
Long Phan
MiG-21 là sản phẩm của Cục thiết kế Mikoyan-Gurevich OKB (Liên Xô), ra đời năm 1955, là loại máy bay tiêm kích phản lực siêu nhanh, có những tính năng kỹ thuật, chiến thuật ưu việt như tác chiến linh hoạt, tăng độ cao nhanh, hỏa lực mạnh. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, đây là loại máy chủ lực của Hồng quân Liên Xô. Lúc nhiều nhất, quân đội Liên Xô được trang bị hơn 2.500 chiếc MiG-21. Nhằm mở rộng ảnh hưởng ở thế giới Arab, Liên Xô quyết định giúp đỡ người Arab giành lấy ưu thế tác chiến trên không trong đó các cuộc chạm trán có thể xảy ra với người Israel. Nhờ đó một số nước Arab như Syria, Iraq và Ai Cập mới có cơ hội nhận được những chiếc MiG-21 của Liên Xô.
Để đảm bảo an toàn, bất cứ chiếc MiG-21 nào được đưa sang Arab được Liên Xô giám sát rất nghiêm ngặt. Điều này lại gây ra sự phẫn nộ trong một số thành phần nhất định trong số những người Arab được hưởng lợi, những người đôi khi tức giận trước quyền lực lớn hơn mà Nga áp đặt tại các căn cứ không quân ở Syria, Ai Cập hoặc Iraq so với chính nước sở tại. Tuy nhiên, việc được bổ nhiệm vào phi đội MiG-21 là vinh dự cao nhất có thể được trao cho một phi công.
Từ năm 1952-1963, huyền thoại tình báo Isser Harel chỉ đạo cả Shin Bet (cơ quan tình báo nội địa) và Mossad (cơ quan tình báo đối ngoại). Đầu năm 1963, ông được thay thế bởi một người mới là Meir Amit. Amit là một người đặc biệt, có tính cách dứt khoát, thẳng thừng, đôi khi kỳ quặc. Cuộc đời của Meir Amit gắn liền với những thay đổi cơ bản trong Mossad. Nếu như Isser Harel sinh ra ở Nga, thuộc thế hệ lão thành thì Meir Amit sinh ra ở Israel, từng tham chiến trong quân đội Israel và gia nhập Mossad sau nhiều nămchinh chiến. Thế hệ của Isser Harel kín tiếng và ẩn danh trong hoạt động. Trong khi đó, Meir Amit là một quân nhân và có rất nhiều bạn bè, đồng ngũ biết công việc của ông khi phụ trách Mossad. Trong khi Isser Harel có sức hút và sự bí ẩn, thì Meir Amit lại có sự bộc trực và uy quyền mà những tháng năm quân ngũ mang lại.
Meir Amit trải qua phần lớn cuộc đời trong quân ngũ. Gia nhập tổ chức bán vũ trang Haganah từ năm 16 tuổi, là tiểu đoàn trưởng khi Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) được thành lập, Amit bị thương trong Chiến tranh Arab – Israel và sau đó thăng tiến nhanh trong quân đội. Ông trở thành Chỉ huy Lữ đoàn Golani tinh nhuệ, Chỉ huy trưởng trong chiến dịch Sinai, Tư lệnh phương Nam, và sau đó là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm. Ban đầu, Amit không được các thành viên Mossad trung thành với Harel chấp nhận, nhưng sau một khởi đầu không ổn định, được đánh dấu bằng sự thiếu hợp tác và tin tưởng, ông đã khẳng định được vai trò lãnh đạo của mình đối với tổ chức này. Ngay cả những người từng phản đối quyết liệt việc Amit trở thành lãnh đạo mới của Mossad thay cho Harel cũng ngày càng tôn trọng, ngưỡng mộ và yêu mến ông.
Meir Amit hóa ra là một giám đốc điều hành tuyệt vời. Dưới sự dẫn dắt của ông và Giám đốc Tình báo Quân đội Aharon Yariv vào những năm 1960, tình báo Israel đã đạt được một số thành công đáng kinh ngạc nhất. Một trong những thành công này có tác động quyết định đến kết quả của cuộc Chiến tranh Sáu ngày vào tháng 6/1967, đó là vụ đánh cắp một chiếc MiG-21 do Liên Xô chế tạo, đang phiên chế trong không quân Iraq mang tên Chiến dịch Kim cương.
