Người La Mã- Phần 1

Phần I

Người La Mã: Chủ Nhân của Thế Giới Cổ Đại

1

Guy de la Bedoyere

Trần Quang Nghĩa dịch

Trong phần này . . .

La Mã khởi đầu chỉ là một ngôi làng không hơn không kém, nhưng người La Mã và Đế chế của mình trở thành một trong những nền văn minh cổ đại quan trọng nhất __ cũng có thể là nền văn minh cổ đại quan trọng nhất. Người La Mã có những đóng góp lớn lao vào quan niệm về quyền lực, luật pháp và trật tự, và tư tưởng chính trị có ảnh hưởng về phương diện nào đó đến mỗi xứ sở tồn tại từ đó. Còn nữa, người La Mã đã sáng chế ra chữ viết mà tôi đang viết bây giờ, và chế định ra cấu trúc về đô thị như là nơi mà con người sống quần tụ và nhận được những loại dịch vụ công ích.  

Họ tạo ra một ý thức mạnh mẽ và thôi thúc về sự đồng nhất và quyền lực bảo hộ mà các làng mạc láng giềng, và sau đó phần còn lại của nước Ý, tất cả đều muốn dự phần. Dù xã hội họ được tổ chức theo hình thức phân cấp dựa vào tài sản, bắt đầu từ Viện nguyên lão trên đỉnh và đi xuống tới bọn nô lệ dưới đáy, nhưng đó là một hệ thống cơ động và mềm dẽo. Những dân cư mới được thu nhận từ khắp nơi quanh thế giới La Mã, trong khi những người khác có thể leo cao hơn trên bậc thang xã hội.  

Người La Mã cũng trở nên hùng mạnh vì họ say sưa với nguồn gốc của mình và tha thiết với sứ mệnh La Mã, dựa vào tình yêu của họ dành cho quá khứ đầy tưởng tượng nơi thôn dã.

Và, tất nhiên, đừng quên quân đội La Mã. Không được quên là một phần quyết định của quyền lực La Mã là quân đội của họ và bộ máy chiến tranh được hệ thống hóa đến khó tin đến nổi cho dù bị đánh bại, nó luôn quay lại đông đảo hơn và đè bẹp kẻ thù.         

Chương 1

 Người La Mã:  Hình Thành Thế Giới của Họ và của Chúng Ta

 Trong Chương Này

  • Hiểu được thế nào là ‘người La Mã’
  • Biết được bằng cách nào giờ ta biết được điều ta biết
  • Nhận ra cách thức người La Mã định hình khái niệm quyền lực hiện đại
  • Nhìn ra cách thức ta sử dụng các ý tưởng La Mã hằng ngày
  • Tại sao ta mang nợ người La Mã rất nhiều

 Một trong những hoạt cảnh hài kịch nổi tiếng nhất lấy bối cảnh thế giới cổ đại là cuốn phim của Monty Python thập niên 1970 có tựa đề Cuộc Đời của Brian. Lấy bối cảnh là Judaea cổ, một tỉnh lỵ hẻo lánh của Đế chế La Mã, Reg, một thủ lĩnh của Mặt trận Nhân dân Kháng chiến Chống La Mã tỉnh Judaea, đang họp để vực dậy tinh thần chiến đấu các dân quân . Y phát biểu với giọng mỉa mai và mệt mỏi, ‘Thế bọn La Mã đã làm gì cho chúng ta nào?’ Các đồng đội của y gật gù đồng ý và rồi từng người lần lượt buột miệng:

  • Cống dẫn nước
  • Hệ thống xử lý nước thải
  • Đường xá
  • Thủy lợi
  • Giáo dục
  • Y tế
  • Trật tự công cộng

Chẳng mấy chốc, danh sách đã dài bằng cánh tay bạn và Reg vội vã đúc kết câu mở đầu bằng câu hỏi, ‘Thế ngoài luật lệ và trật tự, nước nôi, đường xá vân vân và vân vân bọn La Mã đã làm gì cho chúng ta?’ Im lặng theo sau cho đến khi một giọng đùa cợt cất lên ‘Hòa bình’.

Tất nhiên, đó là chuyện cười và thật quá đơn giản khi cho rằng ‘ồ người La Mã thật xuất sắc vì đã mang đến bao nhiều điều tốt đẹp như cống dẫn nước, hệ thống thoát nước, và đường xá thuận tiện’. Nhưng cuộc nổi dậy của Reg cũng có mục tiêu của nó. Người La Mã, dẫu Đế chế của họ có thể tàn bạo và áp bức, cũng đóng góp nhiều công trình cho thế giới. Ảnh hưởng của họ quá sâu sắc  đến nổi nó vẫn được duy trì sau khi người La Mã và Đế chế của họ đã biến mất. Đến tận ngày nay bạn còn có thể nhận ra dấu vết minh chứng ảnh hưởng này.

Chương này cho bạn một phác họa về nguồn gốc người La Mã và những việc họ đã làm. Nó cũng giúp trả lời câu hỏi của Reg, ‘người La Mã đã làm gì cho chúng ta?’ theo quan điểm của thế kỷ hai mươi.

Là Người La Mã

Điều then chốt về người La Mã là bạn không cần xuất thân từ La Mã mới là người La Mã. Tất nhiên, khởi thủy là như vậy, nhưng theo thời gian Đế chế của họ được cấu thành bởi những người bị chinh phục thường phải nổ lực để giành được vị thế và đặc quyền của công dân La Mã. Dân chúng trong Đế chế La Mã thấy mình là người La Mã, trong khi họ vẫn hãnh diện duy trì các di sản chủng tộc và văn hóa của đất nước họ. Cũng khá giống kiều dân Mỹ vừa hãnh diện là người Mỹ cũng vừa hãnh diện là người Mỹ bản địa, người Ba Lan, người Đức, hoặc người Mễ, vân vân.

Bạn có thể tìm thêm thông tin về ý nghĩa của việc là người La Mã trong phần còn lại của phần này và Phần II.

Nhận diện gốc gác La Mã

Người La Mã lúc nào cũng tưởng tượng mình chỉ là dân quê và nông dân không hơn kém; những con người lam lũ mà nguồn gốc quê mùa đã chui rèn nên kỹ luật và sức mạnh thép giúp họ xây dựng nên Đế chế. Đế chế này, họ tin rằng, là phần thưởng họ xứng đáng nhận được từ thần linh.

Tại một điểm nào đó, huyền thoại này đúng. Trong những ngày xa xưa nhất, khoảng 1,000 BC, La Mã chỉ là một trong nhiều ngôi làng nhỏ __ không gì hơn là một nhúm các mái nhà tranh __ nằm rải rác quanh vùng latium, một miền trung tâm nước Ý trên bờ biển tây.

Vâng, dù gốc gác có khiêm tốn, La Mã đã trở thành một thành phố lớn nhất toàn châu Âu và vùng Địa Trung Hải. Tại thời điểm cực thịnh, La Mã có hơn một triệu dân. (Để so sánh, hầu hết các thành phố khác cố gắng lắm chỉ đạt được 10,000 dân cơ hữu.) Quan trọng hơn kích cỡ là ý nghĩa của nó. La Mã không chỉ là một nơi cư trú __ nó còn là một ý niệm, một tâm trạng, sẽ được bàn đến chi tiết trong Chương 6.

Người La Mã không bao giờ quên đứt nguồn cội của mình. Cho dẫu những nguồn cội này đã thực sự mất hút trong sương mù thời gian, họ vẫn coi mình là những nông dân và luôn mơ tưởng được trở về gốc gác xa xưa.

Thần thoại La Mã về sứ mệnh của mình

Người La Mã tin tưởng tuyệt đối không chỉ vào sự ưu việt của mình đối với các dân tộc khác, mà còn vào thiên mệnh giao phó cho họ phải cai trị thế giới. Họ định ra các quy luật để người khác tuân theo. Kẻ nào chấp nhận sự sắp xếp này sẽ được chào đón tham gia. Và sự thật là có rất nhiều người theo họ. Khắp nơi trên thế giới La Mã các ông và các bà hãnh diện khoe mình là người La Mã gốc Tây ban nha, La Mã gốc Phi châu, La Mã gốc Pháp, và vân vân. Điều này càng củng cố lòng tin của người La Mã vào sứ mệnh của họ.

Người La Mã tin là phẩm chất vượt trội của họ đã giúp họ đoạt được quyền lực nhưng rất bức xúc khi khối của cải đồ sộ họ chinh phục đã cuối cùng mang đến sự băng hoại và suy đồi, tạo ra những tên bạo chúa mất nhân tính và bọn quý tộc đồi bại, biến thái về tình dục. Sự băng hoại của lý tưởng La Mã đã đâm toạc một cách trơ tráo những giá trị mà người La Mã đã gầy dựng: tính trung thực, tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng kỷ cương. Nhưng nó không làm mai một chút nào huyền thoại nguồn cội của họ. Nó chỉ khiến họ thêm quyết tâm.

Đọc thêm: Thời Hoàng Kim

Theo thần thoại La Mã, cha của Jupiter là thần Saturn. Người La Mã tin rằng Saturn, vị thần cai trị dân La Mã,  đã dạy dỗ dân tộc cổ xưa Latium cách làm ruộng. Ngài cũng hướng dẫn họ về nghệ thuật. Saturn rất được yêu mến và cai trị dân hòa nhã, và thời đại thần thoại này được mệnh danh là ‘Vương quốc thời Saturn’, trong tiếng La Mã tương đương với ‘Thời Hoàng Kim’. Đó là điều người La Mã tin tưởng __ thời Hoàng Kim khi họ là những nông dân. Một trong những thi sĩ tiếng tăm nhất của La Mã, Virgil, đã viết trong một bài thơ đồng nội của mình ‘Vương quốc thời Saturn đã trở lại’. Nói cách khác, ‘Thời Hoàng Kim đã trở lại’.  

Đọc thêm: Các nền văn minh khác

Nền văn minh La Mã kéo dài khoảng từ 753 BC cho đến AD 476 ở phương Tây. Một khoảng thời gian đáng kể, nhưng nền văn minh này nằm trong bối cảnh nào của lịch sử thế giới? Mặc dù người La Mã cho mình là số một, thì chung quanh họ cũng có những nền văn minh rực rỡ khác. Ở đây xin liệt kê một số nền văn minh cổ đại tồn tại trước, trong khi, và sau thời đại của người La Mã.

  • Ai cập: Khoảng thời điểm mà người La Mã đứng dậy và chạy đi, thì văn minh Ai cập đã đi được 5,000 năm. Vào khoảng 2,700 BC, thời điểm mà bạn và tôi biết là Ai cập cổ đại đã vững vàng __ thì đã là khoảng 2,000 năm trước khi La Mã được thành lập. Trong thời gian này, các kim tự tháp, do các pha-ra-ông xây dựng, đã bắt đầu xuất hiện. Vào khoảng 1550 BC, Ai Cập đã có các vì pha-ra-ông gây ngạc nhiên là Akhenaten và Tutankhamun, mà các lăng mộ của họ là nơi an táng cổ đại lừng danh nhất từng được tìm thấy. Thời kỳ này, gọi là Tân Vương quốc, là thời đại của Thung Lũng các Vì Vua, đại đền thờ Karnak, và những đài tưởng niệm đồ sộ Abu Simbel, do Ramesses II, vị pha-ra-ông tiếng tăm nhất, xây dựng. Nhưng Ai cập đã qua thời cực thịnh của nó: Các vương triều xâu xé, Ai cập bị xâm lược, đầu tiên bởi người Assyria, rồi người Ba tư, và cuối cùng bởi Alexander Đại Đế, người thiết lập vương triều các pha-ra-ông thuộc Macedonia, mà nhà cai trị cuối cùng là Cleopatra VII, có quan hệ tình cảm với Julius Caesar và Mark Antony. Việc thất trận của Antony tại Actium vào 31 BC đã đưa Ai cập đến hồi cáo chung và nền văn minh lâu đời nhất đã trở thành một tỉnh lỵ của La Mã.
  • Mesopotamia: Mesopotamia là vùng đất giữa các con sông Tigris và Euphrates ngày nay là Iraq. Người Sumeria (3500-2300 BC), thâu tóm quyền lực từ các thành phố Ur, Eridu, và Uruk, đã xây dựng các lầu đài, đền thờ trên đỉnh các tòa tháp gọi là ziggurat. Vào 3,000 BC, họ đã thực hiện một bước dài tách họ ra khỏi hàng trăm ngàn năm của lịch sử nhân loại: Họ đã chế ra chữ viết. Sau người Sumeria là người Akkadia (2300-2150 BC), rành nghề điêu khắc đồng. Nhưng nền văn minh Mesopotamia lên đến đỉnh cao với người Assyria (1400-600 BC), mà các vị vua của họ đã cho tạo tác những hình điêu khắc chạm nổi tuyệt mỹ. Rồi người Babylon (625-538 BC) đến, mà vì vua nổi tiếng nhất của họ là Nebuchadnezzar II, đã xây dựng Vườn Treo Babylon.
  • Phoenicia và Carthage: Phoenicia là vị trí của bờ biển Lebanon và Syria ngày nay, ở bờ đông của vùng Địa Trung Hải. Người Phoenicia là những dân đi biển lành nghề, có giai thoai cho rằng có thể họ đã dong buồm đi quanh bờ biển Phi châu. Là những nhà buôn lớn, người Phoenicia chở hàng hóa của mình, bao gồm vải vóc, thuốc nhuộm, gỗ đến mọi nơi có thể và lập nên các thuộc địa khắp vùng Địa Trung Hải, trong đó có Tây Ban Nha, Malta, và Sicily. Nơi định cư quan trọng nhất của người Phoenicia là thành Carthage, sau này là kẻ tranh hùng không đội trời chung với người La Mã. Được thành lập vào thế kỷ thứ chín BC tại vùng đất bây giờ là Tunisia trên bờ biển phía đông Phi châu, sự giàu có và ảnh hưởng của thành Carthage vươn rộng về phía bắc đến tận Sicily và Ý, là mối đe dọa lớn nhất cho sự bành trướng của La Mã. Phải qua ba Cuộc Chiến Punic mới quét sạch được Carthage, cuối cùng bị hủy diệt vào năm 146 BC, mở đường thênh thang cho người La Mã nắm quyền kiểm soát toàn bộ vùng Địa Trung Hải.
  • Hy Lạp: Hy Lạp, có tên là Achae vào thời cổ đại, luôn là câu chuyện về các thành bang nằm rải rác trên lục địa và những đảo lân cận ngang qua biển Aegea. Giai đoạn đầu tiên của nền văn minh Hy Lạp được gọi là Minoan, gọi tên theo Minos, vị vua huyền thoại của đảo Crete sống ở Krossos. Nền văn minh Minoan bắt đầu khoảng 3000 BC và kéo dài cho đến 1400 BC khi một thiên tai hình như đã phá hủy nhiều khu định cư. Trong lúc đó, tại chính Hy Lạp, các cứ địa nổi tiếng như Mycenae và Tiryns đã phát triển. Trên bờ biển tây bắc Thổ nhĩ kỳ là thành Ilium, hoặc thành Troy. Đâu đó khoảng thời gian nền văn minh Minoan sụp đổ, Cuộc Chiến Thành Troy nổi tiếng đã xảy ra, nhưng không ai biết được bao nhiêu phần của câu chuyện là huyền thoại bao nhiêu là sự thật. Tất cả điều chúng ta biết là khoảng 800 BC các vần thơ của Homer, The Iliad The Odyssey, đã được trứ tác. Các tuyệt tác này đã khai phá đường cho văn chương Hy Lạp, trong khi nghệ thuật Hy Lạp cũng đang được phát triển. Trong thời gian này, các thành bang Hy Lạp như Athens và Sparta đã phát triển. Vào khoảng thế kỷ thứ năm BC, Athens đã lên đến cực thịnh với sự phát triển nền dân chủ và lý thuyết chính trị tinh tế trong thời đại của Pericles. Các thuộc địa Hy lạp nằm rải rác quanh vùng Địa Trung Hải, trong đó có nam Ý và Sicily. Nhưng các thành bang Hy Lạp lúc nào cũng gây hấn với nhau. Athens và Sparta kéo nhau lao xuống dốc trong Trận Chiến Peloponnesia. Đã suy yếu, Hy Lạp là mồi ngon trước tiên cho Philip II thành Macedon (357-338 BC) và sau đó cho người La Mã vào 146 BC. Nhưng nghệ thuật, văn hóa, văn chương, và thể thao Hy Lạp vẫn tiếp tục được ưa chuộng trong thời Đế chế La Mã. Ngày nay, người Hy Lạp vẫn còn được tuyên dương như là cha đẻ của ý niệm dân chủ và văn minh.
  • Etruscan: Người Etruscan sinh sống trong vùng đất ngày nay là Tuscany và Umbria ở Ý. Hầu hết những gì ta biết về họ đến từ công cuộc khai quật những lăng mộ được trang trí và đồ tạo tác an táng tuyệt đẹp, nhằm chuẩn bị cho kiếp sau được đầy đủ như khi còn sống. Họ là những thủy thủ và người buôn bán đặc biệt giỏi giang, nhưng đến nay các học giả vẫn biết rất ít về họ vì ngôn ngữ của họ vẫn chưa được đọc được thông suốt. Chính là nhờ người Etruscan mà La Mã mới có một khởi đầu ngoạn mục. Người Etruscan xây dựng những tường thành, đền thờ thần Jupiter, và cũng cống thoát nước đồ sộ gọi là Cloaca Maxima của người La Mã. Một số ông vua đầu tiên của La Mã cũng là người Etruscan, kể cả vì vua cuối cùng, Tarquinius Superbus.
  • Macedon và Alexander Đại Đế: Vùng Macedon cổ đại chỉ là miền núi nhỏ phía bắc Hy lạp và một phần đất bây giờ là Bulgaria. Vào năm 338 BC, vua của Macedon là Philip II nắm quyền kiểm soát Hy lạp, mở đường cho những bước đi tiếp theo. Năm 336 BC, con trai ông là Alexander lên kế vị, tiếp tục chinh phục một vùng lãnh thổ rộng lớn ngang qua vùng đất ngày nay là Thổ nhĩ kỳ, Iraq, và Iran bằng việc đánh bại Đế chế Ba tư và vươn xa đến tận thung lũng Indus bên biên giới Ấn độ. Sau đó ông chiếm Ai cập và phong một vị tướng của mình là Ptolemy làm vua Ai cập. Alexander mất năm 323 BC sau một cơn sốt ở Babylon khi đang trên đỉnh cao quyền lực. Nhưng đế quốc của ông được xây dựng hoàn toàn theo cá tính của ông và khi ông ra đi nó tan rã nhanh chóng, với các vị tướng tranh nhau cai trị những khu vực khác nhau của đế quốc. Cùng với phần còn lại của Hy lạp, Macedonia thất thủ trước La Mã vào 146 BC, và lần lượt sau đó là Ai cập và Tiểu Á.  

 

Lịch sử La Mã, từng chút một

Đời sống xa xưa của La Mã chỉ thiên về những xung đột xã hội nội bộ, bắt đầu là các vì vua. Khi vua không còn, nền Cộng hòa được sinh ra, và La Mã dần dần thu phục những đồng minh khu vực để đảm bảo sự an toàn của mình. Khi quyền lực của La Mã tăng lên, các đồng minh này muốn chia sẻ các đặc quyền xã hội mà La Mã thụ hưởng. Khi quyền lực và uy tín tăng lên, La Mã gia tăng mối tiếp xúc với các xứ cạnh tranh quốc tế như Carthage. Một chuỗi hình như bất tận những cuộc chiến tiếp diễn không hồi kết,  vậy mà La Mã luôn thắng thế vì nó liên tục trở lại đông hơn và mạnh hơn và cuối cùng làm kẻ thù phải kiệt quệ. Vào thế kỷ thứ nhất BC, La Mã là thành bang hùng mạnh nhất trong vùng Địa Trung Hải. Sau đó La Mã bắt đầu tan rã vì các vị tướng kiệt xuất  sử dụng quân đội của mình để theo đuổi những tham vọng chính trị. Các thập niên hỗn loạn chính trị tiếp diễn cho đến khi Octavian kết thúc chiến tranh và giành lại quyền lực tuyệt đối. Ông ‘phục hồi nền Cộng hòa’, như ông tuyên bố, nhưng thật ra ông tự phong mình là hoàng đế __ sự quay lại chấp nhận được để đổi lấy hòa bình. Cai trị dưới đế hiệu Augustus, sự ổn định ông mang lại khiến cho La Mã  càng thêm hùng mạnh. Vào khoảng đầu thế kỷ thứ hai AD, La Mã dưới quyền cai trị của các hoàng đế đã lên đến cực thịnh, nắm quyền kiểm soát toàn vùng Địa Trung Hải, vùng tây-bắc Âu châu, trung tâm Âu châu, Bắc Phi, Ai cập, và Trung Đông.

Trong thế kỷ thứ ba và tư AD, với từng tộc người man rợ đập phá biên giới, một hoàng đế không thể kiểm soát hết được đế chế. Vì thế vào khoảng thế kỷ thứ tư, thường xảy ra trường hợp có ít nhất hai, và đôi khi nhiều hơn, hoàng đế cai trị những vùng khác nhau của Đế chế La Mã. Cơ bản của việc phân chia là giữa Đông và Tây. Đế chế phương Đông xoay sở tồn tại được đến 1453 nhưng chỉ là một hình bóng mờ nhạt của thời huy hoàng xưa. Đế chế phương Tây thực sự ngừng tồn tại vào khoảng những năm 400, sớm hơn 1,000 năm.

Sau khi Đế chế phương Tây tàn rụi, Âu châu phân mảnh thành nhiều vương quốc nhỏ, những  công quốc, thái ấp. Tưởng tượng nước Mỹ tan rã và các thống đốc của mỗi bang trở thành người cầm đầu của một vương triều khu vực. Để làm tình trạng tồi tệ hơn, mỗi ông vua phải liên tục gây chiến với các ông vua khác vì lợi ích của vương quốc mình. Các đường biên giới thay đổi không ngừng, và mối đe dọa bị xâm lăng luôn rình rập. Chẳng hạn, ở Anh, Vua Alfred của dân Saxon ở Wessex (AD 871-899) phải chống trả với bọn Viking xâm lược. Ở nước Ý vào thời trung cổ, ngay cả các thành phố còn gây chiến nhau.

Ngày nay, nơi trước kia từng là Đế chế La Mã bây giờ là hàng tá những xứ sở độc lập. Thật đáng nễ khi nghĩ rằng một vùng đất từng được các hoàng đế La Mã cai trị ngày hôm nay đã phân ra thành quá nhiều phần như thế. Chỉ khi Liên minh châu Âu ra đời thì nhiều quốc gia châu Âu mới bắt đầu hợp tác lại lần nữa.

Khám phá người La Mã

2

Bạn có thể thắc mắc tại sao mọi người cần nên tìm hiểu và khám phá người La Mã, chuyện gì với các tòa nhà phế tích của họ có mặt ở khắp nơi và lần lượt  vị vua trung cổ này đến vị vua trung cổ khác đua nhau sao chép những công trình La Mã. Vâng, một trong số các lý do là trong Thời đại Tối tăm, nhiều điều về La Mã đã bị quên lãng. Ngoài một ít những trường hợp ngoại lệ, sách vở và thư viện bị tàn phá, và các dinh thự sụp đổ.

Khi thời Phục hưng đến vào thế kỷ mười lăm, các nhà tư tưởng châu Âu bắt đầu khám phá lại thế giới cổ điển: Họ khám phá lại những lời dạy của Hy Lạp và La Mã, và việc in ấn cho phép các sách vở Hy Lạp và La Mã được phát hành rộng rãi hơn. Những gì tìm thấy tạo cho họ cảm hứng, những người Phục hưng trở nên tha thiết với những hình thức nghệ thuật mới, những sách cổ bàn về chính trị và triết lý, và ý niệm tổng thể về việc học tập vi học tập.

Cho dù Đế chế cổ có sụp đổ, nó vẫn để lại những phế tích và văn chương khiến bao lớp người đời sau __ trong đó có chúng ta __  phải trầm trồ những thành tựu mà người La Mã đã thực hiện được.

Những phế tích vĩ đại và những thành phố hoang phế

Trên khắp thế giới La Mã, những thành phố lớn sụp đổ, nhưng những phế tích này quá hoành tráng đến nổi thiên hạ sững sờ. Ở tận nước Anh xa lắc, một bài thơ đã được sáng tác về phế tích sụp đổ của một đền thờ lớn ở Sulis Minerva và những phòng tắm công cộng tại Bath. Nhà thơ gọi các phế tích là công trình của những người ‘khổng lồ’ vì ông ta, cũng như hầu hết những người đương thời vào Thời đại Tối tăm, không thể nào tưởng tượng được có ai khác ngoài những người khổng lồ mới có thể thực hiện những công trình như vậy.

Nhiều thành phố đồ sộ ở Bắc Phi như El Djem trong vùng đất bây giờ là Tunisia đã phó mặc cho đổ nát trong hòa bình. El Djem từng có một hí trường La Mã rộng lớn. Orange, ở miền nam nước Pháp, có một hí viện La Mã và một cống dẫn nước bề thế. Athens có đền thờ thần Zeus to rộng của La Mã và một thư viện do hoàng đế Hadrian (AD 117-138) xây dựng khi đi ngang qua đây (xem Chương 17). Baalbek ở Lebanon có hai đền thờ đồ sộ, và một đền __ đền thờ Bacchus __ vẫn còn hầu như nguyên vẹn.

Chính La Mã là nơi chứa một số phế tích hoành tráng nhất: Colosseum, hí trường lớn nhất của thành phố, vẫn còn một phần nguyên vẹn; những phế tích của cung điện hoàng gia vẫn còn qui tụ khắp Đồi Palatine, và khu nhà tắm công cộng Caracalla trông như một phức hợp hang động của một người khổng lồ. Tường thành Aurelian của La Mã, xây dựng vào những năm 270, vẫn còn bao quanh nhiều nơi ở La Mã.

