Nền báo chí Việt Nam thời thuộc Pháp (1858-1945)- Bài 1

 

 =ANH 01.jpg

Lý Đăng Thạnh

 I- Chánh sách báo chí thời thuộc Pháp

Dưới thời phong kiến Triều Nguyễn và trước đó, ở Việt Nam hình như chưa có báo chí, mặc dầu Triều đình Huế vẫn đặt mua rất nhiều sách báo bằng Hán ngữ và Pháp ngữ từ Quảng Châu và Hong Kong về tham khảo. Khi người Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, báo chí phát hành tại Việt Nam mới ra đời, trước tiên là báo Pháp ngữ vào năm 1861, rồi sau đó người Việt cũng tham gia và cho ra đời báo chữ quốc ngữ từ năm 1865.

Ngày 29-7-1881, Quốc hội Pháp thông qua Đạo luật Tự do báo chí. Ngày 22-9-1881, tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc luật cho phép áp dụng Đạo luật Tự do báo chí ở thuộc địa Nam Kỳ.

Theo Đạo luật Tự do báo chí Pháp 1881 thì: Tất cả các loại báo sẽ được phát hành không cần sự cho phép trước và không cần ký quỹ tiền, sau khi được công bố đúng theo điều 7.

Điều 7 qui định: Trước khi phát hành, tờ báo phải được khai báo ở Sở Biện lý những gì có liên quan đến: Tên báo, loại báo; Tên họ, địa chỉ người quản lý; Ghi rõ nơi in báo; Tất cả những thay đổi về những điều trên đều phải được khai báo trước năm ngày.

Người quản lý phải là người thành niên, có hưởng đủ quyền lợi dân sự, không mất quyền công dân bởi một hành vi phạm pháp.

Sau khi các điều kiện được thực hiện thì tờ báo nào cũng được tự do phát hành (kể cả trên toàn cõi xứ thuộc địa). Ngược lại, khi điều kiện chưa thỏa mãn mà phát hành báo thì luật pháp sẽ có một số hình phạt truy tố những ai vi phạm.

Chánh sách tự do báo chí đặt ra năm 1881 dựa trên hoàn cảnh thực tế của nước Pháp, là một nước hoàn toàn độc lập, dân chúng dù có mâu thuẫn nào đó với nhà cầm quyền Pháp thì cũng không phải là mâu thuẫn đối kháng một mất một còn.

Thực tế ở các thuộc địa lại khác hẳn. Đông Dương trước đây gồm những nước có chủ quyền, bỗng dưng bị quân Pháp sang chiếm làm thuộc địa, áp đặt ách cai trị, đầu tiên ở Nam Kỳ, Cambodia, rồi ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào, Quảng Châu Loan, dẫn đến sự phản kháng tất yếu của dân bản xứ đòi lại quyền độc lập, tự chủ. Nắm trong tay công cụ báo chí, người dân bản xứ tất nhiên phải tranh thủ nêu lên những điều xấu xa của thế lực xâm lược ngoại bang và kêu gọi nhau hợp quần đấu tranh chống lại.

Tờ Phan Yên Báo của Diệp Văn Cương phát hành năm 1898, có lẽ là tờ báo Việt Nam đối lập đầu tiên, khi đăng một số bài về tình hình chánh trị Việt Nam, có ý chống lại sự chiếm đóng của người Pháp, nhất là bài Đòn cân Archimède. Điều này làm giới cầm quyền quân sự Pháp ở Nam Kỳ lo ngại và tức giận, cấm ngay tờ Phan Yên Báo. Nhưng nó cũng kịp lan ảnh hưởng sang Pháp, tạo nên dư luận phản đối ở Pháp về thực tế đang xảy ra ở Nam Kỳ.

Dư luận Pháp những năm sau đó công kích kịch liệt: Từ các nhà cầm quyền địa phương đến viên khâm sứ, hay ngay cả viên toàn quyền Đông Dương, ai nấy cũng chỉ chăm chăm lo bảo vệ quyền lợi riêng của họ; người thì giữ độc quyền bán rượu, kẻ lo buôn bán á phiện… Nhà báo tấn công quan lại và không hề kính nể chánh quyền Pháp vì họ đã cố tình tự bêu xấu trước mặt người dân bản xứ. (theo Le Régine de la presse. Rapport de M.Salles, Inspesteur des colonies. Hanoi le 3 mars 1898).

Để đối phó, tổng thống Pháp Félix Faure ký sắc lệnh ngày 30-12-1898, qui định thêm về chế độ báo chí áp dụng với thuộc địa Đông Dương. Theo đó, tất cả những tờ báo in bằng quốc ngữ Việt Nam, bằng Hán ngữ hay bằng bất cứ một thứ ngôn ngữ nào khác ngoài Pháp ngữ, phải có sự cho phép trước của quan toàn quyền, sau khi toàn quyền hội ý với Ban thường trực Thượng hội đồng Đông Dương (Section permanente du conseil supérieur de l’Indochine). Như vậy, toàn quyền Đông Dương có quyền cho phép hay không cho phép, gây khó dễ hay cấm chỉ các báo Việt ngữ và có quyền đưa ra truy tố những tờ báo chống Pháp ra Tòa Tiểu hình.

Điều 5 và 6 sắc lệnh 30-12-1898 còn qui định những biện pháp ngăn cấm những vụ phỉ báng của những tờ báo Pháp ngữ chống lại chánh quyền, trong đó có việc đưa ra truy tố. Một trong những điều bị xem là phỉ báng chánh quyền là: Sự đem bán, phân phát hay triển lãm bởi những người châu Âu hay lấy quốc tịch châu Âu những hình vẽ, những  vật điêu khắc, những bức họa hay tất cả những hình ảnh có thể đưa đến việc làm mất kính trọng chánh quyền Pháp ở Đông Dương sẽ bị trừng phạt như ghi rõ trong điều 28 đạo luật 29-7-1881.

Tất nhiên các lực lượng cách mạng kháng Pháp ở Đông Dương vẫn tìm cách tranh thủ công cụ báo chí làm phương tiện đấu tranh, và lực lượng cầm quyền Pháp thì luôn kiểm soát, đối phó, trấn áp lại.

– Trong sắc lệnh ngày 4-10-1927, tổng thống Pháp Gaston Doumergue ban hành Luật qui định về chế độ báo chí ở Nam Kỳ, qui định ở Nam Kỳ vừa thi hành luật báo chí ngày 29-7-1881, vừa theo chế độ của chánh quyền địa phương.

– Sắc lệnh ngày 4-2-1928, sửa lại điều 19 sắc lệnh 4-10-1927 về thủ tục xét xử đối tượng phạm pháp trong xuất bản báo chí là người có quốc tịch Pháp.

– Sắc lệnh ngày 20-6-1928, bổ sung điều 13 sắc lệnh 4-10-1927, qui định danh mục những loại ấn phẩm phải xin phép để xuất bản hoặc phát hành.

– Sắc lệnh ngày 30-6-1935, sửa đổi điều 3 và điều 4 sắc lệnh 4-10-1927, qui định những điều kiện phải có của người đứng ra xuất bản báo.

– Ngoài ra, còn có sắc lệnh ngăn cấm việc xúi giục công chúng chống pháp luật hay làm phương hại đến uy tín quan chức Pháp và quan chức bản xứ tại các thuộc địa Pháp.

– v.v…

Mỗi xứ Đông Dương bị áp dụng một chế độ riêng trong việc truy tố, xét xử các vi phạm chánh sách quản lý xuất bản báo chí. Ở Trung Kỳ, áp dụng Bộ Hoàng Việt hình luật. Nam Kỳ áp dụng Bộ hình luật và tố tụng hình sự Pháp và Bộ Hình luật tu chánh 31-12-1932. Ở Bắc Kỳ áp dụng Bộ hình luật và Hình sự tố tụng Bắc Kỳ.

Tình trạng kiểm soát, ngăn trở tự do báo chí diễn ra cho đến năm 1936, khi Chánh phủ Mặt trận bình dân được thành lập ở Pháp. Phong trào người bản xứ đòi quyền tự do báo chí diễn ra liên tục, bền bỉ từ năm 1898 đến 1936 có dịp bùng nổ dữ dội. Ngày 30-8-1938, Chánh phủ Pháp phải ra luật cho áp dụng chế độ tự do báo chí ở Nam Kỳ. Nhưng rồi Đệ nhị thế chiến bùng nổ tháng 9-1939. Lấy cớ có chiến tranh, chánh quyền Đông Dương lại thực thi chánh sách ‘bóp nghẹt’ tự do báo chí và xuất bản cho đến năm 1945.

Thời thuộc Pháp, tư nhân được quyền làm chủ cơ quan báo chí, nhưng nhìn chung các phương tiện thông tin vẫn còn quá nhiều hạn chế. Hầu như dân chúng đều không thể biết kịp thời tình hình thế giới và trong nước xảy ra trước đó một vài ngày. Trong nước, chỉ có các tổ chức cách mạng và các tòa báo có trang bị máy thâu thanh săn tin thế giới, còn thường dân chỉ rất ít người khá giả mới có, lại phải nghe lén lút, vì nếu chánh quyền phát hiện nghe đài nước ngoài thì tịch thu máy, phạt vạ. Báo chí tư nhân chỉ được đăng những tin chánh quyền cho phép qua chế độ kiểm duyệt, vì thế tin tức thường không đầy đủ, kịp thời. Người Việt đọc sách báo, nghe đài thường là lớp khá giả, trung lưu, có học, công chức, dân thành thị, còn phần lớn dân chúng, gần 90% sống ở nông thôn, gần như không xem sách báo, nghe đài, nếu có biết tin tức gì đó chỉ nhờ nghe đồn truyền miệng trong dân cư với nhau.

 

II- CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM

1- Báo chí giai đoạn 1861-99: thời kỳ khởi lập

Khởi đầu, có thể nói việc thành lập nền báo chí ở Việt Nam hoàn toàn do ý đồ chánh trị của chánh quyền bảo hộ Pháp muốn sử dụng báo chí làm phương tiện để cai trị.

Sau khi đặt chân được lên Gia Định, vừa nỗ lực dẹp tan các cuộc phản kháng của người Việt và mở rộng vùng chiếm đóng, người Pháp vừa nhanh chóng thiết lập chế độ chánh trị thuộc địa, trong đó hệ thống báo chí được hình thành nhằm đáp ứng các mục tiêu: thông tin thời sự, phổ biến Pháp ngữ và quốc ngữ, dùng báo chí làm công cụ tuyên truyền và phô trương nền văn minh nước Pháp, lôi kéo thu hút đối tượng trí thức bản xứ.

Giai đoạn từ 1861 đến 1898, báo chí ở Việt Nam còn trong thời kỳ phôi thai. Hầu hết các báo đều do người Pháp chủ trương dưới hình thức công báo hoặc báo tư nhân do chánh quyền ngầm hỗ trợ và được hưởng qui chế luật tự do báo chí 1881 của Pháp. Những người Pháp đứng ra kinh doanh, phụ trách hoặc chủ trương báo chí trong thời kỳ này là Ernest Potteaux, Pierre Jeantet, Francois Henri Schneider, Ernest Babut, Georges Ganas… Báo thường in bằng hai, ba thứ chữ: Pháp ngữ, Hán ngữ, quốc ngữ. Độc giả rất ít, phần lớn là công chức. Giá báo khá mắc dù đã được nhà cầm quyền tài trợ.

Về nội dung, phần lớn trang báo dùng đăng tải các nghị định, chỉ thị của chánh quyền trung ương phổ biến xuống các cấp địa phương. Tin tức thời sự còn ít và chưa thu hút người đọc. Thỉnh thoảng trên báo xuất hiện một số bài khảo cứu, sưu tầm, văn nghệ, nhưng văn chương còn vụng về. Về hình thức, kỹ thuật in ấn và trình bày còn thô sơ. Lúc đầu người Pháp đem máy in chữ Pháp sang Sài Gòn, sau đó đúc thêm các mẫu chữ quốc ngữ và Hán ngữ đưa sang để in báo quốc ngữ, Hán ngữ.

Báo chí thời kỳ khởi lập có vai trò thúc đẩy một bộ phận người Việt trí thức và lớp trên học thông thạo chữ quốc ngữ và Pháp ngữ, sau đó ảnh hưởng đến lớp trung lưu và thị dân, góp phần rất quan trọng hình thành nền văn chương học thuật Việt Nam hiện đại.

Tờ báo đầu tiên phát hành ở Đông Dương là Bulletin Officiel de L’expedition de la Cochinchine (Thành tích biểu viễn chinh Nam Kỳ), do đích thân chuẩn đô đốc Louis Adolphe Bonard làm chủ báo. Khi từ Pháp sang Sài Gòn, Bonard đem theo máy in, chữ in Pháp, thợ in, đến ngày 29-9-1861 bắt đầu phát hành số công báo đầu tiên. Nhưng công báo chỉ lưu hành trong nội bộ quân Pháp vì lúc đó ít người Việt đọc được chữ Pháp. Năm sau, Bonard phát hành tiếp công báo Le Bulletin des Communes bằng Hán ngữ nên phổ biến hơn, phát xuống cho chánh quyền các địa phương miền Đông Nam Kỳ. Tờ báo thứ ba là Bulletin officiel de la Cochinchine française (Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp), đăng những thông tin phục vụ cuộc chiếm đóng và cai trị thời kỳ đầu tại Nam Kỳ. Tờ báo thứ tư là Le Courrier de Saigon bắt đầu đăng thêm mỗi số một phụ trang văn học, lịch sử và những trang tư liệu phục vụ và kêu gọi đầu tư thương mại từ Pháp vào vùng Viễn Đông.

Các tờ báo ra đời giai đoạn đầu tiên 1861-99

Đầu tiên là các báo Pháp ngữ.

– 1861 – Le Bulletin Officiel d’Expédition de la Cochinchine (Thành tích biểu Viễn chinh Nam Kỳ).

– 1862 – Le Bulletin des Communes (Thành tích cộng đồng).

– 1863 – Bulletin officiel de la Cochinchine française (Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp).

– 1864 – Le Courrier de Saigon (Sài Gòn thời báo, 1864-1904).

Từ năm 1865 có thêm các báo quốc ngữ.

– 1865 – Annuaire de la Cochinchine Francaise (Niên giám Nam Kỳ); Bulletin du Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine (Tạp chí Uỷ ban Canh nông và Kỹ nghệ Nam Kỳ); Gia Định Báo.

– 1869 – Budget du port de commerce de Saigon (Ngân sách cảng và thương mại Sài Gòn); Bulletin de la Chambre de commerce de Saïgon (Tập san Phòng Thương mại Sài Gòn).

– 1875- Cochinchine  – Budget local pour lexercise (Nam Kỳ-ngân sách địa phương hàng năm).

– 1879 – Excursions et reconnaissances – Cochinchine Francaise.

– 1880 – Procès-verbaux du Conseil colonial – Cochinchine française (Biên bản họp Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ).

– 1881 – Bulletin officiel de l’ Cochinchine (Công báo Nam Kỳ).

– 1881? – Indépendant de Sài Gòn – Journal politique, liltéraire, commercial, et d’ annonces (Sài Gòn độc lập – báo chính trị, văn chương, thương mại và rao vặt).

– 1883 – Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises de Saigon (Tạp chí Hội Nghiên cứu Đông Dương tại Sài Gòn); Le Bulletin du Comité d’Etudes Agricoles, Industrielles et Commerciales de l’Annam et du Tonkin (Tạp chí Uỷ ban Nghiên cứu Canh nông, Kỹ nghệ và Thương mại Trung Kỳ và Bắc Kỳ).

– 1884 – L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ).

– 1885 – Nam Triều Quốc Ngữ Công Báo (Bulletin officiel en Langue Annamite).

– 1886 – Budget local ‘Indochine, Tonkin (Ngân sách địa phương Đông Dương-Bắc Kỳ); Moniteur du protectorat de l’Annam et du Tonkin (Giám sát chế độ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ).

– 1888 – Bảo Hộ Nam Dân; Bulletin officiel de l’Indochine Francaise (Công báo Đông Pháp); Communiqué de la presse indochinoise (Thông tin báo chí Đông Dương); Đại Nam Nhật Báo; Le Courrier de Saïgon (1888); Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées ou lectures instructives pour les elèves des écoles primaires, communales et cantonales).

– 1889 – Annuaire général de l’ Indochine (Tổng niên giám Đông Dương); Journal officiel de l’indochine Française (1889-1951); L’Indépendance Tonkinoise (Độc lập Bắc Kỳ).

– 1890 – Discours du Gouverneur de l’Indochine; Journal judiciaire de l’Indochine française (Tạp chí Tư pháp Đông Dương).

– 1891 – Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo.

– 1893 – Revue indochinoise;

– 1894 – Lịch An Nam.

– 1897- Budget local ‘Indochine, Laos (Ngân sách địa phương Đông Dương-Lào); Bulletin économique de l’Indo-Chine (Tạp chí Kinh tế Đông Dương); L’Opinion (Công Luận); Le Courrier de la Cochinchine (Nam Kỳ thời báo); Nam Kỳ Nhựt Trình (Le Journal de Cochinchine).

– 1898 – Phan Yên Báo.

– (?) – Semaine Colonial (Tuần báo thuộc địa).

 

2- Báo chí giai đoạn 1900-13: thời kỳ bị hạn chế

Những năm cuối thế kỷ 19, chế độ bảo hộ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương đã được thiết lập tương đối hoàn chỉnh. Công cuộc khai thác thuộc địa bắt đầu được đẩy mạnh. Báo chí trong nước và ở Pháp liên tiếp có nhiều bài phản ánh tệ trạng hà khắc, bóc lột nặng nề của bộ máy cai trị đối với dân chúng thuộc địa. Các cuộc phản kháng võ trang của phong trào Cần Vương và Văn Thân hầu như bị dẹp tan, nhưng giới trí thức tiến bộ bắt đầu chuyển hướng mạnh sang mặt trận chánh trị và văn hóa, mà trận địa là báo chí, với đội ngũ văn bút người Việt đông đảo hơn trước.

Lo ngại với tình hình trên, toàn quyền Paul Doumer kịch liệt yêu sách Chánh phủ Paris ngưng áp dụng Đạo luật Tự do báo chí 1881 ở Đông Dương. Ngày 30-12-1898, tổng thống Pháp Félix Faure ra sắc lệnh, qui định chế độ báo chí áp dụng đối với Đông Dương, giao cho toàn quyền Đông Dương được quyết định cho phép hay cấm đoán các tờ báo không phải bằng Pháp ngữ và không do người Pháp chủ trương, cùng với nhiều quyền hạn kiểm soát quản lý báo chí rộng lớn khác, bất chấp Đạo luật Tự do báo chí 1881 được Quốc hội Pháp thông qua.

Những năm đầu thế kỷ 20, chữ quốc ngữ phổ biến khá rộng khắp ở Việt Nam. Bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hóa có nhiều thay đổi nhảy vọt so với thế kỷ trước. Rất đông trí thức tân học xuất hiện, trong đó nhiều người muốn sử dụng văn bút và mặt trận văn học, báo chí làm phương tiện tuyên truyền, kích động quần chúng kháng Pháp, nhất là trong phong trào vận động Duy Tân (1904-08) và Việt Nam Quang Phục Hội (1912-16). Ngược lại chánh quyền thuộc địa Pháp cũng muốn tiếp tục tận dụng phương tiện báo chí theo chiều hướng có lợi cho việc cai trị và khai thác thuộc địa nên, càng nỗ lực hạn chế và cấm đoán các hành vi phản kháng trong giới văn báo bản xứ.

Từ năm 1900 đến 1912, có thêm nhiều tờ báo ra đời.

– 1900 – Compte administratif du budget local du Tonkin exercice (Báo cáo quản lý ngân sách tài khóa của Bắc Kỳ); Rapports au Conseil de gouvernement de l’Indo-Chine (Báo cáo của Hội đồng Chánh phủ Đông Dương).

– 1901 – Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient (Tập san Viễn Đông Bác Cổ Học Viện); Nông Cổ Mín Đàm (Causeries sur lagriculture et le commerce); Rapport sur la situation administrative, économique et financière au Laos durant la période (Báo cáo tình hình hành chánh, kinh tế, tài chánh Lào).

– 1902 – Bulletin administratif de l’Annam (Công báo hành chánh Trung Kỳ); Bulletin du Secrétariat du gouvernement de la Cochinchine (Tập san của Ban thư ký Chánh phủ Nam Kỳ); Bulletin du Service Géologique de l’Indochine (Tập san Sở Địa dư Đông Dương).

– 1904 – Bulletin des Études Indochinoises (Tạp chí Nghiên cứu Đông Dương); Compte administratif du budget local du Laos pour l’exercice (Báo cáo quản lý ngân sách tài khóa của Lào); Le Courrier Saigonnais (Sài Gòn Thời Báo bộ mới).

– 1905 – Đại Việt Tân Báo (L’Annam); Nhựt Báo Tỉnh (Le Moniteur des provinces).

– 1907 – Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo; Lục Tỉnh Tân Văn.

– 1908 – Nam Kỳ Địa Phận (Semaine religieuse); Nam Việt Quan Báo; Notre Journal (Báo của chúng ta); Notre Ravue (Tạp chí của chúng ta).

– 1910 – Bulletin financier de l’Indochine.

– 1911- Budget général-Compte administratif (Báo cáo quản lý tổng ngân sách Đông Dương); Nam Việt Công Báo.

– 1912 – Chemins de Fer – Statistiques de l’année (Báo cáo thống kê hàng năm về Hỏa xa); Le Cri de Saïgon.

– (?) – Đông Dương Đại Pháp Công Nghiệp.

 

3- Báo chí giai đoạn 1913-39: thời kỳ phát triển

Năm 1911, Albert Sarraut sang làm toàn quyền Đông Dương. Trước khi bước vào con đường chánh trị, Sarraut từng là một nhà báo, làm biên tập viên thường trực tờ La Dépêche du Midi ở Toulouse, do đó muốn sử dụng báo chí cho mục đích chánh trị. Bắt đầu thực hiện chánh sách ve vãn thuộc địa, tuyên bố Pháp Việt đề huề, song song với việc nới lỏng chánh trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Sarraut chủ trương nới lỏng báo chí rõ rệt từ năm 1913, mong dùng báo chí làm công cụ phản tuyên truyền đối phó với phong trào cách mạng trong nước và sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Hoa và Đức sang Việt Nam thời đó.

Thời kỳ 1913-18, việc nới lỏng báo chí còn cầm chừng, có tánh cách thử nghiệm, dò dẫm. Việc kiểm duyệt vẫn duy trì gắt gao. Trước và trong Đệ nhất thế chiến, tại Việt Nam nổ ra nhiều cuộc bạo động võ trang như: phong trào Hội Kín Nam Kỳ năm 1913, bạo động của Việt Nam Quang Phục Hội ở Huế và Trung Kỳ năm 1916, cuộc nổi dậy của binh lính và tù chánh trị Thái Nguyên năm 1917… Báo chí trong nước hầu như không tờ nào được tỏ thái độ ủng hộ phong trào kháng Pháp, hoặc nhân lúc Pháp sa lầy trong thế chiến để vận động giải phóng dân tộc. Ngược lại, có tờ báo còn hô hào Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc, kêu gọi góp người và của sang châu Âu giúp Pháp đánh Đức. Tin tưởng vào sự kiểm soát có hiệu quả nền báo chí thuộc địa, các toàn quyền sau Đệ nhất thế chiến an tâm phóng tay phát triển mạnh mẽ hệ thống báo chí Việt ngữ.

 Sau khi chiến thắng trong Đệ nhất thế chiến, kinh tế Pháp và Đông Dương nhanh chóng khôi phục và phát triển mạnh. Giới tư sản bản xứ bắt đầu hình thành và phát triển. Đội ngũ trí thức tân học ngày càng đông đảo. Nhiều loại hình kinh tế, văn hóa, nghệ thuật phát triển mạnh hoặc mới xuất hiện như công nghiệp, điện ảnh, thoại kịch, thể dục thể thao, tân nhạc, thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn…

Từ đó, xã hội hình thành nhiều tổ chức, đảng phái chánh trị, tổ chức kinh tế, nghiệp đoàn, trường phái văn chương, nghệ thuật… Mỗi tổ chức, lãnh vực đều muốn thể hiện tiếng nói của mình qua báo chí để thỏa mãn và hoàn thành mục tiêu trong xã hội. Chữ quốc ngữ phổ biến rộng khắp. Sự phát triển kinh tế làm các đô thị tập trung đông dân cư hơn. Sài Gòn – Chợ Lớn từ 200.000 dân đầu thế kỷ, đến năm 1920 tăng lên 300.000 dân. Hà Nội năm 1920 có khoảng 120.000 dân. Các tỉnh lỵ khác mỗi nơi cũng tập trung từ 20.000 đến 100.000 dân. Điều này làm tăng đối tượng độc giả báo chí nhiều hơn trước.

Ba đối tượng quyết định sự phát triển báo chí là lực lượng độc giả, lực lượng văn bút và hệ thống nhà in, sau Đệ nhất thế chiến đều phát triển mạnh hơn trước. Dân chúng, nhất là ở các đô thị, ngày càng quan tâm đến thời cuộc và thích đọc sách báo. Thành phố Sài Gòn là đô thị lớn nhất Việt Nam về mọi phương diện. Điều kiện ra báo và chế độ kiểm duyệt ở Sài Gòn và Nam Kỳ tuy cũng bó buộc, nhưng được xem là lãnh thổ đồng đẳng của Pháp nên vẫn không quá gắt gao như ở Bắc và Trung Kỳ. Vì thế, ở Sài Gòn tập trung rất nhiều báo chí, nhà in, nhà xuất bản và hầu hết báo chí chánh trị đối lập thời đó đều chỉ tập trung ở Sài Gòn. Trung tâm báo chí thứ hai là Hà Nội cũng có nhiều báo, nhưng đa số là báo thông tin thời sự hoặc chuyên về văn học, lịch sử, kinh tế. Các thanh niên trí thức tân học và có tư tưởng cách mạng cấp tiến khắp nơi đều lần hồi tập trung vào Sài Gòn để có cơ hội hoạt động tốt nhất.

Báo chí xuất bản ở vài ba đô thị lớn, sau đó lưu hành khắp nơi trong nước, tới các vùng xa xôi sau một vài ngày và cộng thêm chút cước phí vận chuyển. Trong giai đoạn thử nghiệm mở rộng báo chí dưới thời toàn quyền Albert Sarraut, công dân Pháp xin ra báo dễ dàng, nên nhiều người Pháp nhận đứng tên ra báo Pháp ngữ hoặc quốc ngữ, sau đó cho mướn hoặc sang lại cho người Việt điều hành để kiếm lợi.

Sau Đệ nhất thế chiến, điều kiện mở báo dễ dàng hơn cho người Việt, mới có nhiều chủ báo người Việt như Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Hữu Thu, Bạch Thái Bưởi, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Kim Đính, Bùi Xuân Học, Diệp Văn Kỳ, Hoàng Tích Chu… Nhiều loại báo đặc biệt chuyên nghiên cứu về một vấn đề, dành riêng cho một giới độc giả cũng xuất hiện như  báo chánh trị, phụ nữ, thiếu nhi, tôn giáo, kinh tế, sư phạm, văn chương…

Về nội dung, báo chí giai đoạn này có bài vở phong phú, bám sát thời sự, xuất hiện nhiều chuyên mục xã thuyết, phiếm luận, trình bày lập trường chánh trị. Các báo do thực dân Pháp chủ trương (Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí…) cố gắng cổ võ chánh sách ‘Pháp Việt đề huề’ và triệt hạ uy tín lực lượng kháng Pháp. Các báo có khuynh hướng cổ võ cách mạng (La Cloche Fêlée, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung…) thì vạch ra tính chất mỵ dân của Pháp và hô hào tinh thần yêu nước kháng Pháp. Các tạp chí chuyên đề có nhiều bài nghiên cứu sâu sắc, công phu về văn học, triết lý, khoa học, kinh tế, xã hội có giá trị.

Về hình thức, kỹ thuật in ấn tiến bộ rõ rệt. Cách sắp chữ, chạy tít báo có nhiều cải tiến. Bài vở trình bày sáng sủa, nhiều trang ảnh mỹ thuật. Văn chương báo chí sáng sủa, gọn ghẽ, mạch lạc hơn trước.

Số lượng báo chí xuất bản công khai, hợp pháp tăng lên nhanh chóng.

Kể cả báo, tạp chí, kỷ yếu, niên san, năm 1932 có 318 tờ. Năm 1933 có 357 tờ. Quý 1 năm 1936 có 411 tờ, trong đó có 99 tờ báo, 166 tờ kỷ yếu và tạp chí, 146 tạp chí xuất bản hàng năm. Ngày 31-12-1936 có 445 tờ. Riêng về báo, năm 1932 có 92 tờ, trong đó có 48 báo quốc ngữ và 44 báo Pháp ngữ. Năm 1935 có 102 tờ, trong đó có 44 báo quốc ngữ và 58 báo Pháp ngữ.

Nhiều tờ báo có cuộc đời ngắn ngủi. Báo cũ chết đi và báo mới ra đời liên tiếp xảy ra và là chuyện bình thường trong làng báo. Chỉ riêng năm 1936, cả Đông Dương có 70 tờ báo đình bản và 96 tờ báo mới ra đời.

Số phát hành một số tờ báo tại Đông Dương năm 1938

 

  Báo Pháp ngữ (bản) Báo quốc ngữ (bản)
Tại Sài Gòn – La Dépêche d’Indochine: 3.500.

– L’Impartial: 1.800.

– L’Opinion: 1.200.

– La Tribune indochinoise: 1.000.

– Le Peuple (CS Đệ tam): 1.000.

– Phóng Sự (Le Reportage): 11.500.

– Saigon: 11.000.

– Điển Tín (édition vietnamienne de ‘La Dépêche’): 10.500.

– Dân Tiến (Le Progrès social, tuần báo): 7.000.

– Dân Chúng (Le peuple, bán nguyệt san, CS Đệ tam): 6.000.

– Tranh Đấu (La Lutte, tuần báo, CS Đệ tứ): 3.000.

Tại Hà Nội – Hải Phòng – L’Avenir du Tonkin: 2.500.

– Le Courrier de Haïphong: 700.

– Đông Pháp (nhật báo): 17.000.

– Ngày Nay (tuần báo): 7.000.

Năm 1918, nhà văn Nguyễn Chánh Sắt và chủ nhà in Imprimerie de l’Union là Nguyễn Văn Của cùng một số thân hữu đã thành lập Nam Kỳ Nhật Báo Ái Hữu Hội tại Sài Gòn.

Trước năm 1936, tại Nam Kỳ cũng đã thành lập Hội Lương Hữu Báo Chí do Nquyễn Văn Sâm làm chủ tịch, tập hợp hàng trăm người làm báo khắp Đông Dương, mà đông nhất tại Sài Gòn.

Ngày 27-3-1937, Hội nghị báo giới toàn xứ Trung Kỳ khai mạc tại Đông Pháp lữ quán, số 7 Đông Ba, Huế, có 70 đại biểu tham dự, trong đó có 37 ký giả đại diện cho báo giới Trung Kỳ như Nguyễn Xuân Lữ (chủ nhiệm báo Nhành Lúa), Hải Triều, Hải Thanh, Lâm Mộng Quang (báo Nhành Lúa), Hồ Cát (báo Kinh Tế Tân Văn), Đinh Xuân Tiến (báo Effort/Cố Gắng), Hoàng Tân Dân (Văn Học Tuần San), Nguyễn Quý Hương, Nguyễn Xuân Thái (Tiếng Dân), Trần Thanh Địch, Lê Thanh Tuyên (Tràng An), Phan Thao (Sông Hương), Tôn Quang Phiệt, Trịnh Xuân An, Sơn Trà… Tại hội nghị này đã thành lập Hội Ái Hữu Báo Giới Trung Kỳ, ra tuyên bố đòi chính quyền Pháp cho tự do báo chí tại xứ bảo hộ Trung Kỳ.

Từ 12-4-1937, Hội nghị báo giới Bắc Kỳ tổ chức tại báo quán Tương Lai, 16B Đường Thành, Hà Nội, gồm 18 đại biểu 18 tờ báo tại Hà Nội gồm: Bạn Dân, Bắc Hà, Cậu Ấm, Hà Thành Thời Báo, Ích Hữu, L’Effort Indochinois, La Patrie Annamite, Le Travail, Ngày Nay, Rassemblement, Thời Thế, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tin Văn, Tinh Hoa, Trung Bắc Tân Văn, Tương Lai, Việt Báo, thành lập Hội Ái Hữu Báo Giới Bắc Kỳ, do Phan Tư Nghĩa làm chủ tịch, Tam Lang Vũ Đình Chí là thư ký.

Ngày 27-8-1938, sau quá trình đấu tranh bền bĩ và lâu dài, giới ký giả báo chí tổ chức Hội nghị Báo giới Đông Dương tại Hotel des Nations, Sài Gòn, cử đại biểu đến trao bản kiến nghị cho toàn quyền Đông Dương. Ngày 30-8-1938, toàn quyền Joseph Jules Brévié thay mặt Chánh phủ Pháp ra nghị định công bố Luật tự do báo chí, nhưng chỉ áp dụng ở thuộc địa Nam Kỳ. Hai năm 1938-39, chỉ riêng Sài Gòn đã có thêm hơn 60 tờ báo ra đời. Tuy vậy, chỉ ít lâu sau thì bùng nổ Đệ nhị thế chiến, rồi tiếp đến quân Nhật kéo vào Đông Dương, chánh quyền Pháp-Nhật lại tranh nhau siết chặt kiểm soát báo chí.

Thời kỳ 1925-29, một số nhà cách mạng và trí thức, nhất là trong Đảng An Nam Độc Lập – Việt Nam Độc Lập, cũng phát hành trước sau hàng chục tờ báo Pháp ngữ và Việt ngữ làm phương tiện vận động độc lập cho Việt Nam ngay trên lãnh thổ Pháp.

Thời kỳ 1913-39 có nhiều tờ báo mới thành lập, là thời kỳ báo chí hùng hậu nhất thời thuộc Pháp.

a- Các báo có liên quan đến Đông Dương in bằng Pháp ngữ, Việt ngữ hoặc song ngữ tại Pháp

b- Các báo Pháp ngữ (1913-39) tại Việt Nam

c- Các báo Hán ngữ (1913-39) tại Việt Nam

d- Báo chí  (1913-39) phân theo chủ đề

e- Các báo quốc ngữ  (1913-39) phân theo năm ra đời

 

a- Các báo có liên quan đến Đông Dương in bằng Pháp ngữ, Việt ngữ hoặc song ngữ tại Pháp

 

Xin xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945)

 

b- Các báo Pháp ngữ (1913-39) tại Việt Nam

Theo sắc luật 30-12-1898, các báo không phải Pháp ngữ do người Pháp chủ trương đều phải xin phép trước và chịu sự kiểm soát gắt gao của nhà cầm quyền, vì vậy báo quốc ngữ rất khó nêu hết những ý kiến tự do, trung thực. Một số người Việt Nam muốn nói lên tiếng nói mạnh mẽ của mình phải nhờ một người Pháp đứng tên quản lý thì tờ báo dễ dàng được phát hành. Chánh quyền cũng muốn qua báo Pháp ngữ có dịp tuyên truyền, phổ biến nền văn hóa Pháp.

Các báo Pháp ngữ (1913-39) phân theo thứ tự năm thành lập

Năm 1913 – Revue France d’ Indochine (Đông Dương Tạp Chí).

– 1914 – Bulletin des Amis du Vieux Huế (Đô Thành Hiếu Cổ tập san); Le Rigolo (Kẻ ngộ nghĩnh).

– 1915 – Bulletin municipal de la ville de Hanoï.

– 1916- Mémoire Service Geologique Indochine (Kỷ yếu Sở Địa dư Đông Dương); Rapport au Conseil de gouvernement, Service des mines (Báo cáo của Sở Khai thác mỏ).

– 1917 – L’Eveil Economique de l’Indochine; L’Impartial (Trung lập).

– 1918 – Bulletin des Renseignements coloniaux; Correspondance universelle; La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ).

– 1919 – Le Midi colonial et maritime.

– 1920 – Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin (Kỷ yếu Hội Trí Tri Bắc Kỳ); L’écho Annamite (Tiếng vọng An Nam).

– 1921 – La Liberté.

– 1922 – La Libre Cochinchine; Lère Nouvelle (Thời mới); Le Paria (Người cùng khổ).

– 1923 – La Cloche Fêlée (Cái chuông rè); La Voix Annamite (Tiếng nói An Nam); Le Travail.

– 1924 – Extrême-Asie: revue indochinoise illustré: mensuelle (Viễn Á: tạp chí Đông Dương có hình); L’Essor Indochinois (Đông Dương Cất Cánh); L’Indochine nouvelle; Le Progrès Annamite (Tiến bộ An Nam).

– 1925 – Bulletin bi-mensuel – Chambre de commerce de Saïgon; L’Indochine (Đông Dương); L’Indochine enchaînée (Đông Dương bị xiềng).

– 1926 – Annuaire administratif de l’Indochine (Niên giám hành chánh Đông Dương); L’Âme Annamite (Hồn An Nam); L’Annam;  L’Annam Scolaire (Giáo dục An Nam); La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương); La Volonté Indochinoise (Ý chí Đông Dương); Le Jeune Annam (Thanh niên An Nam); Le Nhà Quê; Justice (Công lý).

– 1927 – Achats et Ventes (Mua và bán); Bulletin financier de l’Indochine et L’Indochine nouvelle réunis; Compte-rendu des travaux de la session ordinaire-Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin (Biên bản hội nghị Viện Dân biểu Bắc Kỳ); L’Ami du Peuple Indochinois (Bạn dân Đông Dương); L’argus Indochinois (Đặc san Đông Dương); L’Âme Annamite (Hồn An Nam); La Jeune Indochine; La Résurrection (Hồi sinh); Le Jeune Indochine; Le Merle mandarin; Sacerdos Indosinensis (Giới tu sĩ Đông Dương).

– 1928 – L’Action Indochinoise (Đông Dương hành động); La Dépêche (Điển Tín).

– 1929 – Bulletin de police criminelle (Tập san Hình cảnh); Conseil des intérêts francais, économique et financiers du Tonkin (Hoạt động của Hội đồng Bảo vệ kinh tế tài chánh Pháp tại Bắc Kỳ); La Revue Franco-Annamite (Pháp Nam tạp chí); Rapport sur la situation administrative, économique et financière du Tonkin (Báo cáo tình hình hành chính, kinh tế, tài chính Bắc Kỳ); Recueil des procès-verbaux des séances plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et financiers de l’Indochine (Tập biên bản kỳ họp Thượng hội đồng kinh tế tài chánh Đông Dương); Saïgon-potins.

– 1930 – L’Argus économique d’Indochine (Đặc san kinh tế Đông Dương); Le Revue Caodaiste (Tạp chí Cao Đài); Radio-Saïgon.

– 1931 – Indochine (Đông Dương); L’Annam Nouveau (Tân An Nam); L’Asie Nouvelle Illustrée (Tân Á minh họa Tạp chí); La Presse indochinoise (Báo Đông Dương); La Revue caodaïste; Revue judiciaire franco-annamite (Pháp-Viện Báo).

– 1932 – Chantecler; Chantecler revue; Le Populaire d’Indochine (Nhân dân Đông Dương); Oeuvre Indochinois.

– 1933 – La Lutte (Tranh đấu); La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam); Monde; Saigon.

– 1934 – Arrêté annuel sur l’alimentation (Niên giám thực phẩm); Bulletin fiduciaire de l’Indochine; L’Alerte (Sự báo động); L’Incorrigible (Kẻ bất trị).

– 1935 – L’école indochinoise (Học Báo); L’Essor Indochinois (Đông Dương Cất Cánh, Hà Nội); Le canard déchainé (Con Vịt Đực); Nouvelle revue indochinoise; Partout (Khắp nơi); Renaissance Indochinoise (Phục Hưng Đông Dương); Union Indochinoise (Đông Dương liên hiệp).

– 1936 – Agir; La Gazette de Huế (Nhật báo Huế); La Nouvelle Revue Indochinoise (Tạp chí Tân Đông Dương); Le Fonctionnaire indochinois; Le Militant (Chiến binh); Le Travail (Lao động); Les Responsables (Những người hữu trách).

– 1937 – Blanc et jaune; Bulletin des Amis du Laos (Tạp chí Những người bạn của Lào); Effort (Nỗ lực); L’avant Garde (Đội tiền phong); L’Effort; L’Effort Indochinois (Nỗ lực Đông Dương); Le Cygne Bạch-nga; Le Flambeau d’Annam; Le Paysan de Cochinchine; Le Peuple (Nhân dân); Rassemblement (Tập họp).

– 1938 – L’Action ouvrière.

– 1939 – EST (Nguyệt san Phương Đông); Les Cahiers de la Jeunesse (Tập san Thanh Niên); Notre Voix (Tiếng nói chúng ta).

– (?) – Essor (Phồn vinh); Fléchettes (Mục tiêu); France-Asie (Pháp Á); France-Indochine (Đông Pháp); L’Indochine Nouvelle (Tân Đông Dương); La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Đông Báo); La Voix Libre (Tiếng nói tự do); Le Cri de Hanoi (Tiếng khóc Hà Nội); Le Misogyne (Người ghét phụ nữ).

 

c- Các báo Hán ngữ (1913-39) tại Việt Nam

Các báo Hán ngữ không phát triển mấy vì bị chánh quyền hạn chế và lượng độc giả không nhiều, chủ yếu là các nhà cựu nho và người gốc Hoa ở các đô thị. Trong số báo Hán ngữ có thể kể:

– 1914 – Công Thị Báo.

– 1930 – Giác Ngộ.

– v.v…

 

d- Báo chí  (1913-39) phân theo chủ đề

Báo chí thời kỳ 1913-39 hình thành nhiều nhóm chủ đề theo tánh chất tờ báo.

Nếu phân theo thời gian ra báo, có đủ cả nhật báo, bán tuần báo, tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san, tạp chí.

Nếu phân theo thể loại chủ đề, có nhiều nhóm rõ rệt.

– Nhóm báo thân chánh quyền có: Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí…

– Nhóm chánh trị đối lập có: Dân Chúng, L’Annam, L’Avan garde, La cloche fêlée, La Lutte, Le peuple, Tranh Đấu… không chú trọng hay rất ít chú trọng đến lĩnh vực văn chương.

– Nhóm báo chánh trị theo chủ nghĩa quốc gia có: La tribune Indochinoise (của Đảng Lập Hiến), Mới (của nhóm Thanh Niên Dân Chủ), Tháng Mười (của nhóm Đệ Tứ Rưỡi)…

– Nhóm báo chánh trị theo đường lối Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản có: Bạn Bân, Cấp Tiến, Dân Tiến, Dân Chúng, Đời Nay, En Avant, Hà Thành Thời Báo, L’Avant garde, Le Peuple, Le Travail, Nhành Lúa, Notre voix, Rassemblement, Thế Giới, Thời Thế, Tin Tức…

– Nhóm báo chánh trị theo đường lối Tả Đối Lập – Đệ Tứ Quốc Tế có: Dân Mới, Đại Chúng, Đồng Nai, La Lutte, Le Militant, Nghề Mới, Nhật Báo, Phổ Thông, Phụ Nữ Thời Đàm, Sanh Hoạt, Sự Thật, Tháng Mười, Thầy Thợ, Thời Đại, Tia Sáng, Tranh Đấu, Tự Do, Văn Mới…

– Báo Pháp ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp, bị cấm theo các nghị định năm 1927: Journal des Étudiants Annamite de Toulouse; L’Annam Scolaire (An Nam Học Báo); L’Âme annamite; La nation annamite; La Tribune Indochinoise…

– Báo Việt ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp, bị cấm theo các nghị định năm 1927: Phục Quốc; Quan Sát; Tiếng Thợ; Việt Nam; Việt Nam Hồn; Vô Sản…

– Nhóm báo trào phúng có: Con Ong, Cười, Vịt Đực…

– Nhóm báo văn chương có: Hà Nội Báo, Hà Nội Tân Văn , Ích Hữu, Nghệ Thuật, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Sài Thành Họa Báo, Tiểu Thuyết Nam Kỳ, Tiểu Thuyết Sài Gòn, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Sáu, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Tuần San, Tinh Hoa, Văn Học, Văn Học Tạp Chí, Văn Học Tuần San, Văn Mới, Vẻ Đẹp…

– Nhóm báo về lao động và chuyên môn nghề nghiệp như: Ảo Thuật Tạp Chí, Chớp Bóng, Đua Ngựa, Lao Động, Pháp Luật Cố Vấn, Quảng Cáo Tuần Báo, Thần Bí Tạp Chí, Thầy Thợ, Thể Thao, Y Học Tân Thanh…

– Nhóm báo phụ nữ có: Đàn Bà, Đàn Bà Mới, Nữ Công Tạp Chí, Nữ Giới, Nữ Giới Chung, Nữ Lưu, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Tiến…

– Nhóm báo thanh thiếu niên, nhi đồng có: Cậu Ấm, Học Sinh, Mới, Tân Thiếu Niên, Truyền Bá…

– Nhóm báo tôn giáo có: Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Cao Đài Đông Dương Báo, Công Giáo Tiến Hành, Duy Tâm, Đuốc Tuệ, Kỷ yếu Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, Niết Bàn Tạp Chí, Pháp Âm, Pháp Âm Phật Học, Phật Hóa Tân Thanh Niên, Quan Âm Tạp Chí, Tam Bảo, Tiến Hóa, Tiếng Chuông Sớm, Từ Bi Âm, Vì Chúa, Viên Âm…

– Nhóm báo đơn thuần tin tức thời sự có chủ yếu là các nhật báo như: Công Luận, Điện Tín, Phóng Sự, Sài Gòn, Sài Thành…

v.v…

 

e- Các báo quốc ngữ  (1913-39) phân theo năm ra đời

– Năm 1913 – Đông Dương Tạp Chí; Trung Bắc Tân Văn.

– Năm 1914 – Pháp Việt Thông Báo.

– Năm 1916 – Công Luận; Tân Đợi Thời Báo.

– Năm 1917 – An Hà Báo (An Hà Nhựt Báo); Nam Phong Tạp Chí; Nam Trung Nhựt Báo; Nam Việt Tề Gia.

– Năm 1918 – Đại Việt Tạp Chí; Đèn Nhà Nam; Nữ Giới Chung; Quốc Dân Diễn Đàn; Thời Báo (Sài Gòn).

– Năm 1919 – Nam Học Niên Khóa; Quan Báo.

– Năm 1920 – Học Báo (Hà Nội); Nam Kỳ Kinh Tế Báo; Sư Phạm Học Khoa; Thực Nghiệp Dân Báo.

– Năm 1921 – Hữu Thanh Tạp Chí; Khai Hóa (Khai Hóa Nhật Báo).

– Năm 1922 – Công Luận; Lời Thăm (Lời Thăm Các Thày Giảng); Nam Thành; Nhựt Tân Báo; Trí Tri (Tập kỷ yếu của Hội Trí Tri); Việt Nam Thanh Niên Tạp Chí .

– Năm 1923 – Đông Pháp Thời Báo; Khoa Học Tạp Chí (Hà Nội); Trung Hòa Báo; Vệ Nông Báo.

– Năm 1924 – Công Ích Toàn Thơ; Tân Dân Báo; Trung Lập Báo.

– Năm 1925 – Đông Pháp; Thanh Niên.

– Năm 1926 – An Nam Học Báo; An Nam Tạp Chí; Hồn Nam Việt; Nam Kỳ Khuyến Học Hội Tạp Chí; Phục Quốc; Sài Thành Nhật Báo; Tân Thế Giới; Tân Thế Kỷ; Văn Minh; Việt Nam Hồn (Việt Nam Hồn Báo).

– Năm 1927 – Công Giáo Đồng Thinh; Dân Báo (Hà Nội); Hà Thành Ngọ Báo; Kịch Trường Tạp Chí; Ngày Nay; Pháp Việt Nhứt Gia; Quảng Đại Báo; Rạng Đông Tạp Chí; Tân Tiến (Sài Gòn); Thần Kinh Tạp Chí; Tiếng Dân; Việt Nam (ở Paris).

– Năm 1928 – Điện Xa Tạp Chí; Đuốc Nhà Nam; Hà Tĩnh Tân Văn; Kỳ Lân Báo; Thanh Niên Tân Tiến; Việt Nam Văn Tập; Việt Thanh.

– Năm 1929 – Canh Nông Luận; Đông Tây (Đông Tây Tuần Báo); Nông Công Thương Báo; Pháp Âm; Pháp Nam Tạp Chí; Phật Hóa Tân Thanh Niên; Phụ Nữ Tân Văn; Thần Chung; Thần Nông Báo; Thương Vụ Tổng Biên; Tia Sáng; Tin Đạo.

– Năm 1930 – Bước Tới; Công Báo; Đông Dương Thương Báo; Đông Phương; Giải Phóng; Hoan Châu Tân Báo; Liên Hiệp; Long Giang Độc Lập; Nam Nữ Giới Chung; Người Lao Khổ; Phổ Thông (Hà Nội); Phụ Nữ Thời Đàm; Tả Trực Báo; Thanh Nghệ Tĩnh Tân Văn; Thương Báo; Tiếng Cười; Tiền Quân; Trường An Cận Tín; Tứ Dân Tạp Chí.

Tính đến năm 1930, đã có trên 80 tờ báo và tạp chí đang lưu hành trên toàn cõi Việt Nam, trong đó riêng tại Sài Gòn có hơn 50 tờ.

– Năm 1931 – Duy Tân; Đông Phương Báo; Khoa Học Tạp Chí (Sài Gòn); Kim Lai Tạp Chí; Nam Kỳ Thể Thao; Tam Kỳ Tạp Chí; Tân Thanh Tạp Chí; Thời Báo (Hà Nội); Tiểu Thuyết Chủ Nhật (Tiểu Thuyết Tuần Báo, Tiểu Thuyết Tuần San (a), Việt Dân (Việt Dân Báo).

– Năm 1932 – Bảo An; Bắc Kỳ Thời Báo; Chớp Bóng; Đông Dương Tả Phái Cộng Sản Báo; Đông Thanh Tạp Chí; Đồng Nai; Đuốc Vô Sản; Hình Vẽ; Họa Báo; Phong Hóa Tuần Báo; Phụ Nữ Tân Tiến; Sài Thành (của Bút Trà); Tân Á Tạp Chí; Tân Báo (Sài Gòn); Tân Thiếu Niên; Thời Báo (Hà Nội); Tiên Long Báo; Tiểu Thuyết Tuần San (b); Từ Bi Âm; Văn Học Tạp Chí.

– Năm 1933 – Bạn Trẻ (Hà Nội, Vinh); Bắc Hà; Chức Dịch Thơ Tín; Cùng Bạn; Đế Thiên Đế Thích; Hoàn Cầu Tân Văn; Khuynh Diệp; Nhật Tân; Nhi Đồng; Niết Bàn Tạp Chí; Phòng Canh Nông Nam Kỳ Tạp Chí; Quảng Cáo Phan Bá Đài; Saigon; Sài Thành Học Báo; Thanh Niên (Hà Nội); Văn Học Tuần San; Vận Động Báo; Viên Âm (Viên Âm Tạp Chí); Zân Báo.

– Năm 1934 – Chân Thanh; Đàn Bà Mới; Đông Phương (Đông Phương Tuần Báo); Hải Phòng Tuần Báo; Khoa Học Phổ Thông; Loa; Ngọ Báo; Nhân Loại; Phụ Nữ Tân Tiến (bộ mới); Phụ Trương Hoang Giang Nữ Hiệp (Tiểu Thuyết Thứ Bảy); Sao Mai; Sài Thành (của Trương Duy Toản); Tân Văn; Thanh Nghệ Tĩnh; Thương Mại; Tiểu Thuyết Thứ Bảy; Trung Tâm; Tương Lai Tạp Chí (Sài Gòn); Việt Dân (Việt Dân Báo, bộ mới).

– Năm 1935 – Ánh Sáng; Bình Dân; Cậu Ấm (Cậu Ấm Cô Chiêu); Chân Lạc; Chuyện Ngắn Nhi Đồng; Công Dân (Hà Nội); Công Thương (Công Thương Báo); Cười; Dân Quyền; Duy Tâm; Đàn Văn; Điển Tín; Đông Dương Chớp Bóng; Đông Tây Báo; Đông Thinh; Đời Mới; Đời Nay (Sài Gòn); Đuốc Nhà Nam bộ mới; Đuốc Tuệ; Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp; Hải Phòng Tuần Báo (bộ mới); Hoạt Động; Hồn Trẻ; Hướng Đạo; Kịch Bóng; Kiến Văn; Kỷ yếu Bắc Kỳ Phật Giáo Hội; Mai; Majestic Chớp Bóng; Ngày Nay; Nghe Thấy; Nghề Mới  (Sài Gòn); Sài Gòn Ngọ Báo; Sống; Tân Nữ Lưu; Tân Thời (Tân Thời Tuần Báo); Tân Tiến (Vĩnh Long); Thẳng Tiến; Tiến Hóa (Huế, Quảng Ngãi, Hà Nội); Tiếng Chuông Sớm; Tiếng Trẻ; Tiểu Thuyết Nam Kỳ; Tiểu Thuyết Sài Gòn; Tiểu Thuyết Thứ Hai; Tiểu Thuyết Thứ Sáu; Tin Văn; Tràng An (Tràng An Báo); Trung Kỳ; Tứ Dân Văn Uyển; Văn Học; Việt Nam (ở Sài Gòn); Zân (Sài Gòn).

– Năm 1936 – Báo Tiểu Thuyết; Cẩm Thành Tạp Chí; Công Giáo Tiến Hành; Cười; Dân Tiệp; Đại Đạo; Đuốc Văn Minh; Hà Nội Báo; Học Sinh (Sài Gòn); Hồn Cách Mạng; Ích Hữu (Ích Hữu Tuần Báo); Kiến Văn Tùng Báo; Kinh Tế Tân Văn; Lao Động; Mặt Trận Đỏ; Nghề Mới (Hải Phòng); Ngọ Báo; Nông Công Thương Thời Báo; Nữ Công Tạp Chí; Nữ Lưu; Phấn Đấu; Phổ Thông (Sài Gòn); Phổ Thông Bán Nguyệt San; Sài Gòn Tiểu Thuyết; Sài Gòn Tiểu Thuyết Tùng Thư; Sông Hương; Sự Thật; Tân Tiến (Sài Gòn); Tân Xã Hội; Thế Giới Tân Văn; Thời Sự (Thời Sự Tuần Báo); Thợ Thuyền; Tiến Bộ (Bắc Ninh); Tiếng Vang Làng Báo; Trung Nam Bắc; Tuyệt Phích; Tương Lai (Hà Nội); Văn Mới; Vì Chúa; Việt Báo; Y Khoa Tạp Chí; Ý Dân.

