BẬT DẬY VÀ GIẾT LIỀN : Hồ Sơ Mật các Vụ Ám sát Có Mục Tiêu của Israel- Bài 6

Ronen Bergman

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 6 : MỘT LOẠT CÁC THẢM HỌA

SAU VỤ CÁC NHÀ KHOA HỌC ĐỨC giải quyết thành công, Mossad vô cùng phấn chấn.  Meir Amit đã thu hút thêm các chuyên gia từ quân đội, giới thiệu các công nghệ mới và tăng cường liên kết với các cơ quan tình báo ở nước ngoài.  Ông cũng tiếp tục đưa ra nhiều cải cách tổ chức.

Amit muốn thành lập một bộ phận hoạt động duy nhất ở Mossad, bộ phận này sẽ tập hợp tất cả các đơn vị xử lý các vụ phá hoại, giết người có mục tiêu và hoạt động gián điệp ở các nước Ả Rập dưới một cái ô dù.  Để làm được điều này, Amit đã làm điều mà Harel đã cố gắng làm trong nhiều năm và chính ông ta, Amit, đã phản đối: Ông chuyển Đơn vị 188 từ AMAN sang Mossad và sáp nhập nó với Mifratz của Shamir.  Yosef Yariv được bổ nhiệm làm trưởng bộ phận, với Shamir là phó của anh ta.

 Thủ lĩnh Mossad đặt tên bộ phận là Caesarea, theo tên thành phố La Mã trên bờ biển Địa Trung Hải, một ví dụ khác về xu hướng của cộng đồng tình báo Israel thích các mật danh lấy từ lịch sử cổ đại của đất nước.  Mạng lưới các hoạt động của Caesarea bên ngoài Israel được mật danh là Thượng viện.

 Amit cũng muốn có bộ phận tình báo của riêng mình.  Cho đến gần đây, cùng một đơn vị, Đội Chim (Birds), đã phục vụ cả Shin Bet và Mossad.  Giờ đây, Amit quyết định rằng mình muốn có một đơn vị riêng biệt chỉ hoạt động bên ngoài Israel và chỉ dành cho Mossad. Ông đã chọn một số nhân viên của Đội Chim cho một đơn vị tình báo mới, mà ông đặt tên là Colossus.

 Ngoài những thay đổi hành chính này, dưới thời Amit, cơ quan này đã thực hiện các hoạt động thu thập lượng thông tin chưa từng có về các quốc gia Ả Rập và các nghĩa vụ quân sự của họ.  Một trong những hoạt động nổi bật nhất trong số này là Chiến dịch Diamond, trong đó Junction đã tuyển dụng một phi công người Iraq, Munir Redfa, người đã đào thoát sang Israel bằng máy bay chiến đấu MiG-21 hoàn toàn mới, vũ khí tấn công tiên tiến và đe dọa nhất trong khối Liên Xô vào thời điểm đó.  Không quân Israel hiện có thể chuẩn bị để đối phó với kẻ thù mạnh nhất của mình trong các cuộc không chiến trong tương lai.  Lầu Năm Góc rất háo hức tìm hiểu những bí mật của chiếc máy bay, và Amit đã cho người Mỹ không chỉ bản thiết kế của chiếc MiG mà còn cả bản thân chiếc máy bay, được trang bị đầy đủ và có một phi công được đào tạo.

Amit cũng đã tích cực vun đắp các mối quan hệ bí mật của Israel với Maroc, phù hợp với “học thuyết ngoại vi”.  Mặc dù Maroc là một quốc gia Ả Rập, có liên hệ chặt chẽ với kẻ thù chính của Israel, nhưng nước này cũng ôn hòa và không có tranh chấp lãnh thổ với Israel.  Hơn nữa, lãnh đạo của nó là vị vua tương đối thân phương Tây Hassan II.

Maroc đã nhận được thông tin tình báo và hỗ trợ công nghệ quý giá từ Israel, và đổi lại, Hassan cho phép người Do Thái của Maroc nhập cư vào Israel, và Mossad nhận được quyền thiết lập một đồn thường trú tại thủ đô Rabat, từ đó họ có thể do thám các nước Ả Rập.

 Đỉnh cao của sự hợp tác diễn ra vào tháng 9 năm 1965, khi nhà vua cho phép một nhóm Mossad do Zvi Malchin và Rafi Eitan dẫn đầu đặt máy nghe lén tất cả các phòng họp và dãy phòng riêng của các nhà lãnh đạo các quốc gia Ả Rập và chỉ huy quân sự của họ trong một hội nghị thượng đỉnh Ả Rập ở Casablanca.  Mục đích của hội nghị thượng đỉnh là thảo luận về việc thành lập một bộ chỉ huy chung của Ả Rập trong các cuộc chiến tranh với Israel trong tương lai.  Nhưng mối quan hệ của Vua Hassan với một số nhà cai trị Ả Rập khác đang lung lay, và ông sợ rằng một số người trong số họ đang mưu tính để hạ bệ ông, vì vậy ông đã để Mossad nghe lén.

 Điều này đã cho Israel một cái nhìn chưa từng có về bí mật quân sự và tình báo của những kẻ thù lớn nhất của họ, cũng như suy nghĩ của các nhà lãnh đạo các nước đó.  Tại hội nghị thượng đỉnh đó, các chỉ huy quân đội Ả Rập báo cáo rằng lực lượng của họ chưa chuẩn bị cho một cuộc chiến mới chống lại Israel, một thông tin làm cơ sở cho sự tự tin  cao tột của quân đội Israel khi họ thúc giục Thủ tướng Eshkol lâm trận hai năm sau, vào tháng 6 năm 1967. “Tài liệu giật gân này,” một báo cáo của Mossad cho biết, “là một trong những điểm nổi bật trong các thành tựu của tình báo Israel kể từ khi thành lập”.

 Những thành tựu này đã cung cấp cho IDF những thông tin tình báo quan trọng cần thiết để chuẩn bị cho cuộc chiến tiếp theo.  Nhưng sau đó, với tốc độ chóng mặt, một thảm họa này tiếp sau một thảm họa khác giáng xuống Amit và tổ chức của ông ta.

__

 ĐIỆP VIÊN HÀNG ĐẦU của Đơn vị 188, và bây giờ là Caesarea, là Eli Cohen, người đã thâm nhập vào giới cầm quyền ở Damascus và cung cấp thông tin giúp Mossad xác định được vị trí Alois Brunner của Đức Quốc xã và gửi cho hắn một quả bom thư.

 Cohen ban đầu được giao nhiệm vụ như một điệp viên ngủ gật, thay vì thu thập và chuyển đi thông tin, chỉ hoạt động khi anh ta phải cảnh báo cho Israel rằng Syria đang có kế hoạch tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ nhằm vào nước này.

 Tuy nhiên, dưới áp lực từ những người điều hành, đồng thời quá tự tin vào vỏ bọc của chính mình, anh bắt đầu phát tin nhắn cho những người điều hành Mossad hàng ngày, sử dụng một thiết bị điện tín mà anh giấu tại căn hộ của mình.  Anh đã báo cáo chẳng những về các cơ sở quân sự bí mật, âm mưu của Syria kiểm soát các nguồn nước trong khu vực (với sự hỗ trợ của một công ty ký hợp đồng của Ả Rập Xê Út do Mohammed bin Laden, cha của Osama đứng đầu), và mối quan hệ của Syria với Liên Xô, mà còn về bọn Đức Quốc xã chui rúc ở Damascus, những câu chuyện phiếm của quốc hội, và những tường thuật về các cuộc tranh giành quyền lực của chính phủ.  Việc Cohen truyền tải thông tin có tính chất như vậy và với tần suất như vậy là một lỗi nghiêm trọng và thiếu chuyên nghiệp, về phần anh ấy nhưng cũng quan trọng hơn, về phía những người điều hành anh ấy.

