Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam sau 1975 và Việt Minh sau 1951

Minh Nhut

Sáp nhập sau 1975

Chính phủ Lâm thời được thiết kế với hai nhiệm vụ cốt lõi: đánh đuổi quân Mỹ, lật đổ Việt Nam Cộng hòa, và tạo đối trọng pháp lý trên bàn ngoại giao. Ngày 30/4/1975, cả hai nhiệm vụ đã hoàn thành. Thực thể này không còn lý do tồn tại.

Quá trình xóa sổ được thực hiện theo lộ trình hợp pháp hóa kỹ lưỡng: tháng 11/1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị quyết định thống nhất ngay lập tức. Tháng 4/1976, bầu Quốc hội chung. Tháng 7/1976, Quốc hội tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Lâm thời chính thức “hoàn thành sứ mệnh lịch sử” và tự giải thể.

Các nhân sĩ cũ được điều chuyển sang các chức vụ biểu tượng không nắm thực quyền. Nguyễn Hữu Thọ giữ chức Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội. Huỳnh Tấn Phát trở thành Phó Thủ tướng, rồi Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc. Nguyễn Thị Bình được bổ nhiệm Bộ trưởng Giáo dục, sau là Phó Chủ tịch nước.

Sự vô thực của các chức vụ đó không phải tùy tiện với từng cá nhân, mà là hệ quả cấu trúc của hệ thống chính trị kiểu Liên Xô: quyền lực tối cao nằm ở Đảng – cụ thể là Bộ Chính trị và Ban Bí thư – chứ không nằm ở Chính quyền. Được bổ nhiệm vào vị trí Thủ tướng hay Chủ tịch nước mà không có ghế trong Bộ Chính trị thì về thực chất không khác gì không có quyền.

Kịch bản gạt bỏ đồng minh tạm thời sau khi mục tiêu đạt được không phải lần đầu. Tại miền Bắc, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội – hai tổ chức từng đứng chung mặt trận từ thời kháng chiến chống Pháp – được duy trì như trang sức đa đảng trước dư luận quốc tế, không có thực quyền, và chỉ chính thức giải thể vào năm 1988. Điều xảy ra với các nhân sĩ miền Nam sau 1975 không phải ngoại lệ – mà là sự lặp lại của một mô hình đã được thực hiện trước đó.

Những gì diễn ra tại Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 không phải là tiếp quản hành chính thông thường. Đó là một chiến lược tổng lực tái cấu trúc xã hội theo logic Marx-Lenin: muốn xây dựng thượng tầng kiến trúc mới thì phải đập nát hạ tầng cơ sở cũ.

Các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp tư doanh diễn ra từ tháng 9/1975 đến năm 1978 đánh thẳng vào nền tảng kinh tế miền Nam. Đổi tiền đột ngột với giới hạn số tiền mỗi gia đình được giữ lại. Toàn bộ hệ thống phân phối, chợ búa và doanh nghiệp tư nhân bị quốc hữu hóa. Nền kinh tế một trong những trung tâm thương mại lớn nhất Đông Nam Á đột ngột chuyển sang chế độ tem phiếu.

Song song là chính sách giãn dân cưỡng bách. Hàng triệu người dân Sài Gòn bị ép buộc lên xe tải đi các Vùng kinh tế mới ở Tây Ninh, Bình Phước, Lâm Đồng – vùng đất hoang hóa thiếu công cụ sản xuất và thuốc men. Những ngôi biệt thự và nhà mặt tiền tại các quận trung tâm Sài Gòn được phân phối lại cho cán bộ từ chiến khu hoặc từ miền Bắc vào.

Kiểm soát sinh học được thực hiện qua hai công cụ tối thượng: hộ khẩu và sổ gạo. Không có hộ khẩu tại Sài Gòn, người dân không thể cư trú hợp pháp, không được nhận tem phiếu lương thực, không được đi học hoặc đi làm. Khi mọi thứ từ hạt gạo, viên thuốc đến chỗ ở đều phụ thuộc vào sự phân phối của Nhà nước, khả năng phản kháng bị triệt tiêu từ căn bản.

