Bia Ma Nhai chùa Hương Nghiêm nhiều chỉ dẫn lịch sử

IMG_6435

Ảnh Tác giả thực địa khảo sát Bia ký

Phí Văn Chiến

Chùa Hương Nghiêm (Hương Nham hay chùa Hang) nằm trong lòng núi đá, trên đường ra bến phà Bình Ca chừng 4 km, thuộc xã An Khang, chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh năm 2007.

Đầu thế kỷ 19 chùa thuộc địa bàn xã Đông Thủy thuộc tổng Hằng Túc, huyện Phúc Yên, phủ Yên Bình, xứ Tuyên Quang. Cuối thế kỷ 19 xã Đông Thủy được đổi thành xã Thúc Thủy thuộc tổng Thường Túc, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sang đầu thế kỷ 20 xã Thúc Thủy lại thuộc tổng Thường Túc, huyện Yên Sơn, xã Thúc Thủy lúc này gồm các thôn Soi Giuộc, Trường Thi, An Lộc, Thúc Thủy và hai đồn điền của người Pháp,  chùa lúc này nằm trong địa bàn thôn Trường Thi của xã Thúc Thủy.

Năm 1946 xã Thúc Thủy đổi tên thành xã An Khang, huyện Yên Sơn. Năm 2008 xã An Khang sáp nhập vào thị xã Tuyên Quang, đến 2010 thuộc TP Tuyên Quang. Chùa Hang hay chùa Hương Nghiêm ngày nay thuộc thôn Phúc Lộc, xã An Khang, TP Tuyên Quang.

Theo tấm bia ma nhai khắc trên vách đá bên trái cửa hang vào chùa gọi là “Hương Nham tự bi” đã được in trong  sách “Văn bia thời Mạc” của PGS – TS Hán – Nôm là Đinh Khắc Thuân thuộc Viện Hán – Nôm, chùa Hang được hai vị là “Hiến sát sứ Ngô Nghiêm Khê và Hiến sát phó sứ Vũ Trạch Xuyên khai sáng”. Chùa lúc đó nằm trên địa bàn huyện Cảo Sùng, trấn Tuyên Quang, lúc đầu thấy hang rộng nhân dân trong vùng lấy làm chùa. Năm 1537 hai vị Ngô Nghiêm Khê và Vũ Trạch Xuyên “sửa chữa làm mới” rồi khắc bia.

Toàn bộ bài ký trên bia ma nhai khoảng 700 chữ Hán đã được PGS – TS Hán – Nôm Đinh Khắc Thuân dịch ở các trang 94, 95 như sau:

“Bài ký về chùa Hương Nham

Cả huyện Cảo Sùng đều là núi, giữa huyện có một gò núi hơi thấp, nhưng là trung tâm gọi là núi Hương Nham. Trong núi có hang nhũ, đã lâu đời rồi, đó là động Hương Nham. Trước động, có dòng nước uốn quanh như rồng cuộn gọi là Vị giang. Sau động, xe ngựa tấp nập trên đường, đó là đường cái quan. Phía tây động nhà xây san sát, đó là nha môn Đô đường; phía bắc động, tường vây trùng điệp, đó là trụ sở Hiến ty vậy. Giữa động, hương bay ngút trời, ấy là cung Phật vậy.

Sửa cũ làm mới, ngói son lớp lớp. Trước cung phật là nhà thiêu hương 3 gian. Ngày rằm, mồng một, các sãi vãi tấp nập đổ về, các tăng ni cúi đầu tụng niệm. Gặp khi trời đất bất thường, cần cầu tạnh, thì trời trong khí mát; cần xin mưa, thì mưa móc rộng ban. Sự linh ứng của chùa thật khôn lường vậy. Người khai sáng ra chùa là ai? Đó là Hiến sát sứ Ngô Nghiêm Khê và Hiến sát sứ phó Vũ Trạch Xuyên vậy. Bài Minh rằng:

“Động cổ u minh

Hương nhũ ngời ngời

Dựng chùa khắc đá

Bền tựa đất trời.

Ngày 27 tháng 2 năm Đại chính thứ 8 (1537).

 Ngô Hoàng, Tiến sỹ khoa Bính Tuất (1526), chức Triều liệt đại phu Tuyên Quang đẳng xứ, Thanh hình Hiến sát sứ ty, Hiến sát sứ, tước Tu Thận doãn soạn văn bia.

Đỗ Bá  Chiêu chức Thông chương đại phu, Tư chính khanh, Tri phủ phủ Yên Bình viết chữ.