Những sách La Mã còn lưu lại

Các tác giả La Mã đều có nhiều ảnh hưởng theo những cách khác nhau, nhưng nhờ sự sống sót của các văn bản này mà ta biết những gì mình làm theo thế giới La Mã. Xét những ví dụ sau:

  • Cicero (106-43 BC): Cicero là nhà hùng biện, quan tòa, và chính khách nổi tiếng. Biết rõ tầm quan trọng của mình, ông cho xuất bản các bài diễn thuyết, luận thuyết về chính quyền, về nghĩa vụ, bản chất của thần linh, và cùng một bộ sưu tập lớn các thư tín của mình. Phần lớn tài liệu này còn lưu lại và ông có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng và văn chương trong nhiều thời đại về sau.
  • Caesar (100-44 BC): Caesar viết các ghi chép về chiến tranh của mình ở Gaul, và một phần cuộc nội chiến với Pompey. Các văn bản này có tiếng vì nghe có vẻ khách quan (mặc dù không phải vậy), cùng với văn phong súc tích, ngắn gọn, và là một nguồn tư liệu lịch sử tuyệt vời của thời đại.
  • Catullus (84-54 BC): Catullus mất khi còn là một thanh niên, và thi phẩm nồng nàn của ông sáng tác với một phong cách mới mẻ, phản ảnh những đam mê của mình

về cuộc sống, rượu, và phái đẹp. Các bài thơ của ông đầy ắp nổi sầu muộn với tình yêu tuyệt vọng dành cho Lesbia, một phụ nữ đã có chồng (chắc chắn là Clodia Metelli), được tin là đã hạ sát chồng mình và bị Cicero vạch mặt là một con điếm gớm ghiếc, một phụ nữ vượt quá tầm tay của thi sỹ.

  • Virgil (70-19 BC): Virgil là thi sĩ tuyên truyền của nhà nước trong thời Augustus. Thi phẩm nổi tiếng nhất của ông là Aeneid, lấy theo mẫu của thiên anh hùng ca Hy lạp của Homer như Odyssey, kể lại cuộc phiêu lưu của Aeneas, người sáng lập La Mã huyền thoại, và bao gồm những lời tiên tri về sự xuất hiện của Augustus. Tác phẩm còn lưu lại khác của ông, the Eclogues (Bài thơ đồng nội) Georgics (Vần thơ điền viên), được trứ tác để thăng hoa sự mơ tưởng của người La Mã về nguồn cội thôn dã của mình bằng cách vẽ ra một cuộc sống viên mãn nơi đồng nội thuở xa xưa. Tác phẩm The Fourth Eclohues (Bài thơ đồng nội thứ tư) có loan báo về sự xuất hiện của một đấng cứu tinh, nhằm báo trước vương triều vua Augustus, nhưng các tín đồ Cơ đốc giáo lại bẻ cong thành lời tiên tri về sự ra đời của Christ.
  • Horace (65-8 BC): Con trai của một người trước đây là nô lệ nay đã được giải phóng và là bạn của nhà thơ Horace dùng tác phẩm mình để ca ngợi Hoàng đế Augustus. Sau khi Virgil qua đời, Horace thay thế ông trong vai trò tiếng nói thơ ca của đất nước. Các tác phẩm của Horace bao gồm Satires (Lời Châm Biếm), the Odes (Tụng ca, Bài thơ ca ngợi những sự kiện của đất nước), the Secular Song (Bài ca muôn thuở, nhằm ca ngợi Vận hội La Mã, xảy ra vào năm 17 BC).
  • Livy (59BC-AD 17): Livy soạn một bộ sách lịch sử La Mã đồ sộ bắt đầu từ ngày sáng lập. Công trình lấy mất của ông gần hết quãng đời tráng niên mới hoàn thành, nhưng không may chỉ một phần tư tác phẩm còn lưu lại. Mặc dù trong những phần đầu sử ký của ông có viện dẫn thần thoại và huyền thoại, nguồn tư liệu của Livy về cuộc chiến của La Mã chống Carthage và những lãnh vực khác của lịch sử La Mã thời kỳ đầu là vô giá.
  • Ovid (43 BC-AD 17): Biến Hình của Ovid là một trong những tập thơ phổ biến nhất còn sống sót từ thời cổ. Một hợp tuyển các thần thoại Hy lạp và La Mã, nó kể lại toàn bộ câu chuyện phức tạp về thần linh nào làm việc gì, khi nào và với ai.
  • Pliny Lớn (AD 23-79): Tác phẩm đồ sộ Lịch sử Tự nhiên của Pliny Lớn là công trình thời La Mã tương đương với một bộ sách bách khoa nhỏ thời nay. Pliny là một kỵ sĩ, đứng ở thứ bậc thứ hai trong bậc thang xã hội (xem Chương 2), và phục vụ trong quân đội. Là một người ham học hỏi, khao khát kiến thức, Pliny miêu tả mọi vật từ địa lý đến đá quý, từ y khoa đến đài tưởng niệm. Nhưng sinh nghề tử nghiệp __ Pliny bị chết ngạt khi quan sát quá gần núi Vesuvius đang phun lửa vào AD 79.
  • Pliny Trẻ (khoảng AD 61-113): Pliny Trẻ là cháu của Pliny Lớn đã lên đến chức nghị viên. Tài sản quý giá nhất của ông để lại cho chúng ta là toàn bộ những bức thư ông viết, đề cập đến mọi mặt hứng thú của đời sống trong đầu thế kỷ thứ hai. Pliny ghi lại vụ phun trào núi lửa Vesuvius vào năm AD 79 do mình tự chứng kiến, cùng nhiều giai thoại vô giá khác. Những bức thư ông trao đổi với hoàng đế Trajan (AD 98-117 – xem Chương 17) là những ghi chép quan trọng nhất còn lưu lại về việc điều hành một tỉnh lỵ La Mã.
  • Suetonius (khoảng AD 69-120): Suetonius đã soạn nhiều tác phẩm, nhưng chỉ còn một quyển còn lưu lại lành lặn, là một tác phẩm kinh điển của mọi thời nói về thời cổ đại: Mười hai Caesar, là một bộ tiểu sử giản yếu về Julius Caesar (người không phải là hoàng đế) và sau đó là 11 hoàng đế đầu tiên tiếp theo sau, tận đến năm AD 96. Đầy dẫy những vụ tai tiếng, những âm mưu, chuyện đồn đãi tục tỉu trắng trợn, và những chi tiết lịch sử vô giá, Mười hai Caesar còn là một tác phẩm đặc sắc, không thể thiếu nếu muốn tìm hiểu về một số nhân vật phi thường nhất trong lịch sử loài người.
  • Tacitus (khoảng AD 55-117): Tacitus viết hai tác phẩm chủ yếu: Annals (Niên giám), Histories (Sử ký), cũng như một quyển liệt kê về các bộ tộc Đức (Germania) và một cuốn tiểu sử về cha vợ mình (Agricola). Niên giám đề cập đến thời kỳ AD 14-68, dưới quyền trị vì của Tiberius, Claudius, Caligula, và Nero. Hầu hết còn được lưu lại. Sử ký tiếp tục nơi Niên giám kết thúc, nhưng đến nay chỉ còn sót lại phần đầu. Tacitus là một sử gia thiên tài, cống hiến cho người đời sau một tư liệu vô đối về thế kỷ thứ nhất AD. Tất nhiên là ông cũng thiên vị, nhưng văn phong xúc tích, ngắn gọn và tác phẩm đầy dẫy những nhận xét phê phán, tuyệt vời.
  • Cassius Dio (khoàng AD 150-235): Dio là một nghị viên ở La Mã nhưng xuất thân từ Nicaea ở Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ). Ông soạn lịch sử Hy Lạp trong thời kỳ La Mã bắt đầu với Aeneas và Chiến tranh thành Troy. Không may, chỉ có một đoạn nhỏ ở phần giữa quyển sách sống sót, đề cập đến giai đoạn 68 BC-AD 47). Một số nội dung còn lại được các tác giả đời sau tóm lược, cũng rất quý giá.

Lý do ta biết về bất kỳ tác giả La Mã nào là vì có người ra công sao chép các tác phẩm của họ. Những người chúng ta phải biết ơn nhiều nhất là các thầy tu trong các tu viện thời Trung Cổ. Nhờ công lao của họ, các học giả về sau mới có thể phân tích một số tuyệt tác của văn chương, thi ca, triết lý, và lịch sử La Mã.

Mang người La Mã về nhà: Đồ tạo tác La Mã

Một phần những trải nghiệm thời Phục hưng là khám phá những di tích của thế giới cổ như một phần của quá trình giáo dục văn hóa rộng lớn hơn. Thời đó thường tổ chức những tua du lịch dành cho các thanh niên con nhà giàu khám phá và tham quan phong cảnh châu Âu, mà nhộn nhịp nhất là vào thế kỷ mười tám. Mỗi tua loại này có thể kéo dài nhiều tháng và có khi vài năm. Trong đó các thanh niên con ông cháu cha thăm viếng các thủ đô của châu Âu, nhưng điểm đến tuyệt đỉnh luôn là Ý để chiêm ngưỡng các di tích cổ La Mã. Tại đây họ được hướng dẫn mua sắm những bản thảo, sách vở, họa phẩm, và đồ cổ để mang về nhà trang hoàng cho các lâu đài của gia đình mình.

Một số các thanh niên này đâm ra say mê sưu tập như điếu đổ và kết quả là ngày nay các dinh cơ cũng như các viện bảo tàng bề thế ở châu Âu chất đầy những đồ cổ quí báu này. Những bộ sưu tập quý giá đã kích thích lòng say mê cổ vật thêm sâu rộng và thúc đẩy phát triển phong trào du lịch rầm rộ hơn khi bước sang thế kỷ mười chín.

Khai quật di chỉ La Mã: Cảm xúc Pompeii

Vào ngày 24 tháng 8 năm AD 79, Núi Vesuvius, gần Naples, bổng phun trào dữ dội. Nhiều khu vực dân cư quanh núi lửa bị chôn dùi dưới bùn nham thạch nóng chảy pha lẫn với tro bụi, cát đá. Hai địa điểm nổi tiếng nhất bị hủy diệt là thị trấn Pompeii và Herculaneum.

Tuy vậy các dinh cơ trong thị trấn, cùng với đồ đạc nội thất, và có khi còn cả người ở, còn được giữ nguyên vẹn như trong ngày xảy ra thảm họa. Bọn đào bới xục tìm những di vật quý giá, nhưng thị trấn và biệt thự trong vùng hầu như bị bỏ hoang và đi vào quên lãng.

Hàng thế kỷ sau, vào năm 1594, khi đào xuống để đổi chiều dòng chảy của một con sông gần Pompeii, người ta phát hiện một số bia ký nhắc nhở đến một Pompeii đã từng hiện diện nơi đây; nhưng khổ thay không ai làm gì cả. Cho mãi đến 1748 công việc khai quật mới bắt đầu tiến hành và tiếp tục khi có khi không kể từ ấy.

Pompeii tạo ra một cảm xúc trong giới học giả, nhà sưu tập, và bọn giàu có quan tâm đến thế giới cổ đại. Hoàng đế nước Áo tuyên bố trong năm 1769 là phải cần đến 3,000 nhân công mới dọn sạch được tro tàn chôn vùi. Khi phần lớn thị trấn đã được dọn sạch, cuối cùng du khách có thể đi từ phòng này sang phòng khác trong dinh cơ còn nguyên vẹn và trầm trồ chiêm ngưỡng các tranh tường đầy mê hoặc vẽ các cảnh minh họa thần thoại. Họ có thể bước ra khỏi nhà và thả bộ xuống con phố La Mã và thăm đấu trường.

Pompeii cổ vũ những người khác săn tìm những phế tích La Mã cho xứ sở của mình. Tại nước Anh Samuel Lysons (1763-1819) khai quật di chỉ một biệt thự La Mã tại Bignor và cho in những sàn nhà khảm đá đầy màu sắc trong một bộ sách vẽ tay lộng lẫy. Các thiết kế đó đã tạo nên một làn sóng bắt chước trong các dinh cơ các tay giàu có và quyền thế.

Những Gì Người La Mã Làm cho Chúng Ta

Bất cứ khi nào chúng ta nghĩ về người La Mã, chúng ta thường nghĩ đến những người đàn ông trong tấm áo choàng điển hình (toga, xem hình trên) và đôi khi đội vòng hoa nguyệt quế ở trên đầu. Điều đó không có gì là không thích hợp. Nói chung, đó là phong cách mà các hoàng đế La Mã thường chọn cho tư thế của mình trên các đồng tiền hoặc pho tượng. Nhưng còn có những biểu tượng quyền lực khác mà người La Mã sử dụng, và chúng còn vang vọng đến nhiều thời đại về sau.

Chắc chắn lý do chính yếu tại sao những biểu tượng La Mã ấy có tác động mạnh mẽ lên mọi người khác không phải chỉ vì họ có một quân đội sừng sõ nhất. Mà quan trọng hơn là vì họ có ngôn ngữ, bộ luật, và ý niệm toàn diện về việc điều hành chính quyền. Tất cả những điều này tạo ra một hiệu ứng sâu sắc cho toàn thế giới kể từ đó. Tất nhiên, chúng không hoàn toàn do chính người La Mã nghĩ ra __ thật ra, có một số người còn cho rằng người La Mã hiếm khi có ý tưởng nguyên phát nào trong đầu mình __ nhưng biết đón nhận mọi luồng ý tưởng từ nơi khác và phát huy chúng bằng cách vận dụng vào thực tiễn cũng là một kỳ công rồi. Vì nói cho cùng, chỉ có thực hành mới là điều đáng kể.

Biểu tượng quyền lực của người La Mã

Cứ như là người La Mã chế ra biểu tượng của quyền lực: Nếu bạn muốn là nhà cai trị, bạn phải chọn tư thế như người La Mã. Đó là biệt tài của người La Mã __ được người ta khao khát thành người La Mã __ và việc làm này có hiệu quả ngay trong thời La Mã cũng như nhiều thế kỷ về sau. Kết quả là có cả một chuỗi không dứt các nhà cai trị châu Âu muốn mình là các Thánh Đế La Mã, hoặc muốn ăn mặc như các hoàng đế La Mã xưa kia khi ngồi cho họa sỹ vẽ chân dung hay nặn tượng.

Charlamagne, Thánh Đế La Mã

Kể từ khi Đế chế La Mã sụp đổ ở Tây Âu, các nhà cai trị thường bỏ đi thông lệ mà bắt chước các hoàng đế La Mã. Nhân vật tiêu biểu rõ ràng đầu tiên cho việc này là Charlemagne (AD 742-814), người trở thành Vua xứ Franks ở nơi bây giờ là Pháp vào năm 768. Ông ta tích cực hồi phục Đế chế La Mã bằng cách chinh phục nhiều lãnh thổ của Ý, một số của Tây Ban Nha, và còn góp thêm lãnh địa Hung vào lãnh thổ của mình. Sau đó Charlemagne cố ngụy biện rằng kể từ khi La Mã rơi vào tay bọn man rợ vào năm 410, chức danh hoàng đế La Mã đã bị để trống và bây giờ chức danh đó đã truyền lại cho ông ta, người kế vị tiếp theo. Vì thế ông tự phong mình là Thánh đế La Mã do chính tay giáo hoàng đội vương miện tại La Mã.

Sau khi Charlemagne chết vương quốc của ông được chia cho ba người con trai, và đế chế của ông tan rã ngay khi vừa mới bắt đầu. Vào năm 962 Giáo hoàng John XII phong Otto I, Vua của Đức (AD 936-973), làm Thánh đế La Mã mới cho dù lãnh thổ của ông ta ở bên ngoài Đế chế La Mã xưa. Tước vị Thánh Đế La Mã sống lại bước đi loạng choạng cho đến khi triều đại của Francis II (1792-1806).

Napoleon

2

Francis II từ bỏ tước vị của mình khi Napoleon chinh phạt hầu hết lãnh thổ Đức. Napoleon Bonaparte (1769-1821) được đội vương miện Hoàng đế nước Pháp vào năm 1804 ở đỉnh cao của sự nghiệp chính trị và quân sự đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong các tranh vẽ và hình khắc trên huân chương, Napoleon được miêu tả như một hoàng đế La Mã với vòng nguyệt quế trên đầu (xem hình).

Bọn phát xít

Đảng Quốc xã, dưới quyền lãnh đạo của Hitler, sử dụng một số biểu tượng đế chế của người La Mã, trong khi nhà độc tài phát xít Ý Benito Mussolini cương quyết làm sống lại quyền lực La Mã cổ xưa. Ông ta cho khai quật quảng trường Forum cổ ở La Mã  và những di chỉ quan trọng khác để triển lãm cho dân chúng như là một phần của chiến dịch tuyên truyền của ông.

Các từ ngữ chỉ hoàng đế trong tiếng Đức, Kaiser và Czar/Tsar, lấy từ tiếng La Mã là Caesar, tên họ của những vị hoàng đế đầu tiên (xem Chương 16).

Thời Victoria

Trong thế kỷ mười chín, Vương quốc Anh là một trong những đế chế rộng lớn nhất mà thế giới từng chứng kiến. Lãnh thổ của nó bao gồm Canada, Úc, Tân Tây Lan, và Nam Phi. Đỉnh cao của Đế quốc Anh là dưới thời Nữ hoàng Victoria (trị vì 1837-1901), và người Anh thời đó quay nhìn về thời vinh quang của Đế chế La Mã không chỉ như một khát vọng của mình mà còn giúp bào chữa cho hành động sử dụng vũ lực cướp đất đai và áp đặt những giá trị và tập quán mà mình cho là văn minh hơn.

Đó cũng khá giống những gì người La Mã đã làm. Cũng như ngay sau khi người La Mã bỏ lại Latin ở phía sau cùng tất cả hạ tầng kiến trúc của thế giới của họ như đường xá và công trình công cộng, người Anh thời Victoria cũng vươn vãi trên Đế quốc của mình những đường ray, những dinh cơ hành chính, và ngôn ngữ Anh. Ngày nay Ấn độ dù đã độc lập từ lâu, nhưng vẫn sử dụng tiếng Anh trong giấy tờ hành chính và quốc gia vẫn phụ thuộc vào hệ thống đường ray mà người Anh lắp đặt trước kia.

Nước Mỹ ngày nay

Đế quốc Anh đã mất rồi. Ngày nay ta thường nghe thuật ngữ đầy ác ý ‘Đế quốc Mỹ’ vì từ cuối thế kỷ hai mươi nước Mỹ là quốc gia hùng mạnh nhất trên Trái đất. Thật ra nó là một đế quốc không giống như những đế quốc khác, vì nước Mỹ không tìm cách chinh phạt ai và chiếm đóng lãnh thổ nào. Nhưng nếu thế, tai sao Đế quốc Mỹ có liên hệ gì với Đế quốc La Mã? Vâng, nếu bạn nhìn kỹ bất kỳ một đồng xu nào của Mỹ bạn sẽ nhận ra nhóm từ này:

3

  E Pluribus Unum (Liberty)

E Pluribus Unum là một khẩu hiệu của Hoa Kỳ. Đó là tiếng Latinh có nghĩa ‘Một từ nhiều mà ra’ và câu này có nghĩa một quốc gia được sinh ra từ nhiều tiểu bang (hoặc dân tộc). Vì thế Hoa Kỳ sử dụng ngôn ngữ cổ của người La Mã để biểu hiện nhân dạng trọng tâm của mình. Tự do (Liberty) là khát vọng chính của hiến pháp Hoa Kỳ. Và điều đó cũng xuất phát từ Đế chế La Mã nơi Libertas là một nữ thần được sử dụng trên các đồng tiền của các hoàng đế La Mã để phô trương lý tưởng mà họ đang bảo vệ.

Lý do mà Hoa Kỳ dùng biểu tượng của thế giới La Mã không phải vì Hoa Kỳ muốn là Đế quốc La Mã của ngày hôm nay, mà chỉ đơn giản bởi vì người La Mã đặt ra hình mẫu cho hình ảnh của quyền lực. Và biểu tượng tối thượng là đại bàng được người La Mã sử dụng trong quân kỳ của mình, và ngày nay chim đại bàng ngồi chễm chệ ngay chính giữa quốc huy của Hoa Kỳ, cùng với khẩu hiệu E Pluribus Unum quắp trên mỏ (xem hình dưới).

 

Liên minh châu Âu

Nhiều nước châu Âu ngày nay gia nhập vào Liên minh châu Âu. Không giống như Đế chế La Mã, Liên minh châu Âu hướng đến sự phát triển hòa bình, mối quan tâm xã hội, thương mại và chính trị của châu Âu. Nhưng Đế chế La Mã chính là nơi châu Âu đầu tiên  được điều hành như một thực thể duy nhất. Đó là lý do tại sao, khi Liên minh châu Âu được sáng lập, hiệp ước không chỉ được ký vào năm 1957 tại La Mã mà còn được ký tại chính ngọn đồi Capitoline, trung tâm tinh thần của Đế chế La Mã.

Ngôn ngữ

Tiếng Latinh xuất phát từ cái tên cổ của một vùng ở Ý nơi người La Mã cư trú: Latium. Những bảng khắc chữ Latinh xưa nhất có niên đại khoảng cuối thể kỷ thứ bảy BC. Người Etruscan, mà nền văn minh của họ đến trước khi văn minh La Mã trỗi lên, có hệ thống chữ cái riêng của mình nhưng ít người biết về ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên, điều rõ ràng là những dân tộc nói tiếng Latinh sử dụng một số chữ cái của người Etruscan và một số của Hy lạp, để tạo ra bảng chữ cái của họ, như dưới đây

 A B C D E F G H I K L M N O P Q R S T V X Z

Và tất nhiên là những chữ cái ta sử dụng ngày nay. Tuy nhiên tiếng Latinh không có mẫu tự J, W, hay Y. Người La Mã dùng I để biểu thị những âm I hay J của ta, và họ dùng V để biểu thị những âm U hay V của ta. Còn ngoài ra tất cả đều như nhau.

Khi người La Mã xây dựng đế chế của họ, họ nhận thấy trong đế chế mình có quá nhiều ngôn ngữ và thổ ngữ. Bạn không thể điều hành hiệu quả một đế chế khi mọi người nói những ngôn ngữ khác nhau. Đó chính là lý do tại sao người Anh cai trị đế quốc của mình bằng cách bắt buộc thần dân sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ chính thức, và cũng là lý do tại sao tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Hoa Kỳ. Cũng như vậy người La Mã bắt buộc sử dụng tiếng Latinh trong hành chính trên toàn cõi đế chế. Mặc dù mọi người tiếp tục nói tiếng thổ ngữ, ở phương Tây, Latinh trở thành ngôn ngữ thứ hai của dân chúng, còn ở phương Đông, tiếng Hy lạp được sử dụng. Như vậy điều đó có nghĩa toàn cõi đế chế La Mã được điều hành với chỉ đúng hai ngôn ngữ chính: Latinh và Hy Lạp.

Lan truyền một ngôn ngữ như thế tạo một tác động to lớn tới ngôn ngữ địa phương, và đó là chỗ bạn có thể chứng kiến ảnh hưởng của người La Mã cho đến ngày nay. Các ngôn ngữ ‘Lãng mạn’ như tiếng Pháp, tiếng Ý, và tiếng Tây Ban Nha, mắc nợ rất nhiều tiếng Latinh của người La Mã. Tiếng Anh khởi thủy xuất phát từ các ngôn ngữ Đức, nhưng khi các dân tộc nói tiếng Anh xa xưa tiến về phương nam và tây, họ chấp nhận những từ Latinh và kết quả là ta có tiếng Anh ngày nay. Latinh còn tìm đường vào Anh ngữ theo một cách khác là khi cần tạo ra một từ mới người ta thường dùng từ Latinh tương đương để làm ra từ ấy.

Luật lệ và trật tự

Người La Mã có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Họ có bộ luật, các thẩm phán, luật sư, tòa án, và khung hình phạt. Bị cáo được đem ra xét xử, trong vụ án có bên công tố và có bên biện hộ. Bộ luật không chỉ dựa trên văn bản mà người La Mã còn lưu trữ các vụ tố tụng để xem điều luật đã được vận dụng thế nào trong thực tiễn. Bộ luật được thành văn vào năm 449 BC có tên Bộ Luật Mười Hai Chương, ghi chép lại những điều luật quen thuộc bất thành văn đã tồn tại từ lâu. Đây là bộ luật dân sự, có tầm ảnh hưởng lớn đến bộ luật Âu châu về sau.

Vào khoảng 300 BC, Gnaeus Flavius lần đầu tiên cho xuất bản thể thức pháp lý. Từ trước đến giờ, chỉ có giới tăng lữ biết tiến trình này và họ dấu giếm chúng như bí quyết riêng của mình. Gnaeus Flavius không phải là người duy nhất xem luật pháp là điều phải được viết bằng giấy trắng mực đen và cần được phân tích, học tập. Quintus Mutius Scaevola soạn một giáo trình về luật La Mã mà những luật sư sau này dùng để tham khảo. Những nhân vật nầy đã tạo nên truyền thống La Mã là xem luật lệ và cách sử dụng chúng như là một nghề nghiệp chính thức, chuyên môn.

Trong khoảng mười thế kỷ sau đó, mọi điều luật mới thuộc mọi lãnh vực được thông qua và bộ luật càng ngày càng trở nên phức tạp. Cuối cùng Đế chế phương Tây sụp đổ vào AD 476, nhưng phân nửa Đế chế ở phía Đông còn lây lất cho đến AD 530 Hoàng đế Justinian I (527-565) đã biên tập toàn bộ điều luật vào trong một bộ sách luật duy nhất.

Bộ sách luật Justinian có tên Codex luris Civilis, tức Bộ Luật Dân Sự. Nó trở thành nền tảng cho bộ luật dân sự khắp các xứ châu Âu đến tận cuối thế kỷ mười tám. Sau đây là những điều khoản trong bộ luật trên:

  • Luật công dân: Những điều luật chung áp dụng cho công dân La Mã.
  • Luật Quốc Tế: Những điều luật chung áp dụng cho các người nước ngoài trong việc giao dịch với công dân La Mã.
  • Luật về tính riêng tư: Những điều luật nhằm bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân.
  • Luật công cộng: Những điều luật nhằm bảo vệ nhà nước.
  • Luật cá biệt: Các điều luật liên quan đến những điều khoản cá biệt trong các tình huống bất thường
  • Luật bất thành văn: Những điều luật đã trở thành tập quán qua thời gian.
  • Luật thành văn: Những điều luật do phán quyết của quan tòa, do tuyên cáo của hoàng đế, và phán quyết của Viện nguyên lão.

Triết lý

Mục này có vẻ như hơi nặng nề, khô khan,  sâu sắc, và có ý nghĩa. Đó là cảm nhận riêng của tôi, nhưng thật ra ngày nay có nhiều người xem triết lý, và cách thức nó tác động đến nhân sinh quan của ta, cũng nghiêm túc như người La Mã ngày xưa. Người La Mã lấy nhiều ý tưởng từ người Hy lạp, và thực sự chỉ đến đầu thế kỷ thứ nhất BC triết lý La Mã mới thực sự có tác phẩm.

Triết lý La Mã tỏa ra hai hương vị phổ biến nhất: Chủ nghĩa Hưởng Lạc và chủ nghĩa Khắc Kỷ.

