Kinh Dịch, đôi điều chưa biết – Phần 2

Đỗ Ngọc Giao

25-Aug-2022

2.   Nguồn gốc kinh Dịch

Tài liệu trích dẫn: Vandermeersch.[1]

Hiện vật khảo cổ cho thấy bên xứ Tàu trước công nguyên (before the common era, viết tắt ‘BCE’) đã có những kiểu bói lần lượt như sau (hình 1).

Hình 1

Hình 1a – Bói xương thú ở thời đồ đá (neolithic proto-scapulomancy): lấy một miếng xương chả vai, nung nóng mấy chỗ ở mặt bên này để tạo ra những đường nứt hình ngôi sao ở mặt bên kia, rồi theo đường nứt mà bói.

Hình 1b – Bói yếm rùa (plastron) ở thời trào Ân (thế kỷ 14–11 BCE): lấy một tấm yếm dưới bụng rùa, đục lỗ nung nóng mấy chỗ ở mặt bên này để tạo ra những đường nứt hình chữ T ở mặt bên kia, rồi theo đường nứt mà bói.

Hình 1c – Bói quẻ (proto-achilleomancy) cuối thời trào Ân qua đầu trào Châu (thế kỷ 11–10 BCE): lấy một mớ cây đũa hoặc nhánh cỏ để gieo ra ‘quẻ’, mỗi quẻ là một chuỗi số, mỗi số là một kiểu đường nứt của cách bói yếm rùa, và lời bói cũng lấy từ cách đó (trong hình là hai quẻ ghi trên một tấm xương, quẻ bên trái đọc từ dưới lên: 1-6-6-6-6-1, quẻ bên phải đọc từ dưới lên: 6-1-1-8-6-6).

Hình 1d – Bói quẻ số (numerical achilleomancy) giữa thiên niên kỷ 1 BCE: vẫn là gieo quẻ, với cách thức ắt là có đổi mới chút xíu (trong hình là hai quẻ, quẻ bên trái đọc từ dưới lên: 9-7-6-6-7-8, quẻ bên phải đọc từ dưới lên: 8-7-7-7-7-8).

Hình 1e – Bói quẻ Dịch (canonical achilleomancy) từ cuối thiên niên kỷ 1 BCE: quẻ gồm các hào âm (vạch đứt) và hào dương (vạch liền) xếp chồng lên nhau theo một ‘thuật toán’ (algorithm) đã biết.

Hình 2 cho thấy rõ hơn cách bói yếm rùa qua hai thí dụ.

Hình 2

Thí dụ 1: Muốn biết có nên gặt [lúa] hay không.

  • Hình 2a: Đục lỗ nung nóng một bên tấm yếm để tạo ra những đường nứt hình chữ T ở mặt bên kia.
  • Hình 2b: Đánh số các đường nứt theo những kiểu đường nứt đã biết, và được 4 dãy số: bên phải là một dãy 10 số và một dãy 9 số, bên trái là hai dãy mỗi dãy 9 số. Dựa theo dãy số bên phải coi như ‘điềm tốt’ và dãy số bên trái coi như ‘điềm xấu’, bắt đầu bói.
  • Hình 2a: ghi điều bói lên mặt bên kia ngay giữa tấm yếm: nên gặt.

Thí dụ 2: Muốn biết họ Ban có gặp họa hay không.

  • Hình 2c: Sau khi có một dãy 7 số bên phải và một dãy 6 số bên trái, thì bắt đầu bói, rồi ghi điều bói lên mặt bên kia tấm yếm [mà ở đây không vẽ lại]: vô sự.

Bên dưới, hình 3a cho thấy hai quẻ số, đục trên một miếng đá mài, tìm thấy năm 1982 trong một ngôi mộ thời trào Ân, và hình 3b cho thấy ba quẻ Dịch trong bổn kinh ở Mawangdui mà hào âm được viết như chữ ‘bát’ (số 8) chớ không phải vạch đứt.

Hình 3

Tới đây ta học được hai điều:

  1. Cái gốc xưa nhứt của quẻ Dịch chính là quẻ số đã có từ cuối thời trào Ân sang đầu trào Châu (hình 1c), khi người ta bắt đầu xủ quẻ để khỏi phải làm cái việc bực mình là đục lỗ nung nóng yếm rùa hoặc xương thú (‘người ta’ ở đây không phải ‘người Tàu’).
  2. Lời kinh thì đã có từ thời trào Ân, khi người ta bắt đầu ghi lại lời bói trên yếm rùa hoặc xương thú (hình 2) và giữ lại làm ‘tài liệu tham khảo’. Đó chính là ‘cơ sở dữ liệu’ để giới bốc sư sau này lấy ra lời bói gán cho những quẻ Dịch – tất nhiên họ có chọn lọc, thêm bớt, sửa đổi dữ liệu theo cách nào mà họ cho là trúng.