Ngay sau khi nắm quyền lãnh đạo Mossad vào ngày 25/3/1963, Amit đã tham khảo ý kiến của rất nhiều quân nhân để nêu rõ các mục tiêu của Mossad và hỏi xem họ cảm thấy điều gì sẽ là đóng góp có giá trị nhất của Mossad cho an ninh Israel. Tướng Mordecai (Motti) Hod, chỉ huy Lực lượng Không quân Israel vào năm 1963 (và trong vài năm sau đó), đã yêu cầu ông mang một chiếc MiG-21 do Liên Xô sản xuất tới Israel. Thật khó để xác định liệu Motti Hod có thực sự tin rằng một kỳ tích như vậy có thể thành công hay không. Nhưng Ezer Weizmann, người nắm quyền chỉ huy Lực lượng Không quân Israel thay thế Hod, cũng đã nói với Amit điều tương tự ngay trước cuộc Chiến tranh Sáu ngày. Nếu điều đó có thể thực hiện được, thì người Israel sẽ có quyền truy cập vào bí mật của những chiếc máy bay chiến đấu tiên tiến nhất mà các quốc gia Arab sở hữu vào thời điểm đó – mà theo người Nga, đó là chiếc máy bay tấn công tiên tiến nhất trên thế giới.
Bộ chỉ huy quân sự Israel luôn đặt ưu tiên hàng đầu vào việc hoàn toàn làm quen với mọi loại vũ khí mà kẻ thù có thể sử dụng để chống lại họ trong chiến đấu. Một trong những người đầu tiên nhấn mạnh điều này là Tướng Dan Tolkowsky, vị tư lệnh đã xây dựng Lực lượng Không quân Israel vào đầu những năm 1950. Tolkowsky từng nhắc đi nhắc lại rằng “Nguyên tắc cơ bản của chiến tranh là biết được vũ khí của kẻ thù là có thể đánh bại chúng”. Ông cũng liên tục thúc ép khai thác loại thông tin này. Những nỗ lực của Israel nhằm thu thập thông tin về các kế hoạch và trang bị tiềm ẩn của kẻ thù tất nhiên là rất quan trọng đối với nền quốc phòng của nước này. Nhưng nó chắc chắn vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hoạt động trao đổi quân sự với Mỹ. Với Mỹ, Israel là một đồng minh thường cung cấp thông tin tình báo sâu hơn nhiều so với họ, đặc biệt là về sự xâm nhập của Liên Xô vào Trung Đông trong những năm 1960 và 1970. Đổi lại, người Mỹ thường sẵn sàng cung cấp cho Israel những thiết bị quân sự mới nhất mà trong những trường hợp khác họ có thể không sẵn lòng cung cấp.
Đúng là ngay từ cuộc Chiến tranh Suez năm 1956, người Israel đã tìm thấy một chiếc máy bay Liên Xô bị phi công Ai Cập bỏ rơi, khi người Ai Cập vội vàng chạy trốn trước cuộc tiến công bão táp của Quân đội Israel. Đây là một cuộc lật đổ lớn. Nhưng tác dụng của nó nhanh chóng mất đi khi Liên Xô đưa thế hệ MiG-21 tiên tiến hơn và chưa được biết đến gia nhập Lực lượng Không quân Syria, Ai Cập và Iraq. Để có được một chiếc MiG-21, tình báo Israel đã xem xét nhiều mưu kế, từ “hối lộ, chặn máy bay tại điểm dỡ hàng ở một quốc gia Arab, cài đặc vụ vào một căn cứ không quân…”. Nhưng Mossad kết luận rằng tốt nhất nên cố gắng thuyết phục một phi công Arab đào tẩu sang Israel, mang theo chiếc máy bay. Với kế hoạch dụ phi công Arab đào tẩu, thật may mắn, người Israel nhận được thông tin miễn phí từ một nguồn bất ngờ: một người Do Thái ở Iraq tên là Joseph nói rằng nếu Israel muốn có một chiếc MiG-21, ông ta có thể thu xếp việc đó. Đây là một diễn biến kỳ lạ. Hầu hết người Do Thái ở Iraq đã được đưa tới Israel trong chiến dịch không vận lớn vào đầu những năm 1950. Có lẽ chỉ còn lại khoảng 1.000 người hoặc ít hơn thế từ một cộng đồng mà trước đầu những năm 1950 có hơn 100.000 người Do Thái.