Chủ nghĩa Hưởng Lạc (Epicureanism)

Những người theo chủ nghĩa này theo đuổi những khoái cảm vật chất để đạt đến mục đích tối hậu là sự an bình viên mãn của tâm trí. Họ lấy tên chủ nghĩa là Epicureanism theo tên của triết gia Hy lạp Epicurus (341-270 BC). Người ta thường cho rằng các người theo chủ nghĩa này đều theo đuổi những khoái lạc xác thịt, nhưng trong thực tế họ quan tâm nhiều hơn đến sự an lạc của tâm hồn. Sự buông thả vật chất được ưu ái vì nó ngăn cản tâm hồn bị tổn thương do sự cấm đoán, đè nén.

Những người theo chủ nghĩa Hưởng Lạc cũng tin rằng vật chất được hình thành bởi những nguyên tử bất hoại di chuyển xoay quanh trong một khoảng trống không, do các lực tự nhiên điều khiển: Sự biến đổi xảy ra khi các nguyên tử sắp xếp lại.

Lucretius (99-55 BC) là triết gia nổi tiếng nhất của chủ nghĩa này. Ông đóng góp những ý tưởng của mình về tâm hồn, cảm xúc, và tư tưởng, cũng như vũ trụ và cách vận hành của nó, trong một trường thi có tên de Rerum Natura (‘Về Bản chất của Sự Vật’), vẫn còn lưu lại. Lucretius ảnh hưởng lớn đến nhiều triết gia sau này như Pierre Gassendi (1592-1655), một người Pháp. Gassendi tiếp nhận các ý tưởng của Lucretius về nền tảng nguyên tử của vật chất và tin rằng điều này nên là tiền đề của mọi nghiên cứu khoa học. Nhưng ông ta cũng tin rằng việc này nên phù hợp với Cơ đốc giáo. Gần đây triết gia Anh Alfred Whitehead (1861-1947) cũng đi theo nguyên tắc là nỗ lực kết hợp những sự kiện tìm thấy trong vật lý vào trong cấu trúc triết học __ chính là điều mà Lucratius đã khởi đầu cách nay 2,000 năm.

Chủ nghĩa Khắc Kỷ

Chủ nghĩa này phổ biến hơn chủ nghĩa Hưởng Lạc, trọng tâm là chấp nhận sự thể như chúng tồn tại __ có nghĩa là không có gì đáng đề cao hơn là đức hạnh và con người nên cam nhẫn trong những tình huống xấu nhất. Phái Khắc Kỷ tin rằng điều duy nhất thực sự tồn tại là các sự vật có hiện diện thể chất. Họ đã để lại một di sản đáng giá trong việc thiết lập một hệ thống luân lý dựa trên tính thuần lý. Họ cũng tiên liệu cách thức hoat động của tâm trí như chúng ta biết hôm nay vì họ tin rằng thể xác và tâm trí phải tuân theo quy luật như mọi sự vật khác, và rằng, từ đó hình thành tâm thế.

Marcus Aurelius (AD 161-80) là một Hoàng đế theo chủ nghĩa Khắc Kỷ. Như những nhà Khắc Kỷ khác, ông giang tay chấp nhận cuộc đời như nó vốn là và đáp ứng với mọi khó khăn bằng sự biết đủ. Marcus Aurelius đã soạn 12 cuốn sách về sự Quán Tưởng, tất cả vẫn còn được lưu lại. Dưới đây là một trong các tư tưởng của ông:

                Hãy coi như bạn đã chết rồi, và đã hoàn tất kiếp sống của mình cho đến giây phút hiện tiền này; và sống thời gian còn lại được trao tặng cho bạn theo đúng quy luật của thiên nhiên. Chỉ yêu quý những gì đang xảy ra cho bạn và phó mặc cho định mệnh dệt tấm áo gì cho ta. Còn gì thích hợp hơn thế?

Ý niệm về thành phố

Phần đông chúng ta ngày nay sinh sống trong thành phố, khác hơn vào thời cổ đại. Người La Mã thực sự đã đề ra quan niệm về thành phố, không chỉ là một nơi để sống, mà còn là trung tâm của chính quyền với những dịch vụ công cộng, tính an toàn, và nhân diện cụ thể. Chắc chắn là thành phố đã có mặt trước khi Đế chế La Mã xuất hiện, nhưng không đâu có quy mô và lan rộng bằng.

Nền tảng cốt lõi của toàn thế giới La Mã là thành phố. Nơi nào người La Mã thấy có thành phố rồi, nhất là ở những nơi như Hy Lạp, Tiểu Á, và Bắc Phi, họ liền điều chỉnh chúng theo kiểu thành phố La Mã. Ở phương tây, họ thường phải xây dựng thành phố và liên kết chúng với cơ sở hạ tầng trong phần còn lại của Đế chế. Các thành phố trong Đế chế La Mã, trong khi vẫn có bản sắc riêng, tất cả  đều phải theo đúng khuôn mẫu về ý niệm thành phố mà họ đề ra. Vì thế bất cứ ai khi đi chu du trong thế giới La Mã dù đi đến đâu họ đều nhận ra sự nhất quán và ổn định của tổ chức hành chính.

Nhiều thành phố lớn của châu Âu ngày nay là di sản trực tiếp của Đế chế La Mã. Hãy xét London, thủ đô của Liên hiệp Anh, chẳng hạn. London tọa lạc trên bờ sông Thames, nhưng trước khi người La Mã đến vào năm AD 43, nó chỉ là một vùng định cư gồm nhiều trại ấp nằm rải rác. Người La Mã nhận ra tiềm năng của sông Thames và khu giao thương bộc phát bất ngờ quanh đầu cầu mà họ xây dựng. Trong một vài thế hệ, London đã trở thành một thành phố La Mã phồn thịnh nhất với những công trình xây dựng công cộng lớn nhất ở miền bắc dãy núi Alps. Mặc dù nó rơi vào tình trạng nhếch nhác sau khi người La Mã bỏ đi, nhưng đến thời Trung Cổ nó lại được phục hồi trên đường trở thành một trong những thành phố lớn nhất trong toàn châu Âu.

Ảnh hưởng của La Mã tới cấu trúc thành phố vượt quá phạm vi châu Âu. Hãy nhìn vào những tòa cao ốc ở Washington DC, thủ đô nước Mỹ. Khi Pierre L’Enfant (1754-1825) thiết kế qui hoạch cho thủ đô, ông lấy cảm hứng từ kiểu mẫu La Mã cổ điển về hệ thống mạng lưới đường phố. Tối cao Pháp viện (1928) sử dụng mẫu kiến trúc của một đền thờ chính La Mã. Điện Capitol của Washington (bắt đầu năm 1793) dùng các loại kiến trúc La Mã mà các điện capitol của  bang cũng rập khuôn theo. Do Daniel Burnham thiết kế, Nhà Ga Trung tâm của Washington DC (mở cửa 1907) dựa theo khuôn mẫu của Baths of Diocletian (Nhà Tắm Công cộng Diocletian) (xây dựng AD 298-306) và cổng vào theo mẫu Cổng Vòm Constantine, cả hai công trình đều ở La Mã.

Lâu rồi nhưng không xa lắm

Đế chế La Mã ở miền Tây bắt đầu tan rã mãi mãi cách đây khoảng 1,600 năm. Trong toàn bộ lịch sử của trái đất kéo dài hàng tỷ năm, nó chỉ là một khoảng thời gian không đáng kể. Vì thế nó không thực sự gây ngạc nhiên khi người La Mã tạo một ảnh hưởng lớn lao tới thế giới ta sống hôm nay vì họ không cách ta lâu lắm. Cũng có nhiều ảnh hưởng khác trên lộ trình của lịch sử, và, tất nhiên, ta làm được những điều mà người La Mã không thể nào tưởng tượng được.

Sự thật là nhiều người trong số chúng ta, có thể đến hàng triệu triệu người, mang gen của những dân tộc sống trong thế giới La Mã. Và nếu bạn chộp một người La Mã từ thế giới của anh ta và mang y đến sống với chúng ta trong thời đại máy móc này, vâng chắc chắn, y sẽ choáng váng trước công nghệ ảo diệu của chúng ta và trước dân số đông đúc của chúng ta. Nhưng sau khi y đã lắng xuống, y sẽ nhận ra một số lượng lớn những điều y quen trong thế giới của mình cũng hiện diện trong thế giới chúng ta, ngay tại đường phố chúng ta lái xe đến tòa án nơi các luật sự đang đấu khẩu nhau, và ngay cả đến những chữ viết trên các công sở và sách vở. Vì thế nếu có khi nào người La Mã hình như cảm thấy lạc lõng, họ không lạc lõng vào lúc này, dù bạn đang sống nơi đâu trong thế giới ngày nay.    

Chương 2 

Chỉ Có Tiền Mặt là Đáng Kể: Các Giai Tầng Xã Hội La Mã

 Trong Chương Này

  • Cách thức xã hội La Mã được phân tầng
  • Căng thẳng giữa quý tộc và quần chúng
  • Nô lệ và người nô lệ được giải phóng
  • Phụ nữ và trẻ con trong tôn ty xã hội 

Xã hội La Mã rốt ráo cũng căn cứ vào sự giàu có __ bạn sở hữu bao nhiêu và xuất thân từ gia tộc nào. Ở tận đáy là những người ‘vô sản’: các ông các bà thậm chí không có quyền sở hữu chính bản thân mình. Họ là những nô lệ, những đầu máy kéo của thế giới La Mã; thường được coi là tài nguyên luôn sẵn có và có thể làm dồi dào trở lại bằng những cuộc chinh phạt. Trên họ là những nô lệ mới được giải phóng, sau đó là các công dân La Mã, và ở trên cùng là hai lớp quý tộc gồm kỵ sĩ và các nghị viên.

Chương này giải thích cách thức xã hội La Mã được phân tầng, và điều gì xác định tầng lớp của một người trong giai tầng xã hội. Hiểu được cách thức xã hội La Mã hoạt động là điều  tuyệt đối cơ bản. Một bí quyết để hiểu được xã hội La Mã là phải nhớ rằng xã hội La Mã chủ yếu là thế giới của các ông. Chỉ có đàn ông mới có quyền đi bầu và đảm đương công việc. Nhưng điều quan trọng cần nhớ là những truyền thống này có nguồn gốc từ những ngày Cộng Hòa xa xưa. Trong thời kỳ Đế chế, xã hội dần dần biến đổi và khoảng thế kỷ thứ tư nhiều tập quán và sự biệt đãi xa xưa đã giảm bớt.

Điều Tiên Quyết Trên Hết: Gia Đình La Mã

Thành tố cốt lõi của xã hội La Mã là gia đình (familia). Gia đình La Mã là một việc riêng tư và công khai. Trong cả hai phương diện, sự gắn bó toàn vẹn từ các thành viên đều được mong đợi và hiến dâng, mặc dù không ít các hoàng đế đã nêu các gương xấu kinh người __ như hoàng đế Caracalla ra tay giết chết anh mình là Geta để được nắm trọn quyền (xem chương 18).

Một gia đình La Mã không chỉ là một cặp vợ chồng và con cái. Nó là một gia đình được mở rộng toàn diện, do một người nam lớn tuổi cầm đầu, một pater familias tức ‘người chủ gia đình’ hay gia trưởng), cho dù các thành viên có thể sống trong những ngôi nhà khác nhau. Nó cũng bao gồm những đứa con trai nuôi của các ông, được đối xử về mặt pháp lý cũng ngang bằng những thành viên máu mủ của gia đình. Gia trưởng có quyền hạn tuyệt đối đối với mọi thành viên gia đình, có nghĩa là ông ta có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động của họ, kể cả hôn nhân và hình phạt, và cũng nắm quyền chủ tế trong nhà. Ông ta cũng kiểm soát và ngay cả sở hữu tất cả tài sản của họ, và cũng có quyền bán con mình làm nô lệ hoặc thậm chí giết chết. Gia trưởng có toàn quyền sinh sát đối với gia đình mình. Gia đình cũng bao gồm các nô lệ trong nhà cùng những người vừa được trả tự do, và được liên kết với những gia đình khác qua hôn phối hợp thành những gia tộc. Các trưởng tộc trở thành những thành viên có quyền hành và thế lực nhất của nhà nước.

Người La Mã rất khắt khe đối với truyền thống, và truyền thống có nghĩa là trung thành tuyệt đối với gia đình và tuân thủ tiền lệ và quyền thế. Xã hội La Mã theo chế độ gia trưởng, dựa trên nguyên tắc người nam cầm đầu gia đình, gọi là pater familias. Từ pater là từ gốc trong nhiều thuật ngữ La Mã có liên quan đến gia đình, đất đai, thừa kế, và nhà nước, chẳng hạn:

  • Patrimonium: Quyền thừa kế
  • Patria: Tổ quốc
  • Patriarch: Thủ lĩnh bộ tộc
  • Pater patriae: ‘Cha già dân tộc’ hay ‘Quốc Phụ’, một danh hiệu được phong cho Augustus và những vì vua kế vị ông

Đọc thêm: Thời khóa trong ngày

Cuộc sống gia đình được diễn tiến bằng những công việc hằng ngày. Các ngày La Mã được chia thành 12 giờ, đo bằng đồng hồ mặt trời. Sau đây là thời khóa của một ngày điển hình:

  • Giờ đầu tiên: ăn sáng nhẹ và người chủ gia đình cầu nguyện cùng gia quyến
  • Giờ thứ hai: Mọi người chuẩn bị đi làm và chủ gia đình đón người làm công của mình (xem bên dưới)
  • Giờ thứ sáu: Ăn trưa sau đó nghỉ trưa
  • Giờ thứ tám: Trở lại làm việc. Người giàu có đến nhà tắm công cộng.
  • Giờ thứ chín: Cả gia đình tụ họp dùng bữa chiều

Giới Chóp Bu: Quý Tộc La Mã

Xã hội La Mã xa xưa được tạo thành hầu hết bằng những công dân tự do, nhưng có một nhóm hạt nhân gồm những gia đình quý tộc. Sự phân biệt giữa số đông dân số công dân và những nhà quý tộc dần dần hình thành những ‘thứ bậc’ được biết dưới tên plebeians (phe đa số) và patrician (nhà quý tộc). Hình như không có yếu tố sắc tộc trong việc phân thứ bậc. Thay vào đó, sự phân biệt đến từ tài sản làm ra từ đất đai.

Các gia đình quý tộc nguyên thủy dần được tổ chức thành gia tộc liên kết nhau qua hôn phối và với số đất đai rộng lớn sở hữu được họ cuối cùng nắm quyền kiểm soát xã hội La Mã. Vào những ngày đầu ở La Mã, các quý tộc nắm quyền kiểm soát toàn bộ những đặc quyền chính trị và những chức vị hành chính cao cấp kể cả trong bộ máy tôn giáo. Họ đạt được thành tựu này nhờ có ý thức mạnh mẽ về sự đoàn kết xã hội. Họ tuyệt đối cương quyết bám lấy quyền lực và gạt bỏ thành phần còn lại, quần chúng, không được chia sẻ với họ.

Như bạn có thể đoán được, đây là cách sắp xếp mà quần chúng __ nhất là những người giàu có hơn và có giáo dục hơn – bất mãn. Cuộc đấu tranh chính trị giữa quý tộc và quần chúng, gọi là Xung Đột Thứ Bậc, xảy ra (xem Chương 10). Về cơ bản, quần chúng tranh đấu nhằm chấm dứt thế độc quyền chính trị và các chức vụ cao cấp trong chính quyền nhà nước của giới quý tộc. Một trong những biến động có ý nghĩa nhất xảy ra vào năm 455 BC khi rào cản hôn nhân giữa hai thành phần quý tộc và quần chúng được bãi bỏ. Hậu quả thực tiễn là giới quý tộc nhận kết hôn với các gia đình quần chúng giàu có vì một trong những bí quyết để giữ vững quyền lực là kết hôn với tiền bạc. Những quần chúng giàu có này thực sự hòa mình vào giới quý tộc và gần như xa rời quần chúng.

Từ plebs có nghĩa là mọi người khác trừ giới quý tộc. Khởi đầu nó có nghĩa là ‘đa số’ hoặc ‘tất cả người còn lại’ nhưng dần dần nó mang nghĩa ‘quần chúng’ hay ‘đám dân đen’, và bao gồm mọi người trừ một số quần chúng giàu có đã đặt được chân vào giai cấp trên của La Mã. Ban có thể đọc thêm về họ trong mục ‘Những Công Dân Bình Thường’.

Các gia đình quý tộc xưa đấu tranh để sống còn bằng cách kết hôn lẫn nhau và quyền lực của tầng lớp quần chúng giàu có dần xói mòn họ. Vào thời trị vì của Augustuc (27 BC-AD14) chỉ còn lại khoảng 15 gia đình quý tộc, đến thời Trajan (AD 98-117) chỉ còn sáu. Trong thời Constantine I (AD 307-337) danh hiệu ‘quý tộc’ đã mang nghĩa ‘quyền quý’, chỉ những người nắm chức vụ cao trong triều đình.

Vì các quý tộc kiểm soát xã hội La Mã, phần dân số còn lại hoàn toàn phụ thuộc vào họ, trở thành người làm thuê hoặc tá điền trên mảnh đất của họ. Từ đó phát sinh mối liên hệ chủ-người làm công:

  • Chủ đóng vai như người cha đối với người làm công của mình, thường là những nô lệ vừa được trả tự do. Người chủ có mối quan tâm cá nhân đến nghề nghiệp chuyên môn, liên quan tài chính, và bất cứ vấn đề làm ăn hay pháp lý nào của họ.
  • Người làm công có bổn phận trung thành với chủ của mình, có nghĩa là sẵn sàng giúp đỡ bằng tiền bạc một khi chủ y cần đến, chẳng hạn bị đóng phạt, hoặc nếu chủ bị bắt làm tù binh trong chiến tranh và phải nộp tiền chuộc, nói chung phải hết lòng hỗ trợ chủ.

Chủ và người làm công có thể không bao giờ thưa kiện nhau trước tòa, cho dù chỉ để làm chứng. Có nhiều người làm công là biểu hiệu vị thế của chủ và nhất là hữu dụng khi người chủ có tham vọng chính trị.

Quý tộc

Vào thế kỷ thứ ba BC, sự pha trộn giữa các gia đình quý tộc xưa và lớp quần chúng giàu có đã tạo nên giới quý tộc mới gồm những địa chủ giàu có __ nguồn gốc của cải đáng trân trọng đối với một nhà quý tộc La Mã. Giới quý tộc mới không dự phần vào hoạt động kinh doanh hoặc bất cứ việc gì có tính thương mại (ít nhất là một cách trực tiếp). Đơn giản chỉ nhờ giàu có, họ đủ điều kiện tài chính để vào Viện nguyên lão (một triệu đồng xettec vào thời của Augustus) và phục vụ trong tòa án với tư cách quan thị chính, pháp quan, v . . . v . . ., vì tất cả những chức vụ này đều không ăn lương và được xem như chức danh cộng đồng vinh dự. Các gia đình quý tộc được xem như đã có một quan chấp chính trong dòng họ và kỳ vọng ở thế hệ mai sau sẽ đi theo bước chân tổ tiên, phục vụ trong quan trường, hay leo lên các bậc thang sự nghiệp như những nhà chính trị và chính khách La Mã. Vì thế mặc dù quần chúng tranh đấu được quyền vào quan trường, nhưng trong thực tế nếu không có tiền tài thì chớ có mong việc ấy.

Trong lý thuyết, toàn thể bộ phận công dân có thể bầu chọn các quan hành chính địa phương. Trong thực tế, những người duy nhất có thể bầu là những công dân đang cư ngụ ở La Mã vào thời điểm đó. Hơn nữa, những gia đình quyền quý có thế lực sử dụng ảnh hưởng đối với người làm thuê của mình, cũng sử dụng hối lộ và các biện pháp khác, để bảo đảm các chức quan chỉ đến với người của họ. Kết quả là các chức quan đó chẳng khác nào được kế thừa vì các dòng họ nổi tiếng lèo lái kết quả bầu cử để bảo đảm các chức vụ được truyền xuống từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Các quý tộc mặc bộ tunic (áo dài thắt ngang lưng) có đường viền thẳng đứng to màu tím ở hai bên, và áo choàng togas, một loại áo truyền thống La Mã, có đường viền lớn màu tím. Một số quý tộc vẫn theo tập quán ngày xưa đeo nhẫn sắt.

Các gia đình quyền quý được sở hữu quyền ius imaginum, nghĩa là hậu duệ của họ được phép nặn các gương mặt của tổ tiên mình bằng sáp (imagines) và trưng bày chúng ở những gian phòng khách trong nhà để mọi người có thể nhìn thấy được.  Càng có nhiều gương mặt sáp trong phòng danh giá của vọng tộc càng lớn. Những người xuất thân từ những gia đình không có ius imaginum, nhưng đã phấn đấu leo lên được những chức vụ cao, được gọi là những ‘người mới’ và được đối xử bằng sự khinh ghét (xem Chuong 7 về trải nghiệm của Marius khi là một người mới).

Tầng lớp kỵ sĩ

Kỵ sĩ có nguồn gốc từ ngày có vua chúa khi đó xã hội La Mã được phân tầng thành những giai cấp dựa vào năng lực phục vụ trong quân ngũ (xem Chương 3). Tầng lớp cao nhất gồm các trai tráng có điều kiện sắm ngựa ra trận và được biết dưới tên kỵ sĩ.

Qua thời gian, khi La Mã trở nên giàu có, càng có nhiều người có đủ điều kiện được làm kỵ sĩ vượt quá nhu cầu cho chiến tranh, nhất là khi La Mã biết dựa vào đồng minh và các tỉnh lỵ để tham chiến. Giới kỵ sĩ do đó càng tham gia nhiều hơn vào hoạt động thương mại, loại hoạt động mà giới quý tộc nghị sĩ bị loại trừ. Vào thời gian Chiến tranh Punic lần 2 (218-202 BC), các nhà thầu chính quyền lãnh nhiệm vụ trang bị cho quân đội La Mã, và những người này phải là những kỵ sĩ. Sau Chiến tranh, bất kỳ ai có tài sản lên đến 400,000 xettet được kể như kỵ sĩ. Những người này bao gồm một số quý tộc ở các thành phố Italia có tư cách công dân La Mã cũng như những ‘những kỵ sĩ tài chính’ thuộc giới làm ăn ở La Mã. Trong thời kỳ Cộng hòa sau này, các kỵ sĩ tạo thành một lực lượng chính trị cạnh tranh quan trọng với giới nghị sĩ, nhất là ở La Mã sau 122 BC, khi Gaius Gracchus ban bố luật các quan tòa phải là những kỵ sĩ.

Khoảng đầu thế kỷ thứ nhất BC, giới kỵ sĩ được công nhận quyền hạn của mình, và được hợp nhất thành một phẩm cấp duy nhất vào năm AD 22 dưới triều Tiberius. Không cần có mối liên hệ nào với nghĩa vụ quân sự. Để thể hiện phẩm cấp của mình và phân biệt họ với tầng lớp quý tộc, các kỵ sĩ mang một nhẫn vàng trên ngón tay và tấm áo choàng tunic của họ có kẻ một sọc đứng hẹp màu tím ở hai bên. Kỵ sĩ có thể được đề bạt lên vị thế nghị sĩ riêng lẻ hoặc đồng loạt để thay số nghị sĩ bị tống khứ.

Vào thời kỳ Đế chế, các kỵ sĩ được sử dụng để trám vào những vị trí hành chính đang khuyết, như văn phòng tài chính ở tỉnh lị, hoặc làm thống đốc những tỉnh lẻ. Kỵ sĩ nổi tiếng nhất trong lịch sử là Pontius Pilate, người đã trở thành thống đốc Judaea, xét xử Jesus và kết tội đóng đinh ông trên thập giá.  Bạn có thể tìm đọc thêm về các kỵ sĩ có vai trò quan trọng trong xã hội La Mã ở Chương 3.

Các Công Dân Bình Thường

Thế giới các nhà quyền quý và kỵ sĩ khác xa với thế giới của giới công dân bình thường trong thế giới La Mã, bao gồm những loại khác nhau: Công dân La Mã, công dân Latinh, và phần còn lại (không kể bọn nô lệ). Những người này dành tất cả thời gian làm việc quần quật để mưu sinh. Vì các sử gia thời đó thực sự phớt lờ họ, nên chúng ta chỉ biết về họ qua những bia ký, hình khắc, và di chỉ khảo cổ.  

Những vật này kể cho ta biết là thế giới La Mã nhộn nhịp với mọi dịch vụ đời sống như nhuộm quần áo và giặt là, thầy giáo, công chức, và thu thuế và cho vay. Có những thợ may quần áo, làm giày, thợ sửa chữa, thợ thủ công, thợ rèn, thợ chế tạo công cụ . . . Cũng có thợ xây dựng, thợ quét vôi, thợ điêu khắc, thợ mộc, và thợ làm gạch. Thực phẩm do các thuyền buôn và cùng với mạng lưới người buôn cá, hàng thịt, và nông dân cung cấp, các đầu bếp và thợ làm bánh chế biến, và bán tại các tiệm ăn. Một số công việc do các nô lệ và người mới được trả tự do thực hiện.

Những hạng người này sống một cuộc đời ngắn ngủi, kham khổ và đầy rủi ro trong một thế giới mà sức khỏe và sự an toàn không được luật pháp bảo đảm. Cũng chính nhờ hạng người này mà tầng lớp quyền quý mới có điều kiện ăn uống thịnh soạn và được thưởng ngoạn nghệ thuật, thể thao, biểu diễn tạp kỹ. Bọn quý tộc có thể khinh rẻ quần chúng La Mã, nhưng họ dư sức biết họ không thể sống thiếu họ.

Công dân La Mã

Mặc dù có một số thành phần thứ dân phất lên và gia nhập vào hàng ngũ quý tộc trong vị thế kỵ sĩ hay nghị sĩ, đại đa số dân chúng La Mã chỉ là những công dân bình thường.

Điều quan trọng khi là một công dân là mỗi người đều có quyền đi bầu và cũng có nghĩa vụ đối với nhà nước, tức là phải đóng thuế và đi lính (cánh phụ nữ không có quyền hạn và nghĩa vụ này). Quyền lực nhân dân thể hiện qua Concilium Plebis Tributum (Hội đồng Thứ dân do các bộ tộc sắp xếp) và các quan chức của nó: các hộ dân quan và các quan thị chính phụ tá (xem thêm Chương 3). Một người có thể mất tư cách công dân của y trong một vài trường hợp, chẳng hạn, nếu y bỏ ngũ, hoặc trốn thuế.