Moti Kfir, ngoài những công việc khác làm cho Mossad, từng là người đứng đầu chương trình đào tạo vào đầu những năm 1960 cho biết: “Eli Cohen là một trong những người đã trải qua cuộc đời chỉ biết đi ngang.  “Khi bạn đi ngang, đôi khi bạn nghĩ rằng không ai nhìn thấy mình.  Nhưng anh đã nhầm.  Anh ấy trở nên quá nổi bật.  Tôi đã nói với anh ấy trong khi tập luyện, “Đừng bao giờ là linh hồn của bữa tiệc.” Nhưng anh ấy đã làm ngược lại ”.

 Quả bom thư được gửi đến Brunner và sự quan tâm sôi nổi mà Cohen thể hiện với những người Đức quốc xã khác khi nói chuyện với những người Syria hàng đầu — cùng với thực tế là anh ta “ở trong một hoàn cảnh bất thường, một người nhập cư không có việc làm… người đang tổ chức tiệc tùng, hòa nhập với xã hội thượng lưu” và “cung ứng mọi hình thức giải trí cho khách khứa và bạn bè của anh ấy” – đã đặt các dịch vụ tình báo Syria vào tình trạng báo động và khiến một trong những người đối thoại của anh nghi ngờ vỏ bọc anh, là Kamal Amin Thabet, một thương gia Syria giàu có đã trở về quê hương của mình  sau nhiều năm dài sống lưu vong ở Buenos Aires.

 Trong một sự trùng hợp bi thảm đối với Cohen, trong cùng khoảng thời gian đó, máy phát của anh ta đã gây nhiễu sóng với máy phát sóng từ Bộ Tổng tham mưu Syria, đối diện với căn hộ sang trọng mà anh ta thuê, và trong đó anh tổ chức các bữa tiệc hoang dã cho các quan chức cấp cao của Syria.  Bối rối, người Syria đã yêu cầu GRU, tình báo quân đội Liên Xô, điều tra.  Người Nga đã gửi những chiếc xe đi dạo đặc biệt, những chiếc xe này đã tìm cách chặn các tín hiệu phát ra từ máy phát của Cohen trong  những buổi phát sóng của anh ấy.

Cohen bị bắt, bị tra tấn dã man, nhanh chóng bị xét xử và bị kết án tử hình.  Anh đã bị treo cổ nơi công cộng tại quảng trường trung tâm của Damascus vào ngày 18 tháng 5. Thi thể anh bị treo lủng lẳng trên giá treo cổ, bị tròng trong một tấm vải trắng trên đó ghi bản án tử của anh, như một thông điệp gửi đến Nhà nước Israel.

Người đàn ông đã tuyển dụng, đào tạo và điều hành Cohen, Gedaliah Khalaf, sau đó nói: “Tôi nhìn cậu ấy, nhìn Eli của tôi, trên truyền hình Syria, và tôi nhìn thấy gương mặt cậu ấy hằn sâu những cực hình kinh khủng mà cậu ấy đã phải trải qua.  Tôi không biết phải làm gì với bản thân.  Tôi muốn hét lên, làm gì đó, cầm một khẩu súng lục và xông vào nhà tù Mezzeh, đập đầu vào tường cho đến khi nó vỡ tan, cho đến khi chúng tôi cứu được cậu ấy.  Và họ đã giết cậu ấy và chúng tôi không thể làm gì khác ngoài việc đứng nhìn”.

 Mossad của Amit, rất tự tin, đã bị sỉ nhục, bất lực.  Tệ hơn, Mossad đã bị lộ.  Người Syria đã tra tấn Cohen rất dã man — giật móng tay của anh ấy ra, chích điện vào tinh hoàn của anh — khiến anh ấy suy sụp.  Anh khai ra các mã liên lạc bí mật và giải mã hai trăm tin nhắn mà anh đã gửi và người Syria đã chặn được nhưng không thể đọc được, và anh tiết lộ với họ những gì anh biết về phương pháp tuyển dụng, đào tạo và xây dựng vỏ bọc của tình báo Israel.

Không lâu sau khi Cohen bị bắt, Caesarea lại phải hứng chịu một thảm họa khác.  Wolfgang Lotz, điệp viên Caesarea trong xã hội thượng lưu của Cairo, nhân tố chủ chốt trong việc thu thập thông tin tình báo để tìm cách giết các nhà khoa học Đức ở Ai Cập, cũng bị phanh phui, vào ngày 10 tháng 2 năm 1965. Sự bại lộ của anh cũng xuất phát từ hoạt động thái quá, quá tin tưởng vào vỏ bọc và một số lỗi thô thiển mà anh ấy và những người điều hành anh ấy đã mắc phải.

Điều duy nhất đã cứu Lotz khỏi chịu số phận tương tự như Eli Cohen là sự can thiệp của BND, cơ quan gián điệp của Đức, đáp ứng yêu cầu của Israel và nói với người Ai Cập rằng Lotz cũng đang làm việc cho họ.  Lotz và vợ ông, Waltraud, được miễn giá treo cổ và bị kết án chung thân.  (Sau đó, họ được phóng thích trong cuộc trao đổi tù binh sau Chiến tranh Sáu Ngày, năm 1967.) Nhưng đây là một đòn mạnh khác đối với Mossad.  Vì sợ bị tổn thất thêm, Yosef Yariv đã ra lệnh cho các điệp viên khác của mình, những người mà việc đào tạo và bao che đã tốn nhiều năm công sức, trở về nhà.  Caesarea, chỉ mới ra khỏi thời kỳ sơ khai, đã gần như đổ nát.

Thủ tướng Eshkol coi sự sụp đổ của hai điệp viên là thảm họa quốc gia.  Nhưng bất chấp tình trạng tồi tệ của Mossad, Eshkol vẫn quyết định chấp thuận một nhiệm vụ giết người có mục tiêu đặc biệt của Caesarea ở Uruguay.  Hai tháng trước, một hội nghị có sự tham dự của đại diện các cơ quan tình báo khác nhau đã được tổ chức để thảo luận về tình trạng truy lùng Đức Quốc xã, một vấn đề không nằm trong danh sách ưu tiên.  Raphi Medan, phó chỉ huy  đơn vị Amal, đơn vị xử lý vấn đề, đã khảo sát các mục tiêu có thể bị ám sát trong danh sách mà tên của Otto Skorzeny vừa bị xóa.  Khi anh ta đến tên của Herbert Cukurs, một tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã người Latvia, với tư cách là một phi công, đã tình nguyện hỗ trợ SS và Gestapo, và bắt đầu mô tả những hành động khủng khiếp của hắn, thì mọi người nghe tiếng rơi đánh thịch thật lớn vang lên.  Người đứng đầu AMAN, Cục tình báo quân sự, Thiếu tướng Aharon Yariv, đã ngã té xỉu.  Phải mất một thời gian ông mới tỉnh lại. Hóa ra Cukurs là tên đã thiêu sống một số người thân và bạn bè của Yariv.

Sau hội nghị, Amit, người rất thân thiết với Yariv và bị ảnh hưởng sâu sắc bởi vụ việc, đã đến gặp Thủ tướng Eshkol và nhận được sự cho phép trừ khử Cukurs.