Các trạm kiểm soát “ngăn sông cấm chợ” ngăn người dân tự do vận chuyển lương thực từ miền Tây lên thành phố. Người dân phải xếp hàng rồng rắn cả ngày để đổi lấy gạo mốc, vải thô hoặc bánh xà phòng. Đây không phải là sự vụng về về chính sách – mà là hệ quả tất yếu của mô hình: khi một xã hội có sở hữu tư nhân phát triển và công dân độc lập về kinh tế bị xem là nguy cơ, bần cùng hóa đại chúng là cách duy nhất để kiểm soát triệt để.

Văn hóa bị xóa bỏ có hệ thống. Sách triết học phương Tây, tiểu thuyết của các tác giả miền Nam, toàn bộ sách giáo khoa, băng cassette, đĩa nhạc đều bị tịch thu hoặc tiêu hủy. Những đống lửa đốt sách được lập công khai trên đường phố và sân trường. Dòng nhạc trữ tình miền Nam – “nhạc vàng” – bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Người lưu giữ băng đĩa cũ có thể bị khép vào tội tuyên truyền văn hóa phản động.

Hệ thống giáo dục bị tái cấu trúc toàn diện. Toàn bộ giáo giới miền Nam phải tham gia các khóa học tập chính trị tập trung, tự khai lý lịch, viết bản thu hoạch tự phê bình về việc đã phục vụ trong hệ thống giáo dục cũ. Những giáo sư, giáo viên có lý lịch nhạy cảm bị sa thải hoặc đưa đi học tập cải tạo dài hạn. Toàn bộ trường tư thục và trường tôn giáo – vốn rất phát triển ở miền Nam dưới sự quản lý của các giáo hội Công giáo và Phật giáo – bị quốc hữu hóa. Triết lý giáo dục “Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng” của miền Nam, vốn lấy tôn trọng sự khác biệt và tự do cá nhân làm gốc, bị xóa bỏ để nhường chỗ cho giáo dục ý thức hệ một chiều. Lịch sử được viết lại theo góc nhìn giai cấp và ca ngợi vai trò độc tôn của Đảng.

Với trẻ em, cơ chế được thiết lập thông qua Đội Thiếu niên Tiền phong và Đoàn Thanh niên Cộng sản. Nhà trường ngầm khuyến khích trẻ giám sát tư tưởng của cha mẹ – hỏi về việc gia đình có nghe đài nước ngoài không, có phàn nàn về chính quyền không. Nhiều bậc cha mẹ miền Nam rơi vào thế không dám nói thật trước mặt con cái vì sợ sự ngây thơ của đứa trẻ sẽ mang tai họa. Sự kế thừa tinh thần giữa các thế hệ bị chặt đứt từ bên trong gia đình.

Có một nghịch lý căn bản trong những gì diễn ra sau năm 1975: một mô hình quản trị thời chiến, được xây dựng cho mục đích huy động nguồn lực cho bạo lực, đã được áp đặt lên một xã hội đô thị phức tạp, năng động và hội nhập hơn rất nhiều.

Trước năm 1975, Sài Gòn vận hành theo kinh tế thị trường tự do, kết nối với phương Tây, sở hữu hạ tầng hiện đại, hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, tầng lớp trung lưu năng động, báo chí đa nguyên và luật pháp dân sự tiến bộ. Khi bộ máy không thể hiểu và vận hành được thực thể kinh tế-xã hội tinh vi đó, giải pháp được chọn là đập nát nó về trạng thái đơn giản nhất có thể kiểm soát được.