Joseph lớn lên nghèo khó, sau đó được một gia đình Cơ đốc giáo hệ phái Maronite ở Iraq nhận nuôi khi mới 10 tuổi. Mặc dù chưa bao giờ đến trường hoặc học đọc và viết, nhưng khi trưởng thành Joseph đã trở nên nổi bật trong gia đình không phải Do Thái này. Không có quyết định nào được đưa ra mà không hỏi ý kiến ông. Joseph có mặt trong tất cả các cuộc họp gia đình và ông thường là người đưa ra quyết định cuối cùng trong mọi vấn đề. Giống như Joseph trong kinh thánh, ông trở thành nhân vật trung tâm mà cả đại gia đình đều ngưỡng mộ, kính trọng và yêu mến. Tuy nhiên, khi gần 60 tuổi, trong một lần cãi vã, Joseph được cho biết rằng nếu không có gia đình thì ông sẽ chẳng có gì cả. Mặc dù những người Cơ đốc giáo Maronite đã nhanh chóng xin lỗi nhưng Joseph vẫn không quên điều đó. Ngay lúc đó, ông quyết định khám phá “cái khác biệt” của mình – bản sắc Do Thái trong dòng máu. Đây là điều mà trước đây ông hầu như không nghĩ đến. Ông bắt đầu tìm hiểu về đạo Do Thái và Israel. Mặc dù vẫn giữ lòng trung thành với gia đình nuôi của mình, nhưng ông cũng cảm thấy trung thành không kém với mối quan tâm mới của mình: gốc gác Israel. Cuối năm 1964, ông liên lạc với các quan chức Israel ở Tehran (cho đến năm 1979 Israel vẫn có quan hệ tốt với Iran) và châu Âu. Ông cho biết có chuyện quan trọng muốn nói với họ.
Israel, với tư cách là một quốc gia Do Thái ở Trung Đông, luôn ủng hộ các quốc gia phi Arab ở ngoại vi thế giới Trung Đông – như Thổ Nhĩ Kỳ và cho đến năm 1979 là cả Iran. Israel cũng tích cực nuôi dưỡng các nhóm thiểu số trong các quốc gia Arab-Hồi giáo. Họ duy trì các mối liên hệ tình báo kín đáo trong nhiều năm với giáo phái Druze (chủ yếu ở Syria và Liban), người Kurd ở Iraq và các nơi khác cũng như các tín đồ Cơ đốc giáo Maronite và các giáo phái Cơ đốc giáo khác trên khắp Trung Đông. Vào đầu những năm 1980, Israel đã nỗ lực thành lập một liên minh chính thức với những người Cơ đốc Maronite thiểu số ở Liban. Đầu năm 1964, thông qua sự giúp đỡ của Joseph, Israel nhanh chóng bắt liên lạc với một phi công theo đạo Cơ đốc Maronite trong Lực lượng Không quân Iraq. Viên phi công cũng là một thành viên trong gia đình nuôi của Joseph. Gia đình này cảm thấy không hài lòng với số phận của họ, với những áp lực ngày càng tăng mà chính phủ Iraq áp đặt lên họ và những người Cơ đốc Maronite khác. Một số bạn bè của viên phi công thậm chí đã bị bỏ tù và bản thân anh đang gặp khó khăn trong công việc. Viên phi công từng đề cập với Joseph rằng anh ta muốn rời khỏi đất nước.