 Cukurs đã giết người Do Thái vì mua vui. Hắn xả súng xuống đường phố  đầy người sau khi yêu cầu dân chúng hãy chạy cho nhanh để cứu mạng sống của mình.  Hắn đã nhốt người Do Thái trong các giáo đường sau đó châm lửa đốt, vừa nhâm nhi rượu whisky vừa lắng nghe tiếng la hét.  Những người sống sót sau thảm họa Holocaust gọi hắn là Đồ tể của Riga, và tên của hắn thường xuyên xuất hiện tại các phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh ở Nuremberg vì liên quan trực tiếp đến vụ giết hại khoảng 15 nghìn người Do Thái, và gián tiếp giết chết 20 nghìn người khác.  Nhưng sau chiến tranh, hắn đã trốn thoát được và tìm nơi ẩn náu ở Brazil, nơi hắn phát triển ngành kinh doanh du lịch, xung quanh mình là các nhân viên bảo vệ vì sợ gặp số phận tương tự như đã xảy ra với Eichmann.

 Yaakov Meidad, một nhân viên thuộc Caesarea nói được tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức, đóng giả là một doanh nhân người Áo đang tìm kiếm cơ hội trong ngành du lịch ở Nam Mỹ và thuyết phục Cukurs đến Uruguay để gặp một nhóm các nhà phát triển tại một dinh thự sang trọng bên ngoài Montevideo.  Tại dinh thự, ba sát thủ sẽ nằm chờ sẵn.  Kế hoạch là Meidad bước vào trước tiên, tiếp theo là Cukurs.  Một trong những sát thủ sẽ xô hắn vào trong và khóa trái cửa.  Sau đó, khi đội Mossad ở ngoài đường đạn, anh ta sẽ bắn hắn.

 Tuy nhiên, công việc không diễn ra suôn sẻ như kế hoạch.  Cukurs đã cảnh giác và sợ bị giăng bẫy.  Lúc hắn bước vào, bắn đã nắm bắt được những gì đang xảy ra và thực hiện một bước đột phá.  Yariv ra sức siết cổ hắn khi một nhân viên Israel khác kéo hắn vào trong.  Meidad nói: “Thực tế là Cukurs đã sợ chết khiếp, và đã sống trong nỗi sợ hãi của thời điểm này trong hai mươi năm đã cho hắn sức mạnh siêu phàm.  Hắn đã hạ gục được anh chàng.  Hắn chồm lấy tay nắm cửa và, nếu không có ba người chúng tôi, bao gồm cả tôi, giữ cửa đóng lại, hắn đã có thể tung ra ngoài.”

Cukurs cắn mạnh vào một ngón tay của Yariv, cắt đứt đốt tay đầu ngậm vào họng.  Yariv hét lên trong đau đớn và phải nới lỏng tay siết cổ Cukurs. Hắn gần như thoát ra được, nhưng vào giây phút cuối cùng, một trong những sát thủ tấn công, Ze’ev Amit (em họ của giám đốc Mossad), người đã không thể nổ súng vì sợ nguy hiểm cho đồng đội của mình, đã cầm một chiếc búa và đập liên tiếp vào đầu Cukurs cho đến khi hắn ngất đi.  Sau đó, sát thủ thứ ba, Eliezer Sodit-Sharon, trước đây là sát thủ chính của Irgun, bắn hai phát vào kẻ sát nhân hàng loạt, để đảm bảo rằng hắn đã chết.

 Các đặc vụ đặt thi thể hắn vào một chiếc vali mà họ để sẳn trong dinh thự, và đặt trên nắp vali một “bản án”, một tờ giấy ghi dòng chữ “Xét vì trách nhiệm trong việc giết hại 30.000 người Do Thái với sự tàn bạo khủng khiếp,  gã  bị kết án này đã bị hành quyết.  [Ký tên] Những Người Sẽ Không Bao Giờ Quên. ”

Bên trong Mossad, hoạt động chính thức được coi là thành công, nhưng sự thật là quá trình thực hiện không chuyên nghiệp có thể dễ dàng dẫn đến thảm họa.  Dù thế nào thì Yariv cũng bị cụt một đốt tay.  Nhân viên đã dùng búa dần nát đầu Cukurs, Ze’ev Amit, đã phải chịu đựng những cơn ác mộng trong suốt phần đời còn lại của mình, bị ám ảnh bởi chấn thương gớm ghiếc  của vụ giết người.

__

 THẢM HỌA TIẾP THEO suýt khiến Thủ tướng Eshkol và Giám đốc Amit mất chức.  Vào ngày 30 tháng 9 năm 1965, một ngày sau khi Mossad nhận được các đoạn băng cực kỳ quan trọng từ hội nghị thượng đỉnh Ả Rập, một trong những chỉ huy của cơ quan tình báo Maroc, Ahmed Dlimi, đã liên lạc với Mossad và nói rõ rằng người Maroc muốn đòi món nợ cho thông tin có giá trị này, được hoàn trả càng sớm càng tốt.  Trong thế giới tình báo, không có quà tặng nào miễn phí.

Amit báo cáo với Eshkol, “Một tay họ trao cho chúng ta những cuốn băng này, nhưng tay kia, họ nói‘ Trả đi! ’Họ muốn một thứ gì đó rất đơn giản.  Có một tên ngốc này, Ben Barka, kẻ chống lại nhà vua… và nhà vua đã ra lệnh quét sạch hắn.  Họ đã đến với chúng tôi và nói, “Bạn là những kẻ sát thủ tuyệt vời … Hãy làm điều đó!”

Lãnh đạo phe đối lập Mehdi Ben Barka đã song lưu vong khỏi Maroc vào đầu những năm 1960 và sau đó bị kết án tử hình vắng mặt.  Tình báo Maroc cố gắng xác định vị trí của ông ta, nhưng Ben Barka đã cẩn thận che giấu vị trí của mình, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, sử dụng các tên giả khác nhau.  Những người đứng đầu cơ quan mật vụ Maroc đã yêu cầu Mossad giúp tìm, gài bẫy và giết ông ta.

 “Chúng tôi phải đối mặt với một tình huống tiến thoái lưỡng nan,” Amit nhớ lại.  “Hoặc giúp đỡ và bị dính líu, hoặc từ chối và gây nguy hiểm cho các thành tựu quốc gia ở cấp  cao nhất.”

 Nhiều năm sau, Amit cố gắng vẽ một bức tranh về việc mình đã chọn “đi giữa những giọt mưa” và không trực tiếp tiếp tay cho vụ giết người mà “kết hợp việc đó [sự trợ giúp người Maroc] vào các hoạt động chung thường xuyên của chúng tôi với họ.”  Nhưng xem xét kỹ các hồ sơ và đường dây liên lạc nội bộ của Mossad cho thấy tổ chức này đã tham gia rất sâu.

 Caesarea và Colossus đã giúp người Maroc xác định chính xác ki-ốt ở Geneva mà Ben Barka sử dụng để nhận các tạp chí gửi đến ông qua đường bưu điện, cho phép họ giám sát ông ta.  Sau đó, họ đề xuất một kế hoạch theo đó Ben Barka sẽ bị dụ đến Paris bởi một người đàn ông đóng giả là một nhà làm phim tài liệu bị cuốn hút bởi câu chuyện cuộc đời của người lưu vong Maroc và muốn làm một bộ phim về ông.  Mossad cung cấp cho người Maroc những ngôi nhà an toàn ở Paris, xe cộ, hộ chiếu giả và hai loại chất độc khác nhau để giết ông ta, cũng như xẻng và “thứ gì đó để che đậy dấu vết”.