Các công dân La Mã được miễn trừ việc bị bắt tại trận hay bị giam ngay. Trong thành phố Philipi vào giữa thế kỷ thứ nhất AD, người sau này sẽ trở thành Thánh Paul bị án phạt đánh roi vì là người cầm đầu cuộc phá rối. Paul hỏi người sắp sửa hành hình mình, ’Nhà ngươi đánh roi một công dân La Mã chưa được xét xử có đúng luật không?’ Viên quan liền quay ra tố cáo Paul đã mua quyền công dân của mình bằng một số tiền lớn. Paul liền vặn lại, ’Ta là công dân tự do bẩm sinh’, và liền đó được phóng thích.

Thành viên bộ tộc

Chỉ đến thời trị vì của Servius Tullius (579-535 BC) và cuộc điều tra dân số của ông (xem Chương 10) dân chúng La Mã mới được phân chia thành 30 bộ tộc, mỗi bộ tộc một vùng. Servius Tullius thực hiện điều này vì trước đây quần chúng chỉ là một đám người lộn xộn, khó quản lý. Bốn vùng bộ tộc mới thuộc La Mã và 26 (khởi thủy là 16) thuộc vùng quê chung quanh La Mã. Các chủ đất thuộc vùng bộ tộc nào thì được đăng ký với vùng đó. Dân không có đất được đăng ký với một bộ tộc thành phố. 

Khi lãnh thổ La Mã tăng lên, thêm nhiều bộ tộc được bổ sung cho đến năm 241 BC, có đến 35 bộ tộc. Mặc dù trong một kế hoạch ngắn hạn 90-89 BC bổ sung thêm 10 bộ tộc, nhưng rồi trở lại số 35 ban đầu. Do đó bất kỳ một công dân mới nào, dù họ sống nơi đâu trong Đế chế La Mã, đều được đăng ký tại một trong số các bộ tộc hiện hữu, nhưng, tất nhiên, trừ khi y sống đủ gần La Mã để đi bầu, đặc quyền đó không ích lợi gì nhiều.

Tư cách công dân phổ quát

Trong những ngày xa xưa ở La Mã, để là một công dân, bạn phải có cha mẹ là công dân La Mã hoặc một phụ huynh là công dân La Mã kết hôn với một người xuất thân từ một vùng được phê chuẩn. Về sau, tư cách công dân có thể được cấp cho:

  • Các con nuôi của những nam công dân La Mã
  • Những người mua tư cách công dân hoặc kiếm được nhờ là thành viên của một thành phố hoặc một đơn vị quân đội trợ chiến có đặc quyền cấp pháp tư cách công dân.
  • Những người đã được giải ngũ từ một đơn vị trợ chiến của quân đoàn La Mã sau khi hoàn thành nghĩa vụ trọn 25 năm
  • Những người có đơn thỉnh nguyện gởi đến hoàng đế và được chấp nhận

Là một công dân La Mã là một đặc quyền bị ganh tỵ, ít nhất cho đến AD 212 khi hoàng đế Caracalla ban hành đạo luật cho phép tất cả nam thanh niên sinh ra từ cha mẹ là những người tự do hoặc được trả tự do hợp pháp đều là công dân La Mã (xem Chương 19).

Công dân Latinh

Quyền lợi Latinh trước đây thường được mơ ước như một trạm trung gian đối với những đồng minh của La Mã ở Ý trong thế kỷ thứ ba BC. Các người nam từ các thị trấn này được gọi là công dân Latinh và được cho phép tiến hành các vụ kiện tụng trong tòa án La Mã bình đẳng như các công dân La Mã. Nếu họ chuyển đến La Mã sống, họ trở thành công dân La Mã. Một phụ nữ Latinh có thể kết hôn với một công dân La Mã và con cái họ sẽ trở thành công dân La Mã.

Các thị trấn hưởng các đặc quyền nầy phải cung cấp binh lính cho Đế chế. Sau 89 BC, họ có quyền đi bầu và nếu ở trong Ý, họ có quyền tự trị nếu không phải là thuộc địa.

Để ngăn cản dân chúng di cư ồ ạt đến La Mã, một đạo luật ban hành năm 150 BC cho phép những quan chức của các thị trấn này thành công dân La Mã. Đó là cách thuận tiện khiến cho người tỉnh lẻ dễ dàng trở thành công dân La Mã. Năm 89 BC, Tỉnh Transpadane  xứ Gaul (thuộc Pháp bây giờ) được hưởng tư cách công dân Latinh, và đến 49 BC có đầy đủ quyền công dân. Hiển nhiên là sau AD 212 khi đạo luật của hoàng đế Caracalla ra đời, sự phân biệt giữa công dân La Mã và Latinh không còn tồn tại.

Thành phần tỉnh lẻ

Vì dân chúng qua lại tương đối tự do trong Đế quốc La Mã cho đến triều đại Diocletian (AD 284-305), ngay trong những miền hẻo lánh nhất, du khách cũng có thể tìm gặp các công dân La Mã dưới hình dạng một người lính hay một viên chức, các công dân Latinh trong quân đội hoặc trong hoạt động giao thương, và các công dân bản địa. Những công dân phi-La Mã, phi Latinh được biết dưới tên người ngoại bang, và phải hoàn thành mọi nghĩa vụ địa phương trong cộng đồng riêng của họ. Các người nước ngoài không có quyền lợi dân sự theo luật La Mã trừ khi có người bảo hộ là công dân La Mã, họ không thể tiến hành bất kỳ chức năng chính trị nào trong các hội đồng hoặc hành chính La Mã, và bị cấm mặc áo choàng toga khi đi vào một nơi nhóm họp của công dân La Mã.

Bất kỳ người nam nào như thế cũng có thể được nhận quyền công dân, sau triều đại của Augustus, mặc dù họ còn phải đảm đương nghĩa vụ ở địa phương. Thỉnh thoảng các đơn vị địa phương quân trong binh đoàn La Mã (xem Chương 5) được tưởng thưởng tư cách công dân một cách tập thể vì tinh thần chiến đấu quả cảm. Bình thường các binh lính này phải đợi cho đến khi thời hạn phục vụ đã kết thúc mới nhận được quyền công dân.

Giai Cấp Phục Vụ

Chế độ nô lệ là đặc hữu trong thế giới La Mã, vì nó phổ biến trong suốt thời cổ đại. Khi La Mã trở nên hùng mạnh hơn, số nô lệ tăng nhanh, và xã hội La Mã càng lúc càng phụ thuộc vào họ. Cuộc nổi dậy của nô lệ 73-71 BC, do Spartacus cầm đầu (xem Chương 14) đã tàn phá gần hết miền nam nước Ý, vẫn còn ám ảnh tâm trí người La Mã. Viện nguyên lão có lần xem xét việc cưỡng bách các nô lệ mặc y phục phân biệt cho đến khi có người chỉ ra rằng việc đó sẽ khiến cho họ biết họ  là thành phần đông đảo nhất. Nhưng nếu nô lệ là bộ phận dân số đông nhất, thì những người nô lệ được chủ trả tự do cũng vậy.

Nô lệ

Bất cứ ai bị người La Mã chinh phục đều có thể trở thành nô lệ, cũng như các dân tỉnh lẻ nổi loạn. Các con cái họ cũng đương nhiên thành nô lệ. Ngoài ra, các tên phạm trọng tội cũng biến thành nô lệ.

Tiberius Sempronius Gracchus (khoảng 210-150 BC), tư lệnh binh đoàn La Mã ở Tây Ban Nha 180-179 BC (xem Chương 14), đè bẹp một cuộc nổi loạn ở Sardinia vào 177 BC. Ông ta bắt được nhiều nô lệ đến nổi thị trường nô lệ La Mã tràn ngập những tù binh Sardinia giá rẻ. Sardi venales, ‘Sardinia đây, mời vô!’ là lời rao bán trên đường phố, sau này trở thành thành ngữ diễn tả những món hàng thừa thãi rẻ mạt __ tương tự như lô gô ‘Made in China’ (Sản xuất tại Trung quốc) trong nước ta hiện giờ!.

Cuộc sống người nô lệ

Người nô lệ có thể sống một cuộc đời kham khổ cùng cực, chẳng hạn những nô lệ được gởi đến làm việc trong các hầm mỏ hoặc trên những nông trại mênh mông, nhưng các nô lệ có học được người chủ giàu có mua về thường có cuộc sống tốt đẹp hơn những người tự do nghèo khó. Các cuộc hôn nhân giữa nô lệ tồn tại nhưng không có tính pháp lý vì thế chồng hoặc vợ đều có thể bị bán đi nếu chủ họ muốn. Các nô lệ phụ nữ dễ bị chủ hoặc người giám thị lạm dụng tình dục, nhưng họ cũng có thể được chủ giải phóng và cưới làm vợ. Các hình thức trừng phạt thì tùy tiện tùy theo ý thích của chủ nhân. Vì phải bỏ một số tiền lớn mua nô lệ, rồi cho ăn, cho mặc, cho nên những tên chủ bần tiện sẽ bóc lột họ triệt để cho đáng đồng tiền bỏ ra.

Nô lệ trong cơ ngơi của một gia đình giàu có có thể có cuộc sống tương đối thú vị hơn, nhất là nếu họ xuất thân từ những vùng khá văn minh trong thế giới La Mã, như Hy Lạp. Pliny Trẻ đã từng đề cập đến việc thả bộ và đàm đạo với các nô lệ có học vấn của mình. Nhiều nô lệ của ông có thể đã được sinh ra ngay trong cơ ngơi ông và được đối xử như một thành viên gia đình.

Một trong những lý do nô lệ được đối xử tốt hơn là do những công dân tự do khôn ngoan biết rằng các nô lệ bị ngược đãi có thể vùng dậy. Largius Macedo là một pháp quan khoảng đầu thế kỷ thứ hai AD, nhưng cha y là một người nô lệ được trả tự do. Như tâm lý của một người xuất thân từ tầng lớp thấp kém, Largius Macedo tiến lên đỉnh cao để chứng tỏ mình cao cấp ra sao và đối xử với các nô lệ của mình một cách tàn nhẫn. Vì thế ngày nọ, trong khi y đang tắm trong biệt thự của mình, một số nô lệ tấn công và đánh đập y và bỏ mặc cho chết. Những nô lệ trung thành khác cứu sống y và mọi người ra sức truy lùng bọn thủ phạm đã tẩu thoát. Hầu hết bọn chúng bị bắt lại và bị trừng phạt, nhưng Macedo chết sau đó vài ngày.

Quyền hạn của nô lệ

Nô lệ cũng cò một số quyền hạn, và quyền hạn này càng lúc càng tăng lên trong thời kỳ của các hoàng đế. Giết một nô lệ hay loại bỏ y chỉ vì y bị bệnh là phạm pháp. Cũng có những đạo luật nghiêm nhặt cấm hoạn các nô lệ hoặc lạm dụng thân xác của họ trong những hình thức khác nhau. Antonius Pius (138-161 BC) còn cho phép truy tố kẻ giết chết nô lệ.

Ở Ai cập vào năm AD 182, trong thời trị vì của Marcus Aurelius, một đứa trẻ nô lệ 8 tuổi có tên Epaphroditus leo nhanh lên mái nhà của người chủ mình là Plution để xem một đám diễu hành đi ngang qua. Trong một phút bất cẩn nó rơi xuống đất và chết. Nó chỉ là một đứa trẻ nô lệ, nhưng văn bản giấy cói ghi chép vụ điều tra tai nạn cũng ghi chép việc người cha vợ của chủ nó tổ chức việc hậu sự đàng hoàng cho nó.

Các nô lệ, dù sống nơi đâu, cũng không được tự do. Một trong những điều mỉa mai sinh ra trong cách thức xã hội La Mã tiến hóa thành Dominate (Chế độ  Nguyên thủ) do Diocletian thiết lập vào đầu thế kỷ thứ tư (xem chương 20), là tình trạng nhiều công dân bình thường tự thấy mình thực sự bị nô dịch hóa với việc làm và nhà cửa mà không  có quyền di dời hoặc đổi nghề.

Người được trả tự do

Các nô lệ trong Đế quốc La Mã, không giống như hầu hết những xã hội có chế độ nô lệ khác từ thời cổ đại đến thời hiện đại, luôn có thể hi vọng một ngày nào đó được trả tự do. Có hàng triệu người được trả tự do trong Đế quốc La Mã, có thể được bắt gặp trong mọi tỉnh lỵ ở mọi lúc và ở mọi lứa tuổi. Khi được tự do, họ có thể hưởng các đặc quyền của một công dân và có một số đã vươn lên đến những vị thứ cao trong xã hội. Hoàng đế Claudius mang tiếng là đã trông cậy vào các người được trả tự do để  điều hành Đế chế cho mình (xem thêm Chương 16).

Giải phóng một nô lệ

Một nô lệ có thể được chủ mình trả tự do bằng di chúc của ông (thường xảy ra nhất) hoặc trong lúc ông còn sống như một phần thưởng, muốn thế ông phải dẫn người nô lệ đến trước mặt một quan chức để người này dùng gậy chạm vào người y sau khi nhận một cái tát chiếu lệ từ người chủ tượng trưng cho hình phạt cuối cùng mà người nô lệ chịu đựng. Các nô lệ còn có thể dành dụm tiền bạc từ những dịp đặc biệt hoặc phần thưởng để mua lấy tự do cho mình, tất nhiên phải qua một thỏa thuận giá cả với người chủ của mình.

Cho dù giờ được tự do, một người được trả tự do cũng có bổn phận đối với người chủ cũ, có nghĩa là trở thành người làm công cho ông ta và gắn bó với ông ta trong mối liên hệ hai bên cùng có lợi.

Người chủ cũ cũng được lợi: Ông không còn phải nuôi ăn, cho ở, cung cấp quần áo cho người nô lệ trước đây, từ giờ y phải tự xoay sở việc mưu sinh. Một cựu nô lệ cũng có thể bênh vực vì quyền lợi của chủ mình. Ở tòa án người cựu nô lệ có thể đứng ra làm chứng có lợi cho chủ mình. Điều làm người chủ nản lòng và do dự khi giải phóng nô lệ là ông phải nộp thuế 5 % trên giá trị của nô lệ. 

Sự ô nhục

Người được trả tự do không bao giờ có thể trở thành kỵ sĩ hoặc leo lên được chức vị nghị sĩ; họ còn gánh chịu sự ô nhục về mặt xã hội vì đã từng là nô lệ, và bị khinh rẻ xem là hạ cấp và thô lậu. Nhưng đó không phải là một thành kiến mà nhiều người La Mã đủ điều kiện có được vì rất nhiều người xuất thân từ nô lệ tại một thời điểm nào đó từ tổ tiên họ, cho dù hiện giờ họ có thể là hoàng đế. Hoàng đế Pertinax (AD 193), chẳng hạn, là con trai của một người được trả tự do tên Helvius Successus làm giàu nhờ buôn bán gỗ; bạn có thể biết thêm về ông ta trong Chương 18.

Người được trả tự do trung bình có thể hi vọng phục vụ trong phòng hành chính của thành phố hoặc trong dịch vụ thuộc đế chế, hoặc trở thành những thương nhân khiêm tốn như nhà buôn. Nếu thành đạt kha khá, một người được trả tự do có thể đủ tư cách làm một thành viên trong seviri Augustale (‘một ban gồm 6 thầy tu lo việc thờ cúng Augustus’), mà các người được trả tự do có độc quyền. Như trường hợp của Paertinax là ví dụ điển hình, không như cha chúng, các con trai của người được trả tự do có thể leo lên chức vụ cao như bất kỳ người nào trong gia đình tự do, không có bổn phận nào với các ông chủ cũ của cha họ.

Đọc thêm:  Regina, người phụ nữ được trả tự do

Regina (chữ Latinh có nghĩa là ‘hoàng hậu’) là một cô gái nô lệ từ một bộ tộc Anh có tên Catuvellauni. Chủ cô là một người Syria tên là Barates, yêu cô và giải phóng cho cô. Hai người chuyển đến sống ở South Shields trên biên giới phía bắc nước Anh. Buồn thay cô mất khi chỉ mới 30 tuổi, trong những năm đầu của thế kỷ thứ ba AD. Barates bỏ tiền xây một nhà mồ có điêu khắc tuyệt đẹp cho người vợ yêu quí của mình, đến nay còn lưu lại. Ngày nay bạn có thể chiêm ngưỡng nó trong viện bảo tàng ở đấy.  

Cuối Cùng mới đến Phụ Nữ và Trẻ Con

Phụ nữ và trẻ con tất nhiên chiếm một phần lớn dân số, nhưng trong lý thuyết, họ hoàn toàn lệ thuộc vào cánh đàn ông. Dù phụ nữ có thể là công dân, nhưng họ không có quyền đi bầu.

Phụ nữ

Phụ nữ có thể mang tư cách công dân, nhưng họ không có vai trò chính thức trong xã hội La Mã. Phụ nữ không thể phục vụ trong bất kỳ đoàn thể có nam giới tham gia như quan lại, nhà chính trị, hoặc quân nhân. Phụ nữ cũng không thế làm hoàng hậu với quyền hạn riêng của mình, mặc dù họ được sử dụng cho những liên hệ gia đình, như khi Augustus bắt con gái mình lấy Marcellus, rồi Agrippa, và cuối cùng Tiberius (xem Chương 16) trong một nỗ lực thiết lập một triều đại thông qua hậu duệ duy nhất của mình. Nếu một hoàng đế chỉ để lại một con gái, thế thì quyền kế vị phải giao lại cho một thân nhân nam hoặc một người đàn ông khác.

Phụ nữ hầu như không có danh phận hợp pháp nào khác hơn là con gái, chị em gái, vợ, hay mẹ của một ông nào đó. Vespasian (AD 69-79) thông qua một đạo luật tuyên rằng bất kỳ một phụ nữ nào gian díu với một tên nô lệ sẽ bị liệt vào thành phần nô lệ.

Các phụ nữ giống người man rợ thường coi nhẹ các phụ nữ La Mã. Khi Septimius Severus mở chiến dịch ở Anh vào năm AD 208-211, ông ký một hiệp ước với người Caledonia từ Scotland (xem Chương 18). Trong khi hai bên đang thương thảo, hoàng hậu Julia Domna chế giễu bà vợ của một thủ lĩnh bộ tộc có tên Argentocoxus về việc các phụ nữ Anh không khi nào chịu ngủ với nhiều người đàn ông khác nhau (như tập quán của Caledonia). Bà vợ Argentocoxus đốp lại liền: ’Chúng tôi hoàn thành yêu cầu của thiên nhiên theo một cách tốt đẹp hơn cách các phụ nữ La Mã làm vì chúng tôi đi lại công khai với những người đànông tốt  nhất, trong khi các bà lén lút sa ngã với bọn vô lại nhất.’

 

Giáo dục

Các phụ nữ nói chung bị miễn trừ giáo dục, giáo dục chỉ dành cho con trai. Nhưng một số thiếu nữ từ các gia đình khá giả cũng được dạy đọc và viết và được coi là những thiếu nữ có gia giáo.   

Sau đây là một trường hợp phi thường về một phụ nữ có gia giáo trong mắt công chúng. Sau khi Caesar bị ám sát năm 44 BC, một sắc thuế rất nặng được Đệ Nhị Tam Đầu Chế áp đặt lên bất cứ ai có dính líu đến bọn mưu sát. Một phụ nữ có tên Hortensia (có cha là nhà hùng biện Quintus Hortensius) đọc một bài bào chữa cho những người vợ của các ông có dính líu trước mặt Tam Đầu Chế vào năm 42 BC. Bài này được ghi chép và được nghiên cứu trong những năm sau đó như là một kiểu mẫu về một diễn văn xuất sắc chứ không chỉ vì nó được viết ra bởi một phụ nữ.

Phụ nữ trong gia đình

Trong thế giới mà người đàn ông cầm quyền như La Mã, phụ nữ về lý thuyết chỉ bị gò bó trong công việc nội trợ và sinh đẻ. Vợ của một gia trưởng được coi như một nội tướng, và được yêu cầu lệ thuộc hoàn toàn vào người chồng, và trước đó, là vào người cha. Nói chung, xã hội La Mã (nghĩa là phái mạnh La Mã) chỉ dành sự trân trọng của họ cho những phụ nữ nổi bật vì đức hạnh được xem là lực lượng dìu dắt và dạy dỗ con trai các giá trị của một phẩm cách trọng danh dự trong xã hội cũng như trong cuộc sống riêng tư. Vào năm 215 BC, trong cuộc Chiến tranh Punic lần hai, sắc luật lex Oppia áp đặt những giới hạn vào quyền sở hữu vàng, cách ăn mặc xa xỉ, hoặc ngồi song mã sang trọng của phụ nữ. Luật bị bãi bỏ vào năm 195 BC trước sự bực bội của những nhà luân lý cực đoan như Marcus Porcius Cato (xem Chương 23).

Vào thế kỷ đầu tiên BC quyền lợi của phụ nữ được cải thiện hơn. Những phụ nữ trên 25 tuổi có thể sở hữu tài sản riêng và ly hôn với chồng nếu muốn. Phụ nữ cũng đóng một vai  trò quan trọng hơn trong xã hội, mặc dù họ vẫn chưa được giữ những công việc chính thức nào. Nhưng phụ nữ chủ yếu vẫn chỉ được coi là vợ và mẹ. Augustus phạt những cô nàng và anh chàng không kết hôn (chẳng hạn, những người độc thân không được thừa kế di sản), nhưng lại thưởng cho những ai lập gia đình và có con.

Chưa hết, phụ nữ La Mã có thể bị chồng sử dụng bạo lực một cách hợp pháp. Sự thật bạo lực còn được coi là biện pháp hợp lý dành cho các bà mà ông chồng cho là không đàng hoàng. Kết quả là phụ nữ có sẹo trên mặt do bị chồng đối xử hung bạo không phải là chuyện bất thường. Một trường hợp khủng khiếp nhất là việc Egnatius Mecenius đánh vợ đến chết vì vợ uống rượu. Không có ai kết án y, mọi người đều cho là bà ta đáng tội chết.

Phụ nữ và con cái của họ

Phụ nữ La Mã không có quyền hợp pháp đối với con cái mình. Những đứa con không mong muốn có thể bị bỏ rơi ngoài đường, có thể sẽ chết hoặc bị nuôi làm nô lệ, tùy theo nó được tìm gặp ở đâu và mẹ nó có muốn thế hay không. Nếu chồng mình chết, tài sản sẽ thuộc về con trai và người phụ nữ có thể không được gì.

Phụ nữ chịu nuôi dưỡng con cái sẽ đối mặt với mọi lo lắng và phiền não vì tỷ lệ trẻ sơ sinh chết rất cao và tất cả những áp lực phải chăm lo cho được một con trai khỏe mạnh sống đến tuổi trưởng thành để có thể thừa kế tài sản của chồng  mình.

Các phụ nữ đặc biệt

Ngoài việc bì gò bó vì những công việc đặc biệt như Trinh Nữ Vestal (xem Chương 9), các giới hạn của phụ nữ không tác động mấy đến một số phụ nữ trong những gia đình quyền quý muốn có nhiều ảnh hưởng đối với cánh đàn ông chung quanh họ. Agrippina  Trẻ, em gái của Caligula và là mẹ của Nero, thực sự nắm toàn quyền cho đến khi Nero cho người ám sát bà (Chương 16). Một số phụ nữ trong triều đại Severan __ Julia Maesa, Julia Soaemias, và Julia Mamaea __ có quyền lực thật sự đằng sau ngai vàng của Elagabalus và Severus Alexander (Chương 19). Trong những tình huống đặc biệt, các phụ nữ xuất thân từ những thành phần khiêm nhượng hơn cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng họ. Đây là một vài ví dụ:

  • Eumachia ở Pompeii là một trong những thương gia thành đạt nhất thành phố vào giữa thế kỷ đầu tiên AD; bà hiến tặng một tòa nhà trong Quảng trường Pompeii cho nghiệp đoàn thợ nhuộm, thợ dệt, và thợ giặt ủi. Tòa nhà của bà được sử dụng làm cửa hàng bán len, và Eumachia đủ sức xây cất một ngôi mộ bề thế ngoài cổng thành nhưng không ai biết nhiều về bà. Có thể bà là người góa chồng và tiếp quản công việc làm ăn của ông hoặc có thể bà tự tay tạo ra cơ nghiệp.
  • Sempronia sinh sống khoảng thời gian của cuộc Âm mưu Catiline năm 62 BC (Chương 14). Nguyên là gái làng chơi, Sempronia là người ủng hộ Lucius Sergius Catalina. Có sắc đẹp tuyệt trần và là một nhạc công và vũ công tài năng, bà thậm chí kết hôn được và có con. Nhưng bà táo tợn như đàn ông và không mảy may để ý đến tai tiếng của mình. Bà lẳng lơ và không ngại tiếp cận đường đột với cánh đàn ông. Bà đã từng là tòng phạm trong một vụ mưu sát, và lúc nào cũng nợ nần vì sống quá phung phí. Nhưng theo sử gia Sallust, bà là người bạn dí dỏm, duyên dáng, tuyệt vời, và là một thi sĩ tài năng.
  • Volumnia Cytheris là một cô đào hát được trả tự do và chắc hẳn cũng là gái làng chơi giữa thế kỷ thứ nhất BC. Một thi sĩ có tên Cornelius Gallus đã làm thơ đề tặng nàng. Tài năng tình dục của nàng tạo cơ hội cho nàng làm quen với những nhân vật cao nhất trong chính trường, có thời gian là nhân tình của Mark Antony và Brutus. Cicero ghê tởm cách thức nàng lọt vào được giới chóp bu như vậy. Không may cho những phụ nữ như Volumnia, tuổi tác là kẻ thù của họ và họ có thể dễ dàng bị thất sũng và biệt tăm . . . và đó là điều xảy ra với nàng.

Trẻ con

Trẻ con cực kỳ quan trọng trong các gia đình La Mã, không chỉ chúng là những người thừa kế tiềm năng hoặc những người vợ tạo nên mối ràng buộc gia đình mà còn như những cá nhân. Các mộ bia trẻ con cho thấy sự mất mát của chúng cũng được tiếc thương như trong tất cả xã hội khác. Trẻ con có cuộc sống gay go, cho dù chúng sinh ra trong các gia đình giàu có. Kỹ luật nghiêm khắc là việc thường ngày và được quan niệm sẽ làm chúng trở thành một thanh niên dạn dày và có nhân cách.

Nuôi dưỡng và dạy dỗ

Một gia đình càng giàu có, con cái họ càng có cơ hội được một vú nuôi chăm sóc khi còn nhỏ và sau đó được một nô lệ nam đồng hành với em khắp mọi nơi: đến trường, hoặc đến những nơi công cộng ngoài nhà như nhà tắm và hí viện. Họ không chỉ là những người bảo vệ, mà còn dạy chúng về đạo đức, tư cách, hành vi.

