khủng hoảng tại Ukraine: liệu thay đổi là một việc khả thi? Liệu con người có thể thay đổi được hành vi của mình, hay rốt cuộc lịch sử chỉ mãi mãi lặp lại chính nó, loài người bị dính chặt trong lời nguyền tái diễn những bi kịch quá khứ, còn thay đổi có chăng chỉ nằm ở vẻ bên ngoài?

Có một trường phái tư tưởng phủ nhận hoàn toàn khả năng thay đổi của con người. Nó cho rằng thế giới vận hành theo luật rừng (law of the jungle), nơi kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu, còn phương tiện duy nhất ngăn cản một quốc gia bị nuốt chửng bởi một quốc gia khác là sức mạnh vũ trang. Lịch sử đã luôn diễn ra theo cách đó, và cũng sẽ tiếp diễn như thế. Những ai không tin vào luật rừng không chỉ là người hão huyền, mà còn tự đặt mình vào thế hiểm nguy. Họ sẽ không thể sống sót lâu dài.

Một trường phái tư tưởng khác quan niệm rằng cái gọi là luật rừng không phải là một quy luật tự nhiên. Chính con người đã tạo ra nó, nên con người có thể thay đổi nó. Trái với những quan điểm sai lầm đang phổ biến, bằng chứng rõ ràng đầu tiên về chiến tranh có tổ chức chỉ được giới khảo cổ ghi nhận vào khoảng 13.000 năm trước Công nguyên. Và sau sự kiện đó, trong vòng nhiều kỷ nguyên, người ta vẫn khó tìm thấy các dấu vết khảo cổ về chiến tranh. Không giống như “trọng lực”, chiến tranh không phải là một lực cơ bản của tự nhiên. Sự tồn tại và mức độ căng thẳng của chiến tranh phụ thuộc vào các yếu tố tiềm ẩn về kỹ nghệ, kinh tế và văn hóa. Khi các yếu tố này thay đổi, chiến tranh cũng thay đổi theo.

Bằng chứng cho sự thay đổi này hiện diện khắp quanh ta. Trong vài thế hệ gần đây, vũ khí hạt nhân đã biến chiến tranh giữa các siêu cường thành một hành động tự sát tập thể, buộc các quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh phải tìm ra các phương tiện ít bạo lực hơn để giải quyết xung đột. Nếu như các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia hùng mạnh, như Chiến tranh Punic lần thứ hai hay Thế chiến thứ Hai, đã từng là những sự kiện nổi trội trong phần lớn chiều dài lịch sử, thì trong bảy thập kỷ vừa qua, chúng ta chưa từng chứng kiến một cuộc chiến trực tiếp nào giữa các siêu cường.

Cùng thời kỳ, nền kinh tế toàn cầu đã chuyển dịch từ việc dựa vào các nguồn tài nguyên sang dựa vào tri thức. Trong khi trước đây, nguồn tài sản chính nằm ở là các tài nguyên như mỏ vàng, đồng ruộng, giếng dầu, thì giờ đây nguồn tài sản chính nằm ở tri thức. Vả, nếu như ta có thể dùng vũ lực để chiếm đoạt các mỏ dầu, thì ta lại không thể chiếm đoạt tri thức bằng cách đó. Chính vì vậy, việc xua quân đi chinh phạt ngày nay không mang lại nhiều lợi ích như xưa.

Một điểm cuối, nền văn hóa toàn cầu đã trải qua một biến chuyển đáng kể. Nhiều người thuộc tầng lớp tinh hoa trong lịch sử – như các thủ lĩnh người Hun, các bá tước người Viking, hay giới quý tộc La Mã – đã từng nhìn chiến tranh dưới con mắt tích cực hơn. Những kẻ cai trị, từ Sargon Đại Đế đến Benito Mussolini, đều muốn để lại danh tiếng muôn thuở thông qua các cuộc chinh phạt (còn những người hoạt động nghệ thuật như Homer hay Shakespeare đều vui vẻ tuyên dương những mộng tưởng ấy). Một số thành phần tinh hoa khác, như Giáo hội Thiên Chúa, từng coi chiến tranh là ác quỷ, nhưng không thể tránh được.