 Khi Ben Barka đến Paris vào ngày 29 tháng 10 năm 1965, người Maroc đã bắt cóc ông ta, với sự giúp đỡ của các sĩ quan cảnh sát Pháp tham nhũng.  Ông ta được đưa đến ngôi nhà an toàn trống rỗng của Mossad, nơi những người Maroc bắt đầu tra khảo ông ta một cách dã man.  Ông ta chết không lâu sau đó vì ngạt thở, sau nhiều lần bị nhấn chìm trong bồn nước bẩn thỉu.

 Các đặc nhiệm Mossad không tham gia hoặc có mặt khi vụ giết người diễn ra, nhưng họ tình nguyện xử lý xác chết, một đội chung từ Caesarea và Colossus chuyển xác đến khu rừng Saint-Germain gần đó.  Họ đào một hố sâu trong lòng đất và chôn thi thể, sau đó họ rải bột hóa chất, được chế tạo để tiêu tán cơ thể và đặc biệt tăng cường sức phân huỷ khi tiếp xúc với nước.  Mưa lớn đổ xuống gần như ngay lập tức, vì vậy có lẽ không còn nhiều tàn tích của Ben Barka ngay sau đó.  Những gì còn lại, theo một số người Israel có liên quan, đã được di chuyển một lần nữa và ngày nay nằm bên dưới con đường dẫn đến Trung tâm Louis Vuitton siêu hiện đại mới được xây dựng gần đây, hoặc thậm chí ngay dưới chính tòa nhà.

Amit đã hứa với Eshkol, “Tôi sẽ không thực hiện bất kỳ bước nào mà không nói với ngài”, nhưng sau đó chỉ nói với ông ấy một phần sự thật và chỉ nói sau khi sự việc xảy ra.  Vào ngày 25 tháng 11 năm 1965, Amit nói với Eshkol, “Mọi thứ đều ổn.”

 Tuy nhiên, trên thực tế, mọi thứ đều không ổn.  Việc Ben Barka biến mất ở Paris và những người đứng đầu lực lượng tình báo Maroc và lính đánh thuê Pháp có liên quan đã làm bùng nổ các phương tiện truyền thông Pháp với một tiếng sấm rền, và nằm trên các tít lớn mặt báo trong một thời gian dài.  Tổng thống Charles de Gaulle đã giải tán các cơ quan tình báo của mình và truy tố một số người có liên quan.  Khi Quốc vương Hassan không chịu giao những người đứng đầu các cơ quan gián điệp của mình ra hầu tòa, de Gaulle đã tức giận cắt đứt quan hệ ngoại giao với Maroc.

 Hậu quả từ hoạt động này đã kéo dài hàng thập kỷ và để lại bóng đen cho mối quan hệ giữa Maroc và Pháp, nơi vẫn còn một thẩm phán điều tra phụ trách vụ án.  Các cuộc thăm dò cũng làm dấy lên nghi ngờ đối với nhân viên của Mossad, và tất cả những người có liên quan đã vội vàng rời Paris.  Trong nhiều năm, họ vẫn có nguy cơ phải đối mặt với tòa án.

 Isser Harel vào thời điểm đó đang phục vụ với tư cách là cố vấn tình báo của Eshkol.  Cay đắng và thất vọng vì bị truất quyền giám đốc Mossad, và ghen tị với Amit thành công, Harel nắm giữ các tài liệu liên quan về vụ Ben Barka và chiến đấu chống lại Amit.

 Trong một bản báo cáo dài mà ông đệ trình lên thủ tướng, ông tuyên bố, “Mossad, và thông qua đó, nhà nước, đã tham gia vào nhiều hành động khác nhau liên quan đến một vụ ám sát chính trị, trong đó Israel không được lợi ích mà còn không nên dính líu đến, theo tôi  xét từ quan điểm đạo đức, công luận và quốc tế.”

 Harel yêu cầu Eshkol sa thải Amit và cử một sứ giả riêng đến nói sự thật cho de Gaulle.  Eshkol từ chối, và Harel cáo buộc thủ tướng có liên quan đến vụ giết người và yêu cầu ông từ chức ngay lập tức.  Ông ta đe dọa Eshkol, nói rằng “dư âm của vụ tai tiếng sẽ khiến công chúng chú ý và toàn bộ đảng [Lao động] sẽ bị ô nhiễm bởi sự hổ thẹn”.

 Khi điều đó không hiệu quả, ông ta đã tiết lộ ý chính của câu chuyện cho một tuần báo lá cải chuyên đăng tin tức giật gân và khi người kiểm duyệt chặn việc phát hành, ông ta đã thông báo cho các thành viên cấp cao của đảng về chi tiết và kêu gọi họ nổi dậy chống lại sự lãnh đạo của Eshkol.  Các thành viên này sau đó đã cố gắng thuyết phục Golda Meir lãnh đạo một cuộc đảo chính chống lại Eshkol.  Meir đồng ý rằng Amit phải đi, nhưng bà đã vạch ra ranh giới khi lật đổ thủ tướng.  “Tôi nên lật đổ Eshkol, và thế chỗ của ông ta sao?”  Bà ấy hỏi những kẻ chủ mưu, với sự thống thiết khiến bà ấy nổi tiếng.  “Tôi thà ném mình xuống biển còn hơn.”

Khi các cuộc tấn công cay cú của Harel không lắng xuống, Eshkol và Amit quyết định chống trả, chống hăm dọa bằng hăm dọa.  Amit nói với các cộng sự thân cận của mình, “Harel sẽ không từ bỏ chủ đề theo ý mình … trừ khi  ông ta được gợi ý rằng có nhiều tư liệu trong quá khứ của ông đủ để làm suy yếu tuyên bố của ông rằng mình  là ‘người bảo vệ đạo đức’ của Mossad. “

Và, thực sự, đã có đủ tư liệu.  Amit đã lấy lại hồ sơ về  Alexander Yisraeli từ kho lưu trữ.  Yisraeli là sĩ quan hải quân đã bán bí mật cho Ai Cập vào năm 1954 và sau đó bị bắt cóc, với ý định đưa y ra xét xử, mặc dù y đã chết trong khi quá cảnh vì bị tiêm thuốc an thần quá liều.  Harel đã ra lệnh ném xác y xuống biển và báo cho gia đình biết rằng y đã định cư ở Nam Mỹ.

 Amit đưa hồ sơ của Yisraeli cho một cựu binh của Mossad, người coi thường Harel, thân thiết với Amit và biết rõ vụ việc.  Ông ta đã mời Harel đến dự họp.  “Anh nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu vụ này được công khai?”  người đàn ông hỏi Harel.  “Ông không nghĩ rằng một vấn đề nghiêm trọng như vậy sẽ đòi hỏi một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng và một cuộc điều tra gắt gao hay sao?  Tất nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng giữ im lặng cho câu chuyện, nhưng chúng tôi không phải là những người duy nhất biết điều đó, và điều gây chú ý cho các nhà báo những ngày này thật là kinh khủng. “

Harel hiểu rõ tình hình.  Ngay sau đó, ông từ chức.