Giáo dục đơn giản chỉ là một vấn đề về tài sản gia đình, nhưng giàu hay nghèo, thường chỉ có bé trai mới có cơ hội được dạy dỗ nghiêm túc. Ở La Mã hoặc bất cứ nơi đâu trong Đế chế không hề có hệ thống giáo dục công lập, mặc dù Vespasian (AD 69-79) là hoàng đế đầu tiên cho thuê thầy giáo dạy về thuật hùng biện ở La Mã do nhà nước chi trả.

Các thiếu niên nam từ những gia đình giàu có có thể đón nhận một nền giáo dục tốt nhất, nhằm chuẩn bị cho chúng một sự nghiệp trong đời sống công cộng và quân sự sao cho  chúng có thể có chỗ đứng xứng đáng trong số những con người gầy dựng và định hình nên Đế chế La Mã. Việc này có nghĩa là học văn phạm, tu từ học, âm nhạc, thiên văn, văn học, triết lý, và thuật hùng biện, hơn là những bộ môn ta công nhận ngày nay, mặc dù, tất nhiên học đọc và viết là cơ sở bắt buộc.

Dạy học được tiến hành trong nhà thầy, và có khi tại trường, trong khi người giàu có thể thuê các gia sư ăn ở luôn trong nhà . Việc d học cơ bản là giúp học sinh làm quen với văn chương, thần thoại, và pháp luật. Những trường tốt hơn dạy thêm các môn học cao sâu hơn cũng như truyền thụ kiến thức về Hy Lạp, trong khi các thiếu niên nam từ những gia đình ưu tú tiếp tục học tập về thuật hùng biện để chuẩn bị cho chúng sự nghiệp ở chính trường.

Một số mẫu bài tập làm văn còn lưu lại, cho thấy các trẻ sao chép lại những đoạn văn trong các tác phẩm của Virgil hay các thi sĩ khác, bất kể chúng sống ở đâu trong Đế quốc La Mã. Hầu hết thời gian các học sinh phải nghe thầy giảng và thuộc lòng các đoạn văn vì vật liệu viết khá mắc mỏ. Nhưng nhiều trẻ không được học, và chỉ có thể học đọc và viết khi tuổi đã lớn nếu may mắn. Theo chứng cứ khảo cổ các chữ viết trên tường cổ và các văn bản còn lưu lại cho thấy binh lính và cựu binh nói chung có trình độ học vấn cao hơn hầu hết phần còn lại của dân số.

Trẻ em nghèo

Trẻ em nghèo có ít cơ hội học tập hơn, mặc dù dưới thời Nerva (AD 96-98) và Trajan (AD 98-117) hệ thống alimenta được đưa vào nhằm tài trợ việc giáo dục cho trẻ em cơ nhở ở Ý.

Tất cả điều nầy hàm ý những trẻ em nghèo cũng được tạo điều kiện lớn khôn. Những gia đình nghèo quen với ý nghĩa là không muốn nuôi thêm một miệng ăn khác, nhất là nếu là bé gái, nên bị bỏ đi với hi vọng nó sẽ chết hoặc được ai đó nhặt lên. Ở miền Đông ai tìm được một trẻ bị bỏ rơi có thể nuôi làm nô lệ cho đến thời Trajan thì thông lệ này được cho là trái luật. Constantine I (AD 307-337) bắt đầu chương trình hổ trợ quốc gia ngăn cấm việc bỏ rơi trẻ sơ sinh __ Đế chế chỉ đơn giản không muốn phí phạm tài nguyên lao động, mặc dù mãi cho đến năm 374 nó mới thực sự bị bãi bỏ.

Các em có nguy cơ làm trẻ mồ côi nếu mẹ chúng chết khi sinh nở, có nghĩa là chúng phải hi vọng cha chúng hoặc một thân nhân khác nhận về nuôi. Hi vọng lớn nhất cho các trẻ nô lệ là được nuôi nấng trong cơ ngơi mà cha mẹ mình đang phục vụ, vì không có gì ngăn cản được việc chúng bị bán đi nơi khác. Các em có bệnh hay khuyết tật bẩm sinh có rất ít hoặc không có cơ may sống sót.  

                            

Chương 3 

Nấc Thang Dẫn Đến Các Vì Sao: Con Đường Nhầy Nhụa Đến Quyền Lực …

 

Trong Chương Này

  • Các hội đồng cai trị La Mã
  • Quyền lực và sự kế vị của các hoàng đế
  • Leo lên nấc thang sự nghiệp ở La Mã

Đế chế La Mã là đế chế của quyền lực: chiếm đoạt nó, nắm giữ nó, và thể hiện nó. Trong những ngày của nền Cộng hòa, toàn bộ hệ thống được thiết kế với một chuỗi những kiểm tra và xác lập cân bằng,  với các hội đồng khác nhau và luôn có hơn một quan chức cai trị, để ngăn ngừa không cho bất kỳ ai có quyền hành tuyệt đối. Nhưng người La Mã biết rằng trong một vài tình huống đặc biệt, chỉ một người nắm quyền mới giải quyết nhanh chóng những tình hình khó khăn nghiêm trọng, vì thế chức vụ độc tài được đề ra. (Nhớ rằng thuật ngữ độc tài của La Mã có nghĩa là một vị quan được bầu ra tạm thời được nắm quyền hành tuyệt đối trong trường hợp khẩn cấp. Nó không có nghĩa xấu như ngày nay, do những tên như Hitler và Mussolini tạo ra.)

Dù có biện pháp bảo vệ, nhiều người như Marius và Sulla cho thấy một vị tướng dưới tay có một đạo quân trung thành có thể ném bỏ hệ thống Cộng hòa qua một bên (xem Chương 14). Sau đó Julius Caesar được phong làm nhà độc tài trọn đời, và kết quả là nền Cộng hòa sụp đổ (xem Chương 15). Rồi hệ thống trong đó một người __ hoàng đế __ có quyền lực tối cao nằm bên trong một hệ thống Cộng hòa.

Chương này giải thích cách thức vận hành của quyền lực La Mã: ai nắm được nó, nó được sử dụng thế nào, và cách thức các hoàng đế nắm quyền lực về phía mình. Chương này cũng đề cập đến toàn bộ cấu trúc sự nghiệp của những con người ưu tú trong thế giới La Mã: cách thức sự nghiệp chính trị của một người khởi đầu và vươn cao đến đâu.

Các Hội đồng La Mã

Người La Mã lập ra một số hội đồng, có tầm quan trọng tại những thời điểm khác nhau và có những quyền hành khác nhau. Chúng phản ánh sự phân tầng của xã hội La Mã giữa giới quý tộc và giới thứ dân. Một số hội đồng này có nguồn gốc từ những ban cố vấn dưới các triều vua, như Viện nguyên lão. Một khi vua đã bị trục xuất, các hội đồng trở thành nền tảng của chính quyền. Dưới thời Cộng hòa, giới thứ dân thách thức quyền kiểm soát của giới quý tộc trong Viện nguyên lão bằng cách sáng lập hội đồng của riêng mình, Concilium Plebis Tributum (Hội đồng Thứ dân Bộ tộc, sẽ đề cập ở phần sau của chương này).  

Qua những thế kỷ tiếp theo, các căng thẳng giữa các bộ phận khác nhau gia tăng tột bực, khi các đại biểu của thứ dân, các hộ dân quan, liên tục thách đố giới quý tộc (lúc này bao gồm những thứ dân giàu có) trong Viện nguyên lão. Sự căng thẳng này tác động sâu sắc đến lịch sử La Mã, góp phần vào sự sụp đổ của nền Cộng hòa và dẫn đến quyền thống trị của một người là hoàng đế. Dưới thời các hoàng đế, các hội đồng vẫn còn nguyên nhưng quyền lực của họ đã suy giảm toàn bộ.

Comitia Curiata (‘Hội đồng các Phân khu’)

Comitia Curiata chỉ quan trọng trong những ngày khởi đầu thành lập La Mã. Đó là hội đồng cổ xưa của các công dân La Mã từ các bộ tộc quý tộc nguyên thủy (Ramnes, Tities, và Luceres). Những bộ tộc này được chia thành 30 curiae (‘các phân khu’, mười phân khu mỗi bộ tộc), chắc chắn gồm những nhóm gia đình có cùng huyết thống. Hội đồng có ít quyền lực, và vai trò chính của nó là phê chuẩn việc chỉ định một nhà vua, đã được Viện nguyên lão phê chuẩn, và do các quan chức chỉ định.

Comitia Centuriata (Hội đồng Bách Hộ’)

Comitia Centuriata là hội đồng của quân đội. 35 bộ tộc của người La Mã được phân chia thành các kỵ sĩ và năm giai cấp. Các giai cấp được tổ chức dựa trên tài sản và được chia nhỏ thành những khối centuriae (100 người). Các centuriae có vai trò như bộ binh, với giai cấp đứng đầu có đầy đủ áo giáp, gươm, và giáo. Mỗi giai cấp tiếp theo có trang bị kém hơn, cho đến giai cấp tận cùng không trang bị gì chỉ là những thanh niên cường tráng sẵn sàng ra trận.

Các centuriae tập họp trong các giai cấp của mình tại Comitia Cenruriata để bầu chọn các quan chức như quan chấp chính (xem tiếp mục sau). Trong thực tế, hai giai cấp trên cùng thường bầu cho nhau và kết quả là loại ra các giai cấp còn lại. Hệ thống này được lập ra trong những ngày đầu của La Mã. Vào thời kỳ của Đế chế, sự phân chia thành các bộ tộc vẫn còn tồn tại, nhưng chỉ mang tính hình thức.

Concilium Plebis Tributum

(‘Hội đồng Thứ dân do Bộ tộc sắp xếp)

Năm 471 BC trong cuộc Xung đột các Thứ bậc (xem Chương 14 để biết thêm), giới quý tộc bị bắt buộc phải chấp nhận hội đồng của giới thứ dân có tên là Hội đồng Thứ dân do Bộ tộc sắp xếp, từ đây gọi tắt là Hội đồng Thứ dân. Hội đồng này thông qua các đạo luật, bầu các đại biểu gọi là hộ dân quan (tribune) và các phụ tá (aedile plebeii).

Hộ dân quan sẽ xuất hiện trong suốt Phần III và IV của sách này, cho thấy bằng cách nào họ đã không ngừng gia tăng quyền lực để cuối cùng họ có thể làm hầu hết mọi việc mình muốn với cái cớ là bảo hộ quyền lợi của dân.

Quyền hạn của hộ dân quan

Hộ dân quan (lần đầu tiên nghe nói đến là năm 494 BC) có thể triệu tập Viện nguyên lão, nhưng quyền lực chính của ông là quyền can thiệp vì lợi ích của thứ dân bị quý tộc áp bức.

Vì hộ dân quan là người có thẩm quyền quyết định một người có bị áp bức hay không, nên đó là một quyền hành lớn: Hộ dân quan có thể ngăn cản sự bầu chọn các quan chức, dừng đoàn quân, bổ sung binh lính, và thậm chí đình hoản công việc của Viện nguyên lão. Hộ dân quan làm tất cả mọi chuyện này để làm xói mòn sự chuyên quyền của giới quý tộc, nhằm, chẳng hạn, vào năm 367 BC, đưa giới thứ dân vào thành phần chấp chính. Trong giai đoạn sau của nền Cộng hòa, các bè phái tranh giành nhau lạm dụng các hộ dân quan và quyền lực của họ, gây ra cảnh hỗn loạn chính trị, vì người ta nghĩ hộ dân quan là những người gương mẫu và bất khả xâm phạm.

Dưới triều Sulla, quyền lực của các hộ dân quan suy giảm nghiêm trọng cho đến khi Crassus và Pompey phục hồi nó. (xem Chương 14). Caesar lấy cớ là Viện nguyên lão đã vi phạm đặc quyền của các hộ dân quan để biện minh cho việc đi quá giới hạn và hành quân về La Mã vào 50 BC.

   

Đọc thêm:  Quyền phủ quyết của hộ dân quan

Phủ quyết có nghĩa là ‘Tôi ngăn cấm (việc này)’ bằng tiếng Latinh. Nếu một hộ dân quan cho rằng một đạo luật hoặc một vị quan chống lại quyền lợi hoặc tự do của thứ dân, ông ta có thể sử dụng quyền biểu quyết vì ông ta có quyền can thiệp. Nói ngay không có luật nào cho phép hộ dân quan có quyền này. Chuyện này sở dĩ có thể xảy ra vì lực lượng ủng hộ của giới thứ dân đối với hộ dân quan và quyền bảo hộ dân đã được tuyên thệ của hộ dân quan. Nói cách  khác, Viện nguyên lão không đủ sức phớt lờ nó. Vì thế nếu một hộ dân quan muốn cản trở một biện pháp bằng quyền biểu quyết, Viện nguyên lão đành phải chấp nhận. Việc hộ dân quan lạm quyền biểu quyết là điều mà hoàng đế Augustus lợi dụng khi ông ta ‘phục hồi’ nền Cộng hòa nhưng, trong thực tế, ông tự cho mình quyền lực cai trị tối cao.          

Hộ dân quan dưới thời Đế chế

Từ thời của Augustus trở về sau, hộ dân quan chỉ quan tâm làm những gì hoàng đế muốn. Ta không lấy gì ngạc nhiên khi thấy các hoàng đế thường lệ hành xử như một hộ dân quan để họ có các quyền hành đối với pháp chế và Viện nguyên lão. Không có nhiều người muốn hành xử như một hộ dân quan bên cạnh hoàng đế, vì thế Augustus phải bắt thông qua một đạo luật theo đó các hộ dân quan được chọn ra bằng cách rút thăm từ những nhân vật đã từng giữ chức quan coi quốc khố. Thậm chí cho dù giờ đây nó thực sự chỉ là một chức vụ có tính danh dự, các hộ dân quan vẫn tồn tại trong thế kỷ thứ năm tại La Mã và về sau đó còn tiếp tục ở Constantinople.

Quan thị chính

Lúc đầu, công việc duy nhất của các quan thị chính là giữ gìn các thẻ trên đó ghi lại các đạo luật được Hội đồng Thứ dân và các nghị định của Viện nguyên lão thông qua. Các thẻ luật được cất giữ trong Đền thờ Ceres, và giới thứ dân tất nhiên lo lắng là các quý tộc có thể thừa lúc không có mặt quan thị chính sẽ sửa đổi thẻ luật. Vào cuối những năm 400 BC, các quan thị chính có thể bắt giữ người và coi sóc việc quản trị trong thành phố. Họ cũng có những trách vụ khác nhau trong việc sử dụng quỹ nhà nước để chi cho các dịch vụ công ích.

Viện nguyên lão

Viện nguyên lão có thành viên là những nhà quý tộc (đã đề cập ở Chương 2), chủ yếu là những người đã nắm giữ những chức quan trong nấc thang sự nghiệp. Vào thời trị vì của Augustus, một nghị sĩ phải có một tài sản cá nhân ít nhất 1 triệu xectec (so sánh với số 400,000 xettec cho một kỵ sĩ).

Nguồn gốc của Viện nguyên lão

Viện nguyên lão có nguồn gốc là Hội đồng các Trưởng lão, tập hợp những người cầm đầu các gia tộc chính. Họ là những trưởng lão mà các nhà vua đầu đời của La Mã được mời đến để cố vấn, và họ hội họp tại một nơi lộ thiên ở Quảng trường. Truyền thống La Mã khẳng định rằng Romulus đã lập ra Viện nguyên lão gồm 100 người và vào cuối thời trị vì của Tarquinius Superbus vào năm 509 BC có đến 300 nghị sĩ. Số lượng trên không chắc là có thật, nhưng nó cho thấy Viện nguyên lão dần dần gia tăng số lượng và ảnh hưởng vào thời các nhà vua, cho dù vào những ngày đầu đó Viện không có quyền lực hợp pháp thực sự. Một số nhỏ các gia đình quyền quí nhất khống chế Viện nguyên lão, và trong những ngày cuối cùng của nền Cộng hòa, việc này tạo ra nhiều căng thẳng khi các đối thủ bắt đầu sử dụng quân đội riêng của mình hoặc hội đồng thứ dân để mưu tính tranh quyền đoạt lợi.

Các thành viên mới

Các kỵ sĩ là nguồn cung cấp chủ yếu các thành viên mới cho Viện nguyên lão. Sulla đã chọn 300 kỵ sĩ để bơm số lượng cho Viện nguyên lão sau cuộc Nội Chiến. Caesar cho phép người Ý và một số người Gaul bước vào Viện nguyên lão. Năm 29 BC, Viện nguyên lão có khoảng 1,000 thành viên, nhiều người trong số đó trước đây là kỵ sĩ, và Augustus phải cố thuyết phục 190 người tình nguyện xin ra. Những cá nhân có thể tìm đường thăng tiến vào Viện nguyên lão nếu họ gom đủ số tiền. Qua nhiều thế kỷ tiếp sau đó, các quan tỉnh lẻ trên hầu hết các vùng miền trong Đế quốc có thể trở thành thành viên. Xứ Anh (Anh quốc ngày nay) là một trong những vùng chưa từng sản sinh ra nghị sĩ nào. Có thể đó là do sự loại trừ có tính toán hoặc vùng này quá nghèo đến nổi không ai đủ giàu để có tư cách được chọn.

Quyền lực các Viện nguyên lão

Viện nguyên lão có những quyền hành khác nhau. Viện có thể:

  • Phê chuẩn các đạo luật được hội đồng thông qua
  • Phê chuẩn các hiệp ước
  • Chỉ định các thống đốc cho các tỉnh lị
  • Từ 121 BC, tuyên bố một người nào đó là kẻ thù quốc gia và ủng hộ hành động của bất kỳ quan chức nào chống lại người này: một sự thiết quân lực thực sự qua quyền lực của Senatus Consultum Ultimum (xem Chương 14).

Một nghị quyết của Viện nguyên lão (Senatus Consultum, mà người La Mã viết tắt là SC) không phải là một đạo luật, nhưng nó mạnh như một đạo luật. Hoàng đế nói chung cai trị qua các nghị quyết của Viện nguyên lão. Hoàng đế đặt SC trên những đồng tiền bằng đồng thau để ra vẻ là việc đúc tiền đồng nhỏ dùng để thối lại ít nhất là được ban hành theo sự tán thành của Viện Nguyên Lão. Một biểu hiện của nhân dạng  nhà nước La Mã là Senatus Populusque Romatus (QPQR), có nghĩa là ‘Viện nguyên lão và Nhân dân La Mã’. Hiện nay nó còn được chính quyền thành phố La Mã sử dụng.

Tòa nhà của Viện nguyên lão (Curia) ở Quảng trường La Mã là một trong những tòa nhà La Mã còn nguyên vẹn nhất còn lưu lại. Được Augustus xây dựng vào năm 29 BC, và được Diocletian tu bổ vào năm AD 284, có sức chứa khoảng 300 người (xem hình dưới).

4

       

     

Các Hoàng Đế

Từ thời Augustus, các hoàng đế cai trị không vì họ được tuyên bố là nhà trị vì tối cao và một văn phòng chính thức của ‘hoàng đế’ được thành lập, nhưng vì họ sở hữu một tập hợp duy nhất các phẩm chất, danh hiệu, và uy tín bên trong khuôn khổ về bản chất (ít nhất là trên giấy tờ) là hệ thống Cộng Hòa xa xưa của các quan lại, và ban cho họ quyền lực lớn lao đối với các hội đồng.

Các danh hiệu hoàng đế

Khi Augustus thực sự trở thành hoàng đế vào năm 27 BC, ông sắp xếp mọi việc để Viện nguyên lão ban thưởng ông nhiều quyền hành. Bằng cách này ông không có vẻ gì là ép buộc họ bằng bạo lực hay bằng bất kỳ những phương tiện nào khác (xem Chương 16 để biết thêm chi tiết). Tất cả những hoàng đế khác đến thời Dominate của Diocletian vẫn duy trì sự sắp xếp này, mặc dù theo thời gian rõ ràng nó dần mang tính hình thức.

Một số danh hiệu mà nhà vua nhận được bao gồm:

  • Augustus: Octavian được Viện nguyên lão phong danh hiệu này vào 27 BC. Nó có nghĩa ‘Người Đáng Kính’ hoặc ‘Người Xứng Đáng với Danh Dự’. Tháng Sextilius được đổi thành August (tháng tám), đến nay còn sử dụng. Augustus thực sự là một danh hiệu tôn giáo và nhằm nâng vị thể của ông lên từ chức vụ Đệ Nhị Tam Đầu Chế. Augustus trở thành một danh hiệu cho bất kỳ hoàng đế trị vì nào, nhưng nếu có một hoàng đế trẻ hơn thì Augustus dành cho người trong nhóm lớn tuổi hơn.
  • Caesar: Đây là một phần của dòng họ Julio-Claudians (mọi hoàng đế từ Augustus đến Nero) và cho biết đó là hậu duệ thực sự (hoặc được nhận nuôi, trong trường hợp của Tiberius) từ cha của Julius Caesar. Sau khi Nero tự vẫn vào năm AD 68, dòng họ Julio-Claudians tuyệt tích, vì thế các hoàng đế về sau lấy tên Caesar như một phần của tên họ để bảo tồn tính kế thừa của gia đình. Nhưng về sau Caesar trở thành một cách thức chỉ thị một người kế vị hoàng đế  __ thường là một con trai hoặc một con nuôi của Augustus.
  • Imperator: Từ này có nghĩa ‘Tư lệnh (của quân đội)’ và có cùng nguồn gốc với từ imperium, được sử dụng để mô tả uy quyền quân sự do Viện nguyên lão phong cho. Augustus lại sử dụng danh hiệu này như một phần của tên mình, không coi là một danh hiệu. Từ danh hiêu này ta có từ hiện nay là ‘emperor, hoàng đế’.

Các hoàng đế chào hỏi Viện nguyên lão bằng những lời sau: ‘Cầu mong các ngài và gia đình các ngài an khang; ta và quân đoàn đều an khang.’ Lời chào hỏi củng cố vị thế của hoàng đế như người cầm đầu quân lực và duy trì hình thức tôn kính đối với Viện nguyên lão như là nền tảng truyền thống lâu đời của nhà nước La Mã.

  • Imperium: Imperium có nghĩa ‘Tư lệnh quân đội’ và ‘Uy quyền Tối cao’. Người nắm danh hiệu imperium kiểm soát chiến tranh và luật pháp, và do đó có quyền lực đối với quân đội. Trong quá khứ xa xôi, danh hiệu này dành riêng cho các nhà độc tài và các quan lớn. Trong nền Cộng hòa, danh hiệu được ban thưởng cho những người như Pompey Đại Đế. Các quan chấp chính và pháp quan cũng nắm những danh hiệu này. Trong chốn quan trường, có nhiều mức độ imperium tùy theo độ tuổi cá nhân. Nó thường chỉ có tính giai đoạn. Các hoàng đế nhận danh hiệu imperium maius ‘imperium tối cao’, để phân biệt các imperium ở mức độ thấp hơn.
  • Các danh hiệu quân đội: Các hoàng đế nhận một số danh hiệu quân đội khác nhau để tưởng niệm những cuộc chiến họ đã tham dự. Đây thường là tên địa điểm, như Parthicus và Dacicus trong cuộc chiến Trajan xảy ra ở Parthia, và Dacia hoặc Armeniacus cho cuộc chiến ở Armenia của hoàng đế Marcus Aurelius; hoặc như danh hiệu Germanicus được phong cho cha của Caligula, đã thắng lợi rực rỡ trong chiến dịch ở Germany (Đức) trong thời trị vì của Tiberius.
  • Pater Patriae: Augustus được phong danh hiệu này vào 2 BC. Danh hiệu có nghĩa ‘Quốc Phụ’ để ghi nhận công lao nổi bật của ông cho Đế chế La Mã. Nhiều hoàng đế sau này cũng giữ những danh hiệu đó.
  • Pointifex Maximus: Danh hiệu này có nghĩa ‘Giáo chủ’, một chức vị được giữ suốt đời và thường được trao tặng khi một hoàng đế lên nắm quyền, mặc dù Augustus không nhận được nó cho mãi đến 13 BC (tức 14 năm sau khi ông lên ngôi hoàng đế). Người giữ danh hiệu này có quyền tối cao về mọi sự vụ tôn giáo và nghi lễ La Mã.

Chức vụ tương đương với ngày nay chắc hẳn là giáo hoàng, người cũng tự xưng mình là Pontifex Maximus.

  • Princeps: Từ này có nghĩa ‘Tôi đứng đầu’. Danh hiệu Princeps đã được phong cho Augustus, người có uy quyền cao nhất ở La Mã.
  • Dominus Noster: Danh hiệu này có nghĩa ‘Chúa Tể của Chúng ta’. Từ thời Diocletian (AD 284-305) trở đi, danh hiệu này dần dần thay thế danh hiệu imperator, và đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp đến thời Dominate (Nguyên thủ).

Đa nhiệm: Các công việc của hoàng đế

Augustus và những hoàng đế kế vị đảm nhiệm một số chức quan đặc trưng của nền Cộng hòa cùng các công việc khác, bao gồm hộ dân quan, quan chấp chính, và giám quan. Bằng cách giữ những chức vụ này, họ chứng tỏ mình đang phục vụ bên trong hệ thống Cộng hòa, và như vậy quyền lực của họ là hợp pháp. Không phải Augustus đã từng tuyên bố là mình đã phục hồi nền Cộng Hòa, chứ không phải phủi sạch nó hay sao?

Quyền hành của hộ dân quan

Quyền hành hộ dân quan của một vị hoàng đế là điều quan trọng nhất.

Augustus cho rằng làm hộ dân quan là cơ bản cho quyền lực của mình. Ông có thể đóng vai một người bảo vệ nhân dân, có quyền lực đối với Viện nguyên lão như là có thể triệu tập Viện và phủ quyết bất cứ điều gì Viện làm. Có được quyền hành hộ dân quan cũng có thêm giá trị giúp hoàng đế thành thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Vì thế vào năm 19 BC, Augustus trở thành hộ dân quan suốt đời, nhưng được phong chức từng năm  __ tất nhiên, cho hợp hình thức. Tất cả các vị hoàng đế về sau cũng bắt chước ông.

Quan chấp chính

Chức vụ chấp chính ít được hoàng đế nắm giữ, vì thế nó được đề cập bên dưới trong bậc thang sự nghiệp của những người ở hàng nghị sĩ, cùng với những phẩm chất cơ bản mà mọi người La Mã có chức vị cần có: lòng tự trọng, quyền uy, và đạo đức.