– Năm 1937 – Anh Niên; Âu Tây Tư Tưởng; Bạn Dân; Bạn Thiếu Niên; Bạn Trẻ (Sài Gòn); Bước Tới; Canh Nông Luận (bộ mới); Dân Đen; Đông Dương Tạp Chí – bộ mới; Đông Tây Tiểu Thuyết Báo; Hà Thành Thời Báo; Hợp Nhứt; Kinh Tế Tân Văn; Ly Tao Tuần Báo; Nay; Nắng Xuân; Nhành Lúa; Nhựt Báo; Pháp Âm Phật Học; Tam Bảo; Tân Việt Nam (Hà Nội); Tấn Công; Thời Thế (Hà Nội); Tiếng Chuông; Tiếng Kêu; Tiểu Thuyết Thứ Ba; Tiểu Thuyết Thứ Năm; Tiểu Thuyết Tuần San (c); Tinh Hoa; Tranh Đấu; Trong Khuê Phòng; Việt Nữ.

– Năm 1938 – Bắc Kỳ Dân Báo; Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ; Cấp Tiến; Chuyện Đời; Công Dân (Sài Gòn); Công Nhân; Công Nông Hiệp Nhứt; Dân; Dân Chúng; Dân Mới; Dân Muốn; Dân Sanh; Dân Tiến; Đại Chúng (Sài Gòn); Đại Đồng; Đất Việt; Đọc; Đông Dương; Đời Nay (Hà Nội); Đuốc Công Lý; Gió Mùa; Hy Sinh; Nam Cường; Ngày Mới (Sài Gòn); Nghệ Thuật; Những Tác Phẩm Hay; Nữ Giới; Pháp Âm Tạp Chí; Pháp Luật Cố Vấn; Phóng Sự (1); Phổ Thông (Đệ Tứ); Phổ Thông (Đệ Tam); Phụ Nữ; Phụ Nữ Thời Đàm (bộ mới); Phục Hưng Báo; Quan Âm Tạp Chí; Quốc Gia; Sài Gòn Tiền Báo; Sanh Hoạt; Sự Thật; Tân Báo (Hà Nội); Tân Tiến (Sa Đéc); Thái Dương; Tháng Mười; Thanh Niên Báo; Thầy Thợ; Thế Giới; Thể Thao; Thời Đại (Sài Gòn); Thợ Thuyền Tranh Đấu; Tiến Bộ (Sài Gòn); Tiến Hóa (Rạch Giá); Tiếng Địch; Tiểu Thuyết; Tiểu Thuyết Nhật Báo; Tin Tức; Tự Do; Văn Nghệ; Vẻ Đẹp; Việt Kiều Nhật Báo; Việt Nam Thương Mại Kỹ Nghệ; Vịt Đực; Vui; Xuân Lao Động; Y Học Tân Thanh; Zân (Hà Nội).

– Năm 1939 – Ảo Thuật Tạp Chí; Bảo Mệnh Cẩm Nang; Chỉ Trích; Con Ong; Công Nghệ Thương Mại; Dân Báo (Sài Gòn); Dân Chúng Tuần Báo; Dân Nam; Đàn Bà; Độc Lập; Đua Ngựa; Hà Nội Tân Văn; Học Sinh (Hà Nội); Mới; Nài Ngựa; Ngày Mới (Hà Nội); Người Mới; Pháp Việt (1); Quảng Cáo Tuần Báo; Quốc Gia Nhật Báo; Tao Đàn (Tạp chí~); Thần Bí Tạp Chí; Tia Sáng; Tiến Tới; Tin Mới; Tổng Xã Báo; Trào Phúng; Văn Hóa Tạp Chí; Văn Lang Tuần Báo; Văn Mới (bộ mới).

– (? 1913-1939) – Bắc Kỳ Xã Hội Phổ Tế Nguyệt San; Đông Dương Tuần Báo; Hãng Radio-Saigon; Kỷ Yếu Nha Học Chính Đông Pháp; Nam Dân Tạp Chí; Phụ Nữ Tiến; Quốc Hoa Tuần Báo; Thiếu Nhi; Thời Vụ; Thời Vụ Mới…

 

4- Báo chí giai đoạn 1940-45: thời kỳ ảnh hưởng thế chiến

Hai năm 1938-39, Nam Kỳ được hưởng trở lại qui chế Luật tự do báo chí, nên việc ra báo quốc ngữ dễ dàng hơn trước, chỉ riêng Sài Gòn có hơn 60 tờ báo ra đời. Làng báo có nhiều tờ báo chánh trị đối lập như Tự Do, Sự Thật, Tháng Mười, Dân Quyền, Đuốc Công Lý, Chỉ Trích, Tia Sáng, Tiến Tới, Mới… (ở Nam Kỳ), Cấp Tiến, Tin Tức… (ở Trung và Bắc Kỳ).

Lúc này, xã hội Việt Nam phân hóa sâu sắc. Về chánh trị, các lượng lực cách mạng Việt Nam rút tỉa nhiều kinh nghiệm thất bại lẫn thành công của thời kỳ trước. Các tổ chức chánh trị ra đời ngày càng nhiểu, theo nhiều khuynh hướng khác nhau: quốc gia, cộng sản, thân Pháp, tôn giáo… Các lãnh vực văn chương, học thuật, nghệ thuật, âm nhạc… cũng đơm hoa kết trái với những thành tựu rực rỡ sau này gọi là dòng văn học tiền chiến, nhạc tiền chiến… Tất cả những phát triển phức tạp đó đều bộc lộ qua báo chí.

Rồi Đệ nhất thế chiến bùng nổ ngày 1-9-1939 ở châu Âu. Nước Pháp sa lầy vào chiến tranh. Quân phát xít Nhật lăm le đổ bộ vào Đông Dương. Lo ngại trước tình hình Nhật can thiệp vào Đông Dương và các lực lượng cách mạng Việt Nam sử dụng báo chí làm phương tiện tuyên truyền lật đổ chánh quyền, cuối năm 1939, chánh quyền Đông Dương chủ trương xiết chặt báo chí, bãi bỏ áp dụng Luật tự do báo chí ở Nam Kỳ, liên tiếp đóng cửa hàng loạt tờ báo không thân thiện với chánh quyền, đề ra nhiều điều kiện khắc nghiệt để hàng loạt tờ báo nhỏ yếu phải tự đình bản.

Giới báo chí Việt Nam cũng tìm cách đối phó lại bằng nhiều cách, núp bóng các tờ báo hợp pháp hoặc xuất bản bất hợp pháp không đăng ký với chánh quyền (nhất là các tờ báo khuynh hướng cộng sản).

Tính đến cuối năm 1939, phần lớn các tờ báo đều bị đình bản. Nhưng lúc này, trình độ dân trí và giác ngộ cách mạng của người Việt đã cao hơn trước. Sự thẳng tay đàn áp báo chí của Pháp chẳng những không dập tắt được lửa phong trào, mà còn đưa đến mức độ tranh đấu cực đoan, một số báo chí quốc ngữ ngã theo học thuyết duy vật biện chứng.

Tháng 6-1940, lãnh thổ Pháp bị Đức xâm chiếm. Thống chế Petain lên cầm quyền, lệ thuộc vào phát xít Đức, đề xướng ‘cuộc cách mạng quốc gia’, chủ trương ‘quay về quá khứ băng bó vết thương’. Chánh quyền thực dân Đông Dương theo chân Chánh phủ Petain thỏa hiệp với trục phát xít, cho quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương cùng với Pháp cai trị. Báo chí Việt Nam bị cấm tuyệt đối chống lại chánh quyền, cũng tự động tạm ngưng phong trào sáng tác, quay trở lại phục hưng phong trào học thuật theo chiều hướng phổ biến văn hóa, phụng sự nhân sinh (tạp chí Thanh Nghị) hoặc bằng con đường ‘ôn cổ tri tân’ (tạp chí Tri Tân), hoặc ngã theo đường lối khảo cứu và phê bình duy vật sử quan (tạp chí Văn Mới của nhóm Tân Văn Hóa).

Lực lượng cách mạng chống Pháp và Nhật bị cấm đoán ra báo nên tổ chức báo chí bí mật, không xin phép nhà cầm quyền. Pháp và Nhật khuyến khích mở các tờ báo thân chánh quyền hoặc cổ động Khổng Giáo, thể dục thể thao… để ru ngủ thanh niên.

 

a- Báo chí ra đời giai đoạn 1940 đến tháng 3-1945

Các tờ báo ra đời từ năm 1940 là lúc chánh quốc Pháp bị quân Đức xâm chiếm cho đến trước khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương tháng 3-1945:

– Năm 1940 – Bẻ Xiềng Xích; Bulletins et Travaux, Institut Indochinois pour l’Etude de l’Homme; Chủ Nhật Tuần Báo; Chúa Nhựt; Công Binh tạp chí (tại Pháp); Dư Luận Tuần Báo; Đông Á Tân Văn; Đồng Thanh; Khai Trí Tiến Đức Tập San; Le Soie d’Asie (Chiều Á Châu); Le Traducteur; Mùa Gặt Mới; Tao Đàn (Tủ sách ~); Thời Thế (Sài Gòn); Tiếng Vang; Tiểu Thuyết Tuần San (d); Tin Mới; Trung Bắc Tân Văn Chủ Nhật; Trung Kỳ Vệ Sinh Chỉ Nam; Truyền Tin.

– Năm 1941 – Bạn Đường; Bạn Mới; Báo Mới; Bulletin général de l’ Instruction publique; Bút Mới; Giáo Dục Tạp Chí; Khoa Học; Khuyến Học; Nắng Sớm; Nghệ Thuật Việt Nam; Ngòi Bút; Nhi Đồng Họa Bản; Pháp-Việt (2); Phóng Sự (2); Phụ Trương Tiểu Thuyết Thứ Bảy; Sách Hoa Mai; Sports Jeuuesses de l’Indochine; Thanh Nghị; Thanh Nghị, phần trẻ em; Thanh Niên (Sài Gòn, 1); Thanh Niên Đông Pháp; Thể Thao Đông Dương; Thời Đại (Hà Nội); Tiến (1); Tri Tân; Truyền Bá; Văn Hóa; Việt Nam Độc Lập.

– Năm 1942 – Bình Minh; Cứu Quốc; Đại Việt Tập Chí; Hải Phòng; Hạnh Phúc; Kỷ yếu Hội Khuyến học Nam Kỳ; Le livre du petit (Pour la jeunesse scolaire-Cuốn sách học trò); Nam Kỳ Tuần Báo; Sài Gòn Mới; Tân Á; Thông Tin; Tin Điển; Tổng Xã Mới, Trăm Hoa; Văn Mới (bộ mới); Việt Cường.

– Năm 1943 – Độc Lập; Đông Á Tân Văn; Hồn Nước; Phổ Thông Chuyên San; Thanh Niên (Sài Gòn, 2); Trung Bắc Chủ Nhật; Tuổi Trẻ.

– Năm 1944 – Chroniques Vietnamiennes (tại Pháp); Đại Chúng (Hà Nội); Đông Phong; Giải Phóng; Lao Động; Nước Nam; Việt Bút Tân Văn.

– Đầu năm 1945 – Pháp-Việt (3); Trái Tim Đức Mẹ.

 

b- Báo chí ra đời thời Nhật đảo chánh Pháp

Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9-3-1945), tại Sài Gòn chỉ còn ba tờ nhật báo còn hoạt động, là tờ Điện Tín của Lê Trung Cang, Sài Gòn của bà Bút Trà và Dân Báo của Trần Văn Hanh.

Các báo ra đời từ tháng 3 đến tháng 8-1945 gồm có: Đông Phát; Ngày Nay – kỷ nguyên mới; Tân Việt Nam (Sài Gòn); Tân Việt Nam (Hà Nội); Tiến (2); Việt Nam Đế Quốc Công Báo; Việt Nam Tân Báo; Việt Tấn Xã…

 

c- Báo chí ra đời tháng 8-1945 

Các tờ báo ra đời ngay sau khi quân Nhật đầu hàng đồng minh: Bạn Gái; Chính Nghĩa; Gió Mới; Hưng Việt; Phục Hưng; Thiết Thực; Tiền Phong; Việt Nam (2); Việt Nữ…

 

III- DANH MỤC BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC PHÁP

Trong Danh mục này:

– liệt kê những tờ báo được in và phát hành tại Việt Nam; gồm có báo quốc ngữ, Pháp ngữ, Hán ngữ, của người Việt và người nước ngoài (chủ yếu là người Pháp).

– cũng liệt kê những tờ báo của người Việt làm ra, in và phát hành tại Pháp, gồm báo quốc ngữ, Pháp ngữ.

– không liệt kê những tờ báo không phải do người Việt làm ra tại Pháp, cho dù có liên quan đến tình hình Đông Dương hay không; những tờ báo này sẽ được nêu ở mục: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN BẰNG PHÁP NGỮ HOẶC SONG NGỮ TẠI PHÁP

Những tờ báo ra đời trong thời thuộc Pháp (1860-1945) phân theo danh mục ABC

(Các báo được xem như in nội dung bằng Việt ngữ/quốc ngữ, nếu không có chú thích rõ. Thống kê và ghi chép chưa đầy đủ, còn cần bổ sung, điều chỉnh):

Achats et Ventes (mua và bán): báo Pháp ngữ về quảng cáo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1927.

Activités utiles : tên Pháp của báo quốc ngữ Thực Nghiệp (Thực Nghiệp Dân Báo).

Agir : tạp chí Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn từ tháng 2-1936 đến 1937.

Agriculture-Industrie-Commerce : tên Pháp của báo quốc ngữ Nông-Công-Thương.

An Hà Báo (An Hà Nhựt Báo, An ho jih pao, Courrier de l’Ouest; 1917-33): tuy gọi là nhựt báo nhưng là tuần báo phát hành ngày thứ năm tại Cần Thơ; chủ bút: Trương Quang Tiền; Số 1 ấn hành năm 1917, …Số 34 (20-9-1917), …Số 219 (30-6-1921), …Số cuối là 836 (14-12-1933).

An Nam Học Báo (L’Annam Scolaire): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

An Nam Tạp Chí : nguyệt san do Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà) thành lập và chủ nhiệm ở Hà Nội; thư ký tòa soạn Ngô Tất Tố (1926-27); cộng tác bài vở gồm: Ðông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ, thơ), Huỳnh Thị Bảo Hòa, Nam Trân (Nguyễn Học Sỹ, thơ), Nguyễn Tiến Lãng, Vân Bằng…; tuy tòa báo và cộng tác viên đều là người có thực tài và nổi tiếng, nhưng do Tản Đà khi có tiền thường bỏ đi đây đó du ngoạn nên việc quản lý và ra báo không được quan tâm; báo ra thất thường, thu không đủ bù chi, phải đình bản rồi tái bản đến ba lần; Số 1 ra ngày 1-7-1926, ra được 10 số thì đình bản lần đầu vào tháng 3-1927; Tản Đà và Ngô Tất Tố phải vào Sài Gòn cộng tác với Đông Pháp Thời Báo của Diệp Văn Kỳ để có tiền trả nợ; đến 1929 báo tục bản từ Số 1, ra được vài số lại đình bản; đến tháng 4-1931 lại ra bộ mới Số 1, …Số 39 (30-4-1932)…,  rồi hoạt động đến ngày 1-3-1933 phải đình bản hẳn vì lý do tài chánh; sau tổng cộng 48 số đã ấn hành.

Anh Niên : báo ấn hành tại Hà Nội năm 1937; số cuối là Số 14 ra tháng 7-1937.

Annuaire administratif de l’Indochine (Niên giám Hành chánh Đông Dương): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm tại Hà Nội, thời kỳ 1926-1943.

Annuaire de la Cochinchine Francaise (Niên giám Nam Kỳ thuộc Pháp): niên giám Pháp ngữ do Dinh Thống đốc Nam Kỳ ấn hành mỗi năm, in tại Nhà in Imprimerie du Gouvernement, từ năm 1865 đến năm 1888; lúc đầu mỗi tập dày khoảng 200 trang, càng về sau càng tăng dần, đến tập năm 1888 dày 585 trang; nội dung tổng kết tất cả các lãnh vực chánh trị, hành chánh, nhân sự, kinh tế, văn hóa xã hội…; đến năm 1889 chuyển vào Annuaire général de l’ Indochine (Tổng niên giám Đông Dương).

Annuaire général de l’ Indochine (Tổng niên giám Đông Dương): niên giám Pháp ngữ do Phủ Toàn quyền Đông Dương ấn hành mỗi năm, từ năm 1889 đến 1943; chia thành hai tập; Tập 1- Cochinchine et Cambodge (Nam Kỳ và Cam Bốt) in tại Sài Gòn; Tập 2-An Nam et Tonkin (Trung Kỳ và Bắc Kỳ) in tại Hà Nội; từ năm 1905 còn có thêm hai tập là Partie administrative (Phần hành chánh) và Partie commerciale (Phần Thương mại); mỗi tập dày 500-1000 trang.

Arrêté annuel sur l’alimentation (Niên giám về thực phẩm): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm tại Hà Nội, 1924-1943; trong đó: Số 1 ấn hành tháng 1-1924, Số 11 (3-1-1934)…; nội dung chi chép tình hình và số lượng sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập cảng tất cả các mặt hàng lương thực, thực phẩm của toàn liên bang và các địa phương Đông Dương.

Asie Nouvelles Illustrées : xem: L’Asie Nouvelles Illustrées.

Aujourd’hui : tên Pháp của báo quốc ngữ Ngày Nay.

Ánh Sáng : báo do dân biểu Trung Kỳ Nguyễn Quốc Túy chủ trương tại Huế năm 1935; số cuối là Số 52 ra ngày 26-10-1935; cộng tác bài vở gồm: Bích Liên (Thích Trí Hải), Đào Trinh Nhất, Kính Hiển Vi, Mộng Tuyết (thơ)…

Ánh Sáng (Lumière; organe des Travailleurs et Etudiants indochinois en France): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Ảo Thuật Tạp Chí (Revue de prestidigation): xuất bản ở Sài Gòn trong năm 1939.

Âu Tây Tư Tưởng : tạp chí do Nguyễn Giang chủ trương và phát hành ở Hà Nội; được xem như là một ‘tủ sách văn chương’, chuyên phổ biến những tác phẩm của phương Đông lẫn phương Tây, hoạt động từ năm 1937 đến khoảng 1940.

Báo Mới : nhật báo ấn hành tại Hà Nội từ năm 1941; số cuối là Số 264, ra tháng 12-1942.

Báo Tiểu Thuyết : tập san ấn hành tại Hà Nội từ năm 1936; số cuối là Số 12, ra năm 1938.

Bảo An (Conservation de la paix): báo xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1932-33.

Bảo Hộ Nam Dân : báo quốc ngữ, xuất bản ở Hà Nội từ năm 1888.

Bảo Mệnh Cẩm Nang : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.

Bạn Dân (L’Ami du Peuple): báo của ký giả Pháp đối lập Michell xuất bản ở Hà Nội, cho Xứ ủy Bắc Kỳ Cộng Sản Đệ Tam thuê từ 24-4-1937, do Đào Duy Kỳ quản lý, nhưng đến 24-11-1937, bị mật thám hăm doạ nên Michell lấy báo lại rồi cũng bị đình bản năm 1938; cộng tác bài vở gồm: Trần Mai Ninh (Nguyễn Thường Khanh)…

Bạn dân Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ: L’Ami du Peuple Indochinois.

Bạn Đường : báo xuất bản tại Thanh Hóa; trong đó, Số 4 ấn hành năm 1941; cộng tác bài vở gồm: Cung Giũ Nguyên, Lê Ngọc Trụ, Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Nguyễn Đức Giới (Thôi Hữu), Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh-1939)…

Bạn Gái : báo xuất bản ở Hà Nội từ nửa cuối năm 1945; …Số 4 ra ngày 27-10-1945, …Số 9 (25-11-1945)…; mỗi số giá 1$; tòa báo đặt tại số 48, Hàng Cót, Hà Nội; chủ nhiệm Nguyễn Thị Lý; chủ bút Trương Thị Nghĩa.

Bạn hải-thuyền (Les Gens de la Mer): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Bạn Mới : báo ấn hành tại Sài Gòn trong năm 1941; ra được 3 số thì đình bản (tháng 12-1941).

Bạn Thiếu Niên : báo ấn hành tại Ninh Bình từ 1937; số cuối là Số đặc biệt (ra tháng 6-1939).

Bạn Trẻ : tập san phát hành tại Hà Nội và có chi nhánh ở Vinh (Nghệ An); Số 1 ra năm 1933, số cuối là Số 3 ra tháng 5-1935.

Bạn Trẻ : báo ấn hành ở Sài Gòn; chủ bút Tạ Thành Kỉnh (từ 1937); cộng tác bài vở gồm: Đoàn Giỏi, Hường Hoa, Khổng Dương, Vân An…  

Bạo Động (organe du groupe communiste indochinois de Paris): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Bắc Hà : tuần báo xuất bản ở Hà Nội thời kỳ 1933-45; chủ bút: Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1933-34); cộng tác bài vở gồm: Ngân Giang (Đỗ Thị Quế), Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1938-45), Trần Văn Thái (truyện ngắn, từ 1936)…  

Bắc Kỳ Dân Báo : báo ấn hành tại Hà Nội từ năm 1938; số cuối ra ngày 24-8-1939.

Bắc Kỳ Thời Báo : báo ấn hành tại Hà Nội trong năm 1932; số cuối là Số 10 (ngày 23-7-1932).

Bắc Kỳ Xã Hội Phổ Tế Nguyệt San : xuất bản ở Hà Nội.

Bẻ Xiềng Xích : báo do Bùi San và Hồ Xuân Lưu thuộc Xứ ủy Trung Kỳ Cộng Sản Đệ Tam thành lập và điều hành tại Huế trong năm 1940, ra được vài số thì bị cấm.

Bình Dân : báo do Phú Đức (Nguyễn Đức Nhuận) chủ trương, đặt tại số 96 đường Mac Mahon, Sài Gòn; chủ nhiệm Trần Văn Quang; quản lý Võ Văn Nhiêu; mỗi tuần ra hai số; Số 1 ấn hành năm 1935; sau đó Phú Đức lập bộ mới (1946-54) và trực tiếp làm chủ bút (1953-54)…

Bình Minh : báo do Nguyễn Giang chủ trương tại Sài Gòn năm 1942.

Blanc et jaune : báo Pháp ngữ hoạt động tại Sài Gòn trong hai năm 1937-38.

Bóng Tròn Nam Kỳ (Football de Cochinchine): báo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1939.

Budget du port de commerce de Saïgon : niên san Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1869 đến 1944.

Budget général-Compte administratif (Niên giám ngân sách tài chánh): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm tại Hà Nội, khoảng 1911-43.

Budget local ‘Indochine, Cochinchine (Niên giám ngân sách Nam Kỳ):  niên giám Pháp ngữ do Dinh Thống đốc Nam Kỳ ấn hành mỗi năm tại Sài Gòn, 1876-1943.

Budget local ‘Indochine, Laos (Niên giám ngân sách Lào): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm vào thời kỳ 1897-1943; trong đó thời kỳ 1897-1903 in tại Nhà in Imprimerie Sài Gòn, từ năm 1904 trở đi in tại các nhà in F.-H Schneider ở Hà Nội hoặc IDEO Hà Nội-Hải Phòng.

Budget local ‘Indochine, Tonkin (Niên giám ngân sách Bắc Kỳ): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm vào thời kỳ 1886-1943 tại Hà Nội.

Bulletin administratif de l”Annam (Công báo Hành chánh Trung Kỳ): công báo Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương và Dinh Khâm sứ Trung Kỳ ấn hành tại Huế thời kỳ 1902-44, mỗi tháng hai số.

Bulletin bi-mensuel – Chambre de commerce de Saïgon : tập san Pháp ngữ do Phòng Thương mại Sài Gòn (Chambre de commerce de Saigon) xuất bản nửa tháng một số tại Sài Gòn từ năm 1925 đến tháng 3-1945; là ấn bản tiếp theo của Bulletin de la Chambre de commerce de Saïgon; thí dụ trong đó có các số: …61e Année: A61-N1 (15-1-1928), A61-N2 (31-1-1928), A61-N3 (15-2-1928), A61-N4 (29-2-1928), A61-N5 (15-3-1928), A61-N6 (31-3-1928), A61-N7 (15-4-1928)…

Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient (BEFEO- Tập san Viễn Đông Bác Cổ học viện): tạp chí Pháp ngữ ấn hành tại Hà Nội 1901-56; cộng tác bài vở chủ yếu là các tác giả ngoại quốc; người Việt cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp…

Bulletin de la Chambre de commerce de Saïgon (Tập san Phòng Thương mại Sài Gòn): tập san Pháp ngữ do Phòng Thương mại Sài Gòn (Chambre de commerce de Saigon) xuất bản nửa tháng một số tại Sài Gòn từ năm 1869 đến 1925; quyết định thành lập đề ngày 8-11-1860; thí dụ trong đó có các số: …13e Année: …A13-N13 (20-6-1881), …A13-N15 (18-7-1881), …A13-N18 (29-8-1881), A13-N19 (12-9-1881), …A13-N23 (10-11-1881)…; đến năm 1925 đổi thành Bulletin bimensuel-Chambre de commerce de Saïgon.

Bulletin de la Commission Archéologique de l’Indochine (Tạp chí của Uỷ ban Khảo cổ Đông Dương): tạp chí Pháp ngữ ấn hành tại Paris, khoảng 1911-44; cộng tác bài vở chủ yếu là các tác giả ngoại quốc.

Bulletin de la Société d’Enseignement mutuel de la Cochinchine: tên Pháp của báo quốc ngữ Kỷ yếu của Hội Khuyến học Nam Kỳ.

Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin (Tập kỷ yếu của Hội Trí Tri Bắc Kỳ): tập san Pháp ngữ do Hội Trí Tri Bắc Kỳ (Société d’enseignement mutuel du Tonkin) xuất bản mỗi quý một số tại Hà Nội, từ năm 1920 đến 1944; chủ trương nghiên cứu về văn hóa Việt Nam; tòa soạn đặt tại trụ sở Hội Trí Tri, số 59 phố Hàng Đàn (nay là 47 phố Hàng Quạt), Hà Nội; ấn hành 3 tháng mỗi số, tức mỗi năm ra 4 số; trong đó: Năm 1920: Tập 1-Số 1 (Tomme 1-No 1) ra tháng 1-1920, T2-N2 (4-1920)…, …Năm 1922: T3-N1 (quý 1-1922), T3-N2 (quý 2-1922), T3-N (quý 3-1922), T3-N4 (quý 4-1922), …Năm 1923: …T4-N4 (quý 4-1923), …tập cuối ra khoảng năm 1944.

Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin : tên Pháp của tập san quốc ngữ Kỷ yếu của Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

Bulletin de la Socitété des Études Indochinoises de Saigon (Tập san của Hội Nghiên cứu Đông Dương tại Sài Gòn): tạp chí Pháp ngữ đặt tại Sài Gòn, hoạt từ năm 1883; đến năm 1959 bỏ bớt chữ Saigon để trở thành Tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises), tiếp tục hoạt động cho đến năm 1975 thì tạp chí BSEI ngừng hoạt động; các học giả người Việt cộng tác bài vở thời kỳ 1883-1945 gồm: Đoàn Quan Tấn, Lê Văn Phúc, Trần Văn Giáp, Trương Vĩnh Ký…

Bulletin de police criminelle de Cochinchine (Thông báo hình cảnh Nam Kỳ): tập san Pháp ngữ do Sở Cảnh sát thuộc Nha Hành chánh và tư pháp Nam Kỳ ấn hành mỗi tuần, từ năm 1929 đến 1944 tại Sài Gòn; nội dung báo cáo tình hình trật tự trị an, tội phạm, và liệt kê danh sách chi tiết các đối tượng nguy hiển, tội phạm, truy nã…

Bulletin des Amis du Laos (Tạp chí Những người bạn của Lào): tạp chí Pháp ngữ khoảng 1937-40.

Bulletin des Amis du vieux Huế (BAVH – Đô Thành Hiếu Cổ Tập San, hay Tập san Những người bạn Huế; 1914-44): tạp chí Pháp ngữ, chuyên khảo cứu về lịch sử, chánh trị, tôn giáo, kinh tế, văn hóa nghệ thuật và xã hội Việt Nam; là cơ quan ngôn luận của Hội Đô Thành Hiếu Cổ (L’Association des Amis du Vieux Huế); đặt tòa soạn chánh tại Huế, có chi nhánh ở Sài Gòn và Hà Nội; do linh mục Léopold Cadière, học giả Edmond Gras, cùng với một số học giả người Việt thành lập tại Huế năm 1914; chủ bút Léopold Michael Cadière (1914-1944); mỗi năm 4 số; ra được 122 số và bị đình bản vào năm 1944 do biến động chánh trị xã hội; Số 1 ra năm 1914; số cuối cùng ra năm 1944; đã được nhiều học giả người Pháp và Việt cộng tác bài vở, trong đó có: A. Sallet (bác sĩ, 1914), Bùi Thanh Vân (1920), Bùi Văn Cung (1920-24), Chapuis, Đào Duy Anh, Đào Đăng Vỹ (1938), Đào Thái Hanh (1914-15), Đặng Ngọc Oánh (1915-18), H. Peyssonnaux (1920), Hoàng Yến (1917-19), Hồ Đắc Hàm (1916-33), Hồ Đắc Khải (1916-25), Hồ Phú Viên (từ 1915), P. J. Kiêu, L. Sogny (1915-24), Lê Khắc Thử (1920-27), Lê Quang Phước (1939), Lê Thanh Cảnh (1928-37), Morineau, Ngô Đình Diệm (1917-19), Ngô Đình Khả (từ 1916), Ngô Đình Khôi (từ 1916), Nguyễn Đình Hòe (1914-22), Nguyễn Đôn (1915-18), Nguyễn Phước Bửu Trưng (Bửu Trưng), Nguyễn Phước Ưng Gia (Ưng Gia, 1918-28), Nguyễn Phước Ưng Hạng (Ưng Hạng, 1928), Nguyễn Phước Ưng Trình (Ưng Trình, 1915-19), Nguyễn Thiệu Lâu (1941), Nguyễn Tiến Lãng (1938-39), Nguyễn Văn Hiền (1915), Nguyễn Văn Trình (1916-17), Phạm Quỳnh (1936), Phạm Việt Thương (từ 1941), Pirey (linh mục), R. Orband (1917), Tôn Thất Hân (1920-27), Tôn Thất Quảng (từ 1916), Tôn Thất Sa (họa sĩ), Trần Đình Nghi (1920), Trần Xuân Soạn, v.v… (xem thêm về Các tác giả viết bằng Pháp ngữ).

Bulletin des Études Indochinoises (Tạp chí Nghiên cứu Đông Dương): tạp chí Pháp ngữ tại Hà Nội, khoảng 1904.

Bulletin des Renseignements coloniaux : báo Pháo ngữ tại Sài Gòn; do phó thống đốc Nam Kỳ Ernest Outrey thành lập và làm giám đốc chánh trị; hoạt động từ 1918 đến khoảng 1936.

Bulletin du Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine (Tạp chí của Uỷ ban Canh nông và Kỹ nghệ Nam Kỳ): công báo Pháp ngữ, do đô đốc Roze thành lập tại Sài Gòn; hoạt động thời kỳ 1865-82; trong 18 năm đã ấn hành 21 tập, với những tập đầu in tại Paris; trợ bút là Trương Vĩnh Ký; đến năm 1882 CAIC chuyển đổi thành Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Etudes Indochinoises), và tạp chí BCAIC cũng đổi thành Tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương tại Sài Gòn (Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises de Saigon).

Bulletin du Secrétariat du gouvernement de la Cochinchine (Công báo của Ban Thư ký Chánh phủ Nam Kỳ): công báo Pháp ngữ ấn hành tại Sài Gòn từ khoảng năm 1902 đến 1944.

Bulletin du Service Géologique de l’Indochine (Tập san Sở Địa dư Đông Dương): tạp chí Pháp ngữ đặt tại Hà Nội, hoạt động thời kỳ 1902-48; trong đó người Việt cộng tác bài vở thời kỳ 1902-45 gồm: Lê Văn Phúc…

Bulletin économique de l’Indo-Chine (Công báo kinh tế Đông Dương): công báo Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi tháng một số tại Hà Nội, thời kỳ 1897-1944.

Bulletins et Travaux, Institut Indochinois pour l’Etude de l’Homme (Bản tin Viện Nghiên cứu con người Đông Dương): công báo Pháp ngữ đặt tại Hà Nội, khoảng 1940-45; người Việt cộng tác bài vở gồm: Ngô Quý Sơn…

Bulletin fiduciaire de l’Indochine : tập san Pháp ngữ do ‘Société Indochinoise de cotrôle et de gestion’ xuất bản mỗi quý một số tại Sài Gòn từ năm 1934 đến tháng 3-1945; tòa soạn đặt tại số 35, Boulevard Charner, Saigon; giá mỗi số 1$, một năm 4 số 3$; trong đó: N1 (quý 1-1934), N2 (quý 2-1934), N3 (quý 3-1934), N4 (quý 4-1934)…

Bulletin financier de l’Indochine (Organe de défense et d’expansion des intérêts économiques de la colonie): tuần san Pháp ngữ do Société d’Etudes Economiques Cochinchinoises xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1910; tòa soạn đặt tại số 16, rue Colombert, Saigon; giá một số 20 xu; đến tháng 1-1927 sáp nhập với phụ bản của nó là tuần báo L’Indochine nouvelle thành tuần san Bulletin financier de l’Indochine et L’Indochine nouvelle réunis; từ tháng 6-1927 lại tách ra như cũ; trong đó: …16e Année: …A16-N724 (2-1-1925), A16-N725 (9-1-1925), A16-N726 (16-1-1925), …A16-N728 (30-1-1925), …A16-N730 (6-2-1925), A16-N731 (13-2-1925), …A16-N771 (4-12-1925), A16-N772 (11-12-1925), A16-N773 (18-12-1925)…

Bulletin financier de l’Indochine et L’Indochine nouvelle réunis (King tsi tcheou pao Tchong wen pou): tuần báo Pháp ngữ kết hợp chung của hai tờ tuần báo Bulletin financier de l’IndochineL’Indochine nouvelle trong thời gian từ tháng 1 đến 6-1927 ở Sài Gòn, sau đó tách ra như cũ.

Bulletin général de l’ Instruction publique (Tạp chí Giáo dục công lập): tạp chí Pháp ngữ đặt tại Hà Nội, hoạt động khoảng 1941-45; người Việt cộng tác bài vở gồm: Dương Quảng Hàm…

Bulletin hebdomadaire de la Compagnie franco-indochinoise de radiophonie…: xem: Radio-Saïgon.

Bulletin municipal de la ville de Hanoï : nguyệt san Pháp ngữ xuất bản tại Hà Nội từ năm 1915 đến 1944; trong đó: …Năm 1922: N1 (1-1922), N2 (2-1922), N3 (3-1922), …N9 (9-1922)…

Bulletin officiel de l’ Cochinchine (Công báo Nam Kỳ): công báo Pháp ngữ do Dinh Thống đốc Nam Kỳ ấn hành mỗi tháng tại Sài Gòn thời kỳ 1881-88; đến năm 1888 nhập vào Công báo Đông Dương (Bulletin officiel de l’ Indochine Francaise).

Bulletin officiel de l’ Indochine Francaise (Công báo Đông Pháp): công báo Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành tại Sài Gòn từ năm 1888 đến 1901 và tại Hà Nội từ năm 1902 đến 1944; trong đó thời kỳ 1888-1901 in mỗi tháng gồm 2 tập: Tập 1-Nam Kỳ và Cambodge, Tập 2- Bắc Kỳ và Trung Kỳ; từ năm 1902-44 mỗi tháng in chung 1 tập cho toàn Đông Dương; nội dung đăng tải những nghị định, quy định, luật pháp và những thông tin nhà nước của Chánh phủ Pháp ở Paris, của Chánh phủ Đông Dương và các kỳ xứ.

Bulletin officiel de la Cochinchine française (Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp): công báo Pháp ngữ ấn hành tại Sài Gòn từ năm 1863 đến khoảng 1882, đăng những thông tin phục vụ cuộc chiếm đóng và cai trị thời kỳ đầu tại Nam Kỳ; đến năm 1881 được thay thế bằng Bulletin officiel de l’ Cochinchine (Công báo Nam Kỳ).

Bulletin officiel en Langue Annamite : tên Pháp ngữ của công báo quốc ngữ Nam Triều Quốc Ngữ Công Báo.

Bút Mới : tuần báo ấn hành tại Sài Gòn trong năm 1941; số cuối là Số 22, ra tháng 7-1941; cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ, Phi Vân (Lâm Thế Nhơn)…

Bước Tới (En Avant!): tuần báo công khai của Cộng Sản Đệ Tam, hoạt động từ tháng 6-1937 ở Hà Nội, đến cuối năm đó bị đình bản. Vào năm 1930, Cộng Sản Đệ Tam cũng phát hành một tờ báo Bước Tới (En Avant!) nhưng chỉ ra được vài số từ 1-5-1930, tự in và lưu hành bí mật mỗi số vài chục bản.

Canh Nông Luận : báo xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1929-45; năm 1937 đánh số lại Số 1 bộ mới.

Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ : cơ quan ngôn luận của phái Cao Đài Tiên Thiên, do Thiên Bồng nguyên soái Lê Kim Tỵ thành lập và điều hành ở Tây Ninh và Sài Gòn thời kỳ 1938-40.

Cao Đài Tạp Chí : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Revue Caodaiste.

Causeries sur lagriculture et le commerce : tên Pháp của báo quốc ngữ Nông Cổ Mín Đàm.

Cái chuông rè : tên Việt của báo Pháp ngữ La Cloche Fêlée.

Cáo trình các làng xã : tên Việt của công báo Hán ngữ/Pháp ngữ Le Bulletin des Communes.

Causeries sur lagriculture et le commerce : tên Pháp của báo quốc ngữ Nông Cổ Mín Đàm.

Cẩm Thành Tạp Chí : đặt tại đường Route Coloniale, Quảng Ngãi; ấn hành mỗi tháng hai kỳ; chủ nhiệm Nguyễn Đình Nhân; Số 1 ra ngày 15-4-1936.

Cấp Tiến : báo tranh đấu của nhóm Đệ Tam Quốc Tế, đặt tại Hà Nội, xuất bản ở Trung và Bắc Kỳ năm 1938; cộng tác bài vở gồm: Trần Văn Thái (truyện ngắn)…

Cậu Ấm (Cậu Ấm Cô Chiêu): báo thiếu niên nhi đồng, do nhà giáo Thái Phỉ (Nguyễn Đức Phong) thành lập và điều hành tại Hà Nội từ đầu năm 1935; đến 15-5-1935 đổi tên là Cậu Ấm Cô Chiêu; ra Số cuối 429 tháng 11-1937; chủ nhiệm Thái Phỉ; chủ bút Tam Lang (Vũ Đình Chí); cộng tác bài vở gồm: Nam Hương (Bùi Huy Cường), v.v…

Chambre de commerce de Saïgon : xem: Bulletin de la Chambre de commerce de Saïgon (1869-1925); Bulletin bi-mensuel – Chambre de commerce de Saïgon (1925-45).

Chantecler (Littéraire, satirique, humoristique/Politique, satirique, humoristique): tạp chí văn chương, chánh trị, châm biếm, hài hước, xuất bản tại Hà Nội từ năm 1932 đến khoảng 1939; tòa soạn đặt tại số 1, Avenue du Grand Bouddha, Hanoi; giám đốc chính trị C.I. Achard; giá mỗi số 30 xu; lúc đầu là tuần san, từ số 9 biến thành bán nguyệt san; trong đó: A1-N1 (17-4-1932), A1-N2 (24-4-1932), A1-N3 (1-5-1932), …A1-N7 (29-5-1932), A1-N8 (6-5-1932), A1-N9 (19-6-1932), A1-N10 (3-7-1932), A1-N11 (17-7-1932)…

Chantecler revue (Hebdomadaire illustrée): tuần san minh họa văn chương, chánh trị, châm biếm, hài hước, xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1932; trong đó: …N29 (12-5-1934), N30 (12-5-1934), N1 (12-5-1934), N2 (19-5-1934), N3 (26-5-1934), N4 (1-6-1934), N5 (8-6-1934), …N11 (21-7-1934), N12 (28-7-1934), N13 (4-8-1934), …N25 (3-11-1934), N26 (10-11-1934), N27 (17-11-1934)…

Chân Lạc : báo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1935.

Chân Thanh (Revue scolaire de perfectionnement): báo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1934.

Chemins de Fer – Statistiques de l’année (Niên giám thống kê ngành hỏa xa): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm tại Hà Nội, thời kỳ khoảng 1912-44.

Chiến binh : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Militant.

Chiều Á Châu : tên Việt của nhật báo Pháp ngữ Le Soie d’Asie.

Chính Nghĩa : tuần báo của Việt Nam Quốc Dân Đảng, xuất bản ở Hà Nội từ tháng 8-1945.

Chỉ Trích : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.

Chống Đế-Quốc Chủ-Nghĩa (Contre l’Impérialisme): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Chớp Bóng : báo về điện ảnh, xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1932-45.

Chroniques Vietnamiennes : xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Chuyện Đời : tuần báo ra ngày thứ bảy hàng tuần, do Lê Văn Hoàng thành lập và chủ nhiệm tại Hà Nội năm 1938-39; quản lý Nguyễn Văn Sự.

Chuyện Ngắn Nhi Đồng : báo xuất bản ở Sài Gòn trong hai năm 1935-36.

Chúa Nhựt (Chúa Nhựt Tuần Báo): tuần báo ấn hành tại Sài Gòn từ năm 1940, lúc đầu có tên là báo Chúa Nhựt, sau đó đổi thành Chúa Nhựt Tuần Báo; ra số cuối 63 vào tháng 8-1941. 

Chủ Nhật Tuần Báo : tuần san văn chương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn ấn hành tại Hà Nội từ tháng 10-1940; ra được 5 số, đến 16-11-1940 thì đình bản; ban biên tập gồm: Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh); cộng tác bài vở gồm: Thành Kỉnh (Tạ Thành Kỉnh)…

Chức Dịch Thơ Tín : nội san của giáo hội Thiên Chúa giáo ấn hành tại cơ sở in Kuénot ở Kontum từ năm 1933; đến 1940 đổi thành tập san Tiếng Vang.

Ciné Théâtre : tên Pháp của báo quốc ngữ Kịch Bóng.

Cochinchine  – Budget local pour lexercise (Nam Kỳ-Ngân sách địa phương hàng năm): ấn bản Pháp ngữ do Văn phòng Giám đốc Nội vụ Nam Kỳ và Dinh Thống đốc Nam Kỳ xuất bản hàng năm tại Saigon, 1875-1944.

Communiqué de la presse indochinoise (Thông cáo báo chí Đông Dương): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Compte administratif du budget local du Laos pour l’exercice (Niên giám quản trị ngân sách Lào): niên giám Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành 1904-44.

Compte administratif du budget local du Tonkin exercice (Báo cáo quản lý ngân sách tài khóa của Bắc Kỳ): ấn bản Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương xuất bản hàng năm tại Hà Nội, 1900-44.

Compte-rendu des travaux de la session ordinaire-Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin (Biên bản hội nghị Viện Dân biểu Bắc Kỳ): ấn bản Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương xuất bản hàng năm tại Hà Nội, 1927-44.

Con Ong (l’Abeille): tuần báo trào phúng, châm biếm của nhóm Thượng Sĩ thành lập và điều hành ở Hà Nội, hoạt động trong hai năm 1939-40; cộng tác bài vở gồm: Mộng Tuyết (thơ), Ngô Tất Tố, Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long)…

Conseil des intérêts francais, économique et financiers du Tonkin (Hoạt động của Hội đồng Bảo vệ kinh tế tài chánh Pháp tại Bắc Kỳ – Conseil francais des intérêts économiques et financiers): tập niên giám bằng Pháp ngữ ấn hành mỗi năm tại Hanoi, 1929-43.

Conservation de la paix : tên Pháp của báo quốc ngữ Bảo An.

Correspondance universelle : báo Pháp ngữ tại Sài Gòn; do phó thống đốc Nam Kỳ Ernest Outrey thành lập và làm giám đốc chánh trị; hoạt động từ 1918 đến khoảng 1936.

Courrier de l’Ouest : tên Pháp của báo quốc ngữ An Hà Báo (An Hà Nhựt Báo).

Công Báo : báo ấn hành tại Sài Gòn trong năm 1930, ra số cuối 16 vào tháng 8-1930.

Công báo Đông Pháp : tên Việt của báo Pháp ngữ Bulletin officiel de l’ Indochine Francaise.

Công báo Nam Kỳ : tên Việt của báo Pháp ngữ Bulletin officiel de l’ Cochinchine.

Công Binh Tạp Chí : xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Công Dân : tuần báo do ông Ngọc (?) chủ trương, đặt tại số 11 phố Hàng Da, Hà Nội; Số 1 ra ngày 25-9-1935, Số cuối 16 ra ngày 1-7-1936; cộng tác bài vở gồm: Ngô Tất Tố, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng…

Công Dân : nhật báo tại Sài Gòn; Số 1 ra ngày 2-11-1938, Số cuối 34 ra tháng 12-1938.

Công Giáo Đồng Thinh (La voix des missions catholiques, 1927-30): báo xuất bản ở Sài Gòn; trong đó: …Số 154 ra ngày 5-4-1928.

Công Giáo Tiến Hành : báo xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1936-39.

Công Ích Toàn Thơ : nguyệt san đặt tại số 172-174, đường d’Espagne, Sài Gòn; in tại Nhà in Á Đông trên đường Des Marins, Chợ Lớn; khổ báo 13×19 cm; chủ bút Cao Hải Để (1924-26); nội dung báo chia làm 5 khoa gồm ‘khảo cứu, bổ quốc văn, tạp sử, vệ sanh và tiểu thuyết’; Số 1 ra tháng 8-1924; hoạt động đến khoảng 1926; cộng tác bài vở gồm: Cao Hải Để, Cao Hải Nhạc, Mộng Xuân, Phạm Trung Chánh, Trương Minh Y…

Công Luận/Công Luận Báo (L’Opinion; 1916-22, 1922-39): bán tuần san Công Luận, là bản Việt ngữ của báo Pháp ngữ L’Opinion xuất bản ở Sài Gòn; đặt tòa soạn tại số 13-15 rue Catinat (~đường Tự Do/Đồng Khởi), Saigon, chung với báo L’Opinion; đến năm 1921 cùng chuyển tòa soạn về số 146 rue Pellerin (~đường Pasteur); đến năm 1922 mở thêm văn phòng tại số 71 rue Catinat; lúc đầu mỗi tuần ra hai kỳ vào thứ ba và thứ sáu; đến năm 1918 phát triển thành nhựt báo và lấy tên chánh thức là Công Luận Báo; đến thời kỳ 1922-39 lại gọi là báo Công Luận; trong đó: Số 1 ra ngày 29-8-1916, …Số 378 (28-1-1921), …Số 419 (8-7-1921), Số 420 (12-7-1921), …Số 422 (26-7-1921), Số 423 (29-7-1921), …Số 425 (5-8-1921), …Số 427 (12-8-1921), …Số 430 (26-8-1921), …Số 433 (6-9-1921), … Số cuối ra tháng 10-1939, tổng cộng đã phát hành được 9.021 số; đây có lẽ là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam dành riêng một trang về văn thơ; giám đốc L.Héloury; các đời tổng lý (chủ nhiệm): … Nguyễn Kim Đính, Lê Hoằng Mưu (1924)…; các đời chủ bút gồm: Lê Sum (1916-22), Cao Văn Chánh (Thạch Lan, 1922-23), Nguyễn Háo Vĩnh (tháng 1 đến 11-1923), …Nguyễn Thế Phương (Nam Đình, tháng 4 đến 10-1926), Nguyễn Đức Nhuận (Phú Đức, 10-1926 đến 8-1931)…; cộng tác bài vở gồm: Biến Ngũ Nhy (Nguyễn Bính, 1917-22), Bửu Đình, Cẩm Tâm nữ sĩ, Chấn Phong (Đoàn Thanh), Diệp Văn Kỳ, Dương Minh Đạt, Đào Trinh Nhất (Quán Chi, 1929-39), Đào Văn Châu (1922), Đặng Thúc Liêng (từ 1922), Hồ Văn Hiến (Viên Hoành), Hồ Văn Lang, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Lê Cương Phụng (Tùng Lâm), Lê Hoằng Mưu, Lưu Thoại Khải (Việt Đông, 1930-31), Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu), Nguyễn Đức Nhuận (Phú Đức), Nguyễn Háo Vĩnh, Nguyễn Hữu Ngỡi (Tân Dân Tử), Nguyễn Phước Bửu Đình (Hà Trì), Nguyễn Thế Phương (Nam Đình), Nguyễn Trọng Trí (Hàn Mặc Tử), Nguyễn Văn Sỏi (Bồng Dinh, Giáo Sỏi, Liêm Khê, Thanh Phong), Trần Quang Nghiệp (1928-32), Trần Tấn Quốc (1938-39)…

Công Lý : tên Việt của báo Pháp ngữ Justice.

Công Nghệ Thương Mại : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.

Công Nhân : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1938.

Công Nông Hiệp Nhứt (Fédération des Syndicats): tạp chí do Đệ Tứ Quốc Tế phát hành công khai tại Sài Gòn trong năm 1938; trong đó: …Số 4 ra ngày 10-5-1938.

Công Thị Báo : báo in bằng Hán ngữ; do Francois-Henri Schneider sáng lập và làm giám đốc; hoạt động từ tháng 11-1914 đến cuối năm 1915; chủ bút Nguyễn Bá Trác (Tiêu Đẩu, 1914-1915).

Công Thương (Công Thương Báo): báo xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 (đặc biệt, Tết) ra cuối tháng 1-1935; chủ nhiệm Hồ Văn Sao. 

Cố Gắng : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Effort.

Cuốn sách của học trò : tên Việt của tập san Pháp ngữ Le livre du petit.

Cùng Bạn : báo đặt tại Sài Gòn; Số 1 ra ngày 3-5-1933, Số cuối 11 ra ngày 23-2-1933.

Cười : tuần báo trào phúng do Lê Thành Tuyển và Trần Thanh Mại chủ trương tại Huế năm 1936; cộng tác bài vở gồm: Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), v.v…

Cứu Quốc : báo của Tổng bộ Việt Minh xuất bản trong vùng cộng sản từ ngày 25-1-1942; lúc đầu do Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương Đảng phụ trách, sau giao cho Xứ ủy Bắc Kỳ (Nguyễn Khang, Lê Quang Đạo), từ giữa năm 1944 do Xuân Thủy phụ trách; đến năm 1954 thì giải thể.

Dân : báo xuất bản tại Huế, là ‘cơ quan liên hiệp tất cả các lực lượng cấp tiến trong xứ’, của nhóm Dân biểu xã hội trong Viện Dân biểu Trung Kỳ (gồm Hoàng Văn Khải-viện trưởng, Nguyễn Xuân Cát – thư ký viện, Nguyễn Đan Quế – dân biểu thường trực viện, và các dân biểu Phan Thanh, Huỳnh Văn Dậu, Nguyễn Đình Diễn… chủ trương). Trong đó, Nguyễn Trác làm giám đốc chánh trị, Nguyễn Đan Quế làm quản lý. Người viết gồm: Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, Lâm Mộng Quang, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Cửu Thạnh, Hải Thanh, Lê Bôi, Hà Thế Hạnh, Sơn Trà, Trịnh Xuân An, Tố Hữu, Phan Đăng Lưu… Hoạt động thời kỳ từ 6-7-1938 đến 7-10-1938, lúc cao nhất phát hành 8.000 bản.

Dân Báo : báo đối lập, xuất bản ở Hà Nội trong năm 1927, Số cuối 16 ra tháng 5-1927; trợ bút: Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân).

Dân Báo : nhật báo xuất bản ở Sài Gòn; giám đốc là Trần Văn Hanh (chủ nhân nhà in và nhà xuất bản Tín Đức Thư Xã); Ban biên tập gồm: Tế Xuyên (từ 1943), Thinh Quang (từ 1943), Viên Hoành (từ 1943); cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Sinh, Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1940-45)…; Số 1 ấn hành năm 1939, đến sau số 1123 (ngày 4-5-1945) thì đổi thành Số 1 bộ mới, phát hành tiếp đến cuối năm 1945.

Dân Chúng : báo xuất bản tại Sài Gòn, do Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bí mật thành lập và điều khiển; Số 1 ra ngày 22-7-1938, Số cuối 80 ra ngày 30-8-1939.

Dân Chúng Tuần Báo : sau khi báo Dân Chúng tại Sài Gòn bị đóng cửa (30-8-1939), Cộng sản Đệ Tam thành lập tiếp Dân Chúng Tuần Báo tại Hà Nội, hoạt động từ tháng 12-1939 đến 18-4-1941 thì đình bản; chủ bút Tam Lang (Vũ Đình Chí).

Dân Đen (Le Peuple noir): báo do Điền Ngọc Phụng thành lập và điều hành trong năm 1937 tại Sài Gòn.

Dân Mới (Le Peuple nouveau): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Dân Mới : nhật báo do Nguyễn Bảo Toàn thành lập và điều hành ở Sài Gòn thời kỳ 1938-39, chủ trương đối lập với chánh quyền Pháp; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Vạn An, Viễn Châu (Huỳnh Trí Bá, truyện ngắn, từ 1942).

Dân Muốn : báo xuất bản Sài Gòn từ 27-12-1938 đến 1-1939, có khuynh hướng đối lập; do Lưu Quý Kỳ làm thư ký tòa soạn (lúc này không phải thuộc Cộng sản Đệ tam).