Tuy nhiên, chỉ trong vài thế hệ gần đây, lần đầu tiên trong lịch sử, thế giới được chế ngự bởi một bộ phận giới tinh hoa coi chiến tranh là một cái ác VÀ có thể tránh được. Ngay cả những người như George W. Bush và Donald Trump, chưa kể đến những Merkel và Ardern, đều là những chính trị gia khác hẳn với Attila Rợ Hung hay Alaric Đệ Nhất của xứ Goth. Họ thường lên nắm quyền với những ước mong về những cải cách nội địa hơn là tiến hành các cuộc viễn chinh. Trong khi đó, trong các lĩnh vực nghệ thuật và tư tưởng, những cây đại thụ – từ Pablo Picasso đến Stanley Kubrick – đều nổi bật nhờ đã mô tả sự ghê rợn phi nghĩa của chiến tranh, hơn là tôn vinh những người gây ra nó.

Kết quả của những thay đổi ấy là, hầu hết chính quyền các nước đã ngừng xem chiến tranh xâm lược là công cụ khả dụng để gầy dựng lợi ích, và đa số các quốc gia cũng ngừng mơ mộng chinh phạt và sáp nhập các lãnh thổ lân bang. Sức mạnh quân sự hoàn toàn không phải là lý do duy nhất ngăn cản Brazil chiếm Uruguay hay Tây Ban Nha xâm lược Maroc.

NHỮNG YẾU TỐ CỦA HÒA BÌNH

Rất nhiều thống kê cho thấy bằng chứng hiển nhiên về sự suy giảm của chiến tranh. Từ năm 1945, việc các đường biên giới quốc tế bị vẽ lại do bị xâm lược tương đối hiếm, và không có bất kỳ quốc gia nào bị một cuộc viễn chinh xóa sổ khỏi bản đồ. Vẫn còn nhiều hình thức xung đột khác, như nội chiến hay khởi nghĩa. Nhưng ngay cả khi tính tổng cộng tất cả những cuộc chiến đó, trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI, chiến tranh còn lấy đi ít sinh mạng hơn những vụ tự sát, tai nạn xe hơi hay các bệnh liên quan đến béo phì. Thuốc súng ngày nay còn ít nguy hiểm đến tính mạng hơn là đường.

Giới khoa học vẫn còn nhiều tranh cãi về tính chính xác của các số liệu này, nhưng ta nền nhìn xa hơn những con số toán học. Sự suy giảm chiến tranh không chỉ là một hiện tượng về mặt thống kê, mà còn về mặt tâm lý. Đặc điểm chủ đạo của hiện tượng này nằm ở sự chuyển dịch đáng kể trong khái niệm “hòa bình”. Suốt trong hầu hết chiều dài lịch sử, hòa bình mang nghĩa “sự vắng mặt tạm thời của chiến tranh”. Vào năm 1913, khi người ta nói rằng đã có hòa bình giữa Pháp và Đức, thì nó có nghĩa là quân đội hai bên không xông vào choảng nhau trực tiếp, nhưng ai cũng hiểu là hai bên đều có thể bỗng dưng tuyên chiến bất kỳ lúc nào.

Nhưng trong vài thập niên gần đây, “hòa bình” đã thay đổi ý nghĩa thành “không có khả năng chiến tranh”. Nhiều quốc gia ngày nay khó lòng hình dung được cảnh họ bị xâm lược và chinh phục bởi các nước láng giềng. Do sống ở Trung Đông nên tôi hoàn toàn hiểu được xu hướng này vẫn có những ngoại lệ. Nhưng việc xác định đúng xu hướng cũng quan trọng không kém việc chỉ ra các ngoại lệ.