Dựng chùa hai vị là:

– Quan bản ty (2 vị) Ngô Nghiêm Khê, xã Nghiêm Xá, huyện Thượng Phúc và Vũ Hoằng, xã Mộ Trạch, huyện Đường An.

– Viên lại bản ty gồm: Lê Duy

Nhất người xã Hoàng Lưu, huyện Phú Xuyên…”.

Bài ký cho ta thấy chùa Hương Nham rất linh thiêng, đặc biệt càng trở nên linh thiêng khi “trời đất bất thường” khi đó nếu trời mưa “cần cầu tạnh, thì trời trong khí mát; cần xin mưa, thì mưa móc rộng ban” khiến các quan lại trị nhậm vùng Tuyên Quang muốn mưa thuận gió hòa, được mùa lúa khoai, dân no ấm phải đến chùa để cầu đảo thì xã hội mới bình yên.

Năm 1861, TS Nho học Đặng Xuân Bảng quan Tri phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang thời đó, đến thăm chùa, đã viết về chùa trong bài “Tuyên Quang tỉnh phú” như sau: “Động Hương Nham sâu thẳm, buồng Thiền cũng sâu”.

Gần 60 năm sau ngày lập bia, TS Nho học Nguyễn Văn Bân quê ở xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây lên nhận chức Án sát sứ tỉnh Tuyên Quang đã đến chùa vãn cảnh, sau khi về ông đã viết bài “Tuyên Quang phong thổ ký” đăng trên tạp chí Nam Phong số 32, tháng 2 – 1920, in lại trong “Du ký Việt Nam” trong đó có đoạn viết về chùa Hương Nham như sau:

“Chùa Hang ở hữu ngạn sông Lô thuộc xã Thúc Thủy, huyện Yên Sơn, núi đá chót vót, động ở trong núi, thăm thẳm cao đến 10 trượng, trên có một lỗ thông thiên, bên tả lại có cửa hang, do cửa hang ấy ra vin cây và đá thì trèo lên ngọn núi ấy được, dân sở tại lấy động làm chùa, đẽo đá tô tượng, đệ niên ngày 4 tháng Giêng, trên thành phố và dân ở gần đấy nhiều người đi chùa hành hương; ngày thường thời cửa núi mây tỏa, động đá rêu mọc, vì chùa trong núi sâu, không có sư mô trụ trì, toại thành vắng vẻ, nhưng coi đỉnh chùa núi biếc trước mặt sông trong, thắng cảnh như vẽ.

Thường nhân tết trùng cửu rủ anh em đi chơi chùa, có được bài thơ phụ lục để ghi thắng tích:

Coi thử chùa Hang cảnh mới xinh

Sông trong leo lẻo núi xanh xanh,

Mấy tòa cổ phật ai tô đó

Một động thông thiên đá tạc thành

Chim gọi đầu non khua mõ cá

Gió reo hầm núi động chuông kềnh

Hái hoa rót rượu mừng thu tiết

Ngồi trước thuyền quan

nghĩ cũng thanh”…

Đoạn văn của Tiến sỹ Nguyễn Văn Bân viết “Chùa Hang ở hữu ngạn sông Lô thuộc xã Thúc Thủy, huyện Yên Sơn” mở ra cho những người yêu Tuyên Quang, đi tìm tài liệu về Tuyên Quang xưa một điều vô cùng lý thú mà ít người biết đến, đó là, theo sách Kiến Văn Tiểu Lục của nhà Bác học Lê Quý Đôn thì “Giữa niên hiệu Bảo Thái đặt nhà trạm: Từ xã Thúc Thủy, là lỵ sở trấn Tuyên Quang trở lên đến xứ Khe Tham Thổ thuộc các xã Tụ Long, Phấn Vũ, châu Vị Xuyên đường đi gồm 40 ngày…” (Kiến Văn Tiểu lục – Tuyên Quang trang 405 – NXB Văn hóa – Thông tin xb năm 2007).