Ngay cả khi Joseph bắt đầu đòi nhiều tiền hơn và nhiều người ở Israel coi ông ta là kẻ lừa đảo, Amit vẫn theo đuổi kế hoạch. Ông có một đồng minh là Yitzhak Rabin, Tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Israel vào thời điểm trước và trong cuộc Chiến tranh Sáu ngày. Họ liên lạc với một đặc vụ hàng đầu ở Baghdad – một phụ nữ Mỹ. Nữ điệp viên này được giao nhiệm vụ quyến rũ Munir Redfa – viên phi công trong không quân Iraq theo đạo Cơ đốc Maronite. Người phụ nữ Mỹ này là một đặc vụ của Mossad, không chỉ hoạt bát, thông minh mà còn rất xinh đẹp. Cô dễ dàng hòa nhập vào giới thượng lưu ở bất cứ nơi nào. Theo một nguồn tin, nữ đặc vụ bắt đầu liên lạc với Munir Redfa tại một bữa tiệc, nơi cả hai lập tức trúng tiếng sét ái tình. Viên phi công nói với cô gái rằng anh là một người Iraq yêu nước, nhưng “bất đồng gay gắt với cuộc chiến hiện tại do chính phủ của anh tiến hành chống lại các bộ lạc thiểu số người Kurd ở miền bắc Iraq”. Trong những năm 1960, người Kurd đã cố gắng duy trì nền độc lập của họ trong thế giới Arab (và Thổ Nhĩ Kỳ) mà thế giới không muốn trao nó cho họ. Là một người theo đạo Cơ đốc thiểu số, Munir Redfa cảm thấy lo lắng khi biết rằng anh, với tư cách là phó chỉ huy của phi đội MiG-21, là một trong những người được yêu cầu chỉ huy các nhiệm vụ ném bom chống lại những người Kurd gần như không có khả năng tự vệ.
Redfa “thậm chí còn thú nhận có ‘sự ngưỡng mộ thầm kín’ đối với người Israel”. Ngoài ra còn có những điều khác khiến anh bận tâm. Redfa đã được bổ nhiệm làm chỉ huy phi đội MiG-21, anh đóng quân xa nhà ở Baghdad, và “chỉ được phép bay với những thùng nhiên liệu nhỏ, vì anh là một người theo đạo Cơ đốc Maronite”. Người phụ nữ Mỹ lắng nghe tất cả. Cô tiếp tục gặp anh và quan hệ của họ ngày càng gần gũi, bất chấp việc anh phi công đã kết hôn và có vài người con. Cô gái lợi dụng mối liên hệ này để gợi ý một kỳ nghỉ ở châu Âu vào tháng 7/1966. Chàng phi công si tình đồng ý. Sau vài ngày ở đó, cô gái xinh đẹp đề nghị Munir bay đến Israel cùng mình. “Ở đó em có bạn bè có thể giúp ích được cho anh”, cô nàng hứa hẹn và rút ra một hộ chiếu mới toanh. Liền đó Redfa hiểu rằng việc này đã được lên kế hoạch ngay từ đầu, và cô bạn gái đã bị thu hút không phải vì con người thật của anh. Nhưng viên phi công cũng biết rằng cô đang đưa ra một lời đề nghị có thể mang lại lợi ích lớn cho mình. Anh sẽ không chỉ né được các nhiệm vụ ném bom người Kurd mà anh không mong muốn, mà còn nhận được một triệu USD từ người Israel. Phi vụ này vừa hấp dẫn vừa nguy hiểm.