Dân Nam : báo xuất bản tại Sài Gòn năm 1939.

Dân Quyền : nhật báo đối lập và tranh đấu của Candrieux thành lập ở Sài Gòn; Số 1 ra ngày 20-6-1935, Số cuối 357 ra ngày 7-9-1936; phóng viên gồm: Hoàng Trọng Miên (1935-36); cộng tác bài vở gồm: Dương Bạch Mai, Hoàng Trọng Miên, Hồ Văn Hiến, Nguyễn Văn Nguyễn (1935-36), Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn Văn Tạo, Phan Văn Hùm, Thanh Nghị (Hoàng Trọng Quỵ), Thúc Tề, Trần Thanh Địch…

Dân Sanh : báo do ký giả Phan Văn Thiết ( Lan Đình, Thân Việt) thành lập và điều hành thời kỳ 1938-39 tại Sài Gòn.

Dân Tiến : là ‘cơ quan liên hiệp các lực lượng cấp tiến’ ở Nam Kỳ, xuất bản ở Sài Gòn từ 27-10-1938 đến 22-12-1938; do Lưu Quý Kỳ làm thư ký tòa soạn.

Dân Tiệp : báo xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1936-42.

Dân Tộc An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ La Nation Annamite.

Diễn Đàn Bản Xứ : tên Việt của báo Pháp ngữ La Tribune Indigène.

Diễn đàn Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ La Tribune Indochinoise.

Discours du Gouverneur de l’Indochine (Discours prononcé par M…, Gouverneur général de l’Indochine, à l’ouverture de la session ordinaire du Conseil supérieur…): tạp chí của Phủ Toàn quyền Đông Dương xuất bản; lúc đầu do các nhà in Imprimerie Coloniale (1890-1903), Imprimerie de Ménard et Rey (1904-05) in và phát hành từ Sài Gòn, từ năm 1907 thì do nhà in Imprimerie d’Extrême-Orient in và phát hành từ Hà Nội; trong đó có các ấn bản phát hành ngày …28-8-1903, 25-8-1904, 11-12-1905, …12-12-1908, 27-11-1909, 29-10-1910…

Dịch thuật : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Traducteur.

Duy Tâm : tạp chí do Lưỡng Xuyên Phật Học Hội thành lập tháng 7-1935; tòa soạn đặt tại chùa Long Phước, Trà Vinh; các đời chủ nhiệm: Thích Khánh Hòa (tháng 7 đến 10-1935), Thích Huệ Quang (từ tháng 10-1935); chủ bút là bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe; quản lý Trần Huỳnh.

Duy Tân : báo do Nguyễn Đình Thấu thành lập năm 1931 ở Hà Nội, số cuối là Số 21 ra tháng 11-1931; chủ trương ‘mở đầu cho một khuynh hướng văn nghệ mới’; thư ký tòa soạn Phùng Tất Đắc (Lãng Nhân)…

Dư Luận Tuần Báo : báo văn chương và mỹ thuật ấn hành tại Sài Gòn năm 1940, số cuối là Số 9 ra tháng 12-1940.

Đàn Bà : tuần báo ra ngày thứ sáu hàng tuần; do Thụy An (Lưu Thị Yến, là vợ nhà báo Băng Dương) thành lập và làm chủ nhiệm ở Hà Nội; tòa soạn đặt tại số 76, rue Wielé, Hanoi; Số 1 ra ngày 24-3-1939, số cuối ra tháng 7-1945; cộng tác bài vở gồm: Bà Nguyễn Hảo Ca, Bà Phan Quang Định, Cô Trinh, Duyên Hà, Đạm Phương nữ sử, Hằng Phương, Lê Doãn Vỹ (Cẩm Thạch), Mã Giang Tử (Trần Đức Lai), Mộng Sơn (giữ mục ‘Đàn Bà đọc sách’, 1940-45), Ngân Giang (thơ), Nguyễn Thị Lan, Phạm Ngọc Châu, Thu Linh, Vân Đài…

Đàn Bà Mới : tuần báo ấn hành ngày thứ bảy hàng tuần; báo quán đặt tại số 1 rue Leman, Sài Gòn, và số 49 rue Gallent, Sài Gòn; thành lập, chủ nhiệm kiêm chủ bút là Thụy An (Lưu Thị Yến); giám đốc chính trị Băng Dương (là chồng bà Lưu Thị Yến); quản lý Bùi Thị Hiến; cộng tác bài vở gồm: Bích Mai, Chung Thị Vân, Hồng Nhật, Song Nga, Thu Vân…; giá báo mỗi số 0$10, 1 năm 5$, nửa năm 2$60, ba tháng 1$35; Số 1 ra ngày 1-12-1934; …Số 55 (28-3-1936), …Số 76 (17-8-1936), …Số 95 (4-6-1937) là số cuối.

Đàn Văn : tuần san tại Sài Gòn; số 1 ra ngày 16-5-1935, ra được 7 số thì đình bản (7-1935).

Đại Chúng : nhật báo của Đệ Tứ Quốc Tế xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1938, hoạt động đến năm 1951; thời kỳ 1944-45 có thêm một chi nhánh là nhật báo đặt tại Hà Nội; cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ, Trần Văn Thái (truyện ngắn)…

Đại Đạo : báo của Đạo Cao Đài, xuất bản ở Sài Gòn năm 1936-37.

Đại Đồng : báo của Đạo Cao Đài, xuất bản ở Sài Gòn năm 1938.

Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo : xem Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo.

Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo (1891-1907): Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo là tờ nhật báo đầu tiên bằng Hán ngữ xuất bản tại Hà Nội từ cuối năm 1891, và cũng là tờ nhật báo đầu tiên ở Việt Nam. Người sáng lập là nhà tư bản Pháp Francois Henri Schneider làm chủ nhiệm. Chủ bút là Dương Lâm (1891-92) và Đào Nguyên Phổ (1892-1907). Nhân viên và cộng tác bài vở gồm Kiều Oánh Mậu (1891-1907), v.v… Đây là một công báo, thường dịch đăng các nghị định, chỉ thị, thông báo của chánh quyền và Phủ Thống sứ Bắc Kỳ và những lời hiểu dụ, tuyên truyền cho đường lối của Pháp, ngoài ra có một số tin tức, văn chương. Đến năm 1907, Đào Nguyên Phổ và các đồng chí trong phong trào Duy Tân muốn biến tờ báo này thành cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục, nên lấy cớ báo bán không chạy để đề nghị với chủ báo F.H. Schneider cho in thêm phần quốc ngữ trên báo. Kể từ số 793 ngày 28-3-1907, báo đổi từ nhật báo thành tuần báo, in song ngữ Hán-Việt và ghi thêm tên bằng quốc ngữ là Đại Nam (Đăng Cổ Tùng Báo) bên cạnh tên Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo bằng Hán ngữ; trong đó phần Hán ngữ do Đào Nguyên Phổ làm chủ bút; phần quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, Phan Kế Bính trợ bút. Chủ nhiệm vẫn là H.F. Schneider. Cộng tác bài vở gồm: Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi (1907)… Từ đó báo trở thành tuần báo nghị luận xã hội, hô hào mở mang công thương nghiệp theo mô hình chủ nghĩa tư bản, lợi dụng chủ trương Pháp Việt  đề huề để cổ võ cho phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục. Báo tồn tại chỉ thêm tám tháng, bị đình bản sau khi ra số cuối 826 (14-11-1907).

Đại Nam Nhật Báo : nhật báo ấn hành từ tháng 4-1888, tại Hà Nội.

Đại Việt Tạp Chí (1918-42): bán nguyệt san do Hồ Văn Trung và Hội Khuyến học Long Xuyên thành lập tại Long Xuyên tháng 1-1918; năm sau-1919 chuyển về Sài Gòn; chủ nhiệm: …Hồ Văn Trung (1942)…; chủ bút: Đốc phủ Liêm (Lê Quang Liêm, 1920-21), Hồ Biểu Chánh (1918-20, 1921-43); cộng tác bài vở gồm: Đặng Thúc Liêng (1919-45), Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung), Hồ Văn Hiến (Viên Hoành), Hồ Văn Lang (Thất Lang), Lê Thọ Xuân (Lê Văn Phúc), Lý Vĩnh Khuông (Khuông Việt), Ngạc Xuyên (Ca Văn Thỉnh), Thiếu Sơn (Lê Sỹ Quý), Thượng Tân Thị (Phan Quốc Quang, thơ)..; từ 1942 báo đổi bộ mới thành Đại Việt Tập Chí.

Đại Việt Tân Báo (L’Annam, 1905-07): là báo song ngữ Hán-Việt, và cũng là tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra đời ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Báo quán đặt tại số 90, phố Hàng Mã, Hà Nội; do Alfred-Ernest Babut thành lập và làm chủ nhiệm; chủ bút là Đào Nguyên Phổ. Số 1 ấn hành năm 1905; in bằng Hán ngữ và quốc ngữ thành hai cột theo chiều dọc mỗi trang. Báo đã đăng những bài xã luận đầu tiên của Phan Châu Trinh. Sau khi Babut biết đến đường lối tranh đấu ôn hòa của Phan Châu Trinh liền mời ông về cộng tác với báo, đồng thời cho phép Đại Việt Tân Báo làm cơ quan ngôn luận không chánh thức của Đông Kinh Nghĩa Thục. Từ tháng 3-1907, Đào Nguyên Phổ biến Đại Việt Tân Báo và Đăng Cổ Tùng Báo thành cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục nên đến tháng 11-1907 thì cả hai tờ báo đều bị chánh quyền đình bản.

Đại Việt Tập Chí (1942-45): là Đại Việt tạp chí bộ mới; do Hồ Văn Trung chủ trương tại Sài Gòn; mỗi tháng ra hai kỳ; giám đốc kiêm chủ nhiệm Hồ Văn Trung; quản lý Hồ Văn Kỳ Trân; cộng tác bài vở gồm: Đặng Thúc Liêng (1919-45), Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung), Lê Sỹ Quý (Thiếu Sơn, 1943-44), Lê Thọ Xuân, Lý Vĩnh Khuôn (Khuông Việt, 1942-43), Ngạc Xuyên (Ca Văn Thỉnh), bác sĩ Ngô Quang Lý, Nguyễn Hương Trà, Nguyễn Văn Liên, Phạm Thiều, Trúc Hà (1942-43), Thượng Tân Thị (Phan Quốc Quang, thơ), Ung Ngọc Ky (Trường Sơn Chí)…; Số 1 ra ngày 1-10-1942, đến Số 54 (tháng 12-1944) thì do thấy thời cuộc biến động nên Hồ Văn Trung giải thể tờ báo để về quê nghĩ hưu.  

Đăng Cổ Tùng Báo : tuần báo; xem: Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo.

Đất Việt : tập san ấn hành tại Huế trong năm 1938, ra được 5 số thì đình bản tháng 6-1938.

Đèn Nhà Nam : xuất bản ở Sài Gòn, do báo Nữ Giới Chung bị đình bản đổi thành vào năm 1918, ra được 5 số thì đình bản tháng 1-1919.

Đế Thiên Đế Thích : báo xuất bản ở Sài Gòn trong năm 1933.

Điển Tín : tên Việt của báo Pháp ngữ La Dépêche.

Điển Tín (La Dépêche): nhật báo Việt ngữ do Henry Chavigny de Lachevrotière thành lập ở Sài Gòn; báo quán đặt tại số 25 rue Catinat (~đường Tự Do/Đồng Khởi), chung với tờ báo Pháp ngữ La Dépêche; Số 1 ra ngày 15-1-1935, đến tháng 3-1945 đình bản khi Nhật đảo chánh Pháp; cùng với bản Pháp ngữ La Dépêche là tờ báo đạt được số lượng phát hành cao nhất tại Sài Gòn (và cả Đông Dương) thời ấy; chủ nhiệm Lê Trung Cang; các đời chủ bút gồm: Bùi Thế Mỹ (1936), …Trần Tấn Quốc (1940-45); cộng tác bài vở gồm: Chế Lan Viên (1935-45), Đào Trinh Nhất (Quán Chi, 1935-45), Hàn Mặc Tử (1935-38), Hoàng Trọng Miên (1937-45), Hoàng Trọng Quỵ (1937-45), Ngân Giang (Đỗ Thị Quế, 1938-39), Nguyễn Thế Phương (Nam Đình, 1938-45), Thành Kỉnh (Tạ Thành Kỉnh, 1938-45), Trần Tấn Quốc (1938-45)…

Điện Xa Tạp Chí : xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1928.

Đọc : tuần báo ấn hành tại Hà Nội trong hai năm 1938-39, ra được 94 số; chủ nhiệm Nguyễn Văn La; cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ…

Đô Thành Hiếu Cổ Tập San : tên Việt của báo Pháp ngữ Bulletin des Amis du Vieux Huế.

Độc Lập : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.

Độc Lập : báo của Đảng Dân chủ Việt Nam – một tổ chức trực thuộc Đảng Cộng sản in tại Cao Bắc Lạng (1943–45) và tại vùng do cộng sản kiểm soát từ 1945 đến 1990.

Đông Á Tân Văn : tạp chí xuất bản tại Sài Gòn năm 1940, ra được 4 số thì đình bản (11-1940).

Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Indochine; xem báo L’Indochine (1925).

Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ Indochine; xem báo Indochine (1931-45).

Đông Dương : xem: Đông Dương Tuần Báo.

Đông Dương (Báo ~): tên Việt của nhật báo Pháp ngữ La Presse indochinoise.

Đông Dương (Đặc san~): tên Việt của báo Pháp ngữ L’argus Indochinois.

Đông Dương bị xiềng : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Indochine enchaînée (1925-26).

Đông Dương cất cánh : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Essor Indochinois.

Đông Dương Chớp Bóng : báo điện ảnh, đặt tại số 108 Bd de la Somme, Saigon;  Số 1 ra ngày 26-12-1935; giá mỗi số 7 xu; hoạt động đến khoảng 1936.

Đông Dương Đại Pháp Công Nghiệp.

Đông Dương Tả Phái Cộng Sản Báo (La Gauche communiste indochinoise): báo do Nhóm Tả Đối Lập theo đường lối Trotskyist của Tạ Thu Thâu thành lập, phát hành công khai trong năm 1932 tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ và Trung Kỳ; trong đó: …Số 2 ra ngày 8-3-1932.

Đông Dương Tạp Chí (La Revue Indochinoise, 1913-19): tuần báo quốc ngữ dày 16 trang, xuất bản vào thứ năm hằng tuần tại Hà Nội, do cố vấn chánh trị Phủ Toàn quyền Đông Dương Francois Herri Schneider thành lập và Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Lúc đầu, Đông Dương Tạp Chí là một ấn bản đặc biệt, một chi nhánh của tờ Lục Tỉnh Tân Văn, được ghi dưới tiêu đề là ‘ấn bản đặc biệt của Lục Tỉnh Tân Văn tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ’ (Edition spéciale du Lục-Tỉnh-Tân-Văn pour le Tonkin et l’Annam). Số 1 ra ngày 15-5-1913, Số cuối 231 ra ngày 15-6-1919. Ban biên tập Đông Dương tạp chí, về tân học gồm có: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn; về cựu học gồm có: Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Khắc Hiếu (1915-18), Thân Trọng Huề. Thành viên Tòa soạn gồm có: Bùi Xuân Thành, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục… Các văn sĩ cộng tác bài vở gồm: Đoàn Như Khuê (Hải Nam), Khổng Dương (thơ), Lâm Tấn Phác (Đông Hồ), Nguyên Hồng, Nguyễn Bá Học (1918), Nguyễn Đỗ Mục (mục Gõ đầu trẻ, 1913-14), Nguyễn Nhược Pháp, Phùng Tất Đắc (Cố Nhi Tân, Lãng Nhân), Vũ Trọng Phụng, v.v… Bộ I Đông Dương tạp chí từ Số 1 đến Số 85 (31-12-1914) thiên về thời sự, thương mại trong và ngoài nước. Bộ II in khổ nhỏ, ra ngày chủ nhật từ Số 1 (ngày 10-1-1915) đến Số 102 (ngày 31-12-1916) thiên về văn học. Đông Dương tạp chí do Chánh phủ thuộc địa lập ra để tuyên truyền chánh sách thuộc địa và văn minh nước Pháp, nhưng cũng có vai trò to lớn trong phát triển văn hóa, giúp truyền bá và phổ biến chữ quốc ngữ và các tư tưởng Tây phương cũng như Đông phương.

Đông Dương Tạp Chí, tục bản: tuần báo bộ mới tục bản tại Hà Nội; do Nguyễn Giang chủ trương và chủ nhiệm; chủ bút Việt ngữ: Vũ Trọng Phụng; cộng tác bài vở gồm: Lưu Trọng Lư (1938), Nguyễn Nhược Pháp, v.v…; Số 1 ra ngày 15-5-1937, Số cuối là Số 10 ra tháng 9-1939.

Đông Dương tân tạp chí : tên Việt của báo Pháp ngữ La Nouvelle Revue Indochinoise.

Đông Dương Thương Báo : báo xuất bản ở Hà Nội từ năm 1930.

Đông Dương Tuần Báo : tuần báo quốc ngữ và cơ sở xuất bản do nhà thơ Thúc Tề thành lập và điều hành ở Sài Gòn thời kỳ 1938-57; trong đó: …Số 43 ra ngày 25-1-1940, …Số 47 (1-3-1941)…; chủ bút Thúc Tề; cộng tác bài vở gồm: Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí), Lê Ngọc Trụ (1939-41), Ngô Tất Tố, Nguyễn Văn Sinh, Thúc Tề (Nguyễn Thúc Nhuận)…

Đông Pháp : tên Việt của báo Pháp ngữ France-Indochine.

Đông Pháp (1925 đến tháng 3-1945): nhật báo; là ấn bản quốc ngữ của nhật báo Pháp ngữ France Indochine (Edition Annamite de France Indochine), hoạt động tại Hà Nội từ 1925 đến tháng 3-1945; có khuynh hướng thân chánh quyền Pháp; cộng tác bài vở gồm: Đào Trinh Nhất (Quán Chi), Đoàn Phú Tứ, Nam Hương (Bùi Huy Cường), Ngô Tất Tố, Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu), Nguyễn Mạnh Côn (từ 1939), Thinh Quang (từ 1941), Trần Đức Lai (thông tín viên ở Thanh Hóa, 1938-40)…; sau khi Nhật đảo chánh Pháp 9-3-1945, báo bị Nhật đổi tên là Đông Phát và tồn tại đến tháng 8-1945.

Đông Pháp Tạp Chí : tên Việt của nguyệt san Pháp ngữ: Revue France d’ Indochine: Recuell mensuel, historique, archélogique, liltéraire, biographique, touristique et d’ intérêt commecial.

Đông Pháp Thời Báo (Le Courrier Indochinois; 1923-29): báo đối lập do Nguyễn Kim Đính thành lập và điều hành ở Sài Gòn; Số 1 ra ngày 25-3-1923, Số cuối 809 ra tháng 2-1929; mỗi tuần xuất bản ba kỳ; chủ bút gồm: Bùi Thế Mỹ, …Trần Huy Liệu (1927-28); cộng tác bài vở gồm: Ái Lan (Lê Liễu Huê), Bút Trà (Nguyễn Đức Nhuận), Bửu Đình, Cung Giũ Nguyên, Đặng Thúc Liêng, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Hồ Biểu Chánh, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Lan Đình (Bùi Thế Mỹ), Lê Trung Nghĩa, Nguyễn Kim Đính, Phạm Minh Kiên, Phan Khôi, Phan Thị Bạch Vân (Hoàng Thị Tuyết Hoa, trợ bút), Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu, từ 1933), Trần Huy Liệu, Trần Quang Nghiệp (1928), Tuyết Nga, Tùng Lâm (Lê Cương Phụng), Viên Hoành (Hồ Văn Hiến)…; báo đăng nhiều bài đối lập chính quyền nên bị rút giấy phép, ông Đính sang hết cơ sở lại cho Diệp Văn Kỳ thành lập nhật báo Thần Chung.

Đông Phát : do báo Đông Pháp ở Hà Nội bị Nhật đổi tên sau khi Nhật đảo chánh Pháp tháng 3-1945 và tồn tại đến tháng 8-1945.

Đông Phong : tuần báo do Đặng Thúc Liêng và Lê Phát Vĩnh thành lập ở Sài Gòn năm 1944, đình bản tháng 8-1945.

Đông Phương (L’Extrême-Orient): tuần báo xuất bản tại Hà Nội năm 1930.

Đông Phương (Đông Phương Báo): nhật báo xuất bản ở Hà Nội; Số 1 ra tháng 8-1931; Số 13 là số cuối ra tháng 9-1931; cộng tác bài vở gồm: Trúc Khê (Ngô Văn Triện)…

Đông Phương (Đông Phương Tuần Báo): tuần báo đặt tại số 22, Đường Thành, Hà Nội; chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh; chủ bút Nguyễn Lan Khai; Số 1 ấn hành năm 1934; giá báo mỗi số 3 xu, giá 1 năm là 1$50, giá nửa năm 0$80; cộng tác bài vở gồm: Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng (1937-39), Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1940-45)…

Đông Tây : báo do Hoàng Tích Chu, Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính xuất bản, đặt tại số 12 phố Nhà Thờ, Hà Nội; chủ bút Lãng Nhân (Phùng Tất Đắc); Số 1 ra ngày 15-11-1929; mỗi số 4 trang khổ lớn, in tại nhà in Trung Bắc của Nguyễn Văn Vĩnh; lúc đầu báo ra hàng tuần, sau đó ra hai tuần một số, đến 28-5-1932 ra hằng ngày và trở thành nhật báo; nhưng rồi báo bị đình bản ngày 25-7-1932 vì nhiều lần đăng bài có ý cảm thông với các liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng và nhất là có bài thơ ‘Cái chày’ phê phán tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định thích dùng chày đánh đập tù nhân; cộng tác bài vở gồm: Đỗ Mộng Ngọc, Đỗ Văn, Hoàng Ngọc Phách (Song An), Lan Khai, Lê Dư (Sở Cuồng), Lê Phổ, Lê Văn Bái, Nguyễn Nam Sáu, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Văn Xuân (Thiết Can), Nguyễn Vỹ, Nguyễn Xuân Huy, Phan Khôi, Phan Trần Chúc, Phùng Bảo Thạch, Phùng Tất Đắc (Lãng Nhân), Tạ Đình Bính, Tô Ngọc Vân, Trần Quang Trân, Trần Tuấn Khải, Trịnh Đình Rư, Trúc Khê (Ngô Văn Triện, từ 1941), Văn Tôi (Hoàng Tích Chu), Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Chi (Tam Lang), Vũ Trọng Phụng…

Đông Tây Báo : tuần báo do Dương Bá Trạc và Dương Tụ Quán thành lập để thay thế tuần báo Văn Học vừa bị đình bản tháng 8-1935; tòa báo đặt tại số 193 đường Coton, Hà Nội; chủ nhiệm Dương Tụ Quán; chủ bút Dương Bá Trạc (1935-36); Số 1 ra ngày 25-11-1935; mỗi số báo giá 3 xu, giá 1 năm 1$50; cộng tác bài vở gồm: Lan Khai, Lê Dư (Sở Cuồng), Lư Khê (Trương Văn Em), Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Nam Hương (Bùi Huy Cường), Nguyễn Vỹ (1936), Nguyễn Xuân Huy, Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1940-45), Trương Tửu (Mai Viên, Nguyễn Bách Khoa)…

Đông Tây Công Luận (Opinion publique de l’Orient et de l’Occident): báo Việt ngữ do Tạp chí Tiền Quân đổi thành; xuất bản từ năm 1931 đến 1936 tại Sài Gòn; Ban biên tập gồm: Trịnh Hưng Ngẫu (chủ nhiệm), Tạ Thu Thâu…

Đông Tây Tiểu Thuyết Báo : tuần báo ấn hành tại Hà Nội từ năm 1937; quản lý Nguyễn Xuân Thái.

Đông Tây Tuần Báo : tên gọi của báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu, Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính thời kỳ đầu, từ 15-11-1929; xem Đông Tây.

Đông Thanh (Đông Thanh Tạp Chí): báo xuất bản ở Hà Nội từ năm 1932, đã vài lần đình bản rồi mở lại từ Số 1, đến năm 1935 thì ngưng hẳn sau Số 43 bộ mới; cộng tác bài vở gồm: Lê Dư (Sở Cuồng), Nguyễn Văn Tố (Ứng Hòe)…

Đông Thinh (La voix de l’Orient): tuần báo do Diệp Văn Kỳ thành lập tại Sài Gòn năm 1935, số cuối ra tháng 9-1935.

Đồng Nai : báo do bác sĩ Đoàn Quang Tấn chủ trương với  sự cộng tác của Hồ Hữu Tường và Phan Văn Hùm, là cơ quan ngôn luận của Nhóm Tả Đối Lập ở Sài Gòn; hoạt động thời kỳ 1932-33; cộng tác bài vở gồm: Lê Thọ Xuân (Lê Văn Phúc), Ngạc Xuyên (Ca Văn Thỉnh), Trần Văn Thạch, Việt Tha (Lê Văn Thử, từ 1933)…

Đồng Thanh : báo xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1940, số cuối là Số 9 ra tháng 2-1941; cộng tác bài vở gồm: Tạ Thành Kỉnh (Thành Kỉnh)…

Độc lập Bắc Kỳ : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Indépendance Tonkinoise.

Đời Mới : báo xuất bản ở Hà Nội từ ngày 24-3-1935; do Lê Văn Hòe làm chủ nhiệm, Nguyễn Mạnh Chất làm quản lý; do tham gia đấu tranh trong phong trào Mặt trận Dân chủ (1936) nên chỉ ra được 6 số thì bị chánh quyền rút giấy phép; cộng tác bài vở gồm: Lê Liễu Huê (Ái Lan), Lê Văn Hòe (Vân Hạc)…

Đời Nay : tuần báo thể thao, đặt tại số 53 đường Roland Garros, Sài Gòn; quản lý: Lê Quang Khải; Số 1 ra năm 1935; mỗi số 8 trang, giá 6 xu.

Đời Nay : tuần báo do Nguyễn Thiện Tứ thành lập tại Hà Nội tháng 3-1938, sau đó Xứ uỷ Bắc Kỳ Cộng sản Đệ Tam mua lại, do Bùi Đăng Chi quản lý; cộng tác bài vở gồm: Đinh Hùng (Hoài Điệp Thứ Lang, Thần Đăng), Phan Thanh, v.v…; trong đó: Số 1 (ra ngày 1-12-1938), …Số 3 (15-12-1938), …Số 13 (16-3-1939), …Số 16 (6-4-1939), …Số 18 (20-4-1939), Số 19 (27-4-1939), Số 20 (4-5-1939), …Số 25 (8-6-1939), Số 26 (15-6-1939), …ra số cuối cùng (tháng 9-1939) thì bị đóng cửa.

Đua Ngựa : báo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1939.

Đuốc Công Lý : là phụ trương của báo Điển Tín xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1935-39; do Nam Đình Nguyễn Thế Phương điều hành; chủ trương đối lập ôn hòa; cộng tác bài vở gồm: Cao Văn Chánh (trợ bút, 1935-38)…

Đuốc Nhà Nam (Le Flambeau d’Annam; 1928-37, 1945-73): nhật báo do Bùi Quang Chiêu và Dương Văn Giáo (tiến sĩ luật và chánh trị học) chủ trương ở Sài Gòn năm 1928, với sự cộng tác của Trần Văn Ân, Lương Trung Nghĩa, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Văn Sâm…; chủ trương quyết liệt chống đối chủ nghĩa thực dân, chú ý bênh vực giới nông dân và lao động thành thị; báo quán đặt tại số 38 rue de Rains, Saigon; các đời chủ nhiệm thời Pháp gồm: Nguyễn Phan Long, Nguyễn Văn Sâm…; chủ bút: …Đào Trinh Nhất (1930-31)..; cộng tác bài vở thường xuyên gồm: Ái Lan (Lê Liễu Huê), Cẩm Tâm nữ sĩ, Hồng Tiêu (Nguyễn Đức Huy), Lê Quang Liêm, Lê Trung Nghĩa, Lê Văn Vị (Vita, từ 1933), Lương Trung Nghĩa (từ thập niên 1930), Nam Đình (Nguyễn Thế Phương), Nguyễn Văn Tạo, Phú Đức (Nguyễn Đức Nhuận), Quán Chi (Đào Trinh Nhất), Thiếu Sơn (Lê Sỹ Quý), Thượng Tân Thị (Phan Quốc Quang, thơ)..; ngày 2-12-1935 báo ra Số 1 bộ mới; năm 1937 báo bị đình bản, đến tháng 9-1945 tái lập bộ mới.

Đuốc Tuệ : tuần báo do Bắc Kỳ Phật Giáo Hội ấn hành mỗi thứ ba hàng tuần; báo quán đặt trong khuôn viên chùa Quán Sứ, ở phố Richaud, Hà Nội; Số 1 ấn hành ngày 10-12-1935, Số 2 (17-12-1935), …Số 11 (25-2-1936), …Số 29 (30-6-1936), …Số 32 (21-7-1936), …Số 54 (1-2-1937), …Số 60 (1-5-1937), …Số 108 (15.5.1939), …Số 159 (1-7-1941), …Số cuối cùng là 257-258 ra ngày 15-8-1945; giá báo cả năm 1 đồng, nửa năm 0,5 đồng, mỗi số 3 xu; chủ nhiệm Nguyễn Năng Quốc (hội trưởng Bắc Kỳ Phật Giáo Hội); chủ bút Thích Trung Thứ; phó chủ bút Thích Doãn Hải; quản lý Cung Đình Bính; cộng tác bài vở gồm: Bùi Kỷ, Đinh Gia Thuyết, Đồ Nam Tử (Nguyễn Trọng Thuật), Đỗ Đình Nghiêm, Đỗ Trần Bảo, Phạm Văn Côn, Phan Đình Hòe, Thích Doãn Hải (Dương Văn Hiền), Thích Thái Hòa, Thích Thanh Đặc, Thích Tố Liên, Thích Trung Thứ (Phan Trung Thứ), Thiều Chửu (Nguyễn Hữu Kha), Trần Trọng Kim…

Đuốc Văn Minh : báo ấn hành năm 1936, số cuối là Số 4 ra tháng 8-1936.

Đuốc Vô Sản (Le Flambeau du prolétaire): báo do cán bộ Đông Dương Cộng Sản Đảng thành lập và điều hành công khai trong hai năm 1932-33 tại Sài Gòn; trong đó: Năm 1, …Số 3 ra ngày 20-5-1932, Số 4 (28-8-1932), Số 5 (3-10-1932)…

Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp : nguyệt san Công giáo tại Hà Nội, hoạt động từ khoảng 1935.

En Avant! : tên Pháp của báo quốc ngữ Bước Tới.

EST (Nguyệt san Phương Đông): nguyệt san Pháp ngữ đặt tại số 18, rue de la Pépinière, Hanoi (tư gia luật sư Nguyễn Mạnh Tường); thành lập và đồng chủ bút: Jean M. Hertrich và Nguyễn Mạnh Tường; cộng tác bài vở gồm: Đặng Phúc Thông, Jacques M. Dauphin, Jacques Mery, Jean M. Hertrich, Jean Parchi, Jean Ruiz, Marc Francois Rey, Marguerite Triaire,Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Khiêm, Sam Sibdisy, Trần Văn Tùng…; giá mỗi số 50 xu; Số 1 ra tháng 1-1939. …Số 3 (3-1939)…

Excursions et reconnaissances – Cochinchine Francaise (Điều tra và khảo sát Nam Kỳ): tạp chí Pháp ngữ ấn hành tại Sài Gòn thời kỳ 1879-90; trong đó: Số 1 ra tháng 12-1879, Số 2 đến Số 6 ra năm 1880, Số 7 đến 10 (1881), Số 11 đến 14 (1882), Số 15 và 16 (1883), Số 17 đến 19 (1884), Số 20 đến 24 (1885), Số 25 đến 29 (1886), Số 30 (1887), Số 31 (1889), Số 32 (1890).

Extrême-Asie: revue indochinoise illustré: mensuelle (Viễn Á: tạp chí Đông Dương có hình): tạp chí Pháp ngữ xuất bản thời kỳ 1924-34.

Extrême-Orient : xem: La Presse d’Extrême-Orient.

Fédération des Syndicats : tên Pháp của tạp chí quốc ngữ Công Nông Hiệp Nhứt.

Fléchettes : báo Pháp ngữ tại Hà Nội; giám đốc: Phùng Tất Đắc (Cố Nhi Tân, Lãng Nhân)…

Football de Cochinchine : tên Pháp của báo quốc ngữ Bóng Tròn Nam Kỳ.

France-Asie (Pháp Á): báo Pháp ngữ; cộng tác bài vở gồm: Cung Giũ Nguyên…

France-Indochine (Đông Pháp): nhật báo Pháp ngữ.

Gazette de l’Annam : tên Pháp của báo quốc ngữ Trung Bắc Tân Văn.

Gia Định Báo (1865-1910): là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam; thành lập theo nghị định ngày 1-4-1865 của quyền thống đốc Nam Kỳ Pierre Roze. Tòa báo đặt tại Chợ Quán-Sài Gòn. Từ lúc đầu, báo do Ernest Potteau là thông ngôn tại Soái phủ Nam Kỳ sang làm chánh tổng tài (1865-69), có các học giả Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường cộng tác. Lúc đầu báo hoàn toàn là một công báo, ra mỗi tháng một số vào ngày 15, có 4 trang. Nội dung có hai phần là phần công vụ (chỉ dụ, nghị định, chỉ thị, thông tư, biên bản Hội đồng Quản hạt…) và phần tạp vụ (quảng cáo, lời rao, tin tức, trả lời đương đơn, án Hội đồng xét lại…). Từ 16-9-1869, đô đốc Ohier cử Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài kiêm chủ biên, Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút, có Trương Minh Ký, Tôn Thọ Tường làm biên tập viên. Từ đó Gia Định Báo ra mỗi tháng 2 số, 3 số, rồi ra hàng tuần; nội dung cũng trở nên phong phú, sinh động hơn và thu hút độc giả với các bài thơ ca, khảo cứu, lịch sử, kiến thức kinh tế, canh nông, sưu tầm, ca dao tục ngữ, cổ tích, truyện giải buồn…, trong đó có nhiều tác phẩm do độc giả khắp nơi gởi đến. Báo chú trọng cổ động cho phát triển tân học, góp phần đưa chữ quốc ngữ dần dần phát triển sâu rộng trong dân chúng. Thời kỳ 1872-1909, J. Bonet thay Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài. Số 1 năm 1 ra ngày 15-4-1865, …Số 3 năm 1 (15-7-1865), Số 4 năm 1 (15-8-1865), …Số 5 năm 6 (16-2-1870), …Số 8 năm 6 (8-3-1870), …Số 11 năm 6 (8-4-1870), …Số 3 năm 10 (1-2-1874), …Số 39 năm 19 (13-10-1883), …Số 42 năm 45 (25-10-1909), …. Số cuối cùng ra ngày 1-1-1910. Cộng tác bài vở gồm: Đặng Thúc Liêng, v.v…

Giác Ngộ (Le Réveil): tuần báo Hán ngữ do Phật giáo thành lập tại Sài Gòn, hoạt động trong hai năm 1930-31; trong đó: …Số 16 ra ngày 21-9-1930, Số 17 (28-9-1930), Số 18 (5-10-1930)…

Giáo Dục Tạp Chí : nguyệt san song ngữ Pháp-Việt ấn hành tại Huế từ năm 1941; thành lập và chủ nhiệm là họa sĩ Nguyễn Khoa Toàn.

Giải Phóng (La Libération): báo của Xứ ủy Nam Kỳ Cộng sản Đệ Tam lưu hành bí mật thời kỳ 1930-37 và 1944-45; trong đó: …Số 8 (30-1-1930), …Số 31 (20-1-1936), …Số 33 (7-11-1936), Số 34 (16-12-1936)…

Gió Mới : tạp chí ấn hành ở Hà Nội từ tháng 8-1945; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Khắc Hoạch (1945-46), v.v…

Gió Mùa : báo tại Sài Gòn; hoạt động từ năm 1938; cộng tác bài vở gồm: Lư Khê (Trương Văn Em), Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm)…

Giới tu sĩ Đông Dương : tên Việt của nguyệt san Pháp ngữ Sacerdos Indosinensis.

Hà Nội Báo : tuần báo ra ngày thứ tư, chuyên về văn học, do Lê Cường và Lê Tràng Kiều thành lập và điều hành; tòa báo đặt tại số 88 Route de Huế, Hà Nội; báo in tại nhà in Lê Cường; Số 1 ra ngày 1-1-1936; giá mỗi số 3 xu; chủ nhiệm Lê Cường; chủ bút Lê Tràng Kiều; thư ký tòa soạn kiêm biên tập Vũ Trọng Can; cộng tác bài vở gồm: Đỗ Huy Nhiệm, Huy Thông (Phạm Huy Thông, thơ), Lê Tràng Kiều, Lưu Kỳ Linh (thơ), Lưu Trọng Lư, Mộng Tuyết (thơ), Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Vỹ (thơ), Nguyễn Xuân Huy (thơ), Nguyễn Xuân Sanh, Thanh Tịnh (thơ), Thái Can (thơ), Thinh Quang, Thúc Tề (Nguyễn Thúc Nhuận, Lãng Tử), Trần Bình Lộc, Trương Tửu (Mai Viên, Nguyễn Bách Khoa), Vũ Trọng Phụng, Vương Kiều Ân (Anh Thơ)…; cuối năm 1937 báo bị đình bản; Lê Tràng Kiều và cộng sự ra tiếp tờ Tiểu Thuyết Thứ Năm để thay thế.

Hà Nội Tân Văn : tuần báo văn chương tại Hà Nội thời kỳ 1939-45; chủ nhiệm Vũ Đình Dy; chủ bút Vũ Ngọc Phan; cộng tác bài vở gồm: Bùi Hiển (1941), Đinh Hùng (Hoài Điệp Thứ Lang, Thần Đăng, 1943-45), Hằng Phương, Lưu Trọng Lư (1940), Ngô Tất Tố, Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân, 1940), Phạm Văn Thứ (Mạnh Phú Tư, 1940-41), Phan Khắc Khoan, Thanh Tịnh (1941), Tô Hoài (1940-41), Trần Tân Cửu (Trọng Lang, 1940-41), Xuân Tiên (1940-41)…

Hà Thành Ngọ Báo : Số 1 ra ngày 1-6-1927, là nhật báo do cha con nhà kinh doanh Bùi Xuân Học, Bùi Xuân Thành thành lập ở Hà Nội; năm 1929 giao cho Hoàng Tích Chu làm chủ bút, Đỗ Văn trình bày và lo việc ấn loát. Đỗ Văn áp dụng kỹ thuật trình bày của báo chí Tây phương một cách xuất sắc vào hoàn cảnh và phương tiện Việt Nam. Hoàng Tích Chu thì chủ trương áp dụng phổ biến lối hành văn mới theo cách viết báo của người Pháp, lối văn ngắn gọn, mạnh mẽ, sáng sủa, nhưng do cải tiến quá mạnh nên lúc đầu không được giới độc giả bảo thủ ở Hà Nội chấp nhận, bị chê là quá vắn tắt, lai Tây, và cuối năm 1929 Hoàng Tích Chu phải bỏ sang làm báo Đông Tây. Rồi về sau quen dần, độc giả thấy thích vì đó là lối văn thích hợp với báo chí. Các đời chủ bút sau đó: …Lê Văn Hòe (Vân Hạc, 1936). Báo có sự cộng tác bài vở của: Lan Khai (Ngọ Báo), Lê Văn Bái (J. Leiba, Thanh Tùng Tử), Lê Văn Hòe (Vân Hạc), Mặc Đỗ (Đỗ Quang Bình), Ngân Giang (Đỗ Thị Quế), Nguyễn Vạn An (Ngọ Báo), Phan Thị Nga, Phan Trần Chúc, Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính, Vũ Đình Chí (Tam Lang), Vũ Trọng Phụng… Đến Số 2100 (1934) thì Hà Thành Ngọ Báo đổi tên thành Ngọ Báo, ra tiếp đến Số cuối 2620 vào tháng 6-1936.

Hà Thành Thời Báo (Le Temps de Hanoi): tuần báo xuất bản ở Hà Nội thời kỳ 1937-39; do Lê Kế Huyên sáng lập và làm chủ nhiệm, Trần Đình Tri quản lý. Lê Kế Huyên cho Trần Huy Liệu mướn từ 6-4-1937, nhưng Liệu biến báo thành cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ Cộng sản Đệ Tam nên đến tháng 8-1938, Huyên lấy báo lại và ra bộ mới từ ngày 29-8-1938 đơn thuần phản ánh thời sự xã hội, hoạt động đến năm 1939.

Hà Tĩnh Tân Văn : báo xuất bản tại Hà Tĩnh từ năm 1928.

Hải Phòng : báo của Việt Nam Quốc Dân Đảng xuất bản bí mật ở Hải Phòng (1942-45).

Hải Phòng Tuần Báo : do anh em Đỗ Xuân Mai, Đỗ Như Ngọc và gia đình (Nhà Mai Lĩnh) thành lập và điều hành, đặt tại số 60-62 đường Paul Doumer (phố Cầu Đất), Hải Phòng; phóng viên biên tập gồm: Nguyễn Đức Phòng…; cộng tác bài vở gồm: Lan Sơn (Nguyễn Đức Phòng, thơ), Ngô Tất Tố, Phùng Tất Đắc (Cố Nhi Tân, Lãng Nhân)…; Số 1 ấn hành năm 1934; Số 1 bộ mới ra ngày 20-1-1935; hoạt động đến khoảng 1944; mỗi số 8 trang, giá 3 xu; giá báo 1 năm là 1$50.

Hải-Thuyền (Le Navigateur): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Hãng Radio-Saigon : tạp chí in của Đài phát thanh Sài Gòn, với sự điều hành của văn sĩ Nguyễn Văn Cổn và nhạc sĩ Jean Tịnh…

Hạnh Phúc : bán nguyệt san đặt tại Sài Gòn; trong đó: Số 1 ấn hành tháng 4-1941, …Số Xuân Giáp Thân 66-67 (16-1&1-2-1944)…; cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ (1944)…

Hình Vẽ : báo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1932.

Hoan Châu Tân Báo : báo xuất bản ở Huế từ năm 1930.

Hoàn Cầu Tân Văn : báo xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1933-38.

Hoạt Động : tuần báo ra ngày thứ sáu hàng tuần; đặt tại đường Chavignon, Hải Phòng; chủ nhiệm Dương Trọng Thực; Số 1 ra năm 1935.

Hommes de la classe pauvre : tên Pháp của báo quốc ngữ Người Lao Khổ.

Họa Báo : báo xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1932-33.

Học Báo (L’école indochinoise): tạp chí sư phạm in song ngữ Pháp-Việt tại Hà Nội thời kỳ 1920-44, do Nguyễn Văn Vĩnh điều khiển và được sự bảo trợ của Nha Tiểu học Bắc Kỳ, được lưu hành trong các trường tiểu học; quản lý Dương Phượng Dực.

Học Báo (L’école indochinoise): tạp chí sư phạm do Lâm Hiệp Châu và Trần Văn Giàu thành lập và điều hành; in song ngữ Pháp-Việt; tòa soạn đặt tại số 15 đường Eyriaud des Vergnes, Sài Gòn; Số 1 ra năm 1935; mỗi số 28 trang, giá 25 xu. 

Học Sinh : tuần báo ra ngày thứ năm, do Nguyễn Văn Tính và Phan Văn Giáo chủ trương tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1936; giá mỗi số 4 xu.

Học Sinh : tuần báo do Phạm Cao Củng và Nhà xuất bản Mai Lĩnh ấn hành ở Hà Nội từ 1939.

Hồi Sinh : tên Việt của nguyệt san Pháp ngữ Résurrection.

Hồn An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Âme Annamite

Hồn Cách Mạng : báo hoạt động năm 1936 tại Hà Nội; cộng tác bài vở gồm: Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân, 1936), v.v…

Hồn Nam Việt : xem: Việt Nam Hồn.

Hồn Nam Việt : báo ấn hành từ năm 1926; số cuối là Số 14 ra tháng 3-1927.

Hồn Nước : báo của Đoàn Thanh niên Cứu quốc xuất bản ở Cao Bắc Lạng từ 1943.

Hồn Trẻ : tuần báo xuất bản ở Hà Nội do Nguyễn Mạnh Đang làm chủ nhiệm, chuyên giáo dục thanh thiếu niên và cổ động tranh đấu đối lập; Số 1 ra ngày 15-4-1935; bộ mới ra từ 6-6-1936 đến Số 12 (8-1936) thì đình bản. 

Hợp Nhứt (L’Union): báo của Xứ ủy Nam kỳ Cộng sản Đệ Tam thực hiện trong năm 1937; trong đó: …Số 2 ra tháng 4-1937.

Hưng Việt : báo do Hồ Văn Ngà thành lập và chủ bút ở Sài Gòn từ tháng 8-1945 đến 1946.

Hướng Đạo : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1935-36.

Hữu Thanh Tạp Chí : bán nguyệt san ấn hành không đều kỳ, do Hội Ái Hữu Công Thương Bắc Kỳ thành lập ở Hà Nội; Số 1 ra ngày 1-8-1921, số cuối là Số 22 ra tháng 9-1924; chủ nhiệm Nguyễn Duy Hợi; chủ bút Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà); biên tập viên: Đào Trinh Nhất (1924), Ngô Đức Kế (1921-24), Nguyễn Mạnh Bổng; cộng tác bài vở gồm: Dương Quảng Hàm (Hải Lượng), Đạm Phương nữ sử, Đào Trinh Nhất (Quán Chi), Nam Hương (Bùi Huy Cường), Ngô Đức Kế (1921-24), Nguyễn Mạnh Bổng (Mân Châu), Nguyễn Tiến Lãng (1923-24), Phan Khôi (1920-24), Trần Tuấn Khải (Á Nam), Trịnh Đình Rư, Vũ Đình Long (Phong Di, 1921)…

Hy Sinh : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1938.

Indépendant de Sài Gòn – Journal politique, liltéraire, commercial, et d’ annonces (Sài Gòn độc lập): báo Pháp ngữ về chính trị, văn chương, thương mại và rao vặt; hoạt động từ khoảng 1881.

Indochine (Đông Dương) : xem: L’Indochine.

Indochine (Đông Dương): tuần báo Pháp ngữ tại Sài Gòn thời kỳ 1931-45; ghi chủ bút là André Malraux (?); cộng tác bài vở gồm: Đỗ Xuân Hợp (1943-44), Lê Thành Khôi, Mạnh Quỳnh (1944), Ngô Quy Sơn (1944), giám mục Nguyễn Bá Tòng (1936), Nguyễn Hữu Túc (1943), Nguyễn Phan Long (1944), Nguyễn Phước Ưng Quả (1944), Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Triệu, Nguyễn Văn Huyến (1943-44), Nguyễn Văn Tố (1944), Nguyễn Văn Vĩnh (1944), bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ (1944), Phạm Duy Khiêm (1943), Phạm Quỳnh (1944), Trần Đăng (1942), Trần Văn Giáp…

Indochinoise : xem: La Revue Indochinoise (Đông Dương tạp chí).

Ích Hữu (Ích Hữu Tuần Báo): tuần báo văn chương phát hành ngày thứ ba, do Lê Văn Trương và Vũ Đình Long thành lập ở Hà Nội; in tại Tân Dân Thư Quán; chủ nhiệm Vũ Đình Long; chủ bút Lê Văn Trương; phụ tá chủ bút về thơ: Lê Văn Bái; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Nguyễn Đình Thạc (Như Phong), Phùng Tất Đắc (Cố Nhi Tân, Lãng Nhân), Trúc Khê (Ngô Văn Triện), Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa)…; giá mỗi số báo 5 xu, nửa năm 1$25, cả năm 2$50; đã ra được 110 số, từ Số 1 (25-2-1936) đến Số 110 (30-3-1938); ngoài ra cũng phát hành thêm Phụ Trương Tiểu Thuyết Lịch Sử Ích Hữu Tuần Báo.

Journal de la rénovation du peuple – Politique, littéraire, économique : tên Pháp của báo quốc ngữ Tân Dân Báo.

Journal de Saigon : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Sài Thành Nhật Báo.

Journal des Étudiants Annamite de Toulouse : xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Journal des travailleurs annamites : tên Pháp của báo quốc ngữ Việt Nam Lao Động Báo.

Journal judiciaire de l’Indochine française (Tạp chí Tư pháp Đông Dương): tạp chí Pháp ngữ do Nha Tư pháp Đông Dương ấn hành mỗi tháng trong thời kỳ 1890-1944.

Journal officiel de l’indochine Française : do Francois-Henri Schneider thành lập và làm giám đốc, kiêm chủ nhiệm tại Sài Gòn; các số (numéros): 1re année, n°1 (3 janv. 1889), …62e année, n°20 bis (9 mars 1945), …n°1 (2 juin 1945), …n°14 (4 août 1945), …62e année, n.s. n°1 (15 nov. 1945), …63e année, n° 26 (28 juin 1951); …Số cuối ra năm 1951.

Justice (Công lý): báo Pháp ngữ ở Sài Gòn thời kỳ 1926-54, là cơ quan của Phân bộ Đảng Xã hội Pháp tại Đông Dương; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Sinh, Phan Thanh, v.v…

Kẻ bất trị : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Incorrigible.

Kẻ ngộ nghĩnh : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Rigolo.

Khai Hóa (Khai Hóa Nhật Báo): do Bạch Thái Bưởi thành lập ở Hà Nội; Số 1 ra ngày 15-7-1921, số cuối là Số 1751 ra ngày 31-8-1927;  Ban biên tập gồm: Trần Tuấn Khải (Á Nam)…; cộng tác bài vở gồm: Doãn Kế Thiện, Nam Hương (Bùi Huy Cường), Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân, 1921), v.v…

Khai Trí Tiến Đức Tập San : là cơ quan ngôn luận của Hội Khai Trí Tiến Đức tại Hà Nội; ấn hành ba tháng một số trong thời kỳ 1940-44; cộng tác bài vở gồm: Bùi Hữu Diên, Bùi Kỷ, Dương Quảng Hàm, Hoàng Minh Giám (Chu Thiên), Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Công Tiễu, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Trần Văn Giáp…

Khắp nơi : tên Việt của báo Pháp ngữ Partout.

Khoa Học : tạp chí được thành lập năm 1941 tại Hà Nội, hoạt động đến khoảng năm 1945; nhóm sáng lập và điều hành gồm: Đặng Phúc Thông, Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Đình Thụy, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Xiển (chủ bút), Ngụy Như Kon Tum, Tạ Quang Bửu; cộng tác bài vở gồm: Ðông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ, thơ)…

Khoa Học Phổ Thông : bán nguyệt san ấn hành tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1934; từ Số 125 (11-1939) đổi thành nguyệt san; số cuối là Số 158 ra tháng 12-1942.

Khoa Học Tạp Chí : xuất bản tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1923, Số cuối 156 ra tháng 5-1926.

Khoa Học Tạp Chí : do Nguyễn Công Tiễu thành lập và điều hành tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1931, Số cuối 232 ra tháng 7-1940; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đức Quỳnh…

Khuyến Học : tạp chí ấn hành tại Hà Nội từ năm 1941; cộng tác bài vở gồm: Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), Trúc Khê (Ngô Văn Triện), v.v…

Khuynh Diệp : báo ấn hành tại Huế năm 1933, số cuối là Số 13 ra tháng 10-1933.

Kiến Văn : tuần san tại Sài Gòn; số 1 ra ngày 29-12-1935.

Kiến Văn Tùng Báo : đặt tại số 5 phố Phạm Phú Thứ, Hà Nội; chủ nhiệm kiêm quản lý Nghiêm Thượng Văn; Số 1 ra ngày 5-1-1936.

Kim Lai Tạp Chí : do Đào Duy Anh thành lập tại Huế, ngoài các chức năng của một tờ báo bình thường còn có mục đích quảng cáo việc bán Dầu Khuynh Diệp của hãng Viễn Đề; Số 1 ra năm 1931, số cuối là Số 8 ra tháng 6-1932.

Kinh tế Đông Dương (Đặc san~): tên Việt của báo Pháp ngữ L’Argus économique d’Indochine.

Kinh Tế Tân Văn : tạp chí do Phạm Bá Nguyên chủ trương tại Huế năm 1936.

Kịch Bóng (Ciné Théâtre): tuần báo điện ảnh, đặt tại số 30 đường Aviteur Garros, Sài Gòn; giám đốc là bà Song Thu; chủ nhiệm Bùi Văn Còn; Số 1 ấn hành năm 1935, Số cuối ra ngày 28-8-1937; mỗi số 16 trang, giá 10 xu.

Kịch Trường Tạp Chí : xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1927; bộ mới Số cuối 64 ra tháng 6-1929.

Kỳ Lân Báo : báo ấn hành tại Sài Gòn trong hai năm 1928-29; chủ nhiệm Bùi Ngọc Thự; cộng tác bài vở gồm Lâm Tấn Phác (Đông Hồ)…

Kỷ Yếu Bắc Kỳ Phật Giáo Hội : Số 1 ấn hành tháng 5-1935; ra tiếp được Số 2 và Số 3 thì đình bản, để thay bằng Tạp chí Đuốc Tuệ được ấn hành tháng 12-1935.

Kỷ Yếu Hội Khuyến học Nam Kỳ (Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel): Tập kỷ yếu của Hội Khuyến học Nam Kỳ ấn hành thời kỳ 1942-57 tại Sài Gòn; từ năm 1946 thay từ Nam Kỳ bằng Nam Việt; trong đó: Số 1 ra tháng 1-1942, Số 2 (1-1943), Số 3 (1-1949), Số 4 (1-1952), Số 5 (1-1953), Số 6 (1-1954); cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ (1942-54), Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1942-45)…

Kỷ Yếu Hội Trí Tri Bắc Kỳ : tên Việt của tạp chí Pháp ngữ Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin. (xem: Trí Tri).

Kỷ Yếu Nha Học Chính Đông Pháp : xuất bản ở Hà Nội.

Kỷ Yếu Sở Địa dư Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ Mémoire Service Geologique Indochine.