Quan giám sát (hay Giám quan)

Đây là chức quan thời Cộng Hòa cũ. Chức quan này lo về đạo đức xã hội và từ 443 BC giám sát cuộc điều tra dân số. Chức vị này gần như là dư thừa vào thời gian cuối của nền Cộng hòa, nhưng một số hoàng đế như Vespasian (AD 69-79) và con trai ông Domitian  (81-96) cũng nắm giữ nó.

Việc kế vị   

Về lý thuyết, vì không phải là thể chế quân chủ, nên không có hệ thống kế thừa ngai vàng. Trong thực tế, từ thời Augustus trở đi, bất kỳ hoàng đế nào cũng có thể bổ nhiệm một người kế vị là nam để nắm giữ những chức vụ và danh hiệu khác nhau mà ông có. Bất cứ lúc nào có thể, người kế vị này thường là con trai của hoàng đế, nhưng có khi chỉ một con trai cũng không có.

Nguyên tắc cha truyền con nối

Augustus không có con trai hoặc cháu nội còn sống (hoặc thích hợp). Nếu ông muốn thiết lập vương triều, ông hoàn toàn tùy thuộc vào việc cưới con gái mình Julia cho một người kế vị nam thích hợp (Marcellus, Agrippa, và cuối cùng con ghẻ của mình Tiberius). Nhưng hầu như tất cả những hoàng đế từ Vespasian trở đi duy trì nguyên tắc vương triều, qua hết thế kỷ thứ hai chủ yếu bằng con nuôi. Sau đó các hoàng đế liên tục cố gắng truyền ngôi cho con trai ruột hoặc con trai nuôi cho đến thời trị vì Diocletian (AD 284-305). Nếu không có sẵn người kế vị, thế thì người tốt nhất nối tiếp sẽ được sắp xếp, với điều kiện  không có ai khác quyết tâm tự phong mình là hoàng đế.

    

Chạy trước khi có súng lệnh

Người La Mã dư biết lần này và lần nữa rằng quyền lực của lưỡi gươm là quyền lực cai trị khi một hoàng đế mất đi mà không có người kế vị rõ ràng. Thường thì không hề thiếu những ứng viên hoàng đế với binh lính đứng đằng sau. Đó là cách thức các cuộc nội chiến vào những năm AD 68-69 và 193-197 khởi phát, và đó cũng là lý do tại sao thế kỷ thứ ba chứng kiến những đoàn kỵ binh liều lĩnh của những hoàng đế quân nhân đánh giết nhau tranh giành quyền lực trước khi bị giết chết (thường là vậy, xem Chương 19 về thời kỳ này).

Nhưng ngay cả bọn cắt cổ này một khi đã làm hoàng đế cũng muốn cất nhắc con trai mình làm người kế vị, và họ lúc nào cũng vơ vét tất cả danh hiệu mà một hoàng đế cần có. Maximinus I (AD 235-238) là một nông dân xứ Thrace leo lên nấc thang quyền lực rồi cuối cùng lật đổ và giết chết Severus Alexander (222-235). Maximinus lập tức được phong quyền hành hộ dân quan trọn đời, được ban thưởng những danh hiệu Augustus, Pontifex Maximus, và Pater Patriae, và hành xử như một Quan Chấp Chính Tối cao vào năm trị vì thứ hai.

Thời điểm duy nhất mà sự kế vị được xét chỉ dựa vào phẩm chất xứng đáng là dưới thời Tứ Đầu Chế của Diocletian (xem Chương 19) khi đó hai hoàng đế lớn tuổi (mỗi người là một  Augustus) chỉ định hai hoàng đế trẻ tuổi (mỗi người là một Caesar) sẽ kế vị mình, và những Caesar này sau đó sẽ lên làm Augustus và chỉ định lại các Caesar của riêng mình và cứ thế. Hệ thống chẳng bao lâu phá sản khi các con trai ruột của một số Tứ Đầu Chế phản đối việc mình bị cho ra rìa. Đúng là, một giọt máu đào hơn ao nước lã.

Leo Lên Đỉnh Cao Quyền Lực

Các quý tộc cũng như giới kỵ sĩ có con đường sự nghiệp riêng của mình. Trong thời Đế chế, những con đường danh vọng này đã phần nào định hình, dựa vào vị thế, tài sản, và tuổi tác.

Nấc thang sự nghiệp của các nghị sĩ

Các ông từ gia đình quý tộc thuộc hàng ngũ nghị sĩ được mong đợi theo đuổi sự nghiệp qua những chức quan liên tiếp, hầu hết do hội đồng bầu ra, và thường có nhiệm kỳ một năm. Một khi đã giữ chức quan cao nhất, ông ta có thể bước vào Viện nguyên lão.

Về lý thuyết, tất cả chức quan trong quan trường đều được bầu ra. Trong thực tiễn, chúng thường được hoàng đế hoặc quần thần bán. Vespasian (AD 69-79), vị hoàng đế yêu tiền, bán chức tước, và dưới thời Commodus, người được trả tự do Cleander đã phất lên vì nghề này (xem Chương 18), nhưng họ còn lâu mới là tội phạn duy nhất.

Một người La Mã nắm giữ bất kỳ chức quan nào trong nấc thang sự nghiệp cũng được trông đợi sở hữu một số phẩm chất căn bản, cũng áp dụng đối với hoàng đế. Những phẩm chất đó là:

  • Uy quyền: Uy quyền để ban lệnh có được từ uy tín cá nhân.
  • Tự trọng: Có nghĩa ông ta phải là một người có danh dự, đáng tin cậy, trung thành, và có nguyên tắc.
  • Đạo đức: Một người La Mã được đánh giá bằng năng lực vượt trội, lòng tốt, và đạo đức cá nhân.

Quan trường

Vào thế kỷ thứ nhất và hai AD, các nghị sĩ có thể đảm nhận các vai trò sau, thường đi theo thứ tự này, khi họ leo dần lên bậc thang quyền lực:

  • Quan quốc khố: Chức quan thấp nhất, quan quốc khố trông coi tài chính công và kho bạc, thu thuế lợi tức và trông coi chi phí công cộng. Chức vụ này thường được những người khoảng 27 đến 30 tuổi nắm giữ, thường sau khi ở quân ngũ ra (xem Chương 5 về quân đội La Mã). Sau khi hoàn thành chức vụ này, người có năng lực có thể trở thành hộ dân quan, hoặc quan thị chính. Hai chức quan này không có tính bắt buộc trên nấc thang sự nghiệp, và vào thời các hoàng đế, chức vị hộ dân quan chỉ mang tính danh dự.
  • Quan thị chính: Quan thị chính có trách nhiệm phát chẩn, trông coi đường phố, giữ gìn trật tự công cộng, giám sát việc cung cấp nước, các đơn vị đo lường, và thậm chí những lãnh vực thực hành tôn giáo. Quan thị chính lúc đầu được cắt làm phụ tá cho hộ dân quan, nhưng vào năm 367 BC, họ trở thành chức quan bình thường.
  • Pháp quan: Chức quan này trông coi về luật pháp. Các pháp quan có quyền chỉ huy quân đội. Vào thời kỳ các hoàng đế, có 12 pháp quan được bầu cử hàng năm, do những người đàn ông bình thường 30 tuổi trở lên.
  • Quan chấp chính: Quan chấp chính là chức quan lớn về quân sự và dân sự và là những người cầm đầu nhà nước. Như pháp quan, quan chấp chính có quyền điều khiển quân đội, nhưng quyền lực mạnh hơn nhiều. Người đã từng làm quan chấp chính đem vẻ vang đến cho gia đình mình và con cháu mình, khiến họ trở thành quý tộc. Hai quan chấp chính đầu tiên được bầu vào băm 509 BC, khi các ông vua bị tẩy chai. Việc bầu cử do Hội đồng 100 người tiến hành. Quan chấp chính phải ít nhất 42 tuổi khi được bầu lần đầu, và phải đợi mười năm sau mới được bầu lại (mà Marius phớt lờ, xem Chương 14). Nhưng dưới thời các hoàng đế, tất cả hạn chế này đều bị bỏ qua, và chính hoàng đế là người thường đề cử người làm chấp

chính, đôi khi tự ông ta làm một thành viên chấp chính hàng năm (Domitian làm quan chấp chính mười lần trong thời trị vì 16 năm của ông). Khi đó, một số cặp đôi quan chấp chính được bầu hàng năm, thay vì chỉ một cặp đôi dưới thời Cộng hòa. Hai quan chấp chính đầu tiên của mỗi năm là hai người lớn tuổi và được gọi là consules ordinarii. Những cặp đôi sau đó được gọi là consules suffecti (‘quan chấp chính thay thế’). Bằng cách gia tăng số lượng theo cách này, có thêm nhiều người đủ điều kiện sẵn sàng cho những công việc như cai trị các tỉnh xa.

Tất cả những chức vụ được mô tả trong danh sách trên đây thực sự thuộc về những thế kỷ thứ nhất và thứ hai AD, nhưng có nguồn gốc từ thời Cộng hòa. Vào thế kỷ thứ ba, tình hình có thay đổi. Các kỵ sĩ càng ngày càng được sử dụng nhiều cho những công việc mà trước đây các nghị sĩ từng làm. Vào thời Domitate của Diocletian, toàn bộ hệ thống đã rất khác. Bạn có thể tìm được những chi tiết này trong Chương 20, ở đó tôi sẽ giải thích cách thức Diocletian tái tổ chức Đế chế.

                

Tư lệnh quân đoàn và thống đốc tỉnh lỵ

Cựu pháp quan thường là ứng viên cho các chức vụ propraetorian (chỉ huy các quân đoàn hoặc cai trị các tỉnh lỵ ít quan trọng hơn), và các cựu chấp chính là ứng viên cho chức vụ proconsular (cai trị những tỉnh lỵ quan trọng nhất hoặc trọng yếu về mặt quân sự). Vì các hoàng đế hầu như mặc nhiên nắm giữ chức vụ chấp chính, họ cũng có chức vị proconsular. Từ pro- có nghĩa là người giữ chức vụ này có tất cả quyền hành và vị thế của một pháp quan, hoặc một chấp chính, trong công việc mới.

  • Proconsul: Thống đốc của một tỉnh thuộc nghị viện, một người đã từng giữ chức chấp chính (đây là những tỉnh lỵ lâu đời hơn, hầu hết quanh vùng Địa Trung Hải, như Hy Lạp).
  • Praefectus urbi: Thị trưởng La Mã có nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở La Mã, thường do một nghị sĩ đã từng là quan chấp chính nắm giữ
  • Legatus Augusti pro praetore: Thống đốc của các tỉnh lỵ thuộc hoàng đế (hầu hết là những tỉnh biên giới như Anh và Đức); có thể là người có chức vụ proconsular hoặc propraetorian.
  • Legatus iuridicus: Do Vespasian đặt ra để gánh bớt công việc của các thống đốc, có nhiệm vụ giám sát việc thi hành pháp luật trong khi thống đốc bận bịu những công việc khác như đánh trận.
  • Legatus legionis: Tư lệnh quân đoàn; thường là người có chức vụ propraetorian.

 Các chức vị này không cố định mãi mãi. Trong thời trị vì của Gallienus (253-268), tư lệnh các quân đoàn càng ngày càng được phong cho các quận trưởng thuộc giới kỵ sĩ, chắc chắn là những chiến binh dày dạn đã leo lên các thứ bậc cao, và phản ánh nhu cầu của thời đại.

Con đường hoạn lộ của Gnaeus Julius Agricola

Agricola (AD 40-sau 97) là cha vợ của sử gia Tacitus. Tacitus đã viết một tiểu sử của Agricola, nhờ đó ta biết một lượng thông tin rất lớn về sự nghiệp của ông ta hơn bất kỳ của ai khác. Agricola sinh tại Forum Julii (Frejus) trong tỉnh Gallia Narbonensis. Cả hai ông nội ngoại của ông đều là kỵ sĩ và nắm chức Biện lý, nhưng cha ông, Julius Graecinus, được thăng tiến đến chức nghị sĩ. Sự nghiệp của mỗi người đều độc nhất, nhưng sự nghiệp của Agricola cho ta một ví dụ rất tốt về một con người ở đỉnh cao của xã hội La Mã.

  • 20 tuổi: Giữ chức Hộ Quân tại Bộ Tư Lệnh của Thống đốc ở Anh khoảng năm AD 60
  • 23-24 tuổi: Trở về La Mã, lập gia đình và trở thành quan quốc khố năm 63-64 cho thống đốc châu Á
  • Tuổi 24-25: Nghĩ một năm khoảng 63-64
  • Tuổi 26-27: Hộ dân quan khoảng 66-67
  • Tuổi 27-28: Pháp quan khoảng 67-68
  • Tuổi 29-30: Trở lại Anh giữ chức Propraetorian Legatus Legionis (Tư lệnh) của quân đoàn XX vào 69-70
  • Tuổi 33-36: Propraetorian Legatus Augusti (thống đốc) của Gallia Aquitania khoảng 73-76
  • Tuổi 37: Quan chấp chính La Mã năm 77
  • Tuổi 37-44: Proconsular Legatus Augusti (thống đốc) của Anh, tư lệnh cuộc chiến tranh chinh phạt chính khoảng cuối 77-83/4

Với đà này, Agricola có thể đã trở thành proconsular (thống đốc) châu Á hoặc châu Phi nhưng vì những lý do chính trị con đường danh vọng kết thúc. Ông không còn giữ chức vụ nào nữa.

  Nấc thang sự nghiệp của giới kỵ sĩ

Hầu hết giới kỵ sĩ suốt đời là giám đốc ngân hàng hoặc thương gia. Nhưng có một nấc thang sự nghiệp dành cho các kỵ sĩ ưu tú. Nấc thang này mềm dẽo hơn nấc thang sự nghiệp của nghị sĩ và không cần thiết phải qua những chuỗi chức vụ chuẩn mực. Điều khác biệt lớn với các sự nghiệp nghị sĩ là đối với những kỵ sĩ ưu tú này các chức vụ họ nắm được  phụ thuộc trực tiếp vào hoàng đế.

Một kỵ sĩ có thể trải qua những chức vụ chỉ huy những đơn vị quân đội hổ trợ, có lẽ bắt đầu từ những công việc quản trị thấp như phó quản lý thuế cảng, trước khi làm chức vụ chỉ huy các đơn vị bộ binh, tiến lên làm chỉ huy những đơn vị kỵ binh trước khi lên chức tư lệnh hạm đội La Mã. Sau đó ông ta có thể nhận chức giám quan trưởng của một tỉnh, quản lý những vấn đề tài chính (để ngăn thống đốc nắm quá nhiều quyền hành). Một kỵ sĩ khác có thể phục vụ trong những ngành giám sát dân sự khác nhau, quản lý tài sản đế chế. Vào thế kỷ thứ hai, những công việc khác nhau này tất cả đều được xếp hạng tùy theo thang lương dựa vào mức độ quan trọng của công việc.

Một kỵ sĩ thành đạt nhiều có thể leo lên bất cứ chức vị  đỉnh cao nào như dưới đây:

  • Praefectus aegypti: Thống đốc Ai Cập (Ai Cập thuộc sở hữu cá nhân của hoàng đế).
  • Praefectus annonae: Có trách nhiệm quản lý nguồn lương thực cho La Mã và cứu trợ cho dân chúng.
  • Praefectus civitatium: Thống đốc kỵ sĩ của một tỉnh.

Thống đốc kỵ sĩ nổi tiếng nhất là Pontius Pilate. Ông cai trị Judae giữa những năm AD 26-36 trong thời gian Christ  bị đóng đinh. Judae là một trong một số tỉnh lỵ nhỏ nhưng hay gây rối (những tỉnh khác là Raetia và Noricum) đích thân hoàng đế phải bổ nhiệm các thống đốc kỵ sĩ.

  • Praefectus praetorio: Có trách nhiệm chỉ huy quân đồn trú La Mã.
  • Praefectus vehiculum: Coi sóc về đường xá La Mã.
  • Praefectus vigilum: Chỉ huy lực lượng cứu hỏa La Mã.

Lý do những chức vụ này dành cho giới kỵ sĩ là vì hoàng đế muốn giữ những chức vụ có nhiều quyền hành này khỏi tay các quý tộc nghị sĩ. Dưới triều Severus Alexander (đề cập trong Chương 19), chức vụ Praefectus praetorio cũng thuộc về nghị sĩ. Ngược lại, chức vụ Legatus legionis (tư lệnh các quân đoàn) thuộc về các kỵ sĩ dưới triều Commodus (Chương 18) và Gallienus (Chương 19), thay vì các nghị sĩ.

Vì các thứ bậc của giới kỵ sĩ được sử dụng từ cuối thời Cộng hòa trở đi để cung cấp những ứng viên mới cho Viện nguyên lão, không có gì ngạc nhiên khi nhiều nghị sĩ và ngay cả các hoàng đế, như Agricola và Vespasian theo thứ tự, cũng có tổ tiên thuộc giới kỵ sĩ. Vào thời trị vì của Commodus, một vài tư lệnh quân đoàn là các kỵ sĩ, và tiến trình cứ tiếp tục về sau. Hoàng đế Macrinus (AD 217-281) vẫn còn là một kỵ sĩ khi tự phong Hoàng đế, điều không có tiền lệ và gây bất mãn (xem Chương 19). Sự phân chia giai cấp của xã hội quý tộc La Mã ra thành nghị sĩ và kỵ sĩ vẫn kéo dài cho đến thời trị vì của Constantine (Chương 20), vào thời đó sự phân biệt đã không còn có tác dụng thực tiễn.      

          

Chương 4 

Niềm Vui Thôn Dã:  Miền Đất Mơ Ước của Người La Mã 

Trong Chương Này

  • Tình yêu thôn dã của người La Mã
  • Sách giáo khoa La Mã về cách thức làm nông trại
  • Điền trang (villa) có ý nghĩa như thế nào đối với người La Mã
  • Bằng cách nào phần còn lại của Đế chế học được tập quán yêu thích điền trang

Trên khắp thế giới La Mã, từ những vùng xa xôi hẻo lánh của xứ Gaul đến biên giới sông Rhine, Bắc Phi, và vùng Biển Đen, hàng triệu trại chủ và nông dân suốt đời cặm cụi trên ruộng đồng, tạo ra một sản lượng đồ sộ nông sản được vận chuyển để nuôi sống dân chúng của La Mã và các thành phố khác trên Đế chế. Nhưng đối với người La Mã, nông nghiệp không chỉ là một hoạt động làm ăn. Mặc dù quyền lực và nhân diện La Mã gắn bó với thành phố, người La Mã luôn cảm thấy rằng sống ở miền quê xa hẳn thành phố mới là cách duy nhất đem lại sự an lạc trong tâm hồn. Cho dù khi họ không thể sống ở miền quê, họ trang trí những bức tường của ngôi nhà mình bằng những cảnh tượng đồng quê huyền thoại. Những tác phẩm của các thi nhân và văn sĩ La Mã luôn đầy ắp những cảnh mô tả thi vị các chủ đề mộc mạc, được xem như những biểu tượng truyền thống của tính khắc khổ, nhẫn nại, và cần cù: những phẩm chất riêng biệt đã biến La Mã thành một thành phố hùng mạnh sở hữu một đế chế bao la. Ngay cả những tỉnh lỵ vừa được chinh phục cũng bắt đầu tập tành theo. Tóm lại, nếu trái tim của thế giới La Mã là thành phố, thì tâm hồn của họ __ ít nhất đối với chính người La Mã __ là miền quê.

Chương này nói về hình ảnh đầy tưởng tượng của vùng quê, những tác giả đã giúp tạo ra và thăng hoa ý tưởng này, và cách thức người La Mã giàu có cố sinh sống theo ước mơ thôn dã của họ trong những điền trang ở miền quê. Nhưng tôi cũng đề cập đến thực tế của cuộc sống thường nhật trong ngôi nhà hoặc căn hộ ở thị trấn, hoặc việc nhọc nhằn kiếm sống bằng nghề chăm sóc cơ ngơi góp phần cho giấc mơ thôn dã La Mã của chủ nhân.

Chúng Ta từ Đáy Lòng là Nông Dân

Cho dù Đế chế chỉ vận hành được nhờ có quân đội, thành phố, giao thông, hội đồng, quan trường, và cách thức hoàng đế cai trị, nhưng người La Mã luôn hồi tưởng về một quá khứ nơi vùng quê thơ mộng trên đất Ý. Người La Mã tin rằng sở dĩ họ trở nên quá cường thịnh là vì nguồn gốc của mình là nông dân và trại chủ với công việc lam lủ nhọc nhằn và kỷ luật nghiêm minh.

Những sách giáo khoa về cuộc sống nông thôn La Mã được viết bởi ba cây viết chủ lực truyền thống: Cato (234-149 BC), Varro (116-27 BC), và Columella (thế kỷ thứ nhất AD). Những tác giả này rất có ảnh hưởng trong thời đại của họ, chủ yếu trong giới có học thức (Chưa chắc người nông dân trung bình biết đến sự tồn tại của tác phẩm, chưa nói đến có cơ hội để đọc hay sở hữu một bản sách). Nhưng điều quan trọng hơn việc đó là chúng cho ta biết về cách thức người La Mã nhận thức về mình và giá trị mà các nhà tư tưởng La Mã gán cho việc làm nông.

Học giả La Mã Cato (tên đầy đủ là Marcus Porcius Cato) lớn lên trên nông trại của cha mình gần thị trấn Sabine ở Reate (hiện nay là Rieti) cách La Mã khoảng 60 km về phía đông bắc. Ông phát sinh tình yêu đối với đất đai vì tính thuần khiết của nó và cuộc sống đơn sơ, mộc mạc của người nông dân và tìm thấy ở cuộc sống này biểu hiệu tối hậu của lòng yêu nước. Trong tác phẩm ‘De Agri Cultura (‘Về Việc Canh Tác Đồng Ruộng’), được xem là một cẩm nang của người nông dân, Cato truyền đạt nhận thức là nghề nông là cách kiếm sống lương thiện duy nhất. Cho vay và buôn bán có thể làm giàu, nhưng theo Cato, đó là những nghề không lương thiện và đầy rủi ro. Cato cũng tuyên bố là những chiến binh ‘dũng cảm và dạn dày nhất’ đều xuất thân từ gia đình nông dân. Trong tác phẩm của mình, Cato góp phần củng cố truyền thống La Mã khi cho rằng Đế chế là phần thưởng và hoa trái của một quân đội có nguồn gốc từ những luống cày trên ruộng đồng.

Marcus Terentius Varro sinh ra tại Reate (Rieti) và có một sự nghiệp thành công khi làm việc cho Pompey Đại Đế (bàn đến trong Chương 14). Khi tuổi xế chiều, ông dành hết thời gian để viết sách. Khi gần như 80 tuổi  ông bắt đầu trước tác cuốn Res Rusticae (‘Chuyện Đồng Quê’), được dự tính là một cẩm nang cho vợ mình Fundania vừa mới mua sắm trang trại. Varro viết tác phẩm mình như một chuỗi những cuộc đối thoại giữa những nhân vật khác nhau có tên rất nhà quê như ‘heo giống’, ‘chồi mầm’. Ngoài việc cung cấp nhiều thông tin cơ bản cho nhà nông, tác phẩm của Varro cũng gây cảm hứng cho thi sĩ La Mã Virgil tạo nên thi ca Georgics ca ngợi cuộc sống thôn dã và được Augustus cùng các hoàng đế về sau luôn nghiền ngẫm, củng cố thêm lòng tự tin của họ về sứ mệnh La Mã.

Lucius Junius Moderatus Columella xuất thân từ Tây Ban Nha nhưng sinh sống và làm ruộng ở Ý. Ông sáng tác Rei Rusticae (‘Về Nông Nghiệp’) vào khoảng AD 60-65 để khuyến nông. Ông rất băn khoăn về điều ông coi là sự suy thoái của nông nghiệp Ý do các chủ đất không hề có mặt ở trang trại và không quan tâm gì đến việc làm nông. Khi Ý càng ngày càng lệ thuộc vào lương thực nhập khẩu, Columella càng thấy vô vọng khi cổ vũ cho các chủ đất quan tâm nhiều hơn đến nghề nông, ông biết rằng chỉ có việc làm nhọc nhằn mới làm xoay chuyển được tình thế. Mục tiêu mà  Res Rusticae, tác phẩm đề cập đến việc xây dựng nông trại, mùa màng, trái cây, thú nuôi, nhân công, và cây cối, nhắm tới là cung cấp thông tin thiết yếu để việc làm nông là một đầu tư thành công và có lợi nhuận.

     

Sống ở Thành Phố; Mơ về Nông thôn

London, Washington, và New York đầy dẫy những con nguời từ mọi tầng lớp xã hội. Thành phần chóp bu đến thành phố vì công việc kinh doanh, vì có chân trong chính quyền, vì muốn là thành phần của một hoạt động. Những người khác đến để kiếm việc làm, vì thành phố an toàn và tiện nghi. La Mã cũng như vậy. Nó là trung tâm của quyền lực và thương mại, nó thu hút dân chúng như một thanh nam châm. Nhưng một trong những nghịch lý của cuộc sống thành phố là những cư dân của nó luôn mơ về một cuộc sống ở nơi khác.

Khi người La Mã càng ngày càng lệ thuộc vào những tiện nghi của cuộc sống và kinh tế đô thị, họ càng tiếc nuối những gì mình đã đánh mất, không khác chúng ta. Thành phố thì ồn ào, nhộn nhịp, vội vã, luộm thuộm, và nhiều người La Mã khao khát khoảng không rộng mở xa cách đám đông. Những người  La Mã có học vấn đọc các vần thơ trong Georgics của Virgil để mơ về thiên đường quá khứ, cũng giống như khi ta xem phim dựa theo tiểu thuyết của Jane Austen quay những cảnh mờ ảo của nông thôn thế kỷ thứ mười tám và than vãn cho sự mất mát khung cảnh đồng quê khi phải đánh đổi với đường cao tốc, xa lộ liên bang, siêu thị, bãi đậu xe.

Thoát khỏi thành phố

Mỗi người đều biết điều gì xảy ra khi con người phải sống chen chúc, nhất là trong thành phố. Thi sĩ Juvernal, người từng sống ở La Mã trong thế kỷ thứ hai AD, mạt sát lối sống thành phố vì tiếng ồn khủng khiếp của xe cộ làm ông tỉnh giấc giữa đêm. Khi muốn di chuyển, ông luôn thấy mình bị cản trở vì kẹt xe, tai nạn, đám đông tụ tập, và còn phải tránh né những viên ngói rơi xuống từ mái nhà, những bọn say xỉn ấu đả nhau, và bọn ăn cắp.

