Vị thế Địa-Quân Sự, Địa- Chiến lược của Nghệ An trong sự nghiệp giữ nước thời phong kiến

1

Núi non – sông Lam ở xứ Nghệ

 Nguyễn Tài Văn

Năm 905, Khúc Thừa Dụ dựng nền tự chủ, chấm dứt thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc trong lịch sử dân tộc, đất nước bước vào thời kỳ độc lập, từng bước xây dựng, phát triển chế độ phong kiến. Nhà Đinh, Tiền Lê đều gọi xứ Nghệ là Hoan Châu. Sang thời Lý đổi làm trại, năm 1030[1], đời vua Lý Thái Tông gọi là Nghệ An – danh xưng Nghệ An bắt đầu từ thời điểm này.

Xuyên suốt thời kỳ phong kiến, quốc gia Đại Cồ Việt – Đại Việt – Đại Nam phải tiến hành hàng loạt các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, khởi nghĩa, nội chiến kéo dài. Trong những cuộc chiến này, Nghệ An luôn nổi bật lên vị thế địa – quân sự, địa – chiến lược của mình.

Hai cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, thời Lý, Nghệ An là hậu phương lớn, cung cấp nhiều chiến tướng, binh sỹ, của cải vật chất cho triều đình dẹp nạn ngoại xâm. Đến nhà Trần, ba lần kháng chiến thắng lợi chống quân Mông – Nguyên vang dội cả Châu Á đều có những đóng góp xứng đáng của người xứ Nghệ.

Đặc biệt, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần 2 (1285) vua tôi nhà Trần phải đối mặt với cuộc quyết chiến không cân sức với 50 vạn quân của Hốt Tất Liệt. Khi rút về Thanh hóa (3/1858), nhà Trần rơi vào tình thế hiểm nguy nhất về vận mệnh nước nhà. Lúc này, vua Trần Nhân Tông đặt tất cả niềm tin vào đội quân hậu bị Nghệ An, đúng hơn là tin tưởng vào căn cứ địa quân sự – chiến lược của đất xứ Nghệ. Vua căn dặn, chấn chỉnh khí thế đánh giặc của nghĩa quân:

                                     “Cối Kê cựu sự quân tu ký,

                                  Hoan – Diễn do tồn thập vạn binh.”[2]

                                  (Chuyện cũ Cối Kê[3] người nên nhớ

                                 Hoan – Diễn vẫn còn muôn vạn quân).

Vùng đất Sông Lam – núi Hồng sản sinh biết bao anh hùng, liệt nữ, danh tướng, trung thần cùng hàng nghìn, hàng vạn quân dân đã chiến đấu, hy sinh trong sự nghiệp lật đổ ách thống trị phong kiến phương Bắc, bảo vệ nền độc lập tự chủ. Lời căn dặn của vua Trần ở thời điểm lịch sử đặc biệt ấy đã đặt tất cả trách nhiệm cứu nguy dân tộc lên vùng đất Nghệ An, lên vai quân dân xứ Nghệ. Sâu xa hơn, nhà Trần còn có tính toán chiến lược về diễn biến cuộc chiến, khi tình thế nguy cấp ở Thanh Hóa, nghĩa quân sẽ chuyển vào Nghệ An – lấy vùng đất làm căn cứ quân sự, căn cứ chiến lược để quyết chiến lâu dài với giặc Nguyên. Bởi vậy, Nghệ An trong con mắt quân sự của ba quân tướng sĩ nhà Trần là căn cứ địa vững chắc cho cuộc kháng chiến sống mái với giặc. Vùng đất Nghệ An thời nhà Trần là “chốn hy vọng của thời loạn”, của những lúc hiểm nghèo, nguy cấp.

Quân dân xứ Nghệ đã góp phần chặn đứng một hướng tiến công từ Nam ra Bắc của giặc. Chủ tướng giặc Toa Đô phải bỏ Nghệ An, rút quân ra Thanh Hóa. Cuộc chiến này còn ghi nhận công lao danh tướng Hoàng Tá Thốn chặn giặc ở ven biển, có khả năng lặn lâu để đục thủng thuyền giặc[4].

Đến cuộc kháng chiến chống quân Minh thời nhà Hồ (1405 – 1407), ngoài Thanh Hóa với thành Tây Đô, vua Hồ Quý Ly chọn Nghệ An làm căn cứ địa kháng chiến. Nhà Hồ huy động quân dân xây dựng nhiều thành trì chống giặc, điển hình là thành Bàu Đột ở Quỳnh Lưu, thành Hồ Vương trên núi Đại Huệ. Nghệ An được Hồ Vương chọn xây thành với hy vọng vừa làm hậu phương, vừa làm căn cứ chống giặc lâu dài ở phía Nam.

Khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng (1407 – 1413), sau chiến thắng Bô Cô ở Ninh Bình, nội bộ nghĩa quân bất hòa, Trần Quý Khoáng chọn Nghệ An làm nơi lập căn cứ, được nhân dân nơi đây hết lòng ủng hộ, tôn lên làm vua, hiệu Trần Trùng Quang. Tiếp đó, nghĩa quân nhà Hậu Trần cùng quân dân xứ Nghệ chiến đấu nhiều trận lớn nhỏ quyết tử với giặc.

Trong khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427), sau hội thề Lũng Nhai năm 1416, tết Mật Tuất 1418, nghĩa quân Lê Lợi làm lễ tế cờ mở đầu cuộc đấu tranh chống quân Minh. Bảy năm dựng cờ khởi nghĩa (1418 – 1424), phải trải quan muôn vàn gian khó, thử thách, tuy chiến đấu dũng cảm nhưng nghĩa quân chưa giành được thắng lợi lớn để củng cố, nâng cao thế và lực của nghĩa quân. Trước tình thế nguy cấp, Lê Lợi quyết định dốc toàn bộ lực lượng đánh phá mở đường chuyển quân từ Thanh Hóa vào Nghệ An sau khi được tướng Nguyễn Chích hiến kế chiến lược: “Nghệ An là nơi hiểm yếu… trước hết thu lấy Trà Long , chiếm giữ cho được Nghệ An để làm đất đứng chân, rồi dựa vào sức người và của cải ở đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”[5].

Khi vào đất Nghệ, khởi nghĩa Lam Sơn bước sang một trang mới với những chiến thắng vang dội, thanh, thế, lực của nghĩa quân được nâng lên rõ rệt. Tháng 10/1924, vừa Nam tiến vào xứ Nghệ, bằng chiến thuật đánh bí mật, bất ngờ, nghĩa quân giành chiến thắng vang dội với “Trận Bồ Đằng sấm vang chợp dật”[6]. Trận này đã loại bỏ hơn hai nghìn giặc Minh, buộc chúng bỏ chạy về thành Trà Long và thành Nghệ An.

Trên con đường Nam tiến vào Nghệ An, trận Đa Căng, đặc biệt là trận Bồ Đằng đưa nghĩa quân phát triển lực lượng rất nhanh. Thực hiện chiến lược bàn đạp của Nguyễn Chích: “trước hết thu lấy Trà Long, chiếm giữ cho được Nghệ An để làm đất đứng chân”, rồi mới tính chuyện dẹp yên thiên hạ, quân Lam Sơn bồi tiếp cho địch những đòn chí tử tại vùng Trà Long thuộc miền Tây Nghệ An. Tại đây, nghĩa quân nhanh chóng hạ thành Trà Long với khí thế đánh giặc “Trúc chẻ tro bay”[7]. Hai chiến thắng vang dội này trên đất Nghệ An tạo bàn đạp vững chắc cho toàn quân tiến lên hạ thành Nghệ An, làm chủ Tân Bình, Thuận hóa ở phía Nam rồi thẳng tiến ra Bắc loại bỏ nốt đám tàn quân còn lại của nhà Minh.

Rõ ràng, cuộc chuyển quân lịch sử vào Nghệ An đã đưa cuộc khởi nghĩa sang giai đoạn mới – giai đoạn chiến thắng dồn dập. Điều này chứng minh vị thế địa – chiến lược, địa – quân sự của Nghệ An đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hết sức quan trọng, có thể mang tính quyết định đến thắng bại của cuộc khởi nghĩa.

Cuộc chiến Lê – Mạc (1527 – 1540), Nghệ An là một căn cứ quan trọng chống Mạc của tướng nhà Lê là Nguyễn Quyện, Nguyễn Cảnh Mô. Thời Lê Trung Hưng coi “Nghệ An là đất nền móng trong cuộc trung hưng của bản triều”.

Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627 – 1672), hai bên liều chết đánh chiếm cho được vùng sông Lam. Chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều xác định phải đứng vững trên đất Nghệ An mới đẩy được đối phương lùi xa về địa giới chúng. Đất Nghệ là căn cứ địa quân sự quan trọng nên lưu vực sông Lam trở thành chiến trường đổ lửa, giao tranh quyết liệt giữa hai bên.