Kỷ Yếu Viễn Đông Bác Cổ Học Viện : tạp chí nghiên cứu văn hóa thuộc Viễn Đông Bác Cổ Học Viện ở Hà Nội; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Tố (Ứng Hòe), v.v…

L’Abeille : tên Pháp của báo quốc ngữ Con Ong.

L’Action Indochinois : báo Pháp ngữ, được xem là ‘tờ báo chánh thức đầu tiên của đạo Cao Đài’, do ký giả Cao Văn Chánh và một số cộng sự thành lập tại Sài Gòn, hoạt động từ tháng 8-1928, nhưng do đăng nhiều bài chống chánh quyền thực dân nên sau một thời gian ngắn bị rút giấy phép.

L’Action ouvrière : tạp chí Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn (1938-39).

L’Alerte (Sự báo động): báo Pháp ngữ do Pierre Fauquenot điều hành từ năm 1934 cho đến khi bị đóng cửa tháng 12-1939 do Fauquenot bị mật vụ Pháp bắt giữ với cáo buộc ‘làm gián điệp cho Nhật Bản’; báo quán đặt tại số 201 rue Fr. Louis, Saigon; cộng tác bài vở gồm: Eugène Dejean de la Bâtie (1934-37)…

L’Ami du Peuple : tên Pháp của báo quốc ngữ: Bạn Dân.

L’Ami du Peuple Indochinois (Bạn dân Đông Dương): nhật báo Pháp ngữ tại Hà Nội; hoạt động khoảng 1927-33; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đắc Lộc (Mai Lâm, 1930-32), Nguyễn Thế Truyền (1927), Nguyễn Văn Cổn (thơ, 1931-32), Nguyễn Vỹ…

L’Annam (1905-07): tên Pháp của báo quốc ngữ Đại Việt Tân Báo tại Hà Nội.

L’Annam (1926-36): báo Pháp ngữ đối lập do luật sư Phan Văn Trường thành lập và điều hành, với sự cộng tác của ký giả Eugène Dejean de la Bâtie. Báo quán đặt tại số 73 rue Mac-Mahon, Saigon. Sau khi đổi báo La Cloche Fêlée thành L’Annam ngày 6-5-1926, Phan Văn Trường định tranh thủ việc một đảng viên Đảng Xã hội Pháp là Alexandre Varenne đang làm toàn quyền Đông Dương có khuynh hướng tương đối ôn hòa, để đẩy mạnh phát triển báo Pháp ngữ L’Annam chống Pháp mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, chánh quyền thuộc địa lập tức trấn áp, bắt Nguyễn An Ninh (tháng 3-1926), Phan Văn Trường (25-7-1927) và đóng cửa báo LAnnam. Đến 12-1-1928, Báo L’Annam lại được Cao Văn Chánh tục bản, vẫn theo đường lối chống Pháp như trước. Báo ra được vài số thì bị thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse ra lệnh truy tố, bắt giam tất cả Ban quản trị và cộng sự viên báo L’Annam và cấm tiệt báo từ đó. Tuy nhiên báo vẫn tiếp tục được phát hành không công khai cho đến tận năm 1936. Cộng tác bài vở gồm: Eugène Dejean de la Bâtie, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Phó (1926), Phan Thanh, Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu, Thạch Lan (Cao Văn Chánh)…

L’Annam Nouveau (Tân An Nam): báo Pháp ngữ ấn hành tại Hà Nội từ năm 1931 đến 1933, do Nguyễn Văn Vĩnh thành lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; có khuynh hướng thân chánh quyền; cộng tác bài vở gồm: Lê Thăng, Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Nguyễn Khắc Kham, Nguyễn Nhược Pháp, Trần Văn Tùng…; trong đó: …2e année: …n° 149 (3 juillet 1932), …3e année: …n° 259 (30 juillet 1933), n° 260 (3 août 1933), n° 261 (6 août 1933)…

L’Annam nouveau : tên Pháp của báo quốc ngữ Tân Việt Nam.

L’Annam Scolaire : tên Pháp của báo quốc ngữ An Nam Học Báo.

L’Appel (organe de combat indochinois): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

L’argus Indochinois (Đặc san Đông Dương): báo Pháp ngữ tại Hà Nội; hoạt động khoảng 1927-30; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đắc Lộc (Mai Lâm, 1927-30), v.v…

L’Argus économique d’Indochine (Đặc san kinh tế Đông Dương): tuần báo kinh tế Pháp ngữ xuất bản từ năm 1930; tòa báo đặt tại số 35bis, rue D’Espagne, Saigon; mỗi số báo có 14 trang, phân nửa là nội dung, còn lại là các trang quảng cáo; trong đó: 1e Année: N1 (ra ngày 13-3-1930), N2 (20-3-1930), N3 (27-3-1930), N4 (3-4-1930), …N17 (3-7-1930), N18 (10-7-1930), N19 (24-7-1930), N20 (31-7-1930), N21 (7-8-1930), N22 (21-8-1930), N23 (28-8-1930), N24 (4-9-1930)…

L’Asie Nouvelle Illustrée (Tân Á minh họa tạp chí): báo Pháp ngữ xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1931-39; trợ bút là Hoàng Trọng Miên (1937-39); cộng tác bài vở chủ yếu là các tác giả ngoại quốc; người Việt cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Vị (Vita), Nguyễn Tiến Lãng…

L’Avant-garde : tên Pháp của báo quốc ngữ Tiền Quân của Cộng sản đệ tứ (1930-37).

L’avant Garde (organe des travailleurs et du peuple indochinois): báo Pháp ngữ của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức xuất bản ở Sài Gòn, từ 29-5-1937 đến tháng 8-1937 ra được 8 số thì bị cấm; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Nguyễn, v.v…; trong đó: 1ère année: n°6 (30 juin 1937)…; tháng 9-1937 Cộng sản đệ tam thành lập báo Le Peuple để thay thế.

L’Avenir : tên Pháp của tạp chí quốc ngữ Tương Lai.

L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ): nhật báo Pháp ngữ do Francois-Henri Schneider thành lập và giám đốc tại Hà Nội từ năm 1884, đến năm 1890 ra bộ mới, số cuối ra năm 1907.

L’Âme Annamite (Hồn An Nam): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

L’Écho annamite (Tiếng vọng An Nam): báo Pháp ngữ ghi tiêu đề là ‘L’Écho annamite – organe de défense des intérêts franco-annamites’ (cơ quan bảo vệ quyền lợi Pháp-Việt); do Võ Văn Thơm thành lập và giám đốc tại Sài Gòn từ năm 1920, sau đó bán lại cho các đời chủ tiếp theo làm giám đốc. Các đời giám đốc: Võ Văn Thơm (8-1-1920 đến 7-1921), Lê Thành Tường (19-7-1921 đến 6-1922), Nguyễn Phan Long (29-6-1922 đến 10-1928), Eugène Dejean de la Batie (1-11-1928 đến 4-1931, 15-3-1939 đến 1-1943), Nguyễn Đình Nhơn (6-1-1943 đến 2-1944), Nguyễn Chánh Chiếu (24-2 đến 14-9-1944). Các đời quản lý: Nguyễn Kim Đính (tháng 10-1924 đến 1-1925), Trần Quang Nghiêm (tháng 2 đến 4-1925), Nguyễn Háo Vĩnh (tháng 4-1925 đến 10-1928), Dejean de la Batie (tháng 11-1928 đến 4-1931, tháng 1-1943), Nguyễn Văn Cổn (trưởng ban nhân viên Tòa soạn, 1939-44). Cộng tác bài vở gồm: Dương Văn Lợi, Eugène Dejean de la Bâtie (1924-31, 1939-44), Hướng Truyền, Lê Thành Tường, Lễ Lộc, Ngô Trực Luận, Nguyễn Chánh Chiếu, Nguyễn Đình Nhơn, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Văn Cổn (từ 1936), Vân Thế Hội, Võ Văn Thơm… Lúc đầu báo ra mỗi tuần ba số vào thứ ba, thứ năm thứ bảy; giá mỗi số 10 xu; và đặt Tòa soạn tại số 63, rue Pellerin, Saigon. Đến tháng 1-1924, Tòa soạn chuyển về số 71, rue Mac Mahon, Saigon; từ 22-5-1925 chuyển về số 64, Boulevard Bonnard, Saigon. Từ 25-9-1925, số báo 94 bộ mới thứ 2, năm thứ 5, chuyển thành nhật báo. Đến 18-10-1928, Tòa soạn chuyển về số 186, rue d’Espagne, Saigon; từ 30-9-1929 chuyển về số 59E, rue Colonel Grimaud, Saigon. Từ số báo ngày 18-3-1931, tòa soạn chuyển về đường Rue de Reims, Saigon, và trở lại phát hành mỗi tuần ba số vào thứ hai, thứ tư và thứ sáu. Ngày 23-4-1931, vừa phát hành Số A12-N1689 thì báo bị đóng cửa, do trước đó đăng nhiều bài quyết liệt chống chánh quyền. Mãi đến 15-3-1939, Eugène Dejean de la Batie mới xin được giấy phép tục bản lại báo, với cam kết phải đáp ứng những đòi hỏi của ban kiểm duyệt báo chí dưới chế độ thân Pétain, ra Số 1 Bộ mới thứ 3; mỗi tuần cũng ra ba số vào thứ hai, thứ tư, thứ sáu; đặt tòa soạn tại số 92, rue Pellerin, Saigon. Đến 15-5-1939, tòa soạn lại chuyển về số 248, rue de la Grandière, Saigon. Từ ngày 3-3-1943 (A24,N561,SER3) báo giảm kỳ phát hành để trở thành tuần báo. Từ 24-2-1944, tòa soạn chuyển về số 9/19 Ruelle Farinolle, Saigon và ra Số 1 Bộ mới thứ 4, cho đến 14-9-1944 thì đình bản. Một số số báo ghi dấu ấn chuyển tiếp: Bộ thứ 1: Số 1 (Annee 1-Numéro 1, Võ Văn Thơm làm chủ) ra ngày 8-1-1920, A1-N2 (10-1-1920), A1-N3 (13-1-1920), …A1-N138 (30-12-1920), A1-N139 (4-1-1921), A2-N140 (6-1-1921), …A2-N214 (19-7-1921, Lê Thành Tường làm chủ), …A2-N280 (31-12-1921), A2-N281 (5-1-1922), A2-N282 (7-1-1921), …A3-N315 (30-3-1922), …A3-N348 (27-6-1922), A3-N349 (29-6-1922, Nguyễn Phan Long làm chủ), …A3-N425 (6-1-1923), A3-N426 (9-1-1923), A4-N427 (11-1-1923), A4-N428 (13-1-1923); Bộ thứ 2: A5-N1 (28-1-1924), A5-N2 (30-1-1924), …A5-N93 (19-9-1924), A5-N94 (25-9-1924, chuyển thành nhật báo), A5-N95 (26-9-1924), A5-N96 (27-9-1924), …A5-N173 (31-12-1924), A5-N174 (2-1-1925), …A5-N187 (17-1-1925), A5-N188 (19-1-1925), A6-N189 (20-1-1925), A6-N190 (21-1-1925), …A6-N469 (30-12-1925), A6-N470 (31-12-1925), A6-N471 (4-1-1926), A6-N472 (5-1-1926), … A6-N517 (2-3-1926), A6-N518 (3-3-1926), A7-N519 (4-3-1926), A7-N520 (5-3-1926), …A7-N768 (30-12-1926), A7-N769 (31-12-1926), A8-N770 (3-1-1927), A8-N771 (4-1-1927), …A8-N1061 (30-12-1927), A8-N1062 (31-12-1927), A9-N1063 (3-1-1928), A9-N1064 (4-1-1928), …A9-N1312 (31-10-1928), A9-N1313 (5-11-1928, Eugène Dejean de la Batie làm chủ), …A9-N1357 (28-12-1928), A9-N1358 (29-12-1928), A10-N1359 (2-1-1929), A10-N1360 (3-1-1929), … A10-N1383 (30-12-1929), A10-N1384 (31-12-1929), A11-N1385 (2-1-1930), A11-N1386 (4-1-1930), … A11-N1644 (30-12-1930), A11-N1645 (31-12-1930), A12-N1646 (2-1-1931), A12-N1647 (3-1-1931), … A12-N1676 (10-2-1931), A12-N1677 (11-2-1931), A12-N1678 (12-2-1931), A12-N1679 (18-3-1931, mỗi tuần ra thứ hai, thứ tư, thứ sáu), A12-N1680 (20-3-1931), A12-N1681 (23-3-1931), … A12-N1689 (23-4-1931, bị đóng cửa); Bộ thứ 3:A20-N1-SER3 (15-3-1939), A20-N2-SER3 (17-3-1939), …A20-N115-SER3 (27-12-1939), A20-N116-SER3 (29-12-1939), A21-N117-SER3 (3-1-1940), A21-N118-SER3 (5-1-1940), …A21-N261-SER3 (27-12-1940), A21-N262-SER3 (30-12-1940), A22-N262-SER3 (3-1-1941), A22-N264-SER3 (6-1-1941), …A22-N403-SER3 (26-12-1941), A22-N404-SER3 (29-12-1941), A23-N405-SER3 (2-1-1942), A23-N406-SER3 (5-1-1942), …A23-N545-SER3 (28-12-1942), A23-N546-SER3 (30-12-1942), A24-N547-SER3 (4-1-1943), A24-N548-SER3 (6-1-1943, Nguyễn Đình Nhơn làm chủ), …A24-N561-SER3 (3-3-1943, đổi thành tuần báo), …A24-N601-SER3 (23-12-1943), A24-N602-SER3 (30-12-1943), A25-N603-SER3 (6-1-1944), A25-N604-SER3 (13-1-1944), A25-N605-SER3 (20-1-1944), A25-N606-SER3 (10-2-1944). Bộ thứ 4: A25-N1-SER4 (24-2-1944, Nguyễn Chánh Chiếu làm chủ), A25-N2-SER4 (2-3-1944), …A25-N27-SER4 (7-9-1944), A25-N28-SER4 (14-8-1944, số cuối cùng).

L’école indochinoise : xem: Học Báo.

L’Effort (Cố gắng): báo Pháp ngữ xuất bản ở Huế từ năm 1937.

L’Effort : tạp chí Pháp ngữ xuất bản ở Hà Nội trong hai năm 1937-38.

L’Effort Indochinois (Nỗ lực Đông Dương): báo Pháp ngữ do Vũ Đình Dy thành lập và điều hành tại Hà Nội từ năm 1937; cộng tác bài vở gồm: Đinh Xuân Tiếu…; trong đó: …Số 156 (20-10-1939)…

L’Épi de Riz : tên Pháp của báo quốc ngữ Nhành Lúa.

L’Ere nouvelle : tên Pháp của báo quốc ngữ Nhựt Tân Báo.

L’Ère Nouvelle (Nhựt Tân Báo): báo Pháp ngữ đối lập, do Đông Dương lao động Đảng (Parti travailliste annamite) ấn hành tại Sài Gòn (1922-29); cộng tác bài vở gồm: Cao Văn Chánh (Thạch Lan, 1926-27)…

L’Essor Indochinois (Đông Dương Cất Cánh): báo Pháp ngữ đối lập tại Sài Gòn, do cô Tâm Kính là một thiếu nữ vừa đậu tú tài, rất giỏi Pháp ngữ làm chủ bút; do ký giả Cao Văn Chánh thành lập và chủ nhiệm từ năm 1924, đến tháng 8-1926 bị chánh quyền Pháp ra lệnh đình chỉ hoạt động; đến tháng 10-1926 ra báo trở lại nhưng chỉ được vài số thì bị rút hẳn giấy phép; cộng tác bài vở gồm: Cao Văn Chánh (Thạch Lan), Dejean de la Bâtie, Tâm Kính…

L’Essor Indochinois (Đông Dương Cất Cánh): báo Pháp ngữ thân chánh quyền, xuất bản tại Hà Nội từ năm 1935, đến năm 1939 bị Nhật giải thể; cộng tác bài vở gồm: Trần Minh Tước (1935-38)…

L’Étincelle : tên Pháp của báo quốc ngữ Tia Sáng.

L’Eveil Economique de l’Indochine : tuần báo Pháp ngữ xuất bản từ năm 1917; trong đó: …2 année, Numéro 49 (19-5-1918)…; đặt tòa soạn tại số 19, rue Catinat, Saigon, và chi nhánh tại số 51, rue Paul Bert, Hanoi; giám đốc kiêm chủ nhiệm H. Cucherousset…

L’Exposition de Hanoi (Đấu xảo Hà Nội): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

L’Extrême-Orient : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Đông Phương.

L’Hebdomadaire de la Femme : tên Pháp của báo quốc ngữ Nữ Lưu Tuần Báo.

L’Impartial (Trung lập): vốn là tuần báo Pháp ngữ L’Impartial đặt tại Phnom Penh; đến năm 1917 được phó thống đốc Nam Kỳ Ernest Outrey mua lại để chuyển báo quán về Sài Gòn và trở thành nhật báo; lúc đầu đặt tòa soạn tại số 25-27 rue Catinat (~đường Tự Do/Đồng Khởi), Saigon; sau đó chuyển về số 64 rue Catinat; giám đốc chánh trị Ernest Outrey; chủ bút: Henry Chavigny de Lachevrotière (1917-26), …Phạm Văn Ký (1935)…

L’Incorrigible (Kẻ bất trị): bán nguyệt san Pháp ngữ ấn hành ngày mồng một và rằm mỗi tháng; đặt tại số 8 phố Carnot, Hà Nội; chủ nhiệm Từ Bộ Hứa; Số 1 ấn hành năm 1934; giá báo mỗi số 5 xu, giá 1 năm là 1$00, giá nửa năm 0$50.

L’Indépendance Tonkinoise (Độc lập Bắc Kỳ): tập san Pháp ngữ tại Hà Nội; giám đốc Alfonso Le Vasseur; Số 1 ra năm 1889, …số cuối có lẽ là Số 14785 (1943, 3 jul).

L’Indochine (Đông Dương): nhật báo Pháp ngữ do André Malraux và luật sư Paul Monin thành lập và đồng chủ nhiệm tại Sài Gòn; đứng tên giám đốc quản lý là Maurice Dejean de la Batie; Số 1 ra ngày 17-6-1925, …Số 6 (23-6-1925)…; kêu gọi ‘một chế độ công bằng hơn, nhân đạo hơn, cho phép người dân Việt Nam được bảo vệ bởi những luật lệ y như người Pháp, được hưởng những quyền tự do cá nhân như người Pháp’; ra được 49 số trong hai tháng thì bị chánh quyền gây khó khăn trong việc in ấn nên sau vài số nhật báo bị bỏ vì không nhà in nào dám làm bản kẽm để in vì chắc chắn sau đó cũng bị đục bỏ, nên phải đình bản vào ngày 14-8-1925 (n°49); cộng tác bài vở gồm: Nguyễn An Ninh, Phan Châu Trinh, Tạ Thu Thâu…

L’Indochine enchaînée (Đông Dương bị xiềng): báo Pháp ngữ do luật sư Paul Monin và André Malraux thành lập và đồng chủ nhiệm tại Sài Gòn, tục bản từ báo L’Indochine (Đông Dương) sau khi được Nhóm Nguyễn An Ninh mua tặng bộ chữ in; mỗi tuần ra hai số; Số 1 ra ngày 4-11-1925; đến 24-2-1926 thì đình bản.

L’Indochine nouvelle : tuần báo Pháp ngữ do Hội Nghiên cứu kinh tế Nam Kỳ (Société d’Etudes Economiques Cochinchinoises) xuất bản tại Sài Gòn từ tháng 11-1924 đến 12-1926; là một phụ bản của tuần báo Bulletin financier de l’Indochine; tòa soạn đặt tại số 16, rue Colombert, Saigon; giám đốc chánh trị G. Sipière; chủ nhiệm Hoàng Nhữ Nam; cộng tác bài vở gồm: Lê Trung Nghĩa, v.v…; giá mỗi số 30 xu, giá một năm 15$; từ tháng 1-1927 sáp nhập với Bulletin financier de l’Indochine thành Bulletin financier de l’Indochine et L’Indochine nouvelle réunis; đến tháng 6-1927 lại tách ra hai tờ riêng như cũ; trong đó: …2e Année: …A2-N25 (28-2-1925), …A2-N38 (29-5-1925), …A2-N40 (12-6-1925), …A2-N51 (28-8-1925)…

L’Information économique de Cochinchine : tên Pháp của báo quốc ngữ Nam Kỳ Kinh Tế Báo.

L’Offensive : tên Pháp của báo quốc ngữ Tấn Công.

L’Opinion : tên Pháp của báo quốc ngữ Công Luận Báo/Công Luận.

L’Opinion (Công Luận): báo Pháp ngữ là hậu thân của tờ Semaine Colonial (tuần báo Thuộc địa); đặt tòa soạn tại số13-15 rue Catinat (~đường Tự Do/Đồng Khởi), Saigon; hoạt động từ năm 1897 đến 1939; đến năm 1916 phát hành thêm tờ Công Luận Báo bằng quốc ngữ; đến năm 1921 chuyển tòa soạn về số 146 rue Pellerin (~đường Pasteur), với Lucien Héloury làm giám đốc chánh trị, Pierre Jeantet làm chủ biên, Albert Oudot làm quản lý, M. Agier và I. Isidore biên tập; đến năm 1922 mở thêm văn phòng tại số số 71 rue Catinat.

L’Union : tên Pháp của báo quốc ngữ Hợp Nhứt (1937),

L’Union : tên Pháp của báo quốc ngữ Liên Hiệp (1930).

La cloche du matin : tên Pháp của nhật báo quốc ngữ Thần Chung.

La Cloche Fêlée (Cái chuông rè, 1923-26): lấy tiêu đề ‘Cơ quan tuyên truyền cho những tư tưởng Pháp’, là tờ báo Pháp ngữ do Nguyễn An Ninh thành lập, viết báo, biên tập và đích thân tham gia bán báo để tiếp thu dư luận độc giả và quần chúng; đồng thời nhờ Eugène Dejean de La Bâtie đứng tên giám đốc. Số đầu ra ngày 10-12-1923, bắt đầu quá trình trực diện công kích chế độ thực dân Pháp, chủ trương xây dựng nền văn hóa dân tộc, chống lại chủ thuyết Pháp-Việt đề huề, hô hào thống nhất hành động giữa vô sản Pháp và nhân dân thuộc địa để chống lại kẻ thù chung là thực dân và phong kiến. Báo La Cloche Fêlée nhanh chóng được đông đảo trí thức và thanh niên Việt Nam thời đó ủng hộ và cộng tác, ngược lại chánh quyền Pháp hết sức căm tức. Báo có sự cộng tác bài vở của nhiều cây bút gồm: Eugène Dejean de la Bâtie, Lê Văn Thử (Việt Tha), Nguyễn An Ninh, Phan Thanh, Phan Văn Hùm, Phan Văn Trường, Trần Văn Thạch… Do bị Pháp gây nhiều khó khăn, tháng 6-1924 Nguyễn An Ninh giao cho luật sư Phan Văn Trường làm giám đốc, với tiêu đề mới là ‘Cơ quan tuyên truyền dân chủ’. Từ 6-5-1926, Phan Văn Trường đổi tên báo thành L’Annam.

La Dépêche : tên Pháp của nhật báo quốc ngữ Điển Tín.

La Dépêche (La Dépêche d’Indochine, Điển Tín): nhật báo Pháp ngữ do Henry Chavigny de Lachevrotière thành lập và điều hành từ năm 1928 đến tháng 3-1945 đình bản khi Nhật đảo chánh Pháp; báo quán đặt tại số 25 rue Catinat (~đường Tự Do/Đồng Khởi), Saigon; cùng với bản Việt ngữ Điển Tín là tờ báo đạt được số lượng phát hành cao nhất tại Sài Gòn (và cả Đông Dương) thời ấy.

La Gauche communiste indochinoise : tên Pháp của báo quốc ngữ Đông Dương Tã Phái Cộng Sản Báo.

La Gazette de Huế (Nhật báo Huế): nhật báo Pháp ngữ do Bùi Huy Tín và Phạm Văn Ký chủ trương tại Huế từ năm 1936 đến 1939, với sự cộng tác của Đào Đăng Vỹ, Hoài Thanh, Nam Trân và Trần Điền; chủ nhiệm Bùi Huy Tín; chủ bút: Phạm Văn Ký (1936-38), Nguyễn Tiến Lãng (1938-39); cộng tác bài vở gồm: Bùi Huy Tín, Cung Giũ Nguyên, Đào Đăng Vỹ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Văn Ký, Trần Điền…

La Jeunesse : tên Pháp của báo quốc ngữ Thanh Niên.

La Jeune Indochine (organe du parti Jeune Annam): tạp chí Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn thời kỳ 1927-28; trong đó: Số 1 ra ngày 10-11-1927, số cuối ra ngày 19-1-1928.

La Libération : tên Pháp của báo quốc ngữ Giải Phóng.

La Liberté (Tự do): báo Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn thời kỳ 1921-28.

La Libre Cochinchine (Tự do Nam Kỳ): báo xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1922; trong đó: 4e année: n°552 (26 décembre 1925)…

La Lutte (Tranh đấu): báo Pháp ngữ do Tạ Thu Thâu thành lập tháng 4-1933 ở Sài Gòn nhân cuộc vận động tranh cử Hội đồng thành phố Sài Gòn, nhằm ủng hộ liên danh Sổ Lao Động. Báo có sự cộng tác của ba nhóm: nhóm quốc gia (Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Trịnh Hưng Ngẫu…), nhóm Cộng sản đệ tam (Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn 1934-37, Nguyễn Văn Tạo…) và nhóm Tả Đối Lập Troskist (Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Thử tức Việt Tha…). Báo ra được 4 số rồi ngưng 16 tháng, đến tháng 10-1935 lại ra tiếp số 5 cho đến năm 1939. Một vài số báo: …3e année: n°67 (14 janvier 1936)… Báo La Lutte tiếp nối La Cloche Fêlée, L’Annam, chống các chánh sách cai trị của thực dân Pháp, đòi tự do dân chủ, toàn xá chánh trị phạm, phát động tổ chức phong trào Đông Dương Đại Hội sôi nổi năm 1936, đạt nhiều kết quả to lớn. Sau đó, nội bộ La Lutte phân hóa. Do khác quan điểm lập trường nên nhóm Cộng sản Đệ Tam tách ra lập riêng tờ L’Avant garde ngày 29-5-1937 rồi sau đó đổi thành tờ Le peuple do Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Trần Văn Kiệt phụ trách theo cộng sản. La Lutte lại thành tờ báo riêng của nhóm Tả Đối Lập cho đến 1939 thì bị cấm.

La Lutte acharnée : tên Pháp của báo quốc ngữ Phấn Đấu.

La Lutte ouvrière : tên Pháp của báo quốc ngữ Thợ Thuyền Tranh Đấu.

La Lutte ouvrière : tên Pháp của báo quốc ngữ Tranh Đấu.

La Nation Annamite : xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

La Nouvelle Revue Indochinoise (Đông Dương tân tạp chí): báo Pháp ngữ do bà Christiane Fournier thành lập tại Vinh, Nghệ An; Số 1 ra năm 1936; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đức Giang, Trần Văn Tùng (cuối 1930s), v.v…

La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam): tạp chí Pháp ngữ do Phạm Lê Bổng thành lập, giám đốc và chủ nhiệm ở Hà Nội thời kỳ 1933-38; chủ bút Tôn Thất Bình (1934-45); có khuynh hướng ủng hộ hoàng đế Bảo Đại; cộng tác bài vở gồm: Đào Đăng Vỹ, Lê Tài Triển, Nguyễn Đức Bính, Nguyễn Khắc Kham, Nguyễn Vỹ…; trong đó: 1ère année: n°24 (9 décembre 1933)…

La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Đông Báo): báo Pháp ngữ; cộng tác bài vở gồm: Cung Giũ Nguyên…

La Presse indochinoise (Đông Dương Báo): nhật báo Pháp ngữ đặt tại số 16 rue Colombert, Saigon; hoạt động từ năm 1931 đến tháng 3-1945; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Vị (Vita, từ 1933), Nguyễn Văn Sinh…

La Résurrection (Hồi Sinh): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

La Revue caodaïste : tạp chí của Giáo hội Cao Đài xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1931.

La Revue Franco-Annamite : xem: Pháp Nam tạp chí.

La Revue Indochinoise : tên Pháp của báo quốc ngữ Đông Dương tạp chí tại Hà Nội (1913-19).

La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ): báo Pháp ngữ do Hồ Biểu Chánh thành lập; đặt tại số 72 Lagrandière, Saigon; hoạt động từ 1918 đến sau năm 1934; cộng tác bài vở gồm: Cung Giũ Nguyên, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Sâm, v.v…

La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương): báo Pháp ngữ là cơ quan ngôn luận của Đảng Lập Hiến do Bùi Quang Chiêu chủ trương, có khuynh hướng đối lập ôn hòa, xuất bản tại Sài Gòn và Pháp từ năm 1926; chủ nhiệm Nguyễn Phan Long…; cộng tác bài vở gồm: Cung Giũ Nguyên, Lê Trung Nghĩa…; trong đó: …2e année: n°1 (15 août 1927); 3e année: …n° 233 (9 mars 1928), …n° 285 (14 mars 1928)…  

La Vérité : tên Pháp của báo quốc ngữ Sự Thật.

La Voix annamite (Tiếng nói An Nam; organe de défense des intérêts annamites): báo Pháp ngữ ở Sài Gòn; hoạt động từ năm 1923 đến 1928; chủ bút Eugène Dejean de la Bâtie (1923-24); có khuynh hướng đối lập ôn hòa; trong đó: 1ère année: …n°46 (7 décembre 1923)…

La Voix de l’Orient : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Đông Thinh.

La Voix de la miséricorde : tên Pháp của tạp chí quốc ngữ Từ Bi Âm.

La Voix des missions catholiques : tên Pháp của báo quốc ngữ Công Giáo Đồng Thinh.

La Voix du peuple : tên Pháp của báo quốc ngữ Tiếng Dân.

La Voix Libre : báo Pháp ngữ do Ganofsky, đảng viên Xã hội Pháp thành lập ở Sài Gòn, có khuynh hướng đối lập ôn hòa với chánh quyền Đông Dương.

La Volonté Indochinoise (Ý chí Đông Dương): nhật báo Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn thời kỳ 1926-33; trong đó: …2e année: …n°492 (30 septembre 1927), n°493 (1er octobre 1927)…

Lao công (1923-37): tên Việt của báo Pháp ngữ Le Travail ở Sài Gòn.

Lao động (1936-37): tên Việt của báo Pháp ngữ Le Travail ở Hà Nội.

Lao Động (Le Travailleur, 1936-39): báo của Nghiệp đoàn lao động thuộc Cộng sản đệ tam ở Sài Gòn, hoạt động từ năm 1936 đến tháng 9-1939 bị cấm; trong đó: …Số 31 ra ngày 15-8-1936, Số 32 (1-11-1936), Số 33 (1-2-1937), Số 34 (5-6-1937), Bộ mới: …Số 12 (16-3-1939), …Số 14 (6-4-1939), Số 15 (13-4-1939)…

Lao Động (1944 đến nay): báo của Hội Công nhân cứu quốc và Tổng liên đoàn Lao động xuất bản trong vùng cộng sản kiểm soát.

Lao-Nông (Le Paysan): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Le Bulletin des Communes (Thành tích cộng đồng, hay Cáo trình các làng xã): công báo do thiếu tướng hải quân Bonard thành lập tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1862; đăng tải bằng Hán ngữ các thông cáo, nghị định, quyết định, tin tức… và lời hiểu dụ quần chúng của quân đội Pháp.

Le Bulletin du Comité d’Etudes Agricoles, Industrielles et Commerciales de l’Annam et du Tonkin (Kỷ yếu của Uỷ ban Nghiên cứu canh nông, kỹ nghệ và thương mại Trung Kỳ và Bắc Kỳ): công báo Pháp ngữ, hoạt động từ 1883 tại Hà Nội.

Le Bulletin Officiel d’Expédition de la Cochinchine (Thành tích biểu Viễn chinh Nam Kỳ): công báo thành lập đầu tiên tại Sài Gòn; cũng là tờ báo đầu tiên ấn hành tại Đông Dương; Số 1 ra ngày 29-9-1861; đăng tải bằng Pháp ngữ các thông cáo, nghị định, quyết định, tin tức… của quân viễn chinh Pháp.

Le Canard : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Vịt Đực.

Le canard déchainé (Vịt Đực): tuần báo hoạt kê bằng Pháp ngữ đặt tại Vinh, chung với báo quán Thanh Nghệ Tĩnh; chủ bút Nguyễn Đức Bính (Tiêu Viên); Số 1 ra ngày 12-1-1935.

Le Courrier de la Cochinchine (Nam Kỳ thời báo): tuần báo do Alfred Schreiner ấn hành thứ năm hằng tuần ở Sài Gòn từ năm 1897; cộng tác bài vở gồm Đặng Thúc Liêng (1905-07), Hồ Văn Lang, Lê Thọ Xuân… 

Le Courrier de Saigon (Sài Gòn Thời Báo; 1864-1904): công báo ra Số 1 năm 1864, số cuối năm 1904; đăng tải bằng Pháp ngữ các tin tức thời sự; đặc biệt là từ ngày 5-9-1865, báo này khởi đăng loạt bài ‘Notes historiques sur la nation annamite’ (Những ghi chép về dân tộc An Nam) của Théophile Le Grand de la Liraye, đưa ra thuyết sở dĩ có tên Giao Chỉ vì người bản địa ở châu thổ sông Hồng ngày xưa có hai ngón chân cái chạm vào nhau khi đứng ở tư thế nghiêm (!); từ năm 1904 báo trở thành báo tư nhân với tên gọi là Le Courrier Saigonnais.

Le Courrier de Saïgon (1888): bán tuần san Pháp ngữ xuất bản vào thứ ba và thứ sáu hàng tuần tại Sài Gòn, từ năm 1888; tòa soạn đặt tại số 12, rue Catinat, Saigon; chủ biên J. Linage; giá mỗi số 15 xu, giá nửa năm 8$, giá một năm 15$; trong đó: N1-A1 (3-4-1888), N1-A2 (6-4-1888), N1-A3 (10-4-1888), N1-A4 (13-4-1888), N1-A5 (17-4-1888), N1-A6 (20-4-1888), N1-A7 (24-4-1888)…

Le Courrier Indochinois : tên Pháp của báo quốc ngữ Đông Pháp Thời Báo.

Le Courrier Saigonnais (Sài Gòn Thời Báo bộ mới; 1904-40): nguyên là tờ Le Courrier de Saigon đổi tên; ấn hành thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bảy hàng tuần; giám đốc J. Ferriere; thư ký tòa soạn G. Moullet.

Le Cri de Hanoi : báo Pháp ngữ tại Hà Nội; giám đốc: Phùng Tất Đắc (Lãng Nhân)…    

Le Cri de Saïgon (Hebdomadaire illustré): tuần báo minh họa Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1912; tòa soạn đặt tại số 72, rue Paul Blanchy, Saigon; giám đốc kiêm quản lý Pierre Jeantet Sombsthay; giá 1 số 20 xu, giá 6 tháng 7$, giá một năm 12$; trong đó: …N8 (1-3-1912), N9 (8-3-1912), N10 (15-3-1912), N11 (22-3-1912), …N73 (13-6-1913)…

Le Cygne Bạch-nga : báo Pháp ngữ do Nguyễn Vỹ và Trương Tửu chủ trương tại Hà Nội năm 1937; ra được 6 số, nhưng do đăng một bài xã luận chống chánh sách thuộc địa, nên Nguyễn Vỹ bị phạt 6 tháng tù cùng với 1.000 đồng và báo bị rút giấy phép.

Le Flambeau d’Annam : tên Pháp của nhật báo quốc ngữ Đuốc Nhà Nam.

Le Flambeau d’Annam : báo Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn trong năm 1937; là ấn bản Pháp ngữ của báo quốc ngữ Đuốc Nhà Nam.

Le Flambeau du prolétaire : tên Pháp của báo quốc ngữ Đuốc Vô Sản.

Le Fonctionnaire indochinois (organe officiel de l’Association générale syndicale des fonctionnaires et agents d’Indochine): tạp chí là cơ quan ngôn luận của l’Association générale syndicale des fonctionnaires et agents d’Indochine, xuất bản từ năm 1936; trong đó: …2e année: n° 90 (15 octobre 1937)….

Le Front rouge : tên Pháp của báo quốc ngữ Mặt Trận Đỏ.

Le Jeune Annam (Thanh niên An Nam; 1926): báo Pháp ngữ đối lập, xuất bản ở Sài Gòn.

Le Jeune Indochine (Thanh niên Đông Dương): báo Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn; bị cấm theo Nghị định ngày 27-12-1927.  

Le Journal de Cochinchine : tên Pháp của báo quốc ngữ: Nam Kỳ (Nam Kỳ Nhựt Trình, Nhựt Trình Nam Kỳ).

Le Journal féministe : tên Pháp của báo quốc ngữ Phụ Nữ Tân Văn.

Le livre du petit (Pour la jeunesse scolaire – Cuốn sách của học trò): tập san Pháp ngữ do Lê Doãn Vỹ (Cẩm Thạch) ấn hành tại Hà Nội (1942-45), làm chủ bút và viết chánh; đã xuất bản không định kỳ một số ấn phẩm, truyện ngắn, truyện cổ tích, bài viết về giáo dục bằng Pháp ngữ.

Le Mékong : tên Pháp của báo quốc ngữ Long Giang Độc  Lập.

Le Merle mandarin (Satirique hebdomadaire): tuần báo châm biếm bằng Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn thời kỳ 1927-30; mỗi số giá 10 xu; trong đó: A2-N1 (28-9-1928), A2-N2 (5-10-1928), A2-N3 (12-10-1928), A2-N4 (19-10-1928), …A4-N1 (5-10-1930), A4-N2 (19-10-1930).

Le Midi colonial et maritime : tạp chí Pháp ngữ do Ernest Outrey thành lập năm 1919 tại Sài Gòn; giao cho Paul Édouard Vivien làm giám đốc điều hành (1919-27); đến năm 1927 tạp chí chuyển trụ sở về Marseille, Pháp.

Le Militant (Chiến binh; organe théorique paraissant le mardi): báo Pháp ngữ do Hồ Hữu Tường thành lập và điều hành ở Sài Gòn (1936-39), là cơ quan ngôn luận của Nhóm Tả Đối Lập (Đệ tứ quốc tế); trong đó: 1ère année: n°1 (1er septembre 1936), n°2 (8 septembre 1936), n°3 (15 septembre 1936), n°4 (22 septembre 1936)…; 2e année: …n°5 (23 mars 1937), …n°8 (13 avril 1937), n°9 (20 avril 1937), n°12 (11 mai 1937)…

Le Misogyne (Người ghét phụ nữ): báo Pháp ngữ tại Hà Nội; chủ nhiệm Bùi Huy Tín; chủ bút Nguyễn Tiến Lãng; in mực tím; thường đăng những bài ‘trêu ghẹo các cô tiểu thư tân thời’.

Le Moniteur des provinces : tên Pháp của báo quốc ngữ Nhựt Báo Tỉnh.

Le Nhà Quê : báo Pháp ngữ đối lập của Tạ Thu Thâu và Nguyễn Khánh Toàn thành lập ở Sài Gòn, nhằm tranh đấu chống thực dân nhưng chỉ ra được một số duy nhất vào sáng 11-2-1926 thì đến chiều ban biên tập bị bắt, báo bị đóng cửa vì can tội ‘xúi giục nổi loạn’; nhưng sau đó các thành viên còn lại vẫn tiếp tục phát hành báo nửa công khai nửa bí mật cho đến tận năm 1928; trong đó: Số 1 (11-2-1926), …Năm 3: …Số 61 (29-4-1928)…

Le Nouveau siècle : tên Pháp của báo quốc ngữ Tân Thế Kỷ.

Le Paria (Người Cùng Khổ): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Le Paysan de Cochinchine : tạp chí xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1937.

Le Peuple (Nhân dân): báo Pháp ngữ tại Hà Nội; chủ nhiệm Bùi Huy Tín; chủ bút Nguyễn Tiến Lãng.

Le Peuple (organe des travailleurs et du peuple indochinois): báo Pháp ngữ của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức ấn hành từ 24-9-1937 đến 9-1939 ở Sài Gòn, để thay thế tờ L’avant Garde vừa bị cấm tháng 8-1937 với số báo được đánh nối tiếp theo; cộng tác bài vở gồm: Trần Minh Tước (1938-39), v.v… trong đó: nouvelle série, n°30 (30 septembre 1938)…

Le Peuple noir : tên Pháp của báo quốc ngữ Dân Đen.

Le Populaire d’Indochine (Nhân dân Đông Dương): nhật báo Pháp ngữ của nhóm ‘những người theo chủ nghĩa xã hội Đông Dương’; báo quán đặt tại số 100 rue La Grandière, Saigon; hoạt động từ năm 1932 đến 1934; cộng tác bài vở gồm: Eugène Dejean de la Bâtie…

Le Progrès : tên Pháp của báo quốc ngữ Tân Tiến.

Le Progrès annamite (Tiến bộ An Nam): báo Pháp ngữ xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1924, có khuynh hướng đối lập ôn hòa, nhưng thỉnh thoảng cũng đăng những bài ủng hộ chánh quyền; chủ nhiệm Lê Quang Trình; trong đó: 1ère année: n° 56 (26 septembre 1924), n° 57 (30 septembre 1924), n° 58 (3 octobre 1924)…

Le Réveil : tên Pháp của báo Hán ngữ Giác Ngộ.

Le Revue Caodaiste (Cao Đài Tạp Chí): báo Pháp ngữ của Đạo Cao Đài, xuất bản ở Sài Gòn thời kỳ 1930-45.

Le Rigolo (Kẻ ngộ nghĩnh): báo Pháp ngữ, do một nhóm thanh niên tân học gồm Lê Thanh Cảnh, Lê Văn Thiết, Phan Văn Tài, Võ Chuẩn… chủ trương tại Huế từ năm 1914.

Le Soie d’Asie (Chiều Á Châu): nhật báo Pháp ngữ tại Sài Gòn; hoạt động thời kỳ 1940-44; chủ bút Cung Giũ Nguyên; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Sinh, v.v…

Le Son de Cloche : tên Pháp của nhật báo quốc ngữ Tiếng Chuông.

Le Temps de Hanoi : tên Pháp của báo quốc ngữ Hà Thành Thời Báo.

Le Temps et la vie : tên Pháp của báo quốc ngữ Thời Thế.

Le Traducteur (Dịch thuật): tạp chí song ngữ chuyên về dịch thuật, hoạt động tại Hà Nội từ năm 1940; do Trương Anh Tự làm chủ nhiệm và biên tập về Pháp ngữ và Việt ngữ.

Le Travail (Lao công): báo Pháp ngữ tranh đấu của Nghiệp đoàn Lao công Nam Kỳ xuất bản tại Sài Gòn thời kỳ 1923-37.

Le Travail (Lao động): tuần báo Pháp ngữ tranh đấu của hai nhóm cộng sản quốc tế là Đệ Tam và Đệ Tứ (Tả Đối Lập) xuất bản ở Hà Nội từ 16-9-1936 đến 16-4-1937; cộng tác bài vở gồm: Phan Thanh, Trần Minh Tước (1935-37)…; năm 1937 bị đình bản, hai nhóm này tiếp tục cho ra đời các báo chữ Việt: như: Tranh Đấu, Tháng Mười, Tia Sáng… của Tả Đối Lập; Tin Tức, Dân Chúng… của Đệ Tam.

Les Cahiers de la Jeunesse (Tập san Thanh Niên): nguyệt san Pháp ngữ do tiến sĩ Raoul Serène (viện trưởng Viện Hải học Nha Trang) và Cung Giũ Nguyên thành lập và đồng chủ nhiệm tại Nha Trang, hoạt động trong hai năm 1939-40.

Les Responsables (Những người hữu trách): đặc san Pháp ngữ do nhóm thanh niên tân học gồm Nguyễn Huy Bảo, Nguyễn Lân (Từ Ngọc), Nguyễn Thúc Hào, Tạ Quang Bửu chủ trương tại Huế năm 1936, với ý định là ‘phổ biến văn minh Âu Mỹ và tự gánh vác nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng vươn tới sự tiến bộ’.

Liên Hiệp (L’Union): báo hoạt động trong năm 1930; trong đó có số ra ngày 5-5-1930.

Lịch An Nam : ấn bản Nhà nước Pháp tại Đông Dương thời kỳ 1894-96.

Loa : tuần báo phát hành ngày thứ năm hàng tuần, do Bùi Xuân Hạc thành lập và chủ nhiệm ở Hà Nội năm 1934; số cuối là Số 103 ra tháng 2-1936; cộng tác bài vở gồm: Bùi Văn Bảo (Bảo Vân), họa sĩ Côn Minh (Đỗ Mộng Ngọc), Lan Khai (biên tập), Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa, 1935-36), Vũ Ðình Liên (thơ)…

Long Giang Độc Lập (Le Mékong): báo do Lê Hoằng Mưu thành lập và chủ bút tại Sài Gòn (1930-31); đến 1934 thì báo bị đình bản.

Lời Thăm (Lời Thăm Các Thày Giảng): bán nguyệt san của Giáo hội Công giáo địa phận Đông Đàng Trong thành lập năm 1922, đặt tại Tuy Phước, Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; mỗi số ấn hành 1.500 bản tại Nhà in Làng Sông; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Trọng Trí (Hàn Mạc Tử)…

Lục Tỉnh Tân Văn (六省新聞,1907-44): báo quốc ngữ do Pierre-Jeantet Sombsthay thành lập và giám đốc từ ngày 16-8-1907; đến năm 1909 được Francois Henri Schneider mua lại và vẫn để cho Pierre Jeantet giám đốc, rồi đến tháng 10-1921 bán lại cho Nguyễn Văn Của và đốc phủ sứ Lê Quang Liêm. Từ năm 1926, báo là cơ quan ngôn luận của Đảng Lập Hiến Đông Dương. Tòa soạn đặt tại số 6 rue Krantz (~đường Hàm Nghi), Saigon. Số 1 ra ngày 14-11-1907, Số 2 (21-11-1907), …Số 4 (5-12-1907), …Số 223 (16-5-1912), …Số 243 (3-10-19012), …Số 320 (9-4-1914), …Số 665 (4-8-1919)… Lúc đầu báo ra mỗi tuần một số, sau tăng ba số mỗi tuần vào các ngày thứ hai, tư, sáu. Các đời giám đốc kiêm chủ nhiệm gồm: Pierre Jeantet Sombsthay (1907-21), Nguyễn Văn Của (3-10-1921 đến tháng 12-1944). Các đời chủ bút gồm: Nguyễn Chánh Sắt (1907), Trần Chánh Chiếu (1908), Lương Khắc Ninh (1908-12), Trương Duy Toản (1912), …Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Tử Thức, Lê Hoằng Mưu (1921-44)… Cố vấn: Lê Quang Liêm (1921-44), Nguyễn Văn Vĩnh (1910-13). Cộng tác bài vở gồm: Bút Trà (Nguyễn Đức Nhuận, 1921), Dũ Thúc (Lương Khắc Ninh), Đạm Phương nữ sử, Đặng Thúc Liêng (từ 1911), Giác Ngã, Hoàng Minh Tự, Lê Quang Liêm, Lê Sum, Mộng Huê Lầu (Lê Hoằng Mưu), Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Bửu Mộc, Nguyễn Chánh Sắt, Phan Kế Bính, Phan Khôi (1915-20, 1924-29), Phạm Duy Tốn (1907-13), Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử (Nguyễn Hữu Ngỡi), Thiện Đắc, Trần Chánh Chiếu (Trần Nhựt Thăng), Trần Phong Sắc, Viên Hoành (Hồ Văn Hiến)… Khi Trần Chánh Chiếu làm chủ bút cả hai tờ Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn thì báo rất được độc giả chú ý nhờ nhiều bài viết ủng hộ phong trào Duy Tân và Đông Du do Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu phát động. Lục Tỉnh Tân Văn cũng phát động phong trào Minh Tân, với những bài báo, thơ, phú kêu gọi, giải thích, châm biếm, tranh luận, có khi ẩn ý, có khi gián tiếp chống lại chánh quyền thực dân, những người thân Pháp và ‘có tinh thần vọng ngoại’. Báo còn đề cập mọi vấn đề trong và ngoài nước (Pháp, Đức, Nga, Hoa, Nhật v.v…), nhất là kêu gọi ‘Cải biến Nam nhân’, khuyến khích người Việt lo thương mại, học nghề để tranh đua quyền lợi với Hoa kiều, Ấn kiều, Pháp kiều trong kinh tế. Năm 1908, Trần Chánh Chiếu bị Pháp bắt, Lương Khắc Ninh tiếp tục thay làm chủ bút Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn. Từ 3-10-1921, tờ Nam Trung Nhật Báo sáp nhập thêm vào Lục Tỉnh Tân Văn. Lục Tỉnh Tân Văn trở thành nhật báo khổ lớn, giá mỗi số 5 xu; giám đốc lúc này là Nguyễn Văn Của, chủ bút là Lê Hoằng Mưu; báo tồn tại đến 12-10-1944, có lẽ là tờ báo sống thọ nhất thời thuộc Pháp.

Ly Tao Tuần Báo : ấn hành tại Hà Nội từ năm 1937, qua vài lần đình bản rồi tục bản; chủ nhiệm là Đỗ Văn Tình.

Mai (Demain): tuần báo ra ngày thứ bảy, do nhà thơ Thúc Tề (Nguyễn Phước Nhuận) thành lập và điều hành ở Sài Gòn lúc 19 tuổi; Số 1 ra ngày 5-8-1935; đến tháng 2-1936 bán lại cho Đào Trinh Nhất đổi thành bộ mới, Số 1 (1-3-1936), …Số 68 (6-1-1939)…; cộng tác bài vở gồm: Dương Bạch Mai, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Lãng Tử (Thúc Tề), Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Ngân Giang (Đỗ Thị Quế, 1938-39), Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Tạo, Phan Thanh, Phan Văn Hùm…; báo chuyên viết về thanh niên, văn chương, khoa học, kinh tế và dưới thời Đào Trinh Nhất có nhiều lần cỗ võ đấu tranh đối lập; cuối cùng ngày 25-7-1939 Đào Trinh Nhất bị bắt trục xuất ra Bắc Kỳ và báo bị đóng cửa.

Majestic Chớp Bóng : báo do Rạp chiếu phim Majestic xuất bản ở Sài Gòn (1936-39), vừa quảng bá nghệ thuật điện ảnh, vừa thu hút khách xem vào rạp.

Mặt Trận Đỏ (Le Front rouge): báo của Thành ủy Sài Gòn Cộng sản Đệ Tam thực hiện thời kỳ 1936-37 ở Sài Gòn; trong đó: …Số 5 (19-9-1936), Số 6 (20-10-1936), Số 7 (10-12-1936), Số 8 (2-1937), …Số 10 (4-1937), Số 11 (10-1937)…

Mémoire Service Geologique Indochine (Kỷ yếu Sở Địa dư Đông Dương): chuyên san Pháp ngữ tại Hà Nội, khoảng 1916-25.

Miscellannées ou lectures instructives pour les élèver des écoles primaires, communales et cantonales : tên Pháp của nguyệt san quốc ngữ Thông Loại Khóa Trình (Sự Loại Thông Khảo).

Monde (Thế giới): báo Pháp ngữ xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1933; trong đó: 1ère année: n°1 (30 novembre 1933), n°2 (7 décembre 1933), n°3 (21 décembre 1933); 2e année: n°4 (4 janvier 1934), n°5 (11 janvier 1934), n°6 (18 janvier 1934), n°7 (25 janvier 1934), n°8 (1er février 1934)…

Moniteur du protectorat de l’Annam et du Tonkin (Tạp chí Giám sát chế độ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ): tạp chí Pháp ngữ do Chánh phủ Đông Dương ấn hành mỗi tháng, thời kỳ 1886-1943.

Mới : báo của Đoàn Thanh niên dân chủ, xuất bản ở Sài Gòn (1939); cộng tác bài vở gồm: Doãn Kế Thiện, Nguyên Hồng, Phan Khắc Khoan (Hồng Chương), Trần Minh Tước…

Mua và Bán : tên Việt của báo Pháp ngữ Achats et Ventes.

Mùa Gặt Mới : tạp chí văn chương ấn hành ở Hà Nội từ 1940; cộng tác bài vở gồm: Phạm Hầu, Trương Tửu (Mai Viên, Nguyễn Bách Khoa, 1940)…

Mũi Tên (La Flèche): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Mystériosa : tên Pháp của báo quốc ngữ Thần Bí Tạp Chí.

Nam Cường : tuần báo tại Hà Nội; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Nguyễn Bính…; Số 1 ra năm 1938; sau Số 129 (8-1940) thì tạm ngưng một thời gian; ra lại Số 1 (6-1941) cho đến số cuối là Số 27 ra tháng 12-1941.

Nam Dân Tạp Chí  : …

Nam Học Niên Khóa : báo ấn hành tại Hà Nội từ năm 1919; chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh; đến năm 1920 đổi thành Học Báo.

Nam Kỳ (Nam Kỳ Nhựt Trình, Nhựt Trình Nam Kỳ, Le Journal de Cochinchine): tuần báo quốc ngữ do Laudes thành lập tại Sài Gòn; tên báo ghi là ‘Nam Kỳ – nhựt trình mỗi tuần lễ in một lần nhằm ngày thứ năm’; giám đốc A. Schreiner; tòa soạn đặt tại số 53, rue National, Saigon; Số 1 ra ngày 21-10-1897, tức 26-9 năm Đinh Dậu; mỗi số có 16 trang; một xấp (số) giá một cắc bạc; người mua nhựt trình Nam Kỳ thời phải mua cho đủ một năm, với giá 5 đồng cho Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Mên, Lào, ngoài ra 6 đồng cho Langsa và ngoại quốc; nội dung báo đăng các nghị định (Công vụ), tin tức trong nước (Cõi nội tân văn, Hạt nội tạp vụ, Đông Dương chư hạt, Nam Kỳ các hạt), tin tức quốc tế (Ngoại quốc tân văn), bài vở sáng tác, biên khảo của độc giả gởi đến, quảng cáo rao vặt, và các bài viết, bản dịch của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Diệp Văn Cương, Huỳnh Tịnh Paulus Của…

Nam Kỳ Địa Phận (Semaine Religieuse; 1908-45): tuần báo quốc ngữ do giáo hội Công giáo xuất bản ở Sài Gòn từ cuối năm 1908, để phổ biến giáo lý Thiên chúa và tin tức thời sự, cổ võ phong hóa, khuyến khích bá nghệ, thương mại, canh nông; đến Số cuối 1849 (tháng 3-1945) thì đình bản vì chánh biến.