 Đối với Amit, bài học chính của vụ việc là “chúng ta không bao giờ được tham gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ nhạy cảm của người khác mà chúng ta không có lợi ích trực tiếp, đặc biệt là không phải là các vụ ám sát.  “Chúng ta chỉ được giết ai đó nếu y đang đe dọa lợi ích của Israel và việc hành quyết — chỉ có màu xanh và trắng ”, ám chỉ màu cờ của Israel, theo ý ông ta “chỉ do người Israel thực hiện”.

__

 TẤT CẢ CÁC TAI HỌA NÀY ĐỀU để lại cho cục, và đặc biệt là Caesarea, mũi tiến công của nó, sự bầm dập và hoang mang.  Amit đã thiết lập một số ban điều tra để cố gắng phân tích điều gì đã xảy ra.

 Nhân vật chủ yếu thực hiện các cuộc điều tra này là Michael “Mike” Harari.  Khi công việc của họ hoàn thành, Amit bổ nhiệm Harari làm phó giám đốc Caesarea.  Harari đã phục vụ ở vị trí này trong 5 năm, đầu tiên dưới quyền Yosef Yariv và sau đó là Zvi Aharoni, nhưng trên thực tế, ông ấy là linh hồn của cơ quan và trên thực tế, đã chỉ huy nó.  Năm 1970, ông được bổ nhiệm làm người đứng đầu Caesarea, một vị trí mà ông đã giữ trong mười năm.  Mười lăm năm mà ông lãnh đạo cơ quan là khoảng thời gian quan trọng và đầy biến động trong lịch sử của nó.  Harari có biệt danh là Caesar và trở thành nhân vật có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến thế giới trong các hoạt động đặc biệt của Mossad.

 Harari sinh ra ở Tel Aviv vào năm 1927. “Hai sự kiện đã định hình cuộc đời tôi,” ông nói.  Năm 1936, khi còn là một đứa trẻ, ông đã chứng kiến ​​các cuộc bạo động đầy bạo lực của người Ả Rập ở Palestine chống lại người Do Thái và người Anh, mà sau này được gọi là Cuộc nổi dậy của người Palestine.  “Tôi nhìn thấy đám đông náo loạn và một chiếc xe Jeep của Anh đã cháy rụi với thân xe cháy đen với một trung sĩ vẫn đang nắm chặt tay lái.”  Ông nói, khi nhìn thấy người Ả Rập và người Do Thái đánh nhau, ông đã không kiềm chế mà đi vào một cửa hàng gần đó và chọn thứ trông giống như vũ khí tốt nhất — một cán cuốc nặng nề— và tham gia trận chiến chống lại người Ả Rập.

 Trải nghiệm thứ hai xảy ra vào năm 1942, khi ông đi chơi trên phố và đến hiện trường vài phút sau khi các sĩ quan CID của cảnh sát Anh đã bắn chết Avraham Stern, thủ lĩnh của nhóm hoạt động ngầm Do Thái cực đoan Lehi.  “Tôi thấy họ mang xác xuống.  Sau đó tôi lên lầu.  Tôi là một cậu bé, và không ai ngăn cản tôi.  Tôi đi vào căn hộ và nhìn thấy gian kho mà anh ấy đã ẩn mình …. Những thứ này ảnh hưởng đến bạn. ”

Năm 1943, ông nói dối tuổi của mình để gia nhập Palmach, đội quân bí mật của  Khu định cư Do Thái ở Palestine.  “Nó ở dưới lòng đất.  Nó bí mật, nó làm tôi tò mò ”.  Ông đã tham gia vào nhiều hoạt động, bao gồm phá hoại các tuyến đường sắt và cầu, tấn công các đồn cảnh sát Anh, và thu thập thông tin tình báo.  Ông đã bị CID bắt giữ nhiều lần.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi chỉ huy của Haganah biết được Harari nói rành một số ngôn ngữ, ông được cử đến châu Âu, để giúp vận chuyển những người tị nạn Do Thái còn sống đến Israel.  Ông tham gia  vào việc bí mật mua lại các con tàu và hậu cần phức tạp liên quan đến việc chuyển những người nhập cư bất hợp pháp này qua những tàn tích đổ nát của châu Âu lên thuyền, sau đó đưa họ vào Palestine dưới sự nhòm ngó của người Anh.  “Đó là khoảng thời gian mà tôi đã tạo ra cho mình các tiêu chí và phương pháp cho các hoạt động bí mật ở nước ngoài, những công cụ mà tôi sẽ sử dụng sau này ở Mossad.”

 Sau khi thành lập nhà nước, Isser Harel đã tuyển dụng Harari vào Shin Bet và sau đó là Mossad, nơi ông ta thăng tiến nhanh chóng trước khi được giao nhiệm vụ điều tra các hoạt động của Caesarea.  Những gì ông tìm thấy là một đơn vị có hình dạng rất tồi tệ, với hàng loạt nhân sự (cựu thành viên của 188 Mifratz và Chim, đơn vị hoạt động của Shin Bet, trong số những nhóm khác), một học thuyết tác chiến mờ nhạt và mục tiêu không rõ ràng.

 Chuỗi thất bại của Caesarea đã khiến Harari đi đến kết luận rằng Caesarea phải được xây dựng lại từ dưới lên, với các mục tiêu, nhiệm vụ và nhân sự được xác định lại.  Sau nhiều tháng làm việc, ông đã đệ trình học thuyết của mình lên những người đứng đầu Mossad: “Theo quan điểm của tôi về thế giới, tôi tin rằng bất kỳ quốc gia nào muốn sinh sống đều phải có một Caesarea của riêng mình, một cơ quan bí mật, ngăn nắp và ưu tú để có thể thực hiện, vượt ra ngoài biên giới của đất nước, những điều  mà không một cơ quan nào trong cả nước có thể làm được.  Đó là một công cụ độc nhất mà ban lãnh đạo của chúng ta có thể sử dụng để chống lại kẻ thù của đất nước ”.

 Harari đặt các mục tiêu chính của Caesarea là giết người có mục tiêu, phá hoại, thu thập thông tin tình báo ở các quốc gia “mục tiêu” thù địch và các hoạt động đặc biệt, như chuyển lén lút những kẻ bắt cóc qua biên giới.

Hầu hết các đặc nhiệm Mifratz mà Harari điều tra đều là cựu thành viên của các nhóm ngầm cực đoan chống người Anh, những người được Isser Harel tuyển mộ và Yitzhak Shamir chỉ huy.  Harari nhận thấy họ là những chiến binh cực kỳ cứng rắn, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và hoạt động bí mật, sẵn sàng bóp cò khi thời điểm đến.  Tuy nhiên, theo những khía cạnh khác, Harari nhận thấy họ rất yếu: “Họ luôn thất bại trong giai đoạn chạy thoát.  Tôi đã ra lệnh rằng khi lập kế hoạch cho một hoạt động, hãy điều nghiên mục tiêu và cách trốn thoát kỹ lưỡng như  nhau, và nếu không có cách nào để thoát ra khỏi một thực địa, thì đừng tiến hành”.

Harari đã ra lệnh thành lập một “ủy ban mục tiêu”, tổ chức này sẽ thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu để quyết định xem ai sẽ nằm trong danh sách bị tấn công và ra phán quyết rằng không bao giờ được thực hiện các vụ giết người khi tiếp xúc gần, bằng dao hoặc các loại vũ khí “lạnh” khác.