Trước khi triều Lê Trung Hưng sụp đổ, lịch sử còn ghi nhận cuộc khởi nghĩa của ông Hoàng áo đỏ Lê Duy Mật trên đất Nghệ kéo dài hơn 30 năm (1738 – 1769). Với ngọn cờ phù Lê diệt Mạc, ông Hoàng Mật lấy Nghệ An làm căn cứ khởi nghĩa, xây dựng hàng loạt các thành trì: Căn Đồn, Pù Piệt, Hoa Quân, Mường Mật…[8]

Năm 1786, sau khi lật đổ họ Trịnh, giao quyền cho vua Lê ở Bắc hà, Nguyễn Huệ rút toàn bộ quân về phía Nam những vẫn giữ quyền lực ở Nghệ An. Trong đôi mắt chiến lược của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, nếu không nắm thực quyền ở đất Nghệ thì ở miền Bắc có động tĩnh gì họ không có chỗ dựa để tiến ra giải quyết ngay. Sau này, trên đường hành quân thần tốc ra Bắc đại phá quân Thanh (1789), Quang Trung – Nguyễn Huệ đã dừng chân trên đất Nghệ để tuyển thêm tướng sĩ. Chỉ trong thời gian ngắn, quân sĩ đã tăng lên hơn 10 vạn quân. Vua chọn núi Đại Tuệ (sau được chính vua đổi tên Đại Huệ)[9] làm nơi tập trận, luyện binh với di tích Thạch ngai ở chùa Đại Tuệ.

Vị thế địa – quân sự, địa – chiến lược, địa – chính trị ở Nghệ An còn được khẳng định với công cuộc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô của vua Quang Trung. Trong chiến lược dựng nước, giữ nước, cải cách của mình, Vua đã xúc tiến xây dựng Phượng Hoàng thành, chuẩn bị công cuộc dời kinh đô từ Phú Xuân về Nghệ An. Tiếc rằng, cơ nghiệp đang dang dở thì vua đột nhiên băng hà năm 1792.

Năm 1801, khi lật đổ nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh chưa lên ngôi ngay mà phải đợi đến khi chiếm được Nghệ An xong. Một thời gian ngắn sau khi lấy được đất Nghệ, ông nhanh chóng chiếm được Thăng Long (7/1802). Lên ngôi chưa được lâu, vua Gia Long gấp rút xây thành Nghệ An từ năm 1804. Điều này chứng tỏ vị thế địa – chiến lược ở đây rất quan trọng.

Đến cuối thê kỷ XIX, Nghệ An cũng là tỉnh cuối cùng người Pháp đổ bộ đến đánh chiếm sau khi nhà Nguyễn đầu hàng. Trước đó, ở Nghệ An lừng lẫy với cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) với khí thế “phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”.

Như vậy, xuyên suốt thời phong kiến Việt Nam, Nghệ An luôn chứng tỏ vị thế địa – chiến lược, địa – quân sự hết sức quan trọng của biết bao cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, khởi nghĩa yêu nước, nội chiến… xứ Nghệ vừa có địa lợi hiểm trở, lại vừa có yếu tố nhân hòa, nhân kiệt. Đúng với nhận định của Phan Huy Chú: Nghệ An “Thực là nơi hiểm yếu như thành đồng ao nóng của nước và là then chốt của các triều đại”[10].

Lùi về thời chống Bắc thuộc, khởi nghĩa Mai Thúc Loan (713 – 723) bùng nổ ở Nam Đường, vua đã dựng đại bản doanh Vạn An làm căn cứ địa kháng chiến lâu dài. Sang thế kỷ IX, Nghệ An lại tiếp tục trở thành căn cứ khởi nghĩa do Dương Thanh lãnh đạo.

Tiến đến thời hiện đại, xứ Nghệ là một trong những hậu phương lớn, là bàn đạp vững chắc chi viện sức người, sức của cho chiến trường Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống Mỹ, Quân ủy Trung ương quyết định chọn vùng Tân Kỳ – Nghệ  để bổ những nhát cuốc đầu tiên (Km số 0) mở con đường chiến lược Trường sơn – đường Hồ Chí Minh.

2

Núi Hùng Sơn và khu mộ vua Mai Hắc Đế

3

Toàn cảnh trên núi Dũng Quyết và đền thờ Hoàng đế Quang Trung


 

 Chú thích:

[1] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục, 2007, Tr. 72.

[2] Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Đại Việt Sử ký toàn thư, Tập II, Nxb KHXH, 1998, Tr. 51.

[3] Điển tích Trung Hoa: Thời Chiến Quốc, vua Câu Tiễn nước Việt đánh nhau với nước Ngô,thất bại thảm hại lui giữ Cối Kê, sau đánh bại Ngô vương Phù Sai, không chỉ khôi phục giang sơn mà còn chiếm luôn nước Ngô.

[4] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1930 – 1954), tập 1, Nxb Nghệ An, 2019, Tr. 21.

[5] Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, 2001, Tr. 289 – 290.

[6] Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại cáo.

[7] Nguyễn Trãi, sdd.

[8] Ninh Viết Giao, Nghệ An đất phát nhân tài, Nxb Trẻ, 2006, Tr. 186.

[9] Ninh Viết Giao, sdd, Tr. 206.

[10] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb KHXH, Tr. 62.

One thought on “Vị thế Địa-Quân Sự, Địa- Chiến lược của Nghệ An trong sự nghiệp giữ nước thời phong kiến

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s