Nam Kỳ Khuyến Học Hội Tạp Chí : xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1926.

Nam Kỳ Kinh Tế Báo (L’Information économique de Cochinchine): tuần báo ấn hành tại Sài Gòn mỗi kỳ 800 bản; Số 1 ra ngày 7-10-1920; lúc đầu là tờ báo đơn thuần về kinh tế, nhưng từ năm 1921 thì bắt đầu tăng dần khuynh hướng phản đối các chánh sách kinh tế đương thời; đến tháng 11-1923 được Nguyễn Háo Vĩnh mua lại, làm chủ nhiệm và dùng tờ báo để phát động một chiến dịch kịch liệt chống đối chánh quyền thực dân về các chánh sách kinh tế lẫn chánh trị; vì thế báo bị đóng cửa sau số cuối là Số 43, ra ngày 21-2-1924; các đời chủ bút: Nguyễn Thành Út (1920-23), Cao Văn Chánh (1-1923 đến 2-1924); cộng tác bài vở gồm: Bửu Đình, Cao Văn Chánh (Thạch Lan), Huỳnh Thị Bảo Hòa, Nguyễn Háo Vĩnh, Nguyễn Thành Út, Phạm Minh Kiên, Trần Huy Liệu…

Nam Kỳ Nhựt Trình : xem Nam Kỳ.

Nam Kỳ Thể Thao : xuất bản ở Sài Gòn (1931); tổng lý Trần Văn Chim (Lâm Thế Nhơn, Phi Vân).

Nam Kỳ Thời Báo : tên Việt của tuần báo Pháp ngữ Le Courrier de la Cochinchine.

Nam Kỳ Tuần Báo : tuần báo do Hồ Văn Trung chủ trương, phát hành vào thứ năm hàng tuần; báo quán đặt tại số 9, đường Rivie, Sài Gòn; Số 1 ra ngày 3-9-1942, Số 2 (1942), Số 3 (1942), Số 4 (1942), Số 5 (1942), Số 6 (1942), …Số 9 (1942), …Số 16 (1942), …Số 22 (1943, số Tết, dày 66 trang), …Số 24 (1943), …Số 39 (1943), …Số 49 (1943), …Số 53 (1943), … Số 68 (1-1944), Số 69 (1944), Số 70 (1944), …Số cuối (85) ra ngày 8-6-1944; khổ báo 320 x 245mm; giám đốc kiêm chủ nhiệm Hồ Văn Trung; quản lý Hồ Văn Kỳ Trân (trưởng nam của Hồ Văn Trung); cộng tác bài vở gồm: Bất Tử, Cao Chi, Đào Thanh Phước, Hải Ngô, Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung), Hồ Văn Lang, Hương Trà, Hữu Nhân, Khuông Việt (Lý Vĩnh Khuông), Kim Tử Anh, Lê Chí Thiệp, Lê Thọ Xuân (Lê Văn Phúc), Lê Văn Vị (Vita), Mã Sanh Long, Miễn Trai, Ngạc Xuyên (Ca Văn Thỉnh), Ngọc Uớc, bác sĩ Ngô Quang Lý, Ngô Văn Đức, Nguyễn Hương Trà, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Tả Chơn, Nguyễn Thị Tố Lan, Nguyễn Văn Liên, Phạm Thiều, Phong Vũ, Quang Phong, Tam Chi, Thái Hữu Thành, Thân Văn (Nguyễn Văn Quý), Thiếu Sơn (Lê Sỹ Quý, Lạc Quan Nhơn), Thượng Tân Thị, Tịnh Đế, Tố Quyên, Trần Hồng, Trọng Liêm, Trúc Hà (1942-43), Trường Sơn Chí (Ung Ngọc Ky)…

Nam Nữ Giới Chung (Revue pour les jeunesgens): xuất bản ở Sài Gòn 1930-32; chủ bút Gabriel Võ Lộ… 

Nam Phong Tạp Chí (1917-34): nguyệt san văn học in bằng quốc ngữ, Pháp ngữ, Hán ngữ, do giám đốc chánh trị Phủ Toàn quyền Đông Dương Louis Marty và Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác thành lập. Số 1 ra ngày 1-7-1917, …Số Tết 1918, …Số 140 (7-1929), …Số 167 (1931), …Số 189 (1933), …Số 195 (1934), Số 196 (16-5-1934), …Số 208-209 (1934)… Giá mỗi số 50 xu, giá 1 năm 6$00. Thời kỳ 1919-34 được dùng làm cơ quan ngôn luận của Hội Khai Trí Tiến Đức. Lúc đầu báo ra mỗi tháng một kỳ, từ số 194 (15-4-1934) ra mỗi tháng 2 kỳ; xuất bản được 17 năm, gồm  210 số cho đến 16-12-1934 thì đình bản. Các đời chủ nhiệm gồm có: Phạm Quỳnh (chủ nhiệm kiêm chủ bút, 1917-32, tới số báo 192), Lê Văn Phúc (1933-34), Nguyễn Tiến Lãng (1934). Quản lý: Lê Văn Phúc (1917-34). Ban biên tập gồm có: Về tân học: Phạm Quỳnh (kiêm chủ bút tân học), Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Nguyễn Bá Học, Đông Hồ, Tương Phố. Cựu học: Dương Bá Trạc (đồng chủ bút), Nguyễn Bá Trác (chủ bút cựu học), Nguyễn Bá Học (1918-21), Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục… Ban Văn học gồm: kỹ sư Đặng Phúc Thông, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan… Cộng tác bài vở gồm: Bùi Hữu Diên, Bùi Kỷ, Chu Mạnh Trinh, Cung Giũ Nguyên, Doãn Kế Thiện, Dương Bá Trạc (từ 1918), Dương Quảng Hàm (Hải Lượng, 1920), Đạm Phương nữ sử, Đặng Phúc Thông, Đặng Thai Mai, Đoàn Quỳ (Đoàn Tư Thuật), Đoàn Như Khuê (Hải Nam), Đông Châu (Nguyễn Hữu Tiến), Đông Hà, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Ðông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ, thơ), Hán Thu, Hoàng Minh Giám (Chu Thiên), Hoàng Trọng Phu, Hoàng Xuân Hãn, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Lê Dư (Sở Cuồng), Lê Sỹ Quý (Thiếu Sơn), Lê Tài Trường, Lê Văn Phúc, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Công Tiễu, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Học Sỹ (Nam Trân), Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Mạnh Bổng (Mân Châu, 1917-34), Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Phan Lãng (1917-34), Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Ngọc (Ôn Như, 1917-34), Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Tố, Phan Khôi (1914-15), Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Phạm Tuấn Tài, Pierre Đỗ Đình (Đỗ Đình Thạch, từ 1930), Tản Đà, Thân Trọng Huề, Trần Đình Nam, Trần Huy Liệu, Trần Lê Nhân, Trần Trọng Kim, Trần Văn Giáp, Trúc Hà (1927-32), Tương Phố, Ưng Quả, Vũ Ngọc Phan… Nam Phong tạp chí trãi qua bốn giai đoạn: Quãng 1917-22, chuyên về dịch thuật  và sao lục, chú trọng Hán văn, đề cao văn minh nước Pháp. Quãng 1922-25, bổ sung Pháp văn, chú trọng khai hóa, giáo dục quần chúng. Quãng 1925-32, thiên hẳn về chánh trị, cổ võ Pháp Việt đề huề, quân chủ lập hiến, nhờ vậy, Phạm Quỳnh được Pháp và Triều đình Huế mời tham chánh tại triều đình. Quãng 1933-34: sau khi Phạm Quỳnh không còn phụ trách Nam Phong tạp chí nữa thì Nguyễn Trọng Thuật, Lê Văn Phúc, Nguyễn Tiến Lãng thay nhau điều khiển tờ báo, nhưng vẫn không theo kịp đà tiến bộ của báo chí, đến năm 1934 không còn thu hút được giới trí thức văn bút nữa, nên bị đình bản. Khi Đông Dương tạp chí không còn lôi cuốn được giới trí thức, Nam Phong tạp chí được chánh phủ thuộc địa lập ra thay thế để tiếp tục tuyên truyền sứ mạng khai hóa của Pháp ở Việt Nam, đánh bạt ảnh hưởng tuyên truyền của người Đức thời đó. Nam Phong tạp chí gồm các bài viết quốc ngữ, Hán văn, Pháp văn có chủ đề về triết học, văn chương, lịch sử Tây phương (nhất là nước Pháp) lẫn Đông phương (nghiên cứu các ngành cổ học Việt, chữ Hán, chữ Nôm..). Về chánh trị, Nam phong tạp chí chấp nhận sự cai trị của người Pháp, nhưng về văn chương, ngôn ngữ, tạp chí đã phổ biến nhiều danh từ triết học, khoa học mới có nguồn gốc Hán văn, Pháp văn, đã phổ biến những kiến thức căn bản của văn minh học thuật Âu tây, văn hóa Á Đông, bảo tồn được nền tảng văn hóa nước Việt.

Nam Thành : báo đặt tại Nam Định; Số 1 ra năm 1922; cộng tác bài vở gồm: Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân), v.v…

Nam Triều Quốc Ngữ Công Báo (Bulletin officiel en Langue Annamite): công báo của Triều đình Huế và Dinh Khâm sứ Pháp phát hành tại Huế; trong đó: Năm 1885 ấn hành số đầu tiên,…Năm 1938 (Số 8, trang đầu có đăng Dụ số 10 ngày 30-3-1938 của Vua Bảo Đại sáp nhập quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Nam Ngãi vào tỉnh Thừa Thiên)…

Nam Trung Nhựt Báo : nhật báo do Nguyễn Tử Thức thành lập và làm chủ nhiệm tại Sài Gòn từ năm 1917; chủ bút Diệp Văn Kỳ; phụ bút Lê Sum; đến 3-10-1921 sáp nhập vào báo Lục Tỉnh Tân Văn; cộng tác bài vở gồm: Diệp Văn Kỳ, Đặng Thúc Liêng, Lê Sum, Nguyễn Tử Thức…

Nam Việt Công Báo : báo tư nhân do Francois-Henri Schneider thành lập tại Sài Gòn, nhưng hợp đồng với Phủ Thống đốc Nam Kỳ như một công báo; hoạt động từ ngày 1-1-1911 đến 31-12-1913.

Nam Việt Quan Báo : do Francois-Henri Schneider thành lập và điều hành tại Sài Gòn, từ 1-1-1908 đến 1913. 

Nam Việt Tề Gia (Nam Việt Tề Gia Nhựt Báo): tuy gọi là nhật báo nhưng ấn hành hàng tuần tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1917, số cuối là Số 49 ra tháng 9-1918.

Nay : báo tại Mỹ Tho; Số 1 ra năm 1937, số cuối là Số 15 ra tháng 7-1938; cộng tác bài vở gồm: Lư Khê (Trương Văn Em), Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm), Trúc Hà (Trần Thiêm Thới)…

Nài Ngựa : báo ấn hành tại Sài Gòn từ năm 1939.

Nắng Sớm : nhật báo, xuất bản tại Sài Gòn từ 1941; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Vạn An…

Nắng Xuân : giai phẩm xuất bản Tết Đinh Sửu 1937 tại Quy Nhơn; cộng tác bài vở gồm: Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Phú Sơn (Nguyễn Viết Lãm), Trật Sên (Hàn Mạc Tử), Trọng Minh (Nguyễn Minh Vỹ, Tôn Thất Vỹ), Xuân Khai (Yến Lan)…

Ngày Mới : báo tại Sài Gòn; cộng tác bài vở gồm: Hoàng Trọng Miên (từ 1938), Thanh Nghị (Hoàng Trọng Quỵ, từ 1938), Thúc Tề (từ 1938), Trần Thanh Địch (từ 1938)…

Ngày Mới : tuần báo do Dương Tụ Quán thành lập và điều hành tại Hà Nội năm 1939; do ông Quán cho đăng nhiều bài đấu tranh đối lập nên sau Số 14 (tháng 9-1939) thì báo bị đóng cửa.

Ngày Nay (Aujourd’hui): báo hoạt động tại Hà Nội trong năm 1927.

Ngày Nay (30-1 đến 18-3-1935; 26-3-1936 đến 2-9-1940): tập san văn học tại Hà Nội, do Nguyễn Tường Cẩm thành lập và làm giám đốc, ấn hành mỗi tháng ba kỳ. Tòa soạn đặt tại số 80, đường Quan Thánh, Hà Nội. Số 1 ra ngày 30-1-1935. Báo đăng các phóng sự, thời sự, văn thơ, in trên giấy láng, chữ đẹp, nhiều hình ảnh minh họa, nhưng chi phí tốn kém phải bán giá cao, ít người dám mua nên ra 12 số, báo phải đình bản ngày 18-3-1935. Đến tháng 3-1936, do báo Phong Hóa bị đóng cửa, nên nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho tục bản báo Ngày Nay từ ngày 26-3-1936, để tiếp tục đường lối và công việc của báo Phong Hóa đang dang dở, nhưng để tránh sự chú ý của chánh quyền, báo Ngày Nay ít nói về chánh trị, giảm bớt bài châm biếm, trào phúng, chú ý tăng cường bài văn chương, thời sự, xã hội. Bên cạnh các số thường, báo ra được 4 số đặc biệt mừng Xuân: Số 1 (30-1-1935), …Số xx (Tết Đinh Sửu, 2-1937), …Số 54 (11-4-1937), …Số 72 (15-8-1937), …Số 96 (Tết Mậu Dần, 30-1-1938), …Số 144 (7-1-1939), …Số xx (Tết Kỷ Mão, 2-1939), …Số 176 (26-8-1939), …Số 198 (Tết Canh Thìn, 2-1940), …Số 203 (10-3-1940), …Số 206 (6-4-1940), …Số 222 (24-8-1940), Số 223 (31-8-1940), Số cuối 224 (7-9-1940). Các đời giám đốc: Nguyễn Tường Cẩm (5 số đầu), Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Kim Hoàn, Nguyễn Tường Tam (3-1936 đến 8-1940). Chủ bút: Nguyễn Tường Lân (3-1936 đến 8-1940). Ban biên tập cũng là Ban biên tập của báo Phong Hóa cũ. Cộng tác mỹ thuật gồm các họa sĩ Nguyễn Cát Tường (Lemur), Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Huyến, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Trần Bình Lộc. Cộng tác bài vở gồm: Anh Thơ (Vương Kiều Ân), Bảo Vân (Bùi Văn Bảo), Cẩm Thạch (Lê Doãn Vỹ), Đoàn Phú Tứ (thơ), Đoàn Văn Cừ, Hằng Phương, Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Huy Cận (Cù Huy Cận), Huy Thông (Phạm Huy Thông, thơ), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Lan Sơn (Nguyễn Đức Phòng, thơ), Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Nguyễn Cát Tường (họa sĩ Lemur), họa sĩ Nguyễn Gia Trí, họa sĩ Nguyễn Huyến, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Tường Cẩm, Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Phạm Thị Cả Mốc (Phạm Cao Củng, 1937), Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu), Thanh Tịnh (thơ), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1938-40, 1945), Thế Lữ (thơ), họa sĩ Tô Ngọc Vân, họa sĩ Trần Bình Lộc, Trọng Lang (Trần Tân Cửu, 1935-39), Vân Đài (thơ), Vi Huyền Đắc (Giới Chi, 1938), Xuân Diệu… Nhưng đến năm 1940, do chánh quyền Pháp chủ trương bóp nghẹt báo chí nên báo Ngày Nay bị đình bản từ số 224 ngày 7-9-1940. Năm 1945, Nguyễn Tường Bách chủ trương tờ Ngày Nay-Kỷ Nguyên Mới để nối tiếp truyền thống Phong Hóa, Ngày Nay, nhưng do ảnh hưởng thời cuộc nên ít lâu cũng đình bản.

Ngày Nay – kỷ nguyên mới : báo do Nguyễn Tường Bách chủ trương, xuất bản ở Hà Nội (1945).

Nghe Thấy : tuần báo tại Sài Gòn; Số 1 ra ngày 25-4-1935, Số cuối ra năm 1937.

Nghề Mới : tạp chí của Đệ tứ quốc tế xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1935, số cuối là Số 23 ra tháng 7-1938.

Nghề Mới : tuần báo đặt tại số 222 đường Maréchal Pétain, Hải Phòng; chuyên về xã hội, văn chương và kịch ảnh; chủ nhiệm Dương Trung Thực; chủ bút Nguyễn Vạn An; quản lý: Trần Đắc Nội, Trần Quang Tập; Số 1 ra ngày 10-4-1936.

Nghệ Thuật : tạp chí tại Sài Gòn; Số 1 ấn hành năm 1938, số cuối là Số 14 ra tháng 12-1939; cộng tác bài vở gồm: Lâm Thanh Lang (Xuân Khai, Yến Lan, thơ)…

Nghệ Thuật Việt Nam : tạp chí tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1941, …Số 6 ra ngày 9-4-1941; cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ, Ung Ngọc Ky (Trường Sơn Chí)…

Ngọ Báo (1934-36): xem: Hà Thành Ngọ Báo.

Ngòi Bút : do bác sĩ  Phạm Ngọc Khuê thành lập năm 1941 tại Sài Gòn.

Người Cùng Khổ : tên Việt của nguyệt san Pháp ngữ Le Paria.

Người ghét phụ nữ : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Misogyne.

Người Lao Khổ (Hommes de la classe pauvre): báo hoạt động trong năm 1930; trong đó: …Số 2 (2-5-1930), Số 3 (3-5-1930)…

Người Mới : tuần báo tại Hà Nội, có khuynh hướng đấu tranh đối lập; chủ bút Hoàng Trọng Miên; cộng tác bài vở gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Hoàng Trọng Quỵ, Lê Quang Lương (Bích Khê), Nguyên Hồng, Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh)…; Số 1 ra tháng 7-1939, …Số 5 (tháng 9-1939); các số ra ngày 23-11-1940, 30-11-1940, 7-12-1940 có nhiều bài tưởng niệm Hàn Mạc Tử…

Nhà Quê : xem: Le Nhà Quê.

Nhành Lúa (L’Épi de Riz): báo do Xứ ủy Trung kỳ cộng sản Đệ Tam tổ chức xuất bản ở Huế từ 15-1-1937 đến 10-3-1937 thì bị cấm; do Nguyễn Xuân Lữ làm chủ nhiệm danh nghĩa, Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn) làm thư ký tòa soạn; phát hành mỗi số 5.000 bản; với Nguyễn Chí Diễu, Phan Đăng Lưu, Hải Thanh, Lâm Mộng Quang… viết bài và biên tập.

Nhân dân : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Peuple.

Nhân dân Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Populaire d’Indochine.

Nhân Loại : tuần báo đặt tại số 14, phố Pottier, Hà Nội; chủ nhiệm Đặng Trọng Duyệt; Số 1 ra ngày 14-10-1934, số cuối là Số 18 ra tháng 6-1935; mỗi số 8 trang, giá bán 5 xu, giá 1 năm là 2$50, giá nửa năm 1$30; cộng tác bài vở gồm: Mộng Tuyết (thơ)…

Nhật báo của Huế : tên Việt của nhật báo Pháp ngữ La Gazette de Huế.

Nhật Tân : tuần báo ra ngày thứ tư, do Đỗ Văn thành lập tại Hà Nội; Số 1 ra ngày 2-8-1933, Số cuối 204 ra tháng 2-1935; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Xuân Huy, Phùng Tất Đắc (Cố Nhi Tân, Lãng Nhân), Vũ Ngọc Phan, Vũ Trọng Phụng (Thiên Hư, 1933)…

Nhi Đồng : tập báo thiếu niên nhi đồng do tuần báo Phụ Nữ Tân Văn xuất bản tại Sài Gòn; Số 1 ra ngày 15-9-1933…

Nhi Đồng Họa Bản : báo thiếu nhi ấn hành tại Hà Nội từ năm 1941; chủ nhiệm là bà Phạm Ngọc Khuê; quản lý Nguyễn Văn Hữu.

Những người bạn Huế (Tập san~): tên Việt của báo Pháp ngữ Bulletin des Amis du vieux Huế (BAVH).

Những người hữu trách : tên Việt của đặc san Pháp ngữ Les Responsables.

Những Tác Phẩm Hay : tạp chí là một tủ sách chuyên về tiểu thuyết, do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội thời kỳ 1938-44; ra hai tháng một số, vào các tháng 1, 3, 5, 7, 9, 11; mỗi số đăng một tiểu thuyết, hoăc thỉnh thoảng nhiều truyện ngắn, có số trang và giá bán không nhất định; chẳng hạn, số 160 trang giá 40 xu, số 180 trang giá 45 xu, số 200 trang giá 50 xu, số 225 trang giá 55 xu, số 250 trang giá 60 xu… Tủ Sách Những Tác Phẩm Hay gồm có: Bà Chúa Chè (Nguyễn Triệu Luật, 1938); Bảy Hựu (Nguyên Hồng, tập truyện ngắn, 1941); Cai (Vũ Bằng, hồi ký, 1944); Chiếc cáng xanh (Lưu Trọng Lư, 1941); Chúa Trịnh Khải (Nguyễn Triệu Luật, 1940); Cô gái làng Sơn Hạ (Ngọc Giao, 1942); Cuộc sống (Nguyên Hồng, 1942); Danh nhân Việt Nam qua các triều đại: Cận đại I (Phan Trần Chúc, 1942); Đứa cháu đồng bạc (Lê Văn Trương, 1939); Hận ngày xanh (Hoàng Cầm, 1942); Hận nghìn đời (Lê Văn Trương, 1938); Lầm than (Lan Khai, 1938); Lâu đài họ Hạ – Những truyện kỳ quái của Hoffmann (Vũ Ngọc Phan dịch, 1942); Lịch sử một tội ác (Lê Văn Trương, 1941); Liêu Trai Chí Dị (Nguyễn Khắc Hiếu dịch của Bồ Tùng Linh, 2 tập, 1939); Loạn kiêu binh (Nguyễn Triệu Luật, 1939); Một linh hồn đàn bà (Lê Văn Trương, 1940); Những con đường rẽ (Lê Văn Trương, 1941); O Chuột (Tô Hoài, 1943); Phấn hương (Ngọc Giao, 1939); Sau phút sinh ly (Lê Văn Trương, 1942); Tà áo lụa (Thanh Châu, 1942); Thềm nhà cũ (Nguyễn Xuân Huy, tập truyện ngắn, 1941); Truyện đường rừng (Lan Khai, 1940); Truyện hai người (Vũ Bằng, 1940); Trước đèn (Phùng Tất Đắc, phiếm luận, 1939); Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân, 1940).

Nhựt Báo : nhật báo của Nhóm Tả Đối Lập – Đệ Tứ Quốc Tế xuất bản ở Sài Gòn; chủ nhiệm Nguyễn Bảo Toàn; cộng tác bài vở gồm: Trần Chí Thành (Trần Tấn Quốc, 1938-39), v.v…; Số 1 ra năm 1937, đã vài lần đình bản rồi tục bản, đến tháng 9-1939 bị cấm hoàn toàn.

Nhựt Báo Tỉnh (Le Moniteur des provinces): tuy gọi là nhựt báo nhưng là tuần báo ấn hành thứ năm hàng tuần từ 1905 đến 1912 tại Sài Gòn; giám đốc là G. Garros.

Nhựt Tân Báo (L’Ere nouvelle): tuần báo đối lập ra ngày thứ năm hàng tuần; do Lê Thành Tường thành lập và điều hành tại Sài Gòn; chủ trương ‘trung lập và bênh vực quyền lợi công dân’; tòa soạn đặt tại số 112, rue d’Espagne, Saigon; các đời chủ nhiệm: Lê Thành Tường (1922-26), Cao Hải Để (tháng 7-1926 đến 1929); các đời chủ bút gồm: Phạm Minh Kiên, Gabriel Võ Lộ, Cao Hải Để; Số 1 ra ngày 6-4-1922; từ tháng 8-1926 có thêm ấn bản Pháp ngữ là bán tuần san L’Ere nouvelle; từ tháng 11-1926 được Cao Hải Để biến báo thành cơ quan ngôn luận của Đông Dương lao động đảng; hoạt động đến 22-6-1929 thì bị nhà cầm quyền Pháp khám xét, rồi đóng cửa ngày 6-7-1929; cộng tác bài vở gồm: Cao Hải Để, Cao Văn Chánh (Thạch Lan, 1926-27), Dương Quang Nhiều (Phụng Các), Gabriel Võ Lộ, Lê Thành Tường, Phạm Minh Kiên (Tuấn Anh)…

Nhựt Trình Nam Kỳ : xem Nam Kỳ.

Niết Bàn Tạp Chí : bán nguyệt san chuyên về Phật giáo, do Phạm Ngọc Thố thành lập, đặt tòa soạn tại số 27 rue de Verdun, Saigon; giá báo 1 số 12 xu, sáu tháng 1$30, một năm 2$50; Số 1 ra ngày 1-10-1933, Số 2 (31-10-1933), …Số 33 (15-3-1935), Số 34 (31-3-1935), …Số 42 (31-7-1935), …Số cuối ra năm 1939.

Notre Journal : báo Pháp ngữ xuất bản ở Hà Nội từ 1908; chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh (1908)…

Notre Ravue (Notre Revue Journal): báo Pháp ngữ xuất bản ở Hà Nội từ 1908; chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh (1908)…

Notre Voix (Tiếng Nói Chúng Ta): báo Pháp ngữ do Xứ ủy Bắc kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức xuất bản ở Hà Nội từ 1-1-1939 đến đầu 1939, ra được vài số thì bị cấm; báo do Trường Chinh phụ trách; cộng tác bài vở gồm: Phan Thanh, v.v…

Nouvelle revue indochinoise (organe de la jeunesse annamite et des Français d’Indochine): tạp chí Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1935.

Nông-Công-Thương (Agriculture-Industrie-Commerce): báo phát hành ở Hà Nội trong hai năm 1929-30; trong đó có số ra ngày 5-12-1929…

Nông Công Thương Báo : nhật báo ấn hành ở Hà Nội từ năm 1929; đến 1936 chuyển vào Sài Gòn lấy tên là Nông Công Thương Thời Báo; cộng tác bài vở gồm: Trần Minh Tước (1930-33)…

Nông Công Thương Thời Báo : báo xuất bản ở Sài Gòn 1936-40.

Nông Cổ Mín Đàm (農賈茗談 – Uống trà đàm luận nông thương – Causeries sur lagriculture et le commerce, 1901-21): là tuần báo quốc ngữ do một thành viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ là Paul Canavaggio thành lập và làm chủ nhiệm tại Sài Gòn, vào thời cuối có sự góp vốn của ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung. Báo ra đời theo nghị định ký ngày 14-2-1901 của toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Tòa báo lúc đầu đặt tại số  84 rue La Grandière (đường ~Gia Long/Lý Tự Trọng), Saigon, rồi có vài lần di chuyển (151 rue La Grandière…), cuối cùng về đặt tại số 12 rue Cap St–Jacques, Saigon. Báo phát hành thứ năm hàng tuần, mỗi số 8 trang; sau đó phát hành mỗi tuần 3 số. Nội dung của báo thường là các vấn đề về canh nông (trồng cao su, trà, cà phê…), kỹ nghệ, thương mại (loạt bài Thương cổ thiệt luận…), thơ văn… Hai trang đầu thường đăng tin tức thời sự, tóm lược thông báo, quy định nhà nước; các trang giữa đăng truyện giải trí, truyện dịch Tây-Tàu, thơ văn của cộng tác viên và độc giả, điểm báo châu Âu, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh, trồng trọt, chăn nuôi, thương mại; hai trang cuối đăng quảng cáo và rao vặt. Số 1 ra ngày 1-8-1901, …Số 39 (22-5-1902), …Số 48 (20-6-1902), …Số 150 (28-7-1904), …Số 153 (18-8-1904), Số 154 (25-8-1904), Số 155 (1-9-1904), …Số 166 (17-11-1904), …Số 173 (5-1-1905), …Số cuối cùng (4-11-1921). Giá một tờ báo là 12 xu. Giá báo cho người Việt 6 tháng là 3$, một năm là 5$; cho người Pháp và ngoại quốc 6 tháng là 5$, một năm là 10$. Ngày 24-4-1902, Canavaggie chết, quyền điều hành tờ báo chuyển sang Nguyễn Chánh Sắt (chủ nhiệm) và Nguyễn Tấn Phong (quản lý 1902-07). Sau đó báo được điều hành (chủ nhiệm) lần lượt bởi Gilbert Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Đông Trụ, Lê Văn Trung. Các đời chủ bút gồm: Lương Khắc Ninh (Dũ Thúc, 1901-06), Gilbert Trần Chánh Chiếu (1906-08), Nguyễn Chánh Sắt (1908-12), Nguyễn Viên Kiều (1912-15), Nguyễn Chánh Sắt (1915-16), Nguyễn Đông Trụ (1916-20), Lê Văn Trung (1920-21). Các ký giả-văn sĩ cộng tác bài gồm: Đặng Thúc Liêng (từ 1911), Đỗ Thanh Phong, Giáo Sỏi, Hồ Văn Hiến (Viên Hoành), Lê Hoằng Mưu (1912-15), Lê Quang Chiểu, Lê Sum, Lương Khắc Ninh (Dũ Thúc, 1901-12), Nguyễn An Khương, Nguyễn Bính (Biến Ngũ Nhy), Nguyễn Chánh Sắt (1901-18), Nguyễn Hữu Ngỡi (Tân Dân Tử), Nguyễn Quang Trường (Cửu Viễn), Nguyễn Văn Sỏi (Bồng Dinh, Giáo Sỏi, Liêm Khê, Thanh Phong), Phạm Minh Kiên (1921), Phan Quốc Quang (Thượng Tân Thị), Trần Huy Liệu, Trần Phong Sắc, Trương Quang Tiền… Trong 22 năm hoạt động, báo có nhiều bài tiến bộ, nhất là giai đoạn Trần Chánh Chiếu làm chủ bút (9-10-1906 đến 1908). Nông Cổ Mín Đàm đăng nhiều bài cổ võ, ủng hộ phong trào vận động Duy Tân và đích thân  Trần Chánh Chiếu đề ra phong trào Minh Tân đề xuất mở mang công thương của người bản xứ, học tập văn hóa và khoa học phương Tây, chống lại thủ cựu, mê tín dị đoan. Nổi bật là loạt bài Thương Cổ Thiệt Luận từ số 168-183 (từ tháng 12-1904), vận động người Việt hùn vốn mở mang thương mại, lấy Mỹ Tho làm căn cứ cạnh tranh với tư bản Hoa Kiều Chợ Lớn, giành lại quyền thương mại.

Nỗ lực Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Effort Indochinois.

Nữ Công Tạp Chí : báo xuất bản mỗi tháng một số tại Sài Gòn; thành lập và giám đốc Phan Thị Ngọc (Mỹ Ngọc); tòa soạn đặt tại số 51-53, đại lộ Galieni, Sài Gòn; Số 1 ra tháng 10-1936, số cuối là Số 17 (8-1938).

Nữ Giới : tuần báo xuất bản ở Sài Gòn; giám đốc Lương Hiểu Chi; quản lý Ngô Văn Phú; tòa soạn đặt tại số 5-7-9, phố Xaburanh, Sài Gòn; Số 1 ra tháng 11-1938, số cuối tháng 11-1939.

Nữ Giới Chung (Tiếng chuông thức tỉnh giới nữ): là tờ báo phụ nữ đầu tiên ở Đông Dương, do Henri Blaquière (chủ tờ báo Pháp ngữ Le Courrier Saigonnais) thành lập tại Sài Gòn, với Trần Văn Chim (Phi Vân) làm tổng lý, Lê Đức làm chủ nhiệm. Chủ bút là bà Sương Nguyệt Anh tức Nguyễn Xuân Khuê, là con gái thứ tư của thi hào Nguyễn Đình Chiểu. Tòa soạn đặt tại số 13 đường Taberd, Sài Gòn. Báo ra thứ sáu hằng tuần, gồm 18 trang khổ 29x41cm, sau đó tăng lên 24 trang, có 8 trang quảng cáo. Số 1 ra ngày 1-2-1918, đến sau số cuối ngày 19-7-1918 bị đình bản và chuyển thành một tờ báo khác là Đèn Nhà Nam. Tuần báo Nữ Giới Chung xác định mục đích là: nâng cao lý luận đạo đức, dạy chị em độc giả biết cách sống hằng ngày, cổ võ thương mại và tiểu công nghiệp, tạo sự nghiệp tiếp xúc giữa con người. Nội dung tạp chí đăng những bài xã luận, thơ, tiểu thuyết, tin tức thời sự, nữ công gia chánh, đề cao dân trí, khuyến khích phát triển nông-công-thương, đề cao vì tranh đấu nữ quyền và vai trò phụ nữ trong xã hội, chú trọng dạy đức hạnh nữ công, phê phán những ràng buộc đối với phụ nữ, chống mê tín dị đoan. Cộng tác bài vở gồm: Biến Ngũ Nhy (Nguyễn Bính)…

Nữ Lưu (Nữ Lưu Tuần Báo, L’Hebdomadaire de la Femme): tuần báo ra ngày thứ sáu hàng tuần, do bà Tô Thị Để thành lập tại Sài Gòn; chủ nhiệm kiêm chủ bút Tô Thị Để; quản lý Dương Văn Hạp; tòa soạn đặt tại số 104 phố Mac Mahon, Saigon; Số 1 ra ngày 22-5-1936, số cuối là Số 35 (4-6-1937); cộng tác bài vở gồm: Lư Khê (Trương Văn Em), Mai Huỳnh Hoa, Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm), Nguyễn Thị Lựu, Nguyễn Thị Thu…

Nước Nam : báo tại Hà Nội thời kỳ 1944-45; cộng tác bài vở gồm: Đào Trinh Nhất (Quán Chi), Trúc Khê (Ngô Văn Triện)…

Oeuvre Indochinois : báo Pháp ngữ tại Hà Nội; hoạt động khoảng 1932-35; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đắc Lộc (Mai Lâm, 1932-35), v.v…

Partout (Khắp nơi): tạp chí Pháp ngữ tại Sài Gòn; Số 1 ra ngày 23-1-1935.

Phan Yên Báo : thông tin nguyệt san, do Diệp Văn Cương thành lập và điều hành tại Sài Gòn; Số 1 ấn hành tháng 12-1898; ra được 7 số thì bị toàn quyền Paul Doumer ra sắc luật ngày 30-12-1898 cấm lưu hành, sau loạt bài chống đối sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam, nhất là bài ‘Đòn cân Archimède’ của Cuồng Sỹ (Diệp Văn Cương).

Pháp Âm : tập san Phật học do hòa thượng Thích Khánh Hòa thành lập, đặt tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho, để vận động giới Phật tử tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo; đây có lẽ là tờ báo Phật giáo bằng quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam; Số 1 ra ngày 13-8-1929, đến tháng 2-1937 tòa soạn chuyển về Sài Gòn và lấy tên báo là Pháp Âm Phật Học.

Pháp Âm Phật Học : nguyệt san tại Sài Gòn; Số 1 ấn hành tháng 2-1937, …Số 5 (5-1937), …Số 7 (7-1937), …Số 10 (10-1937), …Số 12 (12-1937), Số 13 (2-1938)…; đến tháng 7-1938 đổi thành tuần san Pháp Âm Tạp Chí.

Pháp Âm Tạp Chí : tuần san tại Sài Gòn; Số 1 ra tháng 7-1938, Số cuối 16 ra tháng 10-1938.

Pháp Luật Cố Vấn : báo xuất bản ở Sài Gòn (1938-40).

Pháp Nam Tạp Chí (La Revue Franco-Annamite): tạp chí song ngữ Pháp-Việt do Alfred-Ernest Babut thành lập và giám đốc tại Hà Nội từ năm 1929; chủ nhiệm Nguyễn Vỹ; chủ bút Trương Tửu.

Pháp-Viện báo : tên Việt của tạp chí Pháp ngữ Revue judiciaire franco-annamite.

Pháp Việt : bán tuần san về chánh trị, văn chương và xã hội, đặt tại số 216 phố Khâm Thiên, Hà Nội; mỗi tuần ra hai số vào thứ ba và thứ sáu; Số 1 ra ngày 25-9-1939.

Pháp-Việt : tuần báo chánh trị, văn chương, phụ nữ, thanh niên do Clément Edmond Koch thành lập và chủ nhiệm từ năm 1941 tại Hà Nội; quản lý Trần Nguyên Bí; cộng tác bài vở gồm: Vũ Ngọc Phan, v.v…

Pháp-Việt : nhật báo xuất bản tại Hà Nội từ tháng 1 đến tháng 3-1945.

Pháp Việt Nhứt Gia : bán tuần san (và nhà in) do Trần Quang Nghiêm thành lập và làm chủ nhiệm tại Sài Gòn từ tháng 2-1927, giao cho Cao Hải Để làm chủ bút; đến tháng 4-1927 cho Cao Văn Chánh thuê và được toàn quyền sử dụng; ông Chánh vừa bị chánh quyền rút giấy phép nhật báo Tân Thế Kỷ (19-4-1927), sang làm chủ nhiệm, cử Lê Thành Lư làm chủ bút, và dùng Pháp Việt Nhứt Gia để mở cuộc tấn công mới chống chánh quyền Pháp và Triều đình Huế; hoạt động được vài tuần thì báo bị chánh quyền kiểm duyệt, đục bỏ thông tin, tịch thu nhiều lần, cuối cùng bị toàn quyền Đông Dương Varenne ra lệnh cấm vào ngày 15-5-1927; ngày 17-5-1927 báo ra được thêm một số cuối với 10.000 bản phân phát miễn phí trên các đường phố Sài Gòn mà không trình lên bản kiểm duyệt trước khi in, rồi đình bản hẳn; khổ báo 61×45 cm; xuất bản mỗi tuần hai số vào thứ năm và thứ bảy; Số 1 ra ngày 8-3-1927; cộng tác bài vở gồm: Cao Hải Để, Lê Thành Lư, Trần Quang Nghiêm (Trần Quang Liêm)…

Pháp Việt Thông Báo : do Francois-Henri Schneider thành lập và điều hành tại Sài Gòn, từ 1-1-1914 đến 31-12-1918. 

Phản Đế (L’Anti-impérialiste): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Phấn Đấu (La Lutte acharnée): báo của Tỉnh ủy Mỹ Tho Cộng sản đệ tam thực hiện trong hai năm 1936-37; trong đó: …Số 11 (20-7-1936), Số 12 (15-8-1936), …Số 19 (15-3-1937)…

Phật Hóa Tân Thanh Niên : tập san do hòa thượng Thích Thiện Chiếu thành lập năm 1929, đặt tại chùa Chúc Thọ, ở Xóm Gà, Gia Định, để vận động trong giới thanh niên trí thức tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo.

Phong Hóa (Phong Hóa Tuần Báo, Revue hebdomadaire des Moeurs; 1932-36): Tuần báo Phong Hóa do Phạm Hữu Ninh chủ trương và làm quản lý tại Hà Nội. Chủ nhiệm là Nguyễn Xuân Mai. Số đầu tiên ra ngày 16-6-1932, nhưng nội dung không mới mẻ, không được độc giả ủng hộ, nên đến Số 13 định đình bản thì văn sĩ Nhất Linh điều đình mua tờ báo. Từ Số 14 ra ngày 22-9-1932 thực hiện đổi mới toàn diện tờ báo với ban biên tập gồm: Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh, làm giám đốc kiêm quản lý, phụ trách sáng tác và trình bày báo), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo hay Tứ Ly, phụ trách mục nghị luận, pháp luật, giáo dục công dân), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam, phụ trách truyện ngắn), Trần Khánh Giư (Khái Hưng, phụ trách tiểu thuyết), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ, phụ trách thi ca và trào phúng). Sau đó, Ban biên tập còn bổ sung thêm: Đỗ Đức Thu, Thanh Tịnh, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, các họa sĩ Nguyễn Cát Tường (Lemur), Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân. Một vài số báo: Số 1 (16-6-1932), …Số 13 (1932), Số 14 (22-9-1932), … Số Xuân Quý Dậu (1-1933), …Số 79 (5-1-1934), Số 80 (12-1-1934), Số 81 (19-1-1934), Số 82 (26-1-1934), Số 83 (2-2-1934), Số 84 (Xuân Giáp Tuất, 9-2-1934), Số 85 (16-2-1934), Số 86 (23-2-1934), Số 87 (2-3-1934), …Số Trung Thu (28-9-1934), …Số Xuân Ất Hợi (1-1935), …Số Xuân Bính Tý (1-1936), …Số cuối 190 (5-6-1936). Cộng tác bài vở gồm: Bùi Văn Bảo (Bảo Vân), Đoàn Phú Tứ (thơ), Lê Doãn Vỹ (Cẩm Thạch), Lưu Trọng Lư, Nguyễn Đức Phòng (Lan Sơn, thơ), Nguyễn Học Sỹ (Nam Trân, thơ), Nguyễn Văn Kiện, Nhất Linh (Đông Sơn), Phạm Cao Củng (Phạm Thị Cả Mốc, 1934), Phạm Huy Thông, Phan Khắc Khoan (Chàng Chương), Tân Việt, Thanh Tịnh (thơ), Thái Can (thơ), Thế Lữ (thơ), Trần Tân Cửu (Trọng Lang, 1935-36), Vân Đài (thơ), Vi Huyền Đắc (Giới Chi, 1935), Vũ Ðình Liên (thơ), Xuân Diệu… Mỗi số báo có 16-30 trang. Tờ báo chủ trương ‘lấy thiết thực làm căn bản, lấy khôi hài làm phương pháp, lấy cười cợt để sửa đổi phong hóa, trước vui thích sau ích lợi’. Báo tiếp tục con đường của Hoàng Tích Chu trước đó, là đả phá lối văn dài dòng theo Tây Tàu và xây dựng nền văn chương tiểu thuyết, thi ca mới. Ban biên tập báo Phong Hóa cũng chính là nhóm Tự Lực Văn Đoàn, chủ trương chỉ giữ lại những gì thật tinh hoa của cái cũ, còn lại thì đã phá, châm biếm những xấu xa cổ hũ cũ, để ‘theo mới, hoàn toàn mới’, muốn thực hiện ‘cuộc cải cách tiểu tư sản, đã phá hũ tục và đại gia đình kiểu cũ, để giải phóng cá nhân và đề cao tự do’. Nhờ nhóm Tự Lực Văn Đoàn đều có tài, có đường lối mới mẽ và đúng đắn mà báo Phong Hóa đạt được số độc giả kỷ lục. Nhưng ra được 190 số, đến tháng 6-1936, báo Phong Hóa bị đóng cửa.

Phóng Sự : tuần báo xuất bản ở Sài Gòn trong hai năm 1938-39; cộng tác bài vở gồm: Lê Liễu Huê (Ái Lan), Lê Trung Nghĩa…

Phóng Sự : nhật báo xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1941, Số cuối 342 ra tháng 8-1943. 

Phòng Canh Nông Nam Kỳ Tạp Chí : xuất bản ở Sài Gòn (1933-34).

Phồn vinh : tên Việt của báo Pháp ngữ Essor.

Phổ Thông : nhật báo xuất bản ở Hà Nội; Số 1 ra năm 1930, Số cuối 182 ra ngày 9-2-1932; cộng tác bài vở gồm: Ngân Giang (thơ), Ngô Tất Tố, Trần Huyền Trân…

Phổ Thông : tạp chí xuất bản ở Sài Gòn, do Lê Hoàng làm giám đốc; Số 1 ra năm 1936, Số cuối 46 ra tháng 1-1938; cộng tác bài vở gồm: Ðông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ, thơ), Huy Thông (thơ), Khổng Dương (thơ), Lê Liễu Huê (Ái Lan), bác sĩ Ngô Quang Lý…

Phổ Thông : tạp chí xuất bản ở Sài Gòn từ tháng 7-1938, là cơ quan của Đệ Tứ Quốc Tế.

Phổ Thông : tạp chí xuất bản ở Sài Gòn từ tháng 11-1938, là cơ quan của Đệ Tam Quốc Tế, dùng để giả mạo và xuyên tạc, đả kích báo Phổ Thông của Đệ Tứ Quốc Tế.

Phổ Thông Bán Nguyệt San : tạp chí văn chương do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội; hoạt động từ ngày 1-12-1936 đến 1950. Lúc đầu ra mỗi tháng 1 số vào ngày đầu tháng, và một số phụ (bis) vào ngày 16 nhưng không đều kỳ. Mỗi số thường đăng hết một bộ truyện dài hay tiểu thuyết và một phần Văn học phổ thông. Từ số 29 (16-2-1939), PTBNS ra đều đặn mỗi tháng hai số vào ngày 1 và 16. Số đầu tháng có 160-200 trang, giá 25 xu. Số giữa tháng 110-140 trang, giá 15 xu. Cũng có lúc ra luôn hai số 25 xu hay hai số 15 xu, nhưng trung bình mỗi năm thường có 12 số 25 xu và 12 số 15 xu. Giá báo 12 số nửa năm là 2$30, 24 số trọn năm là 4$50; ngoại quốc và công sở mua giá gấp đôi. Từ số 133 (1-7-1943), PTBNS không in những số mỏng nữa, mà chỉ còn phát hành mỗi tháng một tập chuyên về tiểu thuyết vào ngày 16, mỗi số có 160-200 trang, giá 25 xu; đồng thời vào đầu mỗi tháng ra thêm một tập Phổ Thông Chuyên San về văn chương, lịch sử hay triết học. Phần đầu Bộ Phổ Thông Bán Nguyệt San (1936-45) gồm: Số 1 (1-12-1936): Tắt lửa lòng (Nguyễn Công Hoan); Số 2 (1-1-1937): Cô Tư Thung (Lê Văn Trương); Số 3 (1-2-1937): Một đêm vui (Ngọc Giao); Số 4 (1-3-1937): Ai lên phố Cát (Lan Khai); Số 4bis (16-3-1937): Khói hương (Từ Ngọc); Số 5 (1-4-1937): Hai thằng khốn nạn (Nguyễn Công Hoan); Số 6 (1-5-1937): Một người 1 (Lê Văn Trương); Số 7 (1-6-1937): Một người 2 (Lê Văn Trương); Số 8 (1-7-1937): Tấm lòng vàng (Nguyễn Công Hoan); Số 9 (1-8-1937): Chiếc ngai vàng (Lan Khai); Số 10 (1-9-1937): Thần hổ (Tchya); Số 11 (1-10-1937): Hòm đựng người (Nguyễn Triệu Luật); Số 12 (1-11-1937): Một người cha (Lê Văn Trương); Số 13 (1-12-1937): Đào kép mới (Nguyễn Công Hoan); Số 14 (1-1-1938): Cái hột mận (Lan Khai); Số 14bis (16-1-1938): Con đười ươi (Lưu Trọng Lư); Số 15 (1-2-1938): Một trái tim (Lê Văn Trương); Số 15bis (16-2-1938): Ngược dòng (Từ Ngọc); Số 16 (1-3-1938): Linh hồn hay xác thịt (Tchya); Số 17 (1-4-1938): Người thầy thuốc (Thanh Châu); Số 18 (1-5-1938): Tơ vương (Nguyễn Công Hoan); Số 18bis (16-5-1938): Vì nghệ thuật (Kinh Kha); Số 19 (1-6-1938): Con đường hạnh phúc (Lê Văn Trương); Số 20 (1-7-1938): Gái thời loạn (Lan Khai); Số 21 (1-8-1938): Một lương tâm trong gió lốc 1 (Lê Văn Trương); Số 21bis (16-8-1938): Từ thiên đường đến địa ngục (Lưu Trọng Lư); Số 22 (1-9-1938): Một lương tâm trong gió lốc 2 (Lê Văn Trương); Số 23 (1-10-1938): Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan; bị cấm 1938); Số 24 (1-11-1938): Chế Bồng Nga (Lan Khai); Số 24 bis (1-11-1938): Liếp Ly (Lan Khai); Số 25 (16-11-1938): Nàng công chúa Huế (Lưu Trọng Lư); Số 26 (1-12-1938): Sóng vũ môn (Nguyễn Công Hoan); Số 27 (1-1-1939): Một nghìn một đêm lẻ (La Sơn dịch); Số 28 (1-2-1939): Trong ao tù trưởng giả 1 (Lê Văn Trương); Số 29 (16-2-1939): Trong ao tù trưởng giả 2 (Lê Văn Trương); Số 30 (1-3-1939): Hai ngả (Từ Ngọc); Số 31 (16-3-1939): Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên (Lê Văn Trương); Số 32 (1-4-1939): Người hay bóng (Lan Khai); Số 33 (16-4-1939): Huế một buổi chiều (Lưu Trọng Lư); Số 34 (1-5-1939): Lá ngọc cành vàng (Nguyễn Công Hoan); Số 35 (16-5-1939): Trang (Lan Khai); Số 36 (1-6-1939): Nát ngọc (Cấm Khê); Số 37 (16-6-1939): Cô Nguyệt (Lưu Trọng Lư); Số 38 (1-7-1939): Một cô gái mới (Lê Văn Trương); Số 39 (16-7-1939): Oan nghiệt (Tchya); Số 40 (1-8-1939): Cơn ác mộng (Lan Khai); Số 41 (16-8-1939): Trở vỏ lửa ra (Phan Khôi); Số 42 (1-9-1939): Nắng đào (Nguyễn Xuân Huy); Số 43 (16-9-1939): Tôi là mẹ 1 (Lê Văn Trương); Số 44 (1-10-1939): Tôi là mẹ 2 (Lê Văn Trương); Số 45 (16-10-1939): Tiếng gọi của rừng thẳm (Lan Khai); Số 46 (1-11-1939): Ngược đường Trường Thi (Nguyễn Triệu Luật); Số 47 (16-11-1939): Một người đau khổ (Lưu Trọng Lư); Số 48 (1-12-1939): Người vợ lẻ bạn tôi (Nguyễn Công Hoan); Số 49 (16-12-1939): Dứt tình (Vũ Trọng Phụng); Số 50 (1-1-1940): Bóng cờ trắng trong sương mù (Lan Khai); Số 51 (16-1-1940): Cánh sen trong bùn 1 (Lê Văn Trương); Số 52 (1-2-1940): Cánh sen trong bùn 2 (Lê Văn Trương); Số 53 (16-2-1940): Hồn về (Cấm Khê); Số 54 (1-3-1940): Cô gái tân thời (Lưu Trọng Lư); Số 55 (16-3-1940): Tay trắng trắng tay (Nguyễn Công Hoan); Số 56 (1-4-1940): Một ngìn một đêm lẻ (La Sơn dịch); Số 57 (16-4-1940): Hồng thầu (Lan Khai); Số 58 (1-5-1940): Chiếc nhẫn vàng (Nguyễn Công Hoan); Số 59 (16-5-1940): Khi người ta đói (Trương Tửu); Số 60 (1-6-1940): Con bồ câu trắng (Thanh Châu dịch); Số 61 (16-6-1940): Ông chủ báo (Nguyễn Công Hoan); Số 62 (1-7-1940): Bốn bức tường máu 1 (Lê Văn Trương); Số 63 (16-7-1940): Bốn bức tường máu 2 (Lê Văn Trương); Số 64 (1-8-1940): Cưỡi đầu voi dữ (Lan Khai); Số 65 (16-8-1940): Tình sử (Trúc Khê dịch); Số 66 (1-9-1940): Tội ác và hối hận (Vũ Bằng); Số 67 (16-9-1940): Lá cây nhuộm máu (La Sơn Thần Lĩnh); Số 68 (1-10-1940): Nợ nần (Nguyễn Công Hoan); Số 69 (16-10-1940): Kho vàng Sầm Sơn 1 (Tchya); Số 70 (1-11-1940): Kho vàng Sầm Sơn 2 (Tchya); Số 71 (16-11-1940): Để cho chàng khỏi khổ (Vũ Bằng); Số 72 (1-12-1940): Tiếng khóc trong sương (Lan Khai); Số 73 (16-12-1940): Trường đời 1 (Lê VănTrương); Số 74 (1-1-1941): Trường đời 2 (Lê VănTrương); Số 75 (16-1-1941): Trường đời 3 (Lê VănTrương); Số 76 (1-2-1941): Tấm lòng người kỹ nữ 1 (Trần Huyền Trân); Số 77 (16-2-1941): Tấm lòng người kỹ nữ 2 (Trần Huyền Trân); Số 78 (1-3-1941): Ba truyện mổ bụng (Vũ Bằng); Số 79 (16-3-1941): Cánh buồm thoát tục (Lan Khai); Số 80 (1-4-1941): Tình sử Việt Nam (Trúc Khê Ngô Văn Triện); Số 81 (16-4-1941): Cô Nhung (Lưu Trọng Lư); Số 82 (1-5-1941): Xao Kham La (Lâm Mỹ Hoàng Ba); Số 83 (16-5-1941): Ngày mai trời lại sáng (Nguyễn Dân Giám); Số 84 (1-6-1941): Nó giết người (Lê Văn Trương); Số 85 (16-6-1941): Rắn báo oán (Nguyễn Triệu Luật); Số 86 (1-7-1941): Người anh cả 1 (Lê Văn Trương); Số 87 (16-7-1941): Người anh cả 2 (Lê Văn Trương); Số 88 (1-8-1941): Người anh cả 3 (Lê Văn Trương); Số 89 (16-8-1941): Cần Vương (Phan Trần Chúc); Số 90 (1-9-1941): Tình sử 2 (Trúc Khê dịch); Số 91 (16-9-1941): Đỉnh non thần 1 (Lan Khai); Số 92 (1-10-1941): Đỉnh non thần 2 (Lan Khai); Số 93 (16-10-1941): Người tráng sĩ áo lam (Nguyễn Xuân Huy); Số 94 (1-11-1941): Trên đường sự nghiệp 1 (Nguyễn Công Hoan); Số 95 (16-11-1941): Trên đường sự nghiệp 2 (Nguyễn Công Hoan); Số 96 (1-12-1941): Trên đường sự nghiệp 3 (Nguyễn Công Hoan); Số 97 (16-12-1941): Bông sen trắng (Hoàng Cầm kể); Số 98 (1-1-1942): Hai anh em (Lê Văn Trương); Số 99 (16-1-1942): Người ngàn thu cũ (Trần Huyền Trân); Số 100 (1-2-1942): Cây đèn thần (Hoàng Cầm thuật); Số 101 (16-2-1942): Ai hát giữa rừng khuya 1 (Tchya); Số 102 (1-3-1942): Ai hát giữa rừng khuya 2 (Tchya); Số 103 (16-3-1942): Theo lớp mây đưa (Lan Khai); Số 104 (1-4-1942): Dưới lũy Trường Dục (Phan Trần Chúc); Số 105 (16-4-1942): Lẽ sống (Trần Huyền Trân); Số 106 (1-5-1942): Tiếng gọi của lòng 1 (Lê Văn Trương); Số 107 (16-5-1942): Tiếng gọi của lòng 2 (Lê Văn Trương); Số 108 (1-6-1942): Mang xuống tuyền đài (Thiên phương dạ đàm) (Hoàng Cầm); Số 109 (16-6-1942): Sống nhờ 1 (Mạnh Phú Tư); Số 110 (1-7-1942): Sống nhờ 2 (Mạnh Phú Tư); Số 111 (16-7-1942): Trăm lạng vàng (Trúc Khê); Số 112 (1-8-1942): Tình ngoài muôn dặm (Lan Khai); Số 113 (16-8-1942): Lòng mẹ 1 (Lê Văn Trương); Số 114 (1-9-1942): Lòng mẹ 2 (Lê Văn Trương); Số 115 (16-9-1942): Cùng một ánh trăng (Thanh Châu); Số 116 (1-10-1942): Qua những màn tối 1 (Nguyên Hồng); Số 117 (16-10-1942): Qua những màn tối 2 (Nguyên Hồng); Số 118 (1-11-1942): Người vợ già (Mạnh Phú Tư); Số 119 (16-11-1942): Con nhà nghèo (Nguyễn Đức Chính); Số 120 (1-12-1942): Anh vẹo (Lê Văn Trương); Số 121 (16-12-1942): Thưởng trì cung 1 (Phan Trần Chúc); Số 122 (1-1-1943): Thưởng trì cung 2 (Phan Trần Chúc); Số 123 (16-1-1943): Thoi mộng (Hoàng Cầm); Số 124 (1-2-1943): Truyền kỳ mạn lục 1 (Trúc Khê dịch); Số 125 (16-2-1943): Truyền kỳ mạn lục 2 (Trúc Khê dịch); Số 126 (1-3-1943): Truyền kỳ mạn lục 3 (Trúc Khê dịch); Số 127 (16-3-1943): Quên cả thù (Vũ Bằng); Số 128 (1-4-1943): Hối hận (Lan Khai); Số 129 (16-4-1943): Thằng còm 1 (Lê Văn Trương); Số 130 (1-5-1943): Thằng còm 2 (Lê Văn Trương); Số 131 (16-5-1943): Quán nải 1 (Nguyên Hồng); Số 132 (1-6-1943): Quán nải 2 (Nguyên Hồng); Số 133 (16-6-1943): Thuốc mê (Thâm Tâm); Số 134 (16-7-1943): Bốn con yêu và hai ông đồ (Nguyễn Triệu Luật); Số 135 (16-8-1943): Một lương tâm trong sương mù (Lê Văn Trương); Số 136 (16-9-1943): Vết cũ 1 (Mạnh Phú Tư); Số 137 (16-10-1943): Vết cũ 2 (Mạnh Phú Tư); Số 138 (16-11-1943): Mũi tên thuốc độc (Lê Văn Trương); Số 139 (16-12-1943): Giăng thề (Tô Hoài); Số 140 (?-1944): …; Số 141 (?-1944): …; Số 142 (1-4-1944): Bùi Huy Bích danh nhân truyện ký (Trúc Khê); Số 143 (1944): Bọn trẻ tàn tật (Thâm Tâm); Số 144 (1-5-1944): Ba loại văn (Vũ Ngọc Phan); Số 144bis (1-5-1944): Chinh Phụ Ngâm Khúc dẫn giải (Nguyễn Đỗ Mục); Số 145 (?-1944): …; Số 146 (?-1944): …; Số 147 (?-1944): …; Số 148 (1-8-1944): Chinh Phụ Ngâm Khúc dẫn giải (Nguyễn Đỗ Mục); Số 149 (?-1944): …; Số 150 (?-1944): …; Số 151 (?-10-1944): …; Số 152 (?-1944): …; Số 153 (?-1944): Gánh hát sử Nam (Thâm Tâm); Số 154 (?-1944): …; Số 155 (?-1945): …; Số 156 (?-4-1945): Bích Câu Kỳ Ngộ dẫn giải (Nguyễn Đỗ Mục)…

Phổ Thông Chuyên San : do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội; là một phụ trương của Phổ Thông Bán Nguyệt San; theo đó, kể từ 1-7 đến 1-12-1943, PTBNS ra thêm mỗi tháng một tập PTCS chuyên về văn chương, lịch sử hay triết học; mỗi tập là một sách chuyên đề, có số trang và giá bán không nhất định…; Số 1 (1-7-1943): Lục Vân Tiên dẫn giải (Đinh Xuân Hội); Số 2 (1-8-1943): Trần Thủ Độ (Trúc Khê); Số 3 (1-9-1943): Trương Vĩnh Ký (Lê Thanh); Số 4 (1-10-1943): Quốc sử diễn ca dẫn giải (Nguyễn Đỗ Mục); Số 5 (1-11-1943): Thi sĩ Trung Nam (Vũ Ngọc Phan); Số 6 (1-12-1943): Tang thương ngẫu lục (Trúc Khê dịch của Nguyễn An và Phạm Đình Hổ).