 Các nhân viên hiện trường trong hai bộ phận tác chiến, Caesarea và Colossus, không thích bị gọi là đặc nhiệm, điều này nghe có vẻ nhạt nhẽo và chiếu lệ, thiếu đi tính anh hùng thích hợp.  (Tệ hơn nữa là “đặc vụ”, một thuật ngữ gần như chế nhạo dành riêng cho những công dân nước ngoài, những người đã được tuyển dụng để phản bội đất nước của họ vì lợi ích của Israel.) Thay vào đó, họ tự coi mình là những chiến binh (lohamim), tận tâm bảo vệ và gìn giữ quốc gia non trẻ của mình.

 Mặc dù cả hai đều có thể là chiến binh, nhưng có sự khác biệt cơ bản giữa nhân sự của hai cơ quan.  Một điệp viên Colossus bị bắt tại “quốc gia cơ sở” – có quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel, như Pháp hoặc Ý – có thể có nguy cơ bị bỏ tù.  Ở “quốc gia mục tiêu”, như Syria hoặc Ai Cập, một chiến binh Caesarea có thể sẽ bị tra tấn và thẩm vấn khủng khiếp và sau đó bị hành quyết.  Việc phơi bày và bắt giữ một đặc nhiệm Caesarea được coi là một thảm họa quốc gia ở Israel.  Đây là lý do tại sao Harari nhấn mạnh vào kỷ luật sắt và không tì vết.

 Và quả thật, kể từ thời Harari gây dựng lại Caesarea, rất ít sai sót đáng kể đã xảy ra.  Trong toàn bộ lịch sử của cơ quan, Eli Cohen là đặc vụ duy nhất bị bắt và xử tử.

 “Kỷ lục phi thường này”, “Ethan”, người từng là sĩ quan cấp cao của đơn vị trong nhiều năm nói, “đạt được chủ yếu nhờ vào những đổi mới của Harari và trên hết là những vỏ bọc không thấm nước”.

 Quá trình tuyển dụng cũng là một yếu tố quan trọng trong thành công của họ.  Ethan giải thích: “Vũ khí chính của một đặc nhiệm Caesarea là khả năng hoạt động dưới sự che đậy sâu sắc.  “Vũ khí này phải được tích hợp sẵn. Tất cả những thứ còn lại, chúng tôi có thể dạy họ.”

Mossad được cấp quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu dân số của Israel, cơ sở dữ liệu mà các chuyên gia tuyển chọn của Caesarea đã tìm kiếm một số loại người nhất định.  Đối với Harari, nơi tự nhiên để tìm kiếm nhân sự của ông ta đầu tiên là trong số những người đang phục vụ, hoặc những người đã từng phục vụ trong vai trò chiến đấu trong Lực lượng Phòng vệ Israel.  Nhưng đây chỉ là bước khởi đầu của quá trình sàng lọc.  Sau sự suy sụp của Eli Cohen và việc Mossad sử dụng người Do Thái từ các nước Ả Rập làm gián điệp, ông quyết định chủ yếu dựa vào những người có thể giả dạng quý tộc từ các nước phương Tây.

 Ứng cử viên hoàn hảo là người châu Âu, một người có thể trở thành khách du lịch hoặc doanh nhân từ một quốc gia có công dân được chào đón trong thế giới Ả Rập.  Một nhóm có thể được tuyển dụng bao gồm con cái của các học giả Israel hoặc các thành viên của đoàn ngoại giao Israel, những người đã dành thời gian đáng kể ở nước ngoài vì công việc của cha mẹ họ.  Nhưng hầu hết những người được Caesarea tuyển dụng là những người nhập cư đã sống ở quê hương của họ cho đến khi trưởng thành (trong một số trường hợp hiếm hoi, Caesarea sẽ tuyển một người Do Thái vẫn sống bên ngoài Israel), bởi vì họ mang lại một lợi thế rõ ràng: Họ không cần phải được đào tạo để chơi vai trò của một người không phải là người Israel.

 Mặt khác, cựu giám đốc đào tạo Kfir giải thích, có một sự phức tạp tương ứng với những tân binh như vậy.  Tất nhiên, tất cả những người tham gia đều được Shin Bet kiểm tra an ninh kỹ lưỡng.  Nhưng nếu một người nhập cư không được xã hội Israel chắt lọc đúng cách — nếu người đó không phục vụ trong IDF, không phát triển mạng lưới bạn bè lâu dài, không có họ hàng trong nước — thì khó hơn nhiều  để xác định lòng trung thành của họ đối với cả Israel và Mossad.  Thậm chí có thể họ đã là gián điệp cho một quốc gia khác.  Do đó, việc kiểm tra lý lịch sau các bài kiểm tra đa khoa ban đầu đối với những người được tuyển dụng ở Caesarea, vốn đã nghiêm ngặt nhất ở Mossad, còn được thực hiện khó khăn hơn, với việc các điều tra viên đôi khi đi ra nước ngoài để xem xét quá khứ của ứng viên.  Một nỗ lực lớn đã được đầu tư vào việc tuyển dụng từng ứng viên.

 Sau khi xác định được khách hàng tiềm năng, họ nhận được cuộc gọi từ những người tự nhận mình là “nhân viên chính phủ” và đề nghị một cuộc họp tại một quán cà phê, nơi họ mô tả một cách rất chung chung về nội dung của nó.  Những người khác nhận được một lá thư hơi khó hiểu từ văn phòng thủ tướng hoặc Bộ Quốc phòng, với ngôn ngữ ít nhiều như sau: “Chúng tôi mang đến cho bạn cơ hội tham gia vào một hoạt động bao gồm các hoạt động đa dạng và độc đáo,  bạn sẽ đối đầu với những thử thách thú vị và bạn có cơ hội đấu tranh với chúng trong khi phát huy hết tiềm năng và sự hài lòng của bản thân.”  Ngoài cách tiếp cận trực tiếp này, Mossad từ lâu đã chạy các quảng cáo mập mờ “Cần tuyển”  trên các tờ báo Israel đề cập đến một “tổ chức nhà nước” đang tìm kiếm các ứng viên cho “công việc đầy thử thách”.

Từ những tuyển dụng tiềm năng đó, Mossad bắt đầu thu hút được nhóm thông qua nhiều bài kiểm tra, cho đến khi họ chỉ còn lại những người phù hợp với tâm lý cho công việc.  Quá trình sàng lọc cho tất cả các công việc hoạt động trong Mossad đã và vẫn đang được tiến hành bởi các nhân viên tuyển dụng và nhà tâm lý học của Mossad.  Harari nhấn mạnh rằng bản thân các nhà tâm lý học phải trải qua một chương trình đào tạo vắt kiệt sức, bao gồm cả “bài tập kinh khủng cho tù nhân”, vì vậy họ sẽ nhận ra những phẩm chất cần có ở một đặc nhiệm và có thể sàng lọc ra các ứng viên tốt hơn.

 Tìm kiếm các đặc vụ ứng cử viên với tất cả các đặc điểm mong muốn đã và đang là một thách thức rất khó khăn.  Ở Mossad, họ tự hào lưu ý rằng tỷ lệ chấp nhận là 0,1 phần trăm.  Moti Kfir nói theo cách này: “Chiến binh mong muốn phải là người theo chủ nghĩa Phục quốc.  Anh ta cần đồng nhất với Israel và các mục tiêu của nó.  Trên tất cả, anh ta phải có sự cân bằng của các đặc điểm trái ngược.  Anh ấy cần sự chủ động mà không được quá khích.  Dũng cảm nhưng không phải không biết sợ hãi.  Hướng ngoại nhưng kín tiếng.  Phải sẵn sàng chấp nhận những rủi ro lớn, nhưng không đặt sứ mệnh và tổ chức vào tình thế nguy hiểm và không biến điều này thành một ước muốn được chết.  Họ cần phải có khả năng sống một cuộc sống dối trá và lừa lọc khi truyền đi các báo cáo đáng tin cậy và không che giấu bất cứ điều gì với chỉ huy của mình.  Họ cần sử dụng sự quyến rũ cá nhân mà không cần tạo ra các kết nối cá nhân ”.