Sự mâu thuẫn với mô hình Hà Nội không chỉ đến từ các nhân sĩ lý tưởng, mà còn từ chính những đảng viên Cộng sản gốc miền Nam. Năm 1978-1979, khi Sài Gòn đứng trước nạn đói – người dân lần đầu tiên trong đời phải ăn độn bo bo, khoai, sắn – Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt chỉ đạo bà Nguyễn Thị Ráo (Ba Thi), Giám đốc Công ty Lương thực, dẫn đầu tổ thu mua xuống đồng bằng sông Cửu Long mua lúa theo giá thị trường, gấp ba đến năm lần giá Nhà nước quy định.

Bà Ba Thi lo lắng: “Cách này nếu Trung ương biết sẽ bị đi tù.”

Võ Văn Kiệt đáp: “Đừng tham ô là được. Còn nếu vì việc này mà anh chị đi tù, tôi sẽ mang cơm nuôi.”

Ngay cả những đảng viên trung thành nhất, am hiểu thực tế miền Nam nhất, cũng phải chọn giữa tuân thủ mệnh lệnh hay cứu dân khỏi chết đói.

Những nhân sĩ miền Nam thực sự yêu nước đã phải đối mặt với một thực tế mà họ không ngờ tới.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, nguyên Bộ trưởng Y tế, từng từ bỏ cuộc sống nhung lụa ở Sài Gòn để vào chiến khu năm 1968. Sau 1975, bà từ chối danh sách ứng cử Quốc hội và từ chối chức Thứ trưởng Bộ Y tế – không phải né tránh mà là phản kháng tích cực – chọn ở lại Sài Gòn làm Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2. Năm 1979, bà công khai trả lại thẻ Đảng và trả lời phỏng vấn tờ New York Times, chỉ trích chính quyền mới cai trị miền Nam như một “tỉnh lỵ bần cùng” với mô hình áp đặt thiếu thực tế.

Trương Như Tảng, nguyên Bộ trưởng Tư pháp, xuất thân tư sản Nam Bộ, du học Pháp, từng gặp Hồ Chí Minh tại Paris năm 1946. Trong cuốn hồi ký tiếng Anh A Vietcong Memoir, ông kể lại cảm giác bàng hoàng khi chứng kiến lễ duyệt binh tháng 5/1975: trên khán đài, các lãnh đạo Hà Nội chiếm trọn vị trí trung tâm; lực lượng Giải phóng miền Nam bị hòa tan vào Quân đội Nhân dân từ Bắc vào; Chính phủ Lâm thời biến mất âm thầm không một nghi lễ.

“Những người miền Nam đã bị biến thành những kẻ đứng ngoài lề ngay trên chính chiến thắng của mình.”

Tháng 8/1978, cựu Bộ trưởng này bí mật lên thuyền, hòa vào dòng thuyền nhân vượt biển Đông và được Pháp chấp nhận tị nạn chính trị.

Để hiểu tại sao những người như Dương Quỳnh Hoa hay Trương Như Tảng bị bất ngờ hoàn toàn dù không phải là người ngây thơ, cần nhìn vào một sự chênh lệch cấu trúc sâu hơn.

Bộ máy cai trị Hà Nội được tôi luyện trong môi trường chính trị cực kỳ khốc liệt: thanh trừng nội bộ, đu dây giữa Liên Xô và Trung Quốc, hai cuộc chiến tranh sinh tử. Họ nhìn thế giới bằng con mắt của chủ nghĩa hiện thực chính trị: quyền lực là tuyệt đối, mọi liên minh hay mặt trận chỉ là sách lược phục vụ chiến lược tối hậu.

Giới trí thức và nhân sĩ miền Nam nhìn chính trị bằng con mắt lý tưởng chủ nghĩa. Họ sống trong xã hội có sự cởi mở thông tin và đa nguyên chính trị, nên họ ngỡ rằng bên kia chiến tuyến cũng vận hành theo cùng những quy tắc đối thoại đó. Họ không thể ngờ rằng các khái niệm như “Hòa hợp dân tộc” hay “Chính phủ lâm thời” thực chất chỉ là những chiếc lá chắn truyền thông.