Khái niệm “hòa bình mới” không phải là một hiện tượng thống kê ngẫu nhiên hay trạng thái mơ mộng của một nhóm hippy. Nó được phản ánh rõ ràng nhất thông qua các khoản ngân sách được quyết toán một cách lạnh lùng. Những thập niên gần đây, chính phủ các nước toàn thế giới chỉ cần chi trung bình 6.5% ngân sách cho vũ trang là đủ để cảm thấy an toàn, đồng thời chi nhiều hơn hẳn cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội.

Ta cứ ngỡ đó hẳn là chuyện đương nhiên, nhưng nhìn lại lịch sử nhân loại thì đó là chuyện mới mẻ và đáng kinh ngạc. Suốt hàng ngàn năm, chi phí cho quân sự đã luôn là khoản chi tiêu ngân sách hàng đầu của mọi hoàng đế, hoàng tử, đại hãn Mông Cổ hay quốc vương Hồi giáo. Trong khi đó họ hầu như chưa bao giờ chi tiền cho giáo dục hay y tế quốc dân.

Việc chiến tranh suy giảm không phải là kết quả của một phép màu thần thánh, hay sự thay đổi trong các quy luật tự nhiên. Nó là kết quả của việc con người đã lựa chọn những phương án tốt hơn. Ta có thể nói rằng đây là thành tựu chính trị và đạo đức vĩ đại nhất của nền văn minh hiện đại. Bất hạnh thay, việc nó được sinh ra từ lựa chọn của loài người cũng có nghĩa rằng nó có thể bị đảo ngược.

Công nghệ, kinh tế và văn hóa tiếp tục thay đổi. Sự trỗi dậy của vũ khí số, những nền kinh tế được định hướng bởi trí tuệ nhân tạo, những nền văn hóa thay đổi theo hướng quân phiệt (newly militaristic cultures) có thể dẫn tới một kỷ nguyên chiến tranh mới tồi tệ chưa từng thấy. Để tận hưởng nền hòa bình, điều cần thiết là gần như hết thảy mọi người phải đưa ra những lựa chọn đúng đắn. Ngược lại, chỉ cần một phía đưa ra lựa chọn sai cũng đủ gây nên chiến tranh.

Đó là lý do tại sao việc Nga đe dọa xâm chiếm Ukraine có thể tác động đến mỗi cư dân trên trái đất. Việc các quốc gia hùng mạnh nuốt chửng các nước láng giềng nhỏ bé hơn bị bình thường hóa một lần nữa có thể sẽ tác động đến cảm nghĩ và hành vi của mọi người trên toàn thế giới. Hệ lụy đầu tiên và rõ ràng nhất của việc quay lại thời kỳ luật rừng sẽ là sự tăng tiến mạnh mẽ của chi phí quân sự thay cho tất cả những chi phí khác. Dòng tiền thay vì được chuyển đến các giáo viên, y tá và hay những nhân viên xã hội sẽ được đổ vào xe tăng, tên lửa hay vũ khí số.

Việc quay trở lại luật rừng cũng sẽ làm suy yếu sự hợp tác toàn cầu trên những vấn đề chẳng hạn như ngăn chặn những biến đổi khi hậu thảm khốc hay điều chỉnh những công nghệ có khả năng gây xáo trộn như trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật di truyền. Phải sống cạnh những quốc gia sẵn sàng xóa sổ nước ta thì chẳng dễ làm việc chút nào. Và khi những biến đổi khí hậu và cuộc đua trí tuệ nhân tạo tăng tốc thì mối hiểm họa về xung đột vũ trang cũng chỉ có thể gia tăng, giam giống loài chúng ta trong một cái vòng luẩn quẩn và có thể đi đến chỗ diệt vong.

HƯỚNG ĐI CỦA LỊCH SỬ

Nếu bạn tin rằng một thay đổi mang tính lịch sử là bất khả thi và loài người chưa bao giờ và sẽ không bao giờ rời khỏi rừng rậm, thì sự lựa chọn duy nhất sẽ là đóng vai con mồi hay kẻ săn mồi. Đứng trước lựa chọn ấy, hầu hết các nhà lãnh đạo sẽ thà đi vào lịch sử như những kẻ săn mồi hàng đầu và điền tên mình vào cái danh sách thê thảm của những kẻ chinh phạt mà những em học sinh bất hạnh phải học thuộc lòng để qua được các kỳ thi lịch sử.