 Và luôn có câu hỏi về động lực: Tại sao đàn ông hay phụ nữ lại muốn một trong những công việc nguy hiểm nhất trên thế giới?  “Có hai nhóm chiến binh,” Kfir nói.  “Một người đến từ hướng tích cực, những người đang tiến tới điều gì đó.  Nhóm thứ hai đến từ hướng tiêu cực, những người đang rời xa điều gì đó.  Những người theo hướng tích cực không gặp khó khăn trong việc kiếm sống và họ không có những người vợ không hiểu họ.  Họ đến với cơ quan để phục vụ chủ nghĩa Phục quốc và tìm cách thỏa mãn tinh thần phiêu lưu của mình;  họ muốn nhìn thế giới, chơi hết mình vì họ thích trò chơi.  Những người đến từ hướng tiêu cực — họ đang trốn chạy điều gì đó, những người không thích ngôi nhà của mình, những người không thành công trong sự nghiệp dân sự.  Họ là những người đang cố gắng tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình ”.

 Mossad có cả hai loại chiến binh, tích cực và tiêu cực.  Những lý do khiến họ rời bỏ cuộc sống cũ không quan trọng bằng khả năng hoạt động hoàn toàn cô lập ở một đất nước thù địch, dưới một danh tính hoàn toàn khác.  Kfir nói: “Bạn vừa là một người lính vừa là một vị tướng.  “Đó là một gánh nặng, nặng cả về tinh thần lẫn trí tuệ.”

 Với hy vọng tìm ra cách để giảm bớt hoặc ít nhất là giảm nhẹ gánh nặng đó, Harari cũng đã khởi xướng một chương trình tuyển dụng đặc biệt đầy tham vọng khác.  “Tôi nghe nói rằng KGB đã từng nhắm đến trẻ mồ côi, những người không có bất kỳ kết nối hạn chế nào, ở độ tuổi mười ba hoặc mười bốn, đã nhận chúng vào cánh của mình và huấn luyện chúng trong những điều kiện tốt nhất có thể để trở thành các đặc nhiệm hoạt động dưới vỏ bọc.  Tôi đã nghĩ đó là một ý kiến ​​hay ”.  Ông ta nhờ nhà tâm lý học của Caesarea tìm một cậu bé người Israel mười bốn tuổi không có cha mẹ, và Caesarea đã đưa cậu bé về dưới cánh của nó, mà  không biết ai hiện đang chăm sóc cậu ta.  Một nhà tâm lý học và hai gia sư liên tục theo dõi cậu ta, và cậu ta đã được cung cấp một nền giáo dục xuất sắc, các lớp bổ túc về nghệ thuật và văn hóa, và thời gian cho thể thao và giải trí.  Harari nói: “Chúng tôi nói với cậu ấy rằng chúng tôi muốn cậu ấy phục vụ đất nước khi cậu ấy lớn lên.

 Tất cả các chi phí chuẩn bị và đào luyện đã hoàn thành.  Cậu bé trở thành một người lính và sau đó là một sĩ quan trẻ tài năng, có văn hóa cao và có khả năng hoạt động dưới vỏ bọc là một người nước ngoài.  Nhưng toàn bộ dự án đã thất bại.  “Tôi thấy rõ rằng dự án có thể hoạt động hiệu quả tại một quốc gia độc tài như Nga, nhưng không ở Israel.  Người Do Thái Israel không có tính kiên trì như vậy, và ngay sau đó anh ta đã muốn có một cô bạn gái, một nghề nghiệp dân sự và một mức lương cao.  Anh ta có thể có nguyện vọng theo những hướng rất khác so với những gì thế giới tình báo có thể đưa ra.  Chúng tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc để cậu ấy đi theo con đường riêng của mình ”.

Các chính sách tuyển dụng khác tỏ ra thành công hơn.  Vì những lý do hoạt động thực tế, Mossad đã thực sự trở thành tổ chức tiên phong ban đầu trong lĩnh vực bình đẳng giới.  Ethan nói: “Đó là một lợi thế rất lớn khi có một phụ nữ của đội đồng hành trong một chiến dịch.  “Một đội bao gồm các thành viên của cả hai giới… luôn cung cấp một vỏ bọc tốt hơn và giảm bớt sự nghi ngờ.”

Nếu những người được tuyển dụng vượt qua được giai đoạn sàng lọc ban đầu, thì họ sẽ bắt đầu “khóa học dành cho nhân viên”.  Hầu hết các học viên Caesarea không bao giờ đến thăm trụ sở Mossad trong quá trình đào tạo của họ và không có liên hệ với các học viên khác.  Họ được tiếp xúc với càng ít thông tin càng tốt để họ sẽ ít tiết lộ nếu bị bắt và tra tấn.  Trong quá trình đào tạo, cơ sở căn cứ của họ là một trong số các căn hộ ở Tel Aviv, để họ không phải tiếp xúc với các nhân viên Mossad thường xuyên đến làm việc tại trụ sở mỗi ngày.

 Các học viên được đào tạo trong một loạt các lĩnh vực của nghề gián điệp — truyền mã Morse được mã hóa (cho đến khi sự phát triển công nghệ khiến cho phương thức thông tin liên lạc này lỗi thời), giám sát, cắt đuôi, sử dụng vũ khí và đánh đấm tay đôi.  Họ cũng nghiên cứu về địa lý, chính trị và lịch sử của các quốc gia Ả Rập.  Các kỹ năng được rèn giũa trong một loạt các nhiệm vụ thực hành  gần như hoàn toàn trên đất Israel, và thường là tầm thường: cắm thiết bị nghe vào điện thoại trong hành lang ngân hàng, thu hồi các tài liệu vô thưởng vô phạt, đột nhập vào nhà hoặc doanh nghiệp chỉ để chứng minh mình là người được tuyển dụng có kỹ năng.

 Việc tạo ra một vỏ bọc công phu vượt xa một cái tên giả.  Người được tuyển dụng dự kiến ​​phải tìm hiểu một tiểu sử hoàn toàn mới, hư cấu: nơi anh ta sinh ra và lớn lên, cha mẹ anh ta là ai, nền tảng xã hội, văn hóa và kinh tế nơi anh ta lớn lên, sở thích của anh ta, v.v.  Hộ chiếu do quốc gia căn cứ thân thiện cấp — hoặc do Mossad giả mạo — sẽ cho phép chiến binh đi lại tự do, ngay cả đến những quốc gia không thừa nhận người Israel.  Trong khi đó, nghề đóng  giả thường là nghề đòi hỏi phải đi lại nước ngoài thường xuyên và dành nhiều thời gian làm việc một mình, không có đối tác, văn phòng hoặc giờ làm việc bình thường.  Ví dụ, một phóng viên báo chí hoặc một nhiếp ảnh gia, hoặc một nhà biên kịch đang nghiên cứu kịch bản phim đều hoạt động hiệu quả tốt, bởi vì không nghề nào cần giải thích nhiều.