Munir Redfa muốn đảm bảo rằng không chỉ vợ và các con sẽ được đưa ra khỏi Iraq một cách an toàn mà còn cả cha mẹ anh và những người còn lại trong đại gia đình mình. Joseph sẽ lo việc đó. Joseph lo ngại rằng nếu mỗi thành viên trong gia đình đều biết rằng họ sắp rời đi, thì điều không thể tránh khỏi là toàn bộ kế hoạch sẽ gặp nguy hiểm. Vì vậy, nhiều thành viên trong gia đình ông thậm chí chưa bao giờ được thông báo rằng họ sẽ rời Iraq. Đối với Munir Redfa, người Israel không chỉ đồng ý trả công hậu hĩnh và bảo vệ đầy đủ cho gia đình anh mà còn cung cấp cho anh “quyền công dân Israel, một ngôi nhà và một công việc suốt đời”. Munir Redfa cân nhắc kỹ và đi đến quyết định. Mordecai Hod, chỉ huy Lực lượng Không quân Israel (IAF), đã gặp trực tiếp anh và bàn bạc kế hoạch tẩu thoát. Redfa sẽ bay theo đường zig-zag tới Israel để tránh radar của Iraq và Jordan. Chỉ huy IAF Hod nói: “Anh biết điều này sẽ nguy hiểm như thế nào. Chuyến bay dài 900 km. Nếu đồng nghiệp của anh đoán được anh đang làm gì, họ có thể cử máy bay đến thổi bay anh khỏi bầu trời. Nếu họ không thành công, người Jordan cũng có thể làm vậy. Hy vọng duy nhất của anh là giữ bình tĩnh và đi theo con đường này. Họ không biết điều đó, chúng tôi biết”. Hod tiếp tục: “Nếu mất bình tĩnh, anh sẽ chết. Một khi đã rời khỏi đường bay thông thường của mình thì không thể quay lại được”. Redfa dường như đã hiểu rõ điều này, trả lời ngắn gọn: “Tôi sẽ mang máy bay đến cho các ông”.
Trong thời gian còn lại ở Israel, Munir Redfa và những người tổ chức Israel đã xem xét lại kỹ lưỡng kế hoạch tẩu thoát. Redfa rất ngạc nhiên khi thấy họ biết rất nhiều về những gì đang diễn ra ở căn cứ không quân của anh. Họ biết tên của tất cả nhân viên, cả người Liên Xô và người Iraq, cũng như cách bố trí toàn bộ căn cứ. Họ biết rất chi tiết về quy trình của các chuyến bay huấn luyện: những chuyến bay dài vào những ngày nhất định, những chuyến bay ngắn vào những ngày khác. Redfa sẽ phải chọn một ngày mà anh được phép thực hiện chuyến bay đường dài. Viên phi công và nữ đặc vụ Mossad trở về Iraq từ châu Âu. Chẳng bao lâu sau, lần lượt các thành viên trong gia đình Redfa bắt đầu rời khỏi đất nước, người thì đi du lịch, người đi chữa bệnh. Munir Redfa ấn định ngày hành động là 16/8/1966. Anh tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt nhất có thể, với những đồng nghiệp mà anh sẽ không bao giờ gặp lại. Redfa yêu cầu đội mặt đất đổ đầy bình xăng của mình đến mức tối đa, mức mà các cố vấn Nga thường phải ký. Nhưng người Iraq không thích cố vấn Nga. Điều này có lợi cho Redfa. Redfa là một phi công ngôi sao, họ rất vui khi tuân theo mệnh lệnh của anh, hơn là lệnh của người Nga.
Đúng ngày đã định, Redfa cất cánh. Sau khi bay về phía Baghdad, anh rẽ sang hướng Israel. Radar của phi hành đoàn mặt đất bắt được một đốm sáng trên màn hình hướng về phía Tây và họ điên cuồng yêu cầu anh quay lại. Redfa không làm theo. Mặt đất cảnh báo sẽ bắn hạ máy bay. Đáp lại, viên phi công tắt radio. Cách đó vài trăm kilomet, radar của Israel đã phát hiện được đốm sáng trên màn hình. Họ cử một đội Mirage của IAF đến hộ tống anh. Redfa thực hiện các tín hiệu đã được sắp xếp trước và đội Mirage bay cùng anh đến một căn cứ sâu trong sa mạc Negev. Ngày hôm đó, các đặc vụ Mossad đã thuê hai chiếc xe tải lớn và đón những thành viên còn lại trong gia đình viên phi công, những người có vẻ như đã rời Baghdad để đi dã ngoại. Họ được đưa đến biên giới Iran và được hướng dẫn bởi lực lượng du kích người Kurd chống Iraq. Khi đã an toàn ở Iran, một chiếc trực thăng đón họ và đưa cả nhóm đến một sân bay, từ đó bay đến Israel.
