Xung đột Papua 1962

Đây là phi hành đoàn trên chiếc Tupolev Tu-16 'Badger' (máy bay ném bom hạng nặng chiến lược phản lực hai động cơ) thuộc Lực lượng Không quân Indonesia (thời Sukarno), ảnh chụp những năm 1960. I

Đây là phi hành đoàn trên chiếc Tupolev Tu-16 ‘Badger’ (máy bay ném bom hạng nặng chiến lược phản lực hai động cơ) thuộc Lực lượng Không quân Indonesia (thời Sukarno), ảnh chụp những năm 1960. 

Long Phan

Đây là phi hành đoàn trên chiếc Tupolev Tu-16 ‘Badger’ (máy bay ném bom hạng nặng chiến lược phản lực hai động cơ) thuộc Lực lượng Không quân Indonesia (thời Sukarno), ảnh chụp những năm 1960. Indonesia từng mua 26 chiếc vào năm 1961 để phục vụ chung với máy bay Mitchell B-25, Douglas A-26 Invader, Douglas C-47 Dakota và P-51 Mustang của Mỹ, giúp họ trở thành Lực lượng Không quân đầu tiên ở Đông Nam Á có được khả năng ném bom chiến lược. Họ cũng trở thành lực lượng tên lửa phòng không đất đối không S-75 Dvina đầu tiên do người Đông Nam Á vận hành, S-75 vào năm 1961. Tu-16 đặt tại Căn cứ Không quân Iswahjudi, Madiun, Đông Java và ngừng hoạt động vào năm vào năm 1970.

Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao với Indonesia vào năm 1950 và là một trong những nước đầu tiên công nhận chủ quyền và độc lập của Indonesia khỏi người Hà Lan sau khi Thế chiến II kết thúc, cùng với Ai Cập và các quốc gia Ả Rập khác. Đầu Chiến tranh Lạnh, cả hai nước đều có quan hệ chặt chẽ, với việc Tổng thống Indonesia Sukarno đến thăm Moscow và lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đến thăm Jakarta. Thỏa thuận quân sự đầu tiên giữa Indonesia và Liên Xô xảy ra vào năm 1958, với việc mua xe tải GAZ-69 của Liên Xô. Năm 1960, Tướng Abdul Haris Nasution đến thăm Moscow để đàm phán một thỏa thuận vũ khí với Liên Xô, trị giá 2,5 tỷ USD, liên quan đến việc mua 41 trực thăng Mil Mi-4, 9 chiếc Mil Mi-6, 30 chiếc MiG-15, 49 chiếc MiG-17, 10 chiếc MiG-19, 20 chiếc Mig-21, 22 chiếc Ilyushin Il-28, 14 chiếc Tupolev Tu-16 bao gồm 12 chiếc biến thể KSR-1 được trang bị tên lửa chống hạm AS-1 Kennel, 6 máy bay vận tải Antonov An-12, 26 máy bay Ilyushin Il-14 và Avia-14, 12 tàu tên lửa lớp Komar và một tàu tuần dương lớp Sverdlov, giúp cho Indonesia trong việc tái chiếm New Guinea của Hà Lan vào năm 1961–1962.

Sự hỗ trợ của Liên Xô dành cho Indonesia đóng một vai trò quan trọng trong việc chấm dứt xung đột ở New Guinea. Nhờ sự hỗ trợ của các tàu ngầm và máy bay ném bom Liên Xô, lực lượng quân sự Indonesia có thể tự tin mở các cuộc tấn công vào quân Hà Lan. Sự hỗ trợ của Liên Xô là bí mật dưới dạng các “tình nguyện viên” mặc đồng phục Indonesia. Đô đốc Muhammad Sudomo tiết lộ trong một bài báo năm 2005 rằng sáu tàu ngầm Liên Xô hỗ trợ các hoạt động đổ bộ khi đóng quân ở Bitang, Đông Sulawesi, có nhiệm vụ tấn công hạm đội Hà Lan ở Manokwari. Chỉ huy tàu ngầm Rudolf Ryzhikov kể lại trong một bài báo ở Nga rằng ông nhận được lệnh vào ngày 29/7/1962 từ Đô đốc Sergey Gorshkov để tuần tra vùng chiến sự phía tây New Guinea và đánh chìm mọi tàu bè sau nửa đêm ngày 5/8/1962. Sĩ quan hải quân và nhà sử học Matthijs Ooms đã chỉ ra trong bài viết của mình rằng cơ quan tình báo hải quân Hà Lan, MARID (Marine Inlichtingendienst), đã nhận được thông tin vào mùa hè năm 1962 rằng các thủy thủ đoàn Liên Xô đang điều khiển tàu ngầm và máy bay ném bom Tupolev của Indonesia. Trong hồi ký của mình, Khrushchev thoải mái thừa nhận rằng trong cuộc chiến ở Tây New Guinea, quân nhân Liên Xô đã chỉ huy các tàu ngầm Indonesia và lái máy bay Tu-16.

Xung đột  ở Tây New Guinea, giữa Indonesia và Phong trào Tự do Papua (tiếng IndonesiaOrganisasi Papua Merdeka, OPM). Sau khi chính quyền Hà Lan rút khỏi New Guinea thuộc Hà Lan vào năm 1962 và chính quyền Indonesia tiếp quản vào năm 1963, Phong trào Tự do Papua đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích cường độ thấp chống lại Indonesia thông qua việc tấn công vào quân đội, cảnh sát và dân thường.

Những người ly khai Papua đã tiến hành các cuộc biểu tình và nghi lễ, giương cao lá cờ đòi độc lập hoặc kêu gọi thành lập liên bang với Papua New Guinea, và cáo buộc chính phủ Indonesia gây bạo lực bừa bãi và đàn áp quyền tự do ngôn luận của họ. Indonesia đã bị buộc tội tiến hành một chiến dịch diệt chủng cư dân bản địa. Trong một cuốn sách xuất bản năm 2007, tác giả De R.G. Crocombe đã viết rằng ước tính có khoảng 100.000 đến 300.000 người Papua đã bị lực lượng an ninh Indonesia giết hại, và nhiều phụ nữ bị hãm hiếp hoặc bạo hành tình dục. Nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ Papua của Nhóm Công tác Phụ nữ Papua và Tổ chức Quyền Tư pháp Châu Á (AJAR) cho thấy 64 trong số 170 (hoặc 4 trong số 10) phụ nữ Papua được khảo sát vào năm 2013, 2017, và nghiên cứu gần đây nhất từ ​​năm 2019, cho thấy 65 trong số 249 phụ nữ Papua đã trải qua một số hình thức bạo lực của nhà nước.  Theo nghiên cứu trước đây và cựu tù nhân chính trị Ambrosius Mulait, hầu hết bạo lực đối với phụ nữ Papua xảy ra do bạo lực gia đình của người chồng và quan điểm văn hóa của người Papua đối với người vợ cho rằng họ đã được ‘trả công’.

Cách quản trị của Indonesia đã được so sánh với một nhà nước cảnh sát, đàn áp quyền tự do của hiệp hội chính trị và biểu đạt chính trị

Bình luận về bài viết này