Đối với những người La Mã siêu giàu, thế thì một cơ ngơi ở vùng quê sẽ là nơi hạnh phúc để trốn khỏi cảnh sống xô bồ và rác rưởi ở đô thị. Những người này chạy về những ngôi nhà lộng lẫy ở vùng quê mà họ gọi là villae (‘điền trang’). Trong những trường hợp cực kỳ, thì điền trang giống như những ngôi làng hoặc thị trấn nhỏ, với cả đoàn nô lệ và tôi tớ cư ngụ và giúp việc đồng ruộng, cho người chủ tưởng như mình đang sống cuộc sống làng quê.

Mua và đầu tư đất

Đối với nhà quý tộc La Mã, tức thuộc giai cấp nghị sĩ, sở hữu đất đai và cất giữ tài sản bằng đất đai là cách duy nhất chấp nhận được để sinh nhai. Vì thế chủ nhân của điền trang luôn tìm kiếm cách mở rộng diện tích đất của mình, nghĩa là mua thêm những cơ ngơi sát bên khu đất của mình nếu gặp dịp. (Buôn bán được coi là việc làm ô trọc).

Đối với giới quý tộc giàu có, đây là mối quan tâm chủ yếu trong cuộc sống __ chúng ta biết như thế vì họ đã viết ra những điều ấy. Một cơ ngơi rộng lớn và trù phú sẽ làm giàu cho chủ nhân và gia đình, và điều quan trọng hơn, sẽ trở thành một vấn đề về uy thế cũng như về sự bảo đảm cho các hậu duệ và người thừa kế của họ. Tất nhiên, điền trang càng nhiều thanh thế, nó càng trở nên hấp dẫn trong mắt các hoàng đế tham lam, lúc nào cũng tìm cớ để tịch biên những cơ ngơi trù phú nhất (chẳng hạn, Constantius II đã làm ăn khấm khá theo kiểu này; xem Chương 20); vì thế chính điều làm cho La Mã an toàn __ của cải __ cũng mang mầm mống hiểm họa.

Đọc thêm: Đi tua trong ngày: Điền trang của Pliny Trẻ

Pliny Trẻ (khoảng AD 61-113) là một Nghị sĩ ở Comum trở thành Thống đốc tỉnh Bithynia và Pontus dưới triều Trajan (98-117). Ông nổi tiếng về những bức thư gởi cho ban bè và đồng nghiệp. Một trong những bức thư nổi tiếng nhất là thư ông viết vào cuối thế kỷ thứ nhất AD, trong đó ông mô tả điền trang Laurentine cách La Mã khoảng 25 km. Sau đây là trích đoạn bức thư, nhớ là điền trang của ông là một dinh cơ sang trọng dù ông chỉ nhận là khiêm tốn. Giờ hãy cùng Pliny dạo qua điền trang của ông theo lời ông kể:

  • Bước vào điền trang: ‘Điền trang của tôi có kích cỡ phù hợp với tôi nhưng không quá mắc mỏ để bảo dưỡng nó. Hành lang mặt tiền khá giản dị, nhưng không tầm thường, sẽ dẫn bạn đến một hàng cột hình chữ D bao quanh một vuông sân trung cấp vui tươi . . . dẫn qua một hành lang trông bắt mắt và sáng rực. Từ đó nó dẫn bạn đến một phòng ăn thanh lịch chạy xuống bờ biển, và khi trời có gió thổi hướng tây nam sóng sẽ vỗ nhẹ vào nền phòng.

Ở mỗi bên của phòng ăn là những cánh cửa gấp hoặc cửa sổ có kích thước giống nhau qua đó bạn có thể chiêm ngưỡng ba cảnh biển khác nhau, cảnh trước và cảnh hai bên. Từ phía sau bạn có thể nhìn suốt qua hành lang trong, vuông sân và hàng cột và từ hành lang cửa vào cho tới cánh rừng phía xa sau lưng là dãy núi.

Ở bên trái phòng ăn, hơi lùi xa biển một chút, là một phòng ngủ rộng và qua đó là một phòng ngủ khác, nhưng nhỏ hơn, có một cửa sổ đối diện mặt trời mọc, và một cửa sổ đối diện mặt trời lặn. Căn phòng này cũng nhìn ra biển, nhưng từ một khoảng cách an toàn hơn. Trong không gian góc tạo bởi phòng ngủ này và phòng ăn là nơi ánh sáng ấm áp của mặt trời được tập trung và giữ lại. Không gian này là những khu vực tránh đông và phòng tập thể dục vì nó được chắn gió chỉ chừa một khu vực dành cho nước mưa đổ xuống.

  • Thư viện và phòng ở cho nô lệ và khách khứa: Nối góc nhà này là một phòng khuất, có cửa sổ sắp xếp sao cho nhận được ánh sáng mặt trời suốt ngày. Một bức tường gắn những kệ sách gồm những tác phẩm của các tác giả mà tôi chưa hề biết nhàm chán. Sát bên phòng sách là một phòng ngủ đối diện với một hành lang có sàn nâng lên được lắp một hệ thống các ống truyền hơi nước nóng tạo ra một nhiệt độ cố định. Những phòng khác trên phía này của điền trang được dành riêng cho các nô lệ và các thợ đã được giải phóng nhưng đa số các phòng này có đủ tiện nghị để chứa khách đến thăm.
  • Phòng tắm và cảnh biển: Tiếp theo là các phòng tắm nước lạnh. Đây là căn phòng lớn có chứa hai bồn tắm uốn cong xây vào hai bức tường đối diện hoàn toàn đủ dùng vì biển ở ngay đó. Tiếp theo là phòng tắm hơi và mát-xa, phòng lò, phòng nấu nước sôi, rồi hai phòng thờ trang nhã và lộng lẫy. Từ đây ta đến một bể bơi mà khách tắm có thể chiêm ngưỡng cảnh biển. Gần đó là con dốc nghiêng được sưởi ấm bằng ánh nắng chiều. Từ đó bạn đi lên một tòa tháp có hai tầng, mỗi tầng có hai phòng, cùng một phòng ăn có cái nhìn toàn cảnh biển, bờ biển, và tất cả các điền trang xinh đẹp dọc theo bờ biển. Ở một đầu khác là một tòa tháp thứ hai có một căn phòng hứng cả ánh sáng bình minh lẫn hoàng hôn. Phía sau đó là một căn hầm rộng trữ rượu vang và ngũ cốc, và bên dưới là một phòng ăn rộng nơi ta chỉ có thể nghe tiếng biển thì thầm, dù cho biển đang động. Phòng ăn nhìn qua một vườn hoa và lối đi.
  • Vườn hoa: Lối đi dọc theo hàng rào cây hoàng dương, xen kẻ những bụi hương thảo ở những chỗ nhiều gió biển hoàng dương không mọc được. Phần bên trong của lối đi có phủ giàn dây leo khiến lối đi mềm mại bạn có thể bước lên bằng chân trần. Khu vườn chủ yếu trồng cây dâu và sung, là hai loài cây hợp thổ nhưỡng nhất. Bên nầy có một phòng ăn ở khá xa biển nhưng bù lại nhìn ra vườn hoa cũng bắt mắt không kém. Bao quanh phía sau là hai phòng, có cửa sổ nhìn ra cổng vào của điền trang và một khu vườn nhà bếp xinh đẹp.

Tôi thức dậy lúc nào mình thích, thường là khi mặt trời mọc, hoặc trước đó nhưng không bao giờ trễ hơn. Cửa chớp vẫn khép kín vì bóng tối và sự yên tĩnh giúp tôi suy tư. Bỏ lại tất cả những xao nhãng bên ngoài tôi đắm mình vào trong suy tư, đôi mắt không làm tâm trí tôi đi rông. Không có gì để nhìn, mắt tôi được trí tưởng tượng của mình chế ngự.

Những gì tôi sắp sửa làm có thể được sắp xếp, chọn lọc, và điều chỉnh, ngay  trong đầu. Cái gì phải hoàn tất tùy thuộc vào mức tập trung và ghi nhớ cao độ của tôi. Sau đó tôi gọi thư ký của mình, mở cửa chớp, và đọc cho y ghi chép những gì tôi đã định hình trong đầu. Rồi tôi cho y lui, gọi y quay lại, và cho y lui ra một lần nữa. Vào giờ thứ bốn hay thứ năm sau bình minh (tôi không chính xác thời gian lắm) tôi đi tản bộ trên sân thượng, vừa đi vừa suy nghĩ về những điểm nổi bật trong đề muc tôi đang dự tính. Khi mọi việc đã xong, tôi đi xe ngựa dạo một vòng, lại tiếp tục suy tư như trước. Khung cảnh trước mắt thay đổi tiếp cho tôi thêm sinh lực và giúp tôi tập trung dễ dàng.

Khi trở về nhà tôi nghỉ ngơi rồi đi bách bộ tiếp. Sau đó tôi đọc to một đoạn văn bằng tiếng Latinh hay tiếng Hy lạp với cách phát âm rõ ràng. Lý do là để dễ tiêu hóa hơn là để tập phát âm cho tốt, mặc dù cả hai đều được cải thiện. Lại thêm một cuốc đi tản bộ trước khi tôi xức dầu, tập thể dục, và đi tắm. Nếu ăn uống một mình với vợ, hoặc một ít ban hữu, chúng tôi vừa ăn vừa nghe đọc thơ. Ăn xong chúng tôi nghe nhạc hoặc xem hài kịch. Khi xong hết, tôi lại đi tản bộ với một số thành viên trong điền trang, một số người trong bọn họ học rộng. Cứ thế, buổi chiều trôi qua với mọi đề mục trao đổi và cho dù ngày có kéo dài, chúng cũng kết thúc một cách hứng thú.

  Villa (Điền trang):

Nền đá tảng của Nông Nghiệp La Mã

Nền đá tảng của nông nghiệp La Mã là villa (điền trang). Villa có nghĩa là trang trại, và từ này có nghĩa hầu như mọi thứ từ một nông trại bình thường cho đến một cơ ngơi bề thế như cung điện. Sống trong villa khiến người chủ có cảm tưởng như mình đang là những nhà nông theo truyền thống La Mã cổ xưa. Họ được các nhà văn như Cato khuyến khích xây dựng một villa mà họ cần lui tới chăm nom thường xuyên. Nhưng thật ra các ông chủ villa hiếm khi sống trong villa toàn thời gian; họ thường phân chia thời gian giữa ngôi nhà trong thành phố và villa ở nông thôn. Đôi khi họ sở hữu nhiều villa cùng một lúc.

Nguồn lương thực của La Mã và lương thực mà thị trấn và đồn lũy trên khắp Đế chế tiêu thụ, được canh tác trên những điền trang bao la này. Trong thực tế, điền trang giống như những nhà máy chế biến nông sản, sản xuất lương thực một cách quy mô, làm giàu cho chủ nhân.

Ở đây một villa, ở đó một villa . . .

Villa đã được tìm thấy trên khắp thế giới La Mã, thường tọa lạc trên những vùng đất tốt nhất, chứng cứ cho việc làm nông trên quy mô công nghiệp. Các điền trang lớn nhất không chỉ chứa hàng ngàn nô lệ mà còn gồm nhiều làng với những cộng đồng tá điền làm ruộng trên những vùng đất bạt ngàn. Nhiều trang chủ rất giàu có sở hữu vài điền trang, chỉ thỉnh thoảng tới lui, và thường mướn các nhân viên quản lý và điều hành trang trại.

Khi quyền lực và ảnh hưởng La Mã lan ra khắp Đế chế La Mã, truyền thống điền trang và tình yêu dành cho nguồn gốc thôn quê của La Mã cũng lan truyền khắp. Thiên tài nổi bật nhất của người La Mã là làm người khác muốn mình ‘là người La Mã’; hơn là tự coi mình là thần dân bị chinh phục. Những trang chủ này bắt chước truyền thống văn học La Mã cũng như hấp thu nó vào ý thức nguồn cội của mình.

Cơ ngơi hoành tráng và thuộc hoàng gia

Ông chủ đất quan trọng hơn tất cả chính là hoàng đế, người có nhiều đất đai hơn ai khác do thừa kế, do ông ta chính phục và do tịch thu từ những kẻ thù của mình. Đây là những cơ ngơi hoàng gia, và được quản lý bởi những kiểm sát viên hoàng gia (thường là những người được giải phóng), những người này sẽ giao đất cho tá điền thuê. Tá điền phải nộp tô (một phẩn sản lượng họ thu hoạch được) cho chủ.

Các cơ ngơi điền trang đồ sộ không khác nhau nhiều, chỉ khác ở chỗ những ông chủ là những địa chủ tư nhân. Vào thời Nero (AD 54-68), chỉ có sáu địa chủ mà đã sở hữu phân nửa khu vực Phi châu.

Melania Trẻ là một nữ thừa kế siêu giàu theo đạo Cơ đốc trong năm AD 404. Bà có đồn điền ở Ý, Sicily, Bắc Phi, Tây Ban Nha và Anh. Chúng ta biết về bà vì bà là một tín đồ thuần thành, thường đi kinh lý cơ ngơi của mình, và ban phát đất cho dân nghèo. Điều đó chứng tỏ các bậc siêu giàu trong thế giới La Mã thức sự có tầm vóc quốc tế mặc dù họ thuộc về một nền văn hóa luôn ca tụng một cuộc sống nông thôn giản dị.

 

Điền trang trong những năm về sau của Đế chế

Vào thế kỷ thứ tư và năm sau Công nguyên, thế giới của Pliny Trẻ và điền trang của ông hình như đã lùi xa trong quá khứ. Một vài tỉnh lỵ đã bị người man rợ giày xéo. Khi xứ Anh bị bỏ rơi vào 410, sự sụp đổ của hệ thống tài chính, cũng như sự cướp phá của các bộ tộc man rợ, chứng kiến những điền trang rơi vào cảnh hoang tàn vào đầu thế kỷ thứ năm. Nhưng trong các tỉnh lỵ khác, những địa chủ giàu có tiếp tục xem như không có gì xảy ra. Ausonius (AD 310-395), nhà thơ và thầy dạy của hoàng đế Gratian (367-383), viết nhiều bài thơ, nhưng một trong những bài nổi tiếng nhất của ông là bài thơ nói về con sông Moselle gần nơi ông đã lớn lên. Bắt chước phong cách thi ca cổ điển La Mã từ các nhà thơ như Virgil, Ausonius mô tả dòng sông Moselle như một nơi chốn thiên đường thôn dã sản xuất thừa mứa lương thực nơi sinh sống của các vị thần La Mã cổ.

Ngay cả Gaius Sidonius Apollianris (AD 430-sau 475), người sẽ trở thành Giám mục Auvergne và giúp lãnh đạo dân Gaul chống lại người Visigoth, viết về điền trang và cuộc sống thôn quê của mình như thể ông là người bạn tâm giao của Virgil sống trước đó 500 năm. Sidonius cũng nói về các điền trang của bạn mình, cho thấy người miền nam xứ Gaul vào thế kỷ thứ năm vẫn còn nhiều nhà quý tộc nghị sĩ yêu thích cuộc sống điền trang La Mã.

Sống trong những điền trang có nghĩa là phụ thuộc vào một khối lượng lao động thuê mướn khủng, vào những mối giao tiếp đáng tin cậy và an toàn với những hảng vận tải chở hàng vào và ra, và vào sự kết nối với các thị trường đáng tin vậy trong thị trấn. Ở Đế chế Miền Đông, hệ thống này kéo dài lâu hơn nhiều, nhưng ở Đế chế Miền Tây, khi trật tự sụp đổ và khi các tỉnh lỵ bị lấy mất, các cơ ngơi điền trang không thể duy trì và lối sống thôn quê tuyệt vời kiểu La Mã cũng dần biến mất.

Một Kiểm Tra Nhanh về Thực Tế Miền Quê

Đừng để sự tự nhận thức về bản thân của người La Mã đánh lừa ban. Thực tế hầu hết dân chúng trong Đế chế La Mã có cuộc sống vô cùng nhọc nhằn trên đồng ruộng. Họ trở về nhà từ chiến trường để thấy cơ ngơi bé nhỏ của mình đã bị các địa chủ mua lại. Họ phải phấn đấu chống chọi với các thảm họa tự nhiên, thời tiết thất thường, dịch bệnh, thuế má, và những hổn loạn về kinh tế xảy ra trong thế kỷ thứ ba, thứ tư do các cuộc nội chiến và sự xâm lăng của bọn man rợ, hoặc họ phải bươn chảy kiếm sống nơi những căn nhà thuê chật chội trong thành phố. Nhiều người là nô lệ hoặc tá điền quần quật trong những điền trang rộng lớn hoặc dinh thự hoàng gia và không có chút cơ may trải nghiệm cuộc sống vương giả của những trang chủ như Pliny Trẻ và Ausonius.

Nhưng cũng đúng là các chủ nhân ông các điền trang giàu có đã đặt ra tiêu chuẩn xã hội cho mức sống cao cấp và những người ít giàu có hơn sẽ làm bất cứ điều gì để đạt được như họ. Đó là tại sao các nhà khảo cổ khai quật được những điền trang nhỏ và khiêm nhượng chỉ có một vài nền nhà khảm đá do các thợ hạng hai thực hiện, vì đối với những trang chủ ít giàu có, một nền nhà khảm đá tồi còn sang hơn một nền nhà không khảm gì hết__ chẳng khác ngày nay dân chúng đổ xô ăn mặc các trang phục rẻ tiền nháy theo y phục cao cấp của các minh tinh màn bạc. Rõ là, con người lúc nào cũng giống nhau cho dù ở thời nào hoặc ở nơi đâu!

  

Chương 5 

Khi Ta Là Chiến sĩ 

Trong Chương Này

  • Điều gì tạo nên quân đội La Mã
  • Quân phục tác chiến của binh lính La Mã
  • Cách thức hoạt động của pháo đài La Mã 

Nếu ban hỏi ai đó mô tả một người La Mã, việc đầu tiên y nghĩ đến ngay là người lính La Mã, và chắc chắn nhất là hình ảnh được phim ảnh Holywood mô tả với áo giáp sang trọng, mũ sắt gắn lông chim, áo choàng đỏ, và tay vung thanh gươm to bản. Điều này không có gì là không thích hợp vì trong nhiều vùng mà người La Mã chinh phục việc đầu tiên dân chúng bản địa trông thấy là quân đội La Mã.

Quân đội La Mã là lực lượng thể hiện quyền lực La Mã. Trong Chương 4, tôi đề cập đến một tác giả La Mã là Cato nói rằng chính thành phần nông dân đã sản sinh ra những chiến binh giỏi nhất. Đúng ra trong suốt những cuộc chiến đem lại cho La Mã đế chế của mình, chính là nhờ khả năng đương đầu với thất bại, biết thích ứng, và luôn trở lại nhiều hơn, đã làm hao mòn lực lượng của kẻ thù. Vì thế chương này sẽ bàn về quân đội La Mã: cách thức nó hoạt động, ai chiến đấu trong đó, và cuộc sống binh sĩ ra sao.

Làm Chủ Thế Giới: Các Chiến Binh

Thực sự không có ‘quân đội La Mã’ với trung tâm chỉ huy tối cao đặt ở La Mã và các tướng lãnh vây quanh một bản đồ của thế giới La Mã chỉ đạo những đoàn quân của họ. Các quân đoàn La Mã được tập họp khi chiến dịch sắp bắt đầu, và họ chịu sự chỉ huy khu vực của những vị tướng riêng lẻ. Đó là vào những ngày đầu tiên của La Mã khi các công dân được phân loại tùy theo khả năng họ đóng góp cho nghĩa vụ quân sự.

Vào những ngày cuối của nền Cộng hòa, các quân đoàn có thể chính thức hay không chính thức, vì họ chỉ được tạo ra từ những lực lượng có sẵn. Rồi cuối cùng là đến những vị tướng đầy uy tín và quyền lực như Marius, Sulla, Pompey, và Caesar. Được Viện nguyên lão thưởng danh hiệu imperium  vì công lao bảo vệ quyền lợi đất nước, những người này, không như các vị tướng thời trước, tạo ra các quân đội của họ và cũng theo đuổi những tham vọng chính trị của riêng mình. Không giống như quân đội thời trước, những quân đội này trung thành với tướng lãnh của mình trước tiên rồi sau mới đến La Mã. Sau những ngày này, tổng tự lệnh chính là hoàng đế.

Các đơn vị quân đội đóng khắp nơi trên Đế chế La Mã, chủ yếu trong những vùng bất an nhất. Có lẽ điều đáng kể hơn hết là tổng quân số của quân đội La Mã vào thời điểm cực thịnh không hơn 300,000-350,000  quân, là một con số nhỏ kinh khủng nếu so với diện tích lãnh thổ mà quân đội kiểm soát. Để so sánh: Khi Thế Chiến I bùng nổ vào 1914, Anh có 740,000 quân (chính quy và trừ bị), trong khi Pháp và Đức mỗi nước có gần 1 triệu lính, tổng số gấp khoảng chín lần quân số La Mã. Vậy mà số quân ba nước này chiến đấu trên một vùng có diện tích nhỏ hơn nhiều so với vùng La Mã kiểm soát (mặc dù công bình mà nói, dân số châu Âu vào 1914 lớn hơn dân số thời La Mã nhiều).

Ước tính sơ bộ, khoảng nửa số binh lính La Mã là các bộ binh công dân chiến đấu trong các quân đoàn (legio, một legio gồm khoảng 5,500 người). Phần còn lại được gọi là quân hổ trợ, những dân tỉnh lẻ được thuê mướn và được phân loại thành bộ binh, kỵ binh, và những đơn vị hổn hợp đôi khi với những hình thức tác chiến đặc biệt.

Phải mất một thời gian dài quân đội La Mã mới tiến hóa thành hệ thống mà tôi mô tả trong mục này. Xuất phát từ các nguồn gốc tương đối khiêm nhượng là quân đội công dân La Mã, gồm những người đàn ông từ La Mã và Latium, quân đội La Mã đã trưởng thành thành một lực lượng to lớn trải dài khắp thế giới La Mã. Nó gồm những trai tráng từ mỗi tỉnh: các công dân gia nhập quân đoàn, và các dân tỉnh lẻ tham gia các đơn vị hổ trợ. Nó cũng gồm những anh chàng ở bên kia biên giới, ‘dân man rợ’, những người đóng một vai trò quan trọng không ngừng tăng lên trong việc phòng thủ Đế chế.

Quân đoàn và quân lính La Mã

Sử gia La Mã Tacitus, viết về thời gian cuối cùng của thế kỷ thứ nhất AD, liệt kê ra 27 quân đoàn phân tán khắp Đế chế La Mã trong năm AD 23. Vào thời trị vì của Trajan (98-117), có khoảng 30 quân đoàn. Vào đầu thế kỷ thứ ba, chỉ cón 19 quân đoàn. Số quân đoàn dao động vì những quân đoàn mới được thành hình và có quân đoàn giải thể. Quân đoàn trú đóng tại những nơi trọng yếu. Kết quả là vùng sông Rhine __ một trong vùng biên ải hiểm nguy nhất __ có tám quân đoàn, trong khi toàn Bắc Phi và Ai Cập chỉ có bốn. Britain (Anh ngày nay), một trong những tỉnh lỵ nhỏ nhất, nhưng một trong những vùng gây rối nhất, không bao giờ có ít hơn ba quân đoàn trú đóng. Các chiến sĩ trong quân đoàn phải là công dân La Mã. Vào AD 92, một người lính trong Quân đoàn Cyrenaica III  bị truy tố vì không phải là công dân và đối diện với án thải trừ lập tức. Y phải gọi ba nhân chứng, hai người lính và một cựu binh, để làm chứng việc y là một công dân.

Tổ chức một quân đoàn

Trở lại thời Cộng hòa, khoảng thời gian Chiến tranh Punic lần ba (151-146 BC), một quân đoàn có quân số dao động từ 4,200 đến 5,000 bộ binh, tùy theo trường hợp, với 300 kỵ binh. Quân đoàn được chia thành những maniple, mỗi maniple gồm hai century, mỗi century gồm khoảng 100 quân. Những maniple trai tráng đi đầu, phía sau là những binh sĩ lớn tuổi hơn và cuối cùng là những lính già, nhiều kinh nghiệm.

Các quân đoàn thay đổi nhiều theo thời gian, nhưng vào cuối thế kỷ thứ nhất AD, chúng đã phần nào định hình trong suốt thời kỳ Đế chế La Mã: một quân đoàn có tổng cộng 5,120 bộ binh gồm các công dân La Mã. Quân đoàn có thành phần như sau:

 

Quân                                                                                     Tổng số

6 century, mỗi century 80 người                                           480 (một cohort)

10 cohort lập thành một quân đoàn do đó:

9 cohort x 480 người                                                             4,320 người

Cohort đầu tiên có quân số 800 người, như vậy một quân đoàn có cả thảy:

                                                                                                800 + 4320 = 5,120 người

Vẫn chưa hết, mỗi century có một sĩ quan chỉ huy, gọi là centurion, và người phụ tá là optio. Có tất cả 128 người, vị chi tổng quân số là 5,248 .                                              

Một quân đoàn trong thời Đế chế có đúng 120 kỵ binh có nhiệm vụ thám báo và truyền tin, nên tổng quân số (không kể sĩ quan) là 5368 người.

Đừng nghĩ rằng khi bạn đến thăm doanh trại một quân đoàn ban chỉ thấy có binh lính. Sĩ quan và một số centurion có mang theo tôi tớ, người được giải phóng, và nô lệ, và đôi khi cũng có gia đình sĩ quan  tháp tùng, và những gia đình không chính thức của binh sĩ (họ sống ngoài doanh trại, pháo đài). Khi tướng Quinctilius Varus ở Đức ra trận vào AD 9, ba quân đoàn của ông mang theo trong chiến dịch nào đàn bà, trẻ con và tôi tớ, khiến việc hành quân của ông bị chậm chạp, đưa đến sự thảm bại.

Cơ cấu chỉ huy

Một quân đoàn thường do một legatus legionis (‘tư lệnh quân đoàn’), một người có cấp bậc nghị sĩ đã từng phục vụ chức pháp quan. Ông có sáu hộ dân quan quân sự phụ tá. Người lớn tuổi nhất có cấp bậc nghị sĩ, là người sẽ nắm quyền tư lệnh quân đoàn một ngày nào đó. Năm người kia thuộc giới kỵ sĩ và thường từng chỉ huy đám quân hổ trợ và có thể chỉ huy các đơn vị kỵ binh hổ trợ.

Rồi còn có chức trưởng trại thường do một người lớn tuổi đã từng làm centurion trước đây nay được thăng chức. Không giống như các sĩ quan, ông ta có kinh nghiệm  lâu đời trong quân ngũ. Viên centurion lớn tuổi trong mỗi cohort chỉ huy cohort của ông ta. Viên centurion lớn tuổi trong cohort đầu tiên được gọi là primis pilus (‘ngọn giáo đầu tiên’). Ông ta là centurion đỉnh và có vị trí mà mọi centurion trẻ đều ao ước vươn tới.