Sự lệch pha này có thể có gốc rễ cấu trúc sâu hơn cả tính cách cá nhân. Địa lý và sinh thái miền Bắc khắc nghiệt, thiên tai và đói kém liên miên trong lịch sử, có thể đã góp phần hình thành xã hội quen co cụm trong làng xã chặt chẽ và đề cao tư duy phòng thủ qua nhiều thế hệ. Miền Nam với đồng bằng sông Cửu Long trù phú, điều kiện tự nhiên dễ dàng hơn trong việc nuôi sống người, có thể đã tạo môi trường thuận lợi hơn cho tâm lý phóng khoáng, bộc trực và ít hoài nghi động cơ của người khác.

Khi va chạm trong một cuộc tranh giành quyền lực sinh tử, bên vận hành theo tư duy đóng và phòng thủ đã thắng bên vận hành theo tư duy mở và tin tưởng.

Sự thật thà và thiếu cảnh giác thể hiện rõ nhất qua cách người miền Nam phản ứng khi đối phương tiếp quản. Hàng vạn sĩ quan, công chức, trí thức nghe theo lời kêu gọi, gom góp quần áo đi “học tập cải tạo 10 ngày” hay “một tháng” với tâm thế rằng chiến tranh kết thúc rồi, ai về nhà nấy để cùng xây dựng quê hương. Họ không nhận ra đó là một cái bẫy cách ly chính trị tinh vi, khiến họ bị giam cầm ngoài rừng sâu suốt nhiều năm, thậm chí cả thập kỷ.

Câu nói cay đắng phổ biến trong giới kháng chiến miền Nam thời kỳ đó là:

“Chúng tôi đã đổ máu mười mấy năm trong rừng để đổi lấy quyền lực cho những người ngồi bành ở Hà Nội vào tiếp quản.”

Có một chiều kích tinh vi mà các nghiên cứu lịch sử độc lập và tài liệu lưu trữ của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn chỉ ra: làn sóng vượt biên không chỉ là hệ quả tự phát của khủng hoảng kinh tế xã hội, mà một phần được chính quyền cấp cơ sở và ngành an ninh ngầm tổ chức hoặc làm ngơ, đặc biệt trong giai đoạn quanh cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979. Người Hoa và các thành phần tư sản, viên chức chế độ cũ được phép vượt biên đường biển với điều kiện nộp một lượng lớn vàng theo đầu người – thường gọi là “tiền bãi”. Cơ chế này phục vụ hai mục đích đồng thời: thu vàng từ tài sản tích lũy của người dân để giải quyết khủng hoảng tài chính và chi phí chiến tranh biên giới; đồng thời loại bỏ những phần tử có tiềm năng phản kháng cao nhất ra khỏi lãnh thổ. Xã hội miền Nam sau các làn sóng ra đi đó trở nên đồng nhất hơn về ý thức hệ, dễ kiểm soát hơn dưới quyền lực Trung ương.

Quy mô của thảm kịch được ghi lại bằng số liệu của UNHCR: trong hai mươi năm từ 1975 đến 1995, có 796.310 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển và đến được các trại tị nạn. Trong số đó, UNHCR ước tính từ 200.000 đến 250.000 người đã chết trên biển vì bão tố, thuyền quá tải và cướp biển.

Đây là những người đã chọn cái chết có xác suất cao trên biển còn hơn là ở lại trong một xã hội mà họ không còn chỗ đứng.

Một thập kỷ khủng hoảng tàn khốc từ 1975 đến 1986 đưa đất nước đến bờ vực kiệt quệ. Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều kịch bản tương tự: Khmer Đỏ tại Campuchia năm 1975 là ví dụ cực đoan nhất trong thế kỷ XX – lực lượng du kích nông dân sau khi chiếm Phnom Penh lập tức trục xuất toàn bộ dân cư thành phố về nông thôn, giết hại giới trí thức và phá hủy tiền tệ, trường học. Tại Việt Nam, kịch bản không cực đoan đến vậy, nhưng logic cơ bản là giống nhau: bộ máy quản trị thời chiến không thể vận hành một nền văn minh đô thị phức tạp hơn nó.