Phụ Nữ : tạp chí do bà Nguyễn Thị Thảo thành lập và chủ nhiệm kiêm chủ bút; quản lý Bùi Châu Quý; tòa soạn đặt tại số 7 Hội Vũ, Hà Nội; xuất bản không định kỳ; Số 1 ra ngày 16-2-1938, số cuối ra tháng 4-1939; cộng tác bài vở gồm: Anh Thơ (Vương Kiều Ân), Chế Lan Viên, Lan Hương, Lệ Chi, Nguyễn Vỹ (thơ), Yến Lan (Lâm Thanh Lang, Xuân Khai, thơ)…

Phụ Nữ Tân Tiến : Bộ cũ là bán nguyệt san Phụ Nữ Tân Tiến ra ngày 1 và 15 hàng tháng; Số 1 ra ngày 29-7-1932, số cuối là Số 24 (15-7-1933); thành lập, chủ nhiệm kiêm chủ bút là bà Lê Thành Tường; tòa soạn đặt tại số 19, đường Thiệu Trị, Huế. Bộ mới là tuần báo Phụ Nữ Tân Tiến ra ngày thứ năm hàng tuần; do quan Nghi lễ đại thần vừa hồi hưu là Hồ Phú Viên mua lại báo và giao cho con gái và rể là Hồ Thị Thục và Nguyễn Tấn quản lý và chủ bút; chủ nhiệm Phạm Bá Nguyên; tòa soạn đặt số 97 rue Gia Long, Huế; Số 1 ra ngày 16-3-1934, nhưng ra được đến số 4 (tháng 4-1934) cũng đình bản. Cộng tác bài vở gồm các cô: Dã Lan, Giạ Thảo, Hải Nữ, Madame Tôn Thất Vinh, Mlle Lê Hoa, Mlle Nguyễn Thị Dung, Mlle Nguyễn Thị Việt, Mme Đinh  Gia Thuyết, Mme Nguyễn Thị An Hòa, Nguyễn Thị Bạch Mai, Nguyễn Thị Xuân Mai…

Phụ Nữ Tân Văn (Le Journal féministe): tuần báo ấn hành ngày thứ năm hàng tuần tại Sài Gòn (1929-35), với tôn chỉ ‘là một cơ quan độc lập, chuyên tâm khảo cứu những vấn đề quan hệ tới đàn bà tức là quan hệ tới quốc gia xã hội…, không đảng phái, chỉ thờ chơn lý làm thần minh, Tổ quốc làm tôn giáo’. Tòa báo đặt tại số 42 rue Catinat, Sài Gòn, sau đó chuyển về số 45, rue Vannier, Saigon. Báo gồm 32 trang khổ 23×32,5 cm, giá mỗi số 15 xu. Số 1 ra ngày 2-5-1929, …Số 4 (23-5-1929), …Số 57 (19-6-1930), Số 58 (26-6-1930), …Số 63 (31-7-1930), …Số 103 (8-10-1931), Số mùa xuân 1932, …Số 183 (12-1-1933), Số 211 (10-8-1933), …Số Nhi đồng (12-1933), …Số 227 (7-12-1933)…; nhưng trong quá trình hoạt động nhiều lần bị đình bản và được tục bản; chẳng hạn đến Số 271 (ngày 20-12-1934) bị đình bản; lại ra được Số 272 (11-4-1935) và Số 273 (21-4-1935) thì lại bị đình bản và trở thành số cuối cùng. Mỗi số in trung bình 10.000 bản phát hành khắp ba kỳ, tuy có lúc bị cấm phát hành ra Trung Bắc. Chủ nhân sáng lập kiêm quản lý là bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh) với sự cộng tác của ký giả Cao Văn Chánh. Chủ nhiệm là ông Nguyễn Đức Nhuận (từ 2-5-1929 đến 18-3-1933). Các đời chủ bút gồm: Phan Khôi, Đào Trinh Nhất… Ban biên tập gồm: các bà/cô Cao Thị Khanh (bà Nguyễn Đức Nhuận), Cao Thị Ngọc Môn, Hướng Nhựt, Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh), Phạm Vân Anh, Phan Thị Nga, Thu Tâm nữ giáo, Trần Thanh Nhàn, các ông Bùi Thế Mỹ, Bửu Đình, Cao Văn Chánh, Đào Trinh Nhất, Hồ Biểu Chánh, Phan Khôi, bác sĩ Trần Văn Đôn, Trịnh Đình Rư, luật sư Trịnh Đình Thảo. Cộng tác bài vở thường xuyên gồm: Á Nam (Trần Tuấn Khải), Ái Lan (Lê Liễu Huê), Bà Tùng Long (Lê Thị Bạch Vân, 1933-35), Bửu Đình, Cao Văn Chánh (Thạch Lan, 1929-34), Cẩm Tâm nữ sĩ, Diệp Văn Kỳ, Đạm Phương nữ sử, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Ðông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ, thơ), Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí, thơ), Hằng Phương, Hoàng Thị Dân, Hồ Văn Hảo, Huấn Minh, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Huỳnh Thúc Kháng, Khổng Tuyên, Khương Hữu Dụng (Thế Nhu, thơ), Lãng Tử (Thúc Tề), Lê Thị Huỳnh Lan, Lưu Trọng Lư, Mme Công Hầu, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Thị Bạch Minh, Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh nữ sĩ, 1932-34), Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Văn Vĩnh, Nho Nhã, Phan Bội Châu, Phan Khôi (1929-33), Phan Thị Bạch Vân (Hoàng Thị Tuyết Hoa), Phan Thị Nga, Phan Văn Hùm, Phạm Quỳnh, Phạm Vân Anh, Quách Tấn, Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu), Tân Việt, Thanh Tâm, Thiếu Sơn (Lê Sỹ Quý, 1935), Thụy An (Lưu Thị Yến, 1930-34), Thượng Tân Thị (Phan Quốc Quang, thơ), Tố Phang (Ngô Văn Phát), Tố Quyên, Trần Quang Nghiệp (1929-32), Trần Thanh Mại, Trần Thị Hường, Trần Trọng Kim, bà Trần Văn Năm, Trần Việt Sơn, Trịnh Đình Rư, luật sư Trịnh Đình Thảo, Trúc Hà (1929-30), Văn Trường, Vân Đài nữ sĩ (thơ)… Báo có nhiều ảnh hưởng về xã hội, văn chương và là tờ báo phụ nữ tiêu biểu nhất thời thuộc Pháp. Nội dung tuần báo gồm nhiều vấn đề. Những số đầu đăng tin về cuộc khởi nghĩa Quốc dân đảng và phong trào kháng Pháp, ý kiến về phụ nữ của các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá… Sau đó, báo mở nhiều chuyên mục: Ý kiến chúng tôi đối với thời sự, vấn đề giải phóng phụ nữ, phụ nữ và gia đình, vệ sinh, khoa học, tiểu thuyết, nhi đồng, tin tức thời sự… Báo tổ chức nhiều hoạt động xã hội như cổ võ nữ công (dạy nghề cho phụ nữ), đấu xảo nữ công, thể thao phụ nữ, hội chợ phụ nữ, nữ ký nhi viện, trợ cấp học sinh nghèo du học Pháp, mở quán ăn bình dân cho dân lao động và thất nghiệp v.v… Đặc biệt, năm 1932, Phụ Nữ Tân Văn đăng những bài của Phan Khôi, nữ sĩ Manh Manh… cổ súy cho phong trào thơ mới. Do có tính chất phổ thông và chủ trương đối lập ôn hòa, Phụ Nữ Tân Văn chiếm nhiều thiện cảm của độc giả nam nữ cả nước thời kỳ 1929-35.

Phụ Nữ Thời Đàm : báo do bà Nguyễn Văn Đa thành lập và điều hành ở Hà Nội từ năm 1930 đến 1938. Báo gồm 28 trang khổ 20,5 x27 cm. Lúc đầu là nhật báo ra hàng ngày, trong đó: Số 1 ra ngày 8-12-1930, …số cuối là Số 138 (20-6-1931) thì đình bản; chủ nhiệm là bà Nguyễn Văn Đa; chủ bút Ngô Thúc Địch; tòa soạn đặt tại số 11-13, phố Sông Tô Lịch, Hà Nội. Đến ngày 17-9-1933 báo ra số 1 bộ mới, chuyển thành tuần báo ra ngày chủ nhật hàng tuần; chủ nhiệm là bà Nguyễn Văn Đa; chủ bút Phan Khôi (17-9-1933 đến tháng 2-1935)…; tòa báo đặt tại số 72, phố Hàng Bồ, Hà Nội; trong đó, Năm thứ tư, Số 1 ra ngày 17-9-1933, Số 2 (24-9-1933), …Số 5 (15-10-1933),…Số 15 (24-12-1933), …Số 18 (14-1-1934)… Thời kỳ 1936-38, bà Nguyễn Văn Đa cho thuê báo làm cơ quan của Đệ Tứ quốc tế cộng sản ở Bắc Kỳ. Sau đó báo được bà Đa lấy lại cho ra bộ mới trong năm 1938, nhưng đình bản hẳn cuối tháng 12-1938. Cộng tác bài vở gồm: Chương Dân (Phan Khôi), Cô Liên Hương (Lưu Trọng Lư), Khương Hữu Dụng (Thế Nhu, thơ), Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Nguyễn Xuân Huy, Phạm Ðình Tân, Thu Vân, Thụy An (Lưu Thị Yến), Trần Minh Tước (1930-33), Trần Thanh Mại, Trần Thị Trinh Chính, Trần Tuấn Khải (Á Nam), Vũ Đình Liên…

Phụ Nữ Tiến : báo xuất bản ở Trung Kỳ.

Phụ Trương Hoang Giang Nữ Hiệp – Tiểu Thuyết Thứ Bảy : 52 tập phụ trương của tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy tại Hà Nội; do Nghiêm Xuân Lãm dịch bộ truyện Hoang Giang Nữ Hiệp của Cố Minh Đạo; bắt đầu xuất bản kèm với số 26 T.T.T.B. (30-11-1934); số phụ trương đầu tiên 16 trang được biếu không độc giả T.T.T.B.; từ số phụ trương 2 có 16 trang bán giá 3 xu; sau đó mỗi tuần ra một số phụ trương 24 trang, giá 5 xu, tổng cộng cả bộ 52 số là đúng một năm (1935); nếu độc giả đặt 1 năm báo T.T.T.B. thì được mua 52 số H.G.N.H. với giá 1$. 

Phụ Trương Tiểu Thuyết Thứ Bảy : tập phụ trương của tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy tại Hà Nội; số đầu tiên ấn hành ngày 7-6-1941 kỷ niệm Đệ thất chu niên của Tiểu Thuyết Thứ Bảy; sau đó ra tiếp hàng tuần cho đến 19xx; mỗi số phụ trương có 24 trang, giá 5 xu.

Phục Hưng : báo do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh và ký giả Hiền Sĩ thành lập tại Sài Gòn (8-1945).

Phục Hưng Báo : tuần báo ấn hành tại Vinh (Nghệ An); Số 1 ra năm 1938, Số cuối 31 ra tháng 11-1938.

Phục Hưng Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ Renaissance Indochinoise.

Phục Quốc (La Restauration du Pays): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Phương Đông (Nguyệt san ~): tên Việt của báo Pháp ngữ EST.

Procès-verbaux du Conseil colonial – Cochinchine française (Biên bản hội nghị Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ): các tập in biên bản Hội nghị thường kỳ và bất thường, in bằng Pháp ngữ tại Sài Gòn mỗi năm trong thời kỳ 1880-1944.

Quan Âm Tạp Chí : nguyệt san Phật giáo, đặt tại chùa Thiên Tích, Hà Nội, hoạt động thời kỳ 1938-44; chủ bút là sa môn Võ Chiêm Khôi; Số 1 ấn hành ngày 24-10-1938, Số cuối 34 (2-1943) đình bản; đến tháng 2-1944 tục bản lại Số 1 nhưng ra thêm vài số thì ngưng hẳn.

Quan Báo : báo ra Số 1 ngày 1-1-1919.

Quan Sát : xem: IV- 5- Các báo có liên quan đến Đông Dương in tại Pháp (trước năm 1945).

Quảng Cáo Phan Bá Đài : báo rao vặt xuất bản ở Sài Gòn (1933-34).

Quảng Cáo Tuần Báo : báo rao vặt xuất bản ở Sài Gòn (1939).

Quảng Đại Báo : báo xuất bản ở Hà Nội từ 1927.

Quần Chúng (La Masse): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Quốc Dân Diễn Đàn : là phụ bản của báo La tribune indigène; do Hồ Biểu Chánh thành lập ở Sài Gòn năm 1918; Số cuối 47 ra tháng 10-1919.

Quốc Gia (Quốc Gia Nhật Báo): báo ấn hành tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1938; đến sau Số 15 (tháng 4-1939) đổi thành Quốc Gia Nhật Báo; số cuối là Số 5 ra tháng 12-1940; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đức Quỳnh, Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1940)…

Quốc Hoa Tuần Báo (?): …

Quốc-Tế IV (Quatrième Internationale): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Quốc-tế lao-động vận-tải : xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Radio-Saïgon (Bulletin hebdomadaire de la Compagnie franco-indochinoise de radiophonie): tuần san Pháp ngữ xuất bản tại Sài Gòn thời kỳ 1930-32; tòa soạn đặt tại số 106, Boulevard Charner, Saigon; giá mỗi số 10 xu, giá một năm 5$; trong đó: …N40 (30-4-1931), N41 (7-5-1931), N42 (15-5-1931), N43 (22-5-1931), …N72 (17-12-1931), N73 (24-12-1931), N74 (7-1-1932), N75 (14-1-1932), …N84 (31-3-1932), N85 (13-4-1932), N86 (22-4-1932)…

Rapport au Conseil de gouvernement, Service des mines (Niên san ngành Khai mỏ): niên san Pháp ngữ do Chính phủ Đông Dương ấn hành mỗi năm tại Hà Nội, 1916-44.

Rapport sur la situation administrative, économique et financière au Laos durant la période (Niên san báo cáo tình hình hành chánh, kinh tế và tài chánh Lào): các tập in bằng Pháp ngữ báo cáo của Chánh phủ Đông Dương in tại Hà Nội về tình hình Lào, 1901-44.

Rapport sur la situation administrative, économique et financière du Tonkin, par Gouvernement général de l’Indochine (Báo cáo tình hình hành chánh, kinh tế, tài chánh Bắc Kỳ của Chánh phủ Đông Dương): tập báo cáo hàng năm bằng Pháp ngữ của Chánh phủ Đông Dương, in tại Hà Nội, 1929-43.

Rapports au Conseil de gouvernement de l’Indo-Chine (Niên san báo cáo của Hội đồng Chánh phủ Đông Dương): các tập báo cáo bằng Pháp ngữ in tại Hà Nội về tình hình Đông Dương, 1900-1944.

Rassemblement (Tập Họp): tuần báo Pháp ngữ của Cộng sản Đệ Tam tổ chức xuất bản ở Hà Nội từ 17-3-1937; với ban biên tập của báo Le Travail chuyển sang; đến tháng 5-1937 thì bị cấm; cộng tác bài vở gồm: Phan Thanh, v.v…

Rạng Đông (Tạp Chí~): tạp chí tranh ảnh xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1927, …Năm 3: …Số 25 đánh thành Số 1 bộ mới (1-3-1929), …Số cuối 30 ra tháng 6-1929; cộng tác bài vở gồm: Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), Trần Huy Liệu…

Recueil des procès-verbaux des séances …économiques et financiers de l’Indochine (Biên bản hội nghị Hội đồng Kinh tế tài chánh Đông Dương): niên san Pháp ngữ in hàng năm tại Hà Nội, 1929-44.

Renaissance Indochinoise (Phục Hưng Đông Dương): báo Pháp ngữ tại Sài Gòn; biên tập viên: Nguyễn Văn Sinh; phóng viên gồm: Hoàng Trọng Miên (1935-39)…

Revue agricole en Quốc ngữ : tên Pháp của báo quốc ngữ Vệ Nông Báo.

Revue de prestidigation : tên Pháp của báo quốc ngữ Ảo Thuật Tạp Chí.

Revue de publicité commerciale : xem: Thương Vụ Tổng Biên.

Revue France d’ Indochine: Recuell mensuel, historique, archélogique, liltéraire, biographique, touristique et d’ intérêt commecial (Đông Pháp Tạp Chí): nguyệt san Pháp ngữ về lịch sử, khảo cổ, văn chương, thư mục, du lịch và lợi tức thương mại; ấn hành từ 1913. 

Revue Franco-Annamite : xem: Pháp Nam Tạp Chí.

Revue hebdomadaire des Moeurs : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Phong Hóa.

Revue indochinoise : tạp chí văn chương bằng Pháp ngữ, do François-Henri Schneider thành lập tại Hà Nội năm 1893, hoạt động đến năm 1925 thì đình bản; các đời giám đốc kiêm chủ nhiệm: Jules Boissière (1893-97), Alfred Raquez (1897-1907), Charles B. Maybon (1907-25); cộng tác bài vở gồm: Alfred Raquez, Charles B. Maybon, Georges Cordier, Henri Parmentier, bà Jeanne Leuba, Jules Boissière, Paul Pelliot…

Revue judiciaire franco-annamite (Pháp-Viện Báo): tạp chí về tòa án của Nha Tư pháp Đông Dương; trụ sở tòa soạn đặt tại số 3, Rue du Chanver, Hanoi; giám đốc Phạm Huy Lực; Hội đồng Bảo trợ gồm: H. Tissot (nguyên khâm sứ), H.M.J. Collet (pháp luật tham nghị tại Huế), Tôn Thất Đàn (Hình bộ thượng thư, sung Cơ Mật Viện đại thần), Thái Văn Toản (Hộ Bộ thượng thư, sung Cơ Mật Viện đại thần), Hồ Đắc Khải (Hộ Bộ tham tri), Hồ Đắc Hàm (Quốc Tử Giám tế tửu), Nguyễn Khắc Niêm (Hình Bộ thị lang), Nguyễn Cao Tiêu (Hộ Bộ thị lang); Số 1 ấn hành tháng 5-1931, hoạt động đến năm 1945.

Revue pour les jeunesgens : tên Pháp của báo quốc ngữ Nam Nữ Giới Chung.

Revue pour tous : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Tứ Dân Tạp Chí.

Revue scolaire de perfectionnement : tên Pháp của báo quốc ngữ Chân Thanh.

Sacerdos Indosinensis (Giới tu sĩ Đông Dương): nguyệt san Pháp ngữ xuất bản tại Quy Nhơn; quản lý: linh mục Léopold Michael Cadière; Số 1-3 ra ngày 19-3-1927; giá đăng ký một năm báo là 2 đồng Đông Dương.

Saigon : bản Pháp ngữ của nhật báo Việt ngữ Saigon.

Saigon : nhật báo do báo Sài Thành đổi tên từ ngày 3-5-1933; Nguyễn Đức Nhuận (Bút Trà) làm chủ nhiệm, em là Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu) làm chủ bút; đến năm 1942 đổi thành báo Sài Gòn Mới; cộng tác bài vở gồm: Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí), Hoàng Trọng Miên, Hoàng Trọng Quy, Lê Văn Vị (Vita, từ 1933), Nguyễn Văn Sinh, Thinh Quang…

Saïgon-potins (Tin đồn Sài Gòn): tuần báo hài hước xuất bản bằng Pháp ngữ tại Sài Gòn từ năm 1929; trong đó: N1 (24-2-1929), N2 (3-3-1929), N3 (10-3-1929), N4 (16-3-1929), N5 (24-3-1929), N6 (31-3-1929)…

Sanh Hoạt : báo của Đệ Tứ Quốc Tế xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1938, Số cuối 17 ra tháng 9-1939.

Sao Mai : tuần báo do dân biểu Trung Kỳ là Trần Bá Vinh chủ trương tại Huế, với sự cộng tác của Nguyễn Đức Bính (Tiêu Viên); Số 1 ra ngày 12-1-1934, hoạt động đến năm 1935.

Sách Hoa Mai : tủ sách dành cho thiếu nhi, do nhà xuất bản Cộng Lực tại Hà Nội ấn hành thời kỳ 1941-44.

Sài Gòn độc lập: tên Việt của báo Pháp ngữ Indépendant de Sài Gòn.

Sài Gòn Mới : nhật báo do báo Sài Gòn đổi thành năm 1942, hoạt động đến 1947 thì đình bản, rồi tục bản năm 1949 cho đến 1975; chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận (Bút Trà); chủ bút Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu); cộng tác bài vở gồm: Bà Tùng Long (mục Gỡ Rối Tơ Lòng), Đào Trinh Nhất, Hàn Mặc Tử (điều hành tờ phụ trương văn chương), Nguyễn Đức Nhuận (Phú Đức)…

Sài Gòn Ngọ Báo : nhật báo, xuất bản ở Sài Gòn (1935-36).

Sài Gòn Thời Báo : tên Việt của công báo Pháp ngữ Le courrier de Saigon.

Sài Gòn Thời Báo bộ mới : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Courrier Saigonnais.

Sài Gòn Tiền Báo : xuất bản ở Sài Gòn (1938).

Sài Gòn Tiểu Thuyết : tuần báo tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1936, số cuối ra tháng 10-1937.

Sài Gòn Tiểu Thuyết Tùng Thư : xuất bản ở Sài Gòn từ đầu năm đến tháng 9-1936.

Sài Thành : báo bộ mới (tục bản Sài Thành Nhật Báo), do Trương Duy Toản chủ nhiệm kiêm chủ bút, đặt báo quán tại số 60, đường Reims, Saigon; hoạt động từ tháng 1-1934; ấn hành mỗi tuần ba số vào thứ 3, 5, 7.

Sài Thành : nhật báo do vợ chồng nhà báo Nguyễn Đức Nhuận (Bút Trà) thành lập và điều hành, hoạt động từ ngày 2-3-1932; tòa soạn đặt tại số 39 đường Colonel Grimaud (~Phạm Ngũ Lão), Sài Gòn; chủ nhiệm Bút Trà; chủ bút Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu); cộng tác bài vở gồm: Bà Tùng Long (trang Phụ Nữ), nữ sĩ Hồng Cẩm, Lê Văn Vị (Vita, từ 1933)…; đến 3-5-1933 (sau Số 340) đổi thành nhật báo Saigon.

Sài Thành Học Báo : xuất bản ở Sài Gòn 1933-35.

Sài Thành Nhật Báo (Journal de Saigon): tuy gọi là nhật báo nhưng ra hàng tuần, do Trương Duy Toản chủ trương, chủ nhiệm kiêm chủ bút, đặt báo quán tại số 60, đường Reims, Saigon; Bộ cũ-Số 1 xuất bản từ năm 1926; Bộ mới-Số 1 ra năm 1930, Số cuối 63 ra tháng 2-1931.

Semaine Colonial (Tuần báo thuộc địa): báo Pháp ngữ đặt tòa soạn tại số13-15 rue Catinat (~đường Tự Do/Đồng Khởi), Saigon; không rõ thời gian thành lập, nhưng đến năm 1897 đổi tên thành báo L’Opinion (Công Luận).

Semaine Religieuse : tên Pháp của tuần báo quốc ngữ Nam Kỳ Địa Phận.

Sông Hương : tuần báo do Phan Khôi chủ trương, và chủ bút tại Huế năm 1936, với sự cộng tác của Nguyễn Cửu Thạnh và Phan Nhung; là cơ quan bí mật của Việt Nam Quốc Dân Đảng, giao cho Nguyễn Cửu Thạnh làm chủ nhiệm; cộng tác bài vở gồm: Ái Lan (Lê Liễu Huê), Cù Huy Cận, Lê Thọ Xuân (Lê Văn Phúc), Lưu Trọng Lư, Mộng Huyền, Nam Trân (Nguyễn Học Sỹ), Vũ Ngọc Phan, Vũ Trọng Phụng, Xuân Tâm (Phan Hạp, thơ)…; đến Số 32 (tháng 3-1937) thì bán lại cho Đệ Tam Quốc Tế, đổi lại bộ mới từ Số 1, nhưng hoạt động đến 14-10-1937 thì bị đóng cửa.

Sống : tuần báo đặt báo quán và xuất bản tại Hà Tiên, nhưng phát hành chủ yếu ở Sài Gòn; do Lâm Tấn Phác (Đông Hồ) thành lập và làm chủ bút, với sự cộng tác của Trúc Hà (Trần Thiêm Thới, chủ nhiệm), Mộng Tuyết (Lâm Thái Úc), Lư Khê (Trương Văn Em), cùng được thân hữu gọi là ‘Nhóm Hà Tiên Tứ Tuyệt’; giá mỗi số báo 10 xu; hoạt động trong hai năm 1935-36, ra được vài chục số thì đình bản vì gặp khó khăn tài chánh; cộng tác bài vở gồm: Phạm Ðình Bách (Hoa Sơn)…

Sports Jeuuesses de l’Indochine : tuần báo ở Hà Nội (1941-44); cộng tác Thinh Quang (1944)…

Sư Phạm Học Khoa : báo xuất bản ở Sài Gòn từ 1920.

Sự báo động : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Alerte.

Sự Loại Thông Khảo : xem: Thông Loại Khóa Trình.

Sự Thật (La Vérité): báo của Đệ Tam Quốc Tế xuất bản ở Sài Gòn trong hai năm 1936-37; trong đó: Số 1 (5-9-1936), Số 2 (20-9-1936), Số 3 (1-12-1936), …Số 5 (16-2-1937).

Sự Thật (La Vérité): tuần báo của Đệ Tứ Quốc Tế xuất bản ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1938, Số cuối 26 ra tháng 7-1939.

Tam Bảo (Tam Bảo Tạp Chí): do Đà Thành Phật Học Hội thành lập tại Đà Nẵng; chủ bút Thích Trí Hải (Bích Liên); Số 1 ấn hành đầu năm 1937 (?), Số 2 (15-2-1937), …Số 5 (6-7-1937), …Số cuối là Số 8 ra tháng 5-1939.

Tam Kỳ Tạp Chí : tuần báo; Số 1 ấn hành đầu năm 1931, Số cuối 49 ra tháng 12-1931.

Tao Đàn (Tủ sách ~): từ tháng 2-1940, Tao Đàn Tạp Chí chuyển thành Tủ sách Tao Đàn, ra hai tháng một quyển vào các tháng 2, 4, 6, 8, 10, 12, cho đến 1945; mỗi số có số trang và giá bán không nhất định; mỗi số không còn đăng tiểu thuyết nữa, mà gồm các thể loại văn chương khác. Tủ sách Tao Đàn đã xuất bản: Cao Bá Quát (danh nhân truyện ký, Trúc Khê, 1940); Chinh Phụ Ngâm Khúc dẫn giải (Nguyễn Đỗ Mục, 1942); Cung Oán Ngâm Khúc dẫn giải (Đinh Xuân Hội, 1941, 1942); Đường thi (Ngô Tất Tố, 1940); Một chuyến đi (du ký, Nguyễn Tuân, 1941); Một cuộc săn vàng (phiêu lưu ký sự, Lê Văn Trương, 1941); Nguyễn Trãi (danh nhân truyện ký, Trúc Khê, 1941); Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan, 5 tập, 1942-45); Thi văn bình chú: Lê-Mạc-Tây Sơn I (Ngô Tất Tố, 1941); Thi văn bình chú: Nguyên sơ-Cận kim II (Ngô Tất Tố, 1943); Tôi thầu khoán, hay là Ba tháng ở Trung Hoa (phiêu lưu ký sự, Lê Văn Trương, 1940); Vương Thúy Kiều (chú giải tân truyện, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, 1940).

Tao Đàn Tạp Chí : tạp chí văn chương do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội; chủ nhiệm Vũ Đình Long; quản lý: Lan Khai, rồi Nguyễn Triệu Luật; cộng tác bài vở gồm: Hải Triều, Hoài Thanh, Lan Khai, Lưu Kỳ Linh, Lưu Trọng Lư, Ngọc Giao (Nguyễn Huy Giao), Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Tuân (Ân Ngũ Tuyên), Nguyễn Văn Tố, Phan Khôi, Phạm Hầu, Thiều Quang, Trúc Khê (Ngô Văn Triện), Trương Tửu, Văn Tứ, Vũ Trọng Phụng…; Số 1 ra ngày 16-2-1939; ra mỗi tháng một số vào ngày 16 và cứ mỗi ba tháng có thêm một số đặc biệt; từ 16-2-1939 đến tháng 2-1940, đã ra được 13 số định kỳ và ba số đặc biệt về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Ba Lan; mỗi số 100 trang, giá 25 xu, giá cả năm 5$50; riêng Tao Đàn số đặc biệt 1er Octobre 1939 không ấn hành được vì bài đăng bị Ty Kiểm duyệt bỏ gần hết; từ sau Tao Đàn số đặc biệt ‘Vấn đề Ba Lan’ bị kiểm duyệt bỏ (2-1940) thì Tạp chí Tao Đàn chuyển đổi thành Tủ sách Tao Đàn.

Tả Trực Báo : báo xuất bản ở Huế từ năm 1930.

Tân An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Annam Nouveau.

Tân Á : bán nguyệt san của Nhật lập ra tại Sài Gòn năm 1942, để tuyên truyền cho chánh sách Đại Đông Á ở Đông Dương; số cuối ra tháng 8-1945.

Tân Á minh họa tạp chí : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Asie Nouvelle Illustrées.

Tân Á Tạp Chí : ấn bản Việt ngữ của báo Pháp ngữ L’Asie Nouvelle Illustrée, ấn hành tại Sài Gòn từ năm 1932; từ Số 21 (tháng 8-1943) thì bản Việt ngữ tách hẳn khỏi L’Asie Nouvelle Illustrée để trở thành một tạp chí riêng; Số cuối 28 ra tháng 4-1935.

Tân Báo : nhật báo tại Sài Gòn; Số 1 ra tháng 2-1932, Số cuối 18 ra tháng 3-1932.

Tân Báo : tuần báo tại Hà Nội; Số 1 ra tháng 4-1938, Số cuối 28 ra tháng 11-1938; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), v.v…

Tân Dân Báo (Journal de la rénovation du peuple – Politique, littéraire, économique): nhật báo tại Sài Gòn; Số 1 ra tháng 12-1924, Số cuối 78 ra tháng 2-1925.

Tân Đợi Thời Báo : xuất bản ở Sài Gòn (1916-20); cộng tác bài vở gồm: Cao Chánh (Cao Văn Chánh, 1920)… 

Tân Học Sinh (Les Étudiants nouveaux; organe mensuel de la section indochinoise de l’Union fédérale des étudiants): xem: 5- Các báo có liên quan đến Đông Dương in tại Pháp (trước năm 1945).

Tân Nữ Lưu : bán nguyệt san xuất bản ở Hà Nội, 1935-36.

Tân Thanh Tạp Chí : báo tại Hà Nội; chủ bút Nguyễn Trọng Thuật; Số 1 ra năm 1931, Số cuối 83 ra tháng 8-1934.

Tân Thế Giới : báo ấn hành từ năm 1926, Số cuối 142 ra tháng 4-1927.

Tân Thế Kỷ (Le Nouveau siècle): nhật báo đối lập, do ký giả Cao Văn Chánh thành lập và chủ nhiệm tại Sài Gòn thời kỳ 1926-27; mỗi kỳ ấn hành 6.000 bản; Số 1 ra ngày 1-11-1926; từ Số 6 (ra ngày 10-11-1926) mở thêm chi nhánh tại Huế, chuyên phát hành 1.000 bản báo ở Trung Kỳ; chủ bút Lê Chơn Tâm; các đời chủ bút kiêm tổng lý chi nhánh Huế: Bửu Đình (từ số 6 đến khi bị bắt 24-2-1927), Bùi Thế Mỹ (tháng 2 và 3-1927); báo đăng nhiều bài chống đối chánh quyền, nên hoạt động đến tháng 3-1927 thì bị cấm phát hành tại Trung Kỳ và các cộng tác viên Bửu Đình, Đồng Sỹ Bình, Tam Hà đều bị bắt; sau đó báo ở Sài Gòn cũng bị đình bản theo lệnh cấm ngày 19-4-1927 của toàn quyền Đông Dương Pasquier; cộng tác bài vở gồm: Bùi Thế Mỹ (Lan Đình), Bửu Đình, Đồng Sỹ Bình (cộng tác viên tại Huế), Lê Thành Lư, Mộng Trần (Lê Chơn Tâm), Tam Hà (Trần Thiên Dư, cộng tác viên tại Trung Kỳ), Thạch Lan (Cao Văn Chánh)…

Tân Thiếu Niên : tuần báo thiếu niên nhi đồng, do Lê Tràng Kiều thành lập và chủ bút; đặt tại số 11 phố Hàng Bông, Hà Nội; cộng tác bài vở gồm: Ðỗ Huy Nhiệm (Ðỗ Phủ, Thiếu Lăng, thơ), Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Huy, Vũ Trọng Phụng…; Số 1 ra năm 1932; …; Bộ mới, Số 1 ra ngày 26-1-1935, Số 2 (2-2-1935); đến sau Số 3 (9-2-1935) thì đình bản.

Tân Thời (Tân Thời Tuần Báo): tuần báo đặt tại số 37, Rue Colonel Guimand, Saigon; do bà Lê Thị Bạch Vân (Bà Tùng Long) nhờ bà Hồng Tiêu (bà Nguyễn Đức Huy) đứng tên chủ báo và thuê lại giấy phép; báo chủ trương chuyên viết về phụ nữ và đời sống xã hội; chủ bút Lê Thị Bạch Vân; biên tập viên: Nguyễn Văn Sinh (sau này thời kỳ 1945-40 lấy bút danh là Nam Quốc Cang); cộng tác bài vở gồm: Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí), Nguyễn Văn Sinh (giữ mục Chuyện Hằng Tuần), Nguyễn Đức Nhuận (thơ)…; Số 1 ra ngày 17-11-1935; mỗi số báo 24 trang, giá 10 xu; giá báo 1 năm 4$00, sáu tháng 2$20, ba tháng 1$20; ra đến Số 11 (tháng 2-1936) thì Nguyễn Văn Sinh có bài công kích Chánh phủ Pháp nên báo bị thống đốc Nam Kỳ Khrautemer gọi bà Tùng Long lên khiển trách và báo ngưng hoạt động; đến tháng 5-1936, bà Hồng Tiêu (tức bà Tùng Long) đứng tên tục bản báo tại địa chỉ số 58 đường Alsace Lorraine, Sài Gòn, nhưng ra chỉ thêm được Số 1 thì ngưng hẳn.

Tân Tiến (Le Progrès): báo hoạt động tại Sài Gòn trong năm 1927.

Tân Tiến (Le Progrès): tuần báo đặt tại Vĩnh Long; Số 1 ra năm 1935; Số cuối 38 ra tháng 7-1935.

Tân Tiến (Le Progrès): báo đặt tại Sài Gòn; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Học Sỹ (Nam Trân), v.v…; Số 1 ra năm 1936; Số cuối 331 ra tháng 3-1939.

Tân Tiến (Le Progrès): tuần báo đặt tại Sa Đéc, do Lê Quang Trinh làm giám đốc, Phạm Văn Lang quản lý; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Tất (Thần Liên, phụ trách mục Vườn thơ, từ 1940), v.v…; Số 1 ra ngày 7-2-1938.

Tân Văn : tuần báo xuất bản vào thứ bảy hàng tuần tại Sài Gòn thời kỳ 1934-36; sáng lập Trần Thị Hiệp; tổng lý (chủ nhiệm) kiêm chủ bút Phan Văn Thiết; cộng tác bài vở gồm: Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm), Quán Chi (Đào Trinh Nhất), Thân Việt (luật sư Phan Văn Thiết), Việt Hồ (Hồ Viết Tự, họa sĩ trình bày), Xuân Tâm (Phan Hạp, thơ)…; tòa soạn đặt tại số 49, rue Carron, Saigon, đến năm 1935 chuyển về số 45, rue Aviateur Garros, Saigon; giá báo mỗi số 10 xu, một tháng 0$45, ba tháng 1$35, sáu tháng 2$65, một năm 5$20; trong đó: N1 (4-8-1934), N2 (11-8-1934), N3 (18-8-1934), …N88 (5-5-1936), N89 (16-5-1936)…

Tân Việt Nam (L’Annam nouveau): báo đặt tại Hà Nội; hoạt động từ năm 1937; cộng tác bài vở gồm: Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Phan Trần Chúc…; trong đó: Số 7 ra ngày 12-10-1937.

Tân Việt Nam (L’Annam nouveau): tuần báo do giám đốc nhà xuất bản Tín Đức Thư Xã thành lập ở Sài Gòn, giao Nguyễn Văn Nho làm chủ bút; Số 1 ra ngày 12-3-1945 vào lúc Nhật đảo chánh Pháp; mỗi số có 16 trang, chú trọng đưa tin về chánh trị thời cuộc lúc đó; báo có thời gian ngắn đình bản rồi in lại; số cuối ra tháng 9-1945.

Tân Việt Nam (L’Annam nouveau): báo đặt tại Hà Nội; hoạt động từ cuối tháng 5-1945.

Tân Xã Hội : báo xuất bản ở Hà Nội từ 30-7-1936 đến 1937.

Tấn Công (L’Offensive): báo phát hành tại Nam Kỳ trong năm 1937; trong đó Số 1 ra ngày 1-2-1937…

Tập Họp : tên Việt của tuần báo Pháp ngữ Rassemblement.

Tập Kỷ yếu Bắc Kỳ Phật Giáo Hội : xem Kỷ yếu Bắc Kỳ Phật Giáo Hội.

Tập kỷ yếu của Hội Khuyến học Nam Kỳ : xem Kỷ yếu Hội Khuyến học Nam Kỳ.

Tập kỷ yếu của Hội Trí Tri Bắc Kỳ : xem Kỷ yếu Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

Thanh Nghệ Tĩnh : xem Thanh Nghệ Tĩnh Tân Văn.

Thanh Nghệ Tĩnh Tân Văn : tuần báo đặt tại Vinh (Nghệ An); phóng viên: Nguyễn Đổng Chi (từ 1935), v.v…; Số 1 ra năm 1930, Số cuối 210 ra tháng 7-1934; sau đó đổi tên là Thanh Nghệ Tĩnh và đánh số lại từ Số 1; Số cuối 54 ra tháng 3-1936.

Thanh Nghị (1941-45): là tạp chí văn học do Doãn Kế Thiện chủ trương thành lập, với sự cộng tác của Phan Anh, Vũ Đình Hòe (chủ nhiệm), Vũ Văn Hiền. Tap chí Thanh Nghị lúc đầu là một nguyệt san ra đời tháng 6-1941 tại Hà Nội, từ tháng 5-1942 thành bán nguyệt san, đến đầu 1944 tăng thành tuần san. Đây là tạp chí khảo cứu, nghị luận, văn chương, chủ trương phụng sự nghệ thuật, phổ biến kiến thức khoa học phổ thông và các vấn đề nhân sinh. Ban biên tập gồm nhiều học giả, luật sư, bác sĩ, văn sĩ, chia thành nhiều ban. Ban văn chương gồm Bùi Hiển, Đinh Gia Trinh, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Thu, Huy Cận, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Sanh, Vũ Đình Liên, Vũ Hoàng Chương. Ban triết học-lịch sử gồm Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp. Ban nghị luận gồm Phan Mỹ, Phan Quân, Vũ Đình Hòe, Vũ Văn Hiền. Ban giáo dục gồm Ngô Bích San, Tân Phong, Vũ Đình Hòe. Ban luật pháp gồm Đỗ Đức Dục, Vũ Văn Hiền. Ban kinh tế gồm Đinh Gia Trinh, Lê Huy Vân, Phạm Gia Khánh. Ban chính trị gồm Phan Anh, Vũ Đình Hòe. Ban khoa học gồm Hoàng Xuân Hãn, Ngụy Như Kontum. Ban vệ sinh-y học gồm Đặng Huy Lộc, Trần Văn Bảng, Trịnh Văn Tuất, Vũ Văn Cần. Cộng tác bài vở gồm: Bùi Hiển, Doãn Kế Thiện, Đặng Huy Lộc, Đặng Thai Mai, Đinh Gia Trinh, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Dục, Đỗ Đức Thu, Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm), Hoàng Xuân Hãn, Huy Cận, Khuông Việt (Lý Vĩnh Khuông), Lê Huy Vân, Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Ngô Bích San, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Văn Tố (Ứng Hòe), Nguyễn Xuân Sanh, Ngụy Như Kontum, Phan Anh, Phan Mỹ, Phan Quân, Phạm Ðình Tân, Phạm Gia Khánh, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Bảng, Trần Văn Giáp, Trịnh Văn Tuất, Vũ Đình Hòe, Vũ Đình Liên, Vũ Hoàng Chương, Vũ Văn Cần, Vũ Văn Hiền (Tân Phong)… Tạp chí ra được 120 số liên tiếp, cho đến tháng 8-1945.

Thanh Nghị – phần trẻ em : phụ bản của Tạp chí Thanh Nghị dành riêng cho thiếu nhi, do Doãn Kế Thiện chủ trương tại Hà Nội từ năm 1941; quản lý Vũ Đình Hòe; ra mỗi tháng 3 kỳ vào các ngày 10, 20, 30; Số cuối 16 ra tháng 10-1941.

Thanh Niên (La Jeunesse, 1925-30): báo hoạt động thời kỳ 1925-30; trong đó: Năm 1925 (số 1-25), Năm 1926 (số 26-74), Năm 1927 (số 75-115), Năm 1928 (số 116-166), Năm 1929 (số 167-200), Năm 1930 (số 201-208), báo đình bản sau Số 208 (5-1930).

Thanh Niên (1933-35): tập san tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1933, số cuối là Số 5 ra tháng 6-1935.

Thanh Niên (1941-43): tạp chí tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1941, Số cuối ra năm 1943.

Thanh Niên (1943-44): tuần báo do Phan Văn Hườn thành lập, đặt tòa soạn tại số 70 đường Nayer, Sài Gòn; chủ nhiệm là kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát; cộng tác bài vở gồm: Bình Nguyên Lộc, Ca Văn Thỉnh, Huỳnh Văn Tiểng, Lê Sỹ Quý (Thiếu Sơn), Lê Thọ Xuân, Lưu Hữu Phước, Lý Vĩnh Khuôn (Khuông Việt), Mai Văn Bộ, bác sĩ Ngô Quang Lý, Nguyễn Hương Trà, Nguyễn Văn Liên, Phạm Thiều, Tạ Thành Kỉnh (Thành Kỉnh), Ung Ngọc Ky (Trường Sơn Chí)…; Số 1 ra ngày xx-1943, …Số 27 (4-3-1944), Số 28 (11-3-1944), Số 29 (25-3-1944)…

Thanh Niên (Tập san ~): tên Việt của báo Pháp ngữ Les Cahiers de la Jeunesse.

Thanh niên An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Jeune Annam.

Thanh Niên Báo : bán nguyệt san tại Nam Định, ấn hành trong năm 1938.

Thanh niên Đông Dương : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Jeune Indochine.

Thanh Niên Đông Pháp : tuần báo tại Sài Gòn; hoạt động thời kỳ 1941-44; Ban điều hành gồm Tế Xuyên (từ 1943), Thinh Quang (từ 1943), Viên Hoành (từ 1943).

Thanh Niên Tân Tiến : tạp chí tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1928, Số cuối 25 ra tháng 8-1929.

Thái Dương : báo tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1938, số cuối là Số 6 ra tháng 2-1939.

Tháng Mười : tạp chí do Hồ Hữu Tường thành lập và điều hành tại Sài Gòn thời kỳ 1938-39; là cơ quan ngôn luận của nhóm Đệ Tứ Rưỡi, chủ trương cải cách đường lối của Đệ Tứ Quốc Tế Cộng Sản.

Thành tích biểu Viễn chinh Nam Kỳ : tên Việt của công báo Pháp ngữ Le Bulletin Officiel dExpédition de la Cochinchine, là tờ báo in đầu tiên ở Đông Dương (1861).

Thành tích cộng đồng : tên Việt của công báo Hán ngữ/ Pháp ngữ Le Bulletin des Communes.

Thẳng Tiến : báo hướng đạo mỗi tháng ra hai số; quản lý Trần Văn Tuyên; Số 1 ra năm 1935; mỗi số 16 trang, giá 3 xu.

Thần Bí Tạp Chí (Mystériosa): xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.

Thần Chung (Tiếng chuông buổi sớm mai, La cloche du matin; 1929-30): nhật báo, là hậu thân của tờ Đông Pháp thời báo. Báo do Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Thế Phương (tổng biên tập), Bùi Thế Mỹ và Nguyễn Văn Bá (chủ bút) thành lập tại Sài Gòn năm 1929; chủ trương đối lập ôn hòa, thể hiện rất rõ ý thức quốc gia dân tộc. Về kỹ thuật, báo tổ chức từ khâu lấy tin, biên tập, in ấn, phát hành rất khoa học. Báo được nhiều cây bút nổi tiếng cộng tác như Bùi Thế Mỹ (Lan Đình), Đào Trinh Nhất, Đặng Thúc Liêng, Lê Cương Phụng (Tùng Lâm), Nam Đình (Nguyễn Thế Phương), Ngô Tất Tố, Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu), Nguyễn Đức Nhuận (Phú Đức), Nguyễn Văn Bá, Phan Khôi, Phan Văn Hùm, Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu), Trần Huy Liệu, Trần Quang Nghiệp (1929-30)… nên được độc giả lúc đó rất mến mộ và thích đọc. Năm 1930, báo Thần Chung chống chánh quyền thực dân quá rõ rệt, nhất là đăng loạt bài về vụ án Nguyễn An Ninh, nên bị toàn quyền Pierre Pasquier ra lệnh đình bản sau Số 344 (tháng 3-1930). Từ tháng 12-1948, báo Thần Chung bộ mới được Nguyễn Thế Phương (Nam Đình) tái lập ở Sài Gòn.

Thần Kinh Tạp Chí : báo quốc ngữ có kèm phụ trương Pháp ngữ, do Lê Thanh Cảnh thành lập và chủ nhiệm ở Huế từ năm 1927; chủ bút Nguyễn Trọng Cẩn; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Trọng Cẩn (Hoài Nam, chuyên viết văn chương trào phúng, khảo luận văn học, lịch sử, thơ), Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), v.v…

Thần Nông Báo : báo đặt tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1929, Số cuối 120 ra tháng 3-1933.

Thầy Thợ : báo của Nghiệp đoàn Lao động thuộc Đệ Tứ Quốc Tế  ở Sài Gòn (1938-39).

Thế Giới : tên Việt của báo Pháp ngữ Monde.

Thế Giới : nguyệt san tại Hà Nội; cộng tác bài vở gồm: Khương Hữu Dụng (Thế Nhu, thơ), Nguyên Hồng, Phan Khắc Khoan (thơ), v.v…; có lúc bị người của Đoàn Thanh niên dân chủ thuộc Cộng sản Đệ Tam thuê rồi khống chế làm công cụ đấu tranh tuyên truyền; đã ra được 13 số từ tháng 9-1938 đến tháng 9-1939.

Thế Giới Tân Văn : tuần báo ở Sài Gòn, chủ nhiệm kiêm chủ bút là luật sư Phan Văn Thiết; cộng tác bài vở gồm: Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm), Lư Khê (Trương Văn Em), Phan Văn Thiết (Lan Đình, Thân Việt)…; Số 1 ra năm 1936, Số cuối 16/37 ra tháng 6-1937.

Thể Thao : báo xuất bản ở Sài Gòn (1938).

Thể Thao Đông Dương : báo xuất bản tại Sài Gòn từ tháng 1-1941 đến tháng 2-1945.

Thiết Thực : tuần báo của Việt Nam quốc dân đảng, xuất bản ở Hà Nội từ tháng 8-1945 đến tháng 5-1946.

Thiếu Nhi : tuần báo do Vũ Đình Long thành lập ở Hà Nội.

Thông báo hình cảnh : tên Việt của báo Pháp ngữ Bulletin de police criminelle.