Nhưng biết đâu thay đổi là có thể? Có thể rằng luật rừng chỉ là một lựa chọn chứ không phải định mệnh? Nếu như vậy, bất kỳ nhà lãnh đạo nào lựa chọn xâm lược quốc gia láng giềng sẽ có một vị trí đặc biệt trong ký ức của nhân loại, tệ hơn nhiều so với Tamerlane. Kẻ đó sẽ đi vào lịch sử với tư cách là người phá bỏ thành tựu vĩ đại nhất của chúng ta. Chúng ta chỉ vừa mới tưởng rằng mình đã thoát ra khỏi luật rừng, thì hắn đã kéo chúng ta trở lại.

BÀI HỌC TỪ NGƯỜI UKRAINE

Tôi không biết trước điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina. Nhưng với tư cách là một nhà sử học, tôi tin vào khả năng thay đổi. Nó không phải là sự ngây thơ, mà là hiện thực. Điều duy nhất không đổi trong lịch sử loài người là sự thay đổi. Và đó là điều mà có lẽ người Ukraine có khả năng dạy cho chúng ta. Nhiều thế hệ người Ukraina chẳng biết gì nhiều ngoài bạo chúa và bạo lực. Họ đã phải chịu đựng hai thế kỷ dưới chế độ chuyên chế của Sa hoàng (cuối cùng đã sụp đổ trong thảm họa đệ nhất thế chiến). Nỗ lực giành độc lập ngắn ngủi của người Ukraine đã nhanh chóng bị đè bẹp khi Hồng Quân khôi phục quyền thống trị của Nga. Sau đó, người Ukraine đã trải qua nạn đói nhân tạo khủng khiếp Holodomor, sự khủng bố của Stalin, sự chiếm đóng của Đức Quốc xã cùng nhiều thập niên bị chèn ép dưới chế độ độc tài cộng sản. Khi Liên Xô sụp đổ, lịch sử dường như đã đảm bảo rằng người Ukraine sẽ lại một lần nữa lao dốc theo chế độ bạo chúa bạo tàn – vì họ đã biết đến chế độ nào khác đâu?

Nhưng người Ukraine đã quyết định chọn điều khác. Bất chấp lịch sử thế nào, bất chấp tình trạng nghèo đói cùng cực, bất chấp những trở ngại dường như không thể vượt qua, người Ukraine đã thiết lập được một nền dân chủ. Ở Ukraine, không giống như ở Nga và Belarus, các ứng cử viên đối lập đã nhiều lần lên nắm quyền. Khi đối mặt với mối đe dọa của chế độ mang tính độc tài trong những năm 2004 và 2013, người Ukraine đã hai lần nổi dậy để bảo vệ quyền tự do của mình. Nền dân chủ với dân Ukraine là điều hoàn toàn mới mẻ. Cũng giống như khái niệm “hòa bình mới”. Cả hai đều mong manh và có thể sẽ không tồn tại lâu. Nhưng cả hai cũng đều khả thi, và có thể cắm những chiếc rễ sâu. Những gì cũ hiện nay trước đây đều đã từng là cái mới. Tất cả đều phụ thuộc vào những lựa chọn của con người.


2 thoughts on “Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraine

  1. “đi ngược lại xu hướng phát triển của loài người, và kẻ đem quân đi xâm lược sẽ “đi vào lịch sử là kẻ phá vỡ thành tựu lớn nhất về chính trị mà con người từng đạt được”

    50 years too late. Cái xu hướng này đã được đặt nền móng khoảng gần 50 năm trước .

  2. Nếu nhìn lại cả WW2 thì ta có thể nói là “Hướng đi của nhân loại lại một lần được quyết định bởi những người anh em Slavơ”.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s