Cuộc Đổi mới năm 1986, về bản chất, là sự thừa nhận thất bại của mô hình giáo điều và lặng lẽ cho phép xã hội quay trở lại vận hành theo những quy luật kinh tế thị trường mà miền Nam đã thực hành thuần thục từ trước 1975.

Nghịch lý của lịch sử là ở chỗ đó: mô hình bị đập nát năm 1975 lại chính là mô hình mà bên thắng cuộc buộc phải học lại mười năm sau.

Trước 1975

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời như một phong trào chính trị-xã hội tập hợp các thành phần bất mãn với chính quyền Sài Gòn. Về mặt pháp lý, đây không phải nhà nước và không có tư cách ký kết hiệp định hay thiết lập bang giao chính thức.

Đến năm 1969, khi Hội nghị bốn bên tại Paris đòi hỏi một đối trọng pháp lý ngang hàng với Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận cùng tổ chức vệ tinh là Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, khai sinh Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Mối quan hệ giữa hai tổ chức là sự kế thừa và phân công: Mặt trận là người sinh thành, Chính phủ Lâm thời là hình thức nâng cấp hợp pháp hóa quyền lực trên trường quốc tế. Nhân sự cấp cao gần như hoàn toàn trùng lặp. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận, kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Mặt trận, trở thành Chủ tịch Chính phủ. Bà Nguyễn Thị Bình đảm nhiệm Bộ trưởng Ngoại giao.

Phân công theo trục nội chính và ngoại giao: Mặt trận tiếp tục quản lý tổ chức quần chúng ở nông thôn và duy trì mạng lưới thâm nhập đô thị, trong khi Chính phủ Lâm thời đại diện cho lực lượng kháng chiến tại Paris, ký Hiệp định năm 1973 và thiết lập quan hệ ngoại giao với 49 quốc gia.

Nhưng quyền lực thực sự không nằm ở tầng danh nghĩa đó. Mọi quyết sách chiến lược được đưa ra bởi Trung ương Cục miền Nam, trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội. Bí thư qua các thời kỳ là Nguyễn Văn Linh (1961–1964), Nguyễn Chí Thanh (tháng 10/1964 – tháng 7/1967, khi ông đột ngột qua đời vì đau tim) và Phạm Hùng (1967–1975); Nguyễn Văn Linh sau đó tiếp tục giữ vai trò Phó Bí thư kiêm Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn. Cùng với Lê Duẩn ở Hà Nội, những người này mới là những người cầm cương thực sự.

Từ 1969 đến 1973, căn cứ của Chính phủ Lâm thời nằm ở các mật khu trong rừng tỉnh Tây Ninh, giáp ranh Campuchia. Khi bị bố ráp, bộ máy tạm thời di chuyển sang lãnh thổ Campuchia rồi quay trở lại.

Sau Hiệp định Paris tháng 1/1973, Chính phủ Lâm thời tiếp quản vùng kiểm soát tại Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Trụ sở khởi công ngày 6/5/1973, hoàn thành sau 25 ngày để tiếp nhận đại sứ các nước trình quốc thư. Tháng 9/1973, Fidel Castro đến thăm vùng giải phóng.

Trụ sở này tồn tại được giữa thời chiến vì ba lý do hội tụ: Hiệp định Paris nghiêm cấm oanh tạc vào vùng kiểm soát của nhau; sự hiện diện của đại sứ nhiều quốc gia tạo lá chắn ngoại giao khiến mọi cuộc tấn công đều có nguy cơ gây khủng hoảng quốc tế; hệ thống phòng không dày đặc tại khu vực giới tuyến khiến không quân Việt Nam Cộng hòa không thể tiếp cận trong khi Mỹ đã rút toàn bộ máy bay chiến đấu.