 Vỏ bọc, được đúc khuôn theo thời gian, khiến người tuyển dụng xa rời con người thật của mình  và mang đến cho anh ta một cuộc sống mới ở một đất nước mới không gây nghi ngờ gì.  Tiếp theo, những người được tuyển dụng thực hành tạo vỏ bọc cấp hai cụ thể cho các tình huống cá nhân.  Một chiến binh cần có khả năng giải thích chính xác lý do tại sao anh ta lại ở một địa điểm cụ thể vào một thời điểm cụ thể — ví dụ như nán lại bên ngoài một bộ chính phủ, theo dõi bao nhiêu người đến và đi — nếu bị một sĩ quan cảnh sát tò mò quấy rầy.  Để có thể tin được, lời giải thích đó cần được đưa ra một cách nhanh chóng, bình tĩnh và càng ít chi tiết càng tốt;  cung cấp quá nhiều thông tin có thể khơi dậy sự nghi ngờ một cách dễ dàng như không giải thích gì cả.

 Các huấn luyện viên sẽ tăng cường áp lực bằng cách mô phỏng việc bắt giữ và thẩm vấn tàn bạo.  Một chiến binh Caesarea có mật danh Kurtz nói rằng đây là phần khó khăn nhất của khóa học.  “Họ cử chúng tôi từng cặp đến Jerusalem để theo dõi các nhà ngoại giao nước ngoài.  Đó dường như là một nhiệm vụ đơn giản – chỉ cần theo dõi họ và báo cáo, mà không cần thiết lập liên lạc,” anh nói.  “Chúng tôi được trang bị hộ chiếu nước ngoài, và chúng tôi được hướng dẫn là trong mọi trường hợp không được tiết lộ cho bất kỳ ai biết chúng tôi thực sự là ai.  Đột nhiên, không biết từ đâu, ba chiếc xe cảnh sát kéo đến và một vài tên côn đồ khác mặc thường phục lao vào chúng tôi, quật ngã chúng tôi, còng tay và ném chúng tôi vào toa xe.

 “Họ đưa chúng tôi đến cơ sở thẩm vấn Shin Bet ở Khu liên hợp Nga ở Jerusalem.  Chúng tôi đã trải qua ba ngày rưỡi khủng khiếp ở đó, không ngủ, bị còng tay, bịt mắt.  Trong một phần thời gian, chúng tôi bị còng tay vào ghế với cánh tay quặt phía sau ở tư thế căng toàn bộ cơ thể;  một phần thời gian, họ xích chúng tôi lên trần nhà, buộc chúng tôi phải kiễng chân lên.  Trong các cuộc thẩm vấn, cảnh sát và đặc vụ Shin Bet đã đánh chúng tôi và nhổ nước bọt vào mặt chúng tôi.  Tôi nghe nói rằng họ thậm chí còn đi tiểu vào người bi bắt.  Mục đích là để xem ai sẽ chịu được và ai sẽ sống sót với vỏ bọc hàng giả của anh ta ”.  Kurtz đã không khuất phục.  Nếu không thì anh ấy có thể đã bị cắt khỏi chương trình.

Sau khi hoàn thành khóa học, các học viên thành công đủ điều kiện trở thành đặc nhiệm và bắt đầu đi làm nhiệm vụ tại các quốc gia mục tiêu.

Harari đưa kỷ luật sắt vào Caesarea và yêu cầu phải tuân thủ tuyệt đối.  Bất cứ ai không đi theo con đường mà ông ta đã vạch ra sẽ thấy mình ngay lập tức bị gạt ra rìa.  Các văn phòng của cơ quan, trên tầng 11 của số 2 Đường Kaplan, Tel Aviv, được vận hành một cách yên tĩnh và có trật tự mẫu mực.  Ethan nói: “Mike đã mang bầu không khí châu Âu đến Caesarea.  “Lời ăn tiếng nói, sự tinh tế,  phong cách lịch sự,  cách cư xử có văn hóa.  Văn phòng của ông ấy luôn sạch sẽ và gọn gàng, chỉn chu, và ông ấy cũng vậy, trong cách cư xử và lối ăn mặc.  Ông ấy luôn chải chuốt, cạo râu sạch sẽ, với mùi hương của loại nước hoa Macassar Pháp yêu thích đi theo ông ấy khắp nơi.  Điều này rất quan trọng, bởi vì ông ấy muốn làm cho cả đơn vị quen với cách  làm việc trong bầu không khí các quốc gia mà chúng tôi sẽ đóng vai là đã đến từ đó ”.

“Tình báo tốt và một Caesarea mạnh mẽ rất tốn kém,” Harari nói với Amit.  Ông ấy yêu cầu ngân sách ngày càng lớn hơn, để chi cho công tác đào tạo nhân sự và cho việc hình thành ngày càng nhiều các khuôn khổ và mạng lưới hoạt động.  Người của Harari đã mở hàng trăm công ty thương mại ở vô số lĩnh vực và quốc gia, những công ty này sẽ phục vụ Mossad trong nhiều năm sau khi ông rời đi.  Hầu hết chúng không có giá trị sử dụng ngay lập tức, nhưng Harari có tầm nhìn xa để thấy rằng một ngày nào đó sẽ có lợi cho Caesarea khi kiểm soát một công ty vận tải biển ở một quốc gia Trung Đông.  Chắc chắn, đã có lúc đơn vị cần một tàu vận tải dân sự để yểm trợ cho đội Mossad ở vùng biển ngoài khơi Yemen.  Đơn vị Mossad chất những gói thịt lên một chiếc tàu, vận chuyển nó từ nơi này đến nơi khác trong khi bí mật thực hiện nhiệm vụ gián điệp của mình.

 Vào năm 1967, những thay đổi của Harari bắt đầu tạo ra những kết quả đáng chú ý và các đặc nhiệm Caesarea ở các quốc gia mục tiêu đang truyền thông tin có giá trị về cho Israel hàng ngày, chủ yếu liên quan đến các đối thủ chính của Israel vào thời điểm đó: Syria, Ai Cập, Jordan và Iraq.

 Mossad, AMAN và chính phủ đã phân bổ chính đáng nhiều nguồn lực để chuẩn bị cho cuộc đối đầu quân sự tiếp theo với các quốc gia Ả Rập, thực sự đã kết thúc vào tháng 6 năm đó.

 Tuy nhiên, tình báo Israel đã không phát hiện ra thách thức lớn tiếp theo: hàng triệu người Palestine sẵn sàng chiến đấu để giành lại đất mẹ.  Một làn sóng khủng bố của người Palestine chống lại người Israel và những người Do Thái khác sẽ sớm quét qua Trung Đông và châu Âu.

 Harari nói: “Chúng tôi chưa sẵn sàng cho mối đe dọa mới này.


Tổng thống Ai Cập Nasser  (trái) và Vua Jordan Hussein (phải) trong hội nghị thượng đỉnh Casablanca 1965 nơi đối thoại của họ bị Mossad ghi âm.

Thủ tướng Eshkol (thứ tư từ trái qua, đội mũ đen, thắt cà vạt), xếp Mossad Amit (ở giữa, đang cười) và cựu giám đốc Mossad Harel (thứ ba từ bên phải).

Eli Cohen, bị treo cổ tại Damascus, thủ đô Syria

Mike Harari, người điều hành Caesarea 15 năm, có tầm ảnh hưởng lớn đến các hoạt động giết người có mục tiêu và phá hoại của cơ quan Mossad, đang trong thời gian chuẩn bị chiến dịch Mùa xuân Tuổi trẻ.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s