Nhiệm vụ của binh sĩ quân đoàn

Binh sĩ được nhà nước giao phó nhiều trách vụ từ xây dựng pháo đài, đồn lũy, và các công trình dân sự công cộng như cầu, đường, thu thuế, và giữ gìn trật tự. Trong một tỉnh lỵ mới, nhất là tỉnh ở miền Tây như Tây Ban Nha hoặc Anh, các binh sĩ La Mã là những con người duy nhất với tất cả kỹ năng cần thiết để thiết lập nền văn minh La Mã. Các kiến trúc sư, kỹ sư, thợ mộc, thợ nề, và thợ rèn trong quân đoàn là thành tố quý giá đóng vai trò lớn trong công cuộc phát triển những vùng mới chiếm đóng.

Vào thời các hoàng đế, binh sĩ phục vụ quân ngũ khoảng 25 năm, nhưng nhiều người ở lại lâu hơn. Họ có thể hi vọng được hoàng đế phong đất khi giải ngũ, có thể tại một thuộc địa La Mã, và nhờ đó có thể kinh doanh hoặc làm nông. Augustus đã từng khoe là đã định cư cho 300,000 cựu quân nhân. Tại một thời điểm không rõ, một quân nhân có tên Vitalinius Felix phục vụ trong Quân đoàn Minerva I đóng ở biên giới sông Rhine. Khi giải ngũ, ông chuyển về sống ở Lugdunum (Lyons) ở xứ Gaul (Pháp ngày nay), tại đó ông bán đồ gốm cho đến khi mất ở tuổi 59, 5 tháng, và 10 ngày.

Lực lượng hổ trợ

Lực lượng hổ trợ có mục đích thêm gân cốt cho quân đội La Mã bằng cách sử dụng các quân tỉnh lẻ mà La Mã đã từng đánh nhau. Bằng cách huấn luyện họ các kỹ thuật tác chiến của mình, người La Mã thành lập các đơn vị kỵ binh người Gaul, Tây Ban Nha, Thrace, các cung thủ Sarnatia (dân thuộc vùng bắc Biển Đen) và nhiều sắc dân khác. Lực lượng hổ trợ được chia thành bộ binh, kỵ binh, hoặc đơn vị hổn hợp. Tên của sắc dân trong đơn vị đều được giữ lại. Chẳng hạn: Kỵ binh người Thrace Thứ Nhất, Kỵ binh Ả rập Thứ Ba, Cohort Thứ Tư người Gaul. . .

Các lực lượng hổ trợ hành quân bên cạnh lực lượng chính quy của quân đoàn và ngay cả ở chung doanh trại nhau, nhưng được trả lương ít hơn. Về cơ bản, lực lượng hổ trợ luôn luôn là người chịu đựng mũi giùi của trận chiến. Lý do là tổn thất các dân tỉnh lẻ đỡ hơn là các công dân La Mã. Vì thế trong hầu hết các trận đánh bài bản, lực lượng hổ trợ sẽ được tung ra trước tiên. Đôi khi quân chủ lực chỉ đứng nhìn và theo dõi.

Lý do mà quân hổ trợ chịu nhận thử thách cam go như thế là để mình có thể xứng đáng được hưởng quyền công dân, không chỉ cho mình mà cho cả gia đình mình. Quyền công dân sẽ được tưởng thưởng sau 25 năm phục vụ (trong lý thuyết). Tất nhiên, sau AD 212 khi việc hưởng quyền công dân dưới triều Caracalla trở nên phổ biến, thì sự đối xử phân biệt này không còn ý nghĩa gì.

Người La Mã cũng thuê vô vàn các lực lượng hổ trợ đặc biệt một cách ứng biến thường từ các bộ tộc man rợ gần biên giới, với số tiền thuê ít hơn và không cần điều kiện về quyền công dân. Những đơn vị này đóng một vai trò không ngừng tăng lên và đôi khi có tính quyết định trong lịch sử sau này của La Mã.

Vệ sĩ của Hoàng đế: Quân đồn trú La Mã

Chỉ huy trưởng của Lực lượng Vệ sĩ của hoàng đế liên tục nổi lên trong lịch sử Đế chế La Mã (xem Chương 16 qua 19). Vệ sĩ hoàng đế là lực lượng đồn trú tại La Mã, vì thế họ luôn sẵn sàng ảnh hưởng đến sự kế vi ngôi hoàng đế.

Nguồn gốc của Lực lượng Vệ sĩ trở về cái ngày mà Publius Cornelius Scipio Aemilianus Africanus Trẻ (khoảng 184-129 BC) đã dẫn theo đội vệ sĩ của mình lên đến 500 người đến Tây Ban Nha trong Chiến tranh Punic lần ba (151-146 BC) vì các binh sĩ ở Tây Ban Nha không đáng tin cậy.

Dưới thời Augustus, Lực lượng Vệ sĩ hoàng đế được tổ chức thành chín cohort, mỗi cohort khoảng 500 người, ba trong số đó đóng ở các doanh trại bên ngoài La Mã và phần còn lại trong các thành phố Ý khác nhau. Các Vệ sĩ hoàng đế  được trả lương  cao hơn binh sĩ thường, và chỉ phục vụ 16 năm. Họ thường tham gia các chiến dịch quân sự, có thể được thăng chức làm centurion trong quân đoàn, và trong AD 61, một ít vệ sĩ còn được phái đi tìm kiếm nguồn cội của sông Nile.

Hạm đội: Hải quân La Mã

Cho dù thế giới La Mã là vùng lãnh thổ liền lạc nằm bao quanh Địa Trung Hải, hạm đội La Mã hay hải quân thực sự là một phần kéo dài của quân đội. Người La Mã không phải là những thủy thủ bẩm sinh và không có nhiều kỹ năng về hàng hải, dù xứ Ý có một bờ biển rất dài. Khi Julius Caesar xâm chiếm Anh vào 55 và 54 BC, họ đánh mất cả hạm đội trong cả hai cơ hội vì bão tố và sóng dữ, vì không thể lường trước được chúng dữ dội thế nào.

Những thắng lợi hải quân lừng lẫy của người La Mã đến sớm hơn trong thời  Chiến tranh Punic khi người La Mã học lái tàu và dùng chiến thuật cạp tàu để xua quân qua tàu địch (xem Chương 12 và 13). Trận hủy diệt bọn hải tặc Cilicia là một thắng lợi chủ yếu, nhưng tất nhiên sự kiện quyết định đã kết thúc nền Cộng hòa là trận hải chiến giữa Anthony và Octavian vào 31 BC (xem Chương 15).

Các căn cứ hải quân thường trực đầu tiên được xây dựng tại Forum Julii (Frejus) ở Gaul, và ở Ý tại Misenum và Ravenna vào thời Augustus. Họ được thiết kế để bảo vệ Ý và các đoàn tàu chở lương thực. Misenum trở thành bộ chỉ huy hải quân chủ lực không xa căn cứ hải quân chủ yếu hiện nay ở Naples của lực lượng hải quân mạnh  nhất thế giới là Hải quân Hoa kỳ. Các hạm đội La Mã khác được thành lập quanh Đế chế, chẳng hạn ở Alexandria, Biển Đen, Syria, Đức, và Anh, nơi đó chúng bảo vệ hoạt động thương mại, yểm trợ các lực lượng xâm chiếm bằng việc vận chuyển lương thực, trinh sát địa hình, xây dựng các căn cứ tiền tiêu, và vậnchuyển binh lính.

Các thủy thủ, phần đông đến từ miền đông, quay ra làm đủ thứ công việc từ cung ứng tân binh cho các quân đoàn mới đến xây xất kho lương trên Tường Thành Hadrian. Sự kiện tồi tệ nhất liên quan đến hạm đội xảy ra ở Anh vào 285 khi hạm trưởng của hạm đội Anh, Carausius, sử dụng lực lượng hải quân của mình để dấy loạn chống lại các hoàng đế Diocletian và Maximian (xem chương 20).

Cuộc vây hãm Syracuse của La Mã giữa những năm 213-211 BC trong Chiến tranh Punic lần hai (đã đề cập trong chương 12) là đỉnh cao của tài ứng biến. Tướng La Mã là Claudius Marcellus có sáng kiến ghép tám chiến thuyền để dùng chúng bắc thang công thành. Nhờ đó binh sĩ có thể leo lên và phóng người xông vào đội quân phòng vệ của Syracuse. May thay người Syracuse được nhà toán học kiệt xuất Archimedes (287-211 BC) hổ trợ. Trong số những vũ khí phòng thủ ông sáng chế có cần cẩu hình cung dùng móc sắc nâng thuyền chiến La Mã  thẳng đứng lên không rồi buông xuống cho chìm lĩm. Một tư liệu về sau không được tin cậy lắm cho rằng Archimedes dạy quân Syracuse lấy gương lục giác phản chiếu ánh sáng mặt trời đốt thuyền địch. Nhưng các thực nghiệm ngày nay kiểm chứng là việc này rất khó khăn nếu không muốn nói là không thể. Nói gì thì nói, Claudius Marcellus bỏ hướng tấn công bằng đường biển, phối hợp các lực lượng trên bộ, cùng sự thông đồng với nội gián, ông đã tìm được lối vào và đánh chiếm được thành. Archimedes bị giết trong trận chiến, cho dù Marcellus đã ra lệnh cho binh sĩ chỉ bắt sống ông.

Được Trang Bị Đúng cách

Cho dù quân đội La Mã có tổ chức tuyệt vời ra sao, điều đó cũng không tác dụng gì nếu binh lính không được trang bị tốt. Ở đỉnh cao của Đế chế, quân đội La Mã là lực lượng được trang bị tốt nhất và đầy đủ nhất trong thế giới cổ đại.

Đồng phục và vũ khí

Cho đến giữa thế kỷ thứ nhất AD (khoảng thời trị vì của Claudius), trang bị người lình trong quân đoàn gồm những thứ sau đây:

  • Mũ sắt (có lớp bảo vệ ở cằm và má)
  • Áo giáp
  • Dao găm
  • Kiếm
  • Khiên
  • Giáo
  • Giày ống bằng da với đinh tán

5

Sau giữa thế kỷ thứ nhất AD, binh sĩ trong quân đoàn chắc chắn có loại áo giáp đắp bằng những tấm dải sắt chồng lên nhau và một mũ tinh vi hơn với miếng đệm bảo vệ cổ sâu hơn và che cằm lớn hơn. Từ những di vật được khai quật có thể thấy rõ là các trang bị này hay được truyền tay và được nhiều người lính khác nhau sử dụng nhiều năm liền, vì thế chắc chắn bất kỳ đội hình La Mã nào cũng sẽ trông tùy nghi ứng biến.

Lực lượng hổ trợ còn tùy nghi hơn nữa. Họ sử dụng hầu như đủ loại vũ khí và áo giáp tùy theo binh chủng hoặc xuất thân, hoặc những thứ có sẵn có thể dùng được. Phô trương nhất là các kỵ binh trong lực lượng hổ trợ thích trang trí cho chiến mã của mình bằng những tấm huy chương nhiều màu sắc trên yên ngựa. Trong những trường hợp đặc biệt, họ mặc loại áo giáp diễu hành và đeo mặt nạ để trông giống các anh hùng thần thoại trong những trận đánh có tính phô trương nhạo báng kẻ địch.

Truyền thống của quân đội La Mã là sức mạnh tấn công, chứ không phải phòng thủ. Scipio Africanus Trẻ có lần nhìn thấy một binh sĩ phô trương chiếc khiên của mình, liền bảo, ‘Khiên đẹp đấy, con trai; nhưng một chiến binh La Mã phải trông cậy vào cánh tay phải hơn vào cánh tay trái của mình’, nghĩa là trông cậy vào cánh tay cầm kiếm, tất nhiên.

Pháo binh

Quân đội La Mã là chuyên gia về pháo binh, tất nhiên không có thuốc súng, tất cả chỉ là sức mạnh cơ bắp và dây thừng kéo căng. Đây là một số công cụ họ có, và đặc biệt hiệu quả trong chiến thuật vây hãm:

  • Máy bắn đá
  • Máy ném đá
  • Trụ húc tường thành: Người La Mã gọi là aries cũng có nghĩa là ‘cừu đực’. Đầu trụ là khối đá hình đầu cừu đực, có lẽ khi đánh nhau, cừu đực cúi đầu và chạy vù đến húc mạnh đối phương, giống như động tác húc cửa thành, nên có tên đó. (xem hình dưới)

67

  Trận chiến La Mã sống động nhất được thể hiện trong phim ảnh là vài phút mở đầu trong phim Võ sĩ giác đấu (Gladiator, ra mắt năm 2000). Ban có thể nhìn thấy những binh sĩ La Mã trông như thật, dạn dày gió bụi sau nhiều năm chinh chiến ở biên giới nước Đức, có đầy đủ pháo binh, cung thủ, và kẻ thù man rợ cầm rìu.

Canh Giữ Pháo Đài

Pháo đài La Mã trông giống như một thị trấn thu nhỏ. Dù được xây dựng ở đâu và bao lớn, pháo đài La Mã luôn theo cùng một thiết kế cơ bản, mặc dù không có hai pháo đài nào giống hệt nhau. Pháo đài rộng lớn nhất là pháo đài của quân đoàn, chứa hơn 5,000 người, trong khi cái nhỏ nhất chỉ chứa những cohort bộ binh hổ trợ khoảng 500 người. Ngay cả những hạm đội cũng sử dụng pháo đài ven biển có cùng thiết kế. Nhưng ta cũng biết có những pháo đài nhỏ hơn chỉ chứa chừng chục người.

Pháo đài thường trực là căn cứ cho binh sĩ dừng chân nghĩ ngơi trên đường hành quân. Nhằm duy trì quân kỷ và tính tổ chức: Mỗi người lính La Mã phải biết chính xác vị trí của mình ở trong pháo đài, khi đóng quân lâu dài ở đó hoặc chỉ dừng chân qua đêm. Các pháo đài thường trực thực sự hình thành vào cuối thế kỷ thứ nhất AD và đến tận thế kỷ thứ hai, khi mà các biên giới của Đế chế trở nên khá yên tĩnh.

Phòng thủ pháo đài

Pháo đài nói chung có hình dáng giống lá bài có hình chữ nhật với góc cong, và bốn cổng thành ở bốn mặt đối diện nhau (xem Hình 5-1).

8

Bờ thành bằng gỗ và đất đệm cỏ cao từ 4 đến 5 mét, bên trong có chèn ván gỗ cho vững chắc. Phía ngoài là tường thành bằng đá cao từ 4 đến 5 mét, phía trên có lối đi rộng 1.5 mét để lính tuần hành canh phòng quanh pháo đài. Cứ cách khoảng có các tháp canh để lính canh quan sát động tĩnh bên ngoài pháo đài. Quanh tường thành người ta đào hào sâu và rộng hình chữ V. Nếu ở vùng đặc biệt nguy hiểm, hào được đào sâu thêm và có cắm chông nhọn bên dưới và trên bờ hào.

Cổng thành là nơi đặc biệt trọng yếu nên cánh cổng làm bằng gỗ dày và nặng, được che chở bằng tháp cửa ở hai bên sườn. Một mạng lưới lối đi chia diện tích trong thành thành những khu vực riêng biệt. Khu quan trọng nhất là khu trung tâm nơi đặt bộ chỉ huy pháo đài. 

  1. Phòng chỉ huy                                    5. Chuồng ngựa hoặc xưởng sửa chữa
  2. Nhà của tướng chỉ huy                      6. Khu vệ sinh
  3. Kho lương                                          7. Bếp nấu ăn
  4. Trại lính

Các tòa nhà trong pháo đài

Pháo đài có đủ những tiện ích cho cuộc sống hằng ngày của quân đội La Mã, kể cả xưởng sửa chữa các trang bị của quân nhân từ áo giáp đến vũ khí. 

  • Trại lính: Chiếm hầu hết diện tích của pháo đài, với mỗi khu nhà dành cho một century (80 lính).
  • Nhà của tướng chỉ huy: Sát bên bộ chỉ huy. Pháo đài của quân đoàn có cả nhà dành cho các hộ dân quan ở gần đó.
  • Kho lương: Thường cất từng cặp sát bên bộ chỉ huy, nền được gia cố để chịu được tải trọng của các bao lương thực.
  • Phòng chỉ huy: Đây là trung tâm đầu não tại đó các quân kỳ, vật dụng quý giá, và tài liệu quân sự được lưu giữ.
  • Phòng chữa trị: Không phải lúc nào cũng có.
  • Xưởng sửa chữa: Nơi tất cả nhu cầu của pháo đài như làm mộc, lò rèn, và may mặc được tiến hành (không phải lúc nào cũng có).

Cách bố trí của pháo đài giống nhau đến nổi nếu một nhà khảo cổ tìm được một vài hạng mục khi khai quật, thì tất cả các hạng mục còn lại luôn có thể lần ra được. Pháo đài là trái tim của thiên tài La Mã: đó là tính hệ thống. Các kiến trúc sư quân sự có thể bố trí hạng mục một cách dễ dàng và nhanh chóng, và mỗi người lính biết phải làm gì và ở đâu một khi pháo đài đã hoàn tất.

Thỉnh thoảng các quân đoàn xây dựng những trại sản xuất, đặc biệt hữu dụng khi quân đoàn đóng tại những vùng xa xôi tại đó đồ gốm và sản phẩm khác không thể chở đến cho binh lính sử dụng. Quân đoàn XX tại Chester ở Anh có một trại sản xuất gần đó tại một nơi gọi là Holt. Ở đây quân đoàn tự sản xuất ra đồ gốm, gạch, và ngói, và nhiều đồ dùng khác nữa, rồi sau đó chở theo sông đến pháo đài của họ ở Chester.

Doanh trại

Doanh trại đơn giản chỉ là những pháo đài được xây dựng trên đường hành quân, có thể nói pháo đài là những doanh trại thường trực. Binh lính đang hành quân trong một chiến dịch hiển nhiên cần đến doanh trại để nghỉ ngơi qua đêm. Một địa điểm thích hợp cao ráo gần nguồn nước được chọn lựa, và doanh trại sau đó được bố trí một cách có hệ thống, bắt đầu bằng chiếc lều của sĩ quan chỉ huy. Sau khi đường lưu thông được bố trí với đầy đủ các khu vực, binh lính dùng xẻng đào hào sâu một mét rồi dùng đất đào lên đắp thành công sự. Mỗi người đều mang theo cọc gỗ nên các khu vực có thể được rào kín ngay lập tức. Binh lính sau đó được phân nhiệm như phòng vệ, canh gác kho lương. Đến sáng, hoặc trước khi chuyển quân, trại được đóng kiện và đất đắp công sự được đẩy xuống lấp hào.

Ngăn quân thù bên ngoài: pháo đài biên giới

Phòng vệ biên giới không hoàn toàn là truyền thống La Mã vì người La Mã nói chung đều luôn muốn mở rộng biên cương. Nhưng vào thời Hadrian (AD 117-138), La Mã ra quyết định ngừng chinh phục lãnh thổ mới (xem Chương 17). Biên giới được cố định, và người La Mã phải tìm cách phòng vệ thường trực. Bất cứ khi nào có thể, người ta dùng các con sông (như sông Rhine ở Đức), hoặc các địa hình tự nhiên làm đường biên giới. Các tháp canh được dựng lên để lính canh có thể trông chừng bọn man rợ tìm cách lẻn vào. Cảnh báo sau đó có thể truyền đi bằng tín hiệu hoặc bằng các lính đưa tin phi ngựa đến pháo đài gần nhất.

Trong một vài nơi không có những đường biên giới thiên nhiên thì người La Mã vốn luôn thực tế phải tự tạo biên giới cho mình. Biên giới cực kỳ và nổi tiếng nhất là tường Hadrian ở Anh (trên đất Anh), nhưng đó không phải là cái duy nhất. Những biên giới khác nối sông Rhine và sông Danube, chẳng hạn, và ở ngoài sa mạc của Ai cập một dãy các pháo đài heo hút bảo vệ tỉnh lỵ giàu có nhất của Đế chế.

Đọc thêm:  Bức Tường Hadrian

Công trình kỷ niệm nổi tiếng nhất của Hadrtian là đường biên giới dài 76 dặm của ông ở Anh. Một phức hợp gồm  tường đá, pháo đài, đồn lũy cách nhau một dặm với những tháp quan sát cách nhau mỗi một phần ba dặm, cùng với những công sự bằng đất phòng thủ mặt trước và mặt sau, nó tạo ra dảy ruy băng về cuộc sống quân đội La Mã vắt ngang miền bắc xứ Anh. Một sử gia La Mã nói rằng đó là ‘đường phân ranh giữa người man rợ và dân La Mã’, nhưng thật ra bạn được phép đi ngang qua bức tường biên giới này. Mục đích thực sự của bức tường là kiểm soát sự qua lại để ngăn ngừa sự rối ren và đánh thuế, hơn là ngăn chận. Vì Hadrian đến kinh lý ở Anh vào khoảng thời gian Bức Tường được khởi công, hầu như chắc chắn là ông đã giúp thiết kế nó. Một đĩa đồng gần đây được tìm thấy ở Anh, có khắc tên vài pháo đài của Bức Tường, mang tên cổ của đường biên giới: ‘Biên giới Aelian’, lấy theo tên của Hadrian với tên đầy đủ là Publius Aelius Hadrianus. Bức Tường trải qua nhiều lần tu  bổ, phục hồi, và chỉnh sửa lại, nhưng nó vẫn là một công trình cố định ít nhiều có tính lâu dài cho đến khi Đế chế từ bỏ xứ Anh vào đầu thế kỷ thứ năm. Những đoạn tường dài ngày nay còn thấy được (xem hình dưới).

9

 

Quân Đội Thời Kỳ Sau

Từ thời trị vì của Marcus Aurelius (AD 161-180) trở đi, Đế chế thường bị đột kích ở biên giới. Không phải ở mọi lúc hay mọi nơi, nhưng những cuộc tấn công dần dần tăng lên và ngày càng tệ hơn vào thế kỷ thứ ba trong thời của các ‘hoàng đế quân nhân’ ngắn hạn (xem Chương 19). Kỵ binh trở nên đặc biệt quan trọng. Gallienus (253-268) là người đầu tiên thành lập đội kỵ binh độc lập có chỉ huy riêng và đặt quân đoàn dưới sự chỉ huy của các kỵ sĩ hơn là các nghị sĩ.

Sự thay đổi thực sự lớn lao bắt đầu dưới thời Diocletian (284-305) và Tứ Đầu Chế (Chương 20). Diocletian tăng thêm số quân đoàn lên khoảng 60. Họ được cắm từng cặp dọc biên giới, cùng với các đơn vị kỵ binh, nhưng một số ít được gắn trực tiếp với triều đình cơ động cùng với các đoàn kỵ binh cấp độ cao.

Phân chia quân đội

Dưới thời Constantine (307-337), tính cơ động trở thành ưu tiên số một, mặc dù sự thay đổi chỉ bắt đầu dưới thời Gallienus (253-268). Bấy giờ quân đội hoàn toàn được phân chia theo cách sau:

  • Comitatenses (từ chữ comes có nghĩa là một thành viên trong đoàn tùy tùng của hoàng đế): Quân comitatenses đánh các trận chung quanh Đế chế, và là những quân đoàn tinh nhuệ được huấn luyện cao, trả lương hậu, cơ bản là khoảng một chục đơn vị kỵ binh dạn dày, mỗi đơn vị là 500 người, tạo thành lực lượng nồng cốt của quân đoàn cơ động của hoàng đế. Đây là những người sẽ lao tới để đối đầu với bất kỳ đoàn quân xâm lăng man rợ nào.
  • Limitanei (từ chữ limes nghĩa là ‘biên giới): Quân đồn trú biên giới chủ yếu là bộ binh. Quân limitanei giữ vững biên cương và có trình độ thấp hơn về mọi phương diện. Thật ra họ là loại quân ô hợp gồm những đơn vị hổ trợ lâu đời, những toán lính địa phương ứng biến được thuê mướn, và có cả dân man rợ. Kết quả là khả năng chiến đấu rất thất thường và, tệ hơn nữa, lòng trung thành thì bấp bênh.

Trong lúc đó, các quân đoàn được rút về từ biên giới để tạo ra những cứ điểm vững mạnh và trung tâm quân sự bên trong Đế chế, nhằm bảo vệ các tài nguyên dân sự và quân sự trong trường hợp có biến xâm lăng.

Pháo đời mới cho quân đội thời kỳ sau

Binh đồn trú biên giới tiếp tục trấn đóng các pháo đài cũ, nhưng một hình thức kiến trúc quân sự mới được phát triển giống như các lâu đài thời trung cổ. Với tường thành cao to hơn và những tháp lớn nhô ra và cổng thành bề thế yểm trợ pháo binh phòng thủ, các pháo đoài mới thực sự là một tổ hợp phòng thủ vững chắc. Những đặc điểm như thế cũng tìm thấy ở những tường thành của thành phố La Mã như tường thành do Aurelian xây dựng cho La Mã (xem Chương 19).

Kết thúc của quân đội La Mã ở miền Tây

 Vào đầu thế kỷ thứ năm, miền Tây đối diện ba vấn đề cốt lõi:

  • Quá nhiều lãnh thổ đã bị mất, miền Tây không thể nuôi dưỡng hoặc cung ứng quân đội nó cần đến.
  • Một chuỗi những cuộc nổi dậy bên trong Đế chế La Mã đã hút các đạo quân từ vùng biên giới trở về và khiến cho các pháo đài và sức phòng vệ trở nên dễ xâm nhập.
  • Miền Tây càng ngày càng trở nên lệ thuộc vào các toán quân man rợ được thuê mướn. Họ chỉ trung thành nếu được trả lương đầy đủ. Họ có thể quay lại tấn công đế chế mà không báo trước.

Trong lúc đó, miền Đông đã gánh chịu ít hơn nhiều những cuộc xâm chiếm và có thể nuôi dưỡng được quân đội nó cần. Cuối cùng, những cuộc xâm lăng đã làm cạn kiệt tài nguyên và tiền bạc không thể nuôi sống quân đội La Mã miền Tây. Đơn vị cuối cùng từ những ngày xa xưa được ghi chép là Cohort Thứ Chín vùng Batavian, mà gần 400 năm trước đã từng viết trên thẻ gỗ được tìm thấy tại pháo đài Vindolanda ở bắc Anh (xem Chương 17).  Một số binh lính của đơn vị cố lấy lại tiền lương trong thời trị vì của Romulus Augustus (475-476). Các binh sĩ bị tàn sát và ném xuống sông. Quân đội La Mã ở miền Tây không còn nữa. 

 


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s