Vai trò của Cam Lộ vượt ra ngoài chức năng hành chính: nó chứng minh với thế giới rằng Chính phủ Lâm thời có đất đai, có dân và có chủ quyền rõ ràng – không còn ẩn náu trong rừng sâu.

Nhưng để hiểu tại sao toàn bộ kiến trúc này có thể được dựng lên một cách bài bản đến vậy, cần nhìn lại nguồn gốc của nó.

Những người ngồi ghế

Trong bộ máy Mặt trận và Chính phủ Lâm thời, có hai nhóm người với vai trò rất khác nhau dù danh xưng có vẻ ngang hàng.

Nhóm thứ nhất là những đảng viên kỳ cựu được đào tạo bài bản nhưng đóng vai trí thức tự do. Nguyễn Hữu Thọ là trường hợp điển hình: suốt thời gian chiến tranh, ông được biết đến như một nhân sĩ yêu nước độc lập, từng tham gia phong trào đòi hòa bình và bị chính quyền Diệm giam cầm. Sau 1975, theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông thực chất đã được kết nạp vào Đảng từ năm 1948 tại Sài Gòn và hoạt động bí mật từ đó – thông tin này không được tiết lộ trong suốt thời gian chiến tranh.

Nhóm thứ hai là những nhân sĩ, trí thức thực sự không phải Cộng sản, tham gia vì lý do yêu nước, bất mãn với chính quyền Sài Gòn và mong muốn một miền Nam độc lập tự do.

Trong thực tế vận hành: nhân sĩ đứng tên, Đảng nắm hậu trường. Bên cạnh mỗi nhân sĩ đứng đầu luôn có đảng viên nắm giữ các vị trí then chốt. Mọi tuyên ngôn và chính sách lớn đều phải qua sự phê duyệt của Bộ Chính trị Hà Nội.

Khi Huỳnh Tấn Phát hay Nguyễn Thị Bình – cháu ngoại nhà yêu nước Phan Châu Trinh, nói tiếng Pháp trôi chảy – xuất hiện trước giới ngoại giao phương Tây và lập luận về quyền tự quyết của người miền Nam, về một quốc gia “Hòa bình, Trung lập, Dân chủ”, dư luận Pháp, Thụy Điển và giới cánh tả Mỹ tin rằng nếu Mặt trận thắng, miền Nam sẽ là một vùng đệm trung lập. Điều này triệt tiêu cái cớ “ngăn chặn làn sóng đỏ” trước dư luận quốc tế.

Chiến lược bất đối xứng

Chiến lược dựng lên Mặt trận và Chính phủ Lâm thời là một tính toán địa chính trị sắc lạnh với bốn hệ quả thiết yếu.

Về tính chính nghĩa quốc tế: Theo Hiệp định Geneva 1954, hai miền cam kết không dùng vũ lực tấn công nhau. Nếu Hà Nội công khai tuyên chiến, thế giới nhìn nhận đó là hành vi xâm lược. Khi thay vào đó là “người dân miền Nam tự đứng lên chống lại chế độ Diệm và Thiệu”, cuộc chiến mang bộ mặt nội chiến tự phát, thu hút sự đồng tình của phong trào phản chiến toàn thế giới.

Về giới hạn quân sự của đối phương: Nếu Bắc Việt công khai tuyên chiến, Mỹ có lý do pháp lý để điều bộ binh vượt vĩ tuyến 17. Nhưng lo ngại thực sự không chỉ là hình ảnh ngoại giao – mà là nỗi lo chiến lược có thật: bộ binh Mỹ tiến vào Bắc Việt sẽ buộc Liên Xô và Trung Quốc trực tiếp tham chiến, đúng như kịch bản Triều Tiên 1950. Tấm màn che “nội chiến miền Nam” đã khóa chặt ngưỡng leo thang nguy hiểm nhất đó.