Thông Loại Khóa Trình (通類課程 – Miscellannées ou lectures instructives pour les élèver des écoles primaires, communales et cantonales, còn gọi là Sự Loại Thông Khảo; 1888-89): nguyệt san văn học do Trương Vĩnh Ký chủ trương; cũng là một loại học báo đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam. Số 1 ấn hành tháng 5-1888, Số 2 (6-1888), Số 3 (7-1888), …Số 18 (10-1889) là số cuối. Từ số 1 đến 3 mỗi số 12 trang, từ số 4 đến 18 mỗi số 16 trang. Từ số 1 đến số 5 đều không ghi tên tác giả các bài viết, nhưng theo bài ‘Bảo’ của Trương Vĩnh Ký thì ông viết toàn bộ 5 số đầu. Từ số 6 có thêm các bài văn vần diễn Nôm của Trương Minh Ký và nhiều bài của các tác giả khác. Cộng tác bài vở gồm: Léon Trương Vĩnh Viết (con của Trương Vĩnh Ký, thơ), linh mục Lê Minh Triết (thơ xướng họa), Lê Văn Chất (thơ lục bát), Lương Khắc Ninh (Dũ Thúc, thơ), linh mục Nguyễn Biểu Đoan (thơ xướng họa), Nguyễn Khắc Huề (thơ Đường), Nguyễn Xuân Qươn (phú), Trần Chánh Chiếu (thơ Đường, lục bát), Trần Hữu Hạnh (thơ), y sĩ Trần Văn Nghĩa (dịch thơ Hán sang thơ Việt), Trương Minh Ký (diễn Nôm)… Thông Loại Khóa Trình đăng các bài về luân lý, lễ nghĩa, văn chương, truyện tích cổ kim, kinh sử, dân ca, ca dao tục ngữ, kiến thức phổ thông, dân tộc học, kinh tế… Nội dung 18 số báo gồm các đề mục: Dạy chữ Nhu (Nho), Dạy chữ Lang sa (Pháp), Giảng nghĩa về luân lý, Khảo cứu về thi ca và phong tục, Nhơn vật (danh nhân). Do là báo tư nhân không được Nhà nước Pháp trợ cấp, nên thu nhập của báo không đủ bù chi phí, cuối cùng Trương Vĩnh Ký phải đình bản báo.

Thông Tin : tạp chí của Nhật lập ra tại Sài Gòn, giao cho Hoàng Cừ làm giám đốc; hoạt động từ năm 1942 đến tháng 8-1945; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Vạn An, v.v…

Thời Báo (1918-19): báo tại Sài Gòn; Ban biên tập gồm: Hồ Văn Lang (chủ bút), Trương Duy Toản…; Số 1 ra tháng 10-1918, Số cuối ra tháng 12-1919.

Thời Báo (1931): báo tại Hà Nội; Số 1 ra tháng 1-1931, Số cuối 36 ra tháng 4-1931.

Thời Báo (1932): nhật báo do Phùng Văn Long thành lập và điều hành tại Hà Nội; Số 1 ra tháng 8-1932, nhưng chỉ ra được 20 số thì bị đình bản cũng trong tháng 8-1932; cộng tác bài vở gồm: Hoàng Tích Chu, v.v…

Thời Đại (1938-39): nhật báo, là cơ quan ngôn luận của Đệ Tứ Quốc Tế; do Cao Văn Chánh cùng các cộng sự thành lập và điều hành tại Sài Gòn; Số 1 ra tháng 10-1938, số cuối là Số 1 bộ mới ra tháng 4-1939.

Thời Đại (1941-42): báo tại Hà Nội; Số 1 ra tháng 7-1941, số cuối là Số 3 ra tháng 7-1942.

Thời đại mới : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Erè Nouvelle.

Thời Sự (Thời Sự Tuần Báo): báo tại Sài Gòn; biên tập viên: Nguyễn Văn Sinh; Số 1 ra năm 1936, Số cuối 31 ra tháng 4-1936.

Thời Thế (Le Temps et la vie): báo do Xứ ủy Bắc kỳ Cộng sản Đệ Tam tổ chức thành lập ở Hà Nội; giao cho Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Trọng Cảnh (Trần Quốc Hoàn), Trần Đình Long, Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh), Phan Thanh… phụ trách; Số 1 ra ngày 26-3-1937, đến tháng 5-1937 đình bản; sau đó ra lại Số 1 (tháng 10-1937), đến Số 13 (tháng 2-1938) thì bị cấm hẳn; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đức Quỳnh…

Thời Thế : báo tại Sài Gòn; Số 1 ra tháng 11-1940, Số cuối 64 ra tháng 6-1941.

Thời Vụ : cộng tác bài vở gồm: Ngô Tất Tố, v.v…

Thời Vụ Mới : cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Đình Thạc (Như Phong), v.v…

Thợ Thuyền : báo hoạt động bí mật tại Sài Gòn; Số 1 ra ngày 1-12-1936, số cuối trong năm 1937.

Thợ Thuyền Tranh Đấu (La Lutte ouvrière): báo của Cộng sản đệ tứ thực hiện năm 1938; Số 1 bộ mới ra ngày 1-4-1938.

Thuộc địa (Tuần báo ~): tên Việt của báo Pháp ngữ Semaine Colonial.

Thủy Thủ Báo (Journal du Marin): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Thương Báo : báo xuất bản ở Hà Nội năm 1930.

Thương Mại : bán nguyệt san ấn hành tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1934; giá báo mỗi số 5 xu, giá 1 năm là 1$00, giá nửa năm 0$50; chủ nhiệm Bùi Đình Tiến; chủ bút: Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1934-35), v.v…

Thương Vụ Tổng Biên (Revue de publicité commerciale): tạp chí xuất bản ở Sài Gòn từ 1929.

Thực Nghiệp (Activités utiles, Thực Nghiệp Dân Báo): nhật báo do Bùi Huy Tín, Mai Du Lân và Nguyễn Hữu Thu thành lập và điều hành ở Hà Nội, lúc đầu lấy tên là Thực Nghiệp Dân Báo, từ năm 1931 đổi thành Thực Nghiệp (Activités utiles); giám đốc chánh trị Mai Du Lân; Ban biên tập gồm: Đào Trinh Nhất (1924), Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1920-24), Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân, trợ bút, 1924); cộng tác bài vở gồm: Doãn Kế Thiện, Đạm Phương nữ sử, Đào Trinh Nhất, Huỳnh Thị Bảo Hòa (phóng viên thường trực tại Đà Nẵng), Nam Hương (Bùi Huy Cường), Ngô Tất Tố, Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân), Phạm Duy Tốn, Phan Khôi, Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), Trúc Khê (Ngô Văn Triện)…; Số 1 ra ngày 12-7-1920, Số cuối ra năm 1924; đến năm 1927 lại tục bản cho đến khi đình bản hẳn tháng 6-1935; trong đó: …Số 2217 (16-4-1928), …Số 2226 (27-4-1928), …Số 2242 (16-5-1928), Số 2243 (17-5-1928), …Số 2247 (23-5-1928), … Số 3267 (4-11-1931), Số 3268 (5-11-1931), Số 3269 (6-11-1931), Số 3270 (7-11-1931), Số 3271 (8-11-1931), Số 3272 (9-11-1931), Số 3273 (11-11-1931)…

Tia Sáng (L’Étincelle): báo do cán bộ An Nam cộng sản đảng/Xứ ủy Nam Kỳ Đông Dương cộng sản đảng thực hiện và lưu hành bí mật tại Nam Kỳ thời kỳ 1929-37; trong đó: Số 1 (1929), Số 2 (20-11-1936), Số 3 (1-2-1937), Số 4 (1-3-1937), Số 5 (15-6-1937) là số cuối.

Tia Sáng (L’Étincelle): báo đấu tranh đối lập công khai, do Hồ Hữu Tường thành lập và điều hành ở Sài Gòn từ 1939, là cơ quan ngôn luận của Đệ Tứ Quốc Tế thời kỳ 1939-45; lúc đầu là tuần báo, đến khoảng 1943 trở thành nhật báo; chủ bút: Tam Lang (Vũ Đình Chí).

Tiên Long (Tiên Long Báo): tuần báo do bà Lê Thành Tường chủ trương tại Huế, với sự hỗ trợ của chồng là Lê Thành Tường (là bí thư của khâm sứ Trung Kỳ Châtel); Số 1 ra năm 1932, Số cuối 100 ra tháng 4-1934.

Tiến : nhật báo đặt tại Tân Định, Sài Gòn; Số 1 ra năm 1941, Số cuối ra tháng 7-1942.

Tiến : nhật báo, là cơ quan ngôn luận của tổ chức Thanh Niên Tiền Phong tại Sài Gòn sau khi Nhật đảo chánh Pháp (3-1945); giao cho Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ điều hành đến tháng 8-1945.

Tiến Bộ : tuần báo ra ngày chủ nhật, do Nguyễn Uyển Diễm và Trần Đức Bích chủ trương; đặt tại số 155 Ninh Xá, Bắc Ninh; Số 1 ra năm 1936, Số cuối ra năm 1938; giá mỗi số 3 xu; cộng tác bài vở gồm: Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), v.v…

Tiến Bộ : tuần báo ở Sài Gòn; Số 1 ra năm 1938, Số cuối 32 ra tháng 7-1939.

Tiến bộ An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ Le Progrès annamite.

Tiến Hóa : báo đặt tại Huế, hoạt động từ năm 1935.

Tiến Hóa : báo đặt tại tỉnh Quảng Ngãi, hoạt động từ năm 1935.

Tiến Hóa : tuần báo tục bản, do Lê Tràng Kiều chủ trương; đặt tại số 83 bis, Route Mandarine, Hanoi; Số 1 bộ mới ra ngày 16-11-1935; ban biên tập cũng là thành phần ban biên tập tuần báo Tân Thiếu Niên chuyển sang; quản lý Lưu Trọng Lư; mỗi số báo giá 3 xu, giá 1 năm 1$50; cộng tác bài vở gồm: Ðỗ Huy Nhiệm (Ðỗ Phủ, Thiếu Lăng, thơ), Lưu Trọng Lư…

 – Tiến Hóa : tạp chí là cơ quan truyền bá Phật pháp và cứu tế xã hội của Phật Học Kiêm Tế Hội thành lập và điều hành. Số 1 ấn hành ngày 1-1-1938, Số 2 (1-2-1938), Số 3 (1-3-1938), …Số 8 (8-1938), Số 9 (9-1938)… Tòa soạn đặt tại chùa Sắc Tứ Tam Bảo, Rạch Giá. Chủ nhiệm: Đỗ Kiết Triệu. Chủ bút: Phan Thanh Hà. Cố vấn và cộng tác bài vở gồm Thích Thiện Chiếu, Trầm Luân… Từ Số 1, báo tuyên bố rằng ‘không những tuyên truyền cho Phật học mà còn tuyên truyền cho bất cứ học thuyết nào có đủ phương pháp làm cho chúng sanh khỏi khổ được vui’, ‘những học thuyết nào có tính cách từ bi bác ái thì đều được Tiến Hóa công nhận là Phật pháp’. Cũng từ Số 1 đến Số 6, ký giả Trầm Huân viết về đề tài ‘Triết học là gì?’, trình bày về Duy vật biện chứng pháp của chủ nghĩa cộng sản, phê bình những hình thức khác nhau của Duy tâm luận. Báo Tiến Hóa cũng đả kích quan niệm về thiên đường và địa ngục, khẳng định quan niệm ‘giàu nghèo tại mạng là sai’, ‘những đau khổ của con người là do chế độ chánh trị đè nén và những cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản chứ không phải do thần linh ban phước hay giáng họa’

Tiến Tới : báo xuất bản ở Sài Gòn từ 6-2-1939 đến tháng 4-1939 thì bị cấm; có khuynh hướng đối lập do Lưu Quý Kỳ (lúc này chưa theo Cộng sản Đệ Tam) làm thư ký tòa soạn; trong đó: …Số 3 (13-3-1939)…

Tiền Phong (8-1945 đến nay): của báo Đảng Cộng sản, chuyên giáo dục và tập hợp thanh niên, xuất bản ở Hà Nội, sau đó chuyển vào khu kháng chiến; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Khắc Hoạch (1945-46)…

Tiền Quân (L’Avant-garde): báo quốc ngữ do Nhóm Tả Đối Lập (Trotskyst/Cộng sản Đệ Tứ) thành lập và điều hành tại Sài Gòn từ tháng 7-1930; chủ nhiệm Tạ Thu Thâu; biên tập viên Trịnh Hưng Ngẫu…; đến năm 1931 bị cấm nên Ban biên tập mở thêm tờ Đông Tây Công Luận để thay thế, trong khi báo Tiền Quân vẫn tiếp tục được phát hành ngầm cho đến tận năm 1937.

Tiếng Chuông (Le Son de Cloche): nhật báo do Đinh Văn Khai chủ trương ở Sài Gòn từ năm 1937; cộng tác bài vở gồm: Lê Liễu Huê (Ái Lan), Nguyễn Đức Nhuận (Phú Đức), Thinh Quang…

Tiếng Chuông Sớm : tạp chí Phật giáo do Sơn môn Linh Quang và Sơn môn Hồng Phúc thành lập tháng 11-1934, đến ngày 31-1-1935 có nghị định cấp phép hoạt động của thống sứ Bắc Kỳ; báo quán đặt trong khuôn viên chùa Linh Quang (chùa Bà Đá) ở Hà Nội; chủ nhiệm là thiền sư Đỗ Văn Hỷ; quản lý là thiền sư Thích Thanh Tường và thiền sư Đặng Văn Lợi; chủ bút là thiền sư Thích Bảo Giám; phó chủ bút là thiền sư Nguyễn Quang Độ; ban cố vấn gồm các thiền sư: Ngô Công Bốn, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Văn Thi, Thạch Điều, Thích Thanh Phán, Thích Thanh Trọng; ban biên tập gồm các cư sĩ: Mai Đăng Đệ, Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà), Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Trung Như, Trịnh Đình Rư; Số 1 ấn hành ngày 15-6-1935, Số 2 (1-7-1935), Số 3 (15-7-1935), …Số 9 (12-10-1935)…; tuy báo tạo được ảnh hưởng nhất định trong Phật tử, nhưng hội trưởng Bắc Kỳ Phật Giáo Hội là Nguyễn Năng Quốc cho rằng việc duy trì một tờ báo ngoài sự kiểm soát của Hội là không phù hợp, nên ngày 25-6-1935, đã gởi một văn thư cho là thiền sư Đỗ Văn Hỷ để phản đối, rồi ngày 23-6-1935 họp Ban quản trị Bắc Kỳ Phật Giáo Hội thông qua quyết định không đồng ý cổ động cho báo Tiếng Chuông Sớm; báo ra tiếp vài số như Số 14 (26-12-1935),… rồi đến số cuối 24 (21-5-1936) thì tuyên bố đình bản vì lý do tài chánh.

Tiếng Cười : báo trào phúng của Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), xuất bản ở Hà Nội từ 1930.

Tiếng Dân (La Voix du peuple): báo đối lập ở Trung Kỳ do Huỳnh Thúc Kháng chủ trương và Đào Duy Anh, Nguyễn Quý Hương, Trần Đình Phiên cộng tác; đặt tòa soạn tại đường Đông Ba, Huế; in tại nhà in Tiếng Dân; mỗi tuần ra hai số; Số 1 ra ngày 10-8-1927, Số cuối ra năm 1943; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Huỳnh Thúc Kháng; cộng tác bài vở gồm: Cung Giũ Nguyên, Cường Để, Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Khương Hữu Dụng (Thế Nhu, thơ), Lê Quang Lương (Bích Khê), Nguyễn Văn Cổn (thơ, từ 1931), Nguyễn Vỹ…

Tiếng Địch : báo xuất bản ở Sài Gòn trong năm 1938.

Tiếng Kêu (L’Appel): báo của Cộng sản Đệ Tam; Số 1 ra tháng 4-1937…

Tiếng Lính Annam (La Voix du soldat annamite): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Tiếng nói An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ La Voix annamite.

Tiếng Nói Chúng Ta : tên Việt của báo Pháp ngữ Notre Voix.

Tiếng Thợ : xem: 5- Các báo có liên quan đến Đông Dương in tại Pháp (trước năm 1945).

Tiếng Trẻ : tuần báo đặt tại số 11 rue Takou, Hanoi; chủ nhiệm Phạm Hữu Ninh; tổng thư ký bộ biên tập Vũ Công Nghị; Số 1 ra năm 1935, Số cuối ra tháng 1-1937; mỗi số báo giá 3 xu, giá 1 năm 1$50; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Siêu, Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu (Mai Viên, Nguyễn Bách Khoa)…

Tiếng Vang : nhật báo của giáo hội Công giáo ấn hành tại Nhà in Kuénot ở Kontum từ năm 1940 đến khoảng 1945, do nội san Chức Dịch Thơ Tín đổi thành; cộng tác bài vở gồm: Bà Tùng Long (mục Tâm Tình Cởi Mở)…  

Tiếng Vang Làng Báo : báo xuất bản ở Hà Nội, do Cao Văn Sơn làm chủ nhiệm, Nguyễn Mạnh Chất làm quản lý; Số 1 ra ngày 6-5-1936, Số cuối ra năm 1939.

Tiếng vọng An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Echo annamite.

Tiểu Thuyết : báo đặt tại Hà Nội; ấn hành thời kỳ 1938-45; trong đó gồm: …Số 17 (1940), …Số 21 (1941), …Số 24 (1941), Số 25 (1941), …Số 29 (1942)…; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Vạn An (1940-42)…

Tiểu Thuyết Chủ Nhật : tuần báo văn chương ấn hành ngày chủ nhật tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1931; hai số 11 và 12 đổi tên thành Tiểu Thuyết Tuần Báo; từ Số 13 đổi thành Tiểu Thuyết Tuần San; số cuối là Số 28 ra tháng 12-1931.

Tiểu Thuyết Nam Kỳ : tuần báo đặt tại số 175 đường Lagrandière, Sài Gòn, đến đầu tháng 8-1935 chuyển về số 18 Rue Heurteaux, Khánh Hội, Sài Gòn; đã ấn hành được 13 số; trong đó Tập 1 ra tháng 6-1935, đến tháng 9-1935 bị đình bản do giấy phép không được gia hạn; mỗi số báo có 40 trang, giá 10 xu; quản lý Nguyễn Văn Quới; cộng tác bài vở gồm: Đào Thanh Phước, Đặng Ngọc Anh, Đồng Tâm, Hồ Biểu Chánh, Luck Tack, Ngô Long Phụng, Phú Đức (Nguyễn Đức Nhuận), Thân Văn, Tuyết Vân…; tuần báo có hai chuyên mục chính là văn học và quảng cáo; trong đó phần văn học gồm các trang truyện ngắn, tiểu thuyết nhiều kỳ, phóng sự…

Tiểu Thuyết Nhật Báo : ấn hành tại Hà Nội từ năm 1938, ra được 363 số thì đình bản tháng 5-1941; trong đó đã ra nhiều số đặc biệt về 1 truyện hoặc một chuyên đề; chủ nhiệm Đoàn Như Khuê; quản lý Đỗ Xuân Mai.

Tiểu Thuyết Sài Gòn : báo chuyên về văn chương, xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1935.

Tiểu Thuyết Thứ Ba : tuần báo ấn hành tại Hà Nội từ năm 1937, Số cuối 46 ra tháng 1-1938; chủ nhiệm Đoàn Như Khuê; cộng tác bài vở gồm: Ngô Tất Tố, v.v…

Tiểu Thuyết Thứ Bảy : tuần báo văn chương do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội vào ngày thứ bảy hàng tuần, từ 2-6-1934 đến 19-5-1950; trong đó: Số 1 (2-6-1934), …Số 416 (Số Hè, 6-6-1942), …Số 449 (Số Tết Quí Mùi, 30-1-1943)…; mỗi số 40 trang rộng, giá 5 xu; giá báo nửa năm 1$30, cả năm 2$50; sau đó tăng mỗi số 44 trang, giá 6 xu, nửa năm 1$50, cả năm 3$00; từ số 26 (30-11-1934) có thêm phụ trương Hoang Giang Nữ Hiệp; từ tháng 6-1941 có thêm số Phụ Trương Tiểu Thuyết Thứ Bảy; thư ký tòa soạn: Ngọc Giao; cộng tác bài vở gồm: Bùi Văn Bảo (Bảo Vân), Bửu Kế, Chế Lan Viên, Đái Đức Tuấn (Tchya), Đào Trinh Nhất, Huy Thông (Phạm Huy Thông, thơ), Khổng Dương (Trương Văn Hai, thơ), Lan Khai (1937-43), Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Lê Văn Trương, Lưu Kỳ Linh (thơ), Lưu Trọng Lư (1934-44), Mã Giang Tử (Trần Đức Lai), Mộng Đài (Trần Dũ Lương, 1941-45), Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Ngân Giang (Đỗ Thị Quế), Ngọc Giao (Nguyễn Huy Giao), Nguyên Hồng (1937-39), Nguyễn Công Hoan (1935-45), Nguyễn Khắc Kham, Nguyệt Hồ (họa sĩ), Như Phong (Nguyễn Đình Thạc), Phạm Cao Củng, Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu), Thanh Thanh (Lê Xuân Nhuận, thơ, từ 1943), Thái Can (thơ), Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1938-45), Thiếu Sơn (Lê Sỹ Quý, 1943), Tô Hoài, Trần Huyền Trân, Trần Thanh Địch, Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1935-45), Vũ Đình Long, Vũ Trọng Phụng…

Tiểu Thuyết Thứ Hai : tuần báo đặt tại số 124 đường Maréchal Foch, Vinh, Nghệ An; chủ nhiệm Lê Hữu Nhơn; mỗi số báo giá 5 xu, giá 1 năm 2$50; hoạt động từ đầu năm 1935 đến 7-12-1935 thì đình bản.

Tiểu Thuyết Thứ Năm : tuần báo chuyên về văn chương, do Lê Tràng Kiều thành lập tại Hà Nội cuối năm 1937 sau khi Hà Nội Báo bị đóng cửa, với sự cộng tác điều hành của Bùi Huy Phồn, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can; cộng tác bài vở gồm: Anh Thơ (Vương Kiều Ân), Bích Khê (Lê Quang Lương), Bùi Huy Phồn, Đỗ Huy Nhiệm, Huy Thông (Phạm Huy Thông), Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Mộng Tuyết (thơ), Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Vỹ, Thanh Tịnh, Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1938-39), Vũ Trọng Can, Vũ Trọng Phụng, Yến Lan (Lâm Thanh Lang, Xuân Khai, thơ)…; báo ra được 13 số liên tục thì bị đóng cửa; mãi đến tháng 9-1938 mới được xuất bản trở lại, trong đó Số 4 bộ mới ra ngày 27-10-1938; rồi lại có vài lần đình bản tục bản, cho đến khi ngưng hẳn hoạt động sau Số 51 ra tháng 1-1942.

Tiểu Thuyết Thứ Sáu : tuần báo tại Sài Gòn, chuyên về văn chương; ra được 3 số thì đình bản trong tháng 8-1935.

Tiểu Thuyết Tuần Báo : xem Tiểu Thuyết Chủ Nhật.

Tiểu Thuyết Tuần San : xem Tiểu Thuyết Chủ Nhật.

Tiểu Thuyết Tuần San : tuần báo văn chương (bộ mới) do Vũ Công Định thành lập và chủ nhiệm tại Hà Nội; quản lý Lê Ngọc Thiều; cộng tác bài vở: Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà), v.v…; Số 1 ra tháng 3-1932, Số cuối 71 ra tháng 9-1934.

Tiểu Thuyết Tuần San : tuần báo văn chương (bộ mới) tại Hà Nội; quản lý Lê Ngọc Thiều; Số 1 ra tháng 9-1937, …Số 10 (11-1937), …Số cuối 91 ra tháng 9-1940.

Tiểu Thuyết Tuần San : tuần báo văn chương (bộ mới) tại Hà Nội; Số 1 ra tháng 12-1940, Số cuối ra tháng 2-1942.

Tin Đạo : báo hoạt động từ năm 1929.

Tin Điển : nhật báo ấn hành tại Sài Gòn từ năm 1942; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Vạn An, Nguyễn Văn Sinh, Thinh Quang…

Tin Mới : nhật báo có khuynh hướng thân Nhật, do bác sĩ Nguyễn Văn Luyện thành lập tại Hà Nội; hoạt động từ 1939 đến tháng 8-1945; chủ nhiệm Trần Văn Quý; chủ bút: Tam Lang (Vũ Đình Chí); phóng viên gồm: Thao Thao (Cao Bá Thao)…; cộng tác bài vở gồm: Thinh Quang (1944), Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long, 1940-45), Trần Đức Lai (Thiềm Cung, thông tín viên ở Thanh Hóa, 1940-45)…

Tin Tức : báo xuất bản ở Hà Nội từ 2-4-1938 đến tháng 10-1938; mỗi tuần ra hai số, trên danh nghĩa do Lương Văn Tuân làm chủ nhiệm, Trịnh Hoài Đức quản lý, thực chất là cơ quan Xứ uỷ Bắc Kỳ cộng sản Đệ Tam do Trường Chinh điều khiển, Trần Huy Liệu làm thư ký tòa soạn, Nguyễn Văn Phúc quản lý, Trần Đình Long biên tập; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh), Phan Thanh…

Tin Văn : bán nguyệt san văn chương do nhà giáo Nguyễn Đức Phong (Thái Phỉ) thành lập tại Hà Nội; mỗi tháng ra hai kỳ vào ngày 1 và 15; Số 1 ra năm 1935; hoạt động đến tháng 12-1935 thì tạm ngưng để chờ in bằng nhà in riêng cũng do Nguyễn Đức Phong thành lập; đến 15-4-1936 báo tiếp tục hoạt động trở lại cho đến tháng 8-1945; cộng tác bài vở gồm: Chế Lan Viên, Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long, 1940-45)…; bộ mới Tin Văn xuất bản ở Sài Gòn từ 1946 đến 1975.

Tinh Hoa : tạp chí văn chương do Đoàn Phú Tứ thành lập và điều hành tại Hà Nội; ban biên tập gồm Nguyễn Đức Phòng, Thế Lữ, Vũ Đình Liên…; cộng tác bài vở gồm: Lan Sơn (Nguyễn Đức Phòng), Nguyễn Nhược Pháp, Thanh Tịnh, Thế Lữ, Vân Đài, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu…; Số 1 ra năm 1937, Số cuối 13 ra tháng 7-1937.

Tổ quốc An Nam : tên Việt của báo Pháp ngữ La Patrie Annamite.

Tổng Xã Báo : báo xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1939.

Tổng Xã Mới : báo tại Sài Gòn; cộng tác bài vở gồm: Viễn Châu (Huỳnh Trí Bá, thơ, từ 1942).

Tranh đấu : tên Việt của báo Pháp ngữ La Lutte.

Tranh Đấu (La Lutte ouvrière): báo quốc ngữ do Phan Văn Hùm thuộc Đệ tứ quốc tế xuất bản ở Sài Gòn (1937 đến 11-12-1946); biên tập viên gồm: Hoàng Hoa Khôi, v.v…; trong đó: …Số 13 (3-1937)…; cộng tác bài vở gồm: Phạm Ðình Bách (Hoa Sơn)…

Trái Tim Đức Mẹ (Nguyệt san~): nguyệt san Công giáo tại Hà Nội; Số 1 phát hành đầu năm 1945; hoạt động đến đầu năm 1955 thì chuyển vào Sài Gòn.

Tràng An (Tràng An Báo): bán tuần san ra ngày thứ ba và thứ sáu, do Bùi Huy Tín thành lập tại Huế; các đời chủ nhiệm: Bùi Huy Tín (1935 đến 6-1942), bà Lucie Saillard (tháng 7-1942 đến 1945); chủ bút: Phan Khôi (tháng 3-1935 đến 2-1936), …Hoàng Thiếu Sơn (1942)…; thư ký tòa soạn Nguyễn Đức Phiên (tháng 9-1942 đến 1945); đặt tòa soạn tại Nhà in Đắc Lập, số 43 đường Paul Bert, Huế, từ tháng 7-1942 chuyển về số 2, rue Bobillot, Huế; cộng tác bài vở gồm: Bích Liên (Thích Trí Hải, 1935), Chế Lan Viên, Cù Huy Cận, Hàn Mạc Tử (Nguyễn Trọng Trí, 1936-37), Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên, 1935-36), Mộng Huyền, Nam Trân (Nguyễn Học Sỹ), Phan Thị Nga, Phan Văn Dật (Thường Nga Phố, Tiêu Lang), Trần Thanh Địch (mục Trò đời, 1935-37)…; giá mỗi số 4 xu, rồi 5 xu; Số 1 ra ngày 1-3-1935; …Số 4 (12-3-1935), …Số 25 (24-5-1935), …Số 131 (12-6-1936), …Số 191 (15-11-1937), …Số cuối ra ngày 2-12-1945.

Trào Phúng : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.

Trăm Hoa : đặc san Xuân Nhâm Ngọ do Lê Văn Hòe và một số tác giả góp bài sáng tác và phê bình, do Quốc Học Thư Xã phát hành tại Hà Nội xuân 1942; với sự cộng tác của: Nguyễn Bính, v.v…

Tri Tân (1941-46): tạp chí do Nguyễn Tường Phượng thành lập ở Hà Nội; chuyên khảo cứu khoa học, lịch sử và văn chương với mục đích ‘Ôn cố tri tân’, gồm những chuyên mục thường xuyên như phê bình sách báo, phê bình lịch sử, phê bình kịch nghệ, dịch sách cổ, đọc và giới thiệu sách; chủ nhiệm là Nguyễn Tường Phượng; quản lý Dương Tụ Quán; Ban biên tập gồm: Hoàng Minh Giám, Hoa Bằng, Trúc Khê, Nguyễn Tường Phượng, Long Điền, Nguyễn Văn Tố; cộng tác bài vở gồm: Bùi Văn Bảo (Bảo Vân), Bửu Kế, Chu Thiên (Hoàng Minh Giám), Dương Quảng Hàm (Hải Lượng), Dương Tụ Quán, Đào Duy Anh, Đào Trinh Nhất, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm), Khuông Việt (Lý Vĩnh Khuông), Lê Thọ Xuân (Lê Văn Phúc), Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Long Điền (Nguyễn Văn Minh), Mộng Đài (Trần Dũ Lương, 1941-45), Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Mộng Tuyết (Lâm Thái Úc, thơ), Ngạc Xuyên (Ca Văn Thỉnh), Ngân Giang (Đỗ Thị Quế, thơ), Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tường Phượng (Tiên Đàm), Nguyễn Vạn An, Nguyễn Văn Tố (Ứng Hòe), Phan Khắc Khoan, Phạm Hầu, Tôn Thất Dương Kỵ, Trần Huy Bá, Trúc Khê (Ngô Văn Triện)…; Số 1 ra ngày 3-6-1941, …Số 17 (3-10-1941), …Số 21 (31-10-1941), …Số 23 (14-11-1941), …Số cuối 214 ra tháng 7-1946.

Tribune libre des étudiants a des travailleurs annamites : tên Pháp của nguyệt san quốc ngữ Việt Nam Hồn/Việt Nam Hồn Báo.

Trí Tri (Tập san ~): nguyệt san quốc ngữ đặt tại số 59 phố Hàng Đàn (nay là phố Hàng Quạt), Hà Nội, là cơ quan của Hội Trí Tri Bắc Kỳ (bên cạnh một tạp chí Pháp ngữ khác là ‘Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin’); chủ trương quảng bá khoa học về vệ sinh, phong tục, kiến thức mới lạ; ấn hành từng quý từ năm 1922 đến 1944, mỗi năm 4 số; điều hành và cộng tác gồm: Hoàng Ngọc Phách (Song An), Nguyễn Văn Tố (Ứng Hòe), Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh…

Trong Khuê Phòng : ghi dưới tiêu đề là ‘Tạp chí của Phụ nữ Việt Nam’; chủ nhơn kiêm chủ nhiệm: Mme Đài Gương G. Mignon; đại lý độc quyền cổ động ở Đông Dương: M. Đoàn Trung Còn; chủ biên: Hoàng Trọng Miên; đồng chủ bút là Nguyễn Trọng Trí (Hàn Mặc Tử) và Hoàng Trọng Quỵ (Thanh Nghị); cộng tác điều hành: Trần Thanh Địch…; đặt tòa soạn tại số 22, Rue La Grandière (~đường Gia Long/Lý Tự Trọng), Saigon; cộng tác bài vở gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Hoàng Trọng Miên, Thanh Nghị, Thúc Tề, Trần Thanh Địch…; Số 1 ra năm 1937, …Số 67 ra ngày 30-6-1938, …Số cuối ra năm 1939.  

Trung Bắc Chủ Nhật : xem Trung Bắc Tân Văn Chủ Nhật.

Trung Bắc Tân Văn (Gazette de l’Annam; 1913-41): báo do Francois Henry Schneider thành lập và chủ nhiệm tại Hà Nội, để làm một ấn bản của Lục Tỉnh Tân Văn phát hành tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Cộng tác điều hành gồm Nguyễn Văn Vĩnh (chủ bút đầu tiên), Nguyễn Văn Luận (quản lý), Dương Phượng Dực (chủ bút tiếp theo). Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất (5-1936), người kế tục điều hành là Nguyễn Văn Luận và Phạm Huy Lục. Ban biên tập gồm: Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đỗ Mục. Cộng tác bài vở gồm: Doãn Kế Thiện, Đạm Phương nữ sử, Đào Trinh Nhất, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Lê Văn Trương (1932-34), Mộng Đài (Trần Dũ Lương, 1941-45), Nam Hương (Bùi Huy Cường), Nguyễn Khắc Kham, Phạm Duy Tốn, Tam Lang (Vũ Đình Chí), Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1920), Vũ Bằng (1937), Vũ Ngọc Phan… Số 1 ra ngày 7-1-1913; ấn hành mỗi tuần một số 4 trang khổ lớn vào ngày chủ nhật. Đến ngày 15-6-1915 báo đánh lại bộ mới Số 1, ra một tuần 2 kỳ, và từ tháng 10-1915 nâng lên ba kỳ. Tháng 3-1919, Nguyễn Văn Vĩnh mua hẳn tờ báo và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Từ ngày 1-4-1919 báo trở thành nhật báo ra 6 ngày trong tuần, là nhật báo đầu tiên và duy nhất ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ lúc đó. Những năm đầu, chính quyền Pháp không những vạch ra đường lối, chủ trương tuyên truyền cho tờ Trung Bắc Tân Văn mà còn ra sức cổ động và chăm lo đến việc phát hành báo. Trung Bắc Tân Văn từng tuyên truyền cho chủ trương mộ lính bản xứ, bán công trái và các chánh sách của Pháp ở Bắc và Trung Kỳ như: chánh sách giấy thông hành, thuế thân, đề xuất đưa Khải Định lên làm vua v.v… Tuy nhiên, tờ báo cũng góp công rất lớn trong việc phổ biến chữ quốc ngữ và phát triển văn học ở Bắc và Trung Kỳ. Số 646 ra ngày 7-5-1919, …Số cuối 7.265 ra tháng 4-1941.

Trung Bắc Tân Văn Chủ Nhật (Trung Bắc Chủ Nhật): tuần báo tại Hà Nội; chủ trương và quản lý: Dương Phượng Dực (1940-43), rồi Nguyễn Doãn Vượng (1943-45); cộng tác bài vở gồm: Doãn Kế Thiện, Đào Trinh Nhất (Quán Chi, 1940-45), Khổng Dương (thơ), Lê Văn Hòe (Vân Hạc, phụ trách phần nghiên cứu, 1940-41). Nguyễn Khắc Kham, Võ Phiến (truyện ngắn, 1943-45), Vũ Bằng (1941)…; Số 1 ra ngày 3-3-1940, …Số 65 ra ngày 15-6-1941; đến năm 1943 được Nguyễn Doãn Vượng đổi tên thành Trung Bắc Chủ Nhật; …Số 198 (28-4-1944), …Số cuối 257 ra ngày 12-8-1945, ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp.

Trung Hòa Báo/Trung Hòa Nhật Báo (1923-54): nội san của Địa phận Công giáo Hà Nội, đặt tại khuôn viên nhà thờ Nhà Chung, Hà Nội; Số 1 ra ngày 8-9-1923; lúc đầu là bán nguyệt san ra hai tuần một số; đến năm 1936 ra mỗi tuần ba số, hoạt động cho đến cuối năm 1954; chủ nhiệm kiêm chủ bút là giáo sĩ Lebourdais (cha Hòa); báo cũng đồng thời làm nhiệm vụ nhà in, xuất bản và phát hành sách báo (Trung Hòa Thiện Bản); cộng tác bài vở gồm: Đào Trinh Nhất. v.v…

Trung Kỳ : tuần báo ra ngày thứ tư hàng tuần; đặt tại số 184 đường Maréchal Foch, Vinh, Nghệ An; chủ bút Dương Đình Quang; Số 1 ra năm 1935, Số cuối ra tháng 10-1937.

Trung Kỳ Vệ Sinh Chỉ Nam : báo xuất bản ở Huế từ năm 1940.

Trung lập : tên Việt của báo Pháp ngữ L’Impartial.

Trung Lập Báo/Trung Lập (1924-33): nhật báo Trung Lập vốn là một ấn bản Việt ngữ (Edition annamite de l’Impartial) của báo Pháp ngữ L’Impartial in tại Sài Gòn, do Henri de Lachevrotière thành lập và chủ-nhiệm, đến năm 1930 bán lại cho Trần Thiện Quý. Chủ báo kiêm chủ nhiệm: Henri de Lachevrotière (1924-30), Trần Thiện Quý (1930-33). Các đời chủ bút gồm: Phú Đức (1924), Trương Duy Toản (1924-26), Trần Văn Giao (Vân Trình), Bùi Thế Mỹ (Lan Đình), Trần Văn Chim (Phi Vân), Nguyễn An Ninh (biên tập, 1932-33), Nguyễn Văn Tạo (chủ bút, 1932-33). Cộng tác bài vở gồm: Diệp Văn Kỳ, Dương Quang Nhiều (Phụng Các), Đặng Thúc Liêng, Hồ Văn Hiến (Viên Hoành), Hồ Văn Lang (Thất Lang), Lê Sum, Lương Khắc Ninh, Nguyễn Đức Huy (Hồng Tiêu), Nguyễn Đức Nhuận (Phú Đức), Phan Khôi (1931), Trần Quang Nghiệp (1928-32), Trương Duy Toản (Mạnh Tự),… Số 1 ra ngày 16-1-1924, Số cuối 7.023 ra ngày 30-5-1933. Từ năm 1930, báo bắt đầu ngã hẳn về xu hướng đối lập chánh quyền, phổ biến một loạt bài về triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Năm 1932, báo mời Nguyễn An Ninh làm biên tập, Nguyễn Văn Tạo làm chủ bút cộng tác, trở nên quyết liệt đấu tranh với chánh quyền, trở thành báo có đông độc giả nhất ở Sài Gòn (sau khi báo Thần Chung bị đình bản), vì thế báo bị đóng cửa năm 1933.

Trung Nam Bắc : báo tại Thanh Hóa; Số 1 ra năm 1936, số cuối ra ngày 15-7-1937.

Trung Tâm : tuần báo do Nguyễn Mạnh Chất và Vũ Văn Hoàn chủ trương; đặt tại số 97 phố Hàng Bông, Hà Nội; Số 1 ra năm 1934; giá báo mỗi số 3 xu, giá 1 năm là 1$50, giá nửa năm 0$80; Số cuối ra tháng 5-1935.

Truyền Bá : tạp chí văn chương và giáo dục thanh thiếu niên, do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội từ ngày 25-8-1941 đến 20-9-1945; chủ nhiệm Vũ Đình Long; lúc đầu mỗi tháng ra hai số vào ngày 10 và 25; từ Số 5 trở đi ra vào thứ năm hàng tuần; mỗi số 36 trang giá 10 xu, thường đăng 1 truyện dài, 1 truyện ngắn và nhiều bài viết ngắn về giáo dục thiếu nhi. Số 1 (ra ngày 25-8-1941): truyện dài Con thiên lý mã (Lê Văn Trương); Số 2 (25-9-1941): Phần thưởng danh dự (Nguyễn Công Hoan); Số 3 (10-10-1941): Con dế mèn (Tô Hoài); Số 4 (25-10-1941): Hóa thành chim (Thâm Tâm); Số 5 (6-11-1941): Chuyện ma (Nguyễn Công Hoan); Số 6 (13-11-1941): Ác báo (Mai Phương); Số 7 (20-11-1941): Quých và Quác (Vũ Bằng); Số 8 (27-11-1941): Những người ngày xưa (Lê Văn Trương); Số 9 (4-12-1941): Trên lưng cóc (Chiêu Đảm); Số 10 (11-12-1941): Tỉnh giấc mơ vua (Hoàng Cầm); Số 11 (18-12-1941): Ban hát thầy mo (Thâm Tâm); Số 12 (25-12-1941): Mực tầu giấy bản (Tô Hoài); Số 13 (1-1-1942): Nhà triệu phú thọt (Nguyễn Công Hoan); Số 14 (8-1-1942): Phi châu bí mật (Phạm Quang Định); Số 15 (15-1-1942): Giặc Cờ Đen (Lê Văn Trương); Số 16 (22-1-1942): Dế Mèn phiêu lưu ký 1 (Tô Hoài); Số 17 (29-1-1942): Dế Mèn phiêu lưu ký 2 (Tô Hoài); Số 18 (5-2-1942): Ma Thiên Lãnh (Ngọc Giao); Số 19 (12-2-1942): Chín bộng hoa (Thâm Tâm); Số 20 (26-2-1942): Cún số 5 (Thanh Châu); Số 21 (5-3-1942): Thủy Thần (Phan Như); Số 22 (12-3-1942): Oulad Kildir (Phạm Bá Đại); Số 23 (19-3-1942): Một truyện ma (Lê Văn Trương); Số 24 (26-3-1942): Ma biên (Nguyễn Công Hoan); Số 25 (2-4-1942): Ngọn cờ lau (Tô Hoài); Số 26 (9-4-1942): Suối thiêng (Thanh Châu); Số 27 (16-4-1942): Bước đường tương lai (Hoàng Cầm); Số 28 (23-4-1942): Thằng cuội phiêu lưu (Thâm Tâm); Số 29 (30-4-1942): Dũng nhà thám hiểm (Ngọc Giao); Số 30 (7-5-1942): Con chó dai đầu (Lê Văn Trương); Số 31 (14-5-1942): Youdi Aida (Phan Bá Đại); Số 32 (21-5-1942): Sự tích cây hoa lý (Tô Hoài); Số 33 (28-5-1942): Lòng trẻ (Đoàn Nghi); Số 34 (4-6-1942): Quyển sách bí mật và con khỉ (Ngọc Giao); Số 35 (11-6-1942): Nàng Út (Thâm Tâm); Số 36 (18-6-1942): Mẹ và em (Thanh Châu); Số 37 (25-6-1942): Ngọn núi pha lê (Phan Như); Số 38 (2-7-1942): Đứa con đã khôn ngoan (Nguyễn Công Hoan); Số 39 (9-7-1942): Lên giời (Trúc Khê); Số 40 (16-7-1942): U Tám (Tô Hoài); Số 41 (23-7-1942): Tiên trong giếng thần (Thâm Tâm); Số 42 (30-7-1942): Hiền (Ngọc Giao); Số 43 (6-8-1942): Vàng (Thanh Châu); Số 44 (13-8-1942): Ba bà cháu (Tô Hoài); Số 45 (20-8-1942): Đười ươi giữ ống (Thâm Tâm); Số 46 (27-8-1942): Mưu Gia Cát (Lê Văn Trương); Số 47 (3-9-1942): Cô Tiên (Ngọc Giao); Số 48 (10-9-1942): Chó với mèo (Tô Hoài); Số 49 (17-9-1942): Trịnh Khả (Thâm Tâm); Số 50 (24-9-1942): Ông Hổ (Trúc Khê); Số 51 (1-10-1942): Tấm lòng vàng 1 (kịch, Nguyễn Công Hoan); Số 52 (8-10-1942): Tấm lòng vàng 2 (kịch, Nguyễn Công Hoan); Số 53 (15-10-1942): Kalani cậu mọi với hai con khỉ (Phạm Bá Đại); Số 54 (22-10-1942): Ba anh em (Tô Hoài); Số 55 (29-10-1942): Người Giao Chỉ (Thâm Tâm); Số 56 (5-11-1942): Một người mẹ (Hữu Mai); Số 57 (12-11-1942): Người bạn giang hồ (Vương Thanh, dịch); Số 58 (19-11-1942): Thằng Bờm (Ngọc Giao); Số 59 (26-11-1942): Giặc Tàu bắt cóc 1 (Lê Văn Trương); Số 60 (3-12-1942): Giặc Tàu bắt cóc 2 (Lê Văn Trương); Số 61 (10-12-1942): Con chuồn chuồn (Hoàng Văn Đạt); Số 62 (17-12-1942): Lệ Ngọc (Phạm Đình Đăng); Số 63 (24-12-1942): Lá thư của người mẹ (Phạm Bang Cơ); Số 64 (31-12-1942): Hoàng tử Nành (Hữu Mai); Số 65 (7-1-1943): Lửa rừng (Ngọc Giao); Số 66 (14-1-1943): Người bõ già (Thiện Kiều); Số 67 (21-1-1943): Khổng Minh Việt Nam (Thanh Khê); Số 68 (28-1-1943): Tết (Nhiều tác giả: Băng Hồ, Chàng Sóc, Đào Thiệu, Đặng Trần Phiến, Hữu Mai, Khai Thụy, Lan Trân, Le-Te, Lê Như Chi, Lệ Chi Hoa, Lư Ca, Lữ Công, Nam Anh, Nam Cao, Ngọc Cư, Ngọc Giao, Nguyễn Bá Hào, Nguyễn Đình Tư, Nguyễn Ngọc Sửu, Nguyễn Quang Phòng, Nguyễn Văn Nhàn, Phạm Bá Đại, Phạm Đình Đăng, Thâm Tâm, Tô Hoài, Tú Sĩ, Vi Chi, Vũ Hầu…); Số 69 (18-2-1943): Bố, Cái (Thâm Tâm); Số 70 (25-2-1943): Cái mũ lạ đời (Vũ Trọng Đào); Số 71 (4-3-1943): Trên đảo Hoàng Sa (Ngọc Cư); Số 72 (11-3-1943): Nhạc, Huệ, Lữ (Ngọc Giao); Số 73 (18-3-1943): Thằng bé chăn dê (Ngọc Cư); Số 74 (25-3-1943): Võ sĩ Bọ Ngựa (Tô Hoài); Số 75 (1-4-1943): Cái quạt mo (Thâm Tâm); Số 76 (8-4-1943): Rừng, Núi, Biển (Phạm Bá Đại); Số 77 (15-4-1943): Bầu sữa hươu (Ngọc Giao); Số 78 (22-4-1943): Đóa hồng màu nhiệm (Anh Kiến); Số 79 (29-4-1943): Ba ông cháu (Tô Hoài); Số 80 (6-5-1943): Biết sống (Phạm Bá Đại); Số 81 (13-5-1943): Sẹt sành và chim choẹt (Đào Thiệu); Số 82 (20-5-1943): Bài sử ký (Thanh Châu); Số 83 (27-5-1943): Chim làm tổ (Thâm Tâm); Số 84 (3-6-1943): Trên biển cát (Lê Chung Vịnh); Số 85 (10-6-1943): Nguyễn Xí (Nguyễn Đình Tư); Số 86 (17-6-1943): Người mẹ (Mạnh Phú Tư); Số 87 (24-6-1943): Tiểu anh hùng (Ngọc Giao); Số 88 (1-7-1943): Trời phạt (Đào Thiệu); Số 89 (8-7-1943): Ngoại ô Sài Gòn (Đoàn Nghi); Số 90 (15-7-1943): Ba cái lá (Tấn Kiểm); Số 91 (22-7-1943): Ông hoàng Khỉ (Lê Công Thành); Số 92 (29-7-1943): Rồng (Thâm Tâm); ? ; Số 112 (16-12-1943): Thù chồng nợ nước 1 (Nguyễn Đình Tư); Số 113 (23-12-1943): Thù chồng nợ nước 2 (Nguyễn Đình Tư); ? ; Số 117 (2-3-1944): Vua Đen (Nguyễn Trung Hòa); Số 118 (9-3-1944); Số 119 (16-3-1944); Số 120 (23-3-1944): Người bồ câu 1 (Đào Thiệu); Số 121 (30-3-1944): Người bồ câu 2 (Đào Thiệu); ? ; Số 131 (8-6-1944): Cây đa biết nói 1 (Giáo Phú); Số 132 (18-6-1944): Cây đa biết nói 2 (Giáo Phú); Số 133 (22-6-1944); Số 134 (29-6-1944): Nguyễn Trãi (Ngọc Giao); Số 135 (6-7-1944): Bốn con nỡm ấy đi du lịch (Tô Hoài); ? ; Số 142 (24-8-1944): Mèo già hóa cáo (Tô Hoài); Số 143 (31-8-1944): Gã mài gươm (Ngọc Giao); Số 144 (7-9-1944); Số 145 (14-9-1944); Số 146 (21-9-1944): Ghẻ đặc biệt (Tô Hoài); Số 147 (28-9-1944): Đứa con nuôi (Thâm Tâm); Số 148 (5-10-1944); Số 149 (12-10-1944); Số 150 (19-10-1944): Vua Quang Trung (Hữu Mai); Số 151 (26-10-1944): Nguồn sống (Nguyễn Đình Tư); Số 152 (2-11-1944): Úm ba la (Ngọc Giao); Số 153 (9-11-1944): Người đàn bà nuôi rắn (Nam Cao); Số 154 (16-11-1944); Số 155 (23-11-1944): Nói về cái đầu tôi (Tô Hoài); Số 156 (30-11-1944): Cậu Chính cô Chiêu (Ngọc Giao); Số 157 (7-12-1944): Hoàng hậu Yết Tê (Nam Cao); Số 158 (14-12-1944): Đao phủ (Nguyễn Văn Nhàn); Số 159 (28-12-1944): Mối thù của rắn (Ngô Đức Việt); Số 160 (4-1-1945): Nồng Văn Vân (Hà Quốc Ân); Số 161 (11-1-1945): Hoàng Trừu (Ngọc Giao); Số 162 (18-1-1945): Bốn con gà (Tô Hoài); Số 163 (25-1-1945): Thằng khờ (Nam Cao); Số 164 (1-2-1945): Trò leo giây (Thâm Tâm); Số 165 (22-5-1945); Số 166 (1-3-1945): Nàng Bạch Tuyết (Ngọc Giao); Số 167 (8-3-1945): Cái đầu lâu (Nguyễn Văn Nhàn); ? ; Số 190 (20-9-1945)…

Truyền Tin : nhật báo tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1940, Số cuối 289 ra tháng 7-1941; cộng tác bài vở gồm: Nguyễn Văn Sinh, v.v…

Trường An Cận Tín : báo xuất bản ở Huế từ năm 1930.

Tuổi Trẻ : tạp chí văn chương và giáo dục thanh thiếu niên, do Tân Dân Thư Quán của Vũ Đình Long ấn hành tại Hà Nội thời kỳ 1943-45; ra không định kỳ, mà cách nhau từ một tuần đến vài tháng đưới hình thức tủ sách; mỗi cuốn có 80 trang, in một truyện dài, nhiều truyện ngắn. Trong đó: Số 1 (Anh em thằng Việt, Lê Văn Trương, 1943); Số? (Người giữ ngựa, Thâm Tâm, 1944); Số? (Cái chấm sáng, Vũ Bằng, 1944); Số? (Hổ với Mọi, Lưu Trọng Lư, 1944); Số? (Truyện người trẻ tuổi, Ngọc Giao, 1944); Số? (Tiếng mùa xuân, Thâm Tâm, 1945); Số? (Họ ăn tết, Nguyễn Văn Nhàn, 1945)…

Tuyệt Phích : báo xuất bản ở Sài Gòn 1936-38.

Tương Lai (L’Avenir): tạp chí do Vũ Đình Huỳnh chủ trương tại Hà Nội, làm cơ quan ngôn luận của Quốc tế Lao động Pháp chi nhánh Bắc Kỳ (Section Française de l’Internationale Ouvrière – SFIO);  lúc đầu là bán nguyệt san ra ngày 1 và 15 mỗi tháng; Số 1 ra tháng 3-1936; mỗi số 16 trang, ghi giá 10 xu, giá 1 năm 2$10, giá nửa năm 1$20; nhưng sau vài số đầu do người viết ít và tiêu thụ khó khăn nên phải ra hai tháng một số; Số cuối là Số 13 ra tháng 4-1937; Ban biên tập gồm: Bùi Ngọc Ái, Đặng Thai Mai, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Huỳnh (chủ nhiệm kiêm chủ bút); cộng tác bài vở gồm: Bùi Ngọc Ái, Đặng Thai Mai, Ngô Tất Tố, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Huỳnh…

Tương lai Bắc Kỳ : tên Việt của tạp chí Pháp ngữ L’Avenir du Tonkin.

Tương Lai Tạp Chí : nguyệt san do Cung Giủ Nguyên thành lập và chủ nhiệm, đặt tại số 27B Route coloniale, Nha Trang; Số 1 ra ngày 15-1-1934, số cuối là Số 4 ra tháng 6-1934; giá mỗi số 30 xu, dày khoảng 100 trang.

Tứ Dân Tạp Chí (Revue pour tous): tuần báo tại Hà Nội; Số 1 ra năm 1930, Số cuối 51 ra tháng 4-1932.

Tứ Dân Văn Uyển : báo xuất bản ở Hà Nội (1935-37); cộng tác bài vở gồm: Nam Hương (Bùi Huy Cường), v.v…

Từ Bi Âm (La voix de la miséricorde): tạp chí là cơ quan ngôn luận của Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học Hội; tòa soạn đặt tại chùa Linh Sơn, số 149 rue Douaumont, gần chợ Cầu Muối, Sài Gòn; Số 1 ấn hành ngày 1-3-1932, …Số 151 (7-1938), …số cuối khoảng năm 1945; các đời chủ nhiệm gồm: Thích Khánh Hòa (1932-33), Thích Chánh Tâm (1933-45); các đời chủ bút gồm: Thích Trí Hải (Bích Liên, 1932-37), Thích Liên Tôn (1937-45); phó chủ bút Thích Liên Tôn (1932-37); quản lý Trần Nguyên Chấn (1932-45).