Báo chí khắp thế giới lập tức đăng tải câu chuyện giật gân về một phi công người Iraq lái chiếc MiG-21 của mình đào tẩu sang Israel. Giống như tất cả các tin tức khác, tin nóng này xuất hiện trên báo chí vài ngày và nhanh chóng bị hầu hết mọi người lãng quên… Nhưng có những người không quên, đó là các nhà lãnh đạo quân sự của Mỹ, Pháp, Anh và các cường quốc khác. Họ ép người Israel phải cho xem chiếc máy bay đầu tiên của phe đối địch đã rơi vào tay Israel. Người Liên Xô rất tức giận. Bí mật về sức mạnh không quân của họ đã bị xâm phạm nghiêm trọng. Họ đe dọa người Israel một cách dữ dội và yêu cầu trả lại máy bay. Tất nhiên, người Israel đã không trả lại, nhưng họ cũng không chuyển nó cho Mỹ vào thời điểm đó để xoa dịu cơn thịnh nộ của Liên Xô. Hơn nữa, vụ việc đã làm giảm uy tín của KGB, và tất nhiên của người Iraq. Redfa không phải là một thiếu sinh quân non nớt, mà là “một trong những phi công giỏi nhất đất nước, và anh ta đã được an ninh Liên Xô và Iraq sàng lọc rất kỹ lưỡng trước khi vươn lên vị trí phi công ưu tú của lực lượng không quân.
Người Israel đã không tiết lộ vai trò của họ trong vụ đào tẩu của Munir Redfa trong một thời gian khá lâu. Phải mất nhiều năm người Liên Xô mới hiểu vụ chiếm đoạt chiếc MiG diễn ra như thế nào. Ngay từ đầu họ đã cho rằng Mossad đứng đằng sau việc này, và họ đã đúng. Vài tháng sau, IAF cho Mỹ mượn chiếc MiG để thử nghiệm. Đó là một phần thiết yếu và rất quan trọng trong khả năng chiến lược của Mỹ. Lực lượng Không quân Mỹ đã sử dụng chiếc MiG-21 trong các trận không chiến mô phỏng với mục đích hiểu rõ hơn về khả năng của máy bay Liên Xô. Đối với người Israel, lợi ích của việc sở hữu chiếc máy bay thậm chí còn ngay lập tức hơn. Trong một trận không chiến ngày 7/4/1967 với quân Syria, Không quân Israel đã bắn hạ 6 chiếc MiG của Syria và không có máy bay Israel nào thiệt hại. Trong Chiến tranh Sáu ngày vào năm 1967, Không quân Israel chiếm ưu thế áp đảo trên không trước phi đội MiG của Syria và Ai Cập. 3 nước Ai Cập, Jordan và Syria tổn thất hơn 400 máy bay chiến đấu Mig-21. Trong khi đó, không quân nước tiến công chỉ thiệt hại 40 chiếc. Một tỷ lệ thắng thua ngoạn mục. Vào những năm đó, để chế tạo được một thế hệ máy bay phải mất 10 đến 15 năm, từ ý tưởng thiết kế đến chế tạo, thử nghiệm và đồng bộ vũ khí. Đánh cắp được một con Mig-21, các chuyên gia hàng không gạo cội cho rằng Mossad đã bỏ ra một giá thật sự quá bèo! 5 năm giữ chức giám đốc Mossad đầy quyền uy, Meir Amit còn một chiến tích nữa là tổ chức đánh cắp khoảng 20 ngàn bản vẽ động cơ, gần 100 ngàn bản vẽ thân vỏ máy bay… dòng Mirage đời mới của Thuỵ Sĩ. Ông ta được mệnh danh là “Giám đốc tình báo giỏi đánh cắp máy bay”.
Sau vụ cướp máy bay, Redfa đã nhận được 500.000 bảng Anh. Bản thân Redfa nhiều năm sau vẫn lái máy bay cho một công ty tư nhân chuyên khai thác dầu mỏ tại Sinai với mức lương khá cao, có nhiều bổng lộc và khá hài lòng với cuộc sống của mình. Tuy nhiên, năm 1969, anh ta cùng gia đình được chuyển đến Ý – nơi anh ta đã chết âm thầm ở tuổi 58 vào năm 1998.