Waley (1889–1966), học giả người Anh, cho rằng,[2]

  • lời kinh có lẽ đã bị cắt khúc rồi đem từ chỗ này sang chỗ nọ nhiều lần mới được cuốn kinh như ta biết ngày nay,
  • trong kinh có pha trộn lời đoán của 4 cách bói: (1) đường nứt trên yếm rùa, (2) xủ quẻ bằng nhánh cỏ, (3) kinh nghiệm dân gian (4) thẻ xăm (divining tablets).

Bởi vậy, ta cần chấp nhận rằng, sau gần ba ngàn năm, người thời nay khó mà hiểu được hết mọi lời kinh như giới bốc sư của thời đồ đồng ngày xưa đã hiểu, nếu không muốn nói là người thời nay không sao hiểu nổi.

3.   Giữa trưa thấy sao

‘Phong’ 豐 (Chấn trên, Ly dưới) là tên gọi quẻ số 55 trong bổn truyền. ‘Phong’ có nghĩa đen hay dùng là ‘phong phú’, thạnh vượng’, ‘xum xê’. Lời kinh như sau.[3]

豐 亨。王假之。勿憂。宜日中。

初九 遇其配主。雖旬无咎。往有尚。

六二 豐其蔀。日中見斗。往得疑疾。有孚發若。吉。

九三 豐其沛。日中見沬。折其右肱。无咎。

九四 豐其蔀。日中見斗。遇其夷主。吉。

六五 來章。有慶譽吉。

上六 豐其屋。蔀其家。闚其戶。闃其无人。三歲不覿。凶。

Dưới đây là bổn dịch lời thoán và các hào 1–5 của Nguyễn Hiến Lê (1912–1984),[4] riêng hào 6 lấy theo Richard Wilhelm (1873–1930).[5]

  • Thoán: Hanh thông. Bậc vương giả tới được. Đừng lo. Nên giữ đạo trung như mặt trời đứng giữa trời.
  • Hào 1: Gặp được người chủ hợp với mình. Tuy ngang nhau nhưng không có lỗi. Tiến đi thì có công nghiệp đáng khen.
  • Hào 2: Bị màn che lớn dày quá. Như ban ngày mà thấy sao Bắc Đẩu. Tiến đi thì bị ngờ và ghét. Cứ lấy lòng chí thành mà cảm hoá được người trên thì tốt.
  • Hào 3: Bị màn che kín mít. Ban ngày mà thấy sao nhỏ. Gãy cánh tay phải. Không có lỗi.
  • Hào 4: Bị màn che lớn dày quá. Như ban ngày mà thấy sao Bắc Ðẩu. Gặp được bạn bằng vai vế. Tốt.
  • Hào 5: Mời những nhân tài giúp mình thì được phúc. Có tiếng khen, tốt.
  • Hào 6: Nhà rộng. Tách người thân khỏi nhà. Dòm qua cổng chẳng còn thấy ai. Ba năm trời chẳng thấy gì. Hung. (His house is in a state of abundance. He screens off his family. He peers through the gate and no longer perceives anyone. For three years he sees nothing. Misfortune.)

Ta thấy nếu bỏ ra mấy ý dễ hiểu để bói, thí dụ: không có lỗi, hung,… thì lời kinh còn những ý khác không sao hiểu nổi, thí dụ:

  • Gãy cánh tay phải: Ai bị gãy? Vì sao bị gãy?
  • Màn che: Màn gì che mà ban ngày thấy sao này sao nọ?

Những ý đó, hồi xưa giới bốc sư muốn nói gì?

Marshall[6] cho rằng:

  • ‘Màn che kín mít, ban ngày thấy sao’ có ý muốn nói hiện tượng ‘total solar eclipse’ (nhựt thực toàn phần) xảy ra ngày 20 tháng 6 năm 1070 BCE. (Trong khi mặt trời bị che kín thì người ta có thể trông thấy sao trên bầu trời nếu sao sáng hơn một mức nào đó.)
  • ‘Phong’, tên quẻ, là tên của một cái thành mà ở đó quân nhà Châu trông thấy nhựt thực, khi bầu trời bên trên thành tối thui giống như bị một cái màn minh mông che kín.

Có thể là như vậy. Mà cũng có thể không phải như vậy.


Chú thích: 

[1] Vandermeersch Léon. Origine et évolution de l’achilléomancie Chinoise. In: Comptes rendus des séances de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, 134ᵉ année, N. 4, 1990. pp. 949-963; doi : https://doi.org/10.3406/crai.1990.14929, https://www.persee.fr/doc/crai_0065-0536_1990_num_134_4_14929

[2] Arthur Waley, The Book of Changes, in The Museum of Far Eastern Antiquities Bulletin no 5 (1933).

[3] 1935 Harvard-Yenching Zhouyi, https://www.biroco.com/yijing/zhouyi.htm

[4] Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – đạo của người quân tử.

[5] http://www2.unipr.it/~deyoung/I_Ching_Wilhelm_Translation.html#55

[6] S. J. Marshall (2001) The mandate of heaven,

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s