Tự Do : báo do Nguyễn Văn Sâm thành lập năm 1938 tại Sài Gòn; là cơ quan tranh đấu ngôn luận của Đảng Việt Nam quốc dân độc lập; trong đó Số 15 ra ngày 21-1-1939; cộng tác bài vở gồm: Lê Ngọc Trụ (1939), Lư Khê (Trương Văn Em)…

Union Indochinoise : báo Pháp ngữ, do Vũ Đình Dy thành lập và điều hành tại Hà Nội từ năm 1935, với sự cộng tác của Nguyễn Đắc Lộc (Mai Lâm).

Văn Hóa : nguyệt san bộ mới tại Hà Nội; Số 1 ra tháng 3-1941, số cuối là Số 5 ra tháng 7-1941.

Văn Hóa Tạp Chí : nguyệt san do Nguyễn Xuân Thái quản lý điều hành tại Hà Nội; chủ trương ‘dung hòa cả hai nền văn hóa Đông-Tây để gầy nên một nền văn hóa mới của Việt Nam’; mỗi số kèm phụ bản lịch sử giá 0$40, mỗi năm giá 4$50; đủ một năm sẽ được tòa báo đóng thành bộ và làm bìa miễn phí kém theo một số biếu, hoặc có thể bán báo lại cho tòa soạn; Số 1 ra tháng 4-1939.

Văn Học : tạp chí do Lê Tràng Kiều thành lập ở Hà Nội năm 1935, chuyên về kim văn; cộng tác bài vở gồm: Bửu Kế, Nam Trân (Nguyễn Học Sỹ), Thái Can (thơ), Vũ Ngọc Phan, v.v…

Văn Học Tạp Chí : nguyệt san chuyên về cổ văn, do anh em Dương Bá Trạc, Dương Tụ Quán thành lập ở Hà Nội năm 1932; tòa báo đặt tại số 193 đường Coton, Hà Nội; chủ nhiệm Dương Tụ Quán; chủ bút Dương Bá Trạc; cộng tác bài vở gồm: Bửu Kế, Ðỗ Huy Nhiệm (Ðỗ Phủ, Thiếu Lăng, thơ), Hoàng Duy Từ, Lê Tràng Kiều, Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương, 1935), Nguyễn Vỹ (thơ, 1935), Thái Can (thơ), Thúc Tề, Trần Tuấn Khải (Á Nam), Trúc Khê (Ngô Văn Triện, 1932-33)…; tuy báo chuyên về cổ văn, nhưng cũng đăng nhiều bài có ý chống đối chánh quyền nên bị đình bản tháng 8-1935; anh em ông Trạc-Quán mở tiếp Đông Tây Báo vào tháng 11-1935 để thay thế.

Văn Học Tuần San : tạp chí tại Huế; Số 1 ra năm 1933, Số cuối 32 ra tháng 7-1937; cộng tác bài vở gồm: Lê Cương Phụng (Tùng Lâm), Lê Ngọc Trụ…

Văn Lang Tuần Báo : tuần báo do nhóm Văn Lang, gồm một số trí thức đào tạo từ Pháp về như Hồ Văn Nhựt, bác sĩ Hồ Tá Khanh (chủ bút), bác sĩ Dương Tấn Tươi, bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, kỹ sư Kha Vạn Cân, kỹ sư Nguyễn Văn Nghiêm thành lập ở Sài Gòn; cộng tác bài vở gồm: Lê Thọ Xuân (Lê Văn Phúc), v.v…; Số 1 ra ngày 29-7-1939, Số cuối 44 ra tháng 6-1940.

Văn Minh : báo tại Sài Gòn; Số 1 ra năm 1926, Số cuối 189 ra tháng 1-1931.

Văn Mới : tạp chí phổ thông giáo dục, do nhóm Tân Văn Hóa thuộc Hàn Thuyên Xuất Bản Cục ấn hành; mỗi tháng ra hai kỳ. Tòa soạn và trị sự tại số 69-71, Rue Tiên-Tsin, Hanoi; chủ nhiệm Nguyễn Xuân Lương; chủ bút Nguyễn Đức Quỳnh. Cộng tác bài vở gồm: Bao Trúc Sơn (1938), Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn), Chàng Khanh (1936), Chu Thiên (Hoàng Minh Giám), Đặng Thai Mai, Đỗ Trường Xuân (1936-38), Lê Văn Siêu, Lương Đức Thiệp, Mai Lâm (Nguyễn Đắc Xuân, 1938), Nghiêm Tử, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Hải Âu, Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Tuân, Phạm Ngọc Khuê, Thiên Hạ Sỹ, Trần Văn Thanh, Trương Tửu (Mai Viên, Nguyễn Bách Khoa)… Hoạt động không liên tục thời kỳ 1936-45, đã có nhiều lần đình bản rồi tục bản. Thời kỳ 1936-38: …Số 4 ra năm 1936, Số 5 (1937), Số 6 (1937), …Số 9 (1938)… Thời kỳ 1939-41: Số 1 ra ngày 15-2-1939 thì bị cấm ngay, ngày 3-6-1939 tục bản lại đánh Số 1 mới, ra được vài số lại bị cấm, rồi lại tục bản, bị cấm nhiều lần. Thời kỳ 1942-45: Số 1 ra ngày 10-12-1942,  Số 2 (25-12-1942), …Số 47 (25-11-1944), …Số 58 (25-9-1945) là số cuối cùng.

Văn Nghệ : báo tại Sài Gòn; hoạt động từ năm 1938; cộng tác bài vở gồm: Lư Khê (Trương Văn Em), Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm)…

Vận Động Báo : xuất bản tại Sài Gòn (1933-34).

Vẻ Đẹp : báo xuất bản tại Sài Gòn (1938-39).

Vệ Nông Báo (Revue agricole en Quốc ngữ): báo ấn hành tại Hà Nội thời kỳ 1923-32; giám đốc Lê Văn Phúc; giá mỗi số 30 xu, giá 1 năm 3$00.

Viên Âm (Viên Âm Tạp Chí): tạp chí do An Nam Phật Học Hội thành lập; đặt tòa soạn tại số 13 đường Champeau, Huế; Số 1 ra ngày 1-12-1933, Số 2 (1-1-1934), …Số 8 (1-7-1934), …Số 13 (2-1935), Số 14 (4-1935), Số 15 (5-1935), …Số 17 (9-1935), …Số 23 (1936), …Số 25 (1-6-1937), …Số 48 (5-1942), …Số 52 (9-1942), …Số 58 (3-1945), Số 59 (4-1943)…; chủ nhiệm là bác sĩ Lê Đình Thám; cộng tác bài vở gồm: Đinh Văn Vinh, Hà Thị Hoài, Hoàng Kim Hải, Lê Bối, Lê Đình Thám (Ba Rảm, Châu Hải, T.M., Tâm Minh), Lê Hữu Hoài, Ngô Điền, Ngô Đồi, Nguyễn Hữu Quán, Nguyễn Khải, Nguyễn Năng Viên, Nguyễn Xuân Thanh, Phạm Hữu Bình, Thích Mật Khế, Trần Đỗ Cung, Trực Hiên, Võ Đình Cường…; báo hoạt động đến năm 1950 thì đổi thành bộ mới.

Viễn Á : tên Việt của báo Pháp ngữ Extrême-Asie: revue indochinoise illustré: mensuelle.

Viễn Đông Báo : tên Việt của báo Pháp ngữ La Presse d’Extrême-Orient.

Viễn Đông Bác Cổ học viện (Tập san ~): tên Việt của báo Pháp ngữ Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient (BEFEO).

Việt Báo : báo do Phạm Lê Bổng thành lập và chủ nhiệm; báo quán đặt tại số 51 phố Hàng Bồ, Hà Nội; phóng viên: Thao Thao (Cao Bá Thao, 1937-39)…; cộng tác bài vở gồm: Lê Văn Bái (J. Leiba, thơ), Phan Trần Chúc, v.v…; Số 1 ra năm 1936, Số cuối 1689 ra ngày 9-2-1942; sau đó báo đổi tên là Việt Cường.

Việt Bút Tân Văn : báo xuất bản tại Sài Gòn từ 1944; cộng tác bài vở gồm: Lê Thọ Xuân, v.v…

Việt Cường : báo do Phạm Lê Bổng thành lập và chủ nhiệm; do Việt Báo đổi thành từ tháng 2-1942; đặt báo quán tại số 51 phố Hàng Bồ, Hà Nội; có khuynh hướng thân Pháp và hoàng đế Bảo Đại; bị đình bản tháng 3-1945 ngay khi Nhật đảo chánh Pháp.

Việt Dân (Việt Dân Báo): tuần báo ra ngày thứ năm hàng tuần, do Đặng Thúc Liêng thành lập và làm giám đốc kiêm chủ nhiệm; Bộ cũ xuất bản từ năm 1931, được một thời gian thì đình bản; tòa báo đặt tại số 245 đường Espagne, Sài Gòn; Bộ mới Số 1 ra tháng 1-1934, do luật sư Phan Văn Thiết đứng tên chủ nhiệm (1934-36); giá báo mỗi số 6 xu, 1 năm 2$50; cộng tác bài vở gồm: Lâm Tấn Phác (Đông Hồ), Phan Văn Thiết (Lan Đình, Thân Việt)… Tháng 12-1936, Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai xin thuê báo từ 2-12-1936, sau đó công khai tuyên truyền cho Cộng sản Đệ Tam và Liên Xô, nhưng chỉ ra đươc hai số thì bị mật thám đe doạ nên Đặng Thúc Liêng lấy báo lại rồi bị Pháp đình bản luôn. Vì thế, sau này Đặng Thúc Liêng bị Việt Minh Sài Gòn sát hại ngày 16-8-1945 để trả thù.

Việt Kiều Nhật Báo : xuất bản ở Sài Gòn (1938-39).

Việt-Nam. Revue indochinoise mensuelle : xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Việt Nam : nhật báo tại Sài Gòn; thành lập và chủ nhiệm Nguyễn Phan Long; Số 1 ra tháng 12-1935, Số cuối 370 ra ngày 17-12-1936; cộng tác bài vở gồm: Trần Chí Thành (1936, phóng viên, sau là Trần Tấn Quốc), v.v…

Việt Nam : nhật báo của Việt Nam Quốc Dân Đảng, xuất bản ở Hà Nội từ tháng 8-1945 đến 1946.

Việt Nam Đế Quốc Công Báo : bán nguyệt san của Chánh phủ Trần Trọng Kim ấn hành từ Huế; Số 1 ra tháng 5-1945, số cuối là Số 6 ra ngày 14-8-1945.

Việt Nam Độc Lập : của Tổng bộ Việt Minh xuất bản bí mật ở Cao Bắc Lạng từ 1-1-1941 đến 20-8-1945; do Nguyễn Ái Quốc (Hồ Viết Tùng, Tống Văn Sơ), Phạm Văn Đồng phụ trách.

Việt Nam Hồn/Việt Nam Hồn Báo (L’Âme annamite.Tribune libre des étudiants a des travailleurs annamites): xem: 5- Các báo có liên quan đến Đông Dương in tại Pháp (trước năm 1945).

Việt Nam Lao Động Báo (Journal des travailleurs annamites): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Việt Nam Tân Báo : tạp chí tại Sài Gòn, hoạt động thời kỳ từ tháng 4 đến 8-1945; cộng tác bài vở gồm: Lê Mộng Nguyên…

Việt Nam Thanh Niên Tạp Chí : xuất bản ở Hà Nội (1922-24).

Việt Nam Thương Mại Kỹ Nghệ : tạp chí xuất bản ở Sài Gòn (1938-39).

Việt Nam Văn Tập : tập san ấn hành năm 1928.

Việt Nữ (1937): tuần báo ra ngày thứ tư hàng tuần, do Bùi Xuân Hạc chủ trương và chủ nhiệm tại Hà Nội; các đời chủ bút: Nguyễn Thị Thanh Tú, Vũ Thị Mai Hương; tòa soạn đặt tại số 24 đường Gia Long, Hà Nội; Số 1 ra ngày 7-4-1937, số cuối là Số 12 ra tháng 11-1937; cộng tác bài vở gồm: Mộng Sơn (Vũ Thị Mai Hương), Ngọc Lan, Ngô Tất Tố, Thanh Tú, Thạch Lan, Việt Thanh…

Việt Nữ (1945): tuần báo ra ngày thứ tư hàng tuần, do Nguyễn Thị Oanh chủ trương và chủ nhiệm tại Hà Nội; chủ bút Nguyễn Thị Thục Viên; Số 1 ra ngày 26-10-1945, số cuối là Số 13 ra ngày 26-1-1946.

Việt Tấn Xã : cơ quan thông tấn do Chánh phủ Đế quốc Việt Nam thành lập tháng 4-1945; quyền giám đốc là Thụy An (Lưu Thị Yến).

Việt Thanh : nhật báo do Nguyễn Phan Long thành lập năm 1928 ở Sài Gòn, hoạt động đến năm 1947; cộng tác bài vở gồm: Đào Trinh Nhất, Phan Văn Hùm, v.v…

Vì Chúa : tuần báo do linh mục Nguyễn Văn Thích thành lập tại Huế, với sự cộng tác của Bùi Tuân, Michel Phan Huy Đức; là cơ quan của giáo hội Công giáo ở Trung Kỳ; in tam ngữ Việt-Hán-Pháp; Số 1 ra ngày 18-9-1936; cộng tác viên và cộng tác bài vở gồm: Hồ Ngọc Cẩn (linh mục), Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Sảng Đình (Nguyễn Văn Thích), Ưng Trình…

Vịt Đực : tên Việt của báo Pháp ngữ Le canard déchainé.

Vịt Đực (le Canard): tuần báo trào phúng, châm biếm ở Hà Nội do Vũ Đình Chí (Tam Lang) thành lập năm 1938; tòa soạt đặt tại số 8, Avenue Puginier, Hà Nội; ấn hành vào thứ tư hàng tuần; giá mỗi số 5 xu; …Số 10 ra ngày 24-8-1938…; quản lý Nguyễn Đức Long; thủ quỹ Vũ Chung; cộng tác bài vở gồm: Hoài Xuân, Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long), Tiêu Liêu, Tiêu Viên (Nguyễn Đức Bính)…

Vô-Sản (Le Prolétaire; organe du Parti communiste français): xem: IV- CÁC BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG DƯƠNG IN TẠI PHÁP (TRƯỚC NĂM 1945).

Vui : báo xuất bản ở Sài Gòn (1938-39).

Xuân Lao Động : báo tranh đấu xuất bản tại Việt Nam trong năm 1938-39; bị cấm năm 1939.

Y Học Tân Thanh : báo xuất bản ở Sài Gòn (1938-39).

Y Khoa Tạp Chí : báo xuất bản ở Sài Gòn năm 1936.

Ý chí Đông Dương : tên Việt của nhật báo Pháp ngữ La Volonté Indochinoise.

Ý Dân : báo đặt tại Vinh (Nghệ An); Số 1 ra năm 1936, Số cuối 38 ra tháng 10-1938.

Zân : nhật báo do Nguyễn Văn Nhựt thành lập tại Sài Gòn năm 1935.

Zân : báo tại Hà Nội;  Số 1 ra năm 1938, số cuối là Số 10 ra tháng 2-1940.

Zân Báo : báo tại Sài Gòn; chủ nhiệm Bùi Thế Mỹ (Lan Đình, Thông Reo); cộng tác bài vở gồm: Phan Khôi, v.v…; Số 1 ra năm 1933, Số cuối 22 ra tháng 12-1933.

– v.v…

 

 

IV- Các báo có liên quan đến Đông Dương in tại Pháp (trước năm 1945)

 

Các báo có liên quan đến tình hình Đông Dương, xuất bản tại Pháp trước năm 1945, bằng Pháp ngữ, Việt ngữ hoặc song ngữ, của người Việt hoặc người Pháp (báo được mặc nhiên xem là in bằng Pháp ngữ nếu không có chú thích rõ):

– Báo Pháp ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp, bị cấm theo các nghị định năm 1927 của bộ trưởng Nội vụ Pháp: Journal des Étudiants Annamite de Toulouse; L’Annam Scolaire (An Nam Học Báo); L’Âme annamite; La nation annamite; La Tribune Indochinoise

– Báo Việt ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp, bị cấm theo các nghị định năm 1927 của bộ trưởng Nội vụ Pháp: Phục Quốc; Quan Sát; Tiếng Thợ; Việt Nam; Việt Nam Hồn; Vô Sản

An Nam Học Báo (L’Annam Scolaire – organe bilingue mensuel de la jeunesse annamite, 1927-28): nguyệt san song ngữ Pháp-Việt phát hành từ năm 1927 tại Aix en Provence-Pháp; do Trần Văn Ân thành lập và làm chủ bút; chủ yếu lưu hành trong sinh viên và trí thức người Việt; trong đó: 1ère année, n° 1 (avril 1927)…; sau đó bị cấm theo Nghị định ngày 14-11-1927 của bộ trưởng Nội vụ Pháp, nhưng vẫn tiếp tục phát hành bí mật cho đến năm 1928; sau đó do giá in bằng song ngữ Pháp-Việt quá mắc nên thay bằng tạp chí Journal de l’écolier annamite chỉ in bằng Pháp ngữ.

Ánh Sáng (Lumière; organe des Travailleurs et Etudiants indochinois en France): in song ngữ Pháp-Việt; được xuất bản bởi: l’Association d’entr’aide et de culture des Indochinois de Paris từ năm 1934; trong đó: 1ère année, n° 1 (novembre 1934), n° 2 (décembre 1934), n° 3 (janvier-février 1935), n° 4 (mars 1935), n° 5 (avril 1935), n° 6 (mai-juin 1935), n° 7 (juillet 1935), n° 8 (août-septembre), n° 10 (décembre 1935); 2e année, n° 11 (avril 1936)…

Bạo Động (organe du groupe communiste indochinois de Paris): in song ngữ Pháp-Việt; được xuất bản tại Paris từ năm 1931; trong đó: N° 1 (15 août 1931), 1ère année, n° 2 (8 septembre 1931), n° 3 (1er octobre 1931)…

Bạn hải-thuyền (Les Gens de la Mer): báo Việt ngữ xuất bản bất hợp pháp tại Pháp trong năm 1930; trong đó: … n° 2 (6 mars 1930)…

Bulletin colonial (organe de la section coloniale du Parti communiste français): xuất bản từ tháng 11-1928; trong đó: …Numéros 1 (mars-avril 1931), 2e année n° 10 (janvier 1932), n° 11 (février 1933), n° 12 (mars 1933), n° 13 (avril 1933), n° 14 (mai 1933), n° 15 (juin 1933), n° 16 (juillet 1933), n° 17 (août 1933), n° 4 (février-mars 1933), n° 1 (avril 1934), n° 2 (mai 1934); nouvelle série: (octobre, novembre, décembre 1933), (janvier, février 1934)…

Bulletin communiste (organe du Parti communiste français, 1924).

Bulletin d’information de la Ligue française contre l’impérialisme (section de la Ligue internationale contre l’impérialisme, novembre 1932)…

Bulletin d’information de la Ligue française contre l’impérialisme et l’oppression coloniale): … n° 2, décembre 1932…

Bulletin de l’Association générale des étudiants indochinois (revue mensuelle): xuất bản từ tháng 7-1927; trong đó: 1ère année, n° 1 (juillet 1927), n° 2 (novembre 1927), n° 3-4 (décembre 1927-janvier 1928), n° 5 (février 1928),,,

Bulletin de l’Association mutuelle des Indochinois : xuất bản từ tháng 6-1924; trong đó: N°1 (juin 1924); 2e année, n° 2 (janvier 1925)…

Bulletin de la Ligue contre l’oppression coloniale et l’impérialisme : xuất bản từ tháng 7-1927; trong đó: 1ère année, n° 1 (juillet 1927), n° 2 (novembre 1927), n° 3-4 (décembre 1927-janvier 1928), n° 5 (février 1928), n° spécial 1927…

Bulletins périodiques d’informations politiques, sociales, religieuses, économiques de l’Entente internationale anticommuniste et Bulletins de presse de l’Entente internationale anticommuniste (1933-38).

Bulletin quotidien de presse étrangère édité par le ministère des Affaires étrangères (1930-31).

Ça ira (organe central du Parti ouvrier-paysan, 1930).

Carnet du militant (bulletin intérieur au Parti communiste français, 1931).

Chaines (feuille de propagande éditée par la Ligue contre l’impérialisme et l’oppression coloniale, 1933).

Chroniques Vietnamiennes : báo Pháp ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp khoảng 1944-45; biên tập viên gồm: Hoàng Hoa Khôi, v.v…

Chống Đế-Quốc Chủ-Nghĩa (Contre l’Impérialisme): báo Việt ngữ là cơ quan ngôn luận của Nhóm Đông Dương thuộc Liên đoàn Phản đế Pháp (Groupe indochinois de la Ligue anti-impérialisteen France); xuất bản từ năm 1932; trong đó: 1ère année: n° 1 (21 novembre 1932)…

Communiqué de la presse indochinoise (Thông cáo báo chí Đông Dương): tập thông cáo báo chí định kỳ bằng Pháp ngữ do Văn phòng Kinh tế (Agence économique de l’Indochine) thuộc Chánh phủ Đông Dương đặt tại Số 20 rue La Boetie, Paris 8, biên soạn và phát hành thời kỳ 1888-1944; trong đó: …1919-6 số, 1920-16 số, 1921-14 số, 1922-14 số, 1923-17 số, 1924-17 số, 1925-12 số, 1926-12 số, 1927-12 số…

Công Binh Tạp Chí : báo Việt ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp khoảng 1940-45; biên tập viên gồm: Hoàng Hoa Khôi, v.v…

Dân Mới (Le Peuple nouveau): báo Việt ngữ xuất bản từ năm 1932 tại Pháp.

Débats (tribune des indépendants, 1932).

El Alem el Ahmar (organe des travailleurs coloniaux, 1926).

En avant! (1937).

Étoile rouge (organe du Commissariat de la Guerre, 1928).

Europe-Colonies (journal politique, diplomatique et économique des relations entre l’Europe et les colonies, protectorats et pays sous mandat, 1933-39).

Extraits de presse coloniale (1932-33): xuất bản từ năm 1932; dựa theo nguồn tin tổng hợp từ các báo: L’Éclair du Nord, L’Orient, La Dépêche d’Indochine, La Presse Indochinoise, La Voix du Peuple, La Volonté indochinoise, Le Monde Colonial Illustré…

France-Colonies (1938).

France-Continents (1928).

France Indochine : một số báo năm 1929: N° 29337 (août 1929), 31 août 1929…

France-Outremer, économie, arts et littérature, industrie, commerce, agriculture (revue générale de la France d’Europe et d’outremer, 1936).

French Colonial Digest (a magazine of French Colonial Affairs for the American Public, 1923): do Bureau français de l’Information xuất bản tại New York; trong đó có: N° de juillet 1923…

Front antifasciste (organe de l’Association ouvrière antifasciste d’Europe, 1933).

Front Mondial (Weltfront-Worldfront; organe mensuel du Comité mondial de lutte contre la guerre impérialiste, puis organe bi-mensuel du Comité mondial de lutte contre la guerre et le fascisme, 1933-35).

Hải-Thuyền (Le Navigateur): báo Việt ngữ là cơ quan ngôn luận của ‘Các thủy thủ Đông Dương tại Marseille’ (organe des travailleurs de la mer indochinois à Marseille); xuất bản từ năm 1932; trong đó: Số 1 ra tháng 9-1932…

Hồn Nam Việt : xem: Việt Nam Hồn.

Indochine: budget général de l’Indochine (exercice 1919, situation des recettes, situation des dépenses, situation du fonds de réserve. Exercice 1920, recettes des 4 premiers articles du budget général (janvier-février), situation du fonds de réserve au 31 janvier 1919-20; 1919-25).

Je suis partout, le grand hebdomadaire de la vie mondiale (1936).

Journal de l’écolier annamite : được xuất bản từ năm 1928 bằng Pháp ngữ để thay thế tạp chí song ngữ L’Annam scolaire.

Journal des étudiants annamites (organe d’opinion des étudiants annamites en France): xuất bản từ năm 1927; trong đó: 1ère année: 15 mai 1927 (n° 1), 15 août 1927 (n° 4), 15 septembre 1927 (n° 5), 15 octobre-novembre 1927 (n° 6-7); 2e année: 15 octobre 1928 (n° 11); 3e année : 15 janvier 1929 (n° 12)…

Journal des Étudiants Annamite de Toulouse : báo Pháp ngữ của người Việt xuất bản tại Toulouse, Pháp; bị cấm theo Nghị định ngày 27-12-1927.  

Journal des peuples opprimés (organe de la Ligue française contre l’impérialisme et l’oppression coloniale): xuất bản từ năm 1933; trong đó: N° 1 (novembre 1933), n° 2 (15 décembre 1933-15 janvier 1934), n° 3 (20 janvier-20 février 1934), n° 4 (mars 1934), n° 5 (avril 1934), n° 6 (mai 1934), n° 7 (15 mai-15 juin 1934), n° 8-9 (juillet-août 1934), n° 10 (septembre 1934), n° 11 (octobre 1934), n° 12 (novembre 1934), n° 13 (janvier 1935), n° 14 (février 1935)…

Journal officiel de la République française.

Journal pour les colonies (1929-30).

L’Action : xuất bản từ năm 1919; trong đó: …14e année, n° 1108 (17 septembre 1932)…

L’Action coloniale : xuất bản từ năm 1918; trong đó: …7e année, n° 105 (25 février 1924), n° 106 (10 mars 1924)…

L’Action française (organe du nationalisme intégral): xuất bản từ năm 1908; trong đó: 24e année, n° 44 (13 février 1931); …31e année, n° 196 (15 juillet 1938), n° 197 (16 juillet 1938), n° 206 (25 juillet 1938), n° 248 (5 septembre 1938)…

L’Appel (organe de combat indochinois): nguyệt san Pháp ngữ do Uỷ ban Tập hợp Đông Dương tại Pháp (Comité de Rassemblement des Indochinois de France) xuất bản tại Paris thời kỳ 1936-37; trong đó: 1ère année: n° 1 (septembre 1936), …n° 3 (novembre 1936), n° 4 (décembre 1936)…

L’Ami du peuple (grand quotidien de doctrine politique et d’information, 1929-31).

L’Annam de demain : xuất bản thời kỳ 1928-29.

L’Annam scolaire : xem: An Nam Học Báo.

L’Asie révolutionnaire (organe de la section d’Extrême-Orient de la Ligue anti-impérialiste): xuất bản từ năm 1931; trong đó: n° 1 (15 décembre 1931)…

L’Avant-garde (organe de défense des jeunes travailleurs, 1923-31).

L’Avenir de l’Annam (organe mensuel de la jeunesse annamite, 1928).

L’Âme Annamite (Hồn An Nam): báo Pháp ngữ do Đảng An Nam Độc Lập (Parti Annamite d’Indépendance) ấn hành tại Paris-Pháp; chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam; báo do Nguyễn Thế Truyền thành lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; các thành viên cộng tác cũng là những người thuộc nhóm báo Việt Nam Hồn trước đó; báo ra được 3 số thì bị cấm, trong đó Số 1 ra ngày 15-1-1927, Số 2 (2-1927), Số 3 (4-1927); đến tháng 6-1927 Đảng An Nam Độc Lập thành lập báo La Nation Annamite (Dân tộc An Nam) để thay thế.

L’Écho d’Indochine : xuất bản từ năm 1937; trong đó: N° 1 (30 octobre 1937), n° 2 (6 novembre 1937)…

L’Écho d’outre-mer (organe de défense des intérêts généraux de nos colonies et de l’expansion française): xuất bản từ năm 1927; trong đó: 4e année : …n° 35 (29 juillet 1930)…

L’Écho de Paris (1929-33).

L’Économiste colonial financier, commercial, minier : niên san xuất bản từ năm 1921; trong đó: …9e année: 10 septembre 1929…

L’Ère nouvelle (1929).

L’Essor prolétarien (1929).

L’Étudiant indochinois (organe de la Jeunesse intellectuelle indochinoise): xuất bản từ năm 1928; trong đó: 1ère année : n° 1 (février 1928), n° 2 (mars 1928), n° 3 (avril 1928), n° 4 (mai 1928), n° 5-6 (juin-juillet 1928)…

L’Étudiant socialiste (1934).

L’Exploité colonial (organe périodique du Bureau de la main-d’oeuvre coloniale de la XXe région des Syndicats unitaires, Internationale syndicale rouge et la Confédération générale du travail unitaire/CGTU, 1931).

L’Exposition de Hanoi (Đấu xảo Hà Nội): bán nguyệt san Pháp ngữ xuất bản tại Paris năm 1902 nhân dịp tổ chức Hội chợ đấu xảo thế giới tại Hà Nội; tòa soạn đặt tại số 124, Boulevard de La Chapelle, Paris; giám đốc tòa soạn Paris kiêm đại diện tại Hà Nội là Jules Gleize; giá một số 25 centimes; trong đó: N1 (5-9-1902), N2 (20-9-1902), N3 (5-10-1902), N4 (25-10-1902), N5 (5-11-1902), N6 (20-11-1902), N7 (5-12-1902), N8 (20-12-1902).

L’Humanité (Nhân đạo): cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp.

L’Indochine (revue économique d’Extrême-Orient): xuất bản từ năm 1924 tại Paris; trong đó: …7e année: 5 février 1930 (n° 3), 20 février 1930 (n° 4)…

L’Information maritime (organe de la marine marchande, 1930).

L’Instituteur indochinois (1938).

L’Internationale communiste (1933-35).

L’Intransigeant (1921-34).

L’Oeil vigilant (organe du Comité de défense des intérêts des Colonies, 1936): xuất bản từ năm 1936 tại Paris; trong đó: N° 1 (avril 1936), n° 3-4 (juin-juillet 1936)…

L’Oeuvre (1926).

L’Orient (1931-33).

L’Orient et les colonies (bulletin communiste, 1929-31).

L’Ouvrière (journal des travailleuses, édité par le Parti communiste français, 1930).

La Commune de Paris (organe de regroupement et d’action révolutionnaire, 1936).

La Coopération prolétarienne (organe mensuel de la coopération ouvrière publié sous le contrôle de l’Union nationale des cercles de coopérateurs, 1933).

La Correspondance internationale (1933-34).

La Dépêche coloniale : xuất bản từ năm 1889 tại Paris: trong đó: …37e année: 23 août 1929 (n° 9496), 25 -26 août 1929 (n° 9498), 11 septembre 1929 (n° 9512), 13 septembre 1929 (n° 9514), 21 septembre 1929 (n° 9521); 38e année: 6 février 1930 (n° 9634), 7 février 1930 (n° 9635), 8 février 1930 (n° 9636), 9 -10 février 1930 (n° 9637), 12 février 1930 (n° 9639), 13 février 1930 (n° 9640), 14 février 1930 (n° 9641), 15 février 1930 (n° 9642), 16-17 février 1930 (n° 9643), 18 février 1930 (n° 9644), 19 février 1930 (n° 9645), 21 février 1930 (n° 9647), 22 février 1930 (n° 9648), 24 février 1930 (n° 9649), 25 février 1930 (n° 9650), 26 février 1930 (n° 9651), 27 février 1930 (n° 9652), 28 février 1930 (n° 9653), 1er mars 1930 (n° 9654), 2-3 mars 1930 (n° 9655), 4 mars 1930 (n° 9656), 27 mars 1930 (n° 9676), 31 mai 1930 (n° 9729), 1-2 juin 1930 (n° 9730), 3 juin 1930 (n° 9731), 4 juin 1930 (n° 9732), 5 juin 1930 (n° 9733), 6 juin 1930 (n° 9734), 7 juin 1930 (n° 9735), 10-11 juin 1930 (n° 9737), 12 juin 1930 (n° 9738), 23 juillet 1930 (n° 9772), 21 octobre 1930 (n° 9847), 22 octobre 1930 (n° 9848); …40e année: 18-19 août 1932 (n° 10330), 7-8 septembre 1932 (n° 10338), 5-6 octobre 1932 (n° 10350), 1er décembre 1932 (n° 10382)…; 41e année: 3-4 avril 1933 (n° 10452), 23-24 avril 1933 (n° 10508), 8-9 mai 1933 (n° 10465), 10-11 mai 1933 (n° 10466), 12-13-14 mai 1933 (n° 10467), 15-16 mai 1933 (n° 10468), 17-18 mai 1933 (n° 10469), 26-27-28 mai 1933 (n° 10473), 5-6-7 juin 1933 (n° 10477), 8-9-10-11 juin 1933 (n° 10478), 14-15 juin 1933 (n° 10480), 16-17-18 juin 1933 (n° 10481), 21-22 juin 1933 (n° 10483), 10-11-12 juillet 1933 (n° 10491), 24-25 juillet 1933 (n° 10496), 9-10 août 1933 (n° 10503), 11-12-13 août 1933 (n° 10504), 14-15-16-17 août 1933 (n° 10505), 18-19-20 août 1933 (n° 10506), 21-22 août 1933 (n° 10507), 25-26-27 août 1933 (n° 10509), 28-29 août 1933 (n° 10510), 30-31 août 1933 (n° 10511), 1er-2-3 septembre 1933 (n° 10512), 6-7 septembre 1933 (n° 10514), 9-10 septembre 1933 (n° 10515), 11-12 septembre 1933 (n° 10516), 13-14 septembre 1933 (n° 10517), 15-16-17 septembre 1933 (n° 10518), 18-19 septembre 1933 (n° 10519), 20-21 septembre 1933 (n° 10520), 25-26 septembre 1933 (n° 10522), 29-30 septembre 1er octobre 1933 (n° 10524), 30-31 octobre 1er novembre 1933 (n° 10537), 20-21 novembre 1933 (n° 10545), 13-14 décembre 1933 (n° 10555); 42e année: 22-23 janvier 1934 (n° 10571), 2-3-4 février 1934 (n° 10576), 21 février 1934 (n° 10583), 5-6 mars 1934 (n° 10588), 28 mars 1er avril 1934 (n° 10598), 13-14-15 avril 1934 (n° 10603), 20-22 avril 1934 (n° 10606), 4-6 mai 1934 (n° 10612), 25-26 juillet 1934 (n° 10644), 14-16 septembre 1934 (n° 10659), 1er-2 octobre 1934 (n° 10664), 19-21 octobre 1934 (n° 10672), 28-29 novembre 1934 (n° 10689); 43e année: 15-17 février 1935 (n° 10721), 8-9 avril 1935 (n° 10743), 26-27 juin 1935 (n° 10772), 1er-2 juillet 1935 (n° 10774), 3-4 juillet 1935 (n° 10775), 5-7 juillet 1935 (n° 10776), 15-17 juillet 1935 (n° 10779), 18-20 juillet 1935 (n° 10780), 18-19 décembre 1935 (n° 10834); 44e année: 5-7 janvier 1936 (n° 10840), 8-9 janvier 1936 (n° 10841), 2-4 février 1936 (n° 10852), 10 juin 1936 (n° 10901), 30 juin-1er juillet 1936 (n° 10908), 3 juillet 1936 (n° 10909), 22 juillet 1936 (n° 10913), 25 juillet 1936 (n° 10914), 29 juillet 1936 (n° 10915), 5 août 1936 (n° 10917), 8 août 1936 (n° 10918), 12 août 1936 (n° 10919), 19 août 1936 (n° 10920), 22 août 1936 (n° 10921), 26 août 1936 (n° 10922), 5 septembre 1936 (n° 10925), 9 septembre 1936 (n° 10926), 12 septembre 1936 (n° 10927)…

La Dépêche d’Indochine : xuất bản trước năm 1937 tại Paris.

La Gazette coloniale politique et économique : xuất bản từ năm 1927; trong đó: …3e année : n° 56 (14 novembre 1929)…

La Libre parole (1926-38).

La Lutte coloniale : xuất bản từ năm 1908; trong đó: …19e année: n° 2166 (6 janvier 1926); …22e année: n° 2348 (11 septembre 1929); 23e année: n° 2366 (15 janvier 1930), n° 2377 (2 avril 1930), n° 2388 (18 juin 1930); …25e année: n° 2479 (27 avril 1932)…

La Lutte ouvrière (organe du Parti ouvrier internationaliste/Bolchévick-Léniniste, 1937).

La Nation Annamite (organe européen du Parti annamite de l’indépendance): báo Pháp ngữ do Đảng An Nam độc lập (Parti Annamite d’Indépendance) ấn hành tại Paris, Pháp; chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam; báo do Nguyễn Thế Truyền thành lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; các thành viên cộng tác cũng là những người thuộc nhóm báo Việt Nam Hồn trước đó; báo ra được 2 số thì bị cấm, trong đó Số 1 ra tháng 6-1927, Số 2 (8-1927).

La Nouvelle dépêche (1935).

La Nouvelle égalité (organe de revendications sociales, 1922).

La Quinzaine communiste (organe d’agitation et de documentation du Parti communiste français, 1931).

La République – La Voix (organe du radicalisme,1932-33).

La Résurrection (Hồi Sinh, organe du nationalisme annamite): nguyệt san Pháp ngữ phát hành tại Paris, Pháp từ tháng 6-1927 đến tháng 12-1929; là cơ quan ngôn luận của Đảng Việt Nam Độc Lập (Parti Vietnamien d’Indépendance); chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam; do Nguyễn Thế Truyền và Tạ Thu Thâu thành lập; chủ nhiệm kiêm chủ bút là Nguyễn Thế Truyền (tháng 6 đến 12-1927), Tạ Thu Thâu (tháng 1-1928 đến 12-1929).

La Révolution prolétarienne (revue bi-mensuelle syndicaliste révolutionnaire, 1930).

La Revue communiste (1921-22).

La Revue des deux mondes (1930).

La Revue politique, financière, industrielle d’outre-mer (1932-36).

La Solidarité prolétarienne (bulletin du SOI. Revue mensuelle de politique sociale, puis La Politique sociale: revue mensuelle de solidarité prolétarienne. Bulletin du SOI. 1927-33).

La Tribune annamite : xuất bản từ năm 1921 đến khoảng 1928 tại Paris; trong đó: 1ère année: n° 19 (3 août 1921)…

La Vague (journal hebdomadaire de combat, pacifiste, socialiste, féministe, 1922-37).

La Vague rouge (revue antibolchévique, 1927-30).

La Vérité (organe hebdomadaire de la Ligue communiste, 1930-34).

La Vie sociale (1930).

La Vigie (journal des marins édité par la cellule du Parti communiste français, 1929-32).

La Voix anti-impérialiste : n°1 (sans date)…

Lao-Nông (Le Paysan): báo Việt ngữ xuất bản thời kỳ 1928-31 tại Pháp.

Le Colonisé (organe central des populations coloniales): xuất bản từ năm 1936; trong đó: N° 1 (15 novembre 1936), n° 2 (20 décembre 1936)…

Le Communisme (Cộng Sản; organe du Đông Dương cộng sản đảng/Parti communiste indochinois): xuất bản từ năm 1930; trong đó: …37- Traduction du n° 1 (1er février 1931)…

Le Courrier colonial : xuất bản từ năm 1907 tại Paris; trong đó: …22e année: 6 décembre 1929 (n° 1002), …23e année: 10 octobre 1930 (n° 1042), …27e année: 16 février 1934 (n° 1797), …26 octobre 1934 (n° 1828)…

Le Cri colonial (1927).

Le Cri des peuples, Le Cri du Peuple (1928-30).

Le Cri du Marin (organe de défense des navigateurs puis organe de la Fédération unitaire des marins et pêcheurs de France et des colonies. Section de l’Internationale des marins et dockers/I.M.D.): do Confédération générale du travail unitaire (CGTU) xuất bản từ năm 1927 tại Marseille; trong đó: …5e année: n° 26 (février 1931), n° 28 (septembre 1931); 6e année: n° 34 (septembre 1932), n° 35 (novembre 1932); 7e année, nouvelle série: n° 1 (mars 1932)…

Le Libertaire (1922).

Le Matin (1927-31).

Le Message (1937).

Le Midi-colonial et maritime puis Midi-colonial maritime et aéronautique (organe de défense des intérêts coloniaux et des pays d’expression française, 1928-36): xuất bản từ năm 1890; trong đó: …39e année: 1er novembre 1928 (n° 1834), 12 septembre 1929 (n° 1879); …41e année: 20 février 1930 (n° 1902); 42e année: 3 septembre 1931 (n° 1982); …45e année: 30 août 1934 (n° 2137), 6 septembre 1934 (n° 2138); …47e année: 8 octobre 1936 (n° 2246)…

Le Militant rouge (organe théorique et historique des insurrections,1926-27).

Le Monde Colonial Illustré  (1931-33).

Le Paria (Người Cùng Khổ – tribune du prolétariat colonial, organe de l’Union intercoloniale, 1921-26): nguyệt san Pháp ngữ do Nhóm Ái Quốc (gồm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh) thành lập tại Paris tháng 1-1922, làm cơ quan ngôn luận của Hội Hợp tác người cùng khổ, trực thuộc Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải ‘đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam’. Chủ báo và chủ bút là Nguyễn Thế Truyền. Báo ra được 38 kỳ; số đầu tiên ngày 1-4-1922, số cuối cùng vào tháng 4-1926 và sau đó bị chánh quyền đình bản. Báo đã đăng nhiều bài vở, tranh châm biếm của Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Hồ Hữu Tường, nhưng do muốn tránh rắc rối với mật thám Pháp, nên họ cùng ký tên Nguyen-The Patriot, The Patriot, Nguyễn Ai Quốc, Nguyễn A. Quốc, Nguyễn A.Q., N.A.Q., Nguyễn Ái Quấc, Ký Viễn, Chú Nguyễn… và nhiều bút danh khác. Nguyễn An Ninh làm biên tập viên của báo, là người đã trực tiếp phụ trách khâu phát hành báo tới độc giả, mỗi kỳ ra 1.000-2.000 bản. Nhà văn trẻ Nguyễn Đắc Lộc (Mai Lâm) chuyên phụ trách về mặt nghệ thuật và văn chương để tạo sự hấp dẫn và sinh động cho tờ báo.

Le Populaire (1930-35).

Le Progrès social (1937).

Le Quotidien (1925-29).

Le Rouge Midi (organe régional du Parti communiste français, section de Marseille, 1930-39).

Le Secours ouvrier international (bulletin mensuel, 1930).

Le Soleil (grand journal international contre-révolutionnaire, 1930-32).

Le Temps (1932).

Le Travailleur international des transports (1928).

Le Vietnam studieux (organe annamite de propagande des études occidentales): xuất bản từ năm 1928 tại Paris bằng song ngữ Pháp-Việt.

Lectures du soir (1931).

Les Annales coloniales (1926-36).

Les Cahiers des droits de l’homme (1931-36).

Les Continents (1924-28).

Lu dans la presse universelle (1933).

Masses (revue mensuelle d’action prolétarienne, 1931).

Monde (hebdomadaire international, 1928-35).

Mũi Tên (La Flèche): báo Việt ngữ do Nhóm Cộng sản Đệ Tứ Đông Dương xuất bản tại Paris từ năm 1938.

Paix et Liberté (organe du Comité national de lutte contre la guerre et le fascisme, 1936).

Phản Đế (L’Anti-impérialiste): báo Việt ngữ là cơ quan ngôn luận của Nhóm Đông Dương trong Liên đoàn Phản đế tại Pháp (organe du Groupe indochinois de la Ligue contre l’impérialisme et l’oppression coloniale); xuất bản từ năm 1934; trong đó: 1ère année: n° 1 (mai 1934), n° 2 (août 1934)…

Phục Quốc (La Restauration du Pays): nguyệt san Việt ngữ là cơ quan ngôn luận của Đảng An Nam Độc Lập (Parti Annamite d’Indépendance) ấn hành tại Paris (1926); chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam; báo do Nguyễn Thế Truyền thành lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; các thành viên cộng tác cũng là những người thuộc nhóm báo Việt Nam Hồn trước đó; báo ra được 2 số vào tháng 9 và 10-1926; bị của bộ trưởng Nội vụ Pháp ra lệnh cấm ngày 11-10-1926; đến ngày 15-1-1927 lại tiếp tục xuất bản bằng Pháp ngữ với tên báo là L’Âme Annamite (Hồn An Nam).

Propagande syndicale et action éducative (bulletin de l’Agit-Prop de l’Internationale syndicale rouge, 1930).

Quan Sát : báo Việt ngữ của Đệ Tứ Quốc Tế Đông Dương xuất bản tại Pháp khoảng 1944-45; biên tập viên gồm: Hoàng Hoa Khôi, v.v…

Quần Chúng (La Masse): báo Việt ngữ là tạp chí cộng sản phát hành bí mật tại Paris trong hai năm 1936-37; trong đó: 1ère année: n° 1 (15 septembre 1936), n° 2 (1er octobre 1936), n° 3 (15 octobre), n° 4 (1er novembre 1936), n° 5 (15 novembre), n° 6 (1er décembre 1936), n° 7 (16 décembre 1936); 2e année: n° 8 (1er janvier 1937), n° 10 (1er février 1937), n° 11 (16 février 1937), n° 12 (1er mars 1937), n° 16 (1er mai 1937), n° 17 (16 mai 1937), n° 18 (1er juin 1937), n° 19 (20 juin 1937), n° 20 (17 juillet 1937), n° 21 (5 août 1937), n° 22 (10 septembre 1937).

Quốc-Tế IV (Quatrième Internationale): báo Việt ngữ là cơ quan ngôn luận của Đệ Tứ Quốc Tế Đông Dương tại Pháp; xuất bản trong hai năm 1937-38; trong đó: 1ère année: n° 1 (1er octobre 1937), n° 2 (1er novembre 1937)…

Quốc-tế lao-động vận-tải : báo Việt ngữ là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Quốc tế lao động vận tải (Comité international des ouvriers des transports); xuất bản trong nội bộ từ năm 1929 tại Havre và Paris; trong đó: N° 1 (mars 1929)…

Régime de la presse et des publications dans les colonies (1925-29).

Revue parlementaire économique et financière (1931).

S.O.S. (bulletin trimestriel d’informations internationales, politiques, économiques et sociales. Tribune de la section française de la Ligue internationale des femmes pour la paix et la liberté. 1931).

Tân Học Sinh (Les Étudiants nouveaux; organe mensuel de la section indochinoise de l’Union fédérale des étudiants): nguyệt san song ngữ Pháp-Việt xuất bản tại Paris từ năm 1930.

Thủy Thủ Báo (Journal du Marin): báo Việt ngữ do Uỷ ban Tương trợ Đông Dương tại Marseille (Comité d’entr’aide des Indochinois de Marseille) xuất bản trong hai năm 1937-38 tại Marseille; trong đó: 1ère année: n° 1 (1er octobre 1937), n° 2 (1er novembre 1937); 2ère année: n° 1 (1er octobre 1938), n° 4 (1er janvier 1938), n° 6 (1er mars 1938), n° 7 (1er avril 1938), n° 9 (1er juin 1938), n° 10 (1er juillet)…

Tiếng Lính Annam (La Voix du soldat annamite): báo Việt ngữ do Đảng Cộng sản Pháp xuất bản tại Paris trong năm 1931; trong đó: …n° 2 (août 1931)…

Tiếng Thợ : báo Việt ngữ của người Việt xuất bản tại Pháp khoảng 1943-45; biên tập viên gồm: Hoàng Hoa Khôi, v.v…

Việt Nam : nguyệt san bằng Việt ngữ phát hành tại Pháp; là cơ quan ngôn luận của Đảng Việt Nam Độc Lập (Parti Vietnamien d’Indépendance); chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam; phát hành mỗi tháng từ tháng 9-1927 đến 12-1929; do Nguyễn Thế Truyền thành lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút (tháng 9 đến 12-1927); sau đó báo do Nguyễn Phan Long làm chủ nhiệm, Tạ Thu Thâu làm chủ bút (tháng 1-1928 đến 12-1929); cộng tác bài vở gồm: Đào Trinh  Nhất (1927-29)…  

Việt-Nam (Revue indochinoise mensuelle): in song ngữ Pháp-Việt; được xuất bản từ năm 1936; trong đó: 1ère année: n° 1 (décembre 1936); 2e année: n° 1 (janvier 1937), n° 2 (juin 1937)…

Việt Nam Hồn/Việt Nam Hồn Báo (L’Âme annamite – Tribune libre des étudiants a des travailleurs annamites): nguyệt san phát hành tại Pháp, là cơ quan ngôn luận của Đảng An Nam Độc Lập (Parti Annamite d’Indépendance), với tiêu đề là ‘Tự do diễn đàn của học sinh và lao động Việt Nam’; chủ trương đòi chánh quyền Pháp phải đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của người Việt Nam; do Nguyễn Thế Truyền thành lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; thành viên Ban biên tập: Nguyễn Đắc Lộc (Mai Lâm)…; cộng tác bài vở gồm: Bùi Ái (giáo viên), Bùi Đình Thành (công chức), Đào Trinh  Nhất (từ Việt Nam), Đặng Đình Thọ (thợ xếp chữ), Đặng Văn Thu (thủy thủ), Hoàng Quang Giụ, Lâm Văn Nghị, Ngô Văn Minh (đầu bếp), Nguyễn Thế Phủ, Nguyễn Thế Song, Nguyễn Thế Truyền (kỹ sư), Nguyễn Văn Luân (Như Phong), Nguyễn Văn Tư, Trần Văn Chi (kỹ sư), Trịnh Văn Hiên…; báo in khoảng 2.000 bản, chủ yếu bằng Việt ngữ, thỉnh thoảng những bài quan trọng có thêm phần dịch Pháp ngữ và Hán ngữ; Số 1 ra ngày 1-1-1926, đến 23-1-1926 bị chánh quyền Paris ra lệnh cấm, nhưng vẫn ra thêm được 6 số, đến tháng 8-1926 lại đình bản theo nghị định ngày 23-8-1926 của bộ trưởng Nội vụ Pháp; sau đó vừa khiếu nại với Quốc Hội Pháp vừa tiếp tục xuất bản không công khai bằng Việt ngữ các số từ 8 đến 14; đến tháng 2-1927 đổi tên báo thành Hồn Nam Việt, tiếp tục xuất bản đến 1928 thì ngừng hẳn. Các số đã phát hành: Việt Nam Hồn: n° 1 (janvier 1926), n° 2 (février 1926), n° 3 (mars 1926), n° 4 (avril 1926), n° 5 (mai 1926), n° 6 (juin 1926), n° 10 (janvier 1927), n° 11 (février 1927), n° 12 (février 1927), n° 14 (mars 1927); Hồn Nam Việt: n° 14…; tháng 9-1926 có thêm báo Phục Quốc.

Việt Nam Lao Động Báo (Journal des travailleurs annamites): tuần báo là cơ quan ngôn luận và tranh đấu của Uỷ ban Bảo vệ lao động An Nam (Comité de défense des travailleurs annamites) thực hiện thời kỳ 1929-30 tại Marseille, Pháp; Số 1 ra tháng 4-1929, Số 2 (5-1929)…

Vô-Sản (Le Prolétaire; organe du Parti communiste français): in song ngữ Pháp-Việt; được Đảng Cộng sản Pháp xuất bản thời kỳ 1930-34 gồm 26 số phát hành bất hợp pháp; trong đó: 1ère année: n° 1 (31 août 1930), n° 2 (octobre 1930), n° 3 (7 novmebre 1930), n° 4 décembre 1930); 2e année: n° 5 (janvier 1931), n° 8 (octobre 1931), n° 9 (novembre 1931); 3e année: n° 10 (15 février 1932), n° 11 ( 1er avril 1932), n° 12 (20 mai 1932), n° 14 (août 1932), sans numéro (octobre 1932); 4e année: n° 1 (janvier 1933), n° 2 (avril-mai 1933), n° 6 (septembre 1933), sans numéro (octobre 1933); 5e année: sans numéro (janvier-février 1934), sans numéro (septembre-octobre 1934).

Vô Sản : báo song ngữ Pháp-Việt của Đệ Tứ Quốc Tế xuất bản tại Pháp khoảng 1941-45; biên tập viên gồm: Hoàng Hoa Khôi, v.v…

– v.v…

 

 

Trích: Lý Đăng Thạnh – LỊCH SỬ VIỆT NAM – Tập 8: Đông Dương thuộc Pháp

Advertisements

2 thoughts on “Nền báo chí Việt Nam thời thuộc Pháp (1858-1945)- Bài 1

    • Có chứ. Đoc phần này:

      “– Gia Định Báo (1865-1910): là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam; thành lập theo nghị định ngày 1-4-1865 của quyền thống đốc Nam Kỳ Pierre Roze. Tòa báo đặt tại Chợ Quán-Sài Gòn. Từ lúc đầu, báo do Ernest Potteau là thông ngôn tại Soái phủ Nam Kỳ sang làm chánh tổng tài (1865-69), có các học giả Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường cộng tác. Lúc đầu báo hoàn toàn là một công báo, ra mỗi tháng một số vào ngày 15, có 4 trang. Nội dung có hai phần là phần công vụ (chỉ dụ, nghị định, chỉ thị, thông tư, biên bản Hội đồng Quản hạt…) và phần tạp vụ (quảng cáo, lời rao, tin tức, trả lời đương đơn, án Hội đồng xét lại…). Từ 16-9-1869, đô đốc Ohier cử Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài kiêm chủ biên, Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút, có Trương Minh Ký, Tôn Thọ Tường làm biên tập viên. Từ đó Gia Định Báo ra mỗi tháng 2 số, 3 số, rồi ra hàng tuần; nội dung cũng trở nên phong phú, sinh động hơn và thu hút độc giả với các bài thơ ca, khảo cứu, lịch sử, kiến thức kinh tế, canh nông, sưu tầm, ca dao tục ngữ, cổ tích, truyện giải buồn…, trong đó có nhiều tác phẩm do độc giả khắp nơi gởi đến. Báo chú trọng cổ động cho phát triển tân học, góp phần đưa chữ quốc ngữ dần dần phát triển sâu rộng trong dân chúng. Thời kỳ 1872-1909, J. Bonet thay Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài. Số 1 năm 1 ra ngày 15-4-1865, …Số 3 năm 1 (15-7-1865), Số 4 năm 1 (15-8-1865), …Số 5 năm 6 (16-2-1870), …Số 8 năm 6 (8-3-1870), …Số 11 năm 6 (8-4-1870), …Số 3 năm 10 (1-2-1874), …Số 39 năm 19 (13-10-1883), …Số 42 năm 45 (25-10-1909), …. Số cuối cùng ra ngày 1-1-1910. Cộng tác bài vở gồm: Đặng Thúc Liêng, v.v…”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s