Về sức hút lực lượng trung gian: Tôn chỉ của Mặt trận được viết rất khéo: không nhắc Mác-Lênin, chỉ nói về “Độc lập, Dân chủ, Hòa bình, Trung lập”. Tấm áo trung lập kéo được giới trí thức, học sinh, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo – những lực lượng không theo Cộng sản nhưng cũng không muốn tiếp tục dưới chính quyền Sài Gòn. Sự tham gia của họ tạo ra mạng lưới giao liên và tình báo khổng lồ ngay trong lòng đô thị.

Về thế trận đàm phán Paris: Không có Chính phủ Lâm thời, Sài Gòn có thể bác bỏ hoàn toàn sự tồn tại của bất kỳ lực lượng đối lập nào trên lãnh thổ miền Nam. Với sự ra đời của Chính phủ Lâm thời, Mỹ buộc phải chấp nhận bàn đàm phán bốn bên. Điều khoản sinh tử trong Hiệp định Paris 1973 là kết quả trực tiếp: Mỹ rút quân, quân miền Bắc giữ nguyên tại miền Nam, Việt Nam Cộng hòa phải thừa nhận sự tồn tại của “chính quyền thứ hai” ngay trong lãnh thổ của mình. Đó là dấu chấm hết chậm nhưng chắc chắn cho Sài Gòn.

Tổng hòa của bốn hệ quả tạo ra một thế trận bất đối xứng: một bên tấn công từ nhiều hướng dưới nhiều danh nghĩa, bên kia chỉ có thể phòng thủ trong lãnh thổ và chờ bào mòn. Việt Nam Cộng hòa biết rõ đối thủ thực sự ở đâu nhưng không thể tổ chức tổng tấn công ra Bắc mà không bị thế giới nhìn nhận là kẻ phá vỡ hòa bình. Mỹ không có tiêu chí chiến thắng rõ ràng, bị bào mòn về ý chí chính trị và ký Hiệp định Paris 1973 để rút lui.

Công thức Việt Minh

Thực thể Mặt trận Giải phóng miền Nam không phải là phát minh mới. Đây là sự lặp lại có tính toán của một công thức đã thành công ba mươi năm trước.

Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc nhận định: nếu chỉ dùng danh nghĩa Đảng Cộng sản Đông Dương thì không thể thu hút địa chủ yêu nước, tư sản, nhân sĩ trí thức và các lực lượng tôn giáo. Mặt trận Việt Minh ra đời với tôn chỉ thuần túy là “đánh đuổi Pháp và Nhật, giành độc lập cho Tổ quốc” – không một chữ về đấu tranh giai cấp hay chủ nghĩa Cộng sản.

Để xoa dịu các lực lượng quốc gia và cường quốc bên ngoài, tháng 11/1945 Đảng Cộng sản Đông Dương thậm chí tuyên bố tự giải tán, thực tế chỉ rút vào hoạt động bí mật. Đến Đại hội II năm 1951, khi chính quyền đã vững, Đảng mới công khai với tên mới là Đảng Lao động Việt Nam và khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối. Mặt trận Việt Minh giải tán, hợp nhất vào Mặt trận Liên Việt.

Công thức thành công vì một chân lý bất biến: nhu cầu độc lập dân tộc luôn mạnh hơn ý thức hệ đối với đại đa số người dân Việt Nam. Giấu bản chất Cộng sản biến cuộc chiến của một đảng phái thành cuộc chiến toàn dân – huy động tối đa tiền bạc của tư sản, công sức của trí thức và xương máu của nông dân.

Chiến lược giấu mặt được thực hiện đến từng chi tiết biểu tượng. Lá cờ của Mặt trận Giải phóng – nửa đỏ nửa xanh lam với ngôi sao vàng – được thiết kế có chủ đích khác biệt hoàn toàn với cờ đỏ sao vàng của miền Bắc. Đó là tín hiệu thị giác gửi đến dư luận quốc tế: đây là một lực lượng độc lập của miền Nam, không phải cánh tay nối dài của Hà Nội.

Bình luận về bài viết này