Theo tài liệu cổ này thì giữa năm 1721 đời vua Lê Dụ Tông hiệu Bảo Thái, thì xã Thúc Thủy (nay thuộc địa bàn xã An Khang) là lỵ sở của trấn Tuyên Quang. Đối chiếu tài liệu này với bia ma nhai chùa Hang viết “Cả huyện Cảo Sùng đều là núi, giữa huyện có một gò núi hơi thấp, nhưng là trung tâm gọi là núi Hương Nham. Trong núi có hang nhũ, đã lâu đời rồi, đó là động Hương Nham. Trước động,  có dòng nước uốn quanh như rồng cuộn gọi là Vị giang. Sau động, xe ngựa tấp nập trên đường, đó là đường cái quan. Phía tây động nhà xây san sát, đó là nha môn Đô đường; phía bắc động, tường vây trùng điệp, đó là trụ sở Hiến ty vậy” giúp ta phát hiện và có thể khẳng định:  Năm 1537 thời kỳ Nam – Bắc triều, lỵ sở của trấn Tuyên Quang đã đặt ở Thúc Thủy nay là xã An Khang thành phố Tuyên QuangLỵ sở này tồn tại từ năm 1537 đến 1722 thời vua Lê Dụ Tông vẫn ở đấy, tức là lỵ sở này tồn tại ở xã Thúc Thủy tới 185 năm. Chứng tỏ Thúc Thủy là vùng đất chứa nhiều vấn đề của lịch sử Tuyên Quang thời Lê.  Nếu Bảo tàng Tuyên Quang tiến hành khảo cổ khu vực này Thúc Thủy sẽ tìm được nhiều thông tin quý báu của thời Lê.

Sinh ra, lớn lên một thời gắn bó với đất An Khang này hồi sơ tán năm 1965, tôi thấy ở An Khang có một xóm gọi là Trường Thi, dân còn gọi là Tràng Thi, đây là một vùng đất bằng phẳng nằm bên cạnh sông Lô, dọc con đường từ Thúc Thủy lên tỉnh lỵ Tuyên Quang thời vua Lê Dụ Tông. Trường Thi hay Tràng Thi, nhắc cho ta nhớ đến một mảnh đất mà nhà Lê khi đó đã mở trường thi để chọn nhân tài phục vụ triều đình. Không biết đây có phải là nơi vua Lê Dụ Tông đã tổ chức thi hương cho xứ Tuyên Quang của nhà Lê thời đó không. Đây cũng là chỉ dấu quan trọng để tìm hiểu về lịch sử của Tuyên Quang, mong được những người có trách nhiệm trong ngành văn hóa Tuyên Quang lưu tâm tìm kiếm.

Thời kháng chiến chống Pháp, do vị trí thuận lợi cả đường bộ và đường sông, tuy nằm gần bến phà Bình Ca, nhưng do nằm sâu trong hang núi bảo đảm được yếu tố bí mật, bất ngờ, chùa Hang được khơi thông và sửa chữa dùng làm nơi cất dấu vũ khí phục vụ chiến đấu. Sang thời chống Mỹ cứu nước, chùa Hang lại được dùng làm nơi cất dấu các nhu yếu phẩm phục vụ các đồng chí lãnh đạo đảng và Nhà nước.

Những năm gần đây, chùa Hương Nham hay Hương Nghiêm đã được trùng tu xây mới có quy mô bề thế hơn trước rất nhiều. Toàn bộ khu vực thờ phụng chính vẫn đặt trong động. Ban Tam bảo với 13 pho tượng tạc bằng đá được đặt trên các bệ thờ. Trên cùng là ba pho tượng Tam thế, hàng thứ hai là tượng A di đà đặt giữa, hai bên là tượng Quan âm bồ tát và Đại thế chí bồ tát. Hàng thứ ba giữa đặt tượng Thích ca, hai bên là tượng An Nam và Ca Diếp. Hàng thứ tư cũng là hàng cuối cùng đặt tượng Quan âm Nam Hải và Văn thù bồ tát.

Bên trái Tam bảo là tượng Đức Thánh Trần, bên phải là tượng Đức ông. Phía sau Tam bảo là nơi thờ Địa tạng vương cũng được tạc bằng đá.

Trong lòng hang, phía bên phải là Ban thờ Mẫu gồm ba pho tượng Tam tòa thánh mẫu; tiếp đến bộ tượng Ngũ vị tôn ông hai bên có tượng cô và tượng cậu.

Trong hang còn có động Sơn trang, lầu thờ quan thế âm bồ tát, ban thờ Trần Hưng Đạo. Điều đặc biệt chú ý là ngay chính giữa lòng hang có một tảng đá hình con thuyền, bên cạnh đó có đặt tượng Quan âm bồ tát ngồi khoanh chân trên tòa sen.

Ngoài sân chùa hiện đặt một pho tượng Niết bàn nằm dài 27 mét, gần đó có gác chuông với quả chuông đồng nặng 1.400 kg.

Từ việc tu bổ, xây dựng mới gần đây, ta thấy chùa Hương Nghiêm hay Hương Nham đã chuyển sang phối thờ như nhiều chùa khác trong vùng, cho thấy nhu cầu văn hóa tâm linh của nhân dân đã thay đổi, chùa cũng thay đổi để phù hợp với cuộc sống đương đại trong xã hội